Nội Kinh Đồ — Bản Đồ Kinh Mạch Nội Tại
Giới Thiệu: Nội Kinh Đồ & Tu Chân Đồ
Nội Kinh Đồ (內經圖) và Tu Chân Đồ (修真圖) là hai bức đồ về cơ thể người, được nhắc đến lần đầu vào thời Thanh. Cả hai đều cùng nguồn gốc với các đồ hình cơ thể của Yến La Tử (thế kỷ X) trong Tu Chân Thập Thư: chúng gồm các chi tiết giải phẫu nhưng có thêm những yếu tố biểu tượng của Nội đan. Một bản tổng hợp các đồ hình của Yến La Tử về sau được vẽ trên hình chiếu nghiêng của cơ thể trong Hoàng Đế Bát Thập Nhất Nan Kinh Toản Đồ Cú Giải (lời tựa năm 1269).
Trong Nội Kinh Đồ, cơ thể được nhìn nghiêng: đầu là núi Côn Lôn, và tủy sống là một dòng nước uốn khúc chảy ra từ đó. Sao Bắc Cực và chòm Bắc Đẩu tượng trưng cho tim; con trâu cày ruộng và gieo mầm trường sinh tượng trưng cho ruột. Phần văn bản kèm theo chứa tên các vị thần của ngũ tạng và của đởm theo Hoàng Đình Kinh, cùng biểu tượng Nội đan. Bức đồ được khắc năm 1886 lên bia đá tại Bạch Vân Quán ở Bắc Kinh, theo khởi xướng của Lưu Thành Ấn, dựa trên một cuộn lụa cũ tìm thấy trên Tung Sơn (Hà Nam).
46 Đề Tự Khắc Trên Bức Đồ
Bản dịch dưới đây theo bản chuyển ngữ của Louis Komjathy, được sắp theo vị trí trên bức đồ (phần trên → phần giữa → phần dưới).
| # | Đề tự | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | 巨峯頂 | Đỉnh của ngọn núi lớn |
| 2 | 延壽 | Kéo dài tuổi thọ [đạt tiên và thành Phật] |
| 3 | 泥丸宮 | Nê Hoàn Cung (cung điện trong đầu) |
| 4 | 一粒粟中藏世界 | Một hạt kê chứa cả thế giới |
| 5 | 仙佛 | [Kéo dài tuổi thọ và] [đạt] tiên và Phật |
| 6 | 昇陽府 | Phủ Thăng Dương (nơi dương khí thăng lên) |
| 7 | 九峯山 | Núi Chín Đỉnh |
| 8 | 鬱羅靈台 | Đài Linh Ẩn trong màn lưới dày |
| 9 | 白頭老子眉垂地 | Lão Tử đầu bạc, lông mày rủ xuống đất |
| 10 | 若向此玄玄會得 | Nếu hướng về cái huyền diệu, sẽ lĩnh hội được |
| 11 | 此玄玄外更無玄 | Ngoài cái huyền diệu này, không có huyền diệu nào khác |
| 12 | 靈峯之穴 | Huyệt Linh Phong |
| 13 | 玉真上關 | Thượng Quan Ngọc Chân (tức Ngọc Chẩm) |
| 14 | 昇法之源 | Nguồn của phép thăng lên |
| 15 | 飱咽 | Yết hầu (nuốt) |
| 16 | 督脈 | Đốc Mạch |
| 17 | 二腎府之穴 | Huyệt của hai phủ thận |
| 18 | 半升鐺内煮山川 | Nửa thăng nồi nấu sông núi |
| 19 | 十二樓臺藏秘訣 | Mười hai tầng lầu ẩn giấu bí quyết |
| 20 | 氣疾 | Khí tật (bệnh do khí)… |
| 21 | 降橋 | …qua cầu giáng xuống |
| 22 | 碧眼胡僧手托天 | Vị tăng mắt xanh tay đỡ trời |
| 23 | 任脈 | Nhâm Mạch |
| 24 | 法藏云 | Pháp Tạng nói: |
| 25 | 慈氏云 | Từ Thị (Di Lặc) nói: |
| 26 | 五十境内隱玄關 | Ải huyền ẩn trong năm mươi cõi |
| 27 | 心神丹元字守靈 | Tâm thần tên Đan Nguyên, tự Thủ Linh |
| 28 | 牛郎橋星 | Ngưu Lang (chòm sao) |
| 29 | 艮土 | Thổ của quẻ Cấn (núi) |
| 30 | 者田 | Thửa ruộng này |
| 31 | 刻石兒童把貫串 | Đứa trẻ khắc đá cầm xâu tiền |
| 32 | 膽神龍曜字威明 | Đởm thần tên Long Diệu, tự Uy Minh |
| 33 | 肺神華皓字虚成 | Phế thần tên Hạo Hoa, tự Hư Thành |
| 34 | 肝神龍烟字含明 | Can thần tên Long Yên, tự Hàm Minh |
| 35 | 我家耑種自家田 | Nhà ta khéo trồng thửa ruộng nhà mình… |
| 36 | 織女運轉 | Chức Nữ vận chuyển |
| 37 | 腎神玄冥字育嬰 | Thận thần tên Huyền Minh, tự Dục Anh |
| 38 | 脾神常在字魂亭 | Tỳ thần tên Thường Tại, tự Hồn Đình |
| 39 | 中丹田 | Trung Đan Điền |
| 40 | 鐵牛畊地種金錢 | Trâu sắt cày ruộng gieo đồng tiền vàng |
| 41 | 正丹田 | Chính Đan Điền |
| 42 | 坎水逆流 | Nước Khảm chảy ngược |
| 43 | 復復連連歩歩週 | Trùng trùng liên liên, từng bước tuần hoàn |
| 44 | 陰陽玄蹅車 | Bánh xe âm dương huyền diệu |
| 45 | 鐵牛畊地種金錢 | Trâu sắt cày ruộng gieo đồng tiền vàng |
| 46 | 此圖向無傳 | Bức đồ này xưa nay chưa từng được truyền |
Các Bài Thơ Khắc Trên Đồ
Pháp Tạng 法藏 nói: “Mắt biếc soi trong bốn biển lớn; ánh trắng lan khắp núi Tu Di.” Từ Thị 慈氏 (Di Lặc) nói: “Giữa hai lông mày, ánh trắng thường phóng ra; có thể giải thoát chúng sinh khỏi nỗi khổ luân hồi.”
Lời Bạt & Ý Nghĩa
Lời bạt trên bia kể: “Bức đồ này xưa nay chưa từng được truyền. Nguyên nhân căn bản là vì Đạo Đan rộng lớn và tinh vi, kẻ căn cơ nông cạn không có khả năng lĩnh hội, cho nên ít khi được truyền trên đời. Ta tình cờ thấy bức đồ trong số sách vẽ ở thư phòng của Cao Tùng Sơn, đúng lúc nó được treo trên tường. Cách vẽ công phu tỉ mỉ; các chú giải về gân cốt khớp đốt, kinh mạch rõ ràng phân minh, mỗi chỗ đều chứa khiếu yếu. Ta ngắm nghía hồi lâu, thấy lòng có chỗ hội ngộ. Mới hiểu rằng hô hấp thổ nạp của một thân người chính là sự đầy vơi, tiêu tức của trời đất. Nếu có thể hiểu thấu một cách thần diệu, thì con đường Kim Đan Đại Đạo đã đi được hơn nửa. Thật không dám giữ riêng cho mình, nên vội cho khắc bản để lưu truyền rộng rãi.” — Tố Vân đạo nhân kính khắc và ghi.