TaichiNOW
Thư Viện Sách
Đạo Gia · Kinh Điển Nội Đan · Bản Việt Ngữ Đầy Đủ

Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh

Hoàng Đình Kinh (黃庭經) — Kinh Văn & Chú Giải Toàn Tập · The Yellow Court Classic (Inner Landscape Scripture)
8 Phần · 36 Chương 310 Trang Bản Gốc Nguyên Văn Hán Tự Đối Chiếu Nội Đan · Dưỡng Sinh · Điều Tức
Bản gốc trang 5
Bản gốc trang 5 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Giới Thiệu · Đôi Nét Về Huỳnh Đình Kinh

Huỳnh Đình Kinh là bản kinh văn từ thời Tối Cổ, do Đức Hồng Quân Lão Tổ thuyết giảng cho ba vị Tam Thanh để các vị ấy tùy nhân duyên mà truyền cho Tam Giới. Huỳnh Đình Kinh Nội - Ngoại Cảnh giúp nhắc nhở người hành giả giữ mình trong sạch, không vướng Thất Tình, tâm thân thanh tịnh, hiểu mình, hiểu sự tương quan giữa Tiểu Vũ Trụ bản thân và Đại Vũ Trụ.

Đức Đạo Đức Thiên Tôn giản lược nên thuyết Ngoại Cảnh, chủ yếu là dành cho Nhân Đạo tu học làm người lành, bàn tới chuyên sâu luyện Đạo nhiều. Hiên Viên Hoàng Đế được truyền quyển kinh này để tu luyện đạt trường sinh mà sống thọ hàng ngàn năm, được xưng tụng là Thần giữa phàm nhân.

Đức Linh Bảo Thiên Tôn vì mong muốn truyền cho vạn chúng nên biên thành Nội Cảnh, nội dung chi tiết nhiều để toàn thể chúng sinh từ kim thạch, cỏ cây, muông thú và con người đều do đó mà luyện thân, tâm đạt Đạo trường sinh lẫn siêu phàm nhập Thánh triệt để. Vậy nên mới gọi tông phái của Ngài là Triệt Giáo.

Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn thì tùy nhân duyên mà truyền một trong hai hoặc cả hai quyển kinh Huỳnh Đình, vì môn đệ của Ngài toàn là Tiên phong Đạo cốt nên tương đối nhẹ nhàng.

Vào khoảng thế kỷ thứ 2, Xích Tinh Tử là một trong Thập Nhị Đại Tiên mới phổ truyền cả hai quyển Nội - Ngoại Cảnh cho đồ chúng, từ đó phát sinh thêm nhiều dị bản do nhiều tông phái khác nhau trì luyện.

Sau các đời tổ sư khai tông lập phái, các bậc hiền nhân được Tiên Gia truyền kinh trực tiếp thì qua lời bình, chú của các vị ấy, hậu nhân có phần chưa thấu triệt tường tận, tu luyện không thành. Thế nên hậu nhân lại tự biên chỉnh theo sự chứng ngộ, khảo nghiệm của bản thân đã kinh qua, vì chưa đạt cảnh giới Tiên Nhân nên việc biên khảo nghiêng nhiều về luyện Tinh, dưỡng thân dưỡng sinh mà ít nói sâu về luyện Khí và Thần để đạt Đạo.

Tuyết Liên Tử
Tháng 1, năm 2019

Bản gốc trang 8
Bản gốc trang 8 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Kinh Văn · Toàn Văn Ba Mươi Sáu Chương

Mộc Dục Chương Đệ Nhất

Mộc dục thịnh khiết khí phì huân

Nhập thất Đông hướng tụng Ngọc Thiên

Ước đắc vạn biến nghĩa tự tiên

Tán phát vô dục dĩ trường tồn

Ngũ Vị giai chí Chánh Khí hoàn

Di tâm tịch muộn vật phiền oan

Quá sổ dĩ tất thể Thần Tinh

Huỳnh Hoa Ngọc Nữ cáo tử tình

Chân Nhân ký chí sử Lục Đinh

Tức thụ ẩn chi Đại Động Kinh

Thập độc tứ bái triêu Thái Thượng

Tiên yết Thái Đế, hậu Bắc hướng

Huỳnh Đình Nội Kinh Ngọc Thư xướng

Thụ giả viết sư, thụ giả minh

Vân cẩm phụng la kim nữu triền

Dĩ đại cát phát cơ phu toàn

Huề thủ đăng san, sáp dịch đan

Kim Thư Ngọc Cảnh nãi khả tuyên

Truyền đắc khả thụ cáo Tam Quan

Vật lệnh Thất Tổ thụ minh hoạn

Thái Thượng vi ngôn trí Thần Tiên

Bất Tử Chi Đạo thử Chân Văn.

Thượng Thanh Chương Đệ Nhị

Thượng Thanh Tử Hà, Hư Hoàng tiền

Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân

Nhàn cư Nhụy Châu, tác thất ngôn

Tán hóa Ngũ Hình biến vạn Thần

Thị vi Huỳnh Đình viết Nội Thiên

Cầm tâm Tam Điệp vũ Thai Tiên

Cửu Khí ánh minh xuất Tiêu Gian

Thần cái đồng tử sinh tử yên

Thị viết Ngọc Thư khả tinh nghiên

Vịnh chi vạn quá thăng Tam Thiên

Thiên tai dĩ tiêu, bách bệnh thuyên

Bất đạn hổ lang chi hung tàn

Diệc dĩ khước lão niên vĩnh diên.

Thượng Hữu Chương Đệ Tam

Thượng hữu Hồn Linh, hạ Quan Nguyên

Tả vi Thiếu Dương, hữu Thái Âm

Hậu hữu Mật Hộ, tiền Sinh Môn

Xuất nhật nhập nguyệt, hô hấp tồn

Nguyên Khí sở hợp, liệt tú phân

Tử yên thượng hạ Tam Tố Vân

Quán khái Ngũ Hoa thực Linh Căn

Thất Dịch động lưu xung lư gian

Hồi tử bão huỳnh nhập Đan Điền

U Thất nội minh chiếu Dương Môn.

Khẩu Vi Chương Đệ Tứ

Khẩu vi Ngọc Trì, Thái Hòa Cung

Sấu yết linh dịch tai bất can

Thể sinh quang hoa, khí hương lan

Tức diệt bách tà, ngọc luyện nhan

Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn

Trú dạ bất mị nãi thành Chân

Lôi minh điện kích Thần an nhiên.

Huỳnh Đình Chương Đệ Ngũ

Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y

Tử hoa phi quần vân khí la

Đan thanh lục điều thúy linh kha.

Thất Đình ngọc thược bế lưỡng phi

Trùng yểm Kim Quan, mật Xu Ki

Huyền Tuyền, U Quan cao thôi ngôi

Tam Điền chi trung Tinh Khí vi

Kiều nữ yểu điệu ế tiêu huy

Trọng đường hoán hoán minh bát uy

Thiên Đình, Địa Quan liệt phủ cân

Linh Đài bàn cố vĩnh bất suy.

Trung Trì Chương Đệ Lục

Trung Trì nội thần phục xích châu

Đan cẩm vân bào đái hổ phù

Hoành tân tam thốn Linh sở cư

Ẩn Chi, Ế Uất tự tương phù.

Thiên Trung Chương Đệ Thất

Thiên Trung chi nhạc tinh cẩn tu

Vân trạch ký thanh Ngọc Đế du

Thông lợi đạo lộ vô chung hưu

Mi hào hoa cái phúc minh châu

Cửu u nhật nguyệt động Hư Nguyên

Trạch trung hữu Chân thường y đan

Thẩm năng kiến chi vô tật hoạn

Xích châu linh quần hoa thiến xán

Thiệt hạ huyền ưng sinh tử ngạn

Xuất thanh nhập huyền nhị khí hoán

Tử nhược ngộ chi thăng Thiên Hán.

Chí Đạo Chương Đệ Bát

Chí Đạo bất phiền quyết tồn Chân

Nê Hoàn bách tiết giai hữu Thần

Phát Thần Thương Hoa tự Thái Nguyên

Não Thần Tinh Căn tự Nê Hoàn

Nhãn Thần Minh Thượng tự Anh Huyền

Tị Thần Ngọc Lũng tự Linh Kiên

Nhĩ Thần Không Nhàn tự U Điền

Thiệt Thần Thông Mệnh tự Chánh Luân

Xỉ Thần Ngạc Phong tự La Thiên

Nhất diện chi Thần Tông Nê Hoàn

Nê Hoàn Cửu Chân giai hữu phòng

Phương viên nhất thốn xử thử trung

Đồng phục tử y phi la thường

Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng

Phi các biệt trú cư não trung

Liệt vị thứ tọa hướng ngoại phương

Sở tồn tại tâm tự tương đương.

Tâm Thần Chương Đệ Cửu

Tâm Thần Đan Nguyên tự Thủ Linh

Phế Thần Hạo Hoa tự Hư Thành

Can Thần Long Yên tự Hàm Minh

Ế Uất Đạo Yên chủ Trọc Thanh

Thận Thần Huyền Minh tự Dục Anh

Tì Thần Thường Tại tự Hồn Đình

Đảm Thần Long Diệu tự Uy Minh

Lục Phủ Ngũ Tạng Thần Thể Tinh

Giai tại tâm nội liên thiên kinh

Trú dạ tồn chi tự trường sinh.

Phế Bộ Chương Đệ Thập

Phế Bộ Chi Cung vi Hoa Cái

Hạ hữu Đồng Tử tọa Ngọc Khuyết

Thất Nguyên Chi Tử chủ điều khí

Ngoại ứng trung nhạc tị tề vị

Tố cẩm y thường, huỳnh vân đái

Suyễn tức hô hấp thể bất khoái

Cấp tồn Bạch Nguyên hòa Lục Khí

Thần Tiên cửu thị vô tai hại

Dụng chi bất dĩ hình bất trệ.

Tâm Bộ Chương Đệ Thập Nhất

Tâm Bộ Chi Cung Liên Hàm Hoa

Hạ hữu Đồng Tử Đan Nguyên Gia

Chủ thích hàn nhiệt vinh vệ hòa

Đan cẩm phi thường phi ngọc la

Kim linh châu đái, tọa bà sa

Điều huyết lý mệnh thân bất khô

Ngoại ứng khẩu thiệt thổ ngọc hoa

Lâm tuyệt hô chi diệc đăng tô

Cửu cửu hành chi phi Thái Hà.

Can Bộ Chương Đệ Thập Nhị

Can Bộ Chi Cung Thúy Trọng Lý

Hạ hữu Thanh Đồng Thần Công Tử

Chủ chư Quan Kính, thông minh thủy

Thanh cẩm phi thường, bội ngọc kiềm

Hòa chế hồn phách, tân dịch bình

Ngoại ứng nhãn mục nhật nguyệt tinh

Bách kha bất chung tồn Vô Anh

Đồng dụng thất nhật tự sung doanh

Thùy tuyệt niệm Thần tử phục sinh

Nhiếp hồn hoàn phách vĩnh vô khuynh.

Thận Bộ Chương Đệ Thập Tam

Thận Bộ Chi Cung Huyền Khuyết Viên

Trung hữu Đồng Tử Minh Thượng Huyền

Chủ chư Lục Phủ, Cửu Dịch Nguyên

Ngoại ứng lưỡng nhĩ bách dịch tân

Thương cẩm vân y vũ long phan

Thượng trí minh hà, nhật nguyệt yên

Bách bệnh, thiên tai cấp đương tồn

Lưỡng bộ Thủy Vương đối Sinh Môn

Sử nhân trường sinh thăng Cửu Thiên.

Tì Bộ Chương Đệ Thập Tứ

Tì Bộ Chi Cung Chúc Mậu Kỷ

Trung hữu Minh Đồng huỳnh thường lý

Tiêu cốc tán khí, nhiếp nha xỉ

Thị vi thái thương lưỡng Minh Đồng

Tọa tại Kim Đài thành cửu trùng

Phương viên nhất thốn Mệnh Môn trung

Chủ điều bách cốc, Ngũ Vị Hương

Tích khước hư luy vô bệnh thương

Ngoại ứng xích trạch khí sắc phương

Quang hoa sở sinh dĩ biểu minh

Huỳnh cẩm ngọc y, đái hổ chương

Chú niệm Tam Lão tử khinh tường

Trường sinh cao Tiên viễn tử ương.

Đảm Bộ Chương Đệ Thập Ngũ

Đảm Bộ Chi Cung Lục Phủ Tinh

Trung hữu Đồng Tử Diệu Uy Minh

Cửu sắc cẩm y lục hoa quần

Bội kim đái ngọc long hổ văn

Lôi điện bát chấn dương ngọc tinh

Long kỳ hoành thiên trịch hỏa linh

Chủ chư khí lực nhiếp hổ binh

Ngoại ứng nhãn đồng, tị trụ gian

Não phát tương phù diệc câu tiên

Năng tồn Uy Minh thừa khánh vân

Dịch sử vạn Thần triều Tam Nguyên.

Tì Trường Chương Đệ Thập Lục

Tì trường nhất xích yểm thái thương

Trung Bộ Lão Quân trị Minh Đường

Quyết tự Linh Nguyên, danh Hỗn Khương

Trị nhân bách bệnh tiêu cốc lương

Hoàng y tử đái long hổ chương

Trưởng tinh ích mệnh lại Quân Vương

Tam hô ngã danh Thần tự thông

Tam Lão đồng tọa các hữu bằng

Hoặc Tinh hoặc Thai biệt chấp phương

Đào Hạch hợp diên sinh hoa mang

Nam nữ hồi cửu hữu Đào Khương

Đạo Phụ, Đạo Mẫu đối tương vọng

Sư Phụ, Sư Mẫu Đan Huyền Hương

Khả dụng tồn tư đăng hư không

Thù đồ nhất hội quy yếu chung

Quan tắc Tam Quan ốc cố đình

Hàm thấu kim lễ thôn ngọc anh

Toại chí bất cơ Tam Trùng vong

Tâm ý thường hòa, trí hân xương

Ngũ Nhạc chi vân khí bành hanh

Bảo quán ngọc lư dĩ tự thường

Ngũ Hình hoàn kiên vô tai ương.

Thượng Đổ Chương Đệ Thập Thất

Thượng đổ Tam Nguyên như liên châu

Lạc lạc minh cảnh chiếu Cửu Ngung

Ngũ Linh dạ chúc hoán Bát Khu

Tử tồn nội hoàng dữ ngã du

Thân phi phụng y, hàm hổ phù

Nhất chí bất cửu thăng hư vô

Phương thốn chi trung niệm thâm tàng

Bất phương bất viên bế dũ song

Tam Thần hoàn Tinh lão phương tráng

Hồn phách nội thủ bất tranh cạnh

Thần sinh phúc trung hàm ngọc đang

Linh chú u khuyết na đắc tang

Lâm điều vạn tầm khả ấm trượng

Tam Hồn tự ninh, Đế thư mệnh.

Linh Đài Chương Đệ Thập Bát

Linh Đài uất ái vọng hoàng dã

Tam thốn dị thất hữu thượng hạ

Gian quan Doanh Vệ, Cao Huyền thụ

Động Phòng tử cực Linh Môn Hộ

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả

Tả Thần Công Tử phát thần ngữ

Hữu hữu Bạch Nguyên tính lập xử

Minh Đường kim quỹ ngọc phòng gian

Thượng Thanh Chân Nhân đương Ngô tiền

Hoàng thường Tử Đan khí tần huyên

Tá vấn hà tại lưỡng mi đoan

Nội hiệp nhật nguyệt liệt tú trận

Thất Diệu Cửu Nguyên quan Sinh Môn.

Tam Quan Chương Đệ Thập Cửu

Tam Quan chi trung Tinh Khí thâm

Cửu vi chi nội u thả âm

Khẩu vi Tâm Quan, tinh thần ki

Túc vi Địa Quan, sinh mệnh phi

Thủ vi Nhân Quan, bả thịnh suy.

Nhược Đắc Chương Đệ Nhị Thập

Nhược đắc Tam Cung tồn Huyền Đan

Thái Nhất Lưu Châu an Côn Luân

Trùng trùng lâu các thập nhị hoàn

Tự cao tự hạ giai Chân Nhân

Ngọc Đường, Giáng Vũ tận Huyền Cung

Tuyền ki ngọc hành sắc lang can

Chiêm vọng Đồng Tử tọa bàn hoàn

Vấn thùy gia tử tại ngã thân

Thử nhân hà khứ nhập Nê Hoàn

Thiên thiên bách bách tự tương liên

Nhất nhất thập thập tự trọng san

Vân Nghi, Ngọc Hoa hiệp nhĩ môn

Xích Đế, Hoàng Lão dữ ngã hồn

Tam Chân phù cốt cộng phòng tân

Ngũ Đẩu hoán minh thị Thất Nguyên

Nhật nguyệt phi hành lục hợp gian

Đế Hương, Thiên Trung, Địa Hộ đoan

Diện bộ hồn thần giai tương tồn.

Hô Hấp Chương Đệ Nhị Thập Nhất

Hô hấp Nguyên Khí dĩ cầu Tiên

Tiên Công Công Tử tự tại tiền

Chu điểu thổ súc bạch thạch nguyên

Kết Tinh dục bào hóa sinh thân

Lưu Thai chỉ Tinh khả trường sinh

Tam Khí hữu hồi Cửu Đạo minh

Chánh nhất Hàm Hoa nãi sung doanh

Diêu vọng nhất tâm như la tinh

Kim Thất chi hạ khả bất khuynh

Diên ngã bạch thủ phản hài anh.

Quỳnh Thất Chương Đệ Nhị Thập Nhị

Quỳnh Thất chi trung Bát Tố tập

Nê Hoàn Phu Nhân đương trung lập

Trường cốc, Huyền Hương nhiễu giao ấp

Lục Long tán phi nan phân biệt

Trường sinh chí thận phòng trung cấp

Hà vi tử tác lệnh Thần khấp

Hốt chi họa hương, Tam Linh một

Đãn đương hấp khí lục tử tinh

Thốn điền xích trạch khả trị sinh

Nhược đương quyết hải bách độc ẩm

Diệp khứ thụ khô thất thanh thanh

Khí vong dịch lậu phi kỷ hình

Chuyên bế ngự cảnh nãi trường ninh

Bảo ngã Nê Hoàn, Tam Kỳ Linh

Điềm đạm bế thị nội tự minh

Vật vật bất can thái nhi bình

Khác hĩ phỉ sự lão phục đinh

Tư vịnh Ngọc Thư nhập Thượng Thanh.

Thường Niệm Chương Đệ Nhị Thập Tam

Thường niệm Tam Phòng tương thông đạt

Động phục thị kiến vô nội ngoại

Tồn sấu Ngũ Nha bất cơ khát

Thần Hoa chấp cân Lục Đinh yết

Cấp thủ tinh thất vật vọng tiết

Bế nhi bảo chi khả trường hoạt

Khởi tự hình trung sơ bất khoát

Tam Quan cận tại dịch ẩn quát

Hư vô tịch tịch không trung tố

Sử hình như thị bất đương ô

Cửu Thất chánh hư Thần Minh xá

Tồn tư bách niệm, thị tiết độ

Lục Phủ tu trị vật lệnh cố

Hành tự cao tường nhập vân lộ.

Trị Sanh Chương Đệ Nhị Thập Tứ

Trị Sanh Chi Đạo liễu bất phiền

Đãn tu động huyền dữ Ngọc Thiên

Kiêm hành hình trung Bát Cảnh Thần

Nhị Thập Tứ Chân xuất tự nhiên

Cao củng vô vi hồn phách an

Thanh tịnh Thần kiến dữ ngã ngôn

An tại Tử Phòng vi mạc gian

Lập tọa thất ngoại Tam Ngũ Huyền

Thiêu hương tiếp thủ Ngọc Hoa tiền

Cộng nhập Thái Thất, Tuyền Ki Môn

Cao nghiên điềm đạm Đạo chi viên

Nội thị mật phán tận đổ Chân

Chân Nhân tại kỷ mạc vấn lân

Hà xử viễn tác cầu nhân duyên.

Ẩn Ảnh Chương Đệ Nhị Thập Ngũ

Ẩn ảnh tàng hình dữ thế thù

Hàm khí dưỡng tinh, khẩu như châu

Đái chấp tính mệnh thủ hư vô

Danh nhập Thượng Thanh tử lục trừ

Tam Thần chi lạc do ẩn cư

Thúc hốt du ngao vô di ưu

Vũ phục nhất chỉnh bát phong khu

Khống giá Tam Tố thừa thần hà

Kim liễn chánh vị tòng ngọc dư

Hà bất đăng san tụng ngã thư

Uất uất yểu điệu Chân Nhân khư

Nhập san hà nan cố trù trừ

Nhân gian phân phân xú như như.

Ngũ Hành Chương Đệ Nhị Thập Lục

Ngũ Hành tương thôi phản quy nhất

Tam Ngũ hợp khí Cửu Cửu tiết

Khả dụng ẩn địa hồi Bát Thuật

Phục ngưu U Khuyết la phẩm liệt

Tam Minh xuất ư sinh tử tế

Động Phòng linh tượng đẩu nhật nguyệt

Phụ viết Nê Hoàn, Mẫu Thư Nhất

Tam Quang hoán chiếu nhập tử thất

Năng tồn Huyền Chân vạn sự tất

Nhất thân tinh thần bất khả thất.

Cao Bôn Chương Đệ Nhị Thập Thất

Cao bôn nhật nguyệt vô thượng Đạo

Uất Nghi, Kết Lân thiện tương bảo

Nãi kiến Ngọc Thanh Hư Vô Lão

Khả dĩ hồi nhan, điền huyết não

Khẩu hàm linh chi huề Ngũ Tinh

Yêu đái hổ lục bội kim đang

Giá hốt tiếp sinh yến Đông Mông.

Huyền Nguyên Chương Đệ Nhị Thập Bát

Huyền Nguyên thượng nhất hồn phách luyện

Nhất chi vi vật phả tốt kiến

Tu đắc chí chân thủy cố miện

Chí kỵ tử khí, chư uế tiện

Lục Thần hợp tập hư trung yến

Kết Châu cố Tinh, dưỡng Thần Căn

Ngọc thi kim thược thường hoàn kiên

Bế khẩu khuất thiệt thực thai tân

Sử ngã toại luyện hoạch phi Tiên.

Tiên Nhân Chương Đệ Nhị Thập Cửu

Tiên nhân Đạo sĩ phi hữu thần

Tích Tinh luy Khí dĩ vi Chân

Hoàng Đồng diệu âm nan khả văn

Ngọc Thư giáng giản Xích Đan Văn

Tự viết Chân Nhân cân kim cân

Phụ giáp trì phù khai Thất Môn

Hỏa binh phù đồ bị Linh Quan

Tiền ngang hậu ti cao hạ trận

Chấp kiếm bách trượng, vũ cẩm phiên

Thập tuyệt bàn không phiến phân vân

Hỏa linh quan tiêu đội lạc yên

An tại Hoàng Khuyết lưỡng mi gian

Thử phi chi diệp thật thị căn.

Tử Thanh Chương Đệ Tam Thập

Tử Thanh Thượng Hoàng Thái Đạo Quân

Thái huyền thái hòa, hiệp thị đoan

Hóa sinh vạn vật, sử ngã Tiên

Phi thăng thập Thiên giá ngọc luân

Trú dạ thất nhật tư vật miên

Tử năng tu thử khả trường tồn

Tích công thành luyện phi tự nhiên

Thị do tinh thành diệc thủ Nhất

Nội thủ kiên cố Chân chi Chân

Hư trung điềm đạm tự trí thần.

Bách Cốc Chương Đệ Tam Thập Nhất

Bách cốc chi thật Thổ Địa Tinh

Ngũ vị ngoại mỹ, tà ma tinh

Xú loạn Thần Minh, Thai Khí linh

Na tòng phản lão đắc hoàn anh

Tam Hồn hốt hốt, phách mi khuynh

Hà bất thực khí Thái Hòa Tinh

Cố năng bất tử nhập Hoàng Ninh.

Tâm Điển Chương Đệ Tam Thập Nhị

Tâm điển nhất thể, Ngũ Tàng vương

Động tĩnh niệm chi đạo đức hành

Thanh khiết hỷ khí tự minh quang

Tọa khởi ngô câu cộng luyện lương

Trú nhật diệu cảnh, mộ bế tàng

Thông đạt hoa tinh, điều Âm Dương.

Lưỡng Thận Chương Đệ Tam Thập Tam

Lưỡng Thận Chi Thần chủ diên thọ

Kinh lịch Lục Hợp, ẩn Mão Dậu

Chuyển giáng thích đẩu Tàng Sơ Cửu

Tri hùng thủ thư khả vô lão

Tri bạch thủ hắc kiến Tọa Thủ.

Can Khí Chương Đệ Tam Thập Tứ

Can Khí uất bột thanh thả trường

La liệt Lục Phủ sinh Tam Quang

Tâm tinh ý chuyên nội bất khuynh

Thượng hợp Tam Tiêu, hạ ngọc tương

Huyền dịch vân hành khứ xú hương

Trị đãng phát xỉ, luyện Ngũ Phương

Thủ tân huyền ưng nhập Minh Đường

Hạ khái hầu lung Thần Minh thông

Tọa thị Hoa Cái du Quý Kinh

Phiêu phiêu Tam Thanh tịch thanh lương

Ngũ sắc vân khí phân thanh thông

Bế mục nội miện tự tương vọng

Sử tâm chư Thần hoàn tự sùng

Thất Huyền anh hoa khai Mệnh Môn

Thông lợi Thiên Đạo tồn Huyền Căn

Bách nhị thập niên do khả hoàn

Quá thử thủ Đạo thành thậm nan

Duy đãi Cửu Chuyển Bát Quỳnh Đan

Yếu phục tinh tư tồn Thất Nguyên

Nhật nguyệt chi hoa cứu lão tàn

Can khí chu lưu chung vô đoan.

Phế Chi Đạo Chương Đệ Tam Thập Ngũ

Phế Chi Vi Khí Tam Tiêu khởi

Thị thính u minh hậu Đồng Tử

Điều lý Ngũ Hoa tinh phát xỉ

Tam thập lục yết Ngọc Trì lý

Khai thông bách mạch huyết dịch thủy

Nhan sắc sinh quang kim ngọc trạch

Xỉ kiên phát hắc bất tri bạch

Tồn thử Chân Thần vật lạc lạc

Đương ức thử cung hữu tọa tịch

Chúng Thần hợp hội chuyển tương tác.

Ẩn Tàng Chương Đệ Tam Thập Lục

Ẩn tàng vũ cái khán Thiên Xá

Triêu bái thái dương lạc tương hô

Minh Thần bát uy chánh tích tà

Tì Thần hoàn quy thị Vị Gia

Đam dưỡng Linh Căn bất phục khô

Bế tắc Mệnh Môn bảo Ngọc Đô

Vạn Thần phương tạc thọ hữu dư

Thị vị tì kiến tại Trung Cung

Ngũ Tạng Lục Phủ Thần Minh chủ

Thượng hợp Thiên Môn nhập Minh Đường

Thủ thư tồn hùng đính Tam Quang

Ngoại phương nội viên Thần tại trung

Thông lợi huyết mạch Ngũ Tạng phong

Cốt thanh cân xích tủy như sương

Tì cứu Thất Khiếu khứ bất tường

Nhật nguyệt liệt bố thiết Âm Dương

Lưỡng Thần tương hội hóa Ngọc Anh

Đạm nhiên vô vị Thiên Nhân lương

Tử Đan tiến soạn hào chánh hoàng

Nãi viết Lang Cao, cập Ngọc Sương

Thái Thượng ẩn hoàn Bát Tố Quỳnh

Khái ích Bát Dịch thận thụ tinh

Phục ư Thái Âm kiến ngã hình

Dương phong Tam Huyền xuất Thủy Thanh

Hoảng hốt chi gian chí Thanh Linh

Tọa ư Tiêu Đài kiến Xích Sinh

Nội phán trầm mặc luyện Ngũ Hình

Dật vực hi chân dưỡng hoa vinh

Tam Khí bồi hồi đắc Thần Minh

Ẩn long, độn chi, vân lang anh

Khả dĩ sung cơ sử vạn linh

Thượng cái huyền huyền hạ hổ chương.

Bản gốc trang 46
Bản gốc trang 46 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải I · Chương 1–6: Mộc Dục Đến Trung Trì

Mộc Dục Chương Đệ Nhất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Mộc dục thịnh khiết khí phì huân

沐浴盛潔棄肥薰

Nhập thất Đông hướng tụng Ngọc Thiên

入室東向誦玉篇

Ước đắc vạn biến nghĩa tự tiên

約得萬徧義自鮮

Tán phát vô dục dĩ trường tồn

散髮無欲以長存

  • Mộc dục thịnh khiết: Tắm gội thật tinh khiết.
  • Khí phì huân: Buông bỏ các loại thức ăn thơm béo, tránh vướng vào ngon thơm của vị giác.
  • Ước đắc vạn biến: Đạt được chừng 10.000 biến.
  • Nghĩa tự tiên: Tự nhiên thấm nhuần hết ý nghĩa câu kinh.
  • Tán phát: Để tóc dài xõa tự nhiên.
  • Vô dục: Không còn ham muốn.
  • Dĩ trường tồn: Thì được trường sinh vậy.

Trước khi bắt đầu thời khóa công phu, trì tụng bản kinh văn này, hành giả cần tắm gội thật kỹ, xả bỏ những trược khí, bụi bẩn tàn dư nơi thân tâm của mình. Đặc biệt là xoa bóp làm sạch khuôn mặt, mái tóc để tinh thần tươi vui sảng khoái, sáng lạng dễ phát sinh trí tuệ. Sau đó an tịnh trong gian thất nhỏ, hướng về phía Đông nơi ánh mặt trời sáng soi đặng dễ dàng thấu ngộ những lời kinh quý giá.

Lại nói về người cầu kinh luyện Đạo, cần cố gắng buông bỏ các món ngon vật lạ, các món vật chất xa hoa nơi thế gian mà thực hành “thiểu dục tri túc”. Ăn uống vừa đủ, quần áo vừa đủ không xa hoa, giảm tối đa các nhu cầu ham muốn không cần thiết cho sự phát triển tinh tấn của chính mình. Thậm chí là sẵn sàng đánh đổi cả vật trân quý nhất của bản thân để được thọ Chân Sư, cầu Chân Đạo quý báu.

Đó cũng là quá trình gác lại những loạn động vô thường của ngoại cảnh, tìm về nội tâm thâm sâu bên trong mình, cái tâm tánh chân thật vốn thiện lương, thanh tịnh thuần khiết. Lắng nghe Chân Tâm ấy, tự khắc biết được bản thân là ai, cần gì, muốn gì, lại có thể hòa điệu Tiểu Vũ Trụ nơi thân cùng cơ vận hành tự nhiên của vũ trụ.

Đối với những hành giả trên con đường luyện khí tu Đạo, để tóc dài là việc thuận tự nhiên vô cùng đáng quý, bởi tóc lưu giữ tâm tư tình cảm, năng lượng, khí chất của hành giả qua năm tháng. Nuôi tóc dài tự nhiên không cắt, chính là việc Nguyên Khí bảo tồn không bị thất thoát, tránh làm tổn hại đến Nguyên Tinh khi làm mất đi một phần thân thể. Việc này giúp cân bằng nhiệt độ cơ thể với môi trường bên ngoài, góp phần bình ổn tâm tình của hành giả trước các lý sự xảy đến. Thế nên giữ gìn mái tóc ít bị thương tổn, cũng là bảo Tinh dưỡng Khí tồn Thần đó vậy.

Một mái tóc xõa dài đen mượt, một Chân Tâm thanh tịnh vô dục, vô sở cầu. Làm được những điều như thế, là lúc hành giả đã hòa hợp được lẽ Đạo tự nhiên trong Trời Đất, từ đó kéo dài được thọ mạng, trường tồn cùng Thiên Địa vạn vật.

Câu 5 - 8:

Ngũ Vị giai chí Chánh Khí hoàn

五味皆至正氣還

Di tâm tịch muộn vật phiền oan

夷心寂悶勿煩冤

Quá sổ dĩ tất thể Thần Tinh

過數已畢體神精

Huỳnh Hoa Ngọc Nữ cáo tử tình

黃華玉女告子情

  • Ngũ Vị: Ngũ Hành, Ngũ Khí.
  • Giai chí Chánh Khí hoàn: Quy hồi về một mối, là Chánh Khí vậy.
  • Di tâm: Tâm bình yên.
  • Tịch muộn: Tất thảy mọi phiền não u uất đều tiêu trừ.
  • Vật phiền oan: Chẳng nên sầu não, oán hận.
  • Quá sổ dĩ tất: Sau khi tính đếm hoàn thành số lần trì tụng ước chừng 10.000 lần.
  • Thể Thần Tinh: Ứng hiệp được với phần Tinh, Thần nơi thân thể người.
  • Huỳnh Hoa Ngọc Nữ: Vị Thiên Nữ tôn danh Huỳnh Hoa, ý chỉ Đức Huỳnh Hoa Tiên Tử, Bách Hoa Tiên Tử cai quản cơ Sinh Hóa trong Tam Giới.
  • Cáo tử tình: Cho biết tình hình của hành giả.

Khi Ngũ Hành Chi Khí quy hồi thành một, Sinh Khí dồi dào kết hợp với Linh Khí tinh anh nơi phần hồn thành một thể thống nhất, gọi là Chánh Khí nuôi dưỡng thân tâm hành giả được khỏe mạnh, minh mẫn. Chánh Khí ấy dần tịnh hóa những muộn phiền nơi tâm trí, giúp hành giả ngộ ra được tính không trong vạn vật mà buông xả những vọng cầu bất đắc. Kéo căng làm chi, siết chặt làm gì để rồi người thọ khổ vẫn là chính mình khi cứ mãi bám chấp vào những điều xa xôi ấy. Sẵn sàng đón nhận, buông tay đối với những mối duyên vô thường đến rồi đi, được rồi lại mất.

Tâm bình yên an lạc, khí hài hòa bình ổn, hành giả tự khắc gìn giữ được nét thanh xuân tươi trẻ theo thời gian, dễ mến dễ gần, lại lan tỏa được tinh thần an vui, tích cực đến muôn người muôn vật xung quanh mình.

Chuyên tâm trì tụng ước chừng khoảng một vạn biến, thần trí tự nhiên quang minh sáng suốt, thấm nhuần mọi lẽ huyền vi màu nhiệm trong bản kinh này. Về lâu về dài thì ứng hiệp được với phần tinh thần nơi thân thể người, có thể xưng tán tôn danh chư Thần cai quản các bộ phận trong thân để nhờ tương tác giúp đỡ. Lại được Huỳnh Hoa Tiên Tử hộ trì độ duyên, cho người hành giả biết được tình trạng của bản thân trên bước đường tu Đạo.

Câu 9 - 14:

Chân Nhân ký chí sử Lục Đinh

真人既至使六丁

Tức thụ ẩn chi Đại Động Kinh

即受隱芝大洞經

Thập độc tứ bái triêu Thái Thượng

十讀四拜朝太上

Tiên yết Thái Đế, hậu Bắc hướng

先謁太帝後北向

Huỳnh Đình Nội Kinh Ngọc Thư xướng

黃庭內經玉書唱

Thụ giả viết sư, thụ giả minh

授者曰師受者盟

  • Chân Nhân ký chí: Đã đạt đến bậc Chân Nhân, Chí Chân.
  • Sử Lục Đinh: Có thể dụng tâm sai khiến Lục Phủ trong thân. Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm: Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế. Trung Tiêu là khu vực tì, vị. Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Tức thụ ẩn chi: Tức thì nhận được cỏ linh chi đã ẩn tàng bấy lâu.
  • Đại Động Kinh: Tên một quyển Đan Kinh do Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn truyền dạy.
  • Xướng: Hát ca, ngâm thơ.
  • Thụ giả viết sư: Người truyền thụ kinh này thì chính là thầy vậy.
  • Thụ giả minh: Người được truyền, thọ nhận kinh này thì phải lập minh thệ.

Khi đã tu luyện đạt thành Chân trung Chân, tức là bậc Chân Nhân giữa Thiên Địa này thì hành giả có thể dung hòa, cảm ứng Tiểu Vũ Trụ trong thân với Thiên Địa. Lại có thể dụng tâm ý của mình mà chi phối, làm chủ Lục Phủ trong thân, làm cho thân tâm luôn khỏe mạnh, điều trị được mọi loại bệnh tật xâm hại.

Việc ấy cũng chính là lẽ Đạo trân quý, như cỏ linh chi ẩn tàng nơi Ngọc Kinh, Đại Động Kinh vậy. Mỗi ngày hành giả nên trì tụng 10 lần bản kinh này, mỗi lần đều bái lễ 4 lạy 3 gật hướng về Đức Từ Tôn Thái Thượng Đạo Quân.

Trước khi trì niệm, hành giả hướng về phía Đông bái lễ Đức Thái Đế, tức là Đức Đại La Thiên Đế Thái Cực Thánh Hoàng, Đức Đại Từ Phụ của muôn sinh.

Kế tiếp hành giả triều bái về hướng Bắc, tức hướng về chòm sao Bắc Đẩu. Cai quản nơi đây chính là Đức Thái Bạch Kim Tinh, là vị Tiên Trưởng nắm giữ Thiên Điều, gìn giữ giới luật Thiên Điều giúp muôn sinh hiểu rõ giá trị của Nhân Quả mà tu tâm dưỡng tánh, sớm ngày trở về Cội Đạo.

Ngọc Kinh Huỳnh Đình có thể giúp người hành trì được thân âm an lạc, thông suốt lẽ huyền vi màu nhiệm của cơ vận hành Âm Dương nơi thân mình phù hợp với Đại Vũ Trụ ra sao. Người hành trì khi đã chứng đắc một phần nào đó, hoặc đã thông hiểu thấu suốt toàn bộ Ngọc Kinh liền có thể truyền thụ cho người khác, gọi là thầy vậy. Người được thụ truyền Ngọc Kinh thì phải lập minh thệ gìn giữ việc hành trì và các nguyên tắc thực hành tu Đan Đạo.

Câu 15 - 18:

Vân cẩm phụng la, kim nữu triền

雲錦鳳羅金鈕纏

Dĩ đại cát phát cơ phu toàn

以代割髮肌膚全

Huề thủ đăng san, sáp dịch đan

攜手登山歃液丹

Kim Thư Ngọc Cảnh nãi khả tuyên

金書玉景乃可宣

  • Vân cẩm phụng la: Vải gấm đẹp, tốt lành.
  • Kim nữu triền: Quần áo vàng, ý nói quần áo quý giá.
  • Dĩ đại cát phát: Như vậy là thay thế cho việc cắt tóc.
  • Cơ phu toàn: Da thịt thân thể đều bảo tồn nguyên vẹn.
  • Huề thủ đăng san: Dắt nhau lên núi.
  • Sáp dịch đan: Lấy máu ăn thề.
  • Kim Thư Ngọc Cảnh: Sách quý nói về cảnh giới tốt lành.
  • Nãi khả tuyên: Bèn có thể truyền.

Người muốn được thụ lãnh Ngọc Kinh cần nên xả bỏ tài vật, thực hành bố thí bằng cách dâng lễ vật lên cho vị truyền kinh cho mình những gì bản thân trân quý để được truyền thụ. Bởi lẽ giá trị Ngọc Kinh là đưa người đến bến bờ an lạc, giải thoát, trường sinh bất tử. Nếu không dùng những thứ mình rất mực yêu quý, trân trọng, vô cùng quý giá đối với mình mà đổi lấy thì sao có thể nhắc nhở bản thân rằng để có Ngọc Kinh, hành giả phải trả giá rất đắt.

Việc dâng lễ vật như vậy, cũng đại diện cho việc gìn giữ được tóc của mình, không cần phải cắt tóc thề nguyện, cơ thể vẫn giữ được trọn vẹn phần Tinh của thân này.

Nghi lễ cầu truyền Huỳnh Đình Kinh do người truyền kinh dẫn dắt người được thụ truyền lên núi, đàn lễ hướng về phía Đông, lúc 9 giờ sáng. Người nhận kinh cần trích dịch đan, là huyết dịch thanh sạch của người đã trường trai giới sát, để minh chứng nơi bản khế ước là ghi chép bằng tay lời minh thệ của người cầu kinh về việc gia trì Ngọc Kinh, gìn giữ đúng luật lệ việc lưu truyền Ngọc Kinh được tốt nhất.

Câu 19 - 22:

Truyền đắc khả thụ cáo Tam Quan

傳得可授告三官

Vật lệnh Thất Tổ thụ minh hoạn

勿令七祖受冥患

Thái Thượng vi ngôn trí Thần Tiên

太上微言致神僊

Bất Tử Chi Đạo thử Chân Văn

不死之道此真文

  • Truyền đắc khả thụ cáo Tam Quan: Người truyền thụ cần trình báo với Tam Quan là Thủy Quan, Thiên Quan, Địa Quan giữa Thiên Địa.
  • Vật lệnh: Chớ làm cho, chớ gây nên.
  • Thất Tổ chỉ về Cửu Huyền Thất Tổ.
  • Thụ minh hoạn: Nhận lấy phiền muộn, liên đới tai họa.
  • Thái Thượng vi ngôn trí Thần Tiên: Những lời vi diệu của Đức Thái Thượng Lão Quân giúp cho hành giả chứng đắc Thần Tiên.
  • Bất Tử Chi Đạo thử Chân Văn: Ấy chính là Chân Văn của Đạo Trường Sinh Bất Tử đó vậy.

Sau khi người cầu được thụ truyền Ngọc Kinh làm những việc ấy, vị Minh Sư liền có thể tuyên truyền Ngọc Kinh cho người cầu kinh. Kế đến, vị ấy cần bố cáo với Tam Quan về việc từ ngày hôm nay có người trì tụng Huỳnh Đình Kinh, thực hành Đan Đạo vậy.

Khi người nhận kinh chuyên tâm hành trì, tu tập nghiêm túc, Cửu Huyền Thất Tổ trong gia tộc cũng theo đó nhận được cộng thiện nghiệp mà không còn chịu khổ vì vô minh. Việc tu tập cần phải nghiêm túc, chớ khinh nhờn biếm nhẽ, thất thệ mà ảnh hưởng không tốt đến các vị ấy.

Ngọc Kinh này, là lời châu ngọc của Đức Thái Thượng Lão Quân truyền dạy cho ba vị Tam Thanh từ thời Tối Cổ. Huỳnh Đình Kinh giúp cho muôn sinh đều có thể tu luyện chứng đắc Thần Tiên tại hiện thế này. Ấy chính là Chân Văn của Đạo Trường Sinh Bất Tử đó vậy.

Thượng Thanh Chương Đệ Nhị

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Thượng Thanh Tử Hà, Hư Hoàng tiền

上清紫霞虛皇前

Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân

太上大道玉晨君

Nhàn cư Nhụy Châu tác thất ngôn

閑居蕊珠作七言

  • Thượng Thanh chỉ về Thượng Thanh Thiên, là một cõi Thiên trong Tam Thanh, nơi ngự của Đức Thượng Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn.
  • Tử Hà: Mây lành sắc tím. Nơi nào có các bậc Thiên Tôn, Thiên Tiên hay chư Phật, Bồ Tát thì thường xuất hiện ánh hào quang cửu sắc chiếu diệu xuyên qua các tầng mây, thế nên mây cũng mang những màu sắc giống ánh hào quang ấy. Tử Hà còn là tôn danh chỉ về vị Ngụy Hoa Tồn Phu Nhân, Ngụy Hoa Nguyên Quân. Ngài được vị Xích Tinh Tử truyền Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh qua cơ bút, từ bản của Ngụy Phu Nhân mới phổ truyền trong dân gian.
  • Hư Hoàng chỉ về Đức Hư Hoàng Thượng Đế, hay Cao Thượng Hư Hoàng Đạo Quân. Đây là những tôn danh của Đức Thượng Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn.
  • Tiền: Phía trước.
  • Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân là một tôn danh của Đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn. Ngài còn có các tôn danh khác như: Đức Thái Thượng Huyền Hoàng Cao Thánh Nguyên Khí Sở Thành, Đức Ngọc Thanh Diệu Hữu Thượng Đế, Đức Thái Thượng Ngọc Thần Huyền Hoàng Đạo Quân, Đức Ngọc Thần Đại Đạo Quân.
  • Nhàn cư: Thong dong tự tại nhàn hạ.
  • Nhụy Châu: Tên một cung nơi cõi Thượng Thanh Thiên.
  • Tác thất ngôn: Tạo nên bài thơ thất ngôn.

Trong sắc mây lành nơi tầng Thượng Thanh, trước Đức Hư Hoàng Thượng Đế, ở cung Nhụy Châu, Đức Linh Bảo Thiên Tôn đã tạo nên bản kinh văn theo thể thơ thất ngôn trường thi.

Câu 4 - 5:

Tán hóa Ngũ Hình biến vạn Thần

散化五形變萬神

Thị vi Huỳnh Đình viết Nội Thiên

是為黃庭曰內篇

  • Tán hóa: Biến hóa ra nhiều.
  • Ngũ Hình: Năm hình thái của khí, nên có thể hiểu là Ngũ Khí.
  • Biến vạn Thần: Biến hóa thành hàng vạn chư Thần Linh.
  • Thị vi: Đặt là, tạo nên.
  • Huỳnh Đình: Nơi khoảng trống chứa Nguyên Khí trên thân người.
  • Viết: Nói.
  • Nội: Bên trong.
  • Thiên: Sách có nội dung ngắn gọn.

Ngài biến hóa Ngũ Khí tự thân mình hóa hình thành hàng vạn vị Thần Linh, được nhắc đến trong bản kinh mang tên Huỳnh Đình Kinh Nội Thiên. Trong bản kinh này nhắc đến tôn danh các vị Thần cai quản từng cơ quan, bộ phận, cơ chế hoạt động của cơ thể trong Tiểu Vũ Trụ của con người.

Câu 6 - 8:

Cầm tâm Tam Điệp vũ Thai Tiên

琴心三疊儛胎仙

Cửu Khí ánh minh xuất Tiêu Gian

九氣映明出霄間

Thần cái Đồng Tử sinh tử yên

神蓋童子生紫煙

  • Cầm tâm ý chỉ về tâm tình của con người. Con người có Thất Tình Lục Dục như cây đàn Thất Huyền Cầm vậy.
  • Tam Điệp: Ba tầng lớp rung động, ý chỉ về ba khu vực chứa Nguyên Khí quan trọng và lớn nhất của con người, đó là Thượng, Trung và Hạ Huỳnh Đình. Đạo Gia Luyện Đan thì gọi Huỳnh Đình là Đan Điền, bao gồm:
    • Thượng Đan Điền: Nê Hoàn Cung, hộp sọ.
    • Trung Đan Điền: Lồng ngực.
    • Hạ Đan Điền: Phần bụng ngay khu vực rốn.
  • Vũ: Múa, bay lượn, huy động.
  • Thai Tiên là một tên gọi khác của Nguyên Anh, Pháp Thân. Nguyên Khí của hành giả tu luyện có thể kết thành Kim Đan Thánh Thai, rồi lại hóa thành Nguyên Anh Tiên Thai, tự do du nhập Tam Giới.
  • Cửu Khí bao gồm 9 dòng khí, năng lượng do thái độ con người mà phát khởi vận hành:
    1. Nộ Tắc Khí Thượng: Tức giận thì Nguyên Khí bộc phát xông lên.
    2. Hỉ Tắc Khí Hoãn: Vui vẻ thì Nguyên Khí nhẹ nhàng dễ chịu.
    3. Bi Tắc Khí Tiêu: Buồn thì tiêu hao Nguyên Khí.
    4. Khủng Tắc Khí Hạ: Hoảng sợ thì Nguyên Khí giảm sút.
    5. Hàn Tắc Khí Thu: Lạnh lẽo thì Nguyên Khí co lại, cần dung nạp thêm.
    6. Huỳnh Tắc Khí Tiết: Sáng tỏ thì Nguyên Khí phát lộ ra.
    7. Kinh Tắc Khí Loạn: Xúc động, chấn động thì Nguyên Khí bị loạn động.
    8. Lao Tắc Khí Háo: Mệt mỏi quá thì Nguyên Khí hao mòn tiều tụy.
    9. Tư Tắc Khí Kết: Nghĩ ngợi về điều gì thì Nguyên Khí bị ràng buộc với điều ấy, theo luật cảm ứng vậy.
  • Cửu Khí còn chỉ về 9 loại khí quang là: Huyền, Hồng, Cam, Huỳnh, Lục, Thanh, Lam, Tử, Bạch. Đó là các màu: Đen, Đỏ, Cam, Vàng, Xanh Lá, Xanh Trời, Xanh Biển, Tím, Trắng. Chín màu ấy khi đi chung sẽ tạo nên dải màu cầu vồng, được gọi là hồng nghê.
  • Ánh minh: Sáng rực rỡ.
  • Xuất: Ra ngoài, rời khỏi.
  • Tiêu Gian: Khoảng không gian thông với Trời, ý chỉ Nê Hoàn Cung, Huyền Quan Khiếu nơi Thượng Huỳnh Đình.
  • Thần cái: Cái lộng thần, ý chỉ về đầu tóc, thứ bảo vệ che chở cho Não Bộ bên trong.
  • Đồng Tử: Chân Thần của hành giả.
  • Sinh tử yên: Sinh về nơi mây lành sắc tím, ý chỉ việc du nhập về cõi Thiên.

Người hành giả điều phục được Thất Tình trong tâm thì Cửu Khí cũng từ đó mà lắng đọng, được tôi luyện lại thành một khối Nguyên Khí sáng rực rỡ, có thể xuất ra khỏi thân người thông qua Huyền Quan Khiếu. Lúc bấy giờ, Chân Thần nơi hành giả cũng thông qua đỉnh đầu mà du nhập về cõi Thiên, thong dong tự tại trong khắp Tam Giới.

Người chứng đắc được việc này sẽ có biểu hiện mặt mày sáng rỡ, thần sáng, đôi mắt tinh anh, trong thân phát xuất ra Sinh Khí.

Câu 9:

Thị viết Ngọc Thư khả tinh nghiên

是曰玉書可精研

  • Thị viết: Nói đó là.
  • Ngọc Thư: Sách quý như ngọc ngà châu báu.
  • Khả tinh nghiên: Đáng để nghiên cứu chuyên sâu, tường tận nghĩa lý.

Vậy nên đây là một bản kinh quý báu, rất nên nghiên cứu tìm tòi thật sâu, thật kỹ.

Huỳnh Đình Kinh là bản kinh điển xuất hiện từ thời Tối Cổ, do Đức Thái Thượng Lão Quân truyền dạy cho Tam Thanh Tổ Sư. Ba vị Tam Thanh Tổ Sư lại soạn thành hai bản là Huỳnh Đình Nội Cảnh và Huỳnh Đình Ngoại Cảnh để truyền bá cho chúng sinh tùy theo căn cơ mà tu luyện siêu phàm nhập Thánh, đắc Đạo giải thoát.

Về sau này, khi người tu luyện không còn nhiều nữa, Huỳnh Đình Kinh thất truyền, đến đời Tử Hà Phu Nhân được truyền thông qua Huyền Cơ, Cơ Bút thì kinh văn được chép lại thành sách, xuất hiện nhiều dị bản, lưu hành phổ thông trong dân gian cho đến ngày nay. Bản chia sẻ này được các Đạo Quán tu Tiên dùng phổ thông.

Câu 10 - 13:

Vịnh chi vạn quá thăng Tam Thiên

詠之萬過昇三天

Thiên tai dĩ tiêu, bách bệnh thuyên

千災以消百病痊

Bất đạn hổ lang chi hung tàn

不憚虎狼之凶殘

Diệc dĩ khước lão niên vĩnh diên

亦以卻老年永延

  • Vịnh: Ca hát, ngâm đọc thành giai điệu.
  • Chi: Nếu, mà.
  • Vạn quá: Trải qua hàng chục ngàn.
  • Thăng: Bay lên.
  • Tam Thiên chỉ về Tam Thiên Vị Cội Đạo, nơi ngự của ba Đấng Tam Tôn là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Hồng Quân Lão Tổ.
  • Thiên tai: Hàng ngàn tai nạn.
  • Dĩ tiêu: Có thể tiêu trừ.
  • Bách bệnh thuyên: Trăm bệnh có thể hóa giải.
  • Bất đạn: Chẳng kiêng sợ, e dè, lo ngại.
  • Hổ lang: Cọp và chó sói.
  • Hung tàn: Tàn bạo, nguy hiểm.
  • Diệc dĩ: Lại có thể.
  • Khước lão: Từ bỏ sự lão hóa theo thời gian.
  • Niên vĩnh diên: Tuổi thọ trường tồn dài lâu.

Người nào thường xuyên trì tụng bản kinh này, khi cảm ứng được tốt, thực hành các điều thiện trong việc điều phục thân tâm, hòa đồng cùng Thiên Địa thì người ấy có thể phát xuất chân hồn du nhập Tam Giới để học hỏi, chiêm nghiệm các lý sự vi diệu vận hành vũ trụ. Lại còn có đủ tâm tình kiên định chẳng e ngại các loài thú dữ hay các sự hiểm độc nguy khốn. Lại còn có thể tiêu trừ các bệnh tật, thân thể mạnh khỏe trường tồn, chẳng bị già yếu theo thời gian.

Thượng Hữu Chương Đệ Tam

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Thượng hữu Hồn Linh, hạ Quan Nguyên

上有魂靈下關元

Tả vi Thiếu Dương, hữu Thái Âm

左為少陽右太陰

Hậu hữu Mật Hộ, tiền Sinh Môn

後有密戶前生門

Xuất nhật nhập nguyệt, hô hấp tồn

出日入月呼吸存

  • Thượng hữu: Bên trên có.
  • Hồn Linh chỉ về Tâm, Thần, Chân Thần của mỗi người.
  • Hạ: Bên dưới.
  • Quan Nguyên chỉ về Hạ Đan Điền nơi chỗ khu vực bụng, rốn.
  • Tả vi: Bên trái có.
  • Thiếu Dương chỉ về phổi trái trong Ngũ Tạng ứng với Âm Dương Ngũ Hành.
  • Hữu: Bên phải.
  • Thái Âm chỉ về phổi phải trong Ngũ Tạng ứng với Âm Dương Ngũ Hành.
  • Hậu hữu: Phía sau có.
  • Mật Hộ: Cửa bí mật, ý chỉ đại huyệt Luân Xa 4 phía sau lưng.
  • Tiền: Phía trước.
  • Sinh Môn: Cửa sinh sống, ý chỉ lỗ hõm ngay chấn thủy.
  • Xuất nhật nhập nguyệt: Ngày đêm đều hít thở.
  • Hô hấp tồn: Bảo tồn việc hít thở.

Bốn câu này chỉ về phần ngực, nơi có tim ở trên, làm chủ các hoạt động ở đây.

  • Trái phải thì có phổi lo phần hô hấp.
  • Trước thì có chấn thủy, giao điểm kết thúc phần bảo vệ của xương lồng ngực nên đây là một điểm yếu mệnh của thân người trước ngực, được gọi là Sinh Môn.
  • Phía sau ngực thì gọi là Mật Hộ, chỗ hõm vào ngay sau lưng đối chiếu chấn thủy.

Con người là một Tiểu Thiên Địa, sự vận hành âm dương trong thân người cũng giống như sự vận hành xoay chuyển của Địa Hoàn cùng với hai vầng nhật nguyệt trong Đại Vũ Trụ vậy. Mỗi hơi thở vào, hít ra là một chu kỳ của nhật nguyệt, âm dương trong Tiểu Thiên Địa vậy.

Câu 5 - 6:

Nguyên Khí sở hợp, liệt tú phân

元氣所合列宿分

Tử yên thượng hạ Tam Tố Vân

紫煙上下三素雲

  • Nguyên Khí: Linh Khí từ khối năng lượng Thái Cực, thuộc về phần Linh của con người. Nguyên Khí này kết hợp với Sinh Khí được hợp thành từ hai khí Âm Dương do vật thực và hô hấp tạo nên.
  • Sở hợp: Hòa hợp.
  • Liệt tú phân: Nhiều vì sao phân chia ra.
  • Tử yên: Khói tím tốt lành, ý chỉ về Sinh Khí.
  • Thượng hạ: Trên dưới khắp toàn thân.
  • Tam Tố Vân: Ba mảng mây thuần khiết. Đạo Gia Đan Kinh định nghĩa về Tam Tố Vân như sau: “Tì vi hoàng tố, phế vi bạch tố, can vi tử tố, hợp xưng Tam Tố Vân.”

Như vậy, Tam Tố Vân là ba chất khí trong đó màu vàng chỉ về Tì Khí, màu trắng chỉ về Phế Khí, và màu tím là chỉ về Can Khí.

Nguyên Khí của con người, kết hợp với Sinh Khí được hình thành từ hai khí Âm Dương trong Trời Đất do vật thực và quá trình hô hấp tạo nên. Từ sự kết hợp hai chất khí này lại sản sinh thành muôn vàn tinh tú trong Tiểu Vũ Trụ thân người. Đây chính là quá trình hình thành của con người, từ hai chân khí Âm Dương kết hợp, dần lớn lên rồi phát triển thành các bộ phận hoàn chỉnh của thân người vậy.

Thân người được nuôi dưỡng bằng Sinh Khí. Sinh Khí này lưu chuyển khắp toàn thân, đặc biệt nhờ vào ba cơ quan là tì, phế, can giúp cho việc trao đổi chất, giao hoán khí Âm Dương với Thiên Địa mà duy trì sự sống. Thân người ấy cần có Nguyên Khí, tức Linh Hồn thì mới thành một con người sống, nếu chỉ có Sinh Khí thôi, không có Nguyên Khí tức nhiên con người là xác không hồn vậy.

Câu 7:

Quán khái Ngũ Hoa thực Linh Căn

灌溉五華植靈根

  • Quán khái: Tưới rót.
  • Ngũ Hoa: Năm đóa hoa lành, chỉ về Ngũ Tạng, Ngũ Khí trong thân.
  • Thực: Gieo trồng.
  • Linh Căn: Gốc rễ tâm linh, tinh thần, chỉ về Thần trong Tam Bảo của người.

Sinh Khí lưu chuyển khắp thân, nuôi dưỡng Ngũ Tạng. Ngũ Tạng tươi tốt thì phát xuất ra Ngũ Khí thanh sạch. Ngũ Khí này là nguyên liệu để kết hợp với Nguyên Khí mà nuôi dưỡng tinh thần hành giả được khỏe mạnh, sáng suốt. Từ đó Chân Thần, do Nguyên Khí và Sinh Khí hợp nhau có đủ mạnh mẽ, cứng cáp trường tồn với Thiên Địa hay tự do du nhập Tam Giới.

Câu 8:

Thất Dịch động lưu xung lư gian

七液洞流衝廬間

  • Thất Dịch chỉ về bảy chất dịch trong thân người, bao gồm:
    • Hộp sọ chứa dịch nuôi dưỡng não.
    • Mũi chứa dịch giữ ẩm, giúp bảo vệ cơ quan hô hấp được thanh sạch.
    • Mắt chứa dịch giữ ẩm, giúp làm sạch mắt và giải tỏa cảm xúc khi vui buồn quá độ.
    • Miệng chứa nước bọt giúp kích thích tiêu hóa, hỗ trợ quá trình tiêu hóa hấp thu tốt.
    • Bao tử chứa dịch tiêu hóa, giúp hấp thu năng lượng từ thức ăn.
    • Bàng quang chứa nước thải.
    • Ống xương chứa dịch tủy nuôi xương và các mao mạch dẫn khắp thân.
  • Động lưu: Lưu chuyển thông suốt.
  • Xung: Xông ra, hướng về.
  • Lư gian chỉ về thân người. Đạo Gia xem thân người là lư ngọc. Thân thuần khiết sẽ phát xuất Nguyên Tinh thuần khiết, Nguyên Tinh thuần khiết ấy phát xuất ra bao lằn năng lượng tích cực, như mùi hương thơm phát ra từ lư ngọc vậy. Thân là Tinh hay lư ngọc, ý là Khí hay diệu hương đạo đức.

Tất cả các cơ quan trên cơ thể được lưu thông khí huyết, kinh mạch thật tốt, giúp cho năng lượng, Sinh Khí thấm nhuần toàn thân, làm thân tươi nhuận tinh sạch mà phát xuất ra những ý tưởng cao đẹp, sống thuận tự nhiên, hòa với Thiên Địa.

Câu 9 - 10:

Hồi tử bão huỳnh nhập Đan Điền

廻紫抱黃入丹田

U Thất nội minh chiếu Dương Môn

幽室內明照陽門

  • Hồi: Trở lại.
  • Tử: Màu tím, ý chỉ về Sinh Khí được tinh luyện từ hai khí Âm Dương lấy từ vật thực và hơi thở trực tiếp. Sinh Khí do Tinh sinh ra.
  • Bão: Ôm ấp, níu giữ.
  • Huỳnh: Màu vàng, ý chỉ về Nguyên Khí là khí chất màu vàng linh diệu, có nguồn gốc từ khối ánh sáng Thái Cực.
  • Nhập: Tiến vào.
  • Đan Điền: Ruộng thuốc, chỉ về ba nơi chứa Nguyên Khí quan trọng nhất của con người, đó là:
    • Thượng Đan Điền: Nê Hoàn Cung, hộp sọ.
    • Trung Đan Điền: Lồng ngực.
    • Hạ Đan Điền: Phần bụng ngay khu vực rốn.
  • U Thất: Căn phòng tối.
  • Nội minh: Bên trong sáng sủa.
  • Chiếu: Làm sáng, sáng tỏ, soi sáng.
  • Dương Môn: Cổng Trời, ý chỉ Huyền Quan Khiếu, Nê Hoàn Cung nơi sọ não.

Thân tâm trong sạch phát sinh dòng Sinh Khí, khí này kết hợp với Nguyên Khí nhập vào các Đan Điền trên thân, lưu giữ, bảo tồn ở đấy chờ được tinh luyện theo thời gian, có ngày thành tựu.

Trong căn phòng tối, ánh sáng soi rọi, làm cho sáng tỏ, minh bạch mọi lẽ. Câu này ý nói khi thân tâm tịnh lặng, tịch tĩnh thì tâm trí sẽ được quán chiếu, sáng soi tường tận những vướng mắc, giúp cho hành giả liễu ngộ lẽ vận hành huyền vi màu nhiệm của Tiểu Vũ Trụ hòa nhập với Đại Vũ Trụ thông qua Huyền Quan Khiếu.

Luận bàn

Ở Chương 2 giới thiệu khái quát về Huỳnh Đình Kinh, chúng ta thấy được thân người là Tiểu Vũ Trụ, mỗi cơ quan, bộ phận hoạt động trên cơ thể chính là một vì tinh tú, có Thần cai quản và hoạt động tương hiệp bổ trợ nhau vậy. Công năng của Huỳnh Đình Kinh là vi diệu chẳng thể nghĩ bàn vì có thể giúp người đạt trường sinh, hòa hợp với Thiên Địa.

Qua đến Chương 3 bắt đầu nói về các cơ quan trên thân người. Sự hoạt động các cơ quan này rõ ràng được mô tả so sánh, ví như nhật nguyệt, tinh tú, mây lành, ngũ hoa… Lời kinh đã khắc họa nên những đường nét cơ bản giúp hành giả có thể mường tượng về một Tiểu Vũ Trụ xinh đẹp, tận thiện tận mỹ ra sao. Mới miêu tả về một phần Trung Đan Điền - Trung Huỳnh Đình ở lồng ngực, chỉ là vài lời ngắn gọn, nhưng nghĩa lý cao sâu huyền nhiệm lắm vậy.

Từ từ, chúng ta sẽ được hiểu hơn về Tiểu Vũ Trụ của thân người để hiểu được vì sao Nhân được xếp chung vào Thiên Địa Nhân khi nhắc đến Tam Tài của Đại Vũ Trụ.

Khẩu Vi Chương Đệ Tứ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Khẩu vi ngọc trì, Thái Hòa Cung

口為玉池太和宮

Sấu yết linh dịch tai bất can

漱咽靈液災不干

  • Khẩu vi: Miệng là.
  • Ngọc trì: Ao ngọc quý báu.
  • Thái Hòa Cung ý chỉ về nơi rất hòa thuận.
  • Sấu: Súc miệng.
  • Yết: Cổ họng.
  • Linh dịch: Nước bọt còn được gọi là linh dịch, ngọc dịch, vì là thứ nước đặc biệt do nơi miệng trong sạch tạo ra.
  • Tai bất can: Tai nạn chẳng phạm đến.

Người xưa có nói: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, tức là: Bệnh theo miệng vào, họa theo miệng ra. Vì ăn uống thứ không hợp với thân mà gây nên thân bệnh, vì nói điều không nên nói mà thân gặp tai họa. Thế nên hành giả luyện Đan Đạo cần tịnh khẩu trước tiên.

Tịnh khẩu bao gồm các việc:

  • Không nói lời bất thiện, ác nghiệt, gây đau lòng kẻ khác.
  • Không nói lời thừa, hí ngôn đùa bỡn, hay quát tháo lớn tiếng gây ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của xung quanh.
  • Không vui miệng mà hứa hẹn rồi chẳng giữ được chữ tín.
  • Không dùng vật thực bất tịnh, đồ ôi thiu, lên men, có dính sát nghiệp và oán khí nặng nề.
  • Không ăn uống quá độ, nên ăn ít, uống ít, dùng đồ trai tịnh thanh đạm nhẹ nhàng, ít vướng sát nghiệp hay nghiệp bất thiện.
  • Nên thường giữ thanh tịnh, nói ít, lời nào nói ra thì nhất định phải thật chân thành, chân thật. Nói lời giữ lời, nói lời đem lại sự hoan hỷ, lợi lạc và bình yên cho mọi người mọi vật xung quanh.

Người làm được những điều như thế, tức là khẩu nghiệp thanh tịnh, thuần lương như ngọc khiết, tai họa chẳng phạm, bệnh tật chẳng vướng. Lúc ấy, miệng chính là ao ngọc, là Thái Hòa Cung đưa linh dịch đi khắp toàn thân nuôi dưỡng thân thể cường tráng tươi nhuận đó vậy.

Câu 3 - 4:

Thể sinh quang hoa, khí hương lan

體生光華氣香蘭

Tức diệt bách tà, ngọc luyện nhan

却滅百邪玉鍊顏

  • Thể sinh quang hoa: Toàn thân phát sáng.
  • Khí hương lan: Khí chất, khí quang có mùi thơm như hương hoa lan.
  • Tức diệt: Ngay tức thì tiêu diệt.
  • Bách tà: Hàng trăm loại tà khí, bệnh tật.
  • Ngọc: Quý báu.
  • Luyện nhan: Rèn đúc, trau chuốt gương mặt.

Khi đã tịnh khẩu, miệng đã biến thành Thái Hòa Cung rồi thì toàn thân tâm sẽ phát xuất ra nguồn năng lượng an vui, sáng lạng. Lại có mùi hương thơm đạo đức thoang thoảng quanh mình như hương hoa lan, khiến cho bất kỳ ai khi tiếp xúc cũng đều cảm thấy an lạc, thoải mái. An lạc khí ấy giúp tiêu trừ, đẩy lùi mọi loại tà khí, bệnh tật, cũng là nguồn năng lượng quý báu khiến cho gương mặt tươi tắn sáng lạng, dễ mến dễ gần.

Như vậy, tịnh khẩu chính là một quá trình vô cùng trọng yếu trong việc gìn giữ nét thanh xuân, an lạc khí bình yên nơi hành giả.

Câu 5 - 7:

Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn

審能修之登廣寒

Trú dạ bất mị nãi thành Chân

晝夜不寐乃成真

Lôi minh điện kích Thần an nhiên

雷鳴電激神安然

  • Thẩm: Thận trọng, xét rõ, tường tận.
  • Năng: Thường xuyên, chăm chỉ, siêng năng.
  • Tu: Rèn luyện, sửa chữa.
  • Chi: Thì, là.
  • Đăng: Lên trên.
  • Quảng Hàn chỉ về một cung ở Nguyệt Tinh nơi Thượng Giới. Gọi là Quảng Hàn Cung vì nơi ấy vô cùng lạnh lẽo, khí âm hàn rất nhiều.
  • Trú dạ: Ban ngày và ban đêm.
  • Bất mị: Không ngủ.
  • Nãi: Bèn, rồi, thì.
  • Thành: Thành tựu, đạt được.
  • Chân chỉ về Chân Nhân, là một cảnh giới tu tập mà hành giả Đan Đạo có thể đạt được.
  • Lôi minh: Tiếng sấm nổ.
  • Điện kích: Ánh chớp, tia điện bắn ra mãnh liệt.
  • Thần: Tinh thần, phần Linh của hành giả.
  • An nhiên: Bình thản, tâm tình an định.

Người tu luyện pháp Tịnh Khẩu một cách sâu sắc, thần thức có thể du hành đến Quảng Hàn Cung.

Dù ngày hay đêm cũng chẳng ngủ. Chỗ này ý nói khi thức thì thân xác và tâm tình sinh hoạt nơi thế gian. Khi thân xác ngủ thì thần thức xuất ra, tiếp tục hoạt động trong Linh Giới, du hành đến các cõi Trung Giới và Thượng Giới để học hỏi, tu hành thiện nghiệp, nên còn gọi người đạt thành tựu như thế là Chân Nhân vậy.

Thần thức của Chân Nhân khi du nhập Tam Giới, hay lúc thân xác phàm trí đang tỉnh thức thì dù thấy sấm chớp kinh thiên động địa tâm vẫn bình thản an nhiên, chẳng hề lo lắng, vọng động.

Huỳnh Đình Chương Đệ Ngũ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y

黃庭內人服錦衣

Tử hoa phi quần vân khí la

紫華飛裙雲氣羅

Đan thanh lục điều thúy linh kha

丹青綠條翠靈柯

  • Huỳnh Đình: Nơi chất chứa Nguyên Khí, Linh Khí trong cơ thể.
  • Nội nhân: Người ở bên trong.
  • Phục: Mặc quần áo, y phục phần trên được làm bằng gấm.
  • Tử hoa: Vầng sáng màu tím chiếu diệu.
  • Phi: Bay.
  • Quần chỉ y phục phần dưới, giống quần, váy, dạng quần ống rộng như váy.
  • Vân khí la: Năng lượng, chất khí dày đặc như mây trời từng từng lớp lớp đan lại giống tấm lưới.
  • Đan thanh lục: Màu đỏ son, màu xanh da trời, màu xanh lá cây.
  • Điều: Thông suốt, hạng mục, điều mục.
  • Thúy: Màu xanh biếc.
  • Linh kha: Cành cây linh diệu.

Người trong Huỳnh Đình mang y phục áo gấm rực rỡ, quần hoa sắc tím. Câu này ý chỉ chất khí ở khu vực Huỳnh Đình có màu sắc hồng nghê, nhiều màu vi diệu của Ngũ Khí cùng dòng khí màu tím, cũng dày đặc từng từng lớp lớp như một tấm lưới được đan từ mây trời.

Trong Huỳnh Đình có những cành cây xanh biếc tuyệt mỹ, trên ấy được tô điểm những màu đỏ son, xanh da trời, xanh lá cây. Câu này miêu tả về cảnh sắc, cây cối trong Huỳnh Đình, cũng chính là các dòng khí lưu di chuyển ở khu vực này vậy.

Câu 4 - 5:

Thất Đình ngọc thược bế lưỡng phi

七莛玉籥閉兩扉

Trùng yểm Kim Quan, mật Xu Ki

重掩金關密樞機

  • Thất Đình: Bảy trụ cột gầy dựng nên Huỳnh Đình, ý chỉ về Thất Tình của con người.
  • Ngọc thược: Then cài quý báu, chỉ về giới luật giúp hành giả gìn giữ thân tâm được trong sạch, thiện lành.
  • Bế lưỡng phi: Đóng hai cửa, tức đôi mắt. Câu này ý nói không để vướng mắc nơi sắc tướng.
  • Trùng: Thêm vào, đặc biệt, trọng yếu.
  • Yểm: Đóng, che lấp, đình chỉ.
  • Kim Quan: Cánh cửa vàng, cất đồ quý báu.
  • Mật: Kín đáo, bí mật, không tiết lộ.
  • Xu: Bộ phận chủ chốt, trọng yếu, còn chỉ về ngôi sao Xu dẫn đầu trong chòm sao Bắc Đẩu.
  • Ki: Then chốt, cốt yếu.
  • Xu Ki ý chỉ về tinh thần mạnh mẽ được dẫn dắt bởi Thiên Tánh, tựa như chòm sao Bắc Đẩu là định tinh trong Tiểu Vũ Trụ của con người vậy.

Muốn luyện Kim Đan, hành giả cần phong bế Thất Tình nhờ việc thực hành các giới luật nghiêm túc, giữ tâm tình bình lặng, không vướng bận sắc tướng bởi mắt thấy tai nghe lòng tơ tưởng.

Đó là yếu quyết để trụ vững tinh thần, gìn giữ không bị phóng tâm, hao tổn tâm trí cho những thứ linh tinh bên ngoài. Nhờ vậy mà phần Thiên Tánh, tánh linh của con người mới thuận tiện dẫn dắt cho thân tâm, trì não tinh thần hướng về điều cao thượng, hòa hợp với Thiên Địa, hợp lẽ Đạo tự nhiên.

Câu 6 - 7:

Huyền Tuyền, U Quan cao thôi ngôi

玄泉幽關高崔嵬

Tam Điền chi trung Tinh Khí vi

三田之中精氣微

  • Huyền Tuyền: Dòng suối huyền diệu, ý chỉ dòng Sinh Khí lưu chuyển khắp toàn thân cùng huyết mạch.
  • U Quan: Cánh cửa tối, ý chỉ về Nê Hoàn Cung, Huyền Quan Khiếu nơi Thượng Huỳnh Đình.
  • Cao thôi ngôi: Địa hình cao mà gồ ghề không bằng phẳng.
  • Tam Điền: Ba khu vực Đan Điền, bao gồm Thượng Đan Điền là phần sọ não, Trung Đan Điền là phần lồng ngực, Hạ Đan Điền là phần ổ bụng.
  • Chi trung: Ở bên trong, ở giữa.
  • Tinh Khí chính là Sinh Khí, được sản sinh từ sự kết hợp hai khí Âm Dương trong vật thực ăn vào, trong thiên nhiên khi hít vào, được cơ thể điều luyện mà thành.
  • Vi: Ẩn giấu, nhỏ bé.

Nơi Huyền Quan Khiếu là cao nhất, là điểm xuất ngoại Chân Thần, Pháp Thân của hành giả. Đây cũng là Thượng Đan Điền quan trọng nhất trong Tam Điền, là nơi điều phối toàn bộ dòng Sinh Khí lưu chuyển khắp toàn thân, kết tụ ở Tam Điền trong khi luyện Đan.

Câu 8 - 9:

Kiều nữ yểu điệu ế tiêu huy

嬌女窈窕翳霄暉

Trọng đường hoán hoán minh bát uy

重堂煥煥明八威

  • Kiều nữ: Người con gái xinh đẹp. Ở đây chỉ về hai tai, do điển tích xưa có nhắc đến vị Nhĩ Thần thường thị hiện hình dáng kiều nữ khi đi vấn Đạo.
  • Yểu điệu: Thùy mị dịu dàng.
  • Ế: Cái lộng che, ẩn tàng, che lấp.
  • Tiêu: Khoảng không gian trên trời, hoặc là mây, sương mù.
  • Huy: Chiếu sáng, soi rọi.
  • Trọng đường: Nơi chỗ trọng yếu, quan trọng, chỉ về ấn đường trên gương mặt.
  • Hoán hoán: Sáng sủa, rực rỡ.
  • Minh: Tươi sáng, chiếu sáng.
  • Bát: Số lượng 8.
  • Uy: Oai nghiêm, uy nghi, quyền thế, chấn động.

Hành giả đưa được Sinh Khí khắp toàn thân thì sẽ thông nhĩ, minh mục. Tai thì mềm mại tươi đẹp, nghe rõ không bị ù ù như là kiều nữ dạo chơi giữa tiết trời quang đãng không mây mù che lối.

Còn ấn đường thì rạng rỡ, sáng ngời, khí chất uy nghiêm lan tỏa khắp xung quanh.

Câu 10 - 11:

Thiên Đình, Địa Quan liệt phủ cân

天庭地關列斧斤

Linh Đài bàn cố vĩnh bất suy

靈台盤固永不衰

  • Thiên Đình hay Nê Hoàn Cung, U Quan chỉ về Thượng Huỳnh Đình.
  • Địa Quan chỉ về Hạ Huỳnh Đình.
  • Liệt: Bày ra.
  • Phủ cân: Búa rìu, ý chỉ giới luật.
  • Linh Đài: Chiếc đài linh diệu, ý chỉ về tâm thức, tinh thần, phần chủ của Trung Huỳnh Đình.
  • Bàn cố: Nền móng vững chắc.
  • Vĩnh: Trường tồn.
  • Bất suy: Không bị suy thoái, không lụn bại.

Gìn giữ Tam Huỳnh Đình không bị tổn hại nhờ vào giới luật, phương pháp tu luyện nghiêm túc. Nhờ vậy, hành giả không chỉ có thân thể khỏe mạnh, phòng trừ bệnh tật mà tâm tình cũng vững chãi, không bị thoái tâm trên bước đường tu luyện.

Trung Trì Chương Đệ Lục

Diễn nghĩa

Trung Trì nội Thần phục xích châu

中池內神服赤珠

Đan cẩm vân bào đái hổ phù

丹錦雲袍帶虎符

  • Trung Trì: Hạ Đan Điền.
  • Nội Thần: Vị Thần bên trong, ý chỉ về phần khí quang ở trong hồ.
  • Phục xích châu: Quần áo có màu đỏ trân châu.
  • Đan cẩm: Gấm màu đỏ son.
  • Vân bào: Chiếc áo khoác ngoài dệt từ mây bồng bềnh.
  • Đái hổ phù: Thắt lưng có cái thẻ lệnh bài khắc hình hổ.

Hoành tân tam thốn Linh sở cư

橫津三寸靈所居

Ẩn Chi, Ế Uất tự tương phù

隱芝翳鬱自相扶

  • Hoành tân: Đường bề ngang.
  • Tam thốn: 3 tấc, khoảng 30 cm.
  • Linh chỉ về vị Thần, Khí như ý câu 1.
  • Sở cư: Nơi cư trú.
  • Ẩn Chi và Uế Uất chỉ về tên của hai vị Thần ở hai bên rốn, có thể hiểu là thị giả của vị Thần ở Trung Trì. Bên phải là Ẩn Chi thuộc khí Âm, bên trái là Uế Uất thuộc khí Dương.
  • Tự tương phù: Tự nhiên trợ giúp.

Chương này cho biết Hạ Đan Điền còn được gọi là Trung Trì. Nơi đây có vị Thần cư ngụ ở khu vực có bề ngang 3 tấc, tức chu vi Hạ Đan Điền là khoảng 30 cm đường kính lấy rốn làm trung tâm.

Vị Thần ấy mặc y phục màu đỏ son tươi thắm, có áo khoác mây dệt nên gấm hoa màu đỏ hồng, trên thắt lưng có đeo linh phù mang hình hổ. Khi vị Thần này khu động, tức khi hành giả luyện khí, thì tự nhiên có hai dòng khí Âm Dương từ hai bên được gom lại, giúp cho việc luyện khí này thành tựu, hợp thành Sinh Khí, về lâu dài thì kết thành Kim Đan.

Bản gốc trang 91
Bản gốc trang 91 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải II · Chương 7–12: Thiên Trung Đến Can Bộ

Thiên Trung Chương Đệ Thất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Thiên Trung chi nhạc tinh cẩn tu

天中之嶽精謹修

Vân trạch ký thanh Ngọc Đế du

雲宅既清玉帝遊

  • Thiên Trung chi nhạc: Núi giữa trời, ý chỉ về sống mũi.
  • Tinh cẩn tu: Cố gắng tu luyện, bồi dưỡng nghiêm túc.
  • Vân trạch: Nhà mây, ý chỉ về khuôn mặt. Vì khuôn mặt là nơi có mắt, mũi, miệng cư ngụ nên gọi mặt là nhà.
  • Ký thanh: Đã thanh tịnh.
  • Ngọc Đế du: Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế lui tới, ý chỉ về sư tương hiệp với Thiên Tánh của mỗi người, trạng thái sáng suốt, thông suốt về tâm trí.

Thường xuyên bảo dưỡng toàn khuôn mặt, xoa bóp nhẹ, làm sạch sẽ khuôn mặt, sống mũi. Như thế thì mặt mày sáng sủa, thanh khiết, tự nhiên tinh thần minh mẫn, dễ phát sinh trí tuệ.

Hai câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xoa bóp khuôn mặt, vì nơi đây có các dây thần kinh liên quan đến các cơ quan khác trên toàn thân, cần lưu ý thực hành chuyên tâm cho kỹ.

Câu 3 - 4:

Thông lợi đạo lộ vô chung hưu

通利道路無終休

Mi hào hoa cái phúc minh châu

眉號華蓋覆明珠

  • Thông lợi đạo lộ: Làm cho thông thoáng đường đi.
  • Vô chung hưu: Không bị tắc nghẽn.
  • Mi hào: Lông mày.
  • Hoa cái: Lộng che, ý chỉ về lông mi trên mắt.
  • Phúc: Ẩn giấu, che phủ.
  • Minh châu: Ngọc sáng, ý chỉ về đôi mắt.

Thường xuyên xoa bóp và làm sạch vùng mắt, nhắm mắt lại xoa dịu phần lông mày, lông mi và mắt sẽ giúp cho mắt sáng.

Câu 5 - 7:

Cửu u nhật nguyệt Động Hư Nguyên

九幽日月洞虛元

Trạch trung hữu Chân thường y đan

宅中有真常衣丹

Thẩm năng kiến chi vô tật hoạn

審能見之無疾患

  • Cửu u: Sâu thẳm u tối.
  • Nhật nguyệt chỉ về ánh sáng ngày đêm, cũng nói về việc nhắm mắt và mở mắt. Khi nhắm mắt lại tất thảy đều tối đen, nên gọi cửu u nhật nguyệt là nhắm mắt lại nhìn sâu vào màn đen tiềm thức.
  • Động Hư Nguyên chỉ về nơi ngự của tâm cảm, khoang chứa tiềm thức ký ức.
  • Trạch trung: Trong nhà, ý chỉ về trong mặt, trong đầu.
  • Chân ý chỉ về Chân Tâm, Chân Tánh.
  • Thường y đan: Thường mặc y phục màu đỏ son.
  • Thẩm năng kiến: Thường xuyên quán xét thâm sâu, tường tận.
  • Chi: Thì, là.
  • Vô tật hoạn: Không bệnh tật.

Thường xuyên nhắm mắt lại, để cho thân tâm tịch tĩnh. Nhìn vào màn đêm ấy, quán chiếu về bản tâm, bản tánh vốn hư không của hành giả, là đồng nhất thể với Cội Đạo của Đại Vũ Trụ.

Quán xét thâm sâu, hiểu rõ về nghĩa lý ấy sẽ thấy được Chân Như, bản tánh của mình. Đó chính là tâm tánh chân thật, nên còn gọi là đan tâm, hay lòng son vậy. Vì hiểu lẽ vô thường, tánh không, nên tự nhiên tâm thân hòa điệu với thiên nhiên vũ trụ, dù thân có bệnh mà tâm không bệnh thì cũng là vô nhiễm tật hoạn vậy.

Ba câu này rất giống với ý về tánh không của lý Bát Nhã được diễn tả trong Bát Nhã Tâm Kinh. Thế mới nói, dẫu phương pháp khác nhau, tạm gọi là pháp tu, pháp môn khác nhau, có nhiều cách diễn giải về lý sự khác nhau, nhưng vốn dĩ tính chân thật của các lý sự ấy vốn chẳng dị biệt.

Câu 8 - 11:

Xích châu linh quần hoa thiến xán

赤珠靈裙華蒨粲

Thiệt hạ huyền ưng sinh tử ngạn

舌下玄膺生死岸

Xuất thanh nhập huyền nhị khí hoán

出青入玄二氣煥

Tử nhược ngộ chi thăng Thiên Hán

子若遇之昇天漢

  • Xích châu: Châu ngọc đỏ.
  • Linh quần: Váy áo, quần hoa.
  • Hoa thiến xán: Đẹp đẽ, rực rỡ, sáng lạng.
  • Thiệt hạ: Bên dưới lưỡi.
  • Huyền ưng: Cuống họng.
  • Sinh tử ngạn: Bờ sinh tử, vì cuống họng giao nhau với khí quản và thực quản, là nơi có không khí hô hấp ra vào nên gọi là bờ sinh tử vậy.
  • Xuất thanh nhập huyền nhị khí hoán: Việc hô hấp lưỡng khí Âm Dương, xuất nhập đúng cách sẽ giúp thu nạp khí trong lành và thở ra độc khí của thân, giải độc cho thân.
  • Tử nhược ngộ: Nếu như người nào hiểu, nhận thức được, ngộ ra.
  • Chi: Thì, là.
  • Thăng Thiên Hán: Bay lên cõi Thiên, ý chỉ việc đắc Đạo thành Tiên.

Dòng Sinh Khí quý báu mang tính dương, nên có màu sắc đỏ, tươi sáng rạng rỡ. Dòng khí ấy lưu chuyển nơi cuống họng trong quá trình hô hấp. Nếu người nào biết cách điều phục hơi thở một cách đúng đắn, thì Sinh Khí có thể lưu chuyển khắp toàn thân, khiến người ấy đạt Đạo, thần thức có thể thăng Thiên Giới.

Luận bàn

Toàn chương này nói về tính không, sự quán chiếu vào nội tâm bên trong của mỗi người để hiểu về vô ngã, vô thường.

Phương pháp xoa bóp các bộ phận trên khuôn mặt, hít thở đúng cách, ăn uống dưỡng sinh thuận tự nhiên, hợp lẽ Đạo sẽ giúp thân tâm nhẹ nhàng, thần thức có thể du nhập Thiên Giới.

Chí Đạo Chương Đệ Bát

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Chí Đạo bất phiền quyết tồn Chân

至道不煩訣存真

Nê Hoàn bách tiết giai hữu Thần

泥丸百節皆有神

  • Chí Đạo: Đạt Đạo, cuối cùng rốt ráo lẽ Đạo.
  • Bất phiền: Không lôi thôi rườm rà, không lo âu buồn lòng.
  • Quyết: khẩu quyết.
  • Tồn Chân: Lưu giữ lòng thành, sự chân thật, Chân Tâm, Chân Pháp.
  • Nê Hoàn: Bộ não, khối óc. Nê Hoàn chỉ về não vì não là một khối mềm, sền sệt như bùn nên gọi đó là nê, lại có hình gần giống hình tròn nên gọi là hoàn. Nê Hoàn Cung chỉ về toàn bộ hộp sọ và não.
  • Bách tiết: Hàng trăm khu vực, phân khúc.
  • Giai hữu Thần: Đều có Thần.

Một đường Đạo thẳng đến cùng, chẳng cần rườm ra lo lắng bận lòng quá nhiều thứ khác. Có khẩu quyết thì sẽ bảo tồn, lưu truyền được Đạo Chân Thật vậy.

Ở Nê Hoàn, trăm khu đều có Thần cư ngụ.

Câu 3 - 9:

Phát Thần Thương Hoa tự Thái Nguyên

髮神蒼華字太元

Não Thần Tinh Căn tự Nê Hoàn

腦神精根字泥丸

Nhãn Thần Minh Thượng tự Anh Huyền

眼神明上字英玄

Tị Thần Ngọc Lũng tự Linh Kiên

鼻神玉壟字靈堅

Nhĩ Thần Không Nhàn tự U Điền

耳神空閑字幽田

Thiệt Thần Thông Mệnh tự Chánh Luân

舌神通命字正倫

Xỉ Thần Ngạc Phong tự La Thiên

齒神崿鋒字羅千

Thần Tóc tôn danh Thương Hoa, tự Thái Nguyên.

Thần Não tôn danh Tinh Căn, tự Nê Hoàn.

Thần Mắt tôn danh Minh Thượng, tự Anh Huyền.

Thần Mũi tôn danh Ngọc Lũng, tự Linh Kiên.

Thần Tai tôn danh Không Nhàn, tự U Điền.

Thần Lưỡi tôn danh Thông Mệnh, tự Chánh Luân.

Thần Răng tôn danh Ngạc Phong, tự La Thiên.

Câu 10 - 13:

Nhất diện chi Thần Tông Nê Hoàn

一面之神宗泥丸

Nê Hoàn Cửu Chân giai hữu phòng

泥丸九真皆有房

Phương viên nhất thốn xử thử trung

方圓一寸處此中

Đồng phục tửy phi la thường

同服紫衣飛羅裳

  • Nhất diện: Một mặt, chung nhau.
  • Chi: Thì, của.
  • Thần Tông Nê Hoàn: Các vị Thần Nê Hoàn.
  • Nê Hoàn Cửu Chân: 9 vị Thần Nê Hoàn.
  • Giai hữu phòng: Đều có phòng, cung riêng.
  • Phương viên: Chu vi vòng tròn.
  • Nhất thốn: 1 tấc.
  • Xử thử trung: Ở trong một khu vực.
  • Đồng phục: Quần áo giống nhau.
  • Tửy: Áo tím.
  • Phi la thường: Quần, váy lưới bay phấp phới.

Các vị Thần chung một nhóm Thần Nê Hoàn gồm có 9 vị, gọi là Cửu Chân. Mỗi vị đều có phòng, cung riêng của mình.

Chín vị Thần ấy cùng cư trú trong khuôn viên khoảng 1 tấc chu vi, là não bộ. Trong một tấc ấy lại chia thành 9 cung riêng biệt.

Tất thảy 9 vị ấy đều dùng đồng phục sắc tím, quần lưới bay phấp phới. Ý chỉ 9 dòng khí này đều có màu tím, cuồn cuộn thành từng lớp đan vào nhau dày đặc như chiếc lưới vậy.

Cửu Chân và Cửu Cung này chia chu vi Nê Hoàn thành 9 phần, theo đồ hình Bát Quái Cửu Cung như sau:

  • Thượng Chân ngự ở Hư Vô Cung - Trung Ương - Thái Cực.
  • Thái Chân ngự ở Thiên Hỷ Cung - Chánh Đông - Càn Cung.
  • Cao Chân ngự ở Thánh Hỏa Cung - Chánh Nam - Ly Cung.
  • Thần Chân ngự ở Địa Linh Cung - Chánh Tây - Khôn Cung.
  • Huyền Chân ngự ở Tịnh Thủy Cung - Chánh Bắc - Khảm Cung.
  • Tiên Chân ngự ở Thanh Phong Cung - Đông Bắc - Tốn Cung.
  • Thiên Chân ngự ở Hoa Sơn Cung - Đông Nam - Cấn Cung.
  • Linh Chân ngự ở Dược Trì Cung - Tây Nam - Đoài Cung.
  • Chí Chân ngự ở Lôi Âm Cung - Tây Bắc - Chấn Cung.

Câu 14 - 17:

Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng

但思一部壽無窮

Phi các biệt trú cư não trung

非各別住居腦中

Liệt vị thứ tọa hướng ngoại phương

列位次坐向外方

Sở tồn tại Tâm tự tương đương

所存在心自相當

  • Đãn tư nhất bộ: Hễ nhiếp tâm lại suy niệm.
  • Thọ vô cùng: Tuổi thọ không biết đến bao giờ.
  • Phi các biệt trú: Không có ai trong số đó tách biệt chỗ mình ở.
  • Cư não trung: Cư trú ở não bộ.
  • Liệt vị thứ tọa hướng ngoại phương: Mỗi vị đều có chỗ riêng của mình, không hướng ra bên ngoài so sánh cao thấp.
  • Sở tồn tại tâm: Có thể gìn giữ ở tâm.
  • Tự tương đương: Tự nhiên ngang nhau.

Cửu Chân cư ngụ ở Cửu Cung, mỗi vị đều có nơi chốn riêng biệt, phân trách nhiệm rõ ràng. Không có chuyện so sánh cao thấp, không có chuyện rời vị trí của mình, càng không có chuyện rời khỏi Nê Hoàn Cung.

Nếu có thể nhiếp Chân Tâm Chân Ý, Nhất Niệm hoàn Vô Niệm, được như thế thì tự nhiên đạt Đạo vậy. Vì lúc ấy Cửu Chân đều hòa hợp, dung hòa trong lẽ Đạo, hợp nhau tại Nê Hoàn Cung.

Luận bàn

Thế gian thường tình, con người thường hay để Cửu Chân này lung lạc, dao động, hướng ngoại, so sánh… nên họ rời khỏi Nê Hoàn Cung, hoặc họ rời khỏi cung của mình, lộn xộn ở các cung khác. Nên người ta mới trầm luân trong bể khổ của phiền não, suy tính thiệt hơn, phải trái trắng đen…

Người hành giả luyện Đạo, lại là luyện cho Chân Tâm thuần lương, giản đơn, nên mới nói “Tâm bình thường thị Đạo”. Tâm bình thường thôi, thì sẽ thấy Đạo đó vậy.

Chương này vô cùng quan trọng, vì chỉ ra sự quan trọng của Chân Tâm, Nê Hoàn Cung và hoạt động của các vị Thần ở Cửu Cung. Cửu Cung này lại tương ứng với các bộ phận trên cơ thể và các hiện tượng, lý sự vận hành của Thiên Địa.

Tâm Thần Chương Đệ Cửu

Diễn nghĩa

Câu 1 - 7:

Tâm Thần Đan Nguyên tự Thủ Linh

心神丹元字守靈

Phế Thần Hạo Hoa tự Hư Thành

肺神皓華字虛成

Can Thần Long Yên tự Hàm Minh

肝神龍煙字含明

Ế Uất Đạo Yên chủ Trọc Thanh

翳鬱導煙主濁清

Thận Thần Huyền Minh tự Dục Anh

腎神玄冥字育嬰

Tì Thần Thường Tại tự Hồn Đình

脾神常在字魂停

Đảm Thần Long Diệu tự Uy Minh

膽神龍曜字威明

Thần Tim tôn danh Đan Nguyên, tự là Thủ Linh.

Thần Phổi tôn danh Hạo Hoa, tự là Hư Thành.

Thần Gan tôn danh Long Yên, tự là Hàm Minh.

Thần Ế Uất Đạo Yên làm chủ sự giao hoán khí thanh trược, tốt xấu trong thân.

Thần Thận tôn danh Huyền Minh, tự là Dục Anh.

Thần Lá Lách tôn danh Thường Tại, tự là Hồn Đình.

Thần Mật tôn danh Long Diệu, tự là Uy Minh.

Câu 8 - 10:

Lục Phủ Ngũ Tạng Thần Thể Tinh

六腑五臟神體精

Giai tại tâm nội liên thiên kinh

皆在心內連天經

Trú dạ tồn chi tự trường sinh

晝夜存之自長生

  • Ngũ Tạng bao gồm: tâm, can, tì, phế, thận.
  • Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
      • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
      • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
      • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Thần Thể Tinh: Các vị Thần cai quản khắp toàn thân.
  • Giai tại tâm nội: Đều ngự ở trong tâm.
  • Liên thiên kinh: Liên kết hàng ngàn đường kinh mạch.
  • Trú dạ: Ban ngày và ban đêm.
  • Tồn: Bảo dưỡng, gìn giữ.
  • Chi: Thì, là.
  • Tự trường sinh: Tự nhiên sống lâu.

Lục Phủ Ngũ Tạng đều có các vị Thần của cơ quan bộ phận ấy cai quản để gìn giữ sự vận hành theo đúng luật tự nhiên tạo hóa.

Chư vị ấy đều tại trong tâm, làm phận sự liên thông các kinh mạch trong toàn thân, cũng là vận hành thân thể cho phù hợp với Thiên Địa vậy.

Ngày đêm gìn giữ các cơ quan trong thân cho thật tốt, chẳng để hư hoại thì tự nhiên người đạt được trường sinh vậy.

Luận bàn

Toàn bộ chương này nói về tôn danh các vị Thần biểu trưng của cơ quan nội tạng, cai quản, gìn giữ và vận hành cơ quan ấy theo khuôn luật tự nhiên Thiên Địa, giúp thân thể người hoạt động hòa hợp với Thiên Địa tiết khí luân chuyển.

Người nào gìn giữ được Lục Phủ Ngũ Tạng tốt, tức là ăn uống, thực hành dưỡng sinh thân thể, tu dưỡng tâm trí thanh tịnh thì tự nhiên các cơ quan ấy khỏe mạng trường tồn, thì trường sinh vậy.

Đây là nói về tên chư vị thôi, chứ chưa nói gì về cách thức luyện Đạo sao cho Lục Phủ Ngũ Tạng được khỏe mạnh.

Phế Bộ Chương Đệ Thập

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Phế Bộ Chi Cung vi Hoa Cái

肺部之宮似華蓋

Hạ hữu Đồng Tử tọa Ngọc Khuyết

下有童子坐玉闕

  • Cung: Không gian, căn phòng, tòa nhà lớn.
  • Hoa Cái: Lộng che.
  • Hạ hữu: Bên dưới có.
  • Đồng Tử: Đứa bé, có thể hiểu là một loại khí, năng lượng, chỉ về vị Thần cai quản khu vực này.
  • Tọa: Ngồi, gìn giữ.
  • Ngọc Khuyết: Nơi hõm vào trọng yếu bên dưới phổi, ý chỉ chấn thủy.

Cung của Phổi Bộ được gọi là Hoa Cái Cung, vì phổi rũ xuống như cái lộng che.

Bên dưới có Đồng Tử trấn giữ ở Cung Ngọc Khuyết, chính nơi chấn thủy. Tức là vị Thần Phổi này cư trú ở khu vực chấn thủy, nơi có hai lá phổi phủ ra hai bên tựa như cái lộng che cho vị Thần ấy.

Câu 3 - 5:

Thất Nguyên Chi Tử chủ điều khí

七元之子主調氣

Ngoại ứng trung nhạc tị tề vị

外應中嶽鼻齊位

Tố cẩm y thường, huỳnh vân đái

素錦衣裳黃雲帶

  • Thất Nguyên chỉ về Thất Khiếu. Do chữ Nguyên có nghĩa là nguồn gốc, căn duyên, nguồn gốc này ý là nơi Khí ra vào thân thể nên Thất Nguyên chỉ về Thất Khiếu. Thất Khiếu là bảy lỗ thông trên mặt gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng.
  • Thất Nguyên Chi Tử chỉ về Phế Thần.
  • Chủ: Làm chủ, phụ trách.
  • Điều khí: Điều hòa khí xuất nhập giữa thân thể và môi trường.
  • Tố cẩm: Gấm trắng tinh, tinh khôi.
  • Y thường: Y phục, váy áo, xiêm y.
  • Huỳnh vân đái: Đai lưng làm từ mây vàng.

Vì phổi dẫn khí lưu thông qua Thất Khiếu, nên Phế Thần còn được gọi là Thất Nguyên Chi Tử, làm chủ về việc điều hòa khí lưu xuất nhập giữa thân thể với môi trường bên ngoài thông qua sống mũi.

Vị Thần ấy có phục trang là áo gấm trắng tinh dệt từ mây, có dải mây vàng làm thắt lưng.

Câu 6 - 7:

Suyễn tức hô hấp thể bất khoái

喘息呼吸體不快

Cấp tồn Bạch Nguyên hòa Lục Khí

急存白元和六氣

  • Suyễn tức: Thở gấp, bệnh hen, suyễn.
  • Hô hấp: Hít thở.
  • Thể bất khoái: Thân không vui thú, thích thú.
  • Cấp: Nhanh.
  • Tồn: Bảo dưỡng, bảo tồn, gìn giữ.
  • Bạch Nguyên: Dòng Chân Khí màu trắng trong người, cũng hàm ý chỉ về khí của vị Thần Phổi, gọi là Phế Khí. Theo Pháp Luyện Đan Đạo thì trong người có hai dòng Sinh Khí Âm Dương, được gọi là Bạch Hổ Tinh tượng trưng Dương Tinh của nam và Xích Long Tinh tượng trưng Âm Tinh của nữ.
  • Hòa Lục Khí: Điều hòa khí của Lục Phủ. Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
      • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
      • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
      • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.

Ở chương trước chúng ta được biết Phế Thần tôn danh là Hạo Hoa, tự Hư Thành. Đến chương 10 cho biết thêm tôn danh khác nữa đó là Thất Nguyên Chi Tử, và khí của Thất Nguyên Chi Tử này tên gọi Bạch Nguyên.

Khi thân người thở gấp thì vị ấy không vui, tức là phổi dễ bị tổn hại, không tốt cho phổi. Khi có triệu chứng thở gấp, hay có bệnh liên quan đến đường hô hấp thì cần bảo tồn, điều dưỡng Phế Khí lưu chuyển trong khắp Lục Phủ mà trị bệnh vậy.

Việc bảo tồn này thực hiện bằng cách tịnh tọa, điều khí, điều tức hơi thở, rồi dùng ý dẫn khí vào Lục Phủ Ngũ Tạng. Ngoài ra, còn có thể dùng phương thức dưỡng sinh, ăn uống những món bồi bổ cho Phế Khí.

Câu 8 - 9:

Thần Tiên cửu thị vô tai hại

神僊久視無災害

Dụng chi bất dĩ hình bất trệ

用之不已形不滯

  • Thần Tiên chỉ người hành giả tu tập đạt Đạo.
  • Cửu thị: Thường xuyên quán sát, thường xuyên nhìn vào bên trong.
  • Vô tai hại: Không có tai họa.
  • Dụng: Dùng, làm.
  • Chi: Thì, là.
  • Bất dĩ: Không ngừng, luôn luôn.
  • Hình: Hình hài.
  • Bất trệ: Không bị ứ động, không bị trì trệ.

Người tu Thần Tiên, dù thành Đạo rồi hay đang tu luyện thì vẫn phải thường xuyên quán chiếu thân tâm mình, không ngừng nghỉ, không buông lơi, thì lúc đó thân thể mới khỏe mạnh trường tồn, không bị tai hại, không suy thoái.

Luận bàn

Toàn bộ chương này cho chúng ta hiểu thêm về Phế Bộ, cơ quan của phổi có tầm quan trọng ra sao đối với việc dưỡng sinh, điều phục bệnh tật của thân tâm, nhất là những triệu chứng liên quan đến hô hấp.

Tâm Bộ Chương Đệ Thập Nhất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Tâm Bộ Chi Cung Liên Hàm Hoa

心部之宮蓮含華

Hạ hữu Đồng Tử Đan Nguyên Gia

下有童子丹元家

  • Liên Hàm Hoa: Đóa sen ẩn hiện ánh sáng mờ ảo.
  • Hạ hữu: Bên dưới có.
  • Đồng Tử: Đứa bé, có thể hiểu là một loại khí, năng lượng, chỉ về vị Thần cai quản khu vực này.
  • Gia: Nhà, tiếng xưng hô về người có chuyên môn, tài giỏi hay bậc lãnh đạo.

Cung của Tâm Bộ thì gọi là Liên Hàm Hoa, tên này có nghĩa là đóa sen vi diệu có ánh sáng lan tỏa huyền ảo. Bên dưới thì có Đồng Tử, chính là Thần Đan Nguyên vậy.

Câu 3 - 7:

Chủ thích hàn nhiệt vinh vệ hòa

主適寒熱榮衛和

Đan cẩm phi thường phi ngọc la

丹錦飛裳披玉羅

Kim linh châu đái, tọa bà sa

金鈴朱帶坐婆娑

Điều huyết lý mệnh thân bất khô

調血理命身不枯

Ngoại ứng khẩu thiệt thổ ngọc hoa

外應口舌吐玉華

  • Điều huyết: Làm cho máu lưu chuyển.
  • Lý mệnh: Lo cho sự sống.
  • Thân bất khô: Thân thể nhờ có máu lưu thông nên không bị khô héo. Khi tim ngừng đập, máu ngừng lưu chuyển thì máu đông, thân khô vậy.
  • Ngoại ứng: Tương ứng với bên ngoài.
  • Khẩu thiệt: Miệng lưỡi.
  • Thổ: Phun, nhả, nhổ.
  • Ngọc hoa: Châu ngọc tươi sáng đẹp đẽ.
  • Chủ thích: Làm cho tương hợp, hài hòa.
  • Hàn nhiệt: Lạnh nóng về nhiệt độ.
  • Vinh vệ: Khí huyết.
  • Hòa: Điều hòa, thỏa thuận, dung hòa.
  • Đan cẩm phi thường: Áo váy gấm đỏ mềm mại.
  • Phi ngọc la: Khoác bên ngoài là lớp ngọc đan thành từng lớp lớp.
  • Kim linh châu đái: Thắt lưng đỏ son có giắt chuông vàng rung rinh.
  • Tọa bà sa: Ngồi nhưng dáng uốn lượn như đang múa. Việc này mô tả trái tim luôn nhồi bóp, đập thình thịch không ngừng nghỉ.

Vị Thần Đan Nguyên chuyên về việc giúp điều hòa khí huyết, giúp cơ thể được dung hòa hơi nóng lạnh trong thân, và hòa hợp thân nhiệt giữa thân với môi trường bên ngoài.

Vị Thần Đan nguyên có y phục gấm đỏ, áo khoác ngoài là châu ngọc lung linh, mang dây thắt lưng đỏ son và có quả chuông vàng trên dây ấy. Vị ấy ngồi nhưng luôn rung động như múa. Vị này mà ngưng múa, an tịnh thì người ta cũng hết thở vì không có khí huyết lưu thông.

Vị Thần Đan Nguyên làm cho máu lưu chuyển khắp thân để duy trì sự sống, thân không khô héo. Tâm tư lại ứng hiệp với miệng lưỡi mà phun châu nhả ngọc, hàm ý rằng lời nói thể hiện tâm tư một người vậy.

Câu 8 - 9:

Lâm tuyệt hô chi diệc đăng tô

臨絕呼之亦登蘇

Cửu cửu hành chi phi Thái Hà

久久行之飛太霞

  • Lâm tuyệt hô: Xuống tới tận cùng của sự thở ra.
  • Diệc đăng tô: Lại thức tỉnh, sống lại, ý chỉ về sự hít vào.
  • Cửu cửu hành: Làm liên tục.
  • Phi Thái Hà: Bay lên tầng trời Thái Hà.

Khi thở hết ra, tức là cơ thể chết đi, lại được sống lại khi hít vào. Việc hít thở như thế, thực hành liên tục dài lâu không ngừng nghỉ thì thần thức có thể lên được tầng trời Thái Hà.

Luận bàn

Chương này nói về việc luyện khí thông qua hít thở và điều dẫn khí huyết nhờ sự kết hợp của phổi với tim. Trong đó, tim còn làm thêm nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt nội thân của các cơ quan, lẫn điều hòa thân nhiệt cho thân hòa với môi trường bên ngoài.

Hít thở đúng cách là hít vào thật đầy hơi, đầy lồng ngực rồi ngưng một chút, sau đó lại thở ra hết hơi trong người, lại ngưng một chút rồi thở vào. Việc này làm thật nhẹ nhàng, đều đặn như người đang ngồi tịnh tọa mà lại múa lung lay thân mình vậy.

Lại nói về việc tịnh khẩu nghiệp, lời nói là châu ngọc, một lời nói ra nhất định phải đem lại lợi lạc, hữu ích chi cho xung quanh mới không lãng phí. Thế nên từ xưa, cổ nhân đã nói tâm tình thánh thiện thì lời nói là hoa, là ngọc bay ra làm đẹp, lợi lạc cho đời. Tâm tình toan tính, ác độc thì lời nói ra như đao như búa khiến đối tượng tiếp nhận chỉ đau khổ mà thôi.

Can Bộ Chương Đệ Thập Nhị

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Can Bộ Chi Cung Thúy Trọng Lý

肝部之宮翠重裏

Hạ hữu Thanh Đồng Thần Công Tử

下有青童神公子

  • Thúy Trọng Lý: Khu vực quý giá màu xanh.
  • Hạ hữu: Ở đó có.
  • Thanh Đồng: Thanh niên chưa có vợ.

Cơ quan gan có tên gọi là Cung Thúy Trọng Lý. Ở đó có một Thanh Đồng là Thần Công Tử.

Câu 3 - 6:

Chủ chư Quan Kính, thông minh thủy

主諸關鏡聰明始

Thanh cẩm phi thường, bội ngọc kiềm

青錦披裳佩玉鈐

Hòa chế hồn phách, tân dịch bình

和制魂魄津液平

Ngoại ứng nhãn mục nhật nguyệt tinh

外應眼目日月精

  • Quan Kính chỉ về tai và mắt. Tai thì như cửa nghe âm thanh nên gọi Quan. Mắt là nơi nhìn thấy sự phản chiếu thế giới nên gọi Kính.
  • Chủ chư Quan Kính: Làm chủ tai và mắt.
  • Thông: Thông suốt, nghe rõ.
  • Minh: Sáng sủa, nhìn rõ.
  • Thủy: Nguồn gốc, khởi đầu.
  • Thanh cẩm phi thường: Khoác chiếc áo gấm màu xanh da trời.
  • Bội ngọc kiềm: Ấn ngọc mang theo bên đai thắt lưng.
  • Hòa chế: Điều độ, làm cho dung hòa.
  • Hồn phách: Phần tinh thần, tâm linh của người. Con người có Tam Hồn Thất Phách, tức Ba Hồn Bảy Vía.
  • Tân dịch bình: Trung hòa nước bọt.
  • Ngoại ứng: Bên ngoài ứng với.
  • Nhãn mục: Mắt.
  • Nhật nguyệt tinh: Ngày đêm đều sáng tỏa.

Vị Thần Gan làm chủ việc tai và mắt được thông suốt, rõ ràng. Tức là gan khỏe thì tai mắt sáng tỏ, nghe rõ, gan yếu thì ảnh hưởng mắt mờ, đau, tai lãng, ù.

Vị này mặc sắc phục gấm xanh da trời, có mang theo ấn ngọc bội ở thắt lưng. Ngài giữ trách nhiệm làm cho tinh thần được nhẹ nhàng, làm trung hòa nước bọt.

Gan tương ứng với biểu hiện bên ngoài là mắt, gan khỏe thì mắt sáng.

Câu 7 - 8:

Bách kha bất chung tồn Vô Anh

百痾不鍾存無英

Đồng dụng thất nhật tự sung doanh

同用七日自充盈

  • Bách kha: Hàng trăm thứ bệnh.
  • Bất chung: Không tụ tập.
  • Tồn Vô Anh: Giữ gìn, bảo tồn lá gan. Vô Anh là tôn danh của vị Thần Gan, có nghĩa là tinh khiết sạch sẽ, trong lành khỏe mạnh như không.
  • Đồng dụng: Dùng chung, ý chỉ về việc dùng phương pháp dưỡng sinh chung với Ngũ Tạng Lục Phủ.
  • Thất nhật: Bảy ngày.
  • Tự sung doanh: Tự nhiên bổ sung, tăng trưởng đủ đầy.

Nhờ sự hoạt động của gan mà cơ thể không bị nhiễm bệnh, thân tâm khỏe mạnh thanh sạch.

Nếu biết cách bảo dưỡng gan, không để gan hoạt động nhiều, hạn chế ăn chỉ uống để gan được nghỉ ngơi, sau 7 ngày tự nhiên gan hồi phục lại sung mãn.

Câu 9 - 10:

Thùy tuyệt niệm Thần tử phục sinh

垂絕念神死復生

Nhiếp hồn hoàn phách vĩnh vô khuynh

攝魂還魄永無傾

  • Thùy tuyệt: Trên đường đến Hoàng Tuyền, bước gần đến chỗ chết, sắp chết.
  • Niệm Thần: Niệm tôn danh vị Thần Gan.
  • Tử phục sinh: Trong đường chết sẽ có đường sống, hồi sinh lại.
  • Nhiếp hồn hoàn phách: Thu hút, lôi kéo để hoàn lại hồn phách đang dần rời thân xác.
  • Vĩnh vô khuynh: Kiên cố bền lâu không bị chao đảo, không bị nghiêng đổ, hủy hoại.

Người bệnh nặng, dù gần chết thì niệm danh vị Thần Gan, tôn danh là Vô Anh thì sẽ có cơ hội hồi phục. Dù cho hồn phách đang dần rời khỏi thân xác cũng được hoàn hồn. Hoặc là những người bị chết lâm sàng, đời sống thực vật, hôn mê lâu dài dù thân thể còn ấm, còn hơi thở thì niệm danh vị Vô Anh cũng có thể hồi phục được sự sống vậy.

Luận bàn

Chương này nói về gan, chức năng của gan và khí sắc nơi gan. Người nào biết dưỡng sinh, ăn uống điều độ, trai tịnh thuận tự nhiên, thì tự nhiên cơ thể khỏe mạnh không lo bệnh tật.

Đối với người đã có bệnh, hoặc gặp sự cố nguy hiểm tính mạng, nhất là đối với các bệnh nhân ung thư, đặc biệt là ung thư gan, thì cần hiểu rõ vì sao mình bệnh. Từ đó có tâm thái đối diện bệnh tật của mình, sám hối không gây thêm ác nghiệp, hồi tâm quyết chí sửa mình, rồi niệm tôn danh vị Can Thần Vô Anh, có hình dáng là người thanh niên Thần Công Tử.

Ở chương này, chúng ta biết thêm hai tôn danh khác của Can Thần đó là Thanh Đồng Thần Công Tử và Vô Anh. Ở Chương 9 thì Can Thần được biết đến với tôn danh Long Yên, tự Hàm Minh. Người nào cảm ứng được với tôn danh nào thì hô hoán tôn danh ấy cứu trợ mình khi gặp nạn hay cần cứu cho tha nhân, tha vật.

Tùy vào mức độ tu tập tinh tấn, tâm cảm ứng, niềm tin và nhân duyên nghiệp quả, tâm thái của mỗi người khi đối diện bệnh tật nan y sắp chết mà việc cầu khẩn vị Thần này sẽ có hiệu nghiệm như thế nào.

Với cá nhân Tuyết Liên Tử thì việc này là hiệu nghiệm. Năm ấy đạo sĩ vì chuyển duyên giải nghiệp cho hai người cùng lúc, một người bệnh ung thư phổi, một người bị ruột xoắn đều là nan y. Sau khi chuyển duyên, tôi ôm hai căn bệnh ấy cùng lúc, nhúc nhích không nổi chỉ nằm một chỗ, nói chuyện không được, ra dấu thôi cũng khó khăn. Lúc nào hắt xì là máu me văng đầy áo, hoặc có khi tự nhiên máu trong người thích thì chảy ra mũi.

Đêm đó Tử Thần đến đón rồi, còn chút hơi thở cuối cùng thôi, nhưng mà đạo sĩ quyết tâm sống tiếp, liền gọi tôn danh vài vị. Sau một đêm thì thân tâm đạo sĩ bình ổn như chưa từng bệnh tật, có thể đi đứng, nói cười, ăn uống như người bình thường. Chỉ trong một đêm vậy.

Bản gốc trang 126
Bản gốc trang 126 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải III · Chương 13–18: Thận Bộ Đến Linh Đài

Thận Bộ Chương Đệ Thập Tam

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Thận Bộ Chi Cung Huyền Khuyết Viên

腎部之宮玄闕圓

Trung hữu Đồng Tử Minh Thượng Huyền

中有童子冥上玄

  • Huyền Khuyết Viên: Vòng tròn kỳ diệu nhưng có một hõm vào không tròn vẹn. Vì thận có hai quả, lại nằm châu vào nhau nhìn giống vòng tròn, có phần cột sống ở giữa là chỗ khuyết của viên ấy.
  • Trung hữu: Bên trong có.
  • Đồng Tử: Đứa bé, có thể hiểu là một loại khí, năng lượng, chỉ về vị Thần cai quản khu vực này.

Cơ quan thận có tên gọi là Cung Huyền Khuyết Viên. Ở trong cung ấy có vị Thần Minh Thượng Huyền, hay còn được gọi là Huyền Minh, tự Dục Anh.

Câu 3 - 5:

Chủ chư Lục Phủ, Cửu Dịch Nguyên

主諸六腑九液源

Ngoại ứng lưỡng nhĩ, bách dịch tân

外應兩耳百液津

Thương cẩm vân y vũ long phan

蒼錦雲衣舞龍幡

  • Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
      • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
      • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
      • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Cửu Dịch Nguyên: Chín nơi có nước chảy, được hiểu là Cửu Khiếu, bao gồm 7 khiếu ở mặt là hai mắt, hai tai, hai mũi, miệng, thêm 2 khiếu ở bộ phận sinh dục và hậu môn.
  • Ngoại ứng: Bên ngoài ứng với.
  • Lưỡng nhĩ: Hai tai.
  • Bách dịch tân: Trăm thứ nước.
  • Thương cẩm vân y: Mặc áo gấm màu xanh lá được dệt từ mây.
  • Vũ long phan: Cây phướn mang hình rồng múa lượn.

Vị Thần Thận làm chủ hết tất thảy dịch của toàn Lục Phủ và thân. Bên ngoài thân thì ứng với hai tai và các loại nước đưa vào người.

Vị Thần ấy có phục y là áo gấm mây xanh, có cây phướn như rồng bay múa.

Câu 6 - 9:

Thượng trí minh hà, nhật nguyệt yên

上致明霞日月煙

Bách bệnh, thiên tai cấp đương tồn

百病千災急當存

Lưỡng bộ Thủy Vương đối Sinh Môn

兩部水王對生門

Sử nhân trường sinh thăng Cửu Thiên

使人長生昇九天

  • Thượng trí: Khỏe mạnh cùng cực.
  • Minh hà: Trời quang đãng sáng sủa, ý chỉ tai thính, nghe rõ.
  • Nhật nguyệt yên: Ngày đêm đều đẹp đẽ, ý chỉ mắt tỏ rõ.
  • Cấp đương tồn: Nhanh chóng bảo tồn, gìn giữ.
  • Lưỡng bộ Thủy Vương chỉ về thận, vì thận có hai quả nên gọi như thế.
  • Đối Sinh Môn: Hai thận đối với nhau, hướng về Sinh Môn.
  • Sử nhân trường sinh: Khiến cho người được trường thọ.
  • Thăng Cửu Thiên: Thần thức có thể thông nhập vào Cửu Thiên, tức Thượng Giới.

Khi thận được khỏe mạnh thì mắt sáng, tai thính. Khi gặp bách bệnh, ngàn loại tai ương thì cần bảo quản thận gấp.

Hai thận được gọi là Thủy Vương nằm đối nhau và hướng về Sinh Môn. Bảo dưỡng thận tốt có thể giúp người trường sinh, du nhập vào Cửu Thiên.

Luận bàn

Chương này nói về tên gọi, tầm quan trọng và hoạt động của hai quả thận.

Bộ Thận tên gọi Cung Huyền Khuyết Viên. Vị Thần Thận là Huyền Minh tự Dục Anh.

Thận giúp tai mắt được sáng tỏ, thông suốt. Hai quả thận nằm hướng về Sinh Môn.

Tới đây chúng ta biết được trên thân thể người có hai huyệt Sinh Môn. Đây là nơi thông hiệp hấp thu, lưu thông khí huyết toàn thân, vô cùng quan trọng nên được gọi là Sinh Môn. Như vậy, những huyệt trọng yếu trên cơ thể người thường được gọi là Sinh Môn.

Ở Chương 3, Sinh Môn là chấn thủy, nằm giữa hai phổi. Ở Chương 13, Sinh Môn là rốn, nằm giữa hai thận. Chỗ Sinh Môn này là huyệt Thần Khuyết, còn nơi chấn thủy là huyệt Đản Trung.

Tì Bộ Chương Đệ Thập Tứ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Tì Bộ Chi Cung Chúc Mậu Kỷ

脾部之宮屬戊己

Trung hữu Minh Đồng huỳnh thường lý

中有明童黃裳裏

  • Chúc: Phục thuộc.
  • Mậu Kỷ: Can thứ 5 và 6 trong thập Thiên Can.
  • Huỳnh thường: Y phục màu vàng.
  • Lý: Tiếng đệm cuối câu nhấn mạnh chủ từ trước nó.

Hai câu này nói lá lách có cung thuộc Mậu Kỷ, sự vận hành của tì cũng sẽ mạnh ở các khung giờ, ngày tháng năm thuộc Mậu Kỷ.

Bên trong cung ấy có Minh Đồng, là vị Tì Thần mang sắc phục áo vàng. Ở Chương 9 thì Tì Thần được biết với tôn danh Thường Tại, tự Hồn Đình. Chương này cho biết Ngài còn có thêm tôn danh là Minh Đồng.

Câu 3 - 4:

Tiêu cốc tán khí nhiếp nha xỉ

消穀散氣攝牙齒

Thị vi Thái Thương lưỡng Minh Đồng

是為太倉兩明童

  • Tiêu cốc tán khí: Tiêu hóa dung nạp ngũ cốc biến thành Sinh Khí, rồi đẩy Sinh Khí ấy nuôi dưỡng thân tâm.
  • Nhiếp nha xỉ: Trực tiếp lấy thức ăn đã được răng làm nhuyễn, rồi hỗ trợ cho việc làm tiêu hóa thức ăn.
  • Thị vi: Thì, là.
  • Thái Thương: Kho chứa ngũ cốc rất nhiều, tức là bao tử, là vị.
  • Lưỡng Minh Đồng: Hai vị Thần Minh Đồng ở Tì Bộ.

Đoạn này nói về mối tương quan giữa tì và nha xỉ, tì vị. Lại nói về thức ăn của con người là ngũ cốc, tức ăn ngũ cốc là thuận tự nhiên. Thế nên tì, vị thường được nói chung với nhau trong việc tiêu hóa thức ăn, vì lẽ đó Thần Minh Đồng cũng có hai vị phụ trách ở tì và vị.

Câu 5 - 6:

Tọa tại Kim Đài thành cửu trùng

坐在金臺城九重

Phương viên nhất thốn Mệnh Môn trung

方圓一寸命門中

  • Kim Đài: Tòa nhà màu vàng, có thể hiểu là thuộc Huỳnh Đình, thuộc tính Thổ.
  • Thành cửu trùng: Tường thành tầng thứ 9. Tường thành này chính là 13 cặp xương sườn bảo vệ cho lồng ngực nên gọi tường thành.
  • Phương viên nhất thốn: Chu vi đường tròn khoảng 1 tấc.
  • Mệnh Môn trung: Ở trong Mệnh Môn.

Vị Thần Tì cư ngụ ở nơi đài vàng, có các tường thành là những cặp xương sườn bảo vệ. Tì nằm ở xương sườn thứ 9 tính từ phần đầu của lồng ngực xuống đến cặp thứ 9, hết lồng ngực là 13 cặp.

Tì nằm trong phạm vi đường tròn 1 tấc của Mệnh Môn. Như vậy, Mệnh Môn ở đây ám chỉ Mật Hộ đã được nhắc ở Chương 3, nằm ở sau chấn thủy. Chấn thủy là huyệt Đản Trung, Sinh Môn.

Câu 7 - 10:

Chủ điều bách cốc, Ngũ Vị Hương

主調百谷五味香

Tích khước hư luy vô bệnh thương

卻虛羸無病傷

Ngoại ứng xích trạch khí sắc phương

外應尺宅氣色芳

Quang hoa sở sinh dĩ biểu minh

光華所生以表明

  • Bách cốc: Hàng trăm khe, thung lũng, ý chỉ mạch máu, mao mạch trong thân.
  • Ngũ Vị Hương: Năm loại hương vị, ở đây hiểu là Ngũ Khí của Ngũ Hành phân tán trong Ngũ Tạng.
  • Tích khước: Từ bỏ.
  • Hư luy: Suy nhược, lao lực, uể oải.
  • Vô bệnh thương: Không còn bệnh tật làm tổn hại thân tâm.
  • Ngoại ứng: Bên ngoài ứng với.
  • Xích trạch: Thân thể, xá thân.
  • Khí sắc phương: Màu da và mùi hương cơ thể.
  • Quang hoa: Sáng sủa, tươi sáng rực rỡ.
  • Sở sinh: Phát sinh.
  • Dĩ biểu minh: Có biểu hiện tươi sáng, rạng rỡ.

Công việc của lá lách là giúp điều hòa Ngũ Khí và huyết dịch lưu thông ở các mạch máu, mao mạch nuôi dưỡng khắp thân.

Nhờ có lá lách hoạt động tốt mà cơ thể tránh bị mệt mỏi uể oải, giảm suy nhược, được mạnh khỏe nên không có bệnh tật gì tổn hại được.

Lá lách hoạt động ứng với lớp da bên ngoài thân. Lá lách khỏe mạnh, cơ thể thanh sạch thì lớp da sáng sủa, toàn thân như có hào quang ẩn hiện, có mùi dễ chịu, thơm như mùi hoa cỏ vậy.

Câu 11 - 13:

Huỳnh cẩm ngọc y, đái hổ chương

黃錦玉衣帶虎章

Chú niệm Tam Lão tử khinh tường

注念三老子輕翔

Trường sinh cao Tiên viễn tử ương

長生高僊遠死殃

  • Huỳnh cẩm ngọc y: Trang phục gấm màu vàng.
  • Đái hổ chương: Thắt lưng có chiếc ấn hình hổ.
  • Chú niệm: Tập trung trì niệm.
  • Tam Lão: Ba vị Thần ngụ tại tì, vị và Trung Huỳnh Đình.
  • Tử khinh tường: Nhẹ nhàng bay lượn, ý nói người hành trì Huỳnh Đình Kinh được nhẹ nhàng tâm trí, thần thức có thể vân du thiên ngoại.
  • Cao Tiên: Chứng đắc Thần Tiên.
  • Viễn tử ương: Xa rời sự chết và hoại diệt.

Ở Huỳnh Đình có vị Thần mang y phục gấm vàng, áo khoác ngọc và có giắt theo ấn ngọc hình hổ ở thắt lưng. Ở Chương 4 cũng có nhắc về Huỳnh Đình nội nhân:

“Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y
Tử hoa phi quần vân khí la.”

Người nào chú niệm tôn danh của Tam Lão là Minh Đồng Thần lưỡng vị và Huỳnh Đình Lão Nhân thì thân tâm nhẹ nhàng, có thể vân du thiên ngoại. Hành giả ấy lại có thể chứng đắc trường sinh, trở thành Thần Tiên, xa rời hoại diệt.

Luận bàn

Chương này nói về mối tương quan giữa tì, vị và Trung Huỳnh Đình. Khí chất ở ba cơ quan này có liên quan mật thiết với nhau, gọi chung ba vị cai quản hoạt động là Tam Lão vậy.

Các huyệt Sinh Môn, Mệnh Môn và lá lách được xương sườn số 9 bảo vệ. Lá lách đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành khí huyết, Ngũ Khí, Ngũ Hành. Biểu hiện ra bên ngoài khí sắc sáng sủa dễ gần, hương thơm hoa cỏ nhẹ nhàng toàn thân thể.

Đảm Bộ Chương Đệ Thập Ngũ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Đảm Bộ Chi Cung Lục Phủ Tinh

膽部之宮六腑精

Trung hữu Đồng Tử Diệu Uy Minh

中有童子曜威明

  • Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại Trường: Ruột già.
    4. Tiểu Trường: Ruột non.
    5. Bàng Quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
      • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
      • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
      • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.

Bộ phận mật có tên là Cung Lục Phủ Tinh, ý nói đảm chính là tinh thần, linh hồn cai quản cả Lục Phủ vậy. Bên trong có Đồng Tử, là vị Thần Mật tôn danh Long Diệu, tự Uy Minh.

Câu 3 - 4:

Cửu sắc cẩm y lục hoa quần

九色錦衣綠華裙

Bội kim đái ngọc long hổ văn

佩金帶玉龍虎文

  • Cửu sắc cẩm y: Trang phục gấm chín màu.
  • Lục hoa quần: Quần hoa màu xanh lục.
  • Bội kim đái ngọc: Mang thắt lưng có chiếc ấn bằng ngọc.
  • Long hổ văn: Hoa văn hình long hổ.

Vị Thần ấy có sắc phục áo gấm màu cầu vồng, quần hoa màu xanh lục, mang thắt lưng màu vàng và có ngọc ấn hình long hổ.

Câu 5 - 6:

Lôi điện bát chấn dương ngọc tinh

雷電八振揚玉旌

Long kỳ hoành thiên trịch hỏa linh

龍旂橫天擲火鈴

  • Lôi điện: Sấm chớp.
  • Bát chấn: Chấn động bát phương, ý chỉ về sự ảnh hưởng đến các vị trí ứng với Bát Quái trên thân.
  • Dương: Cầm, giơ cao.
  • Ngọc tinh: Cờ ngọc, cờ quý, cờ lệnh chỉ huy.
  • Long kỳ: Cờ có hình rồng, tượng trưng cho cờ hiệu của vị tướng soái thống lĩnh toàn quân. Vì Rồng được xem là hình ảnh linh thiêng bậc nhất của Trời Đất, tượng trưng quyền lực, vua, bầu trời.
  • Hoành thiên: Ngang trời.
  • Trịch hỏa linh: Ném chuông lửa.

Vị Thần Long Diệu là một vị tướng soái thống lĩnh quân binh với cờ lệnh giương cao mang hình rồng bay giữa trời, dùng chuông lửa làm pháp bảo. Uy danh Ngài vang dội tám phương, tức là hoạt động rộng khắp toàn thân vậy.

Câu 7 - 9:

Chủ chư khí lực nhiếp hổ binh

主諸氣力攝虎兵

Ngoại ứng nhãn đồng, tị trụ gian

外應眼童鼻柱間

Não phát tương phù diệc câu tiên

腦髮相扶亦俱鮮

  • Chủ chư khí lực: Làm chủ các dòng năng lượng.
  • Nhiếp hổ binh: Nắm binh quyền đội quân dũng mãnh.
  • Nhãn đồng: Đôi mắt.
  • Tị trụ gian: Phần không gian trong sống mũi.
  • Não phát: Não và tóc.
  • Tương phù: Cùng nâng đỡ, trợ giúp.
  • Diệc: Cũng, lại.
  • Câu tiên: Tươi đẹp theo.

Thần Mật làm chủ khí lực, làm chủ vận hành một đội quân dũng mãnh uy danh khắp nơi. Bên ngoài thì tương ứng với đồng tử mắt, trong khoang mũi.

Khi mật khỏe thì não và tóc cũng được tươi tốt theo. Nếu cơ thể thiếu hoặc thừa mật thì dễ sinh những chứng rối loạn như: đầu óc choáng váng, hoa mắt, nghẹt mũi khó thở, bụng đau, khó tiêu.

Câu 10 - 11:

Năng tồn Uy Minh thừa khánh vân

能存威明乘慶雲

Dịch sử vạn Thần triều Tam Nguyên

役使萬神朝三元

  • Năng tồn Uy Minh: Thường bảo tồn vị Thần Mật, tôn danh là Uy Minh.
  • Thừa khánh vân: Cưỡi mây lành, ý nói trở thành Tiên.
  • Dịch sử: Sai khiến.
  • Triều: Chầu, quy hồi.
  • Tam Nguyên: Ba vị Thần cai quản ba vị trí Huỳnh Đình của người.

Nên biết gìn giữ, bảo dưỡng Thần Uy Minh thật tốt thì có thể thành Tiên.

Có thể sai khiến vạn Thần trong thân quy hội về chầu Tam Nguyên ở Tam Huỳnh Đình, tức là luyện Đạo thành tựu vậy.

Luận bàn

Chương này nói chi tiết về hoạt động của mật, vị Thần Mật có tên là Long Diệu, tự Uy Minh.

Hoạt động của vị này khá rộng, khắp toàn thân, biểu trưng cho sự chiến đấu anh dũng chống chọi các sự tàn hại cơ thể. Gan và mật ở cạnh nhau, cùng lo phận sự giải độc và tiêu hóa thức ăn, nên người ta mới dùng từ can đảm chỉ về sự dũng cảm đương đầu với khó khăn địch họa.

Tì Trường Chương Đệ Thập Lục

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Tì trường nhất xích yểm thái thương

脾長一尺掩太倉

Trung Bộ Lão Quân trị Minh Đường

中部老君治明堂

Quyết tự Linh Nguyên, danh Hỗn Khương

厥字靈元名混康

Trị nhân bách bệnh tiêu cốc lương

治人百病消穀粮

  • Tì trường: Độ dài của tì.
  • Nhất xích: Một trượng.
  • Yểm thái thương: Che bao tử.
  • Trung Bộ chỉ về phần giữa thân người, có thể hiểu là khu vực lồng ngực, còn gọi là Trung Đan Điền, Giáng Cung.
  • Trị: Sắp xếp, quản lý.
  • Minh Đường: Căn phòng lớn sáng sủa, ý chỉ Huỳnh Đình, Đan Điền.
  • Quyết: Khi đặt ở đầu câu là nhấn mạnh.
  • Trị nhân bách bệnh: Làm cho thân người tiêu hết mọi bệnh tật.
  • Tiêu cốc lương: Tiêu hóa ngũ cốc lương thực.

Độ dài của tì là một trượng, nằm che bên trên bao tử.

Nơi đây có vị Thần cai quản Huỳnh Đình, tôn danh là Hỗn Khang, tự Linh Nguyên. Ngài còn được biết đến là Huỳnh Đình Đạo Nhân, Huỳnh Đình Lão Nhân, Huỳnh Đình Lão Quân vậy.

Ngài giúp trị toàn bộ các loại bệnh tật trong thân người, và làm tiêu hóa ngũ cốc lương thực đưa vào thân thể. Nhìn vào ấn đường một người cũng có thể biết được Ngũ Tạng người đó đang khỏe hay yếu.

Câu 5 - 8:

Hoàng y tử đái long hổ chương

黃衣紫帶龍虎章

Trưởng tinh ích mệnh lại Quân Vương

長精益命賴君王

Tam hô ngã danh Thần tự thông

三呼我名神自通

Tam Lão đồng tọa các hữu bằng

三老同坐各有朋

  • Hoàng y tử đái: Trang phục vàng có thắt lưng màu tím.
  • Long hổ chương: Ấn lệnh hình long hổ.
  • Trưởng tinh ích mệnh: Trưởng dưỡng, nuôi dưỡng Tinh Khí thì hữu ích, mang lại lợi ích cho thân mệnh. Tinh Khí tráng kiện thì thọ mạng được kéo dài.
  • Lại Quân Vương: Nhờ cậy vị Quân Vương, chỉ về Thần Tì là vị cai quản toàn bộ Ngũ Tạng.
  • Tam hô ngã danh Thần tự thông: Hô tên ta ba lần thì tự nhiên thông được với phần Thần của thân xác này vậy.
  • Tam Lão: Ba vị Lão Quân cai quản ba vực Huỳnh Đình.
  • Đồng tọa: Cùng ở chung khu vực.
  • Các hữu bằng: Quý vị bè bạn.

Vị Lão Quân cai quản Tì Bộ mặc y phục vàng, đai lưng tím, có đeo ấn ngọc long hổ. Nhờ có vị ấy cai quản chung cả Ngũ Tạng mà thân mạng được tráng kiện, tăng cường tuổi thọ.

Gọi tôn danh vị ấy ba lần thì tự nhiên thông được với Thần, tức phần linh hồn của tì vậy. Tất cả Tam Lão Huỳnh Đình cùng với chư vị Thần của các cơ quan, bộ phận khác trong cơ thể cũng đều như thế.

Cách thức kêu gọi tôn danh chư vị ấy

Giữ thân tâm an tịnh, hít thở sâu đều, nhẹ nhàng, điều hòa. Sau khi thân tâm tịnh lặng rồi thì chậm rãi đọc lời nguyện sau:

“Cầu xin… (Đức Linh Nguyên Đạo Nhân, hoặc Đức Linh Nguyên Lão Quân, hoặc tôn danh của bất kỳ vị Thần nào cai quản các bộ phận trên thân), Phù hộ độ trì cho thiện tín giả là… (Họ tên của bản thân hoặc người muốn được hết bệnh) được tai qua nạn khỏi, Cùng… (Tên của bộ phận bị đau bệnh, nếu biết thì đọc vô, không thì đọc chung là tật bệnh tại thân này) được mau chóng thuyên giảm, tiêu trừ bệnh tật, tai chướng. Thiện tín giả… (Tên người đọc câu này và cả tên người bệnh, nếu người đọc và người bệnh là hai người khác nhau) xin cảm tạ ân đức của… (Tôn danh của vị lúc đầu cầu xin giúp đỡ) đã cứu giúp thiện tín giả.”

Đọc toàn bộ câu nguyện ấy 3 lần, thành tâm cầu nguyện một cách chậm rãi. Sau đó quán chiếu ý niệm của mình đến vùng bị đau và nghĩ rằng nơi ấy hết bệnh, hết đau.

Muốn hiệu quả cao thì người đọc lẫn người bệnh cần ăn chay thuần khiết, sám hối nhân duyên bất thiện do mình từng gây nên từ trước mới phát sinh kết quả của bệnh tật hiện tại. Quyết tâm thay đổi lối sống, hướng thiện và không gây nghiệp bất thiện, không làm thói quen xấu gây nên tác hại đến bản thân và xung quanh.

Câu 9 - 11:

Hoặc Tinh hoặc Thai biệt chấp phương

或精或胎別執方

Đào Hạch hợp diên sinh hoa mang

桃核合延生華芒

Nam nữ hồi cửu hữu Đào Khương

男女徊九有桃康

  • Hoặc Tinh: Hoặc là thân xác. Trong Đan Đạo thì luyện Thân là Tinh.
  • Hoặc Thai: Hoặc là Thánh Thai. Trong Đan Đạo thì luyện khí Âm Dương hòa hợp sẽ kết Thánh Thai. Cho nên luyện khí còn gọi là quá trình kết Thai Tiên, kết Thánh Thai.
  • Biệt chấp phương: Mỗi thứ như thế đều có phương pháp riêng biệt.
  • Đào Hạch: Hạt của trái đào. Đối với Đạo Gia, đào được xem là hình tượng biểu trưng cho phúc lộc, xinh đẹp, tươi tốt, tốt lành, trường tồn. Vì cây đào dù cho thời tiết khí hậu khắc nghiệt ra sao, vẫn có thể hòa hợp sinh mệnh của mình với thiên nhiên mà đơm chồi nảy lộc ra hoa xinh đẹp, kết quả ngọt ngon vào những lúc đông tuyết giá lạnh giao mùa, đông tàn xuân đáo lai. Như vậy, Đào Hạch được hiểu là nhân duyên lành, nhân của phúc báo trường tồn.
  • Hợp diên: Hòa hợp được lâu dài bền chặt.
  • Sinh hoa mang: Phát sinh ánh sáng rực rỡ.
  • Nam nữ ý chỉ hai dòng khí Âm Dương trong thân thể.
  • Hồi cửu: Lưu chuyển thường xuyên kết hợp nhiều lần, tạo nên vòng tuần hoàn không ngừng nghỉ.
  • Hữu Đào Khương: Có cây đào tráng kiện, tức là có duyên lành tươi tốt trường tồn, có Thánh Thai.

Phép luyện Đan Đạo từ việc luyện Tinh đến luyện Khí đều có những chỗ ẩn tàng huyền diệu riêng biệt. Muốn thân thể khỏe mạnh đẹp đẽ, tức là Tinh được tráng kiện thì cần bảo dưỡng thân thể tốt, lại gieo trồng những nhân duyên lành giữa cuộc đời để phúc báo ngày một thêm sâu dày. Từ những việc làm hữu ích vị kỷ tức giữ giới thanh tịnh và tinh tấn, đến vị tha là đem lại lợi lạc cho đời. Cần liên tục vun trồng những nhân duyên như thế, về lâu dài sẽ đạt thành tựu đắc Tinh, Đào Hạch trong pháp luyện Tinh.

Tinh tráng kiện thanh sạch thì phát nên ánh sáng rực rỡ, tức là phát xuất được Thanh Khí. Thanh Khí này mang hai tính Âm Dương, lưu chuyển trong khắp thân. Điều luyện cho hai dòng khí ấy kết hợp với nhau không ngừng nghỉ thì kết thành Thánh Thai, Đào Khương vậy.

Đây cũng là lúc thân thể lẫn tinh thần tức là Tinh và Khí của người đều được thanh sạch, tráng kiện. Cho nên mới dùng hai chữ Đào Hạch và Đào Khương chỉ về trường xuân, trường sinh của người đã đắc pháp luyện Tinh Khí.

Câu 12 - 15:

Đạo Phụ, Đạo Mẫu đối tương vọng

道父道母對相望

Sư Phụ, Sư Mẫu Đan Huyền Hương

師父師母丹玄鄉

Khả dụng tồn tư đăng hư không

可用存思登虛空

Thù đồ nhất hội quy yếu chung

殊途一會歸要終

  • Đạo Phụ, Đạo Mẫu đối tương vọng: Hai khối khí Âm Dương trong thân mong mỏi, khát khao hòa hợp cùng nhau tạo thành Chân Khí. Chân Khí này vốn dĩ thanh tịnh, nhưng vì Thân (Tinh) mang lớp màn vô minh, vướng mắc phiền não nên Chân Khí yếu ớt, loạn động âm dương, chẳng thể hòa hợp với nhau tạo thành Chân Khí thanh tịnh được.
  • Sư Phụ, Sư Mẫu: Hai khối khí Âm Dương nhờ có sự điều dẫn của pháp luyện Đạo, luyện Đan giúp cho dung hòa, kết hợp được Âm Dương tạo thành Kim Đan nơi Đan Điền. Nên gọi hai khí Âm Dương có sự dẫn dắt ấy là Sư Phụ, Sư Mẫu.
  • Đan Huyền Hương: Quê nhà huyền nhiệm của Linh Đan, tức Đan Điền hay Huỳnh Đình vậy.
  • Khả dụng tồn tư: Nếu có thể làm chủ được tâm tư, ý niệm, giữ cho thanh tịnh, định tâm định ý không bị loạn động.
  • Đăng hư không: Bay lên hư không.
  • Thù đồ: Đường lối khác nhau.
  • Nhất hội: Hội hiệp, hợp về nhau một điểm.
  • Quy yếu chung: Trở về kết cuộc quan trọng.

Bốn câu này nói về phép luyện Đan Đạo là dùng ý dẫn khí về Đan Điền, hay còn gọi là Đan Huyền Hương, Huỳnh Đình để kết tụ thành Kim Đan nơi ấy.

Con người là hợp thể của Tinh, Khí, Thần.

  • Thần là phần linh hồn trọn lành.
  • Tinh là phần thân xác được kết hợp và nuôi dưỡng bởi vật thực, âm dương khí hợp thành Sinh Khí nuôi thân.
  • Khí là phần Chân Khí, chân hồn hay xác thân thiêng liêng do hai khối khí Âm Dương trong Thiên Địa kết hợp tạo thành Chân Khí thanh tịnh. Nên gọi hai khí Âm Dương là Đạo Phụ, Đạo Mẫu vậy.

Vì Tinh là thân xác nuôi bằng vật thực, phát triển theo thời gian, chịu ảnh hưởng của tập khí, những cám dỗ của cuộc đời khiến cho Tinh thường hay thất thoát hao mòn theo thời gian, do vậy mà Chân Khí cũng loạn động. Nhờ vào pháp tu tập, giữ giới, định tâm gìn ý, hành giả dần làm chủ hai khí Âm Dương trong thân, có thể điều dẫn hai khí ấy lưu chuyển, kết hợp lại với nhau tạo thành Chân Khí lưu chuyển khắp Thân. Hai dòng khí Âm Dương được ý niệm dẫn dắt cụ thể như thế được gọi là Sư Phụ Sư Mẫu.

Khi Âm Dương Khí loạn động trong thân đã được thanh tịnh, tương hiệp là lúc Đạo Phụ và Đạo Mẫu gặp nhau, kết thành Sinh Khí. Sinh Khí ấy được dẫn đến ba vị trí Đan Điền trong thân để tích trữ. Quá trình này được gọi là Sư Phụ, Sư Mẫu Đan Huyền Hương, tức là có thầy cô dẫn học trò về lại quê nhà.

Khi Sinh Khí kết thành Kim Đan nơi Đan Huyền Hương, hành giả dụng tâm thanh tịnh, làm chủ tâm ý của mình thì thần thức hành giả ấy đủ mạnh mẽ để du nhập vào cõi Thiên.

Khi về cõi Thiên, về với hư không thanh tịnh, thì dù cho chúng sinh hữu tình mỗi sự tồn tại đều khác nhau, khác danh phận, khác ý nghĩa tồn tại, khác đức tin, khác phương pháp tu luyện cũng đều là người một nhà, quy hiệp về một gốc duy nhất sản sinh ra muôn vật loại trong Đại Vũ Trụ này, tạm gọi là Cội Đạo vậy.

Đó chính là nguyên lý “Nhất bản tán vạn thù, vạn thù quy nhất bản.” Tức là một Cội Đạo, một gốc sản sinh ra vạn vật khác biệt nhau. Rồi vạn vật khác biệt nhau ấy cuối cùng cũng quy hiệp lại một gốc ban đầu mà thôi.

Câu 16 - 19:

Quan tắc Tam Quan ốc cố đình

關塞三關握固停

Hàm thấu kim lễ thôn ngọc anh

含漱金醴吞玉英

Toại chí bất cơ Tam Trùng vong

遂至不飢三蟲亡

Tâm ý thường hòa, trí hân xương

心意常和致欣昌

  • Quan tắc: Đóng, chặn đứng.
  • Tam Quan: Ba cửa tương tác giữa hành giả với thế giới bên ngoài là Khẩu, Thân và Ý. Tam Quan còn chỉ về Tam Đan Điền trong phương pháp luyện Đan Đạo. Hạ Đan Điền chỉ về Tinh, Trung Đan Điền chỉ về Khí và Thượng Đan Điền chỉ về Thần.
  • Ốc cố đình: Giữ vững không bị lung lay.
  • Hàm thấu kim lễ: Ngậm súc miệng bằng dòng rượu ngon.
  • Thôn ngọc anh: Nuốt châu ngọc, chỉ về việc nuốt nước bọt.
  • Toại chí: Làm đến tuyệt đỉnh, làm rất tốt, đạt đến thành tựu.
  • Bất cơ: Không đói.
  • Tam Trùng: Ba loại trùng độc, hay còn gọi là Tam Độc Tham Sân Si.
  • Trí hân xương: Trạng thái vui vẻ thiện lương, an lạc, hoan hỷ.

Hành giả luyện Đan Đạo cần bế Tam Quan, tức là phong bế các nghiệp bất thiện của Thân Khẩu Ý, giữ cho Thân Khẩu Ý thanh tịnh, tịch tĩnh. Đó cũng chính là bảo Tinh, dưỡng Khí và tồn Thần.

Thường làm sạch miệng, giữ miệng thanh tịnh để tân dịch sinh ra chính là châu ngọc. Hành giả nuốt châu ngọc ấy vào như là ngọc dịch huỳnh tương, nuôi dưỡng rất tốt cho cơ thể.

Khi làm được những điều như trên, tự nhiên hành giả không thấy đói, ít cần ăn uống, lại còn tiêu trừ được Tam Độc trong thân. Như thế, tự nhiên tâm ý sẽ thường bình hòa, an lạc và lương thiện.

Câu 20 - 22:

Ngũ Nhạc chi vân khí bành hanh

五嶽之雲氣彭亨

Bảo quán ngọc lư dĩ tự thường

保灌玉廬以自償

Ngũ hình hoàn kiên vô tai ương

五形完堅無災殃

  • Ngũ Nhạc ý chỉ Ngũ Tạng trong thân người, bao gồm: tâm, can, tì, phế, thận.
  • Khí bành hanh: Khí huyết lưu thông tốt.
  • Bảo: Gìn giữ, bảo vệ.
  • Quán: Nghi thức cúng Thần, thành khẩn.
  • Ngọc lư: Thân trong sạch thuần khiết, tức phần Tinh thanh tịnh trong sạch.
  • Dĩ tự thường: Tự nhiên có được cảm ứng.
  • Ngũ Hình hoàn kiên: Ngũ Tạng, Ngũ Hành trong cơ thể toàn bộ đều khỏe mạnh, kiên cố.
  • Vô tai ương: Không bị tai nạn, bệnh tật chi cả.

Khi hành giả luyện được bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần. Tam Độc được tiêu trừ, tâm ý an lạc vui tươi thì Ngũ Tạng trong thân đều được hanh thông khí huyết, giúp thân được tươi nhuận, sáng đẹp, trường tồn.

Thân ấy chính là lư ngọc, có thể phát xuất ra hương thơm đạo đức bay khắp mười phương, tức là Khí thanh tịnh vậy. Hương đạo đức ấy chính là món lễ vật trọng hậu thành kính dâng lên chư Thần. Đây chính là phần Tinh thanh khiết phát xuất ra Khí thanh khiết, Khí ấy mới có thể hòa hiệp với Thần, khiến cho Tam Bảo Tinh Khí Thần hiệp nhất, gọi là đạt Đạo vậy.

Người chứng đắc Tam Bảo hòa hợp thì tự nhiên Ngũ Hành, Ngũ Tạng đều kiên cố, chẳng bệnh tật nào xâm hại được.

Luận bàn

Toàn chương nói về hoạt động của vị Thần Tì trong việc cai quản chung các hoạt động của Ngũ Tạng. Ngoài ra nhắc nhiều về phương thức dẫn khí Âm Dương kết hợp tại Tam Đan Điền.

Muốn luyện Đan Đạo cần giải quyết vấn đề của Thân, tức là phần Tinh được thanh tịnh nhờ vào giới luật, phương pháp tu hành đúng đắn, gieo được thiện duyên, tiêu trừ chướng duyên.

Đan Điền còn có tên khác là Đan Huyền Hương. Hai Khí Âm Dương trong Thân là Đạo Phụ và Đạo Mẫu khi chưa được thanh tịnh kết hợp với nhau thì luôn hướng về nhau. Hai Khí Âm Dương được dẫn về Đan Điền để kết hóa Kim Đan, Thánh Thai thì là Sư Phụ, Sư Mẫu. Thân thể cường tráng thanh tịnh sẽ phát xuất ra Chân Khí cường tráng thanh tịnh, Chân Khí ấy mới hòa hợp được với Thần Linh, tức là ánh sáng Thiên Tánh trọn lành của khối Thái Cực.

Bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần được rồi thì tâm tình thanh tịnh, tâm ý an lạc bình hòa, Tam Độc được tiêu trừ. Ngũ Hành, Ngũ Tạng trong thân từ đó được hanh thông khí huyết, tráng kiện tươi nhuận và trường tồn, không còn bệnh tật tai ương xâm hại.

Thượng Đổ Chương Đệ Thập Thất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Thượng đổ Tam Nguyên như liên châu

上覩三元如連珠

Lạc lạc minh cảnh chiếu Cửu Ngung

落落明景照九隅

Ngũ Linh dạ chúc hoán Bát Khu

五靈夜燭煥八區

  • Thượng đổ: Nhìn lên.
  • Tam Nguyên chỉ về Tam Đan Điền, Tam Huỳnh Đình.
  • Như liên châu: Thẳng hàng như mấy viên châu của xâu chuỗi được kết liền thẳng hàng nhau.
  • Lạc lạc: Tự nhiên, ngay thẳng.
  • Minh cảnh: Cảnh sắc sáng tỏ.
  • Chiếu Cửu Ngung: Chiếu sáng chín đỉnh núi rất cao, ý chỉ Cửu Cung trên đỉnh đầu.
  • Ngũ Linh: Ngũ Hành trong thân.
  • Dạ chúc: Đuốc đêm.
  • Hoán Bát Khu: Chiếu sáng tám khu, ý chỉ Bát Quái Cung ứng với toàn thân.

Nhìn từ dưới Hạ Đan Điền lên tới Thượng Đan Điền, cả ba Đan Điền đều thẳng một hàng như là mấy viên châu trên cùng một xâu chuỗi vậy.

Mỗi Đan Điền lại tích trữ ánh sáng nên trông rất tự nhiên, cả Cửu Cung nơi đỉnh đầu đều được sáng tỏ rực rỡ. Ngũ Hành, Ngũ Khí trong toàn thân cũng phát quang, như những ngọn đuốc trong đêm soi sáng khắp toàn thân.

Câu 4 - 6:

Tử tồn nội hoàng dữ ngã du

子存內皇與我遊

Thân phi phụng y, hàm hổ phù

身披鳳衣銜虎符

Nhất chí bất cửu thăng hư vô

一至不久昇虛無

  • Tử tồn nội hoàng: Người tu luyện gìn giữ được tinh thần thanh tịnh nguyên vẹn, gìn giữ được Linh Khí, Thần Khí trong người.
  • Dữ ngã du: Cùng ta đi dạo, ngao du khắp nơi.
  • Thân phi phụng y: Thân khoác chiếc áo hình chim phụng.
  • Hàm hổ phù: Mang theo ấn lệnh hình hổ.
  • Nhất chí bất cửu: Một lòng quyết tâm thì chẳng bao lâu.
  • Thăng hư vô: Thành Thần Tiên.

Người nào bảo tồn được Linh Khí, Chân Khí trong thân như thế thì có thể đi chu du với Đức Linh Bảo Thiên Tôn.

Thân khoác áo phụng, mang theo ấn hổ phù.

Một lòng quyết tâm tu luyện thì chẳng bao lâu sẽ vũ hóa Thần Tiên.

Câu 7 - 10:

Phương thốn chi trung niệm thâm tàng

方寸之中念深藏

Bất phương bất viên bế dũ song

不方不圓閉牖窗

Tam Thần hoàn Tinh lão phương tráng

三神還精老方壯

Hồn phách nội thủ bất tranh cạnh

魂魄內守不爭競

  • Phương thốn: Chu vi một tấc, ý chỉ về Não Bộ.
  • Chi trung: Ở bên trong.
  • Niệm thâm tàng: Ý niệm gìn giữ thật sâu.
  • Bất phương bất viên: Chẳng vuông chẳng tròn, ý chỉ chẳng phân biệt.
  • Bế dũ song: Đóng cửa sổ, ý nói đóng Ngũ Quan.
  • Tam Thần hoàn Tinh: Tam Huỳnh Đình Lão Nhân, ba vị Thần cai quản Huỳnh Đình đều quy tụ về một mối. Tinh ở đây là chỉ phần hồn, tinh thần của người.
  • Lão phương tráng: Cơ thể dù cho già yếu cũng hồi xuân, cường tráng.
  • Hồn phách nội thủ: Gìn giữ hồn phách an định, tịnh tâm, không để tản mát, phân tâm.
  • Bất tranh cạnh: Không tranh giành với nhau.

Trong tâm gìn giữ ý niệm thật thanh tịnh, trầm mặc, sâu lắng, chẳng phóng tâm ý bừa bãi.

Chẳng luận chuyện thị phi, phải trái, đúng sai, thiện ác, đóng cửa Ngũ Quan với thế thường. Thân tâm giữa đời mà chẳng loạn động theo đời.

Ba vị Thần ở Tam Đan Điền cùng hòa hợp, trở về một mối, đó chính là Tam Bảo hiệp nhất, luyện đặng Tinh Khí Thần hợp nhất, hoàn nguyên. Khi ấy thân sẽ được cường tráng khỏe mạnh dù cho tuổi đã cao.

Người bình thường, theo thế tục thường tình thì hồn chỉ về phần tánh linh, hướng thiện, phách chỉ về những phàm tánh của thân xác giả tạm, xu hướng thỏa mãn nhu cầu thể xác. Thế nên hồn và phách thường xuyên phải đối đầu nhau, lôi kéo cho phần trí não tinh thần, tức là phần khí xu hướng theo hồn hay phách. Theo hồn thì thường hướng thiện, cao thượng, theo phách thì thường hướng phàm tục, xấu ác. Người tu tập luyện Đan Đạo, là dung hòa được giữa phàm tâm dục vọng và Thánh Tâm thuần lương thanh tịnh, từ đó hồn phách hài hòa, không tranh cạnh nhau.

Câu 11 - 14:

Thần sinh phúc trung hàm ngọc đang

神生腹中銜玉璫

Linh chú u khuyết na đắc tang

靈注幽闕那得喪

Lâm điều vạn tầm khả ấm trượng

琳條萬尋可蔭杖

Tam Hồn tự ninh, Đế thư mệnh

三魂自寧帝書命

  • Thần sinh phúc trung: Trong lòng có Thần.
  • Hàm ngọc đang: Có viên ngọc quý, ở đây ý chỉ Kim Đan.
  • Linh chú u khuyết: Thần ngự ở nơi thâm huyền.
  • Na đắc tang: Sao có thể tiêu tán, hoại diệt.
  • Lâm điều: Cành ngọc quý báu.
  • Vạn tầm: Khoảng 26400 thước, rất cao to. Tầm là đơn vị đo lường, một tầm bằng 8 xích. 1 xích bằng 0,33m. 1 tầm là 2,64m.
  • Khả ấm trượng: Có thể nấp dưới bóng râm của tán cây.
  • Tam Hồn tự ninh: Tam Hoa tụ đỉnh, Tam Bảo hợp nhất an định.
  • Đế thư mệnh: Đức Thượng Đế ghi tên vào sổ Trời, tức là đắc Đạo vậy.

Trong lòng có Thần, là mang ngọc quý nơi mình. Thần trú ở nơi u tịch, sao có thể bị suy tàn được.

Câu này ý nói về phần Thần, linh hồn, điểm Tiểu Linh Quang nơi Nê Hoàn Cung của mỗi người là trọn lành tốt đẹp, thường hằng theo thời gian dẫn dắt con người về với Chân Thiện Mỹ.

Có Thần trong lòng, như có cây ngọc quý cao to vời vợi, có thể nương tựa cây che mát.

Hành giả đã chứng đắc Tam Hoa tụ đỉnh thì tự nhiên được ghi tên vào sổ Trời, đắc Đạo.

Linh Đài Chương Đệ Thập Bát

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Linh Đài uất ái vọng Hoàng Dã

靈臺鬱藹望黃野

Tam thốn dị thất hữu thượng hạ

三寸異室有上下

Gian quan Doanh Vệ, Cao Huyền thụ

間關營衛高玄受

Động Phòng tử cực Linh Môn Hộ

洞房紫極靈門戶

  • Linh Đài chỉ về nơi linh hồn cư ngụ, tức Nê Hoàn Cung. Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có nhắc về danh từ này trong câu “Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài”, nên gọi nơi điểm Linh Quang Thái Cực cư ngụ là Linh Đài, còn gọi Cao Đài.
  • Uất ái: Mây bốc cuồn cuộn.
  • Vọng Hoàng Dã: Trông về khu vực Trung Cung Huỳnh Đình.
  • Tam thốn dị thất hữu thượng hạ: Ba tấc có các phòng khác nhau ở trên và dưới.
  • Gian quan: Trong khu vực.
  • Doanh Vệ chỉ về Doanh Khí và Vệ Khí. Doanh Khí tính âm, Vệ Khí tính dương đều do ngũ cốc, vật thực ăn vào mà chuyển hóa Sinh Khí vận hành khắp toàn thân.
  • Cao Huyền: Huyền Quan Khiếu Chi Chủ, hay tôn danh đầy đủ chính là Đức Huyền Khung Cao Thượng Đế.
  • Thụ: Thọ lãnh, nhận.
  • Động Phòng tử cực: Tên một trong Cửu Cung của Nê Hoàn Cung, nơi ấy có khí sắc tím rất đậm.
  • Linh Môn Hộ: Cửa của Linh Đài.

Linh Đài là đài cao nhất ở Nê Hoàn Cung, là nơi ngự của hồn, tâm, tức tánh linh thiên lương trọn lành của người vậy. Ở nơi ấy, các dòng năng lượng, khí lưu đều hướng về Huỳnh Đình, muốn quy hồi về trung tâm Huỳnh Đình.

Trong phạm vi ba thốn của Nê Hoàn Cung có các khu vực khác nhau, được gọi là Cửu Cung hay Cửu Phòng.

Có hai dòng Sinh Khí Âm Dương Doanh Vệ ở đấy, luôn sẵn sàng chờ đợi ý chỉ của Đức Cao Huyền. Tức là Sinh Khí trong người có thể được lưu chuyển theo ý niệm của hành giả.

Trong số Cửu Cung ấy, có một cung tên gọi Động Phòng Cung, có khí sắc màu tím thẫm, là cửa ra vào Linh Đài. Nơi đây được gọi là Linh Môn Hộ, Thần Môn Hộ hay còn gọi là Huyền Quan Khiếu.

Câu 5 - 7:

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả

是昔太上告我者

Tả Thần Công Tử phát thần ngữ

左神公子發神語

Hữu hữu Bạch Nguyên tính lập xử

右有白元併立處

  • Thị tích: Là từ xa xưa.
  • Thái Thượng: Đức Thái Thượng Lão Quân.
  • Cáo ngã giả: Bảo cho ta biết.
  • Thần Công Tử: Can Thần Vô Anh, Long Yên, tự Hàm Minh.
  • Phát thần ngữ: Nói ra những lời huyền diệu.
  • Bạch Nguyên chỉ về Phế Thần Hạo Hoa, Thất Nguyên Chi Tử, tự Hư Thành.
  • Tính lập xử: Cùng ở chung chỗ.

Đức Cao Huyền, từ thuở xưa được biết đến là Đức Thái Thượng Lão Quân. Đức Thái Thượng Lão Quân còn được biết đến là Đức Huyền Khung Cao Thượng Đế, hay Đức Huỳnh Đình Đạo Nhân, Đức Huỳnh Đình Lão Quân. Người ngự nơi Linh Đài, ở Động Phòng Cung, thuộc Nê Hoàn Cung.

Trái thì có Thần Công Tử, hay còn có tên Vô Anh, là vị Thần Gan phát ra thần ngữ. Phải thì có Bạch Nguyên, hay còn được biết đến tên Hạo Hoa, là vị Thần Phổi. Hai vị này cùng cư trú chung một chỗ, tức Động Phòng Cung.

Câu 8 - 10:

Minh Đường kim quỹ ngọc phòng gian

明堂金匱玉房間

Thượng Thanh Chân Nhân đương ngô tiền

上清真人當吾前

Hoàng thường Tử Đan khí tần huyên

黃裳子丹氣頻暄

  • Minh Đường: Tên một cung trong Cửu Cung Nê Hoàn.
  • Kim quỹ ngọc phòng gian: Gian phòng chứa nhiều thứ quý báu.
  • Đương ngô tiền: Đang ở trước ta. Ta ở đây ám chỉ Đức Thái Thượng Lão Quân.
  • Hoàng thường: Trang phục áo vàng.
  • Tử Đan: Một tôn danh khác của Đức Thượng Thanh Chân Nhân.
  • Khí tần huyên: Khí lan tỏa ấm áp nhẹ nhàng.

Minh Đường Cung là nơi chất chứa nhiều thứ quý báu, vàng ngọc đủ đầy.

Đức Thượng Thanh Chân Nhân, hiệu là Tử Đan hiện đang cư ngụ nơi ấy, phía trước Động Phòng Cung. Vị ấy mặc y phục vàng, luôn phát ra làn khí nhẹ nhàng ấm áp.

Câu 11 - 13:

Tá vấn hà tại lưỡng mi đoan

借問何在兩眉端

Nội hiệp nhật nguyệt liệt tú trận

內協日月列宿陳

Thất Diệu Cửu Nguyên quan Sinh Môn

七曜九元冠生門

  • Tá vấn hà tại: Hỏi là gì.
  • Lưỡng mi đoan: Giữa hai hàng mi, giữa trán.
  • Nội hiệp: Cai quản các bộ phận trong thân.
  • Nhật nguyệt liệt tú trận: Mặt trời, mặt trăng cùng các vì sao tinh tú.
  • Thất Diệu: Bảy tinh cầu, bao gồm Nhật, Nguyệt, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Cũng hàm ý chỉ về Ngũ Hành và Âm Dương trong Thiên Địa ứng với thân người. Thất Diệu còn là chu kỳ 7 ngày.
  • Cửu Nguyên ý chỉ về Cửu Diệu Tinh Quân, là 9 vị Thần cai quản 9 tinh cầu có ảnh hưởng đến vận mệnh con người, bao gồm Thất Diệu và hai tinh cầu là La Hầu, Kế Đô.
  • Quan Sinh Môn: Bao phủ bên trên, tương tác với Sinh Môn.

Minh Đường ấy, hỏi ra chính tại giữa hai chân mày đó vậy.

Đức Thượng Thanh Đạo Nhân hỗ trợ cai quản nhật nguyệt cùng muôn vàn tinh tú trong châu thân.

Hàng ngày theo chu kỳ của Thất Diệu và Cửu Nguyên trên bầu trời ứng hợp với Sinh Môn nơi thân người vậy.

Luận bàn

Ở chương này được chia thành hai phần rõ ràng là Động Phòng Cung và Minh Đường Cung.

Linh Đài hay Cao Đài, được hiểu là toàn bộ Nê Hoàn, chia ra thành 9 khu vực gọi là Cửu Cung ứng với đồ hình Bát Quái Cửu Cung. Trong đó Trung Cung - Trung Ương tượng trưng Hư Vô, là đồ hình Thái Cực, Lưỡng Nghi và Tứ Tượng Lục Thời. Gọi như vậy vì nơi đây có hai đường cong chữ S biểu thị tăng giảm của Âm Dương Khí trong đồ hình Thái Cực. Hai đường ấy gọi là Dương Minh và Âm Khuyết, gộp với Tứ Tượng thì gọi chung là Tứ Tượng Lục Thời.

Vì Âm Dương hội hiệp, giao hòa nơi ấy nên gọi là Động Phòng Cung đó vậy. Động Phòng Cung là cửa xuất nhập Linh Đài, đường đi của Thần nên được gọi là Thần Môn Hộ, Linh Môn Hộ. Lại có khí sắc màu tím sẫm rất đậm, nên còn gọi là Huyền Quan Khiếu.

Trong Động Phòng Cung có hai dòng Khí Âm Dương được gọi là Doanh Khí (Âm) và Vệ Khí (Dương). Đây là Sinh Khí do vật thực, ngũ cốc ăn vào và cơ thể tiêu hóa sinh ra năng lượng lưu chuyển khắp toàn thân.

Động Phòng Cung có hai vị Thần là Thần Công Tử, Can Thần Vô Anh và Thần Bạch Nguyên, Phế Thần Hạo Hoa thủ hộ hai bên trái phải. Chính giữa cai quản Động Phòng Cung là Đức Cao Huyền Đạo Nhân, tôn danh đầy đủ là Đức Huyền Khung Cao Thượng Đế. Ngài cũng là Đức Huỳnh Đình Lão Nhân, từ thuở xa xưa được biết tôn danh Ngài là Đức Thái Thượng Đạo Quân khi Ngài truyền dạy Kinh Huỳnh Đình cho ba vị Tam Thanh.

Kế tiếp là phần về Minh Đường Cung. Minh Đường Cung có vị trí ở phần giữa trán, giữa hai lông mày. Có Đức Thượng Thanh Đạo Nhân ngự trị ở đây, phía trước Động Phòng Cung. Ngài có phục trang áo vàng, thân phát ra hơi nóng ấm áp.

Theo phương vị Bát Quái Cửu Cung thì Động Phòng Cung tượng trưng Thái Cực Hư Vô Trung Ương, Minh Đường Cung tượng trưng cho Hỏa Khí Cung Ly, Thánh Hỏa Cung, hướng Chánh Nam khi bên ngoài nhìn thẳng trực diện vào thân người.

Ở Chương 16, chúng ta được biết Minh Đường do Đức Lão Quân cai quản, có tôn danh là Đức Linh Nguyên Đạo Nhân, tự là Hỗn Khương. Đến chương này lại cho chúng ta biết về Đức Thượng Thanh Chân Nhân ở Minh Đường Cung, còn có tôn danh khác là Đức Tử Đan Đạo Nhân, hỗ trợ cai quản về nhật nguyệt tinh tú bên trong Tiểu Vũ Trụ con người. Ngài đồng thời nắm dây liên kết cảm ứng giữa chu kỳ vận hành của Thất Diệu và Cửu Nguyên tức Cửu Diệu Tinh tương thông với chu kỳ vận hành Tiểu Vũ Trụ thân người.

Bản gốc trang 175
Bản gốc trang 175 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải IV · Chương 19–24: Tam Quan Đến Trị Sanh

Tam Quan Chương Đệ Thập Cửu

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Tam Quan chi trung Tinh Khí thâm

三關之中精氣深

Cửu vi chi nội u thả âm

九微之內幽且陰

  • Tam Quan bao gồm miệng, chân và tay.
  • Tinh Khí thâm: Dày đặc Tinh Khí.
  • Cửu vi: Ân tàng rất sâu, nhiều.
  • U thả âm: Sâu thẳm lại kín đáo.

Trong Tam Quan, mỗi bộ phận đều chứa đựng dày đặc Tinh Khí. Ẩn sâu bên trong đó là những điều vô cùng huyền nhiệm.

Câu 3 - 5:

Khẩu vi Tâm Quan, tinh thần ki

口為心關精神機

Túc vi Địa Quan, sinh mệnh phi

足為地關生命扉

Thủ vi Nhân Quan, bả thịnh suy

手為人關把盛衰

  • Khẩu, túc, thủ: Miệng, chân, tay.
  • Vi: Là.
  • Tinh thần ki: Vấn đề cốt lõi, then chốt của tinh thần.
  • Sinh mệnh phi: Cửa sinh mạng.
  • Bả thịnh suy: Cốt cán quyết định sự hưng thịnh hay lụn bại.

Miệng là Tâm Quan, tức cửa ngõ của Tâm, Thần, là then chốt của sự vận hành tinh thần. Ở đây nói miệng là Tâm Quan, là cửa ngõ rất quan trọng của Tâm, Thần. Vì từ miệng, người ta có thể gieo thiện hay ác nghiệp cho bản thân và xung quanh. Từ miệng người ta cũng có thể ăn uống vật chất ẩm thực dưỡng sinh, là thuốc bổ cho thân hay thuốc độc hại cơ thể.

Tâm tình nghĩ gì, ý niệm ra sao, tiềm thức thói quen thế nào đều sẽ được phản ánh qua nơi cửa miệng ăn uống nói cười, nên nói “Khẩu vi Tâm Quan, tinh thần ki” là hoàn toàn hợp lý.

Chân là Địa Quan, là cửa ngõ của sinh mạng. Bởi chân là cửa ngõ tiếp xúc với mặt đất, nên gọi Địa Quan.

Mỗi bước đi đều có thể sát mạng những sinh linh bé nhỏ mà mắt thường ít nhìn thấy được, hoặc do sơ suất không để ý mà lỡ giẫm đạp sát mạng. Cho nên nếu không có việc chi cần thiết thì cũng không nên di chuyển nhiều.

Nhờ có đôi chân, con người có thể đi lại, vận động sinh hoạt. Sự vận động này có thể giúp người ta thấy được ý nghĩa tồn tại của bản thân, học hỏi được những điều hay lẽ phải để bản thân được tinh tấn mỗi ngày. Hoặc là người ta có thể đi vào nơi hang cùng ngõ cụt, biển lửa rừng chông gây nguy hiểm cho thân mạng của mình vậy.

Thêm nữa, nơi lòng bàn chân cũng có các huyệt liên kết với các dây thần kinh ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận trên khắp toàn cơ thể. Thế nên câu này nói “Túc vi Địa Quan, sinh mệnh phi” cũng không có gì khó hiểu.

Tay là Nhân Quan, là cửa giao tiếp của người với thế gian, là cốt cán của sự phát triển hưng thịnh hay lụn bại.

Người nắm thịnh suy nơi tay, làm nên mọi thứ. Từ gieo trồng, cày cấy, hái lượm, nấu nướng, cho đến tạo ra của cải vật chất tinh thần, giúp đỡ trị bệnh, nuôi dưỡng, cứu mạng hay tàn hại sinh mạng… mọi thiện ác cũng đều do tay làm ra cả.

Lại nói, nếu có người nào không thể dùng được ngôn ngữ của miệng để hiểu được nhau, thì người ta có thể dùng tay để giao tiếp những điều muốn diễn đạt. Đôi tay chúng ta, cần nên làm việc hữu ích thôi, chớ nên để nó vấy bẩn máu và sát nghiệp. Cho nên nói “Thủ vi Nhân Quan, bả thịnh suy” vậy.

Luận bàn

Toàn chương này chỉ có 5 câu ngắn ngủi, nhưng nhắc cho chúng ta về việc gìn giữ Linh Khí, Chân Khí, Sinh Khí trong thân mình qua ba cửa ngõ là Miệng, Chân và Tay. Gìn giữ bản thân cả Thân, Khẩu, Ý để bảo tồn năng lượng, bảo tồn Nguyên Khí, Chân Khí không bị hao mòn bởi nghiệp bất thiện.

Muốn miệng nói điều dễ mến dễ nghe, hữu ích cho người cho đời thì tâm tình phải thiện lương, tập cho tâm suy nghĩ những điều tích cực tốt đẹp, một mảy may ý niệm bất thiện nếu có phát sinh cũng đều cố gắng hóa giải nó. Khi ấy tâm ứng với khẩu, khẩu biểu hiện cho trạng thái của tâm, thì lúc đó miệng mới phát xuất ra được những lời châu ngọc, hoa thơm cỏ lạ hữu ích cho đời, đem an vui cho đời, cũng là tự bản thân tinh tấn và trợ duyên cho thế tục quanh mình cùng tinh tấn vậy.

Muốn chân trở nên hữu ích, mỗi bước đi nên giữ chánh niệm. Đi đâu, làm gì, cũng đều nên vì sự cần thiết hay lợi lạc cho bản thân và cuộc đời này mà nên đi. Còn sự đi chơi du hí, đi phá phách, quấy rối cuộc đời, làm hại mạng chúng sinh nhỏ bé, làm mất đi vẻ trang nghiêm thanh tịnh thì chớ nên đi vậy. Hay là sự đi làm tốn kém công sức, thời gian tiền của mà chẳng lợi ích chi, lại còn dính sát nghiệp và thị phi khi tụm năm tụm bảy ngồi nói chuyện đùa giỡn thì chớ nên di chuyển. Đi để học hỏi, đi để tinh tấn, đi để vận động cho thân tâm khỏe mạnh lạc quan, đi để tạo nên những giá trị hữu ích cho đời.

Các câu nói chúng ta thường được nghe nhắc có liên quan đến Tam Quan này:

“Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.”

“Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất.”

“Gót chân đưa rủi như sát mạng,
Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.”

“Bàn tay ta làm nên tất cả.”

Nhược Đắc Chương Đệ Nhị Thập

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Nhược đắc Tam Cung tồn Huyền Đan

若得三宮存玄丹

Thái Nhất Lưu Châu an Côn Luân

太一流珠安崑崙

Trùng trùng lâu các thập nhị hoàn

重重樓閣十二環

Tự cao tự hạ giai Chân Nhân

自高自下皆真人

  • Nhược đắc: Nếu như đạt được.
  • Tam Cung ý chỉ về Tam Đan Điền.
  • Huyền Đan: Đan dược quý báu, huyền nhiệm. Đây là tên gọi riêng một cung trong Cửu Cung ở Nê Hoàn.
  • Lưu Châu: Dòng chảy châu ngọc. Đây là tên gọi riêng một cung trong Cửu Cung ở Nê Hoàn.
  • Thái Nhất chỉ về Đức Đông Hoàng Thái Nhất, vị Thần đem ánh sáng, hơi ấm và nuôi dưỡng sự sống ở hướng Đông. Thế nên đây được hiểu như là một tôn danh khác của Thái Dương Thần.
  • Côn Luân: Tên một ngọn núi thiêng ở Thượng Giới, nơi Thần Tiên cư ngụ tu tập rất đông. Côn Luân ở đây ám chỉ phần đỉnh đầu của người.

Nếu đạt được khí tụ ở Tam Cung Đan Điền, bảo tồn được Huyền Đan ở đấy. Đức Đông Hoàng Thái Nhất, cư ngụ ở Lưu Châu Cung sẽ đem lại hơi ấm Sinh Khí, giúp an định trên đỉnh Côn Luân.

Trùng trùng lầu các mười hai lớp, tất thảy trên dưới có Chân Nhân, ý là mọi nơi trong thân đều có Linh Khí bảo tồn, lưu chuyển thông suốt.

Câu 5 - 7:

Ngọc Đường, Giáng Vũ tận Huyền Cung

玉堂絳宇盡玄宮

Tuyền ki ngọc hành sắc lang can

璇璣玉衡色蘭玕

Chiêm vọng Đồng Tử tọa bàn hoàn

瞻望童子坐盤桓

  • Ngọc Đường: Nơi đẹp đẽ, trân quý, ý chỉ về Minh Đường.
  • Giáng Vũ: Bầu trời bao trùm Giáng Cung, tức Trung Đan Điền.
  • Huyền Cung ý chỉ về Huyền Quan Khiếu, Huyền Đan Cung.
  • Tuyền ki: Châu ngọc đẹp đẽ.
  • Ngọc hành: Ngọc kết nối thành một dải.
  • Sắc lang can: Có ngoại hình tươi đẹp.
  • Chiêm vọng: Nhìn từ dưới hướng lên trên.
  • Đồng Tử: Đứa bé, có thể hiểu là một loại khí, năng lượng, chỉ về vị Thần cai quản khu vực này.
  • Bàn hoàn: Lưu luyến, ở lại.

Ba câu này nói về góc nhìn của Đồng Tử tại vị trí Trung Đan Điền hướng nhìn lên phía trên bầu trời Giáng Cung - Trung Đan Điền đến Thượng Đan Điền, nhìn thấy Minh Đường Cung, Huyền Đan Cung, khắp nơi đều sáng rực, đẹp đẽ như một dải châu ngọc liên kết với nhau.

Đồng Tử ấy chính là một vị Đạo Nhân, là Chân Tâm của hành giả ngồi tĩnh tọa an tịnh giữa Trung Đan Điền. Ở đây có thể hiểu Đồng Tử này chính là Tử Đan Đạo Nhân.

Câu 8 - 11:

Vấn thùy gia tử tại ngã thân

問誰家子在我身

Thử nhân hà khứ nhập Nê Hoàn

此人何去入泥丸

Thiên thiên bách bách tự tương liên

千千百百自相連

Nhất nhất thập thập tự trọng san

一一十十似重山

  • Tự tương liên: Vốn sẵn liên kết, tương hiệp với nhau.
  • Tự trọng san: Tựa như núi non trùng điệp.

Tâm tư chúng ta, vẫn thường tự vấn “Ta là ai”. Thì câu “Vấn thùy gia tử tại ngã thân” cũng có nghĩa giống vậy, câu này là tâm ta tự hỏi rằng “Là ai đang ở nơi thân ta”, có gì thuộc thân này, hay ta là một Tiểu Vũ Trụ, một phần của Đại Vũ Trụ vậy, ta và hư vô chẳng khác.

Hỏi rằng người ấy đã đến Nê Hoàn ra sao.

Khi đến thì có trăm trăm ngàn ngàn sự ứng hợp với thân này. Mỗi nhất cử nhất động, tỷ như núi sông trùng điệp của Tiểu Vũ Trụ này cũng đều rung động với người ấy.

Câu 12 - 14:

Vân Nghi, Ngọc Hoa hiệp nhĩ môn

雲儀玉華協耳門

Xích Đế, Hoàng Lão dữ ngã hồn

赤帝黃老與我魂

Tam Chân phù cốt cộng phòng tân

三真扶骨共房津

  • Vân Nghi, Ngọc Hoa: Tôn danh của hai vị Nữ Thần ở hai tai, đã từng được nhắc về hình dáng ở Chương 5.
  • Hiệp nhĩ môn: Hỗ trợ hai tai.
  • Xích Đế: Đức Linh Bảo Thiên Tôn, tức phần thân xác. Đây chính là phần Tinh, Ngọc Thanh trong Tam Thanh.
  • Hoàng Lão: Đức Thái Thượng Lão Quân, tức phần linh hồn. Đây chính là phần Thần, Thái Thanh trong Tam Thanh.
  • Dữ: Và.
  • Ngã hồn: Hồn ta, cái tôi chân thật của bản ngã. Ý chỉ về phần ý niệm, sự suy luận và phân biệt, lựa chọn của trí. Đây chính là phần Khí, Thượng Thanh trong Tam Thanh.
  • Tam Chân: Tam Thanh vừa nói bên trên.
  • Phù cốt: Hỗ trợ, quản lý chỉ đạo cho xương cốt.
  • Cộng phòng tân: Cùng với các cung, các phòng tức là các cơ quan, huyệt vị và nước dịch bên trong thân người.

Hai vị Nhĩ Thần Vân Nghi, Ngọc Hoa trông giữ hai cửa ở hai tai.

Xích Đế, Hoàng Lão và hồn ta, chính là Tam Thanh, Tam Thể của thân người giả hợp này.

Cả ba phần Tinh, Khí, Thần cùng nhau quản lý xương cốt với các huyệt đạo và tân dịch trong thân người.

Câu 15 - 18:

Ngũ Đẩu hoán minh thị Thất Nguyên

五斗煥明是七元

Nhật nguyệt phi hành lục hợp gian

日月飛行六合間

Đế Hương, Thiên Trung, Địa Hộ đoan

帝鄉天中地戶端

Diện bộ hồn thần giai tương tồn

面部魂神皆相存

  • Ngũ Đẩu: Ngũ Tinh Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ hoặc Đông, Tây, Nam, Bắc và trung tâm.
  • Hoán minh: Chiếu diệu, soi sáng.
  • Thất Nguyên: Thất Khiếu trên mặt lưu chuyển hấp thu Nguyên Khí.
  • Nhật nguyệt phi hành: Âm Dương vận hành lưu chuyển.
  • Lục hợp gian: Không gian lục phương gồm Đông, Bắc, Tây, Nam, Thượng, Hạ.
  • Đế Hương: Cõi Tiên, Cung Thiên, nơi Thần Tiên cư ngụ, ám chỉ đỉnh đầu.
  • Thiên Trung: Phần trán trên sống mũi.
  • Địa Hộ: Hai lỗ mũi.
  • Đoan: Ngay ngắn, thẳng hàng.
  • Diện bộ: Gương mặt.
  • Hồn thần: Tâm tình, tinh thần.
  • Giai tương tồn: Tồn tại tương ứng với nhau.

Ngũ Đẩu chiếu Ngũ Hành trên thân người, thông qua Thất Khiếu mà thân người hấp thụ Nguyên Khí của Thiên Địa.

Khí Âm Dương lưu chuyển khắp toàn thân.

Từ trên đỉnh đầu, qua trán, cho tới hai lỗ mũi là một đường thẳng tấp.

Gương mặt thể hiện tương ứng với tâm tình, tâm hồn của người. Thế nên người xưa mới nói “Tướng tại tâm sinh” là do vậy.

Luận bàn

Toàn bộ chương này nói về vị trí thẳng hàng của các Đan Điền so với các cung, các bộ phận dọc theo giữa thân người, mối liên hệ giữa Tinh, Khí, Thần và Tam Thanh.

Con người là một Tiểu Vũ Trụ, có các mối dây liên kết tương ứng với Đại Vũ Trụ Thiên Địa. Khi luyện Đạo thành tựu chứng đắc thì các huyệt đạo trên người, các vị trí đặc biệt có tụ khí nhiều sẽ sáng rực rỡ, đẹp đẽ lung linh vi diệu vô cùng.

Tam Thanh quản lý vận hành tất thảy từ xương cốt cho đến các huyệt vị và tân dịch trong thân.

Sự rung động của thân tâm một mảy may đều có cảm ứng tương liên với Thần, là phần tâm linh, linh hồn cư trú tại thân xác này. Tâm tình như thế nào, sẽ được hiển lộ tương ứng ra bộ mặt, tướng mạo.

Theo vị trí mô tả phương vị của Cửu Cung Nê Hoàn thì tới chương này chúng ta đã biết được 4 cung ở các vị trí từ bên ngoài nhìn vào trước mặt người:

  1. Minh Đường Cung 明堂宮 - Chánh Nam
  2. Động Phòng Cung 洞房宮 - Trung Ương
  3. Lưu Châu Cung 流珠宮 - Chánh Đông
  4. Huyền Đan Cung 玄丹宮 - Chánh Bắc

Hô Hấp Chương Đệ Nhị Thập Nhất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 5:

Hô hấp Nguyên Khí dĩ cầu Tiên

呼吸元氣以求僊

Tiên Công Công Tử tự tại tiền

僊公公子似在前

Chu điểu thổ súc, bạch thạch nguyên

朱鳥吐縮白石源

Kết Tinh dục bào hóa sinh thân

結精育胞化生身

Lưu thai chỉ Tinh khả trường sinh

留胎止精可長生

  • Hô hấp: Hít thở.
  • Nguyên Khí: Khí thanh sạch trong Thiên Địa.
  • Dĩ cầu Tiên: Để cầu trường thọ, trở thành Tiên.
  • Tiên Công Công Tử: Thần Công Tử, Can Thần.
  • Tự tại tiền: Thường ở phía trước.
  • Chu điểu: Chim đỏ, ý chỉ về lưỡi.
  • Thổ súc: Nhả nhổ tiết ra nước.
  • Bạch thạch: Đá trắng, ý chỉ về răng.
  • Nguyên: Nguồn gốc, căn bản, ý chỉ tuyến nước bọt trong khoang miệng.
  • Kết Tinh: Nguyên Khí kết tụ thành Tinh.
  • Dục bào: Nuôi dưỡng tế bào.
  • Hóa sinh thân: Biến hóa nên thân hình sống.
  • Lưu Thai chỉ Tinh: Nguyên Khí kết tụ thành Thánh Thai trong thân người, gìn giữ thân không bị hao mòn tinh huyết, lao tâm hay làm việc tổn hại sức lực quá mức.
  • Khả trường sinh: Có thể trường sinh.

Ở phần đầu chương này, kinh chỉ rõ người cầu trường sinh thì phải biết hấp thu Nguyên Khí của Thiên Địa. Việc hô hấp, nuốt nước bọt chính là quá trình đem Nguyên Khí của Thiên Địa vào thân người.

Tiên Công Công Tử là vị phụ trách việc vận hành tuyến nước bọt ở khoang miệng, nơi này tiết tân dịch thì lưỡi là chu điểu nhả nuốt châu ngọc chạm bạch thạch là răng. Ở Chương 12, chúng ta được biết về vị Can Thần này qua tôn danh Công Tử, phụ trách điều tiết tân dịch, giúp hài hòa hồn phách, tiêu trừ bệnh tật, cứu giúp người dù cho sắp vong thân mạng cũng có thể hoàn sinh.

Dùng Nguyên Khí ấy kết tinh lại thành Sinh Khí nuôi dưỡng các tế bào tạo nên hình hài thân mạng đang sinh sống. Lại phải biết gìn giữ Tinh được tráng kiện, bảo Tinh dưỡng Khí, không để tiêu hao, thất thoát qua các nghiệp bất thiện trong sinh hoạt đời thường.

Câu 6 - 10:

Tam Khí hữu hồi Cửu Đạo minh

三氣右徊九道明

Chánh nhất Hàm Hoa nãi sung doanh

正一含華乃充盈

Diêu vọng nhất tâm như la tinh

遙望一心如羅星

Kim Thất chi hạ khả bất khuynh

金室之下可不傾

Diên ngã bạch thủ phản hài anh

延我白首反孩嬰

  • Tam Khí: Khí ở Tam Đan Điền.
  • Hữu hồi: Đường vận hành khí huyết của Nhâm Mạch, thuộc Âm. Đi từ huyệt Hội Âm lên trên ở phía trước thông qua Tam Đan Điền.
  • Tả tuyền: Đường vận hành khí huyết của Đốc Mạch, thuộc Dương. Đi từ huyệt Trường Cường vòng lên theo đường cột sống ngang qua khu vực Tam Đan Điền.
  • Cửu Đạo minh ý chỉ Cửu Khiếu hanh thông, sáng lạng.
  • Chánh nhất: Thông suốt một đường, một thể.
  • Hàm Hoa: Ánh hào quang sáng rỡ lập lòe. Vị trí chỗ trái tim cũng được gọi là Hàm Hoa.
  • Nãi sung doanh: Lại mạnh mẽ, phát triển đủ đầy.
  • Diêu vọng: Trông xa.
  • Nhất tâm như la tinh: Một Chân Tâm sáng rực như bầu trời đầy sao.
  • Kim Thất chi hạ: Bên trong Kim Cang Tâm.
  • Khả bất khuynh: Không thể bị sụp đổ.
  • Diên ngã: Kéo dài tuổi thọ của ta.
  • Bạch thủ: Mái đầu bạc trắng.
  • Phản hài anh: Trở lại là đứa trẻ nhỏ.

Đoạn cuối chương này nói về sự vận hành của Sinh Khí ở Tam Đan Điền khi lưu chuyển khắp thân thể nuôi dưỡng các tế bào sẽ theo đường Nhâm Mạch từ dưới huyệt Hội Âm đi lên phía trước ngực, thông qua Tam Đan Điền.

Sinh Khí lưu chuyển toàn thân làm thông suốt hết Cửu Khiếu. Nơi lồng ngực, chỗ Trung Đan Điền, Tâm Bộ được bổ sung Sinh Khí, giúp tim được khỏe mạnh, ổn định khí huyết.

Nhìn ra xa, toàn thân đều rạng rỡ Sinh Khí, một tâm thần thanh sạch, thuần lương đẹp đẽ như bầu trời đầy sao.

Một Chân Tâm thuần lương, Kim Cang Tâm vững chãi như căn phòng vàng kiên cố, thì hiển nhiên người hành giả ấy sẽ không bị lụn bại. Câu này nhắc nhở hành giả gìn giữ tâm kiên định thuần lương thì đường tu Đạo sẽ được trường tồn.

Như vậy ta sẽ được trường tồn, đầu bạc cũng trở lại như trẻ nhỏ. Ta ở đây chính là Đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, vị viết nên quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh này theo thể thất ngôn. Ngài cũng tượng trưng cho phần Tinh của thân xác. Nên câu này nói về việc hồi xuân của thân tâm, dù lão niên cũng vô tư lự, an vui như trẻ nhỏ vô nhiễm. Cơ thể thì mạnh khỏe, linh hoạt dẻo dai.

Quỳnh Thất Chương Đệ Nhị Thập Nhị

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Quỳnh Thất chi trung Bát Tố tập

瓊室之中八素集

Nê Hoàn Phu Nhân đương trung lập

泥丸夫人當中立

Trường cốc, Huyền Hương nhiễu giao ấp

長谷玄鄉繞郊邑

Lục Long tán phi nan phân biệt

六龍散飛難分別

  • Quỳnh Thất: Căn phòng bằng ngọc quý, nơi Thần Tiên ở. Cụm từ này ý chỉ Nê Hoàn Cung, Thượng Huỳnh Đình.
  • Bát Tố: Tám loại nguyên chất đặc trưng của tự nhiên, Nguyên Khí của Bát Quái Bát Cung.
  • Nê Hoàn Phu Nhân: Nguyên Khí Âm Tính ở Nê Hoàn.
  • Trường cốc: Khoang mũi.
  • Huyền Hương: Đan Điền, Huỳnh Đình.
  • Nhiễu giao ấp: Vòng quanh hết thảy lãnh thổ.
  • Lục Long: Dòng Chân Khí ở Lục Phủ. Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:

      Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.

      Trung Tiêu là khu vực tì, vị.

      Hạ Tiêu là khu vực can, thận.

  • Tán phi: Bay ra khắp nơi.
  • Nan phân biệt: Khó lòng phân biệt được.

Nơi Quỳnh Thất, tức ám chỉ Nê Hoàn Cung, Thượng Huỳnh Đình, tập trung 8 loại Nguyên Khí của Bát Quái Cung là: Thánh Hỏa, Lôi Âm, Thanh Phong, Tịnh Thủy, Địa Linh, Dược Trì, Hoa Sơn, Thiên Hỷ. Bát Khí ấy tụ hợp lại nơi trung tâm của Hư Vô Cung - Động Phòng Cung - Quỳnh Thất.

Phần khí Âm ở Nê Hoàn vẫn đang cần được hấp thu Linh Khí Thiên Địa để trưởng dưỡng. Linh khí Thiên Địa khi hấp thu vào cơ thể sẽ thông qua khoang mũi, được dẫn đi vào Tam Đan Điền và lưu chuyển khắp người để nuôi dưỡng toàn thân.

Lúc bấy giờ, Lục Phủ khỏe mạnh, khí trong Lục Phủ phát tán ra toàn thân đều rất sung mãn, thế nên khó phân biệt được khí nào ở phủ nào.

Câu 5 - 7:

Trường sinh chí thận phòng trung cấp

長生至慎房中急

Hà vi tử tác lệnh Thần khấp

何為死作令神泣

Hốt chi họa hương Tam Linh một

忽之禍鄉三靈歿

  • Chí thận: Phải gìn giữ, thận trọng vô cùng.
  • Phòng trung: Việc phòng the chăn gối, quan hệ xác thịt.
  • Cấp: Gấp, quan trọng, phải nhanh mới được.
  • Hà vi tử tác: Cớ sao tự mình tìm chỗ chết.
  • Lệnh Thần khấp: Làm cho chư Thần đau xót khóc thương.
  • Hốt chi: Vì sự chểnh mảng thiếu quan tâm.
  • Họa hương: Quê hương bị tai họa, ý chỉ việc Tam Huyền Hương, Tam Đan Điền bị tổn hại Nguyên Khí, tiêu tán khí, tàn hại suy thoái theo thời gian.
  • Tam Linh chỉ về Tinh, Khí, Thần.

Người cầu trường sinh, nhất định phải mau mau biết tiết chế, tránh xa chuyện dâm dục, phòng the. Cớ sao lại tự mình tìm chỗ chết, làm cho vị Tâm Thần đau xót khóc thương.

Vì sự chểnh mảng lười nhác, chẳng quan tâm đến thân tâm mình, mà người ta khiến cho Tam Đan Điền bị tổn hại. Tinh Khí, Nguyên Khí, Sinh Khí tiêu tán thất thoát theo thời gian. Tinh Khí Thần hao mòn, suy tàn rồi chết dần.

Câu 8 - 12:

Đãn đương hấp khí lục tử tinh

但當吸氣錄子精

Thốn điền xích trạch khả trị sinh

寸田尺宅可治生

Nhược đương quyết hải bách độc ẩm

若當決海百瀆飲

Diệp khứ thụ khô thất thanh thanh

葉去樹枯失青青

Khí vong dịch lậu phi kỷ hình

氣亡液漏非己形

  • Đãn đương: Nhưng mà, nếu như.
  • Hấp khí: Hít thở, hấp thu Linh Khí.
  • Lục tử tinh: Biết lựa chọn điều gì là tốt cho tâm thân mình.
  • Thốn điền xích trạch: Tấc ruộng thước nhà, ý chỉ khu vực Đan Điền và các cung trong thân.
  • Khả trị sinh: Có thể giữ gìn thân mạng.
  • Nhược đương: Nếu như.
  • Quyết hải: Tâm chí, lòng quyết tâm như biển.
  • Bách độc ẩm: Trăm dòng chảy khô cạn đổ về.
  • Diệp khứ thụ khô: Lá rụng, cây khô héo.
  • Thất thanh thanh: Chẳng còn xanh tươi nữa.
  • Khí vong: Khí bị tiêu tán.
  • Dịch lậu: Huyết dịch bị thất thoát.
  • Phi kỷ hình: Thân hình bị hao mòn, chẳng còn nguyên vẹn.

Nhưng mà, người biết hít thở đúng cách, hấp thu Linh Khí Thiên Địa được tốt, biết lựa chọn đưa cái gì nạp vào thân tâm mình, thì mấy tấc ruộng và nhà đều có thể điều phục, nuôi dưỡng cho thân mạng được tươi tốt. Đan Điền là những nơi lưu trữ năng lượng, xích trạch là các cung trong thân, vừa có sự hoạt động tốt, lại vừa có đủ năng lượng dự trữ thì có thể giữ được sinh mạng lâu dài.

Nếu tâm chí chẳng mạnh, như biển kia chẳng có trăm sông đổ về làm đầy thì cạn khô. Lại như cây khô trụi lá, chẳng còn xanh tốt. Câu này ý chỉ người có tâm tu luyện nhưng ý chí khinh lờn, biếng nhác, không đủ vững mạnh thì thân thể cũng già nua cằn cỗi theo năm tháng, rồi chết. Tinh, Khí trong người đều thất thoát tiêu tán, khiến cho thân hình chẳng còn nguyên vẹn, bị suy tàn.

Câu 13 - 18:

Chuyên bế ngự cảnh nãi trường ninh

專閉御景乃長寧

Bảo ngã Nê Hoàn, Tam Kỳ Linh

保我泥丸三奇靈

Điềm đạm bế thị nội tự minh

恬淡閉視內自明

Vật vật bất can thái nhi bình

物物不干泰而平

Khác hĩ phỉ sự lão phục đinh

慤矣匪事老復丁

Tư vịnh Ngọc Thư nhập Thượng Thanh

思詠玉書入上清

  • Chuyên bế: Chuyên tâm bế quan tu luyện.
  • Ngự cảnh: Chân tâm phải làm chủ được các sự rung động của cảnh giới quanh mình lẫn từ trong tâm cảm xuất hiện, giữ tâm bình lặng bất nhiễm thanh tịnh, không động.
  • Nãi trường ninh: Thì thường an tịnh, bình yên dài lâu.
  • Bảo ngã: Gìn giữ ta, ý là gìn giữ thân được thanh tịnh vô nhiễm trần cấu. Ta ở đây là Đức Linh Bảo Thiên Tôn đang nói, nên tượng trưng cho phần Tinh đó vậy.
  • Tam Kỳ Linh: Ba vị Thần kỳ diệu, ý chỉ về Tam Đan Điền, Tam Huỳnh Đình.
  • Điềm đạm: Chậm rãi an nhiên, nhẹ nhàng tự tại.
  • Bế thị: Đóng mắt lại, ý nói không dòm ngó, phán xét, so sánh thị phi.
  • Nội tự minh: Tự nhiên tâm sáng.
  • Vật vật bất can thái nhi bình: Không can dự vào chuyện thị phi, tự nhiên bình yên tĩnh lặng.
  • Khác hĩ: Thành thật, chân thành.
  • Phỉ sự: Thì việc, cách nói hoa mỹ về một việc gì đó cần được nhấn mạnh.
  • Lão phục đinh: Lão niên hoàn phục trở thành cường tráng.
  • Tư vịnh Ngọc Thư nhập Thượng Thanh: Chiêm nghiệm, ngâm xướng ngọc thư, tức Huỳnh Đình Kinh hoặc các bản Chân Kinh quý báu khác.
  • Nhập Thượng Thanh: Thăng Thiên, nhập cõi Thượng Thanh.

Toàn bộ phần cuối gồm 6 câu này nhấn mạnh việc chuyên tâm tu luyện, bế quan, không can dự các sự thị phi, điềm đạm an yên trước thế tục tình trường. Phải để đầu óc được nhẹ nhàng thư thái chẳng phiền não, như thế thì Tinh Khí Thần bất nhiễm trần cấu, tự nhiên thanh tịnh, an ninh dài lâu, tâm trí sáng lạng có thể đạt được trí tuệ ưu việt.

Người chân thành với đường tu tập, thì tất nhiên sẽ được kết quả xứng đáng, như người già yếu cũng trở lại tráng kiện vậy.

Thường xuyên xướng ngâm các bản kinh quý báu, lại chiêm nghiệm thâm tàng ý nghĩa sâu sắc của Ngọc Kinh ấy, rồi thực hành sửa mình theo các hạnh đức mà kinh truyền dạy. Người làm được những việc như thế, thì có thể đắc trường sinh, thành Thần Tiên, thân tâm thuần khiết thiện lương có thể thăng Thiên, nhập vào cõi Thượng Thanh vậy.

Thường Niệm Chương Đệ Nhị Thập Tam

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Thường niệm Tam Phòng tương thông đạt

常念三房相通達

Động phục thị kiến vô nội ngoại

洞得視見無內外

Tồn sấu Ngũ Nha bất cơ khát

存漱五芽不飢渴

Thần Hoa chấp cân Lục Đinh yết

神華執巾六丁謁

  • Thường niệm: Thường nghĩ tưởng, quán chiếu.
  • Tam Phòng bao gồm Minh Đường, Động Phòng Cung và Huyền Đan Cung
  • Tương thông đạt: Có thể thấu suốt, cảm nhận rõ ràng.
  • Động phục: Quay lại vào trong.
  • Thị kiến: Nhìn thấy.
  • Vô nội ngoại: Thấu suốt tính không từ trong tâm đến bên ngoài.
  • Tồn sấu: Gìn giữ, làm sạch.
  • Ngũ Nha: Năm chồi cây, ý chỉ Ngũ Hành, Ngũ Khí trong thân tương hiệp thì sinh sôi nảy nở năng lượng Sinh Khí, nên gọi năng lượng ấy là Ngũ Nha.
  • Bất cơ khát: Không đói khát.
  • Thần Hoa: Vị Thần sáng rực rỡ, ý chỉ phần linh hồn vĩ đại luôn soi sáng, dìu dắt con người hướng về Chân Thiện Mỹ.
  • Chấp cân: Quản lý, điều hành.
  • Lục Đinh yết: Lục Căn tuân lệnh theo tâm ý. Lục Căn bao gồm Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý.

Người nào thường làm việc quán chiếu thân tâm, quan sát nội tại của mình, giữa tâm tình tịnh lặng thì cả Tam Đan Điền đều sẽ được tương thông hoạt khí tốt. Lại có thể nhìn thấy rõ ràng tính không, vô thường của muôn vật.

Người biết gìn giữ Ngũ Khí, đào luyện khí ấy cho thanh khiết trong sạch, thì nguồn khí tươi nhuận ấy tức thì nuôi dưỡng toàn thân, không lo chuyện đói khát vậy.

Lúc bấy giờ, Tâm, Thần làm chủ thân này, chế ngự được Lục Căn của thân tâm mình hòa hợp theo sự thanh tịnh, thuần lương.

Câu 5 - 8:

Cấp thủ tinh thất vật vọng tiết

急守精室勿妄泄

Bế nhi bảo chi khả trường hoạt

閉而寶之可長活

Khởi tự hình trung sơ bất khoát

起自形中初不闊

Tam Quan cận tại dịch ẩn quát

三官近在易隱括

  • Cấp thủ: Nhanh chóng gìn giữ, sớm bảo vệ, gìn giữ quan trọng.
  • Tinh thất: Gian phòng thanh sạch, ý chỉ về xá thân của hành giả.
  • Vật vọng tiết: Tiết chế, kiềm hãm, xả bỏ bớt những vọng niệm.
  • Bế nhi bảo chi: Phong bế những vật báu của bản thân, ý chỉ về Lục Căn nơi thân người.
  • Khả trường hoạt: Có thể hoạt động dài lâu.
  • Sơ bất khoát: Không viễn vông, cách biệt với lúc sơ khai ban đầu.
  • Cận tại: Ở những nơi gần nhau.
  • Dịch ẩn quát: Di chuyển lặng lẽ đến.

Hành giả cần gìn giữ thân tâm thật tốt, không để bị vọng động theo những rung động của ham muốn thế tục tình trường.

Việc phong bế Lục Căn, gìn giữ thanh tâm, không sa đà theo ham muốn thường tình sẽ giúp cơ thể mạnh khỏe lâu dài. Như thế, thân tâm hiện tại của hành giả sẽ dần hoàn phục, không khác với thuở ban sơ thanh tịnh thuần khiết.

Tinh Khí Thần ở Tam Đan Điền có thể di chuyển thay đổi vị trí ở các Đan Điền khi đã hòa hợp được Tinh Khí Thần. Nguồn năng lượng ở từng Đan Điền ấy lại tương tác, điều phục cho tất cả các cơ quan xung quanh để giúp cho cơ thể hoàn toàn kiện khang, trường thọ theo thời gian.

Câu 9 - 14:

Hư vô tịch tịch không trung tố

虛無寂寂空中素

Sử hình như thị bất đương ô

使形如是不當污

Cửu Thất chánh hư Thần Minh xá

九室正虛神明舍

Tồn tư bách niệm thị tiết độ

存思百念視節度

Lục Phủ tu trị vật lệnh cố

六腑修治勿令故

Hành tự cao tường nhập vân lộ

行自翱翔入雲路

  • Hư vô tịch tịch không trung tố: Hư vô vốn lặng yên, thanh tịnh thuần khiết.
  • Sử hình như thị bất đương ô: Làm được như vậy, thân người sẽ không bị ô nhiễm.
  • Cửu Thất: Cửu Cung Nê Hoàn.
  • Chánh hư: Thật trống rỗng, vắng lặng.
  • Thần Minh xá: Nơi của Thần cư ngụ.
  • Tồn tư bách niệm: Giữ gìn tâm trí, hàng trăm dòng suy nghĩ loạn động.
  • Thị: Quan sát, suy nghiệm.
  • Tiết độ: Tiết chế bản thân, đưa bản thân vào khuôn phép.
  • Tu trị: Sửa chữa, nuôi dưỡng.
  • Vật lệnh cố: Chớ sai khiến phải chết, chớ tự tìm chỗ chết.
  • Cao tường: Bay liệng, ngao du.
  • Nhập vân lộ: Du ngoạn đường mây, ý chí việc thành Tiên, thong dong tự tại.

Khi Tam Bảo của người là Tinh Khí Thần đã hòa hợp được tốt, tức nhiên Tiểu Vũ Trụ ấy được thanh tịnh, không còn loạn động. Khi ấy, thân tâm của hành giả đều được thanh tịnh như khí chất thuần khiết tịch tĩnh của hư vô vậy, chẳng nhiễm trần cấu ô trược của trần kiếp nữa.

Cửu Cung Nê Hoàn thanh tịnh, thuần lương, tịch tĩnh như hư không thì khi ấy mới trở thành chỗ cho Thần Minh cư ngụ. Lúc ấy trí tuệ sẽ được khai sáng, giác ngộ lẽ thâm huyền của Đạo tự nhiên vận hành Thiên Địa.

Gìn giữ tâm tình, tư niệm của bản thân, không để phóng túng ra ngoài, không để cho tâm niệm bị loạn động. Quan chiếu thân tâm, lý nhân duyên để tiết chế tâm tình không sản sinh tạp niệm.

Gìn giữ Lục Phủ Ngũ Tạng, nuôi dưỡng, giúp hồi phục cân bằng để khỏe mạnh, chớ đẩy nó vào chỗ hoại diệt bằng việc thiếu quan tâm và đưa vào người những thứ không thích hợp.

Làm được các việc được liệt kê bên trên, thì tự nhiên người hành giả ấy thong dong tự tại, thần thức có thể du ngoạn Tam Giới, nhập Tiên Cảnh.

Trị Sanh Chương Đệ Nhị Thập Tứ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Trị Sanh Chi Đạo liễu bất phiền

治生之道了不煩

Đãn tu động huyền dữ Ngọc Thiên

但修洞玄與玉篇

Kiêm hành hình trung Bát Cảnh Thần

兼行形中八景神

Nhị Thập Tứ Chân xuất tự nhiên

二十四真出自然

  • Liễu bất phiền: Chẳng còn buồn lo, sầu khổ.
  • Đãn tu: Hễ tu luyện.
  • Động huyền: Thấu suốt, sâu xa huyền nhiệm.
  • Dữ Ngọc Thiên: Cùng với Ngọc Kinh này.
  • Kiêm hành: Kết hợp với việc thực hành.
  • Hình trung: Trong thân tâm.
  • Bát Cảnh Thần: Bát Quái Cung Chi Thần, là tất cả các vị Thần cai quản các cơ quan hoạt động của thân tâm.
  • Nhị Thập Tứ Chân: 24 vị Chân Nhân, chỉ về các vị Thần Tiết Khí của Thiên Địa.
  • Xuất tự nhiên: Biến hóa nên các hiện tượng trong tự nhiên.

Đạo Trị Sinh là pháp dưỡng sinh thuận theo lẽ Đạo tự nhiên của Thiên Địa, giúp cho hành giả phủi sạch vướng bận phiền não. Hễ tu theo Ngọc Kinh này một cách thấu suốt, là trưởng dưỡng Tam Đan Điền, đặc biệt là Huyền Quan Khiếu.

Người nào thực hành theo Ngọc Kinh, có thể cảm ứng với Bát Cảnh Thần ngự trị trong thân tâm của mình. Lại có thể thông đạt với 24 vị Thần trông coi tiết khí của Thiên Địa, ứng hiệp sự vận hành thay đổi âm dương của Thiên Địa với sự vận hành âm dương nơi thân tâm hành giả.

Câu 5 - 8:

Cao củng vô vi hồn phách an

高拱無為魂魄安

Thanh tịnh Thần kiến dữ ngã ngôn

清淨神見與我言

An tại Tử Phòng vi mạc gian

安在紫房幃幙間

Lập tọa thất ngoại Tam Ngũ Huyền

立坐室外三五玄

  • Cao củng: Khu vực nổi cao lên.
  • Hồn phách an: Tinh thần bình yên.
  • Thần kiến dữ ngã ngôn: Diện kiến Thần Linh và nghe được tiếng ta.
  • An tại Tử Phòng: An trú tại Tử Phòng, tức Động Phòng Cung thuộc Nê Hoàn.
  • Vi mạc gian: Gian phòng có tấm rèm che phủ.
  • Lập tọa thất ngoại: Đứng ngồi ngoài phòng, phòng này là Tử Phòng.
  • Tam Ngũ Huyền chỉ về Tam Tố Vân và Ngũ Hoa. Tam Tố Vân là ba chất khí của can, tì, phế. Ngũ Hoa là Ngũ Tạng, bao gồm tâm, can, tì, phế, thận. Huyền ý chỉ về sự vận hành thâm sâu.

Hồn phách an định ở nơi cao nhất của thân, là trên đỉnh Nê Hoàn, nơi chư Thần tụ hội.

Khi thân tâm thanh tịnh, thì có thể diện kiến Thần Minh, chính là minh tâm kiến tánh, thấy Tánh Chân Thật của mình và nghe được tiếng ta. Tiếng ta ở đây chính là tiếng của Thần, tiếng của lương tri lương năng, của Chân Tánh. Chỉ có an tịnh, thanh tĩnh mới có thể đạt được trạng thái nghe nhìn thấy Thần Minh này.

Chư Thần đều an định tại Tử Phòng, tức Động Phòng Cung có tấm màn che phủ. Đứng ngồi bên ngoài Động Phòng Cung lại có Tam Tố Vân là khí chất của can, tì, phế nuôi dưỡng Ngũ Hoa.

Bốn câu này miêu tả về cảnh sắc chư Thần trong thân cùng nhau hội tụ về Động Phòng Cung hay còn được gọi là Tử Phòng, ở trung ương Nê Hoàn khi thân tâm hành giả được nhập định, thanh tịnh, minh tâm kiến tánh. Bên ngoài Tử Phòng này thì năm vị Thần cai quản Ngũ Tạng vẫn luôn tạo tác nên Tam Tố Vân là chất khí của can, tì, phế tiết ra để bảo dưỡng Ngũ Tạng trong quá trình nhập định minh tâm kiến tánh ấy. Tức khi thân tâm thanh tịnh thì Ngũ Tạng vẫn phải luôn hoạt động để duy trì sinh mệnh của thân này vậy.

Câu 9 - 11:

Thiêu hương tiếp thủ Ngọc Hoa tiền

燒香接手玉華前

Cộng nhập Thái Thất, Tuyền Ki Môn

共入太室璇璣門

Cao nghiên điềm đạm Đạo chi viên

高研恬淡道之園

  • Thiêu hương: Thắp hương.
  • Tiếp thủ: Tiếp nối nhau làm.
  • Ngọc Hoa tiền: Giữa trán trước hai chân mày, cũng là Minh Đường Cung trong Cửu Cung Nê Hoàn.
  • Cộng nhập: Cùng vào.
  • Thái Thất: Thái Huyền Chi Thất, ý chỉ về Huyền Đan Cung ở Nê Hoàn, thuộc hướng Bắc.
  • Tuyền Ki Môn: Cửa Cung Bắc Đẩu.
  • Cao nghiên điềm đạm: Thanh tĩnh thong thả.
  • Đạo chi viên: Vườn Đạo, ý chỉ tâm thức mở ra một sự hiểu biết về lẽ Đạo tự nhiên huyền vi màu nhiệm, như người được mở mang tầm mắt khi du nhập vào hoa viên muôn màu muôn vẻ vậy.

Các vị Thần của Ngũ Hoa bên ngoài Tử Phòng, đứng ngồi chờ đợi, rồi cùng tiếp nối nhau thắp hương ở Ngọc Hoa tiền, cũng là Minh Đường Cung. Hình ảnh được miêu tả này nói về việc Ngũ Khí Triều Nguyên.

Ngũ Khí trong người sau khi được tinh luyện, sẽ đi qua Minh Đường Cung thắp lên tia sáng ở đấy, nên chỗ Ấn Đường của hành giả luyện khí công Đan Đạo thường sẽ có một chấm nhỏ nốt ruồi đỏ son, hoặc là một lỗ hõm vào trong, có khi sẽ hơi lồi ra ngoài một chút xíu.

Cả ba dị tướng này đều thể hiện việc Ngũ Khí đã hội hiệp lên tới Minh Đường Cung, còn hội hiệp ở đó xong rồi tiếp theo thế nào thì còn tùy duyên mỗi người. Người luyện khí sẽ có cảm giác năng lượng tụ hội ở giữa trán rất rõ, có khi ê ẩm, đau buốt, như một vòng xoáy rất mạnh xuất hiện ở đấy. Có khi thấy nóng râm ran, có khi lại thấy lạnh buốt. Có khi thấy tê rần, có khi lại thấy dễ chịu sảng khoái cực độ. Các biểu hiện này là do loại khí nào trong Ngũ Khí đang vận hành mãnh liệt vượt trội hơn bốn loại khí chất còn lại, hay là cả Ngũ Khí đều tương đồng, hòa quyện vào nhau.

Sau khi Ngũ Khí tập hợp ở đấy, sẽ cùng nhau tiến về phía Thái Thất ở Nê Hoàn, là Thái Huyền Chi Cung, Huyền Đan Cung ở hướng Chánh Bắc trên Cửu Cung Bát Quái Đồ ở Nê Hoàn. Nơi này gọi là Tuyền Ki Môn, cũng chính là cửa Cung Bắc Đẩu trên bầu trời của Tiểu Vũ Trụ châu thân người.

Gọi đây là cửa Cung Bắc Đẩu, là định tinh của Tiểu Vũ Trụ vì đây thuộc khu vực của Tuyến Tùng (Tùng Quả Thể) và Tiểu Não, là bộ phận giúp con người cảm ứng với các sự thay đổi tiết khí trong Thiên Địa. Một cửa liên thông với Đại Vũ Trụ ngoài Động Phòng Cung.

Khi tâm thân hành giả thanh tịnh, hòa được với sự tịch tĩnh của thiên nhiên, cũng là lúc minh tâm kiến tánh, thông đạt được lẽ huyền vi màu nhiệm của Thiên Địa, lý Nhân Duyên.

Ba câu này tiết lộ cho chúng ta thấy về Nê Hoàn Đồ một cách rõ nét. Nơi đây có Minh Đường Cung - Ấn Đường thuộc Chánh Nam, đối xứng với Huyền Đan Cung - Thái Thất - Tiểu Não và Tuyến Tùng.

Khi Ngũ Khí tụ hội ở đại huyệt Luân Xa thứ 6 từ dưới tính lên dọc theo cột sống, thì hai cung này hoạt động mạnh ở hai vị trí trước và sau của thân người, biểu trưng cho cánh cửa minh triết, mở một con đường vào Đạo Viên, Đạo Lộ, mở ra cánh cửa để Tiểu Vũ Trụ của người và Đại Vũ Trụ của Thiên Địa hòa hợp nhau.

Câu 12 - 14:

Nội thị mật phán tận đổ Chân

內視密盼盡睹真

Chân Nhân tại kỷ mạc vấn lân

真人在己莫問鄰

Hà xử viễn tác cầu nhân duyên

何處遠索求因緣

  • Nội thị mật phán: Quán sát vào nội tại bên trong.
  • Tận đổ Chân: Tường tận Chân Tánh của mình.
  • Chân Nhân tại kỷ: Chân Nhân tại nơi mình.
  • Mạc vấn lân: Chẳng cần đi tìm kiếm hỏi han đâu gần xa.
  • Hà xử viễn tác: Sao mong tìm chi xa xôi.
  • Cầu nhân duyên: Cầu mong nương tựa nơi nào.

Quán sát thật kỹ, thật sâu vào nội tại bên trong của bản thân mỗi người. Khi sự tịnh tĩnh đạt được cảnh giới của hư không vắng lặng, là lúc nhìn thấy được Chân Tánh của mình.

Chân Tánh thanh tịnh, vô nhiễm, như nhiên.

Đạo tại Tâm.

Minh Sư tại Tâm.

Đó chính là vị sư Hư Vô, là Thiên Tánh thuần lương, toàn giác toàn năng và toàn mỹ đó vậy.

Chẳng cần đi đâu vọng tìm bên ngoài xa xôi, hãy thực hành quán chiếu tâm tình của mình một cách sâu sắc, lắng đọng tâm tình, để cho thân tâm tịch tĩnh vắng lặng thì hòa điệu được với Chân Tánh của Đại Vũ Trụ vậy.

Bản gốc trang 217
Bản gốc trang 217 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải V · Chương 25–30: Ẩn Ảnh Đến Tử Thanh

Ẩn Ảnh Chương Đệ Nhị Thập Ngũ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 5:

Ẩn ảnh tàng hình dữ thế thù

隱影藏形與世殊

Hàm khí dưỡng tinh, khẩu như châu

含氣養精口如朱

Đái chấp tính mệnh thủ hư vô

帶執性命守虛無

Danh nhập Thượng Thanh, tử lục trừ

名入上清死錄除

Tam Thần chi lạc do ẩn cư

三神之樂由隱居

  • Ẩn ảnh tàng hình: Lánh mình ẩn dật.
  • Dữ: Và, với, cùng.
  • Thế thù: Đoạn tuyệt với chuyện đời.
  • Đái chấp tính mệnh: Chuyên tâm chăm lo, bảo tồn mạng sống.
  • Thủ hư vô: Giữ gìn tâm thuần khiết.
  • Danh nhập Thượng Thanh: Người nhập được vào cõi Thượng Thanh.
  • Tử lục trừ: Được gạch tên khỏi sổ tử.
  • Tam Thần chi lạc: Niềm vui của ba vị Thần.
  • Do ẩn cư: Là do việc sống ẩn dật.

Lánh mình ẩn dật cách biệt những tranh đua thiệt hơn của thế gian thường tình.

Bảo dưỡng Tinh Khí, tịnh khẩu nghiệp, điều gì đã thốt ra thì như châu ngọc, không nói thừa, không nói điều thị phi vô ích, không ăn những thứ không phù hợp với lẽ Đạo.

Chuyên tâm gìn giữ tính cách, đời sống của mình sao cho thanh tịnh, thuần lương như hư vô vậy.

Người làm được những điều ấy, tự nhiên có tên nơi cõi Thượng Thanh, tức có tên trong Tiên Tịch, được gạch tên khỏi đường chết của sự luân hồi sinh tử lẩn quẩn nơi cõi tạm này.

Do sự ẩn cư, tránh những phiền não của đời mà có được niềm vui của Tam Thần, tức Tinh Khí Thần được hòa hợp, thuần nhất trong an lạc.

Câu 6 - 10:

Thúc hốt du ngao vô di ưu

倏欻遊遨無遺憂

Vũ phục nhất chỉnh bát phong khu

羽服一整八風驅

Khống giá Tam Tố thừa thần hà

控駕三素乘晨霞

Kim liễn chánh vị tòng ngọc dư

金輦正位從玉輿

Hà bất đăng san tụng ngã thư

何不登山誦我書

  • Thúc hốt du ngao: Rong chơi chớp nhoáng.
  • Vô di ưu: Không để lại cái lo về sau.
  • Vũ phục: Áo lông, ý nói áo Tiên có thể thong dong tự tại.
  • Nhất chỉnh: Sửa sang cho ngay ngắn, chỉnh tề.
  • Bát phong khu: Gió của tứ phương tám hướng dọn đường.
  • Khống giá: Cầm nắm, điều khiển xe quý.
  • Tam Tố Vân: Ba sắc mây thuần khiết, ý chỉ về ba chất khí của can, tì, phế.
  • Thừa thần hà: Bay trên mây trời trong ánh sớm bình minh.
  • Kim liễn chánh vị: Xe vàng của người mang chánh danh tôn quý, chỉ về quả vị của người tu hành chân chánh.
  • Tòng ngọc dư: Dựa vào xe ngọc.
  • Hà bất đăng san: Tại sao không lên núi.
  • Tụng ngã thư: Trì tụng bản kinh của ta, ý chỉ về Huỳnh Đình Kinh.

Nhanh chóng lánh đường trần tục thong dong tự tại, chẳng để ưu phiền trong lòng. Thân mang áo Tiên chỉnh tề, đi đâu cũng được bát phong dọn đường tiêu sái.

Thân có thể làm chủ mây lành, lại có thể bay trên mây trời trong ánh bình minh. Lại có xe vàng, kiệu ngọc đưa đón. Những điều tốt lành như thế là quả vị cho người tu hành.

Vậy sao còn không lên núi tụng kinh của ta? Ta ở đây là Đức Linh Bảo Thiên Tôn, ngài đã biên soạn nên Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh.

Đoạn này nói về người hành giả lánh đường trần tục, tâm thân được tự do. Thần thức có thể du hành thưởng thứ những cảnh đẹp một cách thong dong tự tại chẳng hề vướng bận chi cả. Có thể cưỡi mây lành trong ánh bình minh, có thể được đưa rước bằng xe vàng kiệu ngọc, lại được bát phong dọn đường. Nên lên núi ẩn cư mà chuyên tâm tu luyện để trải nghiệm những điều như thế.

Câu 11 - 13:

Uất uất yểu điệu Chân Nhân khư

鬱鬱窈窕真人墟

Nhập san hà nan cố trù trừ

入山何難故躊躇

Nhân gian phân phân xú như như

人間紛紛臭如帤

  • Uất uất: Sum suê, tươi tốt, rậm rạp.
  • Yểu điệu: Đẹp đẽ, thâm u, sâu vắng.
  • Chân Nhân khư: Đất phù hợp với Chân Nhân.
  • Nhập san: Vào núi.
  • Hà nan: Khó chăng?
  • Cố trù trừ: Sao chần chừ.
  • Nhân gian phân phân: Thế gian tranh chấp đúng sai, thiệt hơn.
  • Xú như như: Mùi như vải thô.

Nơi núi đồi xanh thẳm tươi đẹp là chốn của Chân Nhân cư trú.

Vào núi có khó chăng sao cứ do dự chần chừ? Chốn nhân gian tranh chấp thiệt hơn như mùi vải thô khó ngửi vậy.

Ba câu này nói về người muốn thực tâm tu Đạo thì cần nên lánh chốn thị phi thế gian tranh đấu thường tình, đến nơi thanh tịch, gần gũi thiên nhiên trong lành. Đó là nơi Địa Linh tốt, phù hợp cho việc bảo dưỡng Tinh Khí, tu dưỡng tâm tánh sao cho hoàn toàn trong sạch, thuần lương, tịch tĩnh như hư không vậy.

Ngũ Hành Chương Đệ Nhị Thập Lục

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Ngũ Hành tương thôi phản quy nhất

五行相推反歸一

Tam Ngũ hợp khí Cửu Cửu Tiết

三五合氣九九節

  • Tương thôi: Sự vận hành tương sinh và tương khắc nhau.
  • Phản quy nhất: Trở về với một gốc sản sinh vạn vật chính là Hư Vô.
  • Tam Ngũ: Tam Bảo Tinh Khí Thần và Ngũ Hành trong thân.
  • Cửu Cửu Tiết: Cửu Khí của tâm tình (có đề cập ở Chương 2) ứng với Cửu Khí ở Cửu Cung, hòa hợp nhau thành một thể thống nhất.

Ngũ Hành, Ngũ Khí trong thân vận hành sinh khắc lẫn nhau, hành giả dụng tâm chế ngự, điều phục để tất thảy Ngũ Hành, Ngũ Khí này được hòa hợp thành một khối thống nhất, hòa với khí Hư Vô, Thái Cực trong người.

Tinh Khí Thần cùng với Ngũ Khí này hòa hợp lại với nhau, lúc bấy giờ Cửu Khí của tâm tình hành giả đều tịnh lặng, lại hòa quyện với Cửu Khí của Cửu Cung trong thân. Tất thảy đều hòa hợp trong một thể thống nhất, trọn lành, viên mãn.

Câu 3 - 5:

Khả dụng ẩn địa hồi Bát Thuật

可用隱地廻八術

Phục ngưu U Khuyết la phẩm liệt

伏牛幽闕羅品列

Tam Minh xuất ư sinh tử tế

三明出於生死際

  • Khả dụng ẩn địa: Biết cách ứng dụng nơi hành giả cư trú. Ở đây nhắc về vị trí địa lý, vị thế ẩn cư chuyên tu để lấy được Linh Khí Thiên Địa.
  • Hồi Bát Thuật: Phương thức điều luyện Bát Quái trong thân tương ứng theo sự vận hành Bát Quái trong tự nhiên.
  • Phục ngưu: Chế ngự ngưu tánh, ý chỉ những thói quen phàm tục.
  • U Khuyết: Nơi tịnh lặng cao quý, tức Nê Hoàn Cung, Huyền Quan Khiếu.
  • La phẩm liệt: Hằng ha sa số thứ được bày ra.
  • Tam Minh: Ba tia sáng, ý chỉ về Tam Đan Điền, Tam Huỳnh Đình.
  • Xuất ư: Phát xuất ra.
  • Sinh tử tế: Bờ sinh tử.

Thiên Địa có Bát Quái tượng nên muôn hình vạn trạng thiên nhiên tạo hóa. Người cũng có Bát Quái trong thân, Bát Quái này có sự vận hành tương ứng với khí tự nhiên Thiên Địa. Cách thức điều dưỡng, dung hòa để Bát Quái trong thân nương tựa theo sự vận hành Bát Quái tự nhiên được gọi là Bát Quái Thuật.

Hành giả tu luyện cần biết lựa chọn nơi có Linh Khí tốt cho việc tu dưỡng thân tâm, ở đấy ẩn cư, tĩnh tu, điều phục cho Bát Quái Khí trong thân nương tựa theo Bát Quái Khí của Thiên Địa. Nhờ vậy hành giả có thể bảo tồn, trưởng dưỡng cho khí của bản thân được hòa hợp và trường tồn cùng Thiên Địa vậy.

Khi tất thảy thân tâm đã hòa điệu cùng nhau, những tạp niệm, phàm tánh thế tục tình trường của hành giả vẫn còn nhen nhóm từ tận sâu thẳm trong tiềm thức ý niệm. Đây có thể được hiểu như là sự tinh lọc thân tâm cần có thời gian để giải quyết rất nhiều thứ đã vướng nhiễm nơi hồn phách qua nhiều đời nhiều kiếp. Cũng có thể hiểu đó là thử thách khảo đảo từ tâm ý của hành giả, vì việc tu tâm dưỡng tánh, giữ mình thanh bạch, bất nhiễm, tịch tĩnh là việc cả đời chứ chẳng phải một lần luyện Đạo là xong vậy. Những phàm tánh ấy, Đạo Gia gọi là ngưu tánh. Nếu để ngưu tánh làm càng quấy, thì phải tán tinh tổn khí, tâm thần tán loạn, chẳng hề bảo tồn đặng.

Người luyện Đạo cần chế phục được ngưu tánh này, để nó không còn vọng động. Khi ấy tất cả các dòng khí trong người mới thực sự hòa hợp, quy tụ về nơi U Khuyết, tức Huyền Quan Khiếu nơi Nê Hoàn vậy. Khi tịnh lặng các tạp niệm của tiềm thức, tất thảy mọi lý sự hành giả từng vướng mắc dần được hiển lộ, phơi bày rõ ràng hết mọi việc.

Lúc thân tâm, trí não đều an tịnh, tịch tĩnh, trạng thái ấy chính là nơi bờ sinh tử vậy. Tử của những tánh phàm, trần tình ô trược, và sinh của sự thanh tịnh, thiên lương. Bấy giờ, Tam Đan Điền sẽ nhẹ nhàng phát khởi quang hoa, chiếu diệu cõi lòng thanh tịch, tự nhiên mọi thứ lại được sáng tỏ, vô nhiễm trần tình, thông tuệ tiêu sái vô cùng vô tận.

Câu 6 - 8:

Động Phòng linh tượng đẩu nhật nguyệt

洞房靈象斗日月

Phụ viết Nê Hoàn, Mẫu Thư Nhất

父曰泥丸母雌一

Tam Quang hoán chiếu nhập tử thất

三光煥照入子室

  • Động Phòng: Động Phòng Cung ở Nê Hoàn.
  • Linh tượng: Hình tượng linh diệu.
  • Đẩu nhật nguyệt: Sao, mặt trời và mặt trăng, tức cả một bầu trời bao la vô cùng tận.
  • Phụ viết Nê Hoàn: Phụ thì gọi là Nê Hoàn.
  • Mẫu Thư Nhất: Mẫu thì gọi là Thư Nhất. Đây chính là phần không gian ở Nê Hoàn, có thể hiểu là bầu trời ở Nê Hoàn, nơi đây có nhật nguyệt tinh chiếu sáng vậy.
  • Tam Quang: Ánh sáng của nhật nguyệt tinh.
  • Hoán chiếu: Soi sáng.
  • Nhập tử thất: Nhập vào phòng của các con.

Không gian hư không bên trên Động Phòng Cung có đầy đủ nhật nguyệt tinh tú.

Đối với Cửu Chân ở Cửu Cung Nê Hoàn, gọi Nê Hoàn là Phụ, gọi Thư Nhất là Mẫu. Thư Nhất là phần bầu trời hư không có đầy đủ nhật nguyệt tinh nơi đó.

Nhật nguyệt tinh chiếu diệu linh quang, soi rọi Cửu Cung, tức là phòng của các con Nê Hoàn. Các con này chính là Cửu Chân trong Cửu Cung Nê Hoàn. Vì Cửu Cung ở trong phạm vi Nê Hoàn, gọi Nê Hoàn là Phụ, gọi Thư Nhất là Mẫu. Bầu trời có nhật nguyệt tinh trên Nê Hoàn trong Tiểu Vũ Trụ người.

Câu 9 - 10:

Năng tồn Huyền Chân vạn sự tất

能存玄真萬事畢

Nhất thân Tinh Thần bất khả thất

一身精神不可失

  • Năng tồn: Thường xuyên bảo tồn.
  • Huyền Chân: Một trong Cửu Chân đã từng đề cập ở Chương 8, là vị Thần cai quản ở Huyền Đan Cung thuộc Nê Hoàn Cửu Cung, hướng Chánh Bắc, tương ứng với Khảm Cung Tịnh Thủy của Bát Quái Cửu Cung. Trong Ngũ Hành tương thôi, vạn vật sinh sôi khởi nguồn từ hành Thủy. Như vậy ta có thể hiểu vị Thần này cũng chính là hiện thân Tinh Thần của Tiểu Não, nên gọi Nê Hoàn là Phụ, Mẫu.
  • Vạn sự tất: Tất thảy đầy đủ vạn sự.
  • Nhất thân Tinh Thần: Tâm hòa hiệp nơi thân.
  • Bất khả thất: Không bị suy tàn, thất thoát.

Gìn giữ Chân Khí ở Huyền Chân, thuộc Huyền Đan Cung, thì có đầy đủ tất thảy mọi sự. Vì Huyền Đan Cung thuộc hành Thủy trong Ngũ Hành, là hành sản sinh ra muôn vật.

Một thân trọn vẹn đủ đầy, thân tâm tráng kiện, vô nhiễm, thanh tịnh không gì có thể làm cho suy tàn, mất mát được.

Cao Bôn Chương Đệ Nhị Thập Thất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Cao bôn nhật nguyệt vô thượng Đạo

高奔日月吾上道

Uất Nghi, Kết Lân thiện tương bảo

鬱儀結璘善相保

  • Cao bôn: Bay lượn trên cao.
  • Nhật nguyệt: Ngày tháng, Âm Dương.
  • Vô thượng Đạo: Lẽ Đạo huyền vi chẳng thể nghĩ bàn.
  • Uất Nghi: Tôn danh của Nhật Quân, Nhật Thần.
  • Kết Lân: Tôn danh của Nguyệt Phu Nhân, Nguyệt Thần.
  • Thiện tương bảo: Mối tương quan thiện lành, hỗ trợ, bảo trợ cho nhau.

Đạo vận hành của Thiên Địa Âm Dương là vô thượng, vi diệu thâm sâu, chẳng thể nghĩ bàn.

Ở chương này, chúng ta biết thêm về tôn danh của hai vị Thần Nhật, Nguyệt vận hành Âm Dương Khí trong Tiểu Vũ Trụ người là Đức Uất Nghi Nhật Quân và Đức Kết Lân Nguyệt Phu Nhân. Cả hai vị ấy đều tương tác hỗ trợ nhau cùng làm cho cơ thể vận hành âm dương nhịp nhàng vậy.

Câu 3 - 7:

Nãi kiến Ngọc Thanh Hư Vô Lão

乃見玉清虛無老

Khả dĩ hồi nhan, điền huyết não

可以廻顏填血腦

Khẩu hàm linh chi huề Ngũ Tinh

口銜靈芝攜五星

Yêu đái hổ lục bội kim đang

腰帶虎籙佩金璫

Giá hốt tiếp sinh yến Đông Mông

駕欻接生宴東蒙

  • Nãi kiến: Bèn thấy.
  • Ngọc Thanh: Cõi Thiên Ngọc Thanh.
  • Hư Vô Lão: Một tôn danh khác của Đức Hồng Quân Lão Tổ.
  • Khả dĩ: Có thể.
  • Hồi nhan: Trở về tuổi xuân, gương mặt trẻ trung tươi tắn.
  • Điền huyết não: Bồi bổ khí huyết, huyết lưu nơi não được đủ đầy, thông hoạt. Người già thì khí huyết ở tủy xương và não đều bị cạn khô theo thời gian, cô đặc, ứ trệ. Người tu tập thì dù đã già, vẫn có thể làm đầy khí huyết, khôi phục lại những điều như thế như tuổi còn thanh xuân.
  • Khẩu hàm: Miệng ngậm.
  • Linh chi: Người xưa xem đây là một loại cỏ Tiên, ăn vào sẽ trường sinh. Có hình dạng như nấm linh chi, nhiều lỗ tròn, tán xòe màu vàng hoặc trắng. Còn có tên gọi khác là Hi Di 希夷.
  • Huề Ngũ Tinh: Dẫn Ngũ Tinh, ý chỉ Ngũ Hành trong Tiểu Vũ Trụ người vậy.
  • Yêu đái: Dây thắt lưng.
  • Hổ lục chỉ về một loại linh phù có khắc họa hình, ký tự của Thần Hổ.
  • Bội kim đang: Trang sức đeo ở thắt lưng bằng vàng ngọc.
  • Giá hốt tiếp sinh yến Đông Mông: Đột nhiên được đến nơi núi tiên an tĩnh, ý chỉ du nhập cảnh Tiên yên tĩnh ở núi Đông Mông.

Người luyện Đạo, kết được hai khí Âm Dương tương hiệp nhau, thần thức có thể du hành cùng nhật nguyệt, có thể nhập vào cõi Ngọc Thanh, được diện kiến Đức Hồng Quân Lão Tổ.

Luyện Đạo rồi, dẫn được khí Âm Dương tương hiệp, lại dẫn được Ngũ Hành tương liên, hòa hợp nhau thì lúc ấy phản lão hoàn xuân, khí huyết trong cốt tủy, não đều được bồ dưỡng đủ đầy, có thể là hồi xuân vậy.

Người đạt được những điều như thế, thần thức có thể xuất ngoại, thân ảnh mang theo trang sức bằng vàng ngọc, giắt theo lệnh phù có khắc họa hình hổ nơi thắt lưng. Lại được chuyển sinh, xuất hiện ở núi Tiên Đông Mông yên tĩnh.

Huyền Nguyên Chương Đệ Nhị Thập Bát

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Huyền Nguyên thượng nhất hồn phách luyện

玄元上一魂魄鍊

Nhất chi vi vật phả tốt kiến

一之為物叵卒見

Tu đắc chí chân thủy cố miện

須得至真始顧眄

  • Huyền Nguyên thượng nhất: Cái thâm sâu bậc nhất, gọi là Huyền Nguyên.
  • Hồn phách luyện: Tinh luyện hồn phách hòa hợp nhau.
  • Nhất chi vi vật phả tốt kiến: Nhất là vật chẳng phải bình thường có thể thấy được.
  • Tu đắc chí chân: Tu luyện đến tột bậc của sự chân thật, tức người đã đắc Chân Nhân.
  • Thủy cố miện: Mới có thể thấy được.

Sự huyền nhiệm thâm sâu bậc nhất của luyện Đạo chính là tu luyện hồn phách cho thanh tĩnh, hòa hợp về với nơi tối cao vi diệu được gọi là Huyền Nguyên. Điểm này, ta có thể tạm gọi Huyền Nguyên chính là Hư Vô, Thái Cực, là Nhất, là Cội Đạo vậy.

Hồn được hiểu là lý trí, có sự phán đoán, cảm xúc rõ ràng theo thời gian thành tư chất riêng biệt. Phách được hiểu là thói quen của tư niệm, tạp niệm của thất tình lục dục, phàm tính. Đạo Gia thường cho rằng hồn và phách có sự đối kháng nhau trong việc lôi kéo tâm trí, thân xác thực hành các hành vi gây nên thân, khẩu, ý nghiệp hướng về thiện lành hay ác trược.

Cội Đạo, Huyền Nguyên, Nhất ấy chẳng phải đơn giản tầm thường, nên chỉ có bậc Chân Nhân mới nhìn thấu đáo được.

Câu 4 - 5:

Chí kỵ tử khí, chư uế tiện

至忌死氣諸穢賤

Lục Thần hợp tập hư trung yến

六神合集虛中宴

  • Chí kỵ: Rất kiêng kỵ, tránh né.
  • Tử khí, chư uế tiện: Mùi xác chết, năng lượng chết chóc và các sự ô uế, dơ bẩn, không sạch.
  • Lục Thần: Gồm chư vị thuộc Tâm Thần Bộ, đã được đề cập ở Chương 9. Đó là Thần của Ngũ Tạng: Tâm, Can, Tì, Phế, Thận và Đảm Thần. Đảm Thần phụ trách việc giao hoán, liên thông khí của Ngũ Tạng và Lục Phủ.
  • Hợp tập: Tập trung lại với nhau.
  • Hư trung yến: Nơi huyền hư tịch tĩnh.

Muốn thành Chân Nhân, cần tránh tử khí, tránh sự giết chóc, tránh các sự ô uế, dơ bẩn từ ngoại cảnh đến tâm thân. Tức nhiên là thân tâm thanh tĩnh, thuần lương từ trong ra ngoài vậy.

Giữ được thuần lương, thanh tĩnh như thế thì Lục Thần trong thân tâm cũng tập hợp lại nơi an lạc thanh tĩnh như nhiên. Đó chính là trạng thái cực lạc thanh tĩnh, an vui vi diệu chẳng thể nghĩ bàn.

Câu 6 - 7:

Kết Châu cố Tinh, dưỡng Thần Căn

結珠固精養神根

Ngọc thi kim thược thường hoàn kiên

玉匙金籥常完堅

Hành giả tu luyện Đan Đạo là đem hai dòng khí Âm Dương trong người dung hòa lại với nhau, bảo dưỡng, gìn giữ để khí quang ấy biến thành Sinh Quang, Sinh Khí nơi Tam Đan Điền, đi xa hơn chính là kết thành Kim Đan vậy. Muốn làm được vậy cần bảo Tinh, dưỡng Khí, tồn Thần mới đặng.

Thực hiện được các điều trên, là có được hai dòng Nguyên Khí Âm Dương, như người có được chìa bạc khóa vàng kiên cố, lựa chọn xuất nhập tùy ý nguyện những gì cần và không cần cho thân tâm. Đây chính là pháp Thổ Nạp. Thổ là loại trừ, nhổ ra. Nạp là đem tiếp, thêm vào.

Câu 8 - 9:

Bế khẩu khuất thiệt thực thai tân

閉口屈舌食胎津

Sử ngã toại luyện hoạch phi Tiên

使我遂鍊獲飛僊

  • Kết Châu: Kết thành Sinh Khí, Kim Đan nơi Tam Đan Điền.
  • Cố Tinh: Gìn giữ, bảo dưỡng thân tâm.
  • Dưỡng Thần Căn: An dưỡng tánh linh, điểm Thiên Lương, Phật Tánh trong mỗi người.
  • Ngọc thi kim thược: Chìa ngọc khóa vàng, ý chỉ hai dòng Nguyên Khí Dương Âm trong người.
  • Thường hoàn kiên: Thường trở về vững chắc bền bỉ.
  • Bế khẩu khuất thiệt: Ngậm miệng cong lưỡi.
  • Thực thai tân: Nuốt nước bọt phát sinh.
  • Sử ngã: Làm cho ta, ta làm như thế thì.
  • Toại luyện: Luyện được thành đúng như thế.
  • Hoạch phi tiên: Được thành Tiên.

Khi hành thiền, nhập tĩnh an định Tinh Khí Thần, cần ngậm miệng, uốn cong lưỡi, nuốt nước bọt phát sinh. Đem nước bọt ấy di chuyển vào cuống họng, đi qua Trung Đan Điền, đến bao tử thì đã được Đảm Thần tinh lọc, hấp thu Nguyên Khí ấy kết hợp với Sinh Khí do hai khí Âm Dương hấp thu vào thân điều luyện, rồi chuyển hóa đưa đi nuôi dưỡng Ngũ Tạng, Lục Phủ. Sau đó khối khí ấy sẽ được đưa vào Hạ và Thượng Đan Điền, tích trữ ở đấy làm nguồn năng lượng nuôi dưỡng Tam Bảo của Chân Nhân vậy. Đến được đây, chính là đạt cảnh giới của việc không dùng vật thực, chỉ hấp thu Linh Khí Thiên Địa mà sinh tồn vậy.

Chân Nhân làm đúng hết những điều như thế, thì có thể đăng Tiên Giới, nhập Tiên Cảnh, thành Tiên.

Tiên Nhân Chương Đệ Nhị Thập Cửu

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Tiên nhân, Đạo sĩ phi hữu thần

僊人道士非有神

Tích Tinh luy Khí dĩ vi Chân

積精累氣以為真

Hoàng Đồng diệu âm nan khả văn

黃童妙音難可聞

Ngọc Thư giáng giản xích đan văn

玉書絳簡赤丹文

  • Tiên nhân: Người tu Tiên còn mang thân xác phàm tục.
  • Đạo sĩ: Người tu Đạo.
  • Phi hữu thần: Chẳng phải đầy đủ thần thông.
  • Tích Tinh: Hấp thu Linh Khí trong Thiên Địa, từ đó nuôi dưỡng cho Tinh Khí bản thân ngày thêm mạnh mẽ.
  • Luy Khí: Gìn giữ Khí, tức là gìn giữ tâm ý thanh tĩnh.
  • Dĩ vi Chân: Như vậy mới thành Chân, ý là đắc thành Chân Nhân.
  • Hoàng Đồng chỉ về Huỳnh Đình Chân Nhân.
  • Diệu âm: Tiếng nói vi diệu từ trong Thiên Tánh.
  • Nan khả văn: Khó lòng nghe được.
  • Giáng giản: Tinh lược cho đơn giản.
  • Xích đan văn: Văn tự yếu quyết, chân thật, Đan Kinh quý giá.

Tiên nhân, Đạo sĩ chẳng phải đầy đủ thần thông, cũng chẳng phải vốn dĩ sinh ra đã là Thần Tiên vậy. Nhờ tích trữ Tinh Khí, dưỡng tánh thuần lương, chân thật và thanh tịnh thì mới đạt thành Chân Nhân, thấy được Chân Tánh.

Tiếng nói huyền nhiệm của Huỳnh Đình Chân Nhân, rất khó để có thể nghe thấy được. Vì thế mà Ngọc Kinh Huỳnh Đình này tinh giản lại những điều huyền nhiệm, lẽ vận hành Thiên Địa và phương pháp tu Chân Đạo thành yếu quyết Đan Kinh lưu truyền hậu thế.

Câu 5 - 6:

Tự viết Chân Nhân cân kim cân

字曰真人巾金巾

Phụ giáp trì phù khai Thất Môn

負甲持符開七門

  • Tự viết: Sách nói rằng.
  • Cân kim cân: Đầu đội khăn vàng.
  • Phụ giáp: Mang giáp, ý chỉ áo giáp đạo đức, chân thật.
  • Trì phù: Giữ phù lệnh bên mình.
  • Khai Thất Môn: Mở thông Thất Khiếu.

Ngọc Kinh nói rằng Chân Nhân đầu đội khăn vàng, thân mang giáp đạo đức, lại có mang theo phù lệnh bên mình, trợ giúp cho việc khai thông Thất Khiếu. Chân Nhân được đề cập ở đây là Huỳnh Đình Chân Nhân, chứ không phải nói về hành giả tu Đạo trở thành Chân Nhân. Điểm này cần lưu ý tránh bị nhầm lẫn.

Câu 7 - 11:

Hỏa binh phù đồ bị Linh Quan

火兵符圖備靈關

Tiền ngang hậu ti cao hạ trận

前昂後卑高下陳

Chấp kiếm bách trượng, vũ cẩm phiên

執劍百丈舞錦幡

Thập tuyệt bàn không phiến phân vân

十絕盤空扇紛紜

Hỏa linh quan tiêu đội lạc yên

火鈴冠霄隊落煙

  • Hỏa binh phù đồ: Quân binh hỏa lực bố trí theo lệnh phù.
  • Bị Linh Quan: Sắp đặt sẵn sàng ở Linh Quan, tức Huyền Quan Khiếu.
  • Tiền ngang hậu ti: Trước cao sau thấp.
  • Cao hạ trận: Trận hình sắp xếp trên dưới.
  • Chấp kiếm: Cầm kiếm.
  • Bách trượng: Trăm trượng.
  • Vũ cẩm phiên: Cờ gấm vẫy múa.
  • Thập tuyệt: Thập toàn tuyệt mỹ.
  • Bàn không: Khắp không trung.
  • Phiến phân vân: Quạt đầy trùng trùng lớp lớp.
  • Hỏa linh: Chuông lửa.
  • Quan tiêu: Che trùm, cao vút bầu trời.
  • Đội lạc yên: Quân binh như khói.

Có quân binh hỏa lực được bố trí sắp đặt theo lệnh phù nơi Linh Quan, tức Huyền Quan Khiếu ở Nê Hoàn.

Trước cao, sau thấp, trận hình được sắp đặt trật tự, ngay ngắn chỉnh tề. Trên tay cầm kiếm dài trăm trượng, cờ gấm bay phấp phới.

Quạt bay ngợp trời khắp mười phương. Chuông lửa chiếu sáng bao trùm bầu trời, đội quân đông đúc như khói tỏa.

Câu 12 - 13:

An tại Hoàng Khuyết lưỡng mi gian

安在黃闕兩眉間

Thử phi chi diệp thật thị căn

此非枝葉實是根

  • Hoàng Khuyết: Khu vực ở trước trán.
  • Lưỡng mi gian: Ấn Đường, Minh Đường Cung nơi giữa hai chân mày.
  • Thử phi: Ấy chẳng phải.
  • Chi diệp: Cành lá.
  • Thật thị căn: Thật là điều cốt lõi, căn bản.

Tất thảy quân binh đều an định tại Hoàng Khuyết, giữa hai chân mày.

Điều ấy chẳng phải là cành lá, mà chính thật là gốc rễ căn bản, quan trọng lắm vậy. Người hành giả tu Đạo cần hiểu và giữ vững lòng kiên định của mình khi bước trên con đường tu tập.

Luận bàn

Ở chương này, có những điều được nhấn mạnh chia thành hai phần.

Phần đầu từ câu 1 - 4 nói về hành giả tu Đạo, muốn thành Thần Tiên, Chân Nhân đều phải trải qua khổ luyện, kiên trì bền chí vì việc tu luyện vô cùng khó khăn.

Hành giả tu Đạo, dù là Tiên nhân hay Đạo sĩ, bản thân họ vốn dĩ chẳng phải có đủ đầy thần thông hay là Thần Tiên chi cả. Nhờ vào việc tu luyện, bảo dưỡng Tinh Khí, sống thiện lương, gìn giữ thân tâm thanh tĩnh rồi mới thấy được Chân Tánh, hòa với Chân Tánh ấy mà đắc thành Chân Nhân giữa thế tục.

Để có thể nghe được tiếng nói huyền nhiệm của Huỳnh Đình Chân Nhân bên trong mỗi người là điều vô cùng khó khăn, cần phải tu tâm dưỡng tánh thật thuần lương, thanh tĩnh vô cùng.

Vì thế, Đan Kinh này chính là Ngọc Thư, một quyển sách quý báu vô cùng miêu tả lại về vị Huỳnh Đình Chân Nhân và các vị Thần, các vị tướng lãnh, quân binh cùng đi theo hộ giá. Phần kế tiếp của chương này miêu tả chi tiết về các vị như vậy.

Tử Thanh Chương Đệ Tam Thập

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Tử Thanh Thượng Hoàng Thái Đạo Quân

紫清上皇太道君

Thái huyền thái hòa, hiệp thị đoan

太玄太和協侍端

Hóa sinh vạn vật, sử ngã Tiên

化生萬物使我僊

Phi thăng thập Thiên, giá ngọc luân

飛昇十天駕玉輪

  • Thượng Hoàng Thái Đạo Quân: Một tôn danh khác của Đức Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn.
  • Thái huyền thái hòa: Vô cùng huyền diệu và hòa ái.
  • Hiệp thị đoan: Giúp đỡ, chăm lo cho muôn sinh vạn vật.
  • Sử ngã Tiên: Cai quản chư Tiên.
  • Phi thăng thập Thiên: Bay lên mười phương cõi Thiên.
  • Giá ngọc luân: Cưỡi cỗ xe bánh xe bằng ngọc lướt trong mây gió.

Nơi tầng trời Tử Thanh, có Đức Thượng Hoàng Thái Đạo Quân an ngự. Ngài là bậc chí Thánh, huyền vi màu nhiệm, thường lo cho cơ vận hành Thiên Địa Âm Dương được hòa hiệp với nhau.

Ngài hóa sinh nên muôn người muôn vật, cũng là bậc trợ duyên, minh chứng cho chư Tiên khi đắc thành Đạo Quả. Hành giả đắc quả Tiên ấy được phi thăng mười phương cõi Thiên, lại được các Tiên giá ngọc luân đưa đón.

Câu 5 - 10:

Trú dạ thất nhật tư vật miên

晝夜七日思勿眠

Tử năng tu thử khả trường tồn

子能修此可長存

Tích công thành luyện phi tự nhiên

積功成鍊非自然

Thị do tinh thành diệc thủ Nhất

是由精誠亦守一

Nội thủ kiên cố Chân chi Chân

內守堅固真之真

Hư trung điềm đạm tự trí thần

虛中恬淡自致神

  • Trú dạ thất nhật: Cả ngày và đêm, suốt 7 ngày trong tuần.
  • Tư vật miên: Thường nghĩ tới việc tu tâm dưỡng tánh, không buông lơi ngừng nghỉ.
  • Tử năng tu thử: Người thường xuyên tu luyện như thế.
  • Khả trường tồn: Có thể tồn tại dài lâu.
  • Tích công thành luyện: Dày công khổ luyện.
  • Phi tự nhiên: Chẳng phải tự nhiên.
  • Thị do tinh thành: Là do lòng thành thuần khiết.
  • Diệc thủ Nhất: Cũng là giữ gìn cái Nhất.
  • Nội thủ kiên cố: Bên trong gìn giữ kiên cố.
  • Hư trung điềm đạm tự trí thần: Tinh thần, trí não điềm đạm như hư không.

Ngày đêm đều luôn ghi nhớ mình là người hành giả tu tập, gìn giữ thân tâm thanh tĩnh thuần lương. Mỗi ngày đều như thế, hành giả giữ được như vậy thì trường tồn, trường sinh vậy.

Đó là do công phu tích tụ mỗi ngày, đều phải kiên trì nhẫn nại, quyết tâm trải qua khổ luyện, đạt thành chí Chân thì thành tựu, chẳng phải tự nhiên mà đạt được.

Cũng do lòng thành luôn hướng về Đạo mà tu tâm dưỡng tánh, bảo dưỡng Tam Bảo không ngừng nghỉ, chính là gìn giữ cái Nhất, tức lẽ Đạo nơi bản thân mỗi người vậy.

Trong nội tâm thì gìn giữ kiên cố, định tâm chí Chân. Chỉ một chữ Chân này mà khiến người siêu phàm nhập Thánh, tánh tình tự nhiên trở nên thuần lương, nhẹ nhàng điềm đạm, thanh tĩnh như hư không. Từ đó mà Tam Bảo nơi người hòa hợp được với tính không của Thiên Địa. Tất nhiên khi ấy, nhẹ nhàng du nhập hư không đặng.

Bản gốc trang 251
Bản gốc trang 251 — trang mở đầu phần này trong bản in gốc.

Chú Giải VI · Chương 31–36: Bách Cốc Đến Ẩn Tàng

Bách Cốc Chương Đệ Tam Thập Nhất

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Bách cốc chi thật Thổ Địa Tinh

百穀之實土地精

Ngũ vị ngoại mỹ, tà ma tinh

五味外美邪魔腥

Xú loạn Thần Minh, Thai Khí linh

臭亂神明胎氣零

Hàng trăm loại ngũ cốc hoa màu, thật là tinh hoa của Đất vậy. Chúng có ngũ vị đẹp đẽ bên ngoài, nhưng lại là ẩn tàng mùi tanh hôi. Vì đó là mầm của sự sống, sự sống bị sát hại làm vật thực thì sao có thể thanh khiết thuần lương, tĩnh tĩnh được.

Mùi hôi khiến cho Thần Minh bị loạn động, Kim Đan tiêu tán chẳng kết được.

Câu 4 - 7:

Na tòng phản lão đắc hoàn anh

那從反老得還嬰

Tam Hồn hốt hốt, phách mi khuynh

三魂忽忽魄糜傾

Hà bất thực khí Thái Hòa Tinh

何不食氣太和精

Cố năng bất tử nhập Hoàng Ninh

故能不死入黃寧

  • Na: Sao, làm sao.
  • Tòng phản lão đắc hoàn anh: Thực hành pháp Phản Lão Hoàn Đồng.
  • Tam Hồn: Tam Thể Xác Thân, bao gồm Tinh, Khí, Thần.
  • Hốt hốt: Lơ là, sao nhãng.
  • Phách mi khuynh: Hồn phách bị tiêu tán, nghiêng ngã.
  • Hà bất thực khí: Tại sao không nuôi thân bằng cách hít thở không khí.
  • Thái Hòa Tinh: Năng lượng Thái Hòa, ý chỉ về không khí thanh sạch.
  • Cố năng bất tử: Ráng thực hành sẽ được bất tử.
  • Hoàng Ninh: Cõi an yên trường tồn theo thời gian, ý chỉ lẽ vận hành tự nhiên bất biến của Thiên Địa.

Nếu theo lối dùng ngũ cốc mà muốn luyện Phản Lão Hoàn Đồng, sao có thể đạt đặng.

Tam Hồn thì sao nhãng, loạn động, chẳng định nổi. Phách thì tiêu tán do tâm tư chạy theo hương vị thơm ngon nơi vật thực.

Sao chẳng hớp khí tinh không mà nuôi sống thân tâm, đó chính là năng lượng Thái Hòa, thường yên bình an tịnh, chẳng chứa sự loạn động bên trong như bách cốc đó vậy.

Cố gắng hấp khí tinh không nuôi dưỡng thân tâm thì chẳng chết, không hoại diệt, có thể trường sinh bất tử trong an lạc thanh tĩnh, hòa với sự tồn tại của Thiên Địa vậy.

Tâm Điển Chương Đệ Tam Thập Nhị

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Tâm điển nhất thể, Ngũ Tàng vương

心典一體五藏王

Động tĩnh niệm chi đạo đức hành

動靜念之道德行

Thanh khiết hỷ khí tự minh quang

清潔喜氣自明光

Tọa khởi ngô câu cộng luyện lương

坐起吾俱共楝梁

  • Tâm điển nhất thể: Tâm điều khiển toàn thân.
  • Ngũ Tàng vương: Cai quản khắp Ngũ Tạng bao gồm: tâm, can, tì, phế, thận.
  • Động tĩnh niệm chi đạo đức hành: Bất kỳ suy nghĩ hay hành động gì đều là biểu hiện của đạo đức.
  • Thanh khiết hỷ khí: Trong sạch và an lạc.
  • Tự minh quang: Ánh sáng nơi mình.
  • Tọa khởi: Ngồi yên hay đi đứng.
  • Luyện: Cây xoan, quả của nó được gọi là khổ luyện tử, kim linh tử. Ở đây muốn nói người luyện tâm, gìn giữ tâm thanh tịnh là người chịu được khổ luyện thì mới có được thành tựu.
  • Lương: Tin thực, thành tín.

Tâm là chủ của Ngũ Tạng trong thân. Dù tư niệm tĩnh lặng hay vận động cũng đều là biểu hiện đạo đức trong hành tàng của mình.

Gìn giữ cho thân thường thanh tịnh, trong sạch, an lạc, vui vẻ hòa nhã thì tự nhiên tâm sáng lạng, trí tuệ thông suốt vậy. Dù ngồi yên hay là đi đứng, cùng đều nhớ rằng gìn giữ Chân Tâm trong mọi lúc mọi nơi, dù cho có khó khăn gì xảy đến, có khổ nạn gì diễn ra cũng giữ lấy Chân Tâm ấy không xa rời bản tánh thuần lương thanh tĩnh.

Câu 5 - 6:

Trú nhật diệu cảnh, mộ bế tàng

晝日曜景暮閉藏

Thông đạt hoa tinh, điều Âm Dương.

通達華精調陰陽

  • Trú nhật diệu cảnh: Cảnh đẹp thiên nhiên vào ban ngày.
  • Mộ bế tàng: Chiều tối thì đóng cửa khép mình.
  • Thông đạt: Thông suốt, chứng đắc.
  • Hoa tinh: Tinh hoa của thân tâm thuần khiết phát khởi nên ánh quang hoa sáng lạng.
  • Điều Âm Dương: Điều hòa khí Âm Dương.

Ban ngày thì hòa mình cùng thiên nhiên tự tại, chiều tối thì nghỉ ngơi ẩn tàng nơi thân thanh tịnh.

Hành giả gìn giữ được thân tâm thiện lương, thuần khiết, vô nhiễm trước mọi lý sự diễn ra trong đời. Người ấy thân tâm thông đạt được bình yên, thấu suốt lẽ Đạo tự nhiên, toàn thân phát xuất ánh hào quang minh triết, điều hòa được Âm Dương vận hành trong Tiểu Vũ Trụ vậy.

Lưỡng Thận Chương Đệ Tam Thập Tam

Diễn nghĩa

Câu 1 - 2:

Lưỡng Thận Chi Thần chủ diên thọ

兩腎之神主延壽

Kinh lịch Lục Hợp, ẩn Mão Dậu

經歷六合隱卯酉

  • Chủ diên thọ: Làm chủ tuổi thọ.
  • Kinh lịch: Trải qua, đi qua.
  • Lục Hợp: Lục Phủ cùng Ngũ Tạng.
  • Mão Dậu: Giờ Mão và Giờ Dậu, tức là khoảng 6 - 8 giờ sáng và 18 - 20 giờ chiều tối trong ngày. Thời gian này được tính theo khu vực mình cư trú, ở đây là Việt Nam vậy.

Thần của hai thận làm chủ tuổi thọ, giúp người trường sinh. Thận dẫn huyết dịch đi qua tất thảy Lục Phủ Ngũ Tạng trong thân.

Giờ Mão và giờ Dậu là lúc mà Thận Thần ẩn thân, lúc này cơ thể cần được nghỉ ngơi, để thận khôi phục Nguyên Khí trong suốt chu kỳ 10 tiếng hoạt động. Tức là dù làm việc chi thì vào khoảng thời gian 6 - 8 giờ sáng và 18 - 20 giờ tối là lúc cơ thể cần được thanh tĩnh, không ăn uống gì trong khung giờ này, tuyệt nhiên tuyệt ẩm thực để thận được nghỉ ngơi không làm việc quá sức mà hồi phục Nguyên Khí.

Như vậy, Đạo Gia công phu thì vào hai thời điểm này, người hành giả cần tĩnh tọa thư giãn, hoặc ngủ sâu, hoặc là trì kinh điển, luyện khí trong thân cho thân tâm thanh tĩnh.

Tuyệt đối không ăn uống trong khung giờ này, chỉ hấp thu khí tinh không mà thôi. Có thể ăn uống trước hoặc sau khung giờ này khoảng 15 - 30 phút.

Câu 3 - 5:

Chuyển giáng thích đẩu Tàng Sơ Cửu

轉降適斗藏初九

Tri hùng thủ thư khả vô lão

知雄守雌可無老

Tri bạch thủ hắc kiến Tọa Thủ

知白守黑見坐守

  • Chuyển giáng: Di chuyển xuống.
  • Thích đẩu: Tương hợp với bên phía trên đầu.
  • Tàng Sơ Cửu: Nơi chứa nhưng thứ ban sơ, trước tiên nhất. Cụm từ này ý chỉ về Nê Hoàn, là đầu não con người, chứa Cửu Cung. Cũng là nơi ban sơ xuất hiện đầu tiên các khí chất, rồi mới phát triển lên thành Tiểu Vũ Trụ toàn thân người vậy.
  • Tri hùng thủ thư: Biết trong cương có nhu, trong dương có âm, trong động có tĩnh.
  • Khả vô lão: Trường xuân không già.
  • Tri bạch thủ hắc: Biết trong trắng có đen, trong dương có âm, trong thanh có trược.
  • Kiến Tọa Thủ: Nhìn thấy bản tánh. Bản tánh này vốn chân thật, thuần lương, tịch tĩnh như là một vị Thần trấn giữ Tiểu Vũ Trụ của người.

Thận vận hành khí huyết lưu chuyển, giao hoán giúp cho thân tâm được tinh lọc những cái nào cần thì giữ lại cho người, cái nào không cần thì xả bỏ ra ngoài. Tất thảy tinh chất, Nguyên Khí sau khi thận lọc lại đưa dồn về đầu não là nơi Tàng Sơ Cửu, Nê Hoàn có Cửu Cung đó vậy.

Khi hiểu được Âm Dương, sự vận hành cương nhu của các dòng khí lưu trong người, lại dùng tâm tình ý niệm để điều dẫn Sinh Khí ấy nuôi dưỡng thân tâm, tự nhiên trường xuân, không già theo thời gian.

Người thấu đạt huyền vi âm dương ấy, vận hành được khí lưu trong thân tâm, đạt được thuần lương tịch tĩnh như hư không thì có thể thấy bản tánh chân thật, tức ngộ Đạo thấy Chân vậy.

Can Khí Chương Đệ Tam Thập Tứ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 4:

Can Khí uất bột thanh thả trường

肝氣鬱勃清且長

La liệt Lục Phủ sinh Tam Quang

羅列六腑生三光

Tâm tinh ý chuyên nội bất khuynh

心精意專內不傾

Thượng hợp Tam Tiêu, hạ ngọc tương

上合三焦下玉漿

  • Can Khí: Khí của gan.
  • Uất bột: Tích tụ bốc lên mạnh mẽ.
  • Thanh thả trường: Thanh nhẹ mà lại dài lâu.
  • Lục Phủ bao gồm:
    1. Đảm: Mật.
    2. Vị: Bao tử.
    3. Đại trường: Ruột già.
    4. Tiểu trường: Ruột non.
    5. Bàng quang: Bọng đái.
    6. Tam Tiêu là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm: Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế. Trung Tiêu là khu vực tì, vị. Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Tam Quang: Tinh Khí Thần đều sáng sủa.
  • Tâm tinh ý chuyên: Tâm ý thanh sạch, chuyên tâm tu luyện.
  • Nội bất khuynh: Bên trong không bị suy tàn.
  • Tam Tiêu thuộc Lục Phủ, là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
    • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
    • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
    • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Ngọc tương: Chất dịch vô cùng trân quý, chỉ chung huyết dịch trong thân. Ở đây ta có thể hiểu là tinh dầu trong cơ thể được tiết ra từ các tuyến nội tiết. Vì tinh dầu được xem là thứ dịch ít và hiếm nhất trong thân nên rất quý.

Khí của gan tích trữ, phát ra mạnh mẽ, vừa thanh nhẹ lại bền bỉ. Khí ấy bao trùm khắp cả Lục Phủ, nuôi dưỡng và làm cường tráng Lục Phủ, khiến cho Tam Bảo của hành giả được quang minh, sáng lạng.

Thân tâm chuyên chú, không bị loạn động, thì từ nội tại thân tâm đã mạnh mẽ, không bị suy thoái, giúp người thêm cường tráng. Trên thì Can Khí hợp với Tam Tiêu, dưới thì hòa với các tuyến nội tiết trong thân.

Câu 5 - 8:

Huyền dịch vân hành khứ xú hương

玄液雲行去臭香

Trị đãng phát xỉ, luyện Ngũ Phương

治蕩髮齒鍊五方

Thủ tân huyền ưng nhập Minh Đường

取津玄膺入明堂

Hạ khái hầu lung Thần Minh thông

下溉喉嚨神明通

  • Huyền dịch: Chất dịch kỳ diệu.
  • Vân hành: Lưu chuyển khắp thân tâm.
  • Khứ xú hương: Đẩy lùi hết mọi mùi hôi hám trên thân. Câu này ứng với câu trên về việc tinh dầu, hương thơm gọi là ngọc tương vậy.
  • Trị đãng phát xỉ: Chữa lành các sự hư hoại, tẩy rửa cho sạch sẽ răng tóc.
  • Luyện Ngũ Phương: Đem Thanh Khí nuôi dưỡng Ngũ Tạng.
  • Thủ tân: Thu lấy nước bọt.
  • Huyền ưng: Nơi khu vực lồng ngực.
  • Minh Đường: Phòng lớn sáng, có thể hiểu là Đan Điền, Huỳnh Đình vậy.
  • Hạ khái: Tưới rót xuống.
  • Hầu lung: Cuống họng.

Các tuyến nội tiết chuyển hóa mùi mồ hôi khó ngửi của cơ thể thành tinh dầu thơm tho dễ chịu, lại giúp cho Ngũ Tạng được nuôi dưỡng tốt nhất có thể, giúp thân tâm tiêu trừ các sự hư hoại do bệnh tật, phiền não… đồng thời làm cho răng tóc chắc khỏe, tươi tốt lên.

Can Khí thu lấy nước bọt từ miệng, khi đi qua cuống họng thì nuôi dưỡng cuống họng, dịch khí được biến thành năng lượng ở Minh Đường nơi Trung Đan Điền.

Câu 9 - 12:

Tọa thị Hoa Cái du quý kinh

坐侍華蓋遊貴京

Phiêu phiêu Tam Thanh tịch thanh lương

飄飄三清席清涼

Ngũ sắc vân khí phân thanh thông

五色雲氣紛青蔥

Bế mục nội miện tự tương vọng

閉目內眄自相望

  • Tọa thị: Ở lại chăm sóc.
  • Hoa Cái chỉ về vị Phế Thần.
  • Quý Kinh hàm chỉ Đan Điền.
  • Phiêu phiêu: Nhẹ nhàng bay bềnh bồng.
  • Tam Thanh chỉ về Tinh Khí Thần ở cả Tam Đan Điền.
  • Tịch thanh lương: Bao trùm làn hơi thanh nhẹ mát mẻ.
  • Ngũ sắc vân khí: Khí quang ở Tam Đan Điền và ở Lục Phủ Ngũ Tạng thanh sạch, mạnh mẽ và linh diệu như mây lành ngũ sắc.
  • Phân thanh thông: Nhiều cây hành lá.
  • Bế mục: Nhắm mắt.
  • Nội miện: Nhìn xa, sâu vào bên trong.
  • Tự tương vọng: Tự mình chiêm nghiệm, tự mình nhìn thấy trong tâm tưởng.

Can Khí dừng ở nơi phổi, sau đó lại di chuyển về Đan Điền, nhẹ nhàng bay bồng bềnh, làm cho Thanh Khí dịu mát bao phủ tất thảy mọi nơi, đặc biệt là Tam Đan Điền. Khí chất ở các cơ quan, nội tạng trong thân nhẹ nhàng lan tỏa, tạo nên dải ngũ sắc tường vân, trùng trùng lớp lớp đan xen với Thanh Khí xanh rờn như ruộng hành lá khắp toàn thân vậy.

Ở Chương 11, chúng ta đã được biết vị Can Thần có y phục màu xanh, do khí chất của gan tiết ra có màu xanh nên được diễn tả ở đoạn này màu xanh đan xen với ngũ sắc vân nhiều như là ruộng hành lá. Cũng có một câu chuyện liên quan chút xíu về thanh thông trong Đạo Gia, nhưng sẽ kể sau.

Hành giả thường xuyên nhắm mắt lại, quán chiếu nhìn vào sâu trong thân tâm mình, thì tự nhiên có thể chiêm nghiệm, nhìn thấy được những điều huyền nhiệm ấy.

Câu 13 - 15:

Sử tâm chư Thần hoàn tự sùng

使心諸神還自崇

Thất Huyền anh hoa khai Mệnh Môn

七玄英華開命門

Thông lợi Thiên Đạo tồn Huyền Căn

通利天道存玄根

  • Sử tâm: Dụng tâm, làm cho tâm được.
  • Chư Thần: Các vị Thần cai quản các cơ quan, bộ phận khác nhau.
  • Hoàn tự sùng: Tự tôn kính, trân trọng lẫn nhau.
  • Thất Huyền anh hoa: Thất Khiếu phát xạ ánh sáng vi diệu rực rỡ.
  • Khai Mệnh Môn: Làm thông các huyệt vị Mệnh Môn quan trọng trong thân.
  • Thông lợi Thiên Đạo: Thông các kinh mạch dẫn lên đầu não mở cửa Huyền Quan Khiếu.
  • Tồn Huyền Căn: Nguyên Khí được bảo tồn. Nguyên Khí này chính là hai khí chất Âm Dương của Thiên Địa kết tụ mà hóa nên hình hài của Chân Thần con người đó vậy.

Can Khí này lại giúp cho tâm, ý nói tâm thức, tinh thần của người hòa hợp với chư Thần các cơ quan khác.

Việc ấy làm cho Thất Khiếu được khai thông, khí quang lưu loát, làm cho các đại huyệt quan trọng là Mệnh Môn ở thân được hoạt động thật tốt, dẫn lưu tất thảy kinh mạch, khí huyết đều có thể quy hiệp về Nê Hoàn.

Câu 16 - 21:

Bách nhị thập niên do khả hoàn

百二十年猶可還

Quá thử thủ Đạo thành thậm nan

過此守道誠甚難

Duy đãi Cửu Chuyển Bát Quỳnh Đan

唯待九轉八瓊丹

Yếu phục tinh tư tồn Thất Nguyên

要復精思存七元

Nhật nguyệt chi hoa cứu lão tàn

日月之華救老殘

Can Khí chu lưu chung vô đoan

肝氣周流終無端

  • Bách nhị thập niên: 120 tuổi.
  • Do khả hoàn: Vẫn còn có thể hồi phục.
  • Quá thử: Qua tuổi ấy.
  • Thủ Đạo: Người giữ Đạo.
  • Thành thậm nan: Thật là khó lắm vậy.
  • Duy đãi: Chỉ có nương vào.
  • Cửu Chuyển Bát Quỳnh Đan: Một loại đan dược được bào chế công phu từ nhiều loại thảo dược và khoáng vật giúp cho hành giả có thể bồi dưỡng thân tâm mà tu luyện thành tựu.
  • Yếu phục: Quan trọng nhất là.
  • Tinh tư: Biết nghĩ tới phần trí não, đời sống tinh thần trong mình.
  • Tồn Thất Nguyên: Giữ gìn, bảo tồn Thất Khiếu.
  • Nhật nguyệt chi hoa: Tinh hoa của Âm Dương Khí trong Thiên Địa.
  • Cứu lão tàn: Cứu giúp cho hành giả khi suy tàn bởi tuổi già sức yếu.
  • Chu lưu: Lưu chuyển khắp toàn thân.
  • Chung vô đoan: Toàn bộ không ngừng nghỉ.

Người làm được những điều như thế, dù 120 tuổi vẫn có thể tu luyện đạt thành tựu được. Qua độ tuổi 120 rồi thì thật rất khó để tu luyện đạt thành Đan Đạo. Muốn luyện được thành tựu, cần có Cửu Chuyển Bát Quỳnh Đan hỗ trợ.

Quan trọng nhất là tinh thần phải thanh sạch, biết nghĩ đến đời sống tinh thần, hiểu mình có Thần trong thân tâm. Từ đó bảo tồn được tinh hoa, Nguyên Khí nơi Thất Khiếu, chẳng để bị suy tàn, tiêu tán thì có cơ hội luyện thành tựu.

Chỉ có thấu hiểu sự vận hành của Âm Dương Thiên Địa, từ đó sống hòa mình với Thiên Địa, để cho Nhân hợp Thiên Địa. Lúc ấy nhờ có tinh hoa của Thiên Địa Chi Khí cứu giúp cho thân mạng được trường thọ, không bị lão hóa suy tàn.

Can Khí lưu chuyển khắp toàn thân tâm không ngừng nghỉ, gián đoạn, giúp hành giả khỏe mạnh trường tồn vậy.

Luận bàn

Toàn bộ chương này cho biết về sự vận hành của Can Khí.

Tuổi nên tu luyện Đan Đạo thì càng sớm càng tốt. 120 tuổi cũng còn có thể thành tựu được. Quá 120 tuổi thì cần có Cửu Chuyển Bát Quỳnh Đan hỗ trợ mới có thể thuận lợi thành tựu.

Can Khí lưu chuyển khắp toàn thân, làm thân tâm tươi nhuận, làm cho Tam Đan Điền, tạng phủ và các yếu huyệt Mệnh Môn đều thông hoạt, dẫn các dòng Linh Khí thông lên được đầu não Nê Hoàn.

Phế Chi Đạo Chương Đệ Tam Thập Ngũ

Diễn nghĩa

Câu 1 - 5:

Phế Chi Vi Khí Tam Tiêu khởi

肺之為氣三焦起

Thị thính u minh hậu Đồng Tử

視聽幽冥候童子

Điều lý Ngũ Hoa tinh phát xỉ

調理五華精髮齒

Tam thập lục yết Ngọc Trì lý

三十六咽玉池裏

Khai thông bách mạch huyết dịch thủy

開通百脈血液始

  • Phế Chi Vi Khí: Khí của phổi.
  • Tam Tiêu thuộc Lục Phủ, là ba khu vực khí huyết nuôi dưỡng Ngũ Tạng và vị, bao gồm:
    • Thượng Tiêu là phần khu vực tâm, phế.
    • Trung Tiêu là khu vực tì, vị.
    • Hạ Tiêu là khu vực can, thận.
  • Thị thính: Nghe thấy.
  • U minh: Nơi thâm sâu, u huyền tĩnh mịch, ý chỉ về Huyền Quan Khiếu.
  • Hậu: Vấn an, thăm hỏi.
  • Đồng Tử chỉ về vị Thần Thất Nguyên Chi Tử, Phế Thần.
  • Điều lý: Cai quản, điều hành, vận hành.
  • Ngũ Hoa chỉ về Ngũ Tạng, bao gồm: tâm, can, tì, phế, thận.
  • Tinh phát xỉ: Làm tươi nhuận răng tóc.
  • Yết: Nuốt xuống, cổ họng, nơi hiểm yếu.
  • Ngọc Trì: Miệng, vì nơi đây phát sinh nước bọt là châu ngọc nên gọi miệng là Ngọc Trì, như đã từng đề cập ở Chương 4.
  • Lý: Nơi, ở, bên trong.

Phế Khí sinh ra từ Tam Tiêu, có thể liên thông với Thần nơi Huyền Quan Khiếu, khiến cho hành giả có thể nghe thấy được các lý sự từ tận sâu thẳm nội tâm của mình. Phế Khí giúp cơ thể điều hòa vận hành Ngũ Tạng thật tốt, bên cạnh đó là làm cho tươi nhuận răng tóc tươi đẹp.

Ở miệng nuốt vào 36 lần tân dịch phát sinh trong một thời công phu. Điều này giúp khai thông kinh mạch, khí huyết lưu thông thật tốt, cũng là nguồn gốc sản sinh thêm huyết dịch trong thân.

Câu 6 - 10:

Nhan sắc sinh quang kim ngọc trạch

顏色生光金玉澤

Xỉ kiên phát hắc bất tri bạch

齒堅髮黑不知白

Tồn thử Chân Thần vật lạc lạc

存此真神勿落落

Đương ức thử cung hữu tọa tịch

當憶此宮有座席

Chúng Thần hợp hội chuyển tương tác

眾神合會轉相索

  • Nhan sắc sinh quang: Ngoại hình sáng lạng.
  • Kim ngọc trạch: Nhẵn bóng như vàng ngọc đẹp xinh.
  • Xỉ kiên phát hắc: Răng chắc tóc đen.
  • Bất tri bạch: Không biết trắng là gì.
  • Tồn thử Chân Thần: Bảo tồn gìn giữ Chân Thần, Chân Tâm.
  • Vật lạc lạc: Chẳng bị sa sút, lầy lội.
  • Đương ức: Nên nhớ.
  • Thử cung: Cung ấy, ý chỉ về Nê Hoàn Cung.
  • Hữu tọa tịch: Có nơi để trú ngụ.
  • Chuyển tương tác: Di chuyển tương tác với ai đó hay điều gì đó.

Phế Khí giúp cho gương mặt sáng láng, tươi đẹp như vàng như ngọc, lại còn làm cho răng chắc, tóc đen, chẳng biết bạc trắng là gì.

Cố gắng gìn giữ Chân Thần, Chân Tâm sao cho kiên định, chẳng bị suy tàn theo thời gian.

Nên nhớ rằng ở nơi thâm sâu u huyền ấy, có không gian trống để trú ngụ. Thế nên chư Thần di chuyển từ nơi mình trú ngụ ở các cơ quan bộ phận khác về Nê Hoàn hội họp, tương tác với nhau.

Ẩn Tàng Chương Đệ Tam Thập Lục

Diễn nghĩa

Câu 1 - 3:

Ẩn tàng vũ cái khán Thiên Xá

隱藏羽蓋看天舍

Triêu bái Thái Dương lạc tương hô

朝拜太陽樂相呼

Minh Thần bát uy chánh tích tà

明神八威正辟邪

  • Vũ cái: Lộng che bằng lông, ý chỉ việc gần gũi thiên nhiên.
  • Khán Thiên Xá: Nhìn thiên không, bầu trời bao la, tức thấy Thiên Tâm, kiến Chân Tánh.
  • Triêu bái Thái Dương: Sáng sớm chào bình minh, đón ánh mặt trời.
  • Lạc tương hô: Gọi đó là an vui lạc thú chốn bình yên vậy.
  • Bát: Số lượng 8.
  • Uy: Oai nghiêm, uy nghi, quyền thế, chấn động.
  • Chánh tích tà: Chánh Khí trong thân tâm tiêu trừ những điều tà mị.

Hành giả Đan Đạo cần giữ mình thanh bạch, như ẩn sĩ nơi thiên nhiên núi rừng. Hàng ngày mỗi sáng đón chào ánh bình minh, lấy đó làm an vui lạc thú.

Thần Minh trong người, Chánh Khí trong người ngày càng hiển lộ rõ ràng thì tà khí dần được tiêu trừ.

Mỗi sớm mai thức dậy, điều đầu tiên ta làm đó là hít một hơi thật sâu, quán tưởng toàn bộ thân tâm, với lòng biết ơn cuộc đời sâu sắc vì ta còn thở, nên an lạc vậy. Người sống ẩn dật, không tranh đua với đời, thanh tĩnh thân tâm, hòa mình với hư vô, hòa với Chân Đạo giữa đời thường, thì người ấy có Chánh Khí uy dũng khắp nơi, lấn át được tà mì, tiêu trừ tà tính.

Câu 4 - 8:

Tì Thần hoàn quy thị Vị Gia

脾神還歸是胃家

Đam dưỡng Linh Căn bất phục khô

躭養靈根不復枯

Bế tắc Mệnh Môn bảo Ngọc Đô

閉塞命門保玉都

Vạn Thần phương tạc thọ hữu dư

萬神方胙壽有餘

Thị vị tì kiến tại Trung Cung

是謂脾建在中宮

  • Vị Gia: Bao tử. Khí của tì và vị ở cùng nơi, gọi chung là Vị Gia thuộc khu vực Trung Đan Điền. Nên chúng ta hay gọi chung tì vị là vậy.
  • Đam dưỡng: Chăm chút nuôi dưỡng.
  • Linh Căn: Thần trong Tam Bảo của người.
  • Bất phục khô: Trường tồn, không bị suy tàn khô héo.
  • Bế tắc Mệnh Môn: Đóng hết các huyệt trọng yếu, phong bế Ngũ Quan.
  • Ngọc Đô: Đan Điền được gọi là Ngọc Đô, chỉ nơi chốn quý báu.
  • Vạn Thần phương tạc: Chư Thần khắp nơi ban bố phước lành.
  • Thọ hữu dư: Tuổi thọ có thừa, kéo dài thêm so với thọ mạng đã ấn định của người ấy.
  • Thị vị: Như vậy nên nói là.
  • Tì kiến tại Trung Cung: Tì được hình thành ở Trung Cung.

Nơi mà khí của Thần Tì quay về, là bên cạnh vị, thường gọi chung là tì vị ở Trung Đan Điền. Tì Khí giúp nuôi dưỡng thật tốt cho phần tinh thần, từ đó thân tâm không bị suy tàn kiệt quệ.

Người tu Đan Đạo cần gìn giữ cho thân tâm khẩu ý đều được thanh tịnh, minh bạch, nhẹ nhàng không vướng bận các lý sự thường tình ở thế gian. Như là phong bế Ngũ Quan, luôn quán sát vào bên trong thanh tịnh tịch tĩnh của mình, như vậy sẽ bảo dưỡng được Chân Khí ở các Đan Điền, gọi là bảo Ngọc Đô vậy.

Năng lượng tích trữ ở các Đan Điền luôn sung mãn đủ đầy, thì các cơ quan, bộ phận khác đều mạnh khỏe, thì tự nhiên thân tâm ấy trường tồn theo thời gian, thọ mệnh kéo dài hơn so với thọ mệnh đã ấn định sẵn của mỗi người.

Thế nên nói rằng Tì Khí được kiến tạo và hoạt động chính ở Trung Cung vậy.

Câu 9 - 15:

Ngũ Tạng Lục Phủ Thần Minh chủ

五臟六腑神明主

Thượng hợp Thiên Môn nhập Minh Đường

上合天門入明堂

Thủ thư tồn hùng đính Tam Quang

守雌存雄頂三光

Ngoại phương nội viên Thần tại trung

外方內圓神在中

Thông lợi huyết mạch Ngũ Tạng phong

通利血脈五臟豐

Cốt thanh cân xích tủy như sương

骨青筋赤髓如霜

Tì cứu Thất Khiếu khứ bất tường

脾救七竅去不祥

  • Thần Minh chủ: Thần Minh làm chủ.
  • Thượng hợp: Tụ hợp lại ở bên trên.
  • Thủ thư tồn hùng: Gìn giữ, bảo dưỡng Âm Dương Nguyên Khí.
  • Đính Tam Quang: Tam Quang xuất hiện trên đỉnh cao.
  • Ngũ Tạng phong: Ngũ Tạng tươi tốt.
  • Cốt thanh: Xương tốt chắc khỏe.
  • Cân xích: Gân đỏ.
  • Tủy như sương: Tủy thanh sạch thuần khiết như sương sớm.
  • Khứ bất tường: Tất thảy những gì không tốt đẹp, bất thiện đều được tiêu trừ, xua tan.

Thần Minh làm chủ Lục Phủ, Ngũ Tạng. Thần Minh ở đây muốn nói Thần trong Tinh, Khí, Thần, tức là về phần Thiên Tánh trọn lành khiết sạch. Trên thì tụ hợp ở Thiên Môn, nhập vào Cung Minh Đường.

Việc gìn giữ, bảo dưỡng Âm Dương Nguyên Khí, tức là luyện được hai dòng khí Âm Dương hòa hợp với nhau trong thân. Lúc ấy Tinh Khí Thần đều hòa hợp tại đỉnh đầu, gọi là Tam Hoa Tụ Đỉnh phát xuất Tam Quang trên đỉnh đầu.

Tất thảy trong ngoài các huyệt, cơ quan bộ phận của thân, thì Thần tại trung ương vậy, nên gọi tâm là Thần cũng không sai.

Tam Hoa tụ đỉnh thì thông lợi huyết mạch, Ngũ Tạng tươi tốt mạnh khỏe. Xương tươi tốt chắc khỏe, gân đỏ hồng tươi nhuận, tủy thanh sạch vô nhiễm như sương.

Thần Tì giúp cho Thất Khiếu được thông hoạt, mọi sự tổn hại, suy tàn, bất thiện nơi thân đều được đẩy lùi.

Câu 16 - 20:

Nhật nguyệt liệt bố thiết Âm Dương

日月列布設陰陽

Ghi chú về bản nguồn: Trong bản PDF dùng để số hoá, các trang in 282–301 — phần diễn giải còn lại của Chương 36, từ câu 16 trở đi — bị để trắng, do lỗi thiếu trang của chính bản phát hành. Bản đọc này trung thực với những gì bản nguồn hiện có.