TaichiNOW
Thư Viện Sách
Bản Dịch Toàn Văn 726 Trang · 1.462 Đồ Hình · 5 Lưu Phái · Kèm Nguyên Bản Hán Văn · Biên soạn: Thẩm Gia Trinh (沈家桢) cùng các tác giả — tuyển tập hợp nhất năm tác phẩm kinh điển: Trần thức (Thẩm Gia Trinh – Cố Lưu Hinh), Dương thức (Phó Chung Văn), Ngô thức (Từ Trí Nhất), Võ thức (Hách Thiếu Như) và Tôn thức (Tôn Kiếm Vân) Nguyên tác: Nhân Dân Thể Dục Xuất Bản Xã (人民體育出版社), Bắc Kinh, 1995 Việt ngữ & khảo tả đồ hình: Ban Biên khảo TaichiNOW

Toàn Thư Thái Cực Quyền

《太极拳全书》 — 沈家桢 等 編著 · 人民體育出版社 (1995)

Phần 1

Trang sách 1

Trang 1

《Toàn Thư Thái Cực Quyền》

Trần Thức Thái Cực Quyền

Dương Thức Thái Cực Quyền

Ngô Thức Thái Cực Quyền

Vũ Thức Thái Cực Quyền

Tôn Thức Thái Cực Quyền

Lời Giới Thiệu Về Bản Sửa Đổi "Sách Quý"

Nhà xuất bản chúng tôi đã thành lập hơn bốn mươi năm. Trong khoảng thời gian ấy, chúng tôi đã xuất bản nhiều cuốn sách được bạn đọc nồng nhiệt hoan nghênh. Những cuốn sách này được tái bản nhiều lần, thể hiện sức sống tràn đầy. Sách là người thầy, người bạn tốt của loài người, mà sách thể dục thể thao lại càng là người bạn thân thiết của những người yêu thích và làm công tác thể dục thể thao. Để đông đảo bạn đọc luôn có những cuốn sách mà mình yêu mến đồng hành, nhà xuất bản chúng tôi đã tuyển chọn kỹ lưỡng một loạt sách hay, căn cứ vào ý kiến phản hồi của bạn đọc, sửa đổi và thay đổi nội dung và tên sách của một số cuốn trong đó, đồng thời thiết kế lại bìa và bố cục, trân trọng dâng tặng bạn đọc như những "bảo vật" (珍品). Tin rằng những bảo vật này tất sẽ vào đến thư phòng của mọi người, khiến bạn đọc mới cũng như bạn đọc lâu năm đều thu hoạch được điều bổ ích khi mở sách ra.

Nhân Dân Thể Tục Xuất Bản Xã (人民体育出版社) Lời Giới Thiệu Về Cuốn Sách Thái Cực Quyền có cơ sở quần chúng rất rộng rãi trong nước ta. Các thức Dương, Ngô, Vũ, Tôn — sớm nhất được biến hóa dẫn sinh từ Trần Thức Thái Cực Quyền — đã trở nên quen thuộc và được nắm vững với đông đảo người yêu thích Thái Cực Quyền.

Để giới thiệu một cách có hệ thống và đầy đủ hơn đến đông đảo bạn đọc về đặc điểm vận động cùng phương pháp luyện tập của các thức Thái Cực Quyền, chúng tôi đã hợp biên thành cuốn Toàn Thư Thái Cực Quyền này từ những tác phẩm đã xuất bản: Trần Thức Thái Cực Quyền (Thẩm Gia Trinh, Cố Lưu Hinh biên soạn), Dương Thức Thái Cực Quyền (Phó Trung Văn diễn thuyết, Chu Nguyên Long bút lục, Cố Lưu Hinh chỉnh lý), Ngô Thức Thái Cực Quyền (Từ Trí Nhất biên soạn), Vũ Thức Thái Cực Quyền (Hao Thiếu Như biên soạn, Cố Lưu Hinh chỉnh lý), và Tôn Thức Thái Cực Quyền (Sửa Định Bản) (Tôn Kiếm Vân biên). Trong biên tập cuốn sách này, chúng tôi thống nhất bố cục mục lục và số trang, sửa chữa những chỗ sai sót và không thỏa đáng rõ ràng, đối với nội dung nguyên thư không sửa đổi. Ngoài ra, để đồ hình được rõ ràng, tiện cho việc đọc, chúng tôi đã vẽ lại đồ hình của Vũ Thức Thái Cực Quyền, và dùng hình vẽ đường nét vẽ lại thay thế cho đồ hình chụp ảnh trước đây của Tôn Thức Thái Cực Quyền. Trang Bản Quyền Chịu trách nhiệm biên tập: Vương Khiết (王洁) Thiết kế bìa: Kim Vinh (今荣)

Mục Lục
Trần Thức Thái Cực Quyền1
Lời Giới Thiệu Về Tái Bản2
Sơ Lược Về Trần Thức Thái Cực Quyền3
Chương Một · Tám Đặc Điểm Của Trần Thức Thái Cực Quyền5
Đặc Điểm Thứ Nhất · Vận Động Ý - Khí Dưới Sự Chi Phối Của Đại Não6
Một. Nội Khí Và Dụng Ý7
Hai. Sự Thực Hiện Vận Động Ý - Khí9
Đặc Điểm Thứ Hai · Vận Động Đàn Hồi Của Thân Chi Phóng Dài12
Một. Thân Chi Phóng Dài12
Hai. Tác Dụng Sinh Lý Của Thân Chi Phóng Dài14
Ba. Bát Môn Kình Biệt Và Bồng Kình Đàn Hồi15
Bốn. Nắm Vững Vận Động Đàn Hồi (Bồng Kình)16
Đặc Điểm Thứ Ba · Vận Động Xoắn Ốc Thuận Nghịch Triền Tơ17
Một. Bản Chất Của Vận Động Như Triền Tơ18
Hai. Tác Dụng Của Vận Động Xoắn Ốc Triền Tơ20
Ba. Các Loại Triền Tơ Kình Và Yếu Lĩnh Của Nó21
Bốn. Nắm Vững Vận Động Xoắn Ốc23
Đặc Điểm Thứ Tư · Vận Động Hư Thực Của Lập Thân Trung Chính, Thượng Hạ Tương Tùy26
Một. Tỉ Lệ Hư Thực27
Hai. Ba Loại Hư Thực Cơ Bản29
Ba. Nắm Vững Hư Thực31
Bốn. Khinh Trầm Phù Trầm Và Hư Thực31
Đặc Điểm Thứ Năm · Vận Động Tiết Tiết Quán Xuyến Lấy Eo Tủy Dẫn Đầu, Nội Ngoại Tương Hợp35
Một. Bản Chất Của Tiết Tiết Quán Xuyến36
Mục Lục (tiếp theo)
Hai. Toàn Thân Động Và Các Khớp Eo Tủy37
Ba. Tiết Tiết Quán Xuyến Và Tăng Cường Các Khớp37
Bốn. Điều Chỉnh Phạm Vi Cử Động Khớp38
Năm. Nắm Vững Tiết Tiết Quán Xuyến39
Đặc Điểm Thứ Sáu · Vận Động Nhất Khí Hô Hợp Liên Tục Không Đứt, Tuôn Tuôn Không Cạn40
Một. Sự Thực Hiện Nhất Khí Hô Hợp42
Hai. Thí Dụ Các Bậc Danh Nhân Hành Quyền44
Ba. Thần Khí Động Đãng Và Nhất Khí Hô Hợp45
Bốn. Kình Biệt Và Nhất Khí Hô Hợp45
Đặc Điểm Thứ Bảy · Vận Động Cương Nhu Tương Tế Từ Nhu Đến Cương, Từ Cương Đến Nhu47
Một. Quyền Cương Nhu Tương Tế48
Hai. Thời Kỳ Nhu Nhuyễn Đẩy Lùi Sưng Cứng49
Ba. Thời Kỳ Luyện Nhu Thành Cương49
Bốn. Sự Biến Đổi Của Cương Nhu50
Năm. Nắm Vững Cương Nhu Tương Tế51
Đặc Điểm Thứ Tám · Vận Động Mau Chậm Xen Kẽ Từ Chậm Đến Mau, Từ Mau Đến Chậm53
Một. Trình Tự Phát Triển Của Mau Chậm54
Hai. Thời Gian Và Điều Kiện Chuyển Từ Chậm Sang Mau55
Ba. Mau Chậm Xen Kẽ Và Đều Thanh, Kình Biệt56
Bốn. Nắm Vững Mau Chậm Xen Kẽ58
Kết Ngôn59
Chương Hai · Giải Thích Đồ Hình Trần Thức Thái Cực Quyền Nhất Lộ61
Trình Tự Tên Thức Của Trần Thức Thái Cực Quyền Nhất Lộ61
Mấy Điều Giảng Giải Về Đồ Hình63
Trần Thức Thái Cực Quyền Nhất Lộ64
Chương Ba · Giải Thích Đồ Hình Trần Thức Thái Cực Quyền Nhị Lộ169
Trình Tự Tên Thức Của Trần Thức Thái Cực Quyền Nhị Lộ169
Trần Thức Thái Cực Quyền Nhị Lộ171
Chương Bốn · Thôi Thủ Trần Thức227
Một. Đại Yếu Chung Của Thôi Thủ228
Mục Lục (tiếp theo)
Hai. Phương Pháp Trần Thức Thôi Thủ229
Giáp. Thôi Thủ Cơ Bản Tứ Chính: Bồng, Lý, Tỷ, Án229
Ất. Thôi Thủ Bổ Trợ Tứ Duyên: Thái, Liệt, Thủu, Kháo233
Ba. Hai Sự Tiến Hóa Của Trần Thức Thôi Thủ235
Bốn. Thái Cực Quyền Thôi Thủ Là Âm Dương Kiêm Bị236
Năm. Yếu Lĩnh Động Tác Thôi Thủ237
(Một) Pháp Thân237
(Hai) Pháp Thủ238
(Ba) Pháp Bộ239
(Bốn) Pháp Nhãn240
(Năm) Dính Liên Dính Tùy241
(Sáu) Nhất Thân Bị Ngũ Cung242
(Bảy) Đề Hợp Tích Và Phóng Khai Phát Kình244
(Tám) Hô Hấp Và Lực Viên Yeo Đương245
(Chín) Tác Dụng Của Nội Kình Trong Thôi Thủ246
Sáu. Tác Dụng Chỉ Đạo Của Thái Cực Quyền Luận Đối Với Thôi Thủ Về Mặt Nguyên Lý248
Chương Năm · Trần Thức Thái Cực Quyền Luận256
Trần Hâm Truyện Lược256
Một. Thái Cực Quyền Kinh Phổ258
Hai. Thái Cực Quyền Quyền Phổ259
Ba. Trần Hâm Thái Cực Quyền Luận Phân Loại Ngữ Lục260
1. Tâm Tĩnh Thân Chính, Dĩ Ý Vận Động260
2. Khai Quan Thông Khí, Hô Hấp Tự Nhiên262
3. Khinh Linh Viên Chuyển, Trung Khí Quán Túc264
4. Triền Quấn Vận Kình, Thư Sướng Kinh Lạc266
5. Thượng Hạ Tương Tùy, Nội Ngoại Tương Hợp268
6. Tích Trước Quán Xuyến, Thế Lực Tương Thừa269
7. Hư Lĩnh Đỉnh Kình, Khí Trầm Đan Điền270
8. Hàm Hông Bối Bối, Trầm Kiên Trụy Thủu274
Mục Lục (tiếp theo)
9. Vận Nhu Thành Cương, Cương Nhu Tương Tế272
10. Tiên Chậm Hậu Mau, Mau Nhi Phục Chậm277
11. Trú Tĩnh Ư Động, Nộ Thượng Hốt Hạ277
12. Cương Nhu Tự Tung, Nhất Phiến Thần Hành282
13. Bồi Dưỡng Bản Nguyên, Cần Học Khổ Luyện284
Bốn. Trần Hâm Quan Hành Quan Hài Thập Tam Mục Ngữ Lục285
1. Đầu285
2. Mắt286
3. Tai286
4. Mũi, Miệng287
5. Hạng287
6. Tay287
7. Quyền288
8. Phúc288
9. Eo288
10. Tủy, Bối289
11. Đương Và Đỏn289
12. Túc290
13. Cốt Tiết292
Năm. Kỹ Thuật Quyền Luận292
1. Kỹ Thuật Luận Tập Lục292
2. Kỹ Thuật Thập Lục Mục296
3. Kỹ Thuật Tam Thập Lục Bệnh296
4. Nhiếp Toàn Ca Nhất Đầu298
Sáu. Trần Hâm Đẳng Quyền Luận Đoản Văn Tuyển299
1. Ngâm Thái Cực Quyền299
2. Thái Cực Quyền Kinh Tri Pháp Thi298
3. Thái Cực Quyền Phát Mông Triền Tơ Kình Luận300
4. Thái Cực Quyền Thái Nguyên Giải301
5. Thái Cực Quyền Quyền Dụng301
6. Thái Cực Quyền Tổng Luận Và Quyền Kinh301
Mục Lục (tiếp theo)
7. Trần Phục Tâm Thái Cực Quyền Luận302
8. Thái Cực Quyền Chi Yếu Điểm305
Dương Thức Thái Cực Quyền307
Lời Giới Thiệu Về Tái Bản308
Sơ Lược Về Dương Thức Thái Cực Quyền309
Lời Nói Đầu310
Chương Một · Yếu Lĩnh Thái Cực Quyền311
Thái Cực Quyền Chi Luyện Tập Đàm311
Thái Cực Quyền Thuyết Thập Tứ Yếu314
Chương Hai · Giải Thích Đồ Hình Dương Thức Thái Cực Quyền316
Chương Ba · Dương Thức Thái Cực Quyền Thôi Thủ420
Phụ Lục431
Ngô Thức Thái Cực Quyền435
Lời Giới Thiệu Về Tái Bản436
Sơ Lược Về Ngô Thức Thái Cực Quyền437
Chương Một · Ưu Điểm Của Thái Cực Quyền438
Chương Hai · Tác Dụng Tâm Lý Của Thái Cực Quyền Khi Hành Công445
Mục Lục (tiếp theo)
Chương Ba · Tác Dụng Sinh Lý Của Thái Cực Quyền Trên Đặc Điểm Động Tác450
Chương Bốn · Cơ Sở Cơ Học Của Thái Cực Quyền Trong Kỹ Thuật457
Chương Năm · Pháp Tắc Cần Chú Ý Khi Bàn Giá466
Chương Sáu · Giải Thích Đồ Hình Ngô Thức Thái Cực Quyền478
Chương Bảy · Pháp Tắc Cần Chú Ý Khi Luyện Thôi Thủ550
Chương Tám · Giải Thích Đồ Hình Thôi Thủ Ngô Thức Thái Cực Quyền556
Phụ Lục566
Vũ Thức Thái Cực Quyền569
Sơ Lược Về Vũ Thức Thái Cực Quyền570
Lời Nói Đầu572
Chương Một · Yếu Lĩnh Vũ Thức Thái Cực Quyền574
Chương Hai · Giải Thích Đồ Hình Vũ Thức Thái Cực Quyền586
Phụ Lục · Cổ Điển Quyền Luận646
Tôn Thức Thái Cực Quyền655
Lời Nói Đầu656
Mục Lục (tiếp theo)
Sơ Lược Về Tôn Thức Thái Cực Quyền657
Tổng Thuyết Thái Cực Quyền658
Thượng Biên661
Một. Tên Động Tác661
Hai. Giảng Giải Động Tác663
Hạ Biên704
Một. Phương Pháp Thôi Thủ Thái Cực Quyền704
Hai. Kỹ Thuật Thái Cực Quyền708
Phụ Lục · Tài Liệu Tham Khảo710
Một. Vương Tông Nguyên · Thái Cực Quyền Luận710
Hai. Vũ Vũ Tương · Thái Cực Quyền Luận711
Ba. Thập Tam Thế Hành Công Tâm Giải711
Bốn. Thập Tam Thế Ca Quyết712
Năm. Thôi Thủ Ca Quyết712
Sáu. Lý Diệc Dụ · Ngũ Tự Quyết713
Bảy. Tản Phóng Mật Quyết714
Tám. Thái Cực Quyền Đả Thủ Hành Công Yếu Ngôn714

Trần Thức Thái Cực Quyền

· 1 · (Bìa sách)

Trần Thức Thái Cực Quyền

Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân (Trang tên sách)

Trần Thức Thái Cực Quyền

Thẩm Gia Trinh, Cố Lưu Hinh — biên soạn

Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân (Trang bản quyền)

Trần Thức Thái Cực Quyền

Thẩm Gia Trinh, Cố Lưu Hinh — biên soạn

Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân xuất bản

Nhà in số 1 Bắc Kinh in · Nhà phát hành sách Tân Hoa Bắc Kinh phát hành

787 × 1092 mm · khổ 32 · 182 nghìn chữ · 10 25/32 tờ in

Bản thứ 1 tháng 12 năm 1963 · In lần thứ 4 tháng 4 năm 1982

Số lượng in: 43.201–175.200 cuốn

Số sách thống nhất: 7015·1209 · Giá: 1,10 nguyên

Biên tập: Diêm Hải, Vương Khiết

Thiết kế bìa: Chu Mộng Lân, Tôn Kim Vinh

Lời Nói Đầu Bản In Lại

Sách này đã được in hai lần vào các năm 1963 và 1964, sau đó không tái bản nữa.

Trần Thức Thái Cực Quyền được giới thiệu trong sách là một phái Thái Cực Quyền cổ xưa nhất. Quyền thức chia làm Lộ thứ nhất và Lộ thứ hai, đều là những bài quyền do cố danh quyền sư Trần Phát Khoa truyền dạy. Chương một, hai, ba của sách do Thẩm Gia Trinh chấp bút; chương bốn, năm do Cố Lưu Hinh chấp bút. Hình vẽ động tác được phác họa theo ảnh di vật của Trần Phát Khoa, những phần còn thiếu thì lấy ảnh của con trai Trần Phát Khoa là Trần Chiếu Khuê chụp bổ sung.

Trong quá trình biên soạn, sách đã nhận được sự giúp đỡ của Chu Nguyên Long, Thiệu Bá Chu, Dương Cảnh Huyên, Sào Chấn Dân, Lôi Mộ Ni và những người khác, và do Trần Chiếu Khuê hiệu đính.

Lần in lại này chỉ viết lại mục "Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền", lược bỏ phần "Lời tựa", nội dung nguyên bản không thay đổi. Chỗ nào trong sách còn chưa thỏa đáng, mong bạn đọc góp ý để sửa chữa.

Ban Biên tập Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân

Tháng 4 năm 1980

MỤC LỤC
Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền1
Chương một · Tám đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền3
Đặc điểm thứ nhất · Vận động ý - khí dưới sự chi phối của đại não5
i. Nội khí và dụng ý5
ii. Sự thực hiện vận động ý - khí8
Đặc điểm thứ hai · Vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài11
i. Thân chi duỗi dài11
ii. Tác dụng sinh lý của thân chi duỗi dài13
iii. Tám môn kình biệt và kình bằng (bồng) đàn hồi14
iv. Nắm vững vận động đàn hồi (kình bồng)15
Đặc điểm thứ ba · Vận động xoắn ốc triền ty thuận nghịch17
i. Thực chất của vận động như triền ty18
ii. Tác dụng của vận động xoắn ốc kiểu triền ty20
iii. Các loại kình triền ty và yếu lĩnh của chúng21
iv. Nắm vững vận động xoắn ốc23
Đặc điểm thứ tư · Vận động hư thực lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy27
i. Tỷ lệ hư thực28
ii. Ba loại hư thực cơ bản30
iii. Nắm vững hư thực32
iv. Khinh trọng phù trầm và hư thực33
Đặc điểm thứ năm · Vận động tiết tiết quán xuyến do yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp37
i. Thực chất của tiết tiết quán xuyến38
ii. Quan hệ giữa "nhất động toàn động" và yêu tích39
iii. Tiết tiết quán xuyến và tăng cường các khớp40
iv. Điều tiết độ động của các khớp40
v. Nắm vững tiết tiết quán xuyến42
Đặc điểm thứ sáu · Vận động nhất khí a thành liên miên bất đoạn, thao thao bất tuyệt44
i. Sự thực hiện nhất khí a thành45
ii. Thực lệ hành quyền của danh gia47
iii. Thần khí động đãng và nhất khí a thành ①48
iv. Kình biệt và nhất khí a thành48
Đặc điểm thứ bảy · Vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu50
i. Quyền cương nhu tương tế51
ii. Thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương52
iii. Thời kỳ luyện nhu thành cương52
iv. Sự biến hoán cương nhu53
v. Nắm vững cương nhu tương tế54
Đặc điểm thứ tám · Vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn57
i. Trình tự phát triển của khoái mạn58
ii. Thời gian và điều kiện chuyển từ mạn sang khoái59
iii. Khoái mạn tương gian và quân thanh, kình biệt60
iv. Nắm vững khoái mạn tương gian62
Kết ngữ63
Chương hai · Đồ giải Lộ thứ nhất của Trần Thức Thái Cực Quyền65
Thứ tự tên thức quyền Lộ thứ nhất65
Mấy điểm nói rõ về đồ giải67
Lộ thứ nhất của Trần Thức Thái Cực Quyền68
Chương ba · Đồ giải Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền179
Thứ tự tên thức quyền Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền179
Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền181
Chương bốn · Trần Thức Thái Cực Quyền Thôi Thủ242
i. Yếu nghĩa chung của thôi thủ243
ii. Phương pháp thôi thủ Trần Thức244
Giáp. Bốn chính cơ bản thôi thủ: bằng, lãm, tễ, án244
Ất. Bốn ngung bổ trợ thôi thủ: thái, liệt, trửu, kháo248
iii. Hai loại diễn biến của thôi thủ Trần Thức251
iv. Thôi thủ Thái Cực Quyền kiêm bị âm dương252
v. Yếu lĩnh động tác thôi thủ253
(1) Thân pháp253
(2) Thủ pháp254
(3) Bộ pháp255
(4) Nhãn pháp257
(5) Triêm liên niêm tùy257
(6) Nhất thân bị ngũ cung259
(7) Đề hợp súc và phóng khai phát của phát kình261
(8) Hô hấp và phương viên cương nhu262
(9) Tác dụng của nội kình trong thôi thủ263
vi. Tác dụng chỉ đạo về nguyên tắc của "Thái Cực Quyền Luận" đối với thôi thủ266
Chương năm · Trần Thức Thái Cực Quyền Quyền Luận274
Trần Hâm truyện lược275
i. Thái Cực Quyền Kinh Phổ276
ii. Thái Cực Quyền Quyền Phổ278
iii. Trần Hâm Thái Cực Quyền Luận phân loại ngữ lục ①278
1. Tâm tĩnh thân chính, dĩ ý vận động278
2. Khai hợp hư thực, hô hấp tự nhiên281
3. Khinh linh viên chuyển, trung khí quán túc283
4. Triền nhiễu vận động, thư sướng kinh lạc286
5. Thượng hạ tương tùy, nội ngoại tương hợp288
6. Trước trước quán xuyến, thế thế tương thừa289
7. Hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền290
8. Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu295
9. Vận nhu thành cương, cương nhu tương tế295
10. Tiên mạn hậu khoái, khoái nhi phục mạn298
11. Xuyến bôn khiêu dược, hốt thượng hốt hạ299
12. Cương nhu câu mẫn, nhất phiến thần hành304
13. Bồi dưỡng bản nguyên, cần học khổ luyện306
iv. Trần Hâm ngữ lục về quan hài thập tam mục ①308
1. Đầu308
2. Nhãn308
3. Nhĩ309
4. Tỵ, khẩu309
5. Hạng310
6. Thủ310
7. Quyền310
8. Phúc311
9. Yêu311
10. Tích, bối312
11. Khóa dữ đồn313
12. Túc314
13. Cốt tiết315
v. Giao thủ quyền luận316
1. Cách thủ quyền luận tập lục316
2. Cách thủ thập lục mục320
3. Cách thủ tam thập lục bệnh320
4. Cách thủ ca nhị thủ323
vi. Trần Hâm đẳng quyền luận đoản văn tuyển323
1. Vịnh Thái Cực Quyền323
2. Thái Cực Quyền triền ty pháp thi324
3. Thái Cực Quyền phát mông triền ty kình luận324
4. Thái Cực Quyền thôi nguyên giải325
5. Thái Cực Quyền thể dụng325
6. Thái Cực Quyền tổng luận hòa quyền kinh326
7. Trần Phục Nguyên Thái Cực Quyền luận326
8. Thái Cực Quyền chi yếu điểm330

Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền

Trần Thức Thái Cực Quyền do danh quyền sư Trần Vương Đình khởi tạo vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Trần Vương Đình là người Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam. Từ Trần Vương Đình trở đi, họ Trần đời đời truyền tập Thái Cực Quyền, không ngừng gia công tinh luyện bài quyền sẵn có, dần dần hình thành hai bài quyền Lộ một và Lộ hai lưu truyền đến cận đại. Động tác liên hoàn của hai bài quyền này đều đã được biên bài kỹ lưỡng; tốc độ và cường độ động tác khác nhau, thân pháp, lượng vận động và độ khó cũng khác nhau, nhưng đều hợp với nguyên tắc tuần tự tiến dần và cương nhu tương tế.

Động tác của Lộ thứ nhất tương đối đơn giản, nhu nhiều cương ít, chủ yếu là vận dụng bốn chính kình bằng - lãm - tễ - án, lấy vận dụng bốn ngung thủ thái - liệt - trửu - kháo làm phụ trợ; phương pháp dùng sức lấy kình triền ty làm chính, phát kình làm phụ; động tác cầu nhu thuận, lấy hóa kình làm cơ sở, dùng nhu đón cương và hóa cương, về ngoại hình có đặc sắc hoãn, nhu, ổn. Khi mới luyện, động tác cầu từ từ chậm rãi, và chú trọng rèn luyện kình triền ty. Khi động tác nổi lên, lấy thân pháp dẫn dắt thủ pháp, cầu đạt hiệu quả động phân (lực ly tâm), tĩnh hợp (lực hướng tâm) biến hóa không ngừng. Do tốc độ động tác khá chậm, khung quyền chia cao, trung, thấp, lượng vận động có thể điều tiết, cho nên vừa thích hợp với người thân thể khá tốt dùng để tăng cường thể chất, lại cũng thích hợp với người yếu và một số người mắc bệnh mạn tính để chữa bệnh giữ gìn sức khỏe.

Lộ thứ hai (Pháo Chùy) động tác khá phức tạp, đòi hỏi nhanh gọn, chặt chẽ, cương nhiều nhu ít, dụng kình lấy thái - liệt - trửu - kháo làm chính, lấy bằng - lãm - tễ - án làm phụ; động tác cầu kiên cương, mau lẹ, chú trọng rèn luyện kình đàn hồi. Trong bài quyền có động tác "xuyến băng khiêu dược, đằng nặc thiểm chiến", mang đặc sắc khoái, cương, dược. Nhìn bề ngoài, khoái, cương, dược của nó tuy không khác các phái quyền khác, nhưng về bản chất vẫn có đặc điểm riêng: khi vận động nó không ngừng xoay lưng chuyển tích, xoay cổ tay chuyển vai và xoay cổ chân chuyển gối, hình thành một loạt động tác xoắn ốc nhất động toàn động, xuyên suốt chỉnh thể, từ đó có thể thu được công dụng thống nhất giữa khai và phóng, hợp và thu, và trong khai ngụ hợp, trong hợp ly khai. Do bài quyền này tốc độ nhanh, bộc phát lực mạnh, tương đối thích hợp cho người thanh tráng niên hoặc người thể lực khá tốt luyện tập.

· 1 · Thông qua sự rèn luyện bài quyền, có thể dần dần suy ngẫm nội dung và yếu lĩnh của các kỹ pháp như cương nhu tương tế của Thái Cực Quyền, tức cái gọi là "công phu tri kỷ". Để vận dụng phương pháp triêm, liên, niêm, tùy nhằm cầu hiểu kình, Trần Thức Thái Cực Quyền còn sáng tạo ra thôi thủ mang tính đối kháng, tức "công phu tri bỉ". Thôi thủ Trần Thức Thái Cực Quyền nhấn mạnh xả kỷ tòng nhân, căn cứ vào ngoại lực của đối phương để phát huy kỹ pháp của mình. Đối phương động gấp thì ứng gấp, đối phương động chậm thì tùy chậm. Vì thế đi khung và thôi thủ phải thay nhau luyện tập, mới có thể nắm vững công phu hiểu kình, đạt mức thuần thục.

Trần Thức Thái Cực Quyền là một phái quyền cổ xưa; các phái Thái Cực Quyền khác (như Dương Thức, Ngô Thức, Vũ Thức, Tôn Thức) đều phát triển và sáng tạo trên cơ sở Trần Thức Thái Cực Quyền. Trần Thức Thái Cực Quyền bảo lưu khá nhiều đặc điểm kỹ kích "nhu hóa cương phát" trong động tác; học tập và nghiên cứu phái Thái Cực Quyền này có giá trị tham khảo rất lớn đối với việc kế thừa và sáng tạo võ thuật.

Hai lộ Thái Cực Quyền Lộ một và Lộ hai được giới thiệu trong sách là những quyền thức do cố Thái Cực Quyền sư Trần Phát Khoa (hậu duệ của Trần Vương Đình, 1887–1957) định ra vào những năm cuối đời.

· 2 · Chương một · Tám đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền Thái Cực Quyền là một loại quyền thuật ưu tú do tổ tiên chúng ta sáng tạo và dần dần phát triển trong thực tiễn sinh hoạt lâu dài. Trải qua mấy trăm năm thực hành lặp đi lặp lại và không ngừng tổng kết kinh nghiệm, con người mới dần dần nhận ra mối liên hệ nội tại và quy luật vận động của nó. Những quyền phổ Thái Cực Quyền do tiền nhân để lại chính là sự tổng kết của thực tiễn ấy. Nó cung cấp cho chúng ta những manh mối quý báu để nghiên cứu Thái Cực Quyền, giúp chúng ta học tập Thái Cực Quyền tốt hơn. Nhưng do hạn chế của thời đại, trong lý luận của tiền nhân cũng không ít cặn bã, cho nên trong thực tiễn chúng ta nên kết hợp với nhận thức mới của mình để kiểm nghiệm, loại bỏ cặn bã, hấp thu tinh hoa, nắm vững hơn nữa lý luận đúng đắn của nó, khiến loại quyền thuật này phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Vì vậy, khi học Thái Cực Quyền, ngay từ đầu đã phải nắm chắc những lý luận đúng đắn trong các quyền phổ Thái Cực Quyền ấy, và thông hiểu then chốt của nó, dung hội quán thông, rồi từ trên cơ sở đó phát triển tiến lên, dần dần đi sâu.

Thái Cực Quyền trong toàn bộ quá trình vận động từ đầu đến cuối đều xuyên suốt "âm dương" và "hư thực"; điều này trên động tác Thái Cực Quyền biểu hiện thành việc mỗi thức quyền đều có "khai và hợp", "viên và phương", "quyển và phóng", "hư và thực", "khinh và trầm", "nhu và cương" và "mạn và khoái", đồng thời trong động tác có những hình thức độc đáo thống nhất của các mặt đối lập như tả hữu, thượng hạ, lý ngoại, đại tiểu và tiến thoái. Đây là nguyên tắc cơ bản cấu thành Thái Cực Quyền.

· 3 · Thái Cực Quyền không chỉ độc đáo về ngoại hình, mà về nội công cũng có yêu cầu đặc thù. Khi luyện Thái Cực Quyền, trước hết phải dụng ý bất dụng chuyết lực, cho nên Thái Cực Quyền ở bên trong là vận động ý - khí, ở bên ngoài là vận động thần khí cổ đãng, cũng có nghĩa là vừa phải luyện ý, vừa phải luyện khí. Đặc điểm của vận động ý - khí này chính là tinh hoa của Thái Cực Quyền, và thống lĩnh các đặc điểm khác của Thái Cực Quyền. Ngoài ra, khi luyện Thái Cực Quyền, dưới sự chuyển hoán lẫn nhau giữa toàn thân duỗi dài và triền ty thuận nghịch, động tác phải biểu hiện được năng nhu năng cương, và giàu tính đàn hồi. Tính động thái của nó đòi hỏi nhất động toàn động, tiết tiết quán xuyến, tương liên bất đoạn, nhất khí a thành. Tốc độ của nó đòi hỏi có mạn có khoái, khoái mạn tương gian. Lực lượng của nó đòi hỏi có nhu có cương, cương nhu tương tế. Lập thân và động tác của nó đòi hỏi trung chính bất thiên, trong hư có thực, trong thực có hư và trong khai ngụ hợp, trong hợp ly khai. Có đủ những điều kiện này, Thái Cực Quyền mới có thể phát huy đầy đủ tác dụng đặc thù của nó. Về thể dục bảo vệ sức khỏe, nó không chỉ tăng cường khí quan vận động và khí quan nội tạng, mà còn rèn luyện và tăng cường năng lực chỉ huy của ý thức, tức năng lực "dụng ý bất dụng lực", có thể thuận lợi chỉ huy khí hoạt dược khắp toàn thân. Như vậy vừa luyện được khí, vừa luyện được ý, ý khí tương hỗ tăng trưởng và cường tráng, thân thể tự nhiên cường tráng. Tương tự, về kỹ kích nó cũng có tác dụng độc đáo: có thể dĩ khinh chế trọng, dĩ mạn chế khoái, khắc chế tự nhiên và nắm vững tự nhiên, khi động tác nổi lên có thể nhất động toàn động, "chu thân nhất gia", đạt công phu hiểu kình tri kỷ tri bỉ và tri cơ tri thế ①.

Lý luận của Trần Thức Thái Cực Quyền có chỗ giống với lý luận các phái Thái Cực Quyền khác, cũng có chỗ khác. Nay xin lần lượt trình bày từng đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền như sau.

  • ① Tri cơ là biết thời gian, nắm vững thời gian; tri thế là biết không gian, nắm vững không gian.

· 4 · Đặc điểm thứ nhất · Vận động ý - khí dưới sự chi phối của đại não Quyền phổ quy định:

(1) "Dĩ tâm hành khí, vụ lệnh trầm trước, nãi năng thu liễm nhập cốt";

(2) "Dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại, nãi năng tiện lợi tòng tâm";

(3) "Tâm vi lệnh, khí vi kỳ", "khí dĩ trực dưỡng nhi vô hại";

(4) "Toàn thân ý tại thần, bất tại khí, tại khí tắc trệ".

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, Thái Cực Quyền là quyền luyện ý bằng ý, cũng là quyền hành khí luyện khí. Nhưng khi luyện quyền phải "dĩ tâm hành khí"; tâm là người ra lệnh, khí là "truyền kỳ" phụng lệnh mà hành; mỗi cử mỗi động đều phải dụng ý bất dụng lực, ý động trước rồi hình động sau, như vậy mới làm được "ý đáo khí đáo", khí đáo kình đáo, động tác mới có thể trầm trước, luyện lâu ngày khí mới có thể thu liễm nhập cốt, đạt công phu thâm nhập nhất của "hành khí". Vì thế có thể nói Thái Cực Quyền là một loại vận động ý - khí. "Dĩ tâm hành khí", "dĩ khí vận thân" và dụng ý bất dụng chuyết lực, là đặc điểm thứ nhất của Thái Cực Quyền.

i. Nội khí và dụng ý

Như trên đã nói, khí chịu sự chỉ huy của ý, mà khí này không phải là không khí hô hấp phổi như người ta thường nói, mà là một loại "nội khí". Loại khí này trong lý luận y học của tổ quốc được gọi là "nguyên khí", "chính khí", khí thông hành trong kinh lạc, "tiên thiên khí" v.v., cho rằng được thừa hưởng từ trong thai mẹ; trong châm cứu và liệu pháp khí công, đến nay vẫn còn dùng thuyết này. Các nhà võ thuật thì gọi loại khí này là "trung khí", "nội khí", "nội kình" v.v., cho rằng luyện đến khi có khí này xuất hiện và nắm vững được khí này, công phu mới kể là "đáo gia", v.v.

· 5 · Tóm lại, từ xưa đến nay, bất luận là lý luận y học của tổ quốc, hay giới võ thuật, giới tôn giáo đều cho rằng có loại khí này tồn tại, các kinh nghiệm thực tiễn cũng chứng minh đúng là có một loại khí như vậy tồn tại. Nhưng khoa học cận đại vẫn chưa tra rõ đến cùng thực chất của loại khí này là gì; các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu học thuyết kinh lạc của y học tổ quốc cũng không nhất trí về cách nói đối với khí này, không biết theo ai. Ví dụ, có người nói khí này chính là thần kinh, có người nói là điện sinh học, có người nói là một loại dịch tiết đặc thù trong cơ thể người, có người nói là một loại hệ thống công năng đặc thù trong cơ thể người, v.v., mỗi người một ý, còn chờ khám phá thêm. Nhưng hiện tượng sinh lý của cơ thể người mang tính chỉnh thể, không thể nói ý động mà thần kinh, điện sinh học v.v. không động; vì thế, khi làm rõ khí được nói trong quyền luận, chúng tôi tạm giả định là một loại tổng hợp vật do thần kinh, điện sinh học, ô-xy trong máu v.v. cấu thành, tạm giả định là một loại công năng còn chờ làm rõ của cơ thể người; mục đích là trước tiên kế thừa lý luận của tiền bối, để chúng ta khai quật thêm.

Khi luyện Thái Cực Quyền, dường như đang làm "thể thao ý thức", phải luôn luôn chú trọng dụng ý, động tác thân thể chỉ là biểu hiện bên ngoài của ý. Trong "thể thao ý thức" này, cái ẩn bên trong là quá trình hoạt động của nội khí, cái hiển bên ngoài là biểu hiện động đãng của thần thái và ngoại khí; vì thế nội khí có thể do bên trong phát ra bên ngoài, cũng có thể do bên ngoài thu vào bên trong.

Tuy luyện Thái Cực Quyền phải "dĩ khí vận thân", nhưng khi luyện quyền không được chỉ lo nghĩ khí vận hành trong cơ thể như thế nào, mà phải chú ý vào động tác, nếu không thần thái sẽ đờ đẫn, khí không những không thể thông suốt, mà còn gây ra chứng bệnh khí thế tán mạn, khiến cả ý lẫn khí đều bị hại. Cho nên quyền phổ nói "ý tại thần, bất tại khí, tại khí tắc trệ". Chính vì thế, khi luyện quyền phải đặc biệt coi trọng biểu hiện thần thái bên ngoài, vì thần thái bên ngoài chính là biểu hiện của nội tâm lộ ra bên ngoài. Nội ý và ngoại thần không được lìa nhau trong khoảnh khắc; nội ý hơi lỏng lẻo một chút thì ngoại thần sẽ tán mạn. Điểm này khi luyện quyền không thể không biết.

Trần Thức Thái Cực Quyền chủ trương động tác phải có nhu có cương, có viên có phương, có mạn có khoái, · 6 · có khai có hợp. Chúng tôi cho rằng điều này hợp với quy luật sinh lý của cơ thể người. Mọi người đều biết, cơ thể người động thì điện vị sinh học tăng lên; cơ thể người tĩnh thì điện vị giảm xuống. Mà cương nhu, khai hợp, khoái mạn v.v. của động tác Thái Cực Quyền lại đúng lúc thúc đẩy điện vị lên xuống theo đó. Điện vị tăng lên thì tuần hoàn máu tăng nhanh, phân áp giảm xuống, ô-xy và huyết sắc tố cũng liền phân ly nhanh chóng, con người sẽ cảm thấy có khí. Trong điều kiện bình thường, thần kinh không thể giữ hưng phấn ở mức như nhau trong thời gian dài; vì thế điện sinh học thường mang hình dạng nhấp nhô, mà những nhấp nhô thao thao bất tuyệt của cương nhu, khoái mạn, phương viên v.v. trong động tác Thái Cực Quyền cũng đúng lúc hợp với quy luật này.

Xét về ý khí thì cũng hợp với quy luật trên. Như trên đã nói, thần thái bên ngoài và hoạt động của ngoại khí là biểu hiện của ý khí hiển ra bên ngoài, đại biểu cho ý khí bên trong. Khâu trung tâm của sự ngoại hiển thần khí này chủ yếu là đem ý thức bên trong quán chú vào động tác bên ngoài, và thúc đẩy trong động tác biểu hiện ra sự chuyên nhất, kiên cường và hoạt bát vô trệ của lực chú ý. Nhưng cường độ của lực chú ý, giống như hoạt động thần kinh bên trong, cũng có đặc điểm nâng cao và hạ thấp của tính động đãng ấy. Vì thế, luyện quyền phải thích ứng với đặc điểm này mới khiến lực chú ý ổn định được. Đồng thời, cũng chỉ có ổn định lực chú ý mới không khiến tư tưởng phân tán. Nhưng muốn duy trì lực chú ý ở cường độ như nhau trong thời gian dài khi luyện quyền, đây là điều khó làm được. Trên thực tế, cho dù trong khoảnh khắc, độ động đãng của lực chú ý cũng có phân biệt cao thấp. Vì thế, trong quá trình vận động, nếu áp dụng cách vận động không động đãng kiểu gió yên sóng lặng, không những trái với quy luật sinh lý trên, mà đồng thời cũng phá hoại tính ổn định của lực chú ý. Cho nên, để ổn định lực chú ý, Thái Cực Quyền đã áp dụng một loạt quy định (ví dụ khoái mạn tương gian, khai hợp tương ngụ, phương viên tương sinh và cương nhu tương tế v.v.), và khiến chúng thống nhất trong một vận động.

Những quy định này thúc đẩy vận động ý khí rất tự nhiên sinh ra động đãng, và khiến thần khí cổ đãng bên ngoài và ý khí động đãng bên trong được điều hòa, từ đó nâng cao vận động ý khí bên trong, ngược lại thúc đẩy động tác bên ngoài.

· 7 · Do Thái Cực Quyền là vận động ý khí, cho nên người luyện Thái Cực Quyền lâu năm, chỉ cần trong tư tưởng nghĩ đến một bộ vị nào đó, là có thể sinh ra hoạt động của khí. Vì thế, không ít người không tiếc năm tháng sớm tối đi khung, và thường xuyên chỉnh sửa khung, chính là để làm được điều này. Sau khi động tác Thái Cực Quyền đã luyện thành định hình, quá trình hưng phấn và ức chế trong vỏ đại não có thể chuẩn xác thay nhau hoạt động theo trình tự nhất định; đồng thời, cơ bắp cũng có thể co giãn một cách phối hợp, cho dù ngẫu nhiên bị kích thích đột ngột, cũng không khiến động tác phối hợp ấy bị tổn hại. Làm được điều này, chứng tỏ giữa hoạt động của cơ bắp và khí quan nội tạng đã thiết lập được quan hệ phối hợp vô cùng bền vững, chỉ cần ý đáo khí tựu đáo, khí đáo kình dã đáo.

ii. Sự thực hiện vận động ý khí

Còn phải chỉ ra rằng, về dụng ý khí, Thái Cực Quyền và tĩnh công (tọa công, trạm công và ngọa công) là giống nhau, đều chú trọng luyện ý và luyện khí. Nhưng Thái Cực Quyền là luyện trong hành động (động trung cầu tĩnh), cho nên gọi là vận động ý khí; mà tĩnh công thì không có hành động, đơn độc cầu tĩnh, vì thế hai cái không thể lẫn lộn.

Chính vì Thái Cực Quyền là nội ngoại câu luyện, động trung cầu tĩnh, cho nên muốn làm tốt vận động ý khí bên trong, ắt phải thể hiện tốt thần khí cổ đãng bên ngoài. Như trong "Hành Công Tâm Giải" nói: "Hình như cốt bắt thố, thần tự bộ thử chi miêu". Mà muốn làm được công phu nội ngoại tương hợp và giao tương đoán luyện này, thì phải làm được yêu cầu của bảy đặc điểm dưới đây trong chương này, cũng có nghĩa là chỉ có thực hiện bảy đặc điểm dưới đây, đặc điểm Thái Cực Quyền là vận động ý khí này mới có thể thực hiện. Nói cách khác, đặc điểm tuy chia làm tám, nhưng trên thực tế cùng ở trong một chỉnh thể thống nhất, có liên hệ nội tại, tách ra nói chỉ là để cho tiện mà thôi.

Trước khi trình bày kỹ bảy đặc điểm còn lại, xin nói vắn tắt vai trò của bảy đặc điểm này đối với việc quán triệt đặc điểm vận động ý khí.

Đặc điểm hai — vận động đàn hồi, tức là thân chi duỗi dài, cũng có thể nói là do duỗi dài · 8 · mà sinh ra kết quả đàn hồi. Tính đàn hồi mềm mại là nhân tố nội tại thúc đẩy cổ đãng thân chi. Nếu không có tính đàn hồi, sẽ khiến động tác cứng nhắc, cũng không thể lại hình thành thần khí cổ đãng ngoại hiển, đương nhiên cũng không thể điều hòa với ý khí động đãng bên trong.

Đặc điểm ba — vận động xoắn ốc, có thể tăng cường tính khởi phục động đãng của động tác. Nếu động tác thẳng tới thẳng lui, không có phiên chuyển cao thấp, lý ngoại, sẽ không thể dẫn đến khởi phục động đãng của tinh thần, ý khí và thân pháp. Vì thế, phải kết hợp xoay cổ tay chuyển vai, xoay cổ chân chuyển gối và xoay lưng chuyển tích của vận động xoắn ốc thuận nghịch, để làm được Thái Cực kình xoắn ốc liên quán như nhất quán chú vào tất cả động tác. Như vậy, bất động tắc dĩ, động tắc tự nhiên hình thành thế cổ đãng, trở thành hạch tâm động tác để làm tốt vận động ý khí.

Đặc điểm bốn — điều chỉnh hư thực, là cái gốc của ý khí linh hoán, khiến người ta sinh cảm giác viên hoạt như châu, cũng là nguồn động lực của cổ đãng. Sự biến hoán hư thực thượng tùy hạ và hạ tùy thượng có thể thúc đẩy thần khí và thân pháp hoạt bát vô trệ, thần khí cổ đãng cũng do đó mà sinh. Nếu thượng hạ không thể tương tùy, hư thực không biết điều chỉnh, sẽ không thể đạt trung chính vô thiên của nội kình. Nội kình thiên thì khiến nội kình và thân pháp nghiêng về một bên, mất yêu cầu chi trì bát diện. Muốn khiến thần khí được cổ đãng trong tư thế nội kình nghiêng về một bên là điều không dễ đạt được.

Đặc điểm năm (tiết tiết quán xuyến) và đặc điểm sáu (nhất khí a thành), thực chất là hai giai đoạn của một đặc điểm; cái trước chỉ trong một thức quyền yêu cầu các khớp chính của toàn thân hình thành một con rồng quán xuyến, khiến từng tiết từng tiết lần lượt đi qua; cái sau là khi luyện toàn bộ khung phải quyền giá nhất thức tương liên bất đoạn nhất khí a thành, để mở rộng lượng vận động, đạt yêu cầu cụ thể tiết tiết cổ đãng. Nếu không thể tiết tiết quán xuyến, sẽ sinh đoạn kình, kình đoạn thì không có cổ đãng để nói. Nếu không thể nhất khí a thành, thì đoạn nhi bất liên, bất liên thì các thức quyền hình thành cô lập mà không thể nhất khí cổ đãng. Vì thế, hai đặc điểm này làm không tốt thì không thể khiến thần khí cổ đãng làm tốt, cho nên chúng tương quan thiết yếu.

· 9 · Đặc điểm bảy (cương nhu tương tế) và đặc điểm tám (khoái mạn tương gian) là hai đặc điểm thống nhất mâu thuẫn của hai mặt đối lập, cũng là đặc điểm về kỹ thuật nhất định phải có để làm được thần khí cổ đãng. Không có sự giao triền nhất thể của khoái mạn và cương nhu này, thì không dễ khiến mấy đặc điểm trước phối hợp chặt chẽ, khởi phục động đãng. Do hai đặc điểm này yêu cầu làm được "nhu nhi mạn", "cương nhi tốc", yêu cầu cương tốc nổi lên như đầu sóng đẩy tới, nhu mạn nổi lên như đuôi sóng rút lui, cho nên giao triền lẫn nhau như vậy sẽ hình thành tác dụng đẩy tiến thao thao bất tuyệt. Tác dụng của cương nhu tương tế và khoái mạn tương gian này, về thể dục có thể làm được hành khí nhu mạn và động tác điểm rơi cương khoái, khiến khí hành khắp thân khu, không đến nỗi có chút thái độ si ngốc; về kỹ kích có thể "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", có thể làm được tẩu của "nhân cương ngã nhu" và niêm của "nhân nhu ngã cương". Hai đặc điểm này có thể thúc đẩy vận động ý khí bên trong và thần khí cổ đãng ngoại hiển tiến đến đỉnh cao động đãng.

Từ đây có thể biết, đặc điểm một là đặc điểm thống hạt các đặc điểm khác, nhưng đồng thời nó lại phải dựa vào sự giúp đỡ của bảy đặc điểm khác mới có thể thực hiện. Quan hệ giữa chúng, như mẫu đơn và lá xanh, tương phụ tương thành, lại tương hỗ chế ước, tương hỗ thúc đẩy. Đây là điều khi mới học quyền nhất định phải biết.

Để tiện nắm vững đặc điểm thứ nhất, khái quát yếu lĩnh thành mấy điểm dưới đây.

(1) Khi luyện quyền, ý phải luôn quán chú vào động tác, dĩ ý hành khí, không được chỉ lo mặc tưởng nội khí vận hành như thế nào.

(2) Khi luyện quyền, động tác phải thuận toại, trầm trước, khi kình vận đến điểm cuối phải biểu hiện ra kình biệt, đây là ba biện pháp khiến ý khí được cổ đãng.

(3) Nắm chắc thần khí cổ đãng ngoại hiển, để làm được bất si bất ngốc, và ngược lại thúc đẩy vận động ý khí bên trong.

(4) Khéo vận dụng bảy đặc điểm khác, để phối hợp nâng cao vận động ý khí.

· 10 · Đặc điểm thứ hai · Vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài Quyền phổ quy định:

(1) "Hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền";

(2) "Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu";

(3) "Tùng yêu viên đang, khai khóa khuất tất";

(4) "Thần tụ khí liễm, thân thủ phóng trường".

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, hư lĩnh đính kình và khí trầm đan điền là thân khu phóng trường, hàm hung bạt bối là lấy tiền hung làm trụ cột để phóng trường hậu bối; trầm kiên trụy trửu là thủ tý phóng trường; tùng yêu viên đang và khai khóa khuất tất, đồng thời khiến thối bộ được viên hoạt xoay chuyển, là kết quả của thối bộ phóng trường trong tư thế đặc định này. Cho nên bộ pháp của Thái Cực Quyền phải trong tư thế viên đang tùng yêu và khai khóa khuất tất mà dùng xoay cổ chân chuyển thối để đảo hoán hư thực. Nhìn bề ngoài, là biểu hiện của kình triền ty ở thối, kỳ thực bên trong thúc đẩy thối phóng trường. Một loạt phóng trường này lại thúc thành toàn thân phóng trường; khiến thân chi không những sinh ra tính đàn hồi, hình thành bồng kình, mà còn do toàn thân phóng trường, thúc đẩy tinh thần cũng có thể tự nhiên đề khởi. Vì thế, chỉ cần có tư thế phóng trường, sẽ không dễ phát sinh tật bệnh nỗ trách cổ kình (chuyết lực), cung cấp điều kiện cho tùng khai tự nhiên và thân thủ phóng trường. Cho nên vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài trở thành đặc điểm thứ hai của Thái Cực Quyền.

i. Thân chi phóng trường

Như trên đã nói, luyện Thái Cực Quyền thân chi phải phóng trường, để tăng cường tính đàn hồi của toàn thân; có tính đàn hồi rồi, mới có thể tiến thêm thành bồng kình. Điều này có nghĩa là, bồng kình sinh từ tính đàn hồi, tính đàn hồi sinh từ thân chi phóng trường. Còn thân thể các bộ phóng trường như thế nào, nay theo quyền phổ trình bày như sau.

· 11 · (1) Hư lĩnh đính kình và khí trầm đan điền — cái gọi là đính kình hư lĩnh là đem đính kình hư hư lĩnh khởi lên trên, khí trầm đan điền là đem khí trầm xuống nhập đan điền; hai cái tổng hợp lại, về ý thức có ý đồ kéo ra theo hướng tương phản, điều này khiến thân khu có cảm giác phóng trường.

(2) Hàm hung bạt bối — hàm hung yêu cầu hung bộ vừa không ưỡn ra, cũng không lõm vào, khiến hung thành trụ cột cho tích bối bạt trường, vì trong lực học thanh chịu nén không cho phép bị uốn cong. Tích bối dựa vào trụ cột này để bạt trường, đây chính là bạt trường của tích bối. Về điểm này, khi mới học không được nhầm ưỡn hung là bạt bối, vì lưng còng sẽ khiến tiền hung lõm vào, như vậy sẽ khiến tiền hung mất tác dụng trụ cột, không những khiến bối mất tính đàn hồi bạt trường, đồng thời cũng có hại sức khỏe.

(3) Trầm kiên trụy trửu — tác dụng chính của trầm kiên là làm tí bộ và kiên bộ do hạ tháp mà tiếp chắc. Tí và kiên tiếp chắc, mới khiến tí sinh căn. Đồng thời, do trụy trửu, khiến giữa trửu và kiên bộ đạt phóng trường. Khi thủ tí tiến hành vận động triền ty kiểu xoắn ốc, chính là lấy trụy trửu làm trung tâm. Đồng thời, trụy trửu và tọa oản lại có thể khiến giữa trửu và oản phóng trường. Vì thế, trầm kiên trụy trửu và tọa oản là phóng trường của cả thủ tí.

(4) Khai khóa khuất tất chi xoay chuyển — đây là phóng trường của thối bộ. Thối đứng trên mặt đất, muốn phóng trường thì tương đối khó khăn. Vì thế, đối với thối bộ nêu ra yêu cầu khai khóa khuất tất, yêu cầu trong tư thế đặc định này (viên đang) dùng vận động kiểu xoắn ốc để biến hoán hư thực, điều này chủ yếu biểu hiện ở xoay chuyển của đầu gối. Như vậy, khi thối bộ xoay ra ngoài, khiến bên ngoài ở trạng thái phóng trường còn bên trong thì thu súc. Xoay chuyển của thối này phối hợp với xoay chuyển của thủ, tí, thân, trở thành xoay chuyển của toàn thân, dần dần tăng lên, có thể đạt kình chỉnh thể nhất thể "kỳ căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu nhi hình ư thủ chỉ".

Tổng xét bốn điều quy định trên, có thể thấy Thái Cực Quyền đối với thân khu, thủ, túc đều có yêu cầu phóng trường. Như vậy, không những do phóng trường mà sinh tính đàn hồi, trở thành cơ · 12 · sở của bồng kình của Thái Cực Quyền, mà còn có thể khiến tinh thần con người tự nhiên đề khởi, không đến nỗi phát sinh cổ kình mà thành bệnh tượng chuyết lực ①.

ii. Tác dụng sinh lý của thân chi phóng trường

Cơ bắp khi chịu lực có thể duỗi dài đến mức độ nhất định, nhưng khi ngoại nhân gây ra duỗi dài bị bỏ đi, nó liền lập tức khôi phục nguyên trạng, đây là tính đàn hồi cố hữu của cơ bắp. Vận động thường thấy nói chung chính là rèn luyện và nâng cao tính đàn hồi này. Theo sinh lý học cơ thể người, sự thu súc và phóng trường đàn hồi này của cơ bắp có thể có bốn tác dụng sau:

(1) Có thể khiến năng lực thu phóng của bản thân cơ bắp được rèn luyện tốt, có thể khiến mạng lưới mao mạch huyết dày đặc trong cơ bắp thông suốt.

(2) Có thể tăng cường tân trần đại tạ của tế bào tổ chức, kích thích mọi quá trình sinh mệnh trong cơ thể.

(3) Có thể tăng cường tác dụng trao đổi khí của cơ bắp và mọi khí quan tổ chức khác.

(4) Có thể khiến trong cơ thể được nhiều ô-xy hơn, đồng thời còn có thể nâng cao tỷ lệ lợi dụng ô-xy của các khí quan tổ chức.

Thái Cực Quyền không phải là một loại vận động thân chi đơn thuần; cái nó biểu hiện ra bên ngoài là thần thái cổ đãng, tư thế vô cùng phức tạp đa biến, cái ẩn bên trong là thần tụ khí liễm, "dĩ tâm hành khí", điều này đã nói rõ kỹ trong đặc điểm thứ nhất. Ngoài ra, Thái Cực Quyền không những nội ngoại câu luyện, mà còn trong tình huống toàn thân chi phóng trường tiến hành vận động triền ty thuận nghịch hình xoắn ốc giảo lai giảo khứ. Như vậy không những khiến tính đàn hồi của bản thân cơ bắp được

  • ① Phóng trường là khiến trong thân thủ có cảm giác nhỏ mà dài, còn bồng lực sinh ra là do cổ kình khiến trong thân thủ có cảm giác thô mà ngắn. Cho nên thân chi phóng trường tự nhiên không đến nỗi phát sinh cổ kình mà thành bệnh tượng chuyết lực.

· 13 · rèn luyện tốt, mà còn nâng cao tốc độ tuần hoàn máu, do đó có thể tiêu trừ chứng bệnh do huyết hành bị trệ mà sinh ra. Đây là một trong những tác dụng quan trọng do Thái Cực Quyền phóng trường thân chi và đề khởi tinh thần mà có.

Ngoài ra, vận động đàn hồi của Thái Cực Quyền đối với việc hạ huyết áp cũng có ảnh hưởng rõ rệt, vì trong quá trình thu súc phóng trường của cơ bắp có thể sinh ra tam lân toan và tuyến cam toan v.v. là những sản vật có tác dụng khuếch trương huyết quản. Đồng thời, trong khi tiến hành hoạt động tiết tiết quán xuyến, số lượng mao mạch huyết mở ra trong cơ bắp tăng lên gấp nhiều lần, như vậy cũng mở rộng tiết diện ngang của huyết quản câu thông, do đó có thể khiến huyết áp hạ xuống. Ngoài ra, khi luyện quyền do cơ bắp lặp đi lặp lại phóng trường và khôi phục, cho nên huyết quản không dễ xơ cứng. Đặc biệt là dưới sự phối hợp của vận động xoắn ốc giảo lai giảo khứ, càng có thể phòng ngừa huyết quản xơ cứng. Người luyện Thái Cực Quyền lâu năm nhiều năm khi luyện quyền sẽ cảm thấy huyết quản trên lưng và trong tứ chi dường như đã mở rộng, khi động tác nổi lên khiến người ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái; nếu cách một thời gian không luyện, sẽ có một cảm giác bế tắc. Sự sinh ra hiện tượng này chính là do số lượng mao mạch huyết mở ra tăng giảm mà có.

iii. Tám môn kình biệt và kình bồng đàn hồi

Thái Cực Quyền yêu cầu dụng ý bất dụng chuyết lực, nhưng không phải nói dụng ý bất dụng kình, vì Thái Cực Quyền chính là do tám môn kình cấu thành. Tám môn kình đều có tính đàn hồi phóng trường, cho nên gọi là "kình" mà không gọi là "lực". Tên gọi tám môn kình tuy có khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một bồng kình, bảy kình còn lại chỉ là do phương vị và tác dụng khác nhau mà có tên gọi khác mà thôi. Cho nên Thái Cực Quyền cũng có thể gọi là quyền bồng kình. Nay phân tích nội dung tám môn kình như sau, để nắm vững hơn đặc điểm thứ hai.

(1) Dưới toàn động, lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài triền ty, gọi là bồng kình;

(2) Dưới toàn động, lòng bàn tay do ngoài hướng vào trong triền ty, gọi là lãm kình;

(3) Hai tay đồng thời đem bồng kình giao xoa hướng ra ngoài bồng ra, gọi là tễ kình;

· 14 · (4) Bồng kình hạ xuống khi lòng bàn tay hướng xuống vòng triêm một điểm mà không lìa, gọi là án kình;

(5) Bồng kình hai tay giao xoa phân đôi ra tả hữu, tiền hậu, gọi là thái kình;

(6) Kình quyển súc bồng kình lại, trong khoảng cách ngắn bỗng nhiên run lên mà bắn ra, gọi là liệt kình;

(7) Khi cổ tay đã ra khỏi vòng phương viên, dùng bồng kình của tuyến phòng thủ thứ hai bồng ra, gọi là trửu kình;

(8) Khi trửu đã ra ngoài vòng phương viên, dùng bồng kình của thân bộ là tuyến phòng thủ thứ ba bồng ra, gọi là kháo kình.

Tổng hợp những điều đã nói trên, rốt cuộc quy căn, trong đó chủ yếu luyện là bồng kình. Bồng kình là một loại "kình lò xo" mềm mại không dứt. Đây là vấn đề trước tiên cần làm cho rõ.

iv. Nắm vững vận động đàn hồi (bồng kình)

(1) Muốn luyện bồng kình, trước tiên phải tồi hủy tính cứng cương sẵn có trên thân người — phàm là động tác, ví dụ cầm một vật nặng lên, đều phải dùng lực, lâu ngày dài tháng sẽ khiến con người từ thuở ấu niên đã hình thành thói quen cổ kình cầm nặng và nâng nặng. Cổ kình chính là nỗ trách, lại gọi là chuyết kình, mà cái Thái Cực Quyền cần lại là kình lò xo toàn thân phóng trường. Vì thế, luyện Thái Cực Quyền nên chia làm hai giai đoạn: trước tiên là giai đoạn tiêu trừ cổ kình; sau đó là giai đoạn sinh trưởng kình lò xo mới. Cựu kình bất khứ, tân kình bất sinh, cho nên quyền luận nói: "Vận động như bách luyện cương, hà kiên bất tồi ①". Điều này có nghĩa là phải trải qua ngàn chùy trăm luyện hoàn toàn không dùng chuyết lực, và trong đủ loại tư thế phóng trường và tùng khai khác nhau tiến hành nhu động giảo lai giảo khứ, mới có thể đạt đến mức vô cùng nhu nhuyễn, mới có thể tồi khứ nhân thân

  • ① "Hành Công Tâm Giải" là một văn kiện lý luận chỉ đạo đi khung, không phải là chuẩn tắc chỉ đạo hai người thôi thủ.

· 15 · cựu hữu đích cương kình, cũng có nghĩa là chỉ cần vận động như bách luyện cương, thì bất cứ cương kình nào cũng có thể tồi khứ vô di. Đây là tổng kết kinh nghiệm của tiền bối quyền sư, cho nên hóa ngạnh vi nhu như vậy là giai đoạn tất bất khả thiểu, khi mới học chớ nên coi nhẹ. Thời gian của giai đoạn này càng dài càng tốt, vì chỉ có như vậy mới có thể nhu nhuyễn thấu triệt hơn. Nếu không, nhu nhuyễn không thấu, tương lai khó tránh khiến người luyện tập dừng lại trong khuyết điểm nhu thiểu cương đa không dễ đạt cân bằng.

(2) Bồng kình không phải là kình cố hữu của nhân thân — ở trên đã nói, trong tám môn kình thì bồng kình là cơ bản. Bồng kình sinh từ tính đàn hồi; loại kình đàn hồi này không chỉ là tính đàn hồi của bản thân cơ bắp, mà là trên cơ sở tính đàn hồi của cơ bắp, đem cốt cách nhận đới v.v. liên hợp phóng trường với cơ bắp mà luyện ra. Cho nên nói nó không phải kình cố hữu của nhân thân, mà là kình phải trải qua luyện lâu mới có thể sinh ra. Sự phát triển của nó là từ vô đến hữu, từ hữu đến cường. Muốn luyện tập bồng kình đàn hồi này, nên theo bốn điều quy định trên của quyền phổ mà cố gắng làm. Yếu lĩnh then chốt của nó vẫn là trước tiên bắt đầu từ dụng ý, khiến trên tư tưởng có ý tứ phóng trường. Vận dụng như vậy đã lâu, lại phối hợp với phóng trường cụ thể trên thân chi, may ra không đến nỗi phát sinh lệch lạc.

(3) Thần tụ khí liễm là cơ sở tăng cường tính đàn hồi và nâng cao bồng kình — trong tình huống thân chi phóng trường, khiến tinh thần con người đề khởi mà tập trung, khí trầm mà nội liễm, đây là một hiện tượng tự nhiên sinh ra. Ngược lại, cũng có nghĩa là, chỉ cần thần tụ khí liễm, là có thể dẫn đạo trên ý thức có thần thái phóng trường, thúc đẩy thân chi phóng trường, từ đó nâng cao tính đàn hồi và tăng cường bồng kình. Trong khoảnh khắc thần tụ khí liễm, quần cơ bắp sẽ càng thu súc đầy đủ hơn, đồng thời quần cơ phản kháng thì càng tùng khai đầy đủ hơn; do đó trải qua rèn luyện tùng khai và thu súc lâu dài, cũng tự nhiên tăng cường tính đàn hồi của các bộ phận thân chi, đồng thời cũng nâng cao tố chất thân thể.

Để tiện nắm vững đặc điểm thứ hai, khái quát yếu lĩnh thành năm điểm dưới đây.

(1) Thái Cực Quyền chủ yếu là luyện tập bồng kình, bồng kình sinh từ tính đàn hồi, tính đàn hồi tắc sinh · 16 · do thân chi phóng trường, cho nên phải chú ý phóng trường của thân chi.

(2) Phóng trường của thân khu và thượng bộ, nhất định phải là hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền và hàm hung bạt bối.

(3) Phóng trường của thủ túc, nhất định phải là trầm kiên trụy trửu, tùng yêu viên đang và xoay chuyển khai khóa khuất tất.

(4) Khi luyện tập bồng kình, trước cầu miên nhuyễn để khử cựu lực (chuyết lực), đồng thời phóng trường để sinh trưởng tân kình đàn hồi.

(5) Chỉ có thần tụ khí liễm mà luyện quyền, mới là nhân tố nội tại tăng cường bồng kình.

Đặc điểm thứ ba · Vận động xoắn ốc triền ty thuận nghịch

Quyền phổ quy định:

(1) "Vận động như trừu ty";

(2) "Vận động như triền ty";

(3) "Nhậm quân khai triển dữ thu liễm, thiên vạn bất khả ly Thái Cực";

(4) "Diệu thủ nhất vận nhất Thái Cực, tích tượng hóa hoàn quy ô hữu".

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, vận động Thái Cực Quyền nhất định phải có hình dạng như trừu ty. Trừu ty là xoay chuyển mà trừu ra, vì trực trừu trong xoay chuyển, tự nhiên hình thành một hình dạng xoắn ốc, đây là sự thống nhất của mặt đối lập khúc trực. Còn triền ty kình hay trừu ty kình đều chỉ ý tứ này. Vì trong quá trình triền, thân súc kỳ tứ chi đồng dạng sẽ sinh ra một hình tượng xoắn ốc, cho nên quyền luận nói, bất luận động tác lớn khai triển hay động tác nhỏ khẩn thấu, ngàn vạn lần không được lìa khỏi Thái Cực kình thống nhất của mặt đối lập này. Luyện thuần thục rồi, vòng triền ty này càng luyện càng nhỏ, đạt đến hữu viên bất kiến viên · 17 · đích cảnh giới, đến lúc đó thì thuần dĩ ý tri ①, cho nên vận động xoắn ốc thống nhất của mặt đối lập triền ty thuận nghịch trở thành đặc điểm thứ ba của Thái Cực Quyền.

i. Thực chất của vận động như triền ty

Thái Cực Quyền nhất định phải vận động như triền ty, hoặc nói vận động như trừu ty. Hai loại ví von hình tượng này đều nói rằng, hình tượng của vận động như xoắn ốc. Đồng thời, xoắn ốc này lại phải đi đường hồ tuyến, giống như viên đạn sau khi qua đường rãnh xoắn trong nòng súng, khi nó vận động trong không gian, vừa có xoay chuyển tự thân hình xoắn ốc, vừa có đường vận động hình pa-ra-bôn. Kình triền ty của Thái Cực Quyền phải có hình tượng này.

Ở trên đã nói rõ ý nghĩa vận động phải như triền ty, vậy trong vận động thực tế nên vận hành như thế nào? Nói ra vô cùng tầm thường mà đơn giản, chính là dưới yêu cầu nhất động toàn động, khi động tác lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài phiên hoặc do ngoài hướng vào trong phiên ②, khiến nó hình thành hình tượng thái cực đồ (như hình 1). Đồng thời, do lòng bàn tay phiên trong phiên ngoài, biểu hiện ở thượng chi là xoay oản chuyển bàng, biểu hiện ở hạ chi là xoay cổ chân chuyển thối ③, biểu hiện ở thân khu là xoay lưng chuyển tích. Ba giả kết hợp lại, hình thành một đường cong xoay chuyển không gian căn tại cước, chủ tể ư yêu nhi hình ư thủ chỉ. Đây là yêu cầu Thái Cực Quyền nhất định phải làm được. Vì thế quyền phổ đặc biệt nêu ra rằng khi luyện quyền bất luận là khai triển phóng khai hay khẩn thấu

  • ① Tiểu giá tử mà Dương Thiếu Hầu tiên sinh phóng chế những năm cuối đời, chỉ thấy phát kình, không thấy vận động. Đây là biểu hiện cụ thể của vòng vận động nhỏ đến không nhìn thấy, chỉ hiển lộ phát kình ra, là công phu thuần thục khẩn thấu bất kiến viên.
  • ② Cái gọi là do trong phiên ra ngoài hoặc do ngoài phiên vào trong, đều lấy sự phiên chuyển của ngón trỏ làm chuẩn. Như trong hình 1, tay từ điểm 1 đến điểm 2, lúc này vận động của ngón trỏ là do trong phiên ra ngoài, nên là thuận triền; tay từ điểm 2 đến điểm 3, vận động của ngón trỏ là do ngoài phiên vào trong, nên là nghịch triền.
  • ③ Sự phân chia triền ty thuận nghịch của thối bộ lấy hướng xoay chuyển của đầu gối làm chuẩn, tức là khi đầu gối do tất nội đảo vãng tiền chuyển do ngoại hướng hạ tà triền, hoặc do tất ngoại vãng hậu chuyển do nội hướng thượng tà triền, đều là thuận triền. Khi đầu gối do tất ngoại vãng tiền chuyển do nội hướng thượng tà triền, hoặc do tất nội vãng hậu chuyển do ngoại hướng hạ tà triền, đều là nghịch triền.

· 18 · (Giáp) Đồ thị triền ty tay trái  (Ất) Đồ thị triền ty tay phải Thuyết minh: 1. Đoạn đường liền nét là thuận triền ty, đoạn đường đứt nét là nghịch triền ty. 2. Các điểm được ghi trong hình đều là điểm chuyển hoán của triền ty.

图 L0F1
图 L0F1
Đồ thị triền ty thuận nghịch: (Giáp) đồ thị triền ty tay trái; (Ất) đồ thị triền ty tay phải. Đoạn đường liền nét là thuận triền ty, đoạn đường đứt nét là nghịch triền ty, các điểm được ghi trong hình đều là điểm chuyển hoán của triền ty.

· 19 · thu liễm, đều không được trong khoảnh khắc lìa khỏi Thái Cực kình của "phiên chuyển lòng bàn tay" và "xoay oản chuyển bàng", điều này giống như trái đất vòng quanh mặt trời vận chuyển theo đường hồ tuyến, đồng thời bản thân trái đất còn tự chuyển xoay chuyển. Cho nên, Thái Cực kình không phải là một vòng tròn trên mặt phẳng, mà là xoắn ốc lập thể tăng lên.

ii. Tác dụng của vận động xoắn ốc kiểu triền ty

Khi luyện quyền nếu tay là duỗi thẳng tùy triền mà không phiên chuyển lòng bàn tay, thối là tiền cung hậu tọa mà không có tả hữu xoay chuyển phối hợp, sẽ phát sinh khuyết điểm "đính kháng" tỷ lực (như hình 2). Để sửa chính khuyết điểm này, ắt phải dùng kình xoắn ốc. Vì bán kính độ cong của xoắn ốc là biến hóa; bất cứ áp lực nào đè trên thanh xoắn ốc này, đều có thể rất tự nhiên đem áp lực do xoay chuyển lạc không mà bị hóa khứ. Đây là phương pháp hóa kình khoa học. Từ hình 3 có thể thấy tác dụng của nó.

图 L0F2
图 L0F2
Đồ thị vận động cung tuyến một chiều: vận động hình cung thẳng tới thẳng lui, áp lực đối lập với hướng đẩy ra, do đó sinh ra đính kháng (chữ nhỏ trong hình ghi "áp lực" và "sản sinh đính kháng").
图 L0F3
图 L0F3
Đồ thị vận động trừu ty xoắn ốc: vận động trừu ty trên thanh xoắn ốc, áp lực có thể do xoay chuyển mà lạc không.

Hình 2 · Đồ thị vận động cung tuyến một chiều  Hình 3 · Đồ thị vận động trừu ty xoắn ốc

Triền ty kiểu xoắn ốc của Thái Cực Quyền là do lai của tên gọi quyền "Thái Cực". Loại vận động kiểu xoắn ốc này là phương thức vận động kiểu Trung Quốc độc đáo, hiếm thấy trên thế giới. Về thể dục · 20 · phương diện đoán luyện, nó có thể thúc đẩy toàn thân tiết tiết quán xuyến ① địa thôi kình, và do đó tiến đến cảnh giới nhất động vô hữu bất động của nội ngoại tương hợp. Điều này đối với khí quan nội tạng có thể khởi một tác dụng mát-xa. Đồng thời, khiến thần khí hiển ra bên ngoài phát sinh cổ đãng, do đó kiện cường vỏ đại não, từ đó có thể tiến thêm một bước tăng cường toàn thân nhất thiết tổ chức khí quan.

Thứ đến, về phương diện kỹ kích, tác dụng của triền ty kình cũng lớn. Hạch tâm kỹ kích của Thái Cực Quyền là công phu hiểu kình "tri kỷ tri bỉ" và "tri cơ tri thế". Hiểu kình có thể chia làm hai phương diện: một là vì mình hiểu kình, tức hiểu kình của động tác mình, phải từ đi khung mà có được; hai là vì người hiểu kình, tức hiểu kình của người khác, phải từ thôi thủ mà có được. Muốn cầu tri nhân, tất tiên tri kỷ, đây là quá trình nhận thức sự vật. Muốn khiến "tri kỷ" của đi khung đạt cảnh giới cao độ thuần thục, thì phải luyện thành công phu chu thân nhất gia. Công phu chu thân nhất gia là do nội ngoại tương hợp và tiết tiết quán xuyến mà luyện thành, mà hai giả này đều sinh từ động tác triền ty kiểu xoắn ốc. Vì thế về phương diện kỹ kích, triền ty kình cũng vô cùng trọng yếu.

iii. Các loại kình triền ty và yếu lĩnh của chúng

Kình triền ty của Thái Cực Quyền theo tính năng có thể chia làm hai loại triền ty cơ bản: một loại là thuận triền ty khi lòng bàn tay do trong phiên ra ngoài, phần lớn trong thuận triền ty là bồng kình (như đoạn đường liền nét trong hình 1); một loại khác là nghịch triền ty khi lòng bàn tay do ngoài phiên vào trong, phần lớn trong nghịch triền ty là lãm kình (như đoạn đường đứt nét trong hình 1). Hai loại triền ty này tồn tại trong mọi quá trình vận động của Thái Cực Quyền, và quán xuyến thủy chung. Vì thế, trong mọi động tác cũng đều bao hàm sự biến hóa tương hỗ của hai kình bồng lãm; chúng là mâu thuẫn cơ bản trong vận động, đồng thời lại tương hỗ chuyển hóa trong nhất nguyên. Dưới hai triền ty cơ bản này, do phương vị bất đồng và biến hoán các dị, lại phân ra năm đôi triền ty phương vị bất đồng

  • ① Tiết tiết quán xuyến là đặc điểm thứ năm của Thái Cực Quyền.

· 21 · (như hình 4). Phương vị triền ty của tả hữu và thượng hạ hợp thành một vòng tròn chỉnh, đồng thời kết hợp lý ngoại, khiến vòng tròn mặt phẳng biến thành vòng tròn lập thể, đây chính là đặc sắc tất cụ của vận động xoắn ốc kiểu Thái Cực. Thứ đến, để khi luyện quyền có tả hữu phùng nguyên, liên tùy ư nhân Hình 4 · Đồ thị mười hai triền ty kình biệt — đây là đồ cấu trúc: thuận triền ty / cơ bản triền ty / nghịch triền ty → phương vị triền ty → tả hữu triền ty · thượng hạ triền ty · lý ngoại triền ty · đại tiểu triền ty · tiến thoái triền ty.

图 L0F4
图 L0F4
Đồ thị mười hai triền ty kình biệt: lấy "cơ bản triền ty" chia thành "thuận triền ty" và "nghịch triền ty", dưới quyền thống hạt "phương vị triền ty", lại chia thành năm đôi triền ty phương vị: tả hữu triền ty, thượng hạ triền ty, lý ngoại triền ty, đại tiểu triền ty, tiến thoái triền ty.

và tiết tiết quán xuyến như chu thân nhất gia, lại có sự phối hợp của hai đôi triền ty phương vị đại tiểu, tiến thoái, để thỏa mãn nhu cầu đặc thù trên kiện thân và kỹ kích. Vì thế, mỗi một thức quyền của Thái Cực Quyền, trên cơ sở thuận nghịch cơ bản triền ty, ít nhất phải có ba đôi triền ty phương vị kết hợp lại để tiến hành vận động. Chỉ cần nắm vững quy luật này, là có thể khiến động tác khi vạch đường hồ tiến hành vận động có nhất định y cứ, bất luận là học tập hay sửa chính quyền thức, cũng liền dễ dàng hơn nhiều. Khi luyện quyền nếu cảm thấy một động tác nào đó có chỗ bất đắc thế và bất đắc kình, có thể căn cứ chỗ bất thuận toại của triền ty mà dịch chuyển một chút yêu thối, để cầu được thuận toại, liền có thể khiến tư thế được sửa chính. Cho nên nắm vững triền ty, chính là nắm vững công cụ tự sửa chính. Nay cử ví dụ để nói rõ tác dụng của nó.

(1) "Vân thủ" — thức quyền này, trong thập tam thế là thức duy nhất bao hàm song thuận chuyển song nghịch tả hữu đại triền ty. Khi vận động, cơ bản triền ty của hai tay là thuận triền ty khi lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài, chuyển thành nghịch triền ty do ngoài hướng vào trong; phương vị triền ty của nó là tả hữu, thượng hạ và hơi hướng lý ngoại. Tả hữu, thượng hạ là một vòng tròn mặt phẳng, nếu · 22 · lại khiến vạch vòng hơi hướng lý ngoại, liền có thể thành một vòng tròn lập thể của đường cong không gian, có thể đạt công dụng khí thiếp tích bối.

(2) "Bạch hạc lượng sí" — cơ bản triền ty của nó là nhất thuận nhất nghịch, là một loại triền ty tương đối nhiều trong giá tử; phương vị triền ty của nó là tả hữu, thượng hạ và lý ngoại. Vì nhất thuận nhất nghịch, ở tay trái là nghịch triền ty hướng vào trong, hướng xuống, ở tay phải là thuận triền ty hướng ra ngoài, hướng lên, hai giả hợp lại, dưới yêu cầu lưỡng bác tương hệ ① trở thành một "hữu thuận tả nghịch phân bồng viên" của hữu thượng, tả hạ.

Các ví dụ trên nói rõ, các thức quyền của Thái Cực Quyền tuy hoa dạng phồn đa, chuyển hoán các biệt, nhưng phân tích từ cơ bản triền ty của nó thì vô cùng đơn giản. Tất cả quyền thức đều không ngoài ba loại tổ hợp "song thuận triền ty", "song nghịch triền ty" và "nhất thuận nhất nghịch triền ty". Nếu theo cách này thường xuyên phân tích và suy ngẫm giá tử mình thường đi, và liệt biểu thành ra, liền có thể trở thành y cứ luyện tập của mình. Có y cứ này rồi, thì có thể phân thanh kình biệt, làm được nội ngoại tương hợp và tiết tiết quán xuyến, trên cơ sở nâng cao tính đàn hồi đạt yêu cầu tư thế chính xác.

iv. Nắm vững vận động xoắn ốc

Đặc điểm ba là do lai của tên quyền Thái Cực, tác dụng của nó đã như trên. Cho nên tiền nhân để khiến hậu học giả làm tốt vận động như triền ty, đã làm chuyên luận trong "Thái Cực Quyền Luận", đây là một thiên tổng kết thực tiễn của vận động. Trong đó, phần thứ nhất luận thuật kình triền ty. Muốn nắm vững đặc điểm ba, chỉ cần theo phần này mà tỷ chiếu luyện tập, và làm y cứ kiểm tra giá tử mình thường ngày, liền có thể có được tư thế và động tác chính xác. Nay đem

  • ① Lưỡng bác tương hệ là khi vận động, hai cánh tay dường như có một sợi dây ràng buộc lẫn nhau, khi một cánh tay động, cánh tay kia cũng có thể trong điều kiện khiến sợi dây cơ bản duy trì căng chặt, đi theo vận động; cũng có nghĩa là, phải khiến hai cánh tay bên trong thủy chung hàm hữu bồng kình căng mở.

· 23 · phần này khái quát giải thích như sau.

(1) Do tinh thần thực chất nắm vững đặc điểm ba.

(Giáp) "Nhất cử nhất động, chu thân câu yếu khinh linh" — tinh thần nếu có thể đề khởi, liền có thể không có nỗi lo trì trọng, đây là phương pháp cầu khinh; ý khí nếu có thể linh hoán, thì ý khí sẽ không đến nỗi đãi trệ trên một điểm nào, đây là phương pháp cầu linh. Điểm thứ nhất để nắm vững triền ty kình, chính là trong quá trình vận động chu thân nhất định phải khinh phải linh, như vậy mới có thể cung cấp điều kiện có lợi cho việc làm tốt động tác triền ty.

(Ất) "Động tác tu tiết tiết quán xuyến" — trong vận động như triền ty, phải khinh linh, càng phải quán xuyến, đây cũng là một khâu trọng yếu trong vận động, khi học tập không được coi nhẹ. Nội dung tường tận của nó, có thể tham khảo đặc điểm thứ năm của chương này.

(Bính) "Thần nghi cổ đãng, khí nghi nội liễm" ① — nếu tâm ý không thể quán triệt vào trong động tác mà có nghĩ khác, biểu hiện ý si thần ngai, thì thần sẽ không dễ cổ đãng, đồng thời khí cũng không thể nội liễm dĩ tòng tâm, kết quả tạo thành khí thế tán mạn, kình vô hàm súc, thân pháp tán loạn. Vì thế, trước tiên phải đem tâm ý quán triệt vào trong động tác thao thao bất tuyệt và khởi phục bất dĩ, thì thần tự cổ đãng. Thứ đến, phải khiến hô hấp phổi phối hợp vận động. Do thần cổ đãng, khí tự thu liễm mà không đến nỗi tán mạn; khí bất tán mạn, liền có thể do thần đới đầu mà đồng thời động đãng khởi lên.

Tổng xét ba yêu cầu trên, có thể nói "vận động khinh linh dữ quán xuyến, thần khí cổ đãng dữ nội liễm" chính là tinh thần thực chất tất phải nắm vững khi nắm vững triền ty kình.

(2) Do kình biệt nắm vững đặc điểm ba.

(Giáp) "Vô sử hữu khuyết hãm xứ" — khi vận dụng triền ty kình, bất luận là thuận hay nghịch, đều cốt khiến tám môn kình vận đến trên cung bối của xoắn ốc, tức là trên mặt tiếp xúc của xoắn ốc, tuyệt không được khi thì ở cung bối, khi lại hãm ở trong cung, đây là chỗ triền ty dễ đụng

  • ① Thần dữ khí khả cổ đãng, diệc khả nội liễm. Cho nên quyền luận nói, "Dục yếu thần khí cổ đãng, tiên yếu đề khởi tinh thần, thần bất ngoại tán".

· 24 · đáo đích khuyết điểm. Nếu nhất kinh hãm tại lý diện, không những tước nhược liễu bồng kình, đồng thời dã hội thất khứ triền ty trung đích ma sát đặc tính. Vì thế, nếu nhất hữu khuyết hãm, kình tựu bất năng đạt đáo xoắn ốc đích tiếp xúc diện thượng, dã tựu thất khứ triền ty kình đích khiên động tác dụng (như hình 5).

(Ất) "Vô sử hữu a đột xứ" — lộ tuyến vận dụng của triền ty kình, tại sở hữu quá trình trung đô yếu tố đáo khúc tuyến hoãn hòa, hình thành thuận toại đích tư thế; đồng thời, hựu yếu cầu miên nhuyễn nhi phú ư đàn tính, giá thị tiêu diệt a đột đích nhất chủng phương pháp. Tức sử tại phát kình thời, diệc yếu như nhuyễn bì tiên nhất dạng đích suất xuất khứ. Giá dạng, do ư thân thủ phóng trường, thân chi hựu Hình 5 · Đồ thị khuyết hãm triền ty — một chỗ trong thái cực đồ lõm vào trong, bên cạnh ghi "khuyết hãm".

Hình 6 · Đồ thị a đột trừu ty — đường triền ty xuất hiện nhiều chỗ gấp khúc a đột sắc nhọn và khuyết khẩu.

图 L0F5
图 L0F5
Đồ thị khuyết hãm triền ty: một chỗ lõm vào trong của "khuyết hãm" xuất hiện trên đường triền ty.
图 L0F6
图 L0F6
Đồ thị a đột trừu ty: nhiều chỗ gấp khúc a đột sắc nhọn và khuyết khẩu xuất hiện trên đường triền ty.

tượng đả liễu khí đích luân thai, dữ vật tiếp xúc tựu cụ hữu tùy cao trục đê đích niêm tẩu tác dụng. Nhược vận động nhất hữu a đột, tựu sản sinh lăng giác, phát sinh đính kháng đích mao bệnh, tòng nhi sử vận động thất khứ xoắn ốc xoay chuyển đích tác dụng (như hình 6).

(Bính) "Vô sử hữu đoạn tục xứ" — triền ty đích nhất thiết quá trình, vô luận thị thuận triền hoặc thị nghịch triền, vụ tu nhất triền đáo để. Sở vị "để", nãi thị đáo đạt liễu giá nhất quyền thức biểu hiện kình biệt đích lạc điểm xứ, dã tựu thị tiếp tố hạ nhất thức đích chuyển quan xứ. Đáo liễu thử xứ, do triệp điệt chuyển hoán ① tiếp tố hạ nhất triền ty, tương kình tiếp đáo hạ nhất quyền thức trung. Kình ký bất đoạn, dã tựu vô tu tục. Như triền chí bán đồ tương kình đoạn liễu, nhiên hậu hựu

  • ① Ý nghĩa triệp điệt khả tường kiến đặc điểm thứ sáu.

· 25 · tương tha tiếp tục thượng khứ, giá thị yếu bất đắc đích. Nhân vi triền ty hữu liễu đoạn tục, tựu thị nhất cá không khích, giá nhất không khích bất đãn thất khứ ứng hữu đích khiên động tác dụng, thả vi đối phương tạo thành đắc cơ đích cơ hội. Nhân thử, tại vận động triền ty thượng thuyết thị bất duẫn hứa đích (như hình 7). Kỳ thứ, tức sử tại phát kình thời, tuy nhiên khả dĩ hữu đoạn tục, đãn nhưng tu hữu "kình đoạn ý bất đoạn, ý đoạn thần khả tiếp" đích yếu cầu, tức sở vị đoạn nhi phục liên.

Hình 7 · Đồ thị triền ty bất khả hữu đoạn tục — một vòng đường triền ty, phía trên ghi "đoạn này bất khả hữu đoạn tục", phía dưới ghi "đoạn này bất khả hữu đoạn tục", hai bên ghi "tương quan bộ vị".

图 L0F7
图 L0F7
Đồ thị triền ty bất khả hữu đoạn tục: trên một vòng đường triền ty, đoạn trên và đoạn dưới ghi "đoạn này không được có đoạn tục", hai bên ghi "bộ vị tương quan".

Tổng xét ba mục trên, nói rõ trong quá trình triền ty, cũng có nghĩa là trong quá trình vận động, vạn bất khả phát sinh khuyết điểm khuyết hãm, a đột hoặc đoạn tục. Trong ba khuyết điểm, cho dù phạm một cái, cũng không thể lại phát huy tác dụng ứng hữu của triền ty kình. Đây là vấn đề bất khả hốt thị khi học tập.

Để tiện nắm vững, nay đem yếu lĩnh khái quát như sau.

(1) Triền ty kình là do lai mệnh danh của Thái Cực Quyền, không có triền ty kình sẽ không thể khiến kình vòng quanh thân chi tiết tiết thượng thăng, đạt chỉnh chỉnh nhất khí.

(2) Tu tri "quán xuyến" đích yếu cầu, bất cận thị vận động tu thông quá quan tiết bộ phận, nhi thả hoàn tu sử tha thông quá chỉnh cá quan tiết thượng hạ đích cơ nhục bộ phận, giá thị xoắn ốc triền ty đích tác dụng.

(3) Thái Cực Quyền hữu nhất đối cơ bản triền ty hòa ngũ đối phương vị triền ty thị giáo hòa học Thái · 26 · Thái Cực Quyền đích tối hảo đích công cụ.

(4) Vận động như triền ty, chỉ hữu tại khinh linh quán xuyến điều kiện hạ tài năng thực hiện; đồng thời, thần khí phương diện tất tu cổ đãng hòa nội liễm.

(5) Triền ty kình đích vận dụng bất khả sản sinh khuyết hãm, a đột hòa đoạn tục đẳng tam cá khuyết điểm.

Đặc điểm thứ tư · Vận động hư thực lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy

Quyền phổ quy định:

(1) "Ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú, sở vị biến chuyển hư thực tu lưu ý dã."

(2) "Hư thực nghi phân thanh sở, nhất xứ hữu nhất xứ hư thực, xứ xứ tổng thử nhất hư nhất thực".

(3) "Lập thân tu trung chính an thư, chi trì bát diện"; "thượng hạ tương tùy nhân nan xâm".

(4) "Vĩ lư trung chính thần quán đính", "thượng hạ nhất điều tuyến".

Bốn điều quy định trên có thể nói rõ, sở hữu động tác của Thái Cực Quyền đô tất tu phân thanh hư thực. Động tác năng phân thanh hư thực địa chuyển hoán, tựu khả nại cửu bất bì, giá thị tối kinh tế đích nhất chủng động lực hoạt động. Nhân thử, luyện Thái Cực Quyền thời song thủ yếu hữu hư thực, song túc dã yếu hữu hư thực, vưu kỳ trọng yếu đích thị tả thủ hòa tả túc, hữu thủ hòa hữu túc yếu thượng hạ tương tùy địa phân thanh hư thực, dã tựu thị thuyết, tả thủ thực tắc tả túc ứng hư, hữu thủ hư tắc hữu túc ứng thực. Giá thị điều tiết nội kình sử chi bảo trì trung chính đích trung tâm hoàn tiết. Thử ngoại, hình thành lạc điểm đích hư trung yếu hữu thực, thực trung yếu hữu hư, tòng nhi xứ xứ tổng hữu thử nhất hư nhất thực, sử nội kình xứ xứ đạt đáo trung chính bất thiên. Sơ học thời, động tác khả dĩ đại hư đại · 27 · thực, dĩ hậu trục bộ luyện thành tiểu hư tiểu thực, tối hậu đạt đáo nội hữu hư thực nhi ngoại diện bất kiến hữu hư thực đích cảnh giới, giá thị điều chỉnh hư thực đích tối thâm công phu.

Hư thực linh hoán đích hạch tâm, tại ư ý khí đích linh hoán, đồng thời yếu tại "trung thổ bất ly vị" ① cập nội kình trung chính tình huống hạ lai hoàn thành. Vi thử, luyện quyền thời tất tu "vĩ lư trung chính", "an thư chi trì bát diện", "hư lĩnh đính kình", "thượng hạ nhất điều tuyến" địa tùy thời điều chỉnh hư thực. Sở dĩ lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy địa điều chỉnh hư thực tựu thành vi Thái Cực Quyền đích đệ tứ cá đặc điểm.

i. Hư thực bỉ lệ

Căn cứ Thái Cực Quyền lý luận, tại nhất thiết động tác nội đô tất tu phân thanh hư thực, sở dĩ luyện quyền thời yếu chú ý sử động tác xứ xứ hữu thử nhất hư nhất thực. Vi liễu tố hảo hư thực đích điều chỉnh, thủ tiên tất tu nhận thanh hư thực đích chính xác hàm nghĩa. Sở vị hư, bất thị toàn vô lực lượng; sở vị thực, diệc phi toàn bộ chiếm sát. Dĩ song túc lai thuyết, hư bất thị tại giá nhất chích cước thượng toàn vô hà trọng, thực diệc phi toàn bộ hà trọng đô phóng tại giá nhất chích cước thượng (đề thối, độc lập hòa giải oản cầm nã đẳng quyền thức lệ ngoại), nhi bất quá thị sử hư bỉ thực đích hà trọng khinh ta. Giá nhất hư thực danh từ đích sản sinh, tại lực học thượng lai thuyết, thị do ư nhân thể tổng hà trọng đích trọng tâm thường hữu thiên di. Đương trọng tâm thiên di đáo hữu biên thời, tắc thành vi hữu túc thực nhi tả túc hư, thiên tả thời, tắc hựu thành vi tả túc thực nhi hữu túc hư (như hình 8). Thượng diện thuyết quá, Thái Cực Quyền động lực bản thân tựu sản sinh ư trọng tâm thiên soa đích đảo hoán trung, như quả một hữu thiên soa, tựu thị thuyết trọng tâm chính bãi tại trung tâm tuyến thượng, na tựu hội hình thành song trọng ②, thất khứ động lực nhi hình thành trệ trọng đích mao bệnh. Thử thời như quả tương song thủ hư hư bồng khởi, tựu

  • ① Trung thổ bất ly vị, chỉ nhân thể trọng tâm bất ly khai lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất đích ý tư, tường kiến hình 9.
  • ② Song trọng thị song túc bất phân hư thực, thành vi song thực; song thủ dã bất phân hư thực, diệc thành vi song thực. Nhân thử thành vi song trọng, dĩ trí ngại ư hư thực trệ trụ, biến hoán bất linh, sở dĩ vi bệnh.

· 28 · khả thành vi song trầm ① đích công thủ, khả sử vận động trọng tân hoạch đắc chuyển hoán đích động lực.

Hư thực bất thị cố định đích, tha tùy trứ quyền thức biến hóa nhi biến hoán. Tại khai thủy học quyền thời, nghi thái thủ đại hư đại thực đích tư thế, như nhị bát chi bỉ (nhị bát chi bỉ thị chỉ lưỡng cước phụ trọng đích phân phối bỉ lệ, như dĩ toàn thân trọng nhất bách cân vi lệ, tắc nhất cước phụ đam nhị thập cân, lánh nhất cước phụ đam bát thập cân). Tùy trứ công phu đích thục luyện, tựu yếu chuyển vi tiểu hư tiểu thực đích tư thế, như lưỡng cước đích phụ trọng phân phối bỉ lệ vi tứ lục đẳng. Kinh quá giá chủng khẩn thấu công phu dĩ hậu, do ư động độ biến tiểu, tựu khả sử hư thực biến hoán đắc canh gia linh hoạt. Biến hoán linh hoạt đích nội tại căn do, tại ư ý khí chuyển hoán đích linh hoạt, nhân nhi khả dĩ tố đáo bất trệ trụ ư mỗ nhất diện, bất chuyên chú ư mỗ nhất điểm: lệ như mỗ thức ứng chú ý tả thủ, tắc năng hào bất phí lực địa lập tức chuyển đáo tả thủ thượng ②. Giá dạng tựu khả sử nhân tại luyện quyền thời hữu tả hữu phùng nguyên đích cảm giác, sản sinh viên hoạt như châu cổn tại bàn thượng đích thú vị. Tòng tư thế thượng thuyết, tại nhậm hà biến hoán hạ, giai bất năng sử "trung thổ ly vị"; bất ly vị tài năng tiền hậu tả hữu biến hoán nhi bất thụ trở. Nhược thân thể thiên ư nhất biên lai tiến hành biến hoán, tựu tu kinh quá điều chỉnh tài năng linh hoạt quá lai. Giá Hình 8 · Đồ thị trọng tâm thiên di — trong hình ghi: vĩ lư trung chính tuyến, trọng tâm tuyến, tả túc hà trọng 1/2 (hư), hữu túc hà trọng 1/2 (thực), dĩ e biểu thị trọng tâm thiên di.

图 L0F8
图 L0F8
Đồ thị trọng tâm thiên di: tư thế cung bộ nghiêng thân, ghi "vĩ lư trung chính tuyến", "trọng tâm tuyến", "tả túc hà trọng 1/2 (hư)", "hữu túc hà trọng 1/2 (thực)", dĩ e biểu thị trọng tâm thiên di.
  • ① Song trầm thị song túc tuy vị phân hư thực, tựu thị vi vị hư thực, thành vi song thực, đãn thị song thủ khước thị toàn hư, hoặc thị vi vị hư thực. Giá dạng tựu thành liễu thiên hư, như thập tự thủ, vi thượng hạ tương tùy đích song thực song hư, thị vi song trầm. Thử thời lưỡng thủ lưỡng túc tuy nhiên vi song hư hòa song thực, đãn nhưng nội trung hữu chủ tân chi phân, sở dĩ bất vi bệnh.
  • ② Giá thị chỉ nhân đích tập quán đa dụng hữu thủ, đãn hữu thời ứng chú ý tả thủ thời, nhưng cựu chú ý đáo hữu thủ thượng.

· 29 · thị nhất cá thất thế đích không khích, tịnh thả nhân vi đa liễu nhất đạo thủ tục, sử hành động chuyển mạn, tọa thất lương cơ. Giá dụng Thái Cực Quyền thuật ngữ lai thuyết, xưng vi thất cơ. Thất cơ, thất thế thị Thái Cực Quyền đích đại bệnh, sở dĩ biến hoán hư thực chỉ hữu tại chính trung lập thân đích tình huống hạ, tài khả dĩ đạt đáo linh hoạt chuyển hoán đích yếu cầu, giá thị tất tu chưởng ác đích trọng yếu quan kiện chi nhất.

ii. Tam chủng cơ bản hư thực

图 L0F9
图 L0F9
Bán khinh bán trọng: cung bộ hai cước khai lập trước sau, hai cước đều có trứ lạc, trọng tâm vị ư trung gian tam phân chi nhất dĩ nội của khoảng cách hai thối (hình ghi: tả túc phụ 1/3, hữu túc phụ 2/3).
图 L0F10
图 L0F10
Thiên khinh thiên trọng: trọng tâm siêu xuất trung gian tam phân chi nhất, một cước đặc biệt nặng, cước kia phù bãi (hình ghi: quá khinh, quá trọng).

(1) Cước đích hư thực — cước đích hư thực hoa phân, tựu thị nhất chích cước phụ trọng ta, lánh nhất chích cước phụ đam khinh ta. Án chiếu lực học nguyên lý, thân thể trọng lượng đích trọng tâm nhược vị ư lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất đích địa phương, tựu khả sử lưỡng cước quân hữu trứ lạc, xưng vi bán khinh bán trọng ① (như hình 9). Như quả trọng tâm vị trí siêu xuất liễu trung gian tam phân chi nhất đích phạm vi, tắc na chỉ hư cước tựu hội nhân quá hư nhi sản sinh phù bãi đích hiện Hình 9 · Bán khinh bán trọng  Hình 10 · Thiên khinh thiên trọng

  • ① Bán giả tựu thị nhân thân trọng lượng đích trọng tâm tại lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất dĩ nội, giá thời lưỡng cước quân hữu hạ kình lạc tại địa diện thượng, chỉ bất quá khinh trọng bất đồng nhi dĩ, sở dĩ xưng vi bán hữu trứ lạc, hoặc xưng bán khinh bán trọng, giá thị chính xác đích tư thế.

· 30 · tượng, đã thành bệnh tượng thiên khinh thiên trọng①. (như trong Hình 10)

Ngoài ra, khi vận động hoặc khi phát kình, động tác phải đạt được khúc súc hữu dư (cong chứa mà vẫn còn dư). Cho dù sau khi phát kình, tứ chi cũng vẫn không nên duỗi thẳng hết mức. Bởi vì một khi đã duỗi thẳng, thì khi chuyển đổi hư thực, trước tiên phải đem thẳng đổi thành cong, rồi sau mới có thể đảo hoán co duỗi. Nhưng nếu tay chân ở trong tư thế khúc súc hữu dư, thì khi chạm vào liền có thể xoay chuyển tự nhiên, không phải phân tâm vào việc đảo hoán, đây là cơ sở khiến động tác có thể tự động hóa.

Tóm lại, yêu cầu của Thái Cực Quyền đối với hư thực của hai chân, bất luận khi nào và ở đâu, đều phải có sự đảo hoán một hư một thực này, lại càng phải từng bước thu nhỏ tỷ lệ, khiến cho sự chuyển biến hư thực mau lẹ hơn. Nếu hư thực của hai chân đổi không mau, thì không thể thích ứng với sự biến hóa của tay, khiến trên dưới không thể tương tùy, liền phải phân thành hai ngả, phá hoại yêu cầu động tác phải chu thân nhất gia (toàn thân một nhà).

(2) Hư thực của tay — phàm khi kình vận đến tay mà nâng lên đỡ (bằng) thì tay này là hư; vận đến tay mà trầm xuống thì tay này là thực. Động tác của hai tay trong Thái Cực Quyền, cũng như động tác của hai chân, cũng phải phân chia hư thực; cho dù khi hai tay cùng ấn, như quyền thức Lục Phong Tứ Bế (Sáu phong bốn bế) này, cũng là chia theo tỷ lệ bốn sáu. Nhưng tỷ lệ hư thực của tay hơi khác với chân: sau khi công phu tinh tiến, tỷ lệ của nó, trừ vài quyền thức cá biệt, đều ở trong khoảng ba bảy đến bốn sáu, tỷ lệ là lớn. Đây là để đạt được trầm trước tùng tĩnh (trầm ổn buông lỏng yên tĩnh), chuyên chủ một phương, lấy một phương làm chủ, phương kia làm khách mà quy định. Đặc biệt quan trọng là, không chỉ tứ chi phải đổi cho linh hoạt, mà ý khí lại càng phải đổi cho linh hoạt, khiến ý khí không trệ trên một tay, nhất là tay phải.

(3) Hư thực của tay và chân — việc phân chia hư thực tốn công phu nhất, phải kể là việc phân chia hư thực trên dưới của một tay một chân. Mà có tác dụng nhất đối với bảo kiện và kỹ kích, cũng chính là việc phân chia hư thực trên dưới của tay và chân này. Đây là hạch tâm khiến bộ pháp đạt được liên tùy (liền theo).

  • ① "Thiên" là chỉ vị trí trọng tâm đã vượt ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa, khiến một chân đặc biệt nặng, còn chân kia thì trôi bồng bềnh trên mặt đất, hình thành thiên về một bên, vì vậy bên kia đương nhiên là thiên khinh; đây gọi là "thiên vô trước lạc" (thiên không chỗ dựa), hay gọi là thiên khinh thiên trọng, là một loại bệnh.

· 31 · Yêu cầu và cách làm của nó là: như tay phải trầm xuống là thực, thì chân phải ắt là hư; đợi đến khi tay phải chuyển lên đỡ (bằng) là hư, thì chân phải liền theo tay ở trên mà chuyển thành thực; làm như vậy, gọi là "phân hư thực trên dưới tương tùy". Cho nên trong Thái Cực Quyền 《Đả Thủ Ca》 có nói: "Bằng lãm tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan xâm" (Đỡ, lôi, chen, ấn phải nghiêm túc, trên dưới tương tùy người khó xâm nhập), tầm quan trọng của nó có thể suy ra được. Vì vậy, khi luyện quyền phải kiểm tra đầy đủ xem mỗi một động tác có đạt được yêu cầu trên dưới tương tùy này hay không. Lấy việc luyện một lượt giá tử mà nói, trong đó tư thế rất đa dạng, mà biến đổi tư thế lại thường xuyên như vậy, muốn làm được trên dưới tương tùy, đương nhiên phải tốn một phen công phu mới có thể nắm giữ thành thục. Sự chuyển đổi này, ngoài việc khi bước chân tay theo chân để chuyển đổi hư thực, đa số đều là chân theo tay để chuyển đổi hư thực. Tóm lại, làm được hư thực trên dưới của một tay một chân, thì vị trí trọng tâm có thể không ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa khoảng cách hai chân, khiến chân trái phải đều có chỗ dựa, cho nên nội kình có thể đạt được trung chính; nội kình trung chính rồi, mới có thể chống đỡ tám mặt. Loại hư thực này quy nạp vào điểm đáp của bàn chân trên mặt đất mà nói, là trong hư có thực và trong thực có hư. Chỉ khi có được loại hư thực trên dưới tương tùy này, bộ pháp mới có thể khinh linh bất trệ, tiến thoái tự như, mới có thể liên tùy với người mà không đến nỗi phát sinh bệnh tượng đâu đỉnh. Đồng thời, khi đã thuần thục rồi đẩy tay, chỉ cần chú ý đến một tay tiếp xúc với đối phương, còn tay kia và hai chân đều có thể do đó mà dưỡng thành thói quen trên dưới tương tùy, mà không phải phân tâm nữa, có thể được hiệu quả phối hợp tự động, cũng là mấu chốt của động trung cầu tĩnh (tìm tĩnh trong động) mà được tĩnh.

Phần 2

Trang sách 38

III. Sự nắm giữ hư thực

III. Sự nắm giữ hư thực

Như trên đã nói, Thái Cực Quyền lấy việc phân rõ hư thực và mô-men lệch tâm sinh ra do trọng tâm thiên di làm nguồn động lực; đây là tác dụng cơ giới tiết kiệm sức nhất, có thể khiến người ta lâu dài không mệt. Khi luyện quyền chỉ cần dịch chuyển một cái trọng tâm, là có thể động tác lên được. Trình tự rèn luyện hư thực này, thứ nhất là hư thực của hai chân, thứ hai là hư thực của hai tay, cuối cùng, và cũng là chủ yếu, là hư thực trên dưới của một tay một chân.

· 32 · Thái Cực Quyền khi luyện một lượt giá tử, hai tay để có thể đi vòng theo hình cung, phải liên tục biến đổi hư thực bất chợt, từ đó thúc đẩy hai chân phải điều chỉnh hư thực theo hư thực của tay. Cũng vậy, hai chân khi tiến thoái đều bước ra trong trạng thái hư, bước đến điểm của nó rồi mới đặt xuống mà chuyển thành thực. Đây là yêu cầu bước chân thông thường của Thái Cực Quyền, cho nên tay phải theo hư thực của chân mà chuyển đổi hư thực. Những điều này đều thuộc yêu cầu trên tùy dưới và dưới tùy trên, trên dưới tương tùy; luyện Thái Cực Quyền phải tuân theo yêu cầu này và dưỡng thành thói quen này. Lâu ngày luyện tập, một khi đã thành thói quen, thì khi người đến tự nhiên có thể sinh ra "liên" (liền) tự động, khi người đi lại tự nhiên có thể sinh ra "tùy" (theo) tự động, không còn phải tốn nhiều tâm ý để chỉ huy động tác nữa.

Phần 3

Trang sách 39

IV. Khinh trọng phù trầm và hư thực

IV. Khinh trọng phù trầm và hư thực

Phân chia hư thực, nhìn qua thì không phải là một việc phức tạp, nhưng thực tế lại là một quá trình học tập vô cùng tỉ mỉ và đa dạng. Vì vậy, để học hư thực được tốt hơn, ắt phải tiến thêm một bước tìm hiểu quan hệ giữa bốn thứ khinh, trọng, phù, trầm với hư thực. Quyền luận nói: "Nhược bất cùng nghiên khinh trọng phù trầm chi thủ, hữu quật tỉnh đồ lao bất cập tuyền chi thán" (Nếu không nghiên cứu cùng tận cái tay khinh trọng phù trầm, thì có cái than thở đào giếng uổng công không tới mạch nước), điều này nói rõ tầm quan trọng của nó.

Để nắm giữ hư thực này một cách tỉ mỉ, nên trong từng quyền thức chăm chú tìm tòi, tìm ra khuyết điểm — mà sửa chữa cho hết. Lúc này có sáu mấu chốt phải nắm giữ; nắm giữ được sáu mấu chốt này, thì cơ bản có thể trở thành công thủ (tay thành thạo), mà không phải bệnh thủ (tay có bệnh).

(1) Phải "bán" (nửa), không được "thiên" (lệch) — cái gọi là "bán" là chỉ khoảng cách lệch tâm của trọng tâm thân người chưa vượt ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa khoảng cách hai chân; đây là một loại lệch tâm nằm trong vòng phương viên (vuông tròn), là tiêu chuẩn phân chia hư thực cho đúng. Cái gọi là "thiên" thì chỉ khoảng cách lệch tâm của trọng tâm thân người đã vượt ra khỏi phạm vi nói trên, khiến lệch tâm ra khỏi vòng phương viên — đó là do hư thực chia quá mức. Cho nên "bán" là có chỗ dựa, không phải bệnh; còn "thiên" thì đã không có chỗ dựa, là bệnh. Vì vậy khi phân hư thực phải "bán", không được "thiên". (Như trong Hình 11.)

· 33 · là có chỗ dựa, không phải bệnh; còn "thiên" thì đã không có chỗ dựa, là bệnh. Vì vậy khi phân hư thực phải "bán", không được "thiên". (Như trong Hình 11.)

图 L0F11
图 L0F11
Sơ đồ phương viên (vuông tròn: tròn mà vuông, vuông mà tròn; trong hình ghi rõ điểm tròn, điểm vuông, đường xoắn ốc (tròn), đường khai triển (vuông), thân người, khu vực vận động)

(2) Phải "trầm", không được "trọng" — cái gọi là "trọng" là chỉ hiện tượng trệ sinh ra do điền thực quá mức. Cái gọi là "trầm" là chỉ tuy là trầm xuống, nhưng vẫn có thể "tự nhĩ đằng hư" (tự nó bay lên hư không); nói cách khác, trầm là sinh ra trong lúc trên dưới tương tùy: như chân trầm xuống là thực, mà tay nâng đỡ (bằng) là hư, thì có thể khiến trong thực có hư. Vì vậy "trầm" không phải bệnh, mà "trọng" là bệnh (nhưng bán khinh bán trọng thì trừ ra). Cho nên khi phân hư thực, phải "trầm", không được "trọng".

(3) Phải "khinh", không được "phù" — "khinh" là ở trong phương viên khiến động tác biểu hiện khinh linh mà có chỗ dựa; còn "phù" là ra khỏi phương viên, khiến gót chân nổi lên phiêu diêu không chỗ dựa — tức là hư quá mức, cho nên phù là một loại bệnh tượng. Vì vậy, khi phân hư thực, phải "khinh", không được "phù".

(4) Ba thứ hư thực không bệnh — khi luyện quyền nên học tập và làm được ba thứ hư thực không bệnh là "song khinh①", "song trầm" và "bán khinh bán trọng". Trong ba

  • ① Dưới sự hành khí khi tâm ý hư linh bất muội và thanh minh tại cung, cổ đãng đỉnh kình; ở trên thì hai cánh tay tương liên, ở dưới thì hai chân tương tùy; hư thực chỉ có phần vi mạt, nhưng lại có thể tự nhiên khinh linh chuyển đổi — đó là song khinh, cho nên không phải bệnh.

· 34 · thứ hư không này, lại lấy công phu "song khinh", "song trầm" là tương đối tỉ mỉ khó làm; làm không tốt, thì có khả năng chảy vào "song phù①" (tay hư chân cũng hư) và "song trọng" (tay thực chân cũng thực), đây là điều phải hết sức chú ý. Đặc biệt là công thủ của "song khinh", "song trầm" và bệnh thủ của "song phù", "song trọng", trong lúc chuyển dịch tay chân chỉ có sai biệt hào ly; vì thế lại càng phải đề phòng khả năng "sai chi hào ly, mậu dĩ thiên lý" (sai một hào ly, lệch đi ngàn dặm) này phát sinh.

Bảng 1. Bệnh thủ và công thủ trong phân chia hư thực

Số hiệuTên bệnh thủBệnh tượngSố hiệuTên công thủCông năngPhụ ký
1Song trọngBệnh ở điền thực1Song khinhTự nhiên khinh linhBảng này theo quyền luận 《Thái Cực Quyền khinh trọng phù trầm giải》 phân tích mà được. Toàn bộ phân chia hư thực có tất cả mười hai hạng, trong đó công thủ chỉ có ba hạng, mà bệnh thủ lại có chín hạng, chiếm ba phần tư. Vì vậy, khi luyện tập hơi bất cẩn, liền dễ xuất hiện bệnh thủ, nên gia tăng chú ý.
2Song phùBệnh ở phiêu diêu2Song trầmTự nhĩ đằng hư
3Thiên khinh thiên trọngThiên vô trước lạc3Bán khinh bán trọngBán hữu trước lạc
4Bán phù bán trầmThất chi bất cập
5Thiên phù thiên trầmThất chi thái quá
6Bán trọng thiên trọngTrệ nhi bất chính
7Bán khinh thiên khinhLinh nhi bất viên
8Bán trầm thiên trầmHư nhi bất chính
9Bán phù thiên phùMang nhi bất viên

(5) Cách thủ là biện pháp quan trọng để cứu chữa thiên trọng, thiên phù② — khi cá nhân đơn

  • ① Song phù là hai tay hư, hai chân do đại hư đại thực quá mức, khiến trong quá trình vận động không những bàn chân hư kia nổi lên, mà ngay cả bàn chân quá thực kia khi chuyển đổi cũng bị kéo cho đứng không vững mà nổi lên, đến nỗi toàn thân phiêu diêu không chỗ dựa, thành song phù, cho nên là bệnh.
  • ② Cái gọi là thiên trọng thiên phù, là do tay và chân cùng một bên trên dưới đều hư, hoặc trên dưới đều thực, khiến kình dồn về một bên mà hình thành. Vì vậy, việc phân hư thực trên dưới tương tùy chính là để đưa ra nhằm không xảy ra thiên trọng thiên phù.

· 35 · độc luyện tập, là có thể làm được yêu cầu chuyển đổi hư thực mà không ra khỏi góc — tức là không đến nỗi ra khỏi phương quyển mà phát sinh hư thực thiên trọng, thiên phù. Nhưng khi đẩy tay với người, đã liên quan đến sự việc của hai phương diện, quyết không thể dựa vào nguyện vọng chủ quan mà phiến diện nghĩ rằng không ra khỏi góc là có thể không ra khỏi góc. Nếu đối phương dùng cách thủ (cách tay) của thái, liệt để cưỡng nắm, cưỡng đánh, thì bản thân mình có khi cũng khó tránh phải ra khỏi góc. Vì vậy, liền không thể không dùng cách thủ để cứu chữa loại hư thực ra khỏi góc này, khiến nó trở lại trong phương quyển, đạt được hư thực bán khinh bán trọng. Ví dụ, tay phải ra khỏi góc, tay trái xuất kích; người đón tay trái, thì tay phải lại có thể trở về trong tứ chính của phương quyển. Đây là thủ pháp cứu chữa hư thực của mình khi ra khỏi góc. (Như trong Hình 12.)

图 L0F12
图 L0F12
Sơ đồ phạm vi vận động tứ chính tứ ngung (trong hình ghi rõ khai triển quyển, "trong phương quyển là phạm vi hoạt động tứ chính", thân người, phạm vi kỹ kích, "trong vòng tròn là phạm vi hoạt động tứ ngung (dùng vai, cùi chỏ, hông, gối)", và xuất ngung thủ (ngung tế thứ bộ cứu))

(6) Phải làm tốt hư thực, chớ quên cách thủ — ví dụ khi đẩy tay, nếu đối phương là một kẻ đại khai đại triển phủ ngưỡng khuynh tà, thường muốn dùng thủ pháp xuất ngung để chế người, thì lúc này nếu không dám dùng hoặc không quen dùng cách thủ để đối phó cách thủ của hắn, mà vẫn muốn dùng tứ chính để đối phó tứ ngung của hắn, cùng hắn chiêm niêm vạch vòng · 36 · thúc đẩy không ngừng, thì động tác như vậy đã trái với quy định ngung thủ đối với ngung thủ, sẽ khiến bản thân bất giác sinh ra hư thực thiên trọng, thiên phù; có thể nói đây là một khuyết điểm của việc quen dùng tứ chính. Cho nên, quyền luận nói: "Thái liệt trửu kháo cánh xuất kỳ, hành chi bất dụng phí tâm cơ" (Thái, liệt, cùi chỏ, vai càng xuất kỳ, làm nó không phải phí tâm cơ), điều này vừa hay nói rõ tầm quan trọng của ngung thủ. Nếu quên mất việc nắm giữ ngung thủ, thì sẽ khiến thiên trọng, thiên phù của hư thực không được sửa chữa, hơn nữa còn thúc đẩy mình tiến thêm một bước ra khỏi góc. Đây là khuyết điểm sinh ra do quen tứ chính mà quên tứ ngung, trở thành "một chân".

Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ tư, khái quát yếu điểm của nó như sau.

(1) Phân rõ ba thứ hư thực chủ yếu, tức hư thực của chân, hư thực của tay và hư thực của một tay một chân.

(2) Chú ý điều chỉnh hư thực của tay và chân ở tay trái chân trái và tay phải chân phải — đây là mấu chốt chính của "thượng hạ tương tùy nhân nan xâm" (trên dưới tương tùy người khó xâm nhập).

(3) Phải căn cứ nguyên tắc khinh trọng phù trầm, thường xuyên kiểm tra khuyết điểm trong việc phân chia hư thực của mình.

(4) Phải làm được ba thứ hư thực không bệnh là song khinh, song trầm và bán khinh bán trọng; điều này phải khắc khắc lưu tâm, lâu dài rèn luyện mới có thể dưỡng thành.

(5) Khi đẩy tay chớ quên nguyên tắc "ngung thủ đối đãi ngung thủ". Tứ chính thủ và tứ ngung thủ phải chuyển đổi lẫn nhau, cả hai đều phải luyện.

Phần 4

Trang sách 42

Đặc điểm thứ năm: Vận động tiết tiết quán xuyến của yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp

Đặc điểm thứ năm: Vận động tiết tiết quán xuyến của yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp

Quyền phổ quy định:

(1) "Yêu tích vi đệ nhất chủ tể, nhất động vô hữu bất động" (Yêu và tích là chủ tể thứ nhất, một cái động thì không có gì không động);

(2) "Chu thân tiết tiết quán xuyến, vô sử ti hào gian đoạn" (Toàn thân từng tiết quán xuyến, chớ để chút tơ hào gián đoạn);

· 37 · (3) "Dục yếu chu thân nhất gia, tiên yếu chu thân vô hữu khuyết hãm" (Muốn toàn thân một nhà, trước phải toàn thân không có khuyết hãm);

(4) "Hành khí như cửu khúc châu, vô vi bất đáo" (Hành khí như hạt châu chín khúc, không chỗ nhỏ nào không tới).

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, để đạt được nhất động toàn động (một động thì toàn động), ắt phải lấy yêu tích làm trung tâm, bởi vì yêu là trục giữa quay song song trái phải, còn tích là cơ sở của uốn cong trên dưới. Động tác Thái Cực Quyền đã cần nhất động toàn động, thì trên đường vận động không thể đơn thuần quay ngang trái phải, cũng không thể chỉ làm động tác uốn cong trên dưới, trước sau, mà ắt phải liên hợp yêu và tích lại, khiến đường vận động hình thành một đường cong không gian vừa là trái phải, vừa là trên dưới, trước sau, để thiết lập cơ sở cho nhất động toàn động. Nói cách khác, chỉ có thông qua lấy yêu tích làm trung tâm, mới có thể khiến chín khớp vận động chủ yếu của toàn thân① lần lượt quán xuyến lại với nhau. Ngoài ra, còn phải làm được toàn thân không khuyết hãm, quán xuyến như hạt châu tròn chín khúc; như vậy công phu mới có thể tiến tới mức toàn thân một nhà. Cho nên vận động tiết tiết quán xuyến của yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp, trở thành đặc điểm thứ năm của Thái Cực Quyền.

Phần 5

Trang sách 43

I. Thực chất của tiết tiết quán xuyến

I. Thực chất của tiết tiết quán xuyến

Để làm rõ thực chất của tiết tiết quán xuyến, thử lấy nửa thân dưới làm ví dụ để giải thích. Khi kình khởi từ gót chân, qua khớp cổ chân, vòng quanh bắp chân nâng lên đến khớp gối, rồi từ khớp gối xoay nâng lên, vòng quanh đùi đến khớp hông, có thể làm được không có chút tơ hào gián đoạn — đó gọi là tiết tiết quán xuyến của nửa thân dưới. Điều này nói rõ rằng cái gọi là quán xuyến không chỉ động ở khớp, mà còn phải khiến toàn bộ chân vừa vòng vừa nâng lên mà động. Nếu không qua đùi và bắp chân mà chỉ do các khớp cổ chân, gối, hông v.v. động, thì thuộc về động từ tiết này nhảy vọt đến tiết khác — đây là một loại "linh đoạn kình" (kình đứt rời). Vì vậy, chỉ có kình nâng lên qua đùi và bắp chân mới là "quán xuyến kình" đích thực②.

  • ① Chín khớp chủ yếu chỉ: cổ, tích, yêu, hông, gối, cổ chân, vai, cùi chỏ và cổ tay.
  • ② "Linh đoạn kình" chỉ khớp vận động, còn "quán xuyến kình" thì cơ và khớp cùng động.

· 38 · Làm rõ được quán xuyến kình rồi, thì có thể tìm ra điểm đặt lực. Nếu khiến chân trước cung sau tháp mà không có xoay trái phải, thì bất luận thế nào cũng không thể đem khớp và cơ quán xuyến lại với nhau; lúc này chỉ có thể biểu hiện sự co và phóng của khớp, không có quan hệ trực tiếp với việc duỗi dài của cơ. Tay cánh nếu duỗi thẳng co thẳng, tình hình cũng như vậy. Cho nên, yêu cầu quán xuyến này ngoài việc vận dụng kiểu nâng lên xoắn ốc theo đường triền ty (dây leo) thì không có cách nào đạt được.

Phần 6

Trang sách 44

II. Quan hệ giữa nhất động toàn động với yêu tích

II. Quan hệ giữa nhất động toàn động với yêu tích

Động tác Thái Cực Quyền trước tiên yêu cầu chín khớp chủ yếu bên ngoài có thể lần lượt quán xuyến mà vận động lên, như vậy mới có thể khiến nội tạng sinh ra tác dụng "mát-xa". Khi luyện quyền quyết không được để vài khớp động mà vài khớp khác không động. Để làm được toàn thân khớp lần lượt toàn động, ắt phải tìm ra khâu trung tâm của nó trên thân người, và dùng nó để lãnh đạo các khớp lần lượt vận động; như vậy mới khiến động tác trở nên tương đối đơn giản. Nếu không, phải vận dụng não lực để chăm lo chín khớp lần lượt tiết tiết cùng động, điều này sẽ gây ra cố thử thất bỉ (chăm cái này mất cái kia), bận rộn không ngừng, không những không thể đạt được mục đích quán xuyến toàn động, mà còn mất đi yêu cầu động trung cầu tĩnh.

图 L0F13
图 L0F13
Sơ đồ "động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp": (Giáp) hình chiếu đứng, (Ất) hình chiếu bằng; trong hình ghi rõ phân, hợp và cánh tay

Chúng ta biết rằng, hai cơ quan yêu và tích này ở giữa thân người, chúng tự · 39 · nhiên có công năng của trục giữa. Vì vậy, nếu có thể khiến yêu tích phối hợp với vận động xoắn ốc của đặc điểm thứ ba, thì có thể đạt được yêu cầu tiết tiết quán xuyến; cho nên trong Thái Cực Quyền gọi yêu tích là chủ tể thứ nhất. Vì có trục giữa này, hai tay mới có thể vận dụng tính thống nhất của lực ly tâm và lực hướng tâm, làm được "động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" (động thì tách, tĩnh thì hợp) (như trong Hình 13).

Phần 7

Trang sách 45

III. Tiết tiết quán xuyến và tăng cường khớp

III. Tiết tiết quán xuyến và tăng cường khớp

Thái Cực Quyền luyện đến mức tiết tiết quán xuyến rồi, thì có thể đạt được công phu toàn thân một nhà. Luyện thành công phu này, chỉ cần đơn giản hơi động một chút, là có thể khiến mọi bộ phận trong ngoài toàn thân phối hợp mà động lên. Loại vận động quán xuyến các khớp này có thể tăng cường khớp, ngăn cản khớp phát sinh hiện tượng thoái hóa. Theo quy luật sinh lý học thân người, khớp thường xuyên hoạt động có ích cho việc bảo toàn kết cấu bình thường của tổ chức sụn trên mặt khớp; nếu không thường hoạt động, thì tổ chức sụn sẽ phát sinh tác dụng thoái hóa dạng xơ. Giả sử lâu dài không hoạt động, các cơ quan phụ thuộc của nó còn tiến thêm một bước cứng hóa, như vậy hình thành trạng thái cứng rắn khớp không linh. Nguyên nhân sinh ra những bệnh biến này, đều là do sự suy giảm tiết dịch xương bôi trơn mặt khớp.

Do đó có thể thấy, yêu cầu tiết tiết quán xuyến của Thái Cực Quyền có tác dụng quan trọng đối với việc tăng cường cơ năng khớp. Thông thường luyện Thái Cực Quyền đều trước tiên cầu khai triển, động tác khai triển cũng mở rộng biên độ hoạt động của xương cốt thân người. Cho nên khi luyện Thái Cực Quyền trên khớp thường phát ra một tràng tiếng động, khiến người ta cảm thấy nhẹ nhõm; điều này nói rõ khớp đã được rèn luyện. Như vậy không những có thể bảo trì công năng bình thường của khớp, mà còn có thể khiến cơ năng xương cốt không ngừng tăng cường, tăng tốc cung ứng máu cho khớp và xung quanh nó; vì vậy đến già cũng có thể bước đi khỏe như thanh niên.

IV. Điều tiết độ động của khớp

Thái Cực Quyền tuy yêu cầu tiết tiết quán xuyến, nhất động toàn động, nhưng độ động của động tác nó · 40 · là lớn nhỏ không đồng đều. Ảnh hưởng của động tác thường ngày của người đối với khớp là không đồng đều: trong chín khớp, chuyển động dễ nhất và nhiều nhất là khớp cổ tay, chuyển động nhỏ nhất và ít nhất là cột sống. Mà yêu cầu tiết tiết quán xuyến của Thái Cực Quyền lại vừa hay trái ngược với điều này: yêu cầu khớp cổ tay động càng nhỏ càng tốt, còn cột sống thì yêu cầu duỗi dài và động phải lớn hơn một chút, tức là độ động của thẳng và cong phải làm lớn hơn một chút. Độ động của khớp cổ tay giảm nhỏ rồi, liền khiến người ta không thể không mở rộng thân pháp để giúp đạt được yêu cầu tiết tiết quán xuyến, không thể không lấy yêu tích làm chủ tể, nếu không thì không có cách nào uyển chuyển tự nhiên mà chuyển qua. Nếu độ động của khớp cổ tay không giảm nhỏ, thì cổ tay vừa xoay, một động tác có thể không liên quan đến tích mà dễ dàng chuyển qua, trượt qua, yêu đương nhiên động ít rồi. Cho nên các danh gia Thái Cực Quyền thường nói: "Luyện Thái Cực Quyền phải luyện trên thân, không được luyện trên tay." Đối với khớp cổ tay mà nói, ắt phải giảm nhỏ độ động của khớp cổ tay, buộc mỗi cử mỗi động không thể không vận dụng thân pháp, vận ra từ yêu tích.

Tác giả có một người bạn, anh ta luyện Thái Cực Quyền đã nhiều năm, nhưng chỉ chú ý ở thủ pháp, vận động không vận đến trên thân, khi động tác chỉ thấy cánh tay động, còn thân thể thì như một cây gậy gỗ, theo bộ pháp tiến lên và lùi lại. Sau được người khác chỉ điểm, anh ta dùng hai đôi tấm mỏng kẹp hai cổ tay lại (tổng cộng bốn miếng), hai đầu tấm kẹp mỗi bên khoan hai lỗ, dùng dây cao su buộc tấm kẹp lại, chỉ cho phép cổ tay có độ cong nhỏ. Luyện như vậy không lâu, liền đem động chuyển trước kia trên tay chuyển dời lên trên thân; một khi đã vận đến trên thân, thì có thể động tắc câu động, yêu cầu tiết tiết quán xuyến cũng có tiến triển khá hơn, tì khí (khí thế) cũng dần dần cổ đãng, thân thể và tứ chi cũng sinh ra thú vị viên hoạt như hạt châu. Đây là kết quả của việc giảm nhỏ độ động khớp cổ tay để nâng cao thân pháp.

图 L0F14
图 L0F14
Sơ đồ độ động của khớp (xuân/quyền) (khớp cột sống, động ít nhất)

· 41 ·

Phần 8

Trang sách 47

V. Sự nắm giữ tiết tiết quán xuyến

V. Sự nắm giữ tiết tiết quán xuyến
图 L0F15
图 L0F15
Sơ đồ độ nghiêng của mặt cong vận động Thái Cực Quyền (trong hình ghi rõ mặt phẳng vận động ngang, mặt phẳng vận động thẳng đứng, quỹ đạo vận động phẳng, góc xiên 0° < α < 90°)

Khi vận động ắt phải lấy yêu tích làm động cơ, lấy yêu tích làm trung tâm; như vậy mới có thể luyện tốt công phu tiết tiết quán xuyến. Mà để làm được chủ tể ở yêu tích, không cố thử thất bỉ và không phân tán tư tưởng, thì chỉ có vận dụng lực ly tâm có độ nghiêng để khởi phát động tác (Hình 15), mới có thể tự nhiên đem kình vận lên yêu tích. Cho nên khi luyện giá tử, ắt phải dưỡng thành thói quen động tác này, như vậy mới khiến khi vận động không phân tán tâm tư, không những có thể làm được động của yêu tích dẫn đầu, mà còn có thể làm được động trung đắc tĩnh (được tĩnh trong động). "Động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" là miêu tả tác dụng "động phân" và "tĩnh hợp" của lực ly tâm. Tuy do lực ly tâm khiến hai cánh tay đồng thời xoắn ốc mà tách ra, nhưng vì hai cánh tay tương liên, trong lúc khai vẫn ngụ ý nội kình thu hợp; đây thuộc về khai trung ngụ hợp của toàn thân. Thứ hai, do không phải khai thẳng thu thẳng, khiến cánh tay cũng có khai theo kiểu xoắn ốc; đây là khai trung ngụ hợp và hợp trung ngụ khai của cùi chỏ hợp cổ tay khai và cổ tay hợp cùi chỏ khai. Cái trước là khai hợp tương ngụ của toàn thân, cái sau là khai hợp tương ngụ của cánh tay. Loại khai trung ngụ hợp và hợp trung ngụ khai của toàn thân và cánh tay này, chính là biểu hiện cụ thể của "Thái Cực" đồ (âm dương). Luyện thành công phu này, mới có thể tung hoành trước sau, trái phải gặp nguồn, chạm vào thì xoay chuyển tự nhiên, biến hóa muôn vàn, cung cấp điều kiện có lợi cho nội ngoại câu luyện, và cũng là cơ sở để giải trừ bốn thứ bệnh "đỉnh biển đâu kháng" (húc, dẹp, buông, chống) trên kỹ kích (như trong Hình 13).

Đệ nhất lộ quyền của Trần thức Thái Cực Quyền lấy vận kình làm chủ. Trong quá trình vận kình, đồng thời sinh ra hóa kình, hóa xong thì phải phát kình, đây là quy luật phát triển của vận động. Thái Cực Quyền hiện đại được sửa đổi vì mục đích bảo kiện, hầu như toàn là vận kình, đối với phát kình đã xóa bỏ · 42 · xu thế không dùng. Nhưng Thái Cực Quyền vốn là quyền vận phát tịnh dụng (vận và phát cùng dùng), cho nên mới cấu thành bát môn ngũ bộ①. Vì vậy có người đem minh kình của phát kình đổi thành ám kình, để đạt được có ý phát kình mà không có hình phát kình — tức là đem phát kình đổi thành phóng kình, để giảm độ cương của phát kình, nhằm phù hợp yêu cầu rèn luyện thể dục. Cái gọi là phát kình, là dưới trầm kiên trụy trửu (chìm vai buông cùi chỏ), dẫn dắt các loại nội kình khúc súc hữu dư truyền từ lưng sống đến cánh tay rồi phát ra. Cho nên quyền phổ quy định: "Kình do tích phát" (kình phát từ tích) — tức là do tích gỡ khấu mà phát ra. Chỉ có loại phát kình này mới là trung chính kình; nó do toàn thân hội hợp các khớp mà phát ra. Vì vậy, nguyên tắc tiết tiết quán xuyến, bất luận là vận kình, phát kình và phóng kình đều phải quán triệt, bởi vì vận kình tiết tiết quán xuyến chính là cơ sở của phát kình tiết tiết quán xuyến. Phát kình ngoài việc có chút không thích hợp với người già và người yếu, nếu người trẻ khỏe có thể luyện đến mức vận phát câu năng (vận và phát đều có thể), thì không những có thể luyện thành công năng bát môn của tứ chính, tứ ngung, mà còn rất có lợi cho việc tăng cường thể lực.

Do đó có thể thấy, vận kình tiết tiết quán xuyến không những có thể đặt cơ sở cho công phu toàn thân một nhà, mà còn có thể cung cấp điều kiện cho phát kình tiết tiết quán xuyến. Phát kình phải tiết tiết quán xuyến là để có thể tăng cường kình của nó, tập trung kình vào lưng sống, rồi phát ra. Đồng thời, ngược lại lại thúc đẩy vận động; cho nên hai cái chúng nó tác dụng lẫn nhau, lại tăng trưởng lẫn nhau; vì vậy đối với bảo kiện và kỹ kích đều có tác dụng vô cùng tốt.

Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ năm, nay khái quát yếu lĩnh như sau.

(1) Yêu tích liên hợp làm trục giữa, động tác cánh tay phải có độ nghiêng (khoảng 45 độ);

(2) "Động phân" và "tĩnh hợp" sinh ra từ trục giữa, là mấu chốt trung tâm của việc vận dụng lực ly tâm để đạt được quán xuyến;

(3) Khai trung ngụ hợp, hợp trung ngụ khai là biểu hiện cụ thể của tiết tiết quán xuyến và xoay chuyển tự nhiên;

  • ① Bát môn chỉ tám loại nội kình, tức bằng, lãm, tễ, án (còn gọi là tứ chính) và thái, liệt, trửu, kháo (còn gọi là tứ ngung); ngũ bộ chỉ năm loại bộ pháp, tức tiền tiến, hậu thoái, tả cố, hữu phán, trung định.

· 43 · (4) Tiết tiết quán xuyến của phát kình là thủ đoạn tăng cường quán xuyến của vận kình;

(5) Giảm nhỏ độ động của khớp cổ tay, là thủ đoạn tất yếu để nâng cao tác dụng của thân pháp.

Phần 9

Trang sách 49

Đặc điểm thứ sáu: Vận động nhất khí a thành liên tương bất đoạn, thao thao bất tuyệt

Đặc điểm thứ sáu: Vận động nhất khí a thành liên tương bất đoạn, thao thao bất tuyệt

Quyền phổ quy định:

(1) "Vãng phục tu hữu chiết điệp, tiến thoái tu hữu chuyển hoán" (Đi rồi trở lại phải có gấp chồng, tiến thoái phải có chuyển hoán);

(2) "Thu tức thị phóng, phóng tức thị thu" (Thu chính là phóng, phóng chính là thu);

(3) "Kình đoạn ý bất đoạn, ý đoạn thần khả tiếp" (Kình đứt ý không đứt, ý đứt thần có thể nối);

(4) "Như trường giang đại hà, thao thao bất tuyệt, nhất khí a thành" (Như sông dài sông lớn, cuồn cuộn không dứt, một hơi mà thành).

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, Thái Cực Quyền không lấy nhất động toàn động làm thỏa mãn, mà còn yêu cầu khi luyện hết một lượt giá tử có thể tiến thêm một bước làm được nhất khí a thành, nội kình bất đoạn. Đây là một phương pháp nữa để tăng đại lượng vận động. Phương pháp cụ thể của nó là: trên thủ pháp khi gặp vãng phục, phải xen vào chiết điệp; trên bộ pháp khi gặp tiến thoái, phải xen vào chuyển hoán; khi khai hợp, thu phóng, phải có ý và kình của "thu tức thị phóng" và "phóng tức thị thu". Đương nhiên, đặc điểm này cũng như đặc điểm thứ năm, là được thực hiện dưới sự trợ giúp của vận động triền ty xoắn ốc. Nếu sau khi phát kình xuất hiện hiện tượng đoạn kình, thì phải tiếp nối cái dư ý của phát kình này. Vạn nhất ý cũng đứt①, thì phải vận dụng dư thần của ý và kình để tiếp nối. Để làm được điểm này, kình phải có chiết điệp chuyển hoán, động tác phải dụng ý bất dụng lực, nhờ đó thân pháp thu phóng thống nhất như nước sông Trường Giang thao thao bất tuyệt,

  • ① Cái gọi là ý đoạn, là chỉ ý và động tác thoát khỏi nhau, trong ngoài không nhất, ý chạy ra ngoài, động tác vô chủ.

· 44 · ở giữa không có chỗ dư để hạ kình, cũng không có lúc ý chạy ra ngoài; như vậy tự nhiên có thể đạt được yêu cầu nhất khí a thành. Vì vậy, vận động nhất khí a thành liên tương bất đoạn, thao thao bất tuyệt có thể làm đặc điểm thứ sáu của Thái Cực Quyền.

Phần 10

Trang sách 50

I. Sự thực hiện nhất khí a thành

I. Sự thực hiện nhất khí a thành

Đặc điểm này là biện pháp cụ thể tiếp sau đặc điểm thứ năm, trên cơ sở nhất động vô hữu bất động tiến thêm một bước tăng đại lượng vận động. Đặc điểm thứ năm chú trọng ở yêu cầu chín khớp chủ yếu phải nhất động toàn động, nhờ đó khiến khí quan vận động và khí quan nội tạng nội ngoại tương hợp, để nâng cao lượng vận động của mỗi quyền thức. Còn đặc điểm thứ sáu thì chủ yếu yêu cầu trên cơ sở nhất động toàn động, từ động tác thứ nhất của một lượt giá tử bắt đầu, cho đến khi luyện xong một lượt giá tử, ở giữa không có chỗ hạ kình và lúc đoạn kình, cũng không có tình huống thần khí đình trệ nghĩ việc khác, lại càng không có biểu hiện thở một hơi, rời khỏi dụng ý, mà là phải làm được từ đầu đến cuối liên tương bất đoạn, nhấp nhô cuồn cuộn theo kiểu sóng không ngừng, nói cách khác, phải đem một lượt giá tử nhất khí a thành. Lượng vận động qua lần nâng cao này, đối với việc tính độ động sau khi luyện xong một lượt giá tử, phải là độ động của chín khớp nhân với động tác của một giá tử; giả định quyền thức của giá tử là bảy mươi hai thức, thì luyện xong một lượt giá tử phải nhất khí hoàn thành sáu trăm bốn mươi tám động lượng. Đây là một loại sáng tạo đặc thù xuất sắc của tổ tiên chúng ta trên thể dục vận động. Nhưng muốn đem loại vận động phức tạp đa biến này làm cho từ đầu đến cuối liên tương bất đoạn, từ phương diện lớn mà nói thì phải làm được hai phương diện dưới đây.

(1) Trên thủ pháp — khi vận động phàm gặp động tác nhất vãng nhất phục, giữa vãng phục phải vận dụng chiết điệp để bù đắp khoảng giữa, khiến hai động tác trước sau có thể nối liền với nhau theo đường cong hòa hoãn. Cách làm của chiết điệp này là: khi vận động đến tận cùng, trước khi sắp làm một động tác, như động tác sau là phải đi xuống và đi tới, thì phải trước tiên gấp lên một cái (chiết), rồi chồng lại một cái (điệp) về phía sau, sau đó mới tiếp làm quyền thức sau; như vậy liền với · 45 · kình của động tác rất tự nhiên và nối liền theo đường cong hòa hoãn. Đây chính là thuyết pháp quy định trong quyền luận: "Ý dục hướng thượng tất tiên ngụ hạ, ý dục hướng tiền tất tiên ngụ hậu" (Ý muốn hướng lên ắt trước ngụ xuống, ý muốn hướng tới ắt trước ngụ sau). Làm như vậy, không những kình của quyền thức trước và quyền thức sau đã nối liền, mà còn khiến quyền thức sau, do quan hệ lực gia tốc của quyền thức trước, trở nên càng trầm ổn và tăng cường hơn, giống như cách viết chữ lớn bằng bút lông với bút pháp hồi phong. Vì vậy, vận động Thái Cực Quyền, ngoài việc một động tác có thể làm xong trong một vòng, nếu trong động tác có nhất vãng nhất phục (như chỗ nối hai quyền thức), thì phải gia thêm chiết điệp, mới có thể khiến kình của động tác trên không chút gián đoạn mà quán xuyến vào động tác dưới. Đây là phương pháp trên thủ pháp nhờ có chiết điệp mà đạt được liên tương bất đoạn.

(2) Trên bộ pháp — phàm khi động bộ tiến thoái, giữa chúng dùng một "chuyển hoán" để bù đắp khoảng giữa, khiến bộ pháp trước sau cũng có thể nối liền theo đường cong hòa hoãn. Cách làm của chuyển hoán này là: bước tới hay lùi lại đều không được thẳng đường mà tiến thẳng lùi thẳng, mà ắt phải xen một chuyển hoán vào giữa bước trước và bước sau. Loại chuyển hoán này chính là hai bước cố, phán trong ngũ bộ của Thái Cực Quyền①. Có bộ pháp chuyển hoán của hai bước cố, phán rồi, không những có thể khiến kình của chân nối liền mạnh mẽ, mà còn khiến chân không rời khỏi triền ty, có thể liên hợp trên dưới nhất trí với triền ty của hai cánh tay, phát huy công dụng quán xuyến "động khởi vu cước căn, hình vu thủ chỉ" (động khởi từ gót chân, hiện hình ở ngón tay).

Toàn bộ sáo lộ của Thái Cực Quyền bên trong là không ngừng có vãng phục, cho nên cũng là không ngừng có chiết điệp. Có chiết điệp xen vào trong động tác, luyện quyền lên liền tỏ ra có một cảm giác lưu luyến quyến luyến, sinh ra thần thái tựa tùng phi tùng, tương triển vị triển (như buông mà không buông, sắp mở mà chưa mở), và biểu hiện trạng thái nhấp nhô ba đào cuồn cuộn, như thể một sóng đi qua, lại là một sóng dâng lên không ngừng.

Một lượt giá tử của Thái Cực Quyền bên trong là không ngừng có tiến thoái, cũng là không ngừng có chuyển hoán. Có chuyển hoán xen vào giữa tiến thoái, liền khiến tiến thoái không còn là tiến thẳng lùi thẳng,

  • ① Bộ pháp cố phán lấy hai chữ mục quang cố phán để hình dung là vì Thái Cực Quyền vận động theo nguyên tắc bộ tùy thân chuyển và thân tùy nhãn động, nên gọi vậy. Trái là cố, phải là phán.

· 46 · mà là có thể hiển ra sự hồi toàn uốn lượn và sinh sinh bất dĩ. Chúng ta khi luyện quyền trên đất bùn, sau khi luyện xong một lượt giá tử, trên đất bùn có thể để lại nhiều vòng tròn của gót chân; đây chính là dấu vết chính xác mà hai bước cố, phán của sự chuyển hoán này để lại.

Tóm lại, giữa vãng phục mà cánh tay có chiết điệp, giữa tiến thoái mà chân có chuyển hoán, thì không những có thể khiến nội kình trước sau nối liền, mà còn có thể khiến kình dùng trong quá trình vãng phục tiến thoái đều là viên kình, không đến nỗi phát sinh bệnh đỉnh kháng và đâu biển, cũng có thể khiến hai mặt đối lập vãng phục và tiến thoái thống nhất lại với nhau.

Phần 11

Trang sách 51

II. Thực lệ danh gia hành quyền

II. Thực lệ danh gia hành quyền

Khoảng năm 1914, khi hội nghị thường niên của Bắc Kinh Thể Dục Nghiên Cứu Xã thời trước kết thúc, các võ thuật gia đủ loại phái trong toàn thành, như Kỷ Tử Tu, Trương Sách, Thượng Vân Tường, Vương Mậu Trai, Hứa Vũ Sinh v.v. tham gia biểu diễn dư hứng. Về phương diện Thái Cực Quyền khi đó, có Dương Trừng Phủ và Ngô Giám Tuyền cùng biểu diễn Thái Cực Quyền. Hai ông đều dùng đại giá tử; khi biểu diễn, hai vị khiến khán giả chỉ cảm thấy là tiến và lùi trong lúc trái phải gặp nguồn, cuồn cuộn không dứt mà nhấp nhô mãi, như thể đứng trên chiếc thuyền nhỏ vượt ngang sông Trường Giang; động tác của họ bề ngoài vô cùng miên nhuyễn, bên trong lại tỏ ra hàm chứa kiên cương; chậm khi vừa đến vuông, nhanh khi đến tròn, phối hợp khai hợp hết mực đều rõ, như vòng ngọc không đầu mối, không nhìn rõ nối nhau ở đâu. Khi tiến thoái họ không tỏ ra là đang tiến thoái, chỉ cảm thấy từng bước đang chuyển đổi tư thế; thời gian biểu diễn xong khoảng hơn tám phút, người có mặt ai cũng than thở là tuyệt vời.

Các danh gia khi đi giá tử có thể đạt được yêu cầu thâm tinh chính xác này, đương nhiên chủ yếu là do kết quả của cần học khổ luyện, công phu đến nhà. Nhưng bên trong nếu thiếu chiết điệp của vãng phục và chuyển hoán của tiến thoái, thì muốn đạt được động đãng bất dĩ và nhất khí a thành như vậy là có khó khăn.

· 47 ·

Phần 12

Trang sách 52

III. Thần khí động đãng và nhất khí a thành①

III. Thần khí động đãng và nhất khí a thành①

Từ phương diện tư thế làm thế nào để đạt được liên tương bất đoạn, đã như trên đã nói. Tiết này chú trọng trình bày về phương diện thần khí nên làm thế nào để đạt được liên tương bất đoạn, nhờ đó khiến trong ngoài nhất trí, chân chính đạt được liên tương bất đoạn.

Muốn kiểm tra phương diện thần khí có đứt hay không, chỉ cần xem thần khí của người luyện quyền là đình trệ hay là động đãng; nói cách khác, chỉ cần thần khí của người luyện quyền theo động tác mà biểu hiện ra thần thái động đãng, thì chứng minh lúc này người này đã đem ý quán chú vào trong động tác rồi, chứng minh hắn đang dụng ý luyện quyền; cho dù bề ngoài thấy như kình đã đứt, nếu ý thức vẫn còn tồn tại trong động tác, thì chỉ có thể nói nội kình của hắn trong vận động đã giảm yếu, mà không thể nói kình đã đứt. Vì vậy, khi luyện tập đi giá tử, nên chú ý nắm giữ đặc tính động đãng của thần khí, bởi vì đây là tiêu chí duy nhất biểu thị nội kình bất đoạn. Cho nên, luyện Thái Cực Quyền ngay từ đầu liền nên chú ý đem nội ý và ngoại thần ngụ vào trong động tác, không chút gián đoạn; lâu dài có thể dưỡng thành thói quen, làm được không đi giá tử thì thôi, hễ đi giá tử thì thần khí ắt động đãng không ngừng, tư tưởng không có thì giờ lơ đãng. Làm như vậy, cho dù vạn nhất tư tưởng có lơ đãng, vẫn có thể cố gắng hết mức duy trì sự tồn tại của thần, có thể mau chóng tiêu trừ hiện tượng kình đoạn ý trì.

IV. Kình biệt và nhất khí a thành

Thái Cực Quyền 《Chính Công Giải》 nói: "Thái Cực giả viên dã, vô luận thượng hạ tả hữu, bất ly thử viên dã. Thái Cực giả phương dã, vô luận thượng hạ tả hữu, bất ly thử phương dã. Viên chi

  • ① "Thần khí động đãng" mà bản mục này chỉ, hơi khác với "thần khí cổ đãng" của đặc điểm thứ nhất. "Thần khí cổ đãng" là nói rõ khi vận động phải cổ đãng thần khí của nó trong việc vận dụng tám môn kình biệt, ngược lại lại thúc đẩy vận động nội tại của ý khí tăng cường. "Thần khí động đãng" là chỉ trong vận động thông thường dưỡng thành thói quen thần khí động đãng: không vận thì thôi, hễ vận thì thần khí theo động tác mà động đãng, nói rõ nội tại ý cố không rời khỏi động tác, không có chạy ra ngoài.

· 48 · xuất nhập, phương chi tiến thoái, tùy viên thấu phương chi vãng lai. Phương vi khai triển, viên vi khẩn thấu①, phương viên quy củ chi chí, thục năng xuất thử dĩ ngoại tai" (Cái ra vào của vòng tròn, cái tiến thoái của hình vuông, theo cái vãng lai của tròn tụ về phương. Phương là khai triển, viên là khẩn thấu; cái cùng cực của quy củ phương viên, ai có thể ra ngoài điều này). Đây là nguồn gốc của yêu cầu phương viên tương sinh trong Thái Cực Quyền. Khi mới học Thái Cực Quyền, mọi động tác đều yêu cầu tròn, cho dù chỗ chuyển quan cực nhỏ cũng đều yêu cầu nó đi vòng tròn. Về tròn, phía trước đã nói rất nhiều, nhưng vẫn nên chỉ ra một điểm dưới đây: khi công phu đã luyện đến mức khá thuần thục rồi, khi vận động đến điểm cuối, phải biểu hiện ra kình biệt quy định của quyền thức này; mà muốn biểu hiện ra kình biệt, thì phải hiện ra phương trong lúc đi vòng — nói cách khác, muốn trong quá trình vận động biểu hiện ra kình biệt, thì phải có phương. Cho nên quyền luận nói: "Chỉ viên vô phương thị hoạt quyền, chỉ phương vô viên thị ngạnh quyền" (Chỉ tròn không vuông là quyền trượt, chỉ vuông không tròn là quyền cứng).

Quyền luận lại nói: "Chiết phóng đắc kỳ thời trung, văn thể chi bản; súc phát thích đương kỳ khả, vũ sự chi căn" (Gấp và phóng được đúng thời trung, là gốc của văn thể; súc và phát thích đáng chỗ nên, là căn của vũ sự); lại nói: "Hô vi khai, vi phát, hấp vi hợp, vi súc. Cái hấp tắc tự nhiên đề đắc khởi, diệc nã đắc nhân khởi; hô tắc tự nhiên trầm đắc hạ, diệc phóng đắc nhân xuất. Thử thị dĩ ý vận khí, phi dĩ lực sử khí dã" (Thở ra là khai, là phát, hít vào là hợp, là súc. Bởi vì hít vào thì tự nhiên nâng lên được, cũng nhấc được người lên; thở ra thì tự nhiên trầm xuống được, cũng thả được người ra. Đây là dùng ý vận khí, không phải dùng lực khiến khí). Điều này nói rằng khi công phu đạt đến cao thâm thì có thể không còn vận dụng tư thế đại khai đại hợp để tiến hành súc phát, mà chỉ vận dụng sự trướng súc của cơ nhục và da là có thể tiến hành súc phóng. Dùng thuật ngữ Thái Cực Quyền mà nói, đây là công dụng của "thốn kình" (kình tấc), cũng là cơ sở của khí công. Đến công phu này, liền có thể không phải lo lắng có sự phát sinh hữu đoạn hữu tục, bởi vì lúc này đã đạt đến cảnh giới cao độ của phương viên tương sinh rồi.

Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm này, đặc biệt khái quát yếu lĩnh của nó như sau.

(1) Khi gặp động tác có vãng phục, ắt phải xen có chiết điệp — đây là biện pháp tất yếu để trên thủ pháp đạt được liên tương bất đoạn.

(2) Khi gặp thân thể có tiến thoái, ắt phải xen có chuyển hoán — đây là trên bộ pháp

  • ① Khai triển và khẩn thấu trong "phương vi khai triển, viên vi khẩn thấu" nói ở đây, khác với "tiên cầu khai triển, hậu cầu khẩn thấu" nói trong 《Hành Động Tâm Giải》. Cái sau chỉ việc luyện tập Thái Cực Quyền phải trước tiên mở rộng vòng của nó, rồi sau theo công phu tinh thâm mà khẩn thấu vòng của nó. Còn cái trước chỉ là: "Khi thở ra, thân thể và tứ chi trướng ra, hình thành khai triển, đạt được phóng kình của hình vuông"; "Khi hít vào, thân thể và tứ chi thu lại, hình thành khẩn thấu, đạt được bằn kính của hình tròn".

· 49 · làm được biện pháp tất yếu của liên tương bất đoạn.

(3) Kình đứt rồi, phải có ý tại; khi ý không đến, phải có thần tại — đây là phương pháp cứu chữa kình đứt.

(4) Có thể thần khí động đãng mà đi giá tử, thì có thể chứng minh đã đem ý quán chú vào trong động tác rồi. Ý tại, là tiêu chí của nội kình bất đoạn.

(5) Phương viên tương sinh của Thái Cực kình, là từ "hô vi khai triển, vi phương" và "hấp vi khẩn thấu, vi viên" mà sinh ra.

Phần 13

Trang sách 54

Đặc điểm thứ bảy: Vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu

Đặc điểm thứ bảy: Vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu

Quyền phổ quy định:

(1) "Vận kình như bách luyện cương, hà kiên bất tồi" (Vận kình như thép luyện trăm lần, cứng nào không tổn), "cực nhu nhuyễn, nhiên hậu cực kiên cương" (Cực nhu nhuyễn, rồi sau cực kiên cương).

(2) "Ngoại tháo nhu nhuyễn, nội hàm kiên cương, thường cầu nhu nhuyễn chi ư ngoại, cửu chi tự khả đắc nội chi kiên cương; phi hữu tâm chi kiên cương, thực hữu tâm chi nhu nhuyễn dã" (Bên ngoài rèn nhu nhuyễn, bên trong hàm chứa kiên cương, thường cầu nhu nhuyễn ở bên ngoài, lâu dài tự nhiên có thể được kiên cương ở bên trong; không phải kiên cương có tâm, mà thực là nhu nhuyễn có tâm).

(3) "Thái Cực Quyền quyết bất khả thất chi miên nhuyễn. Chu thân vãng phục, dĩ tinh thần ý khí vi bản, dụng cửu tự nhiên quán thông yên" (Thái Cực Quyền quyết không được mất đi miên nhuyễn. Vãng phục toàn thân, lấy tinh thần ý khí làm gốc, dùng lâu tự nhiên quán thông).

(4) "Vận kình chi công phu, tiên hóa ngạnh vi nhu, nhiên hậu luyện nhu thành cương. Cập kỳ chí dã, diệc nhu diệc cương. Cương nhu đắc trung, phương kiến âm dương. Cố thử quyền bất khả dĩ cương danh, diệc bất khả dĩ nhu danh, trực dĩ Thái Cực chi vô danh danh chi" (Công phu vận kình, trước hóa cứng thành mềm, rồi sau luyện mềm thành cứng. Đến lúc cùng cực, vừa mềm vừa cứng. Cương nhu được trung, mới thấy âm dương. Cho nên quyền này không thể lấy cương để gọi, cũng không thể lấy nhu để gọi, mà thẳng lấy vô danh của Thái Cực để gọi nó).

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, việc học Thái Cực Quyền trước tiên phải phá hủy kiên ngạnh kình vốn có trong động tác của người ta, khiến nó hóa thành nhu nhuyễn; đây là thời kỳ hóa nhu. Thời kỳ này càng dài, thì càng có thể phá hủy cương ngạnh một cách triệt để. Yếu điểm lúc này là vẫn phải không mất miên nhuyễn, dưới sự nhu nhuyễn tiến bước về phía kiên cương có tính đàn hồi hơn. Đây · 50 · cái cương này không phải là cương của "gang sống" sinh ra từ nỗ trách và cổ kình, mà là cương đàn hồi sinh ra từ tùng khai và phóng trường. Bởi vì thân thể và tứ chi phóng trường, lại không ngừng xoắn ốc mà vặn qua vặn lại, liền có thể sinh ra tính đàn hồi này. Vì vậy, lại có thể gọi là "bằng kình cương" (cương của bằng kình). Căng chặt như vậy mà có thể xoa nắn cho càng nhu nhuyễn, thì chất lượng bên trong cũng có thể càng kiên cương①. Chỉ có loại cương có tính đàn hồi này mới có thể đạt được yêu cầu "ngoại tháo nhu nhuyễn, nội hàm kiên cương". Sự biến hoán cương nhu này là do sự ẩn hiện của tinh thần ý khí mà nắm giữ. Cái gọi là "ẩn tắc nhu", "hiển tắc cương" chính là đạo lý này. Sau khi công phu tinh tiến, kình có thể ẩn nội cực sâu, khiến ngoại hình tỏ ra cực nhu, khiến người ta cảm thấy như thể lại trở về trên nhu rồi, kỳ thực chất lượng bên trong lại càng cương hơn. Vì vậy, vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu trở thành đặc điểm thứ bảy của Thái Cực Quyền.

Phần 14

Trang sách 55

I. Quyền cương nhu tương tế

I. Quyền cương nhu tương tế

Đối với cách nhìn cương nhu của Thái Cực Quyền, thế nào mới coi là đúng, đây là vấn đề mà người luyện quyền đều mong biết. Để giải đáp vấn đề này, còn phải bắt đầu nói từ hoàn cảnh phát triển của Thái Cực Quyền. Nhân dân lưu vực Hoàng Hà đa số thích tập ngạnh công quyền, cho nên quyền Trần thức lưu truyền ở vùng đó cũng có xu thế phát triển theo hướng kiên cương. Nhưng người truyền nhà Trần, lại vẫn có thể bảo trì nguyên tắc Thái Cực âm dương, biểu hiện đặc sắc cương nhu tương tế. Ở lưu vực Trường Giang, tri thức phân tử học Thái Cực Quyền vì bảo kiện chiếm tỷ trọng rất lớn. Họ để thích ứng nhu cầu thể chất, dần dần phát triển theo hướng nhu nhuyễn. Nhưng người truyền nhà Dương cũng vẫn bảo trì phong cách "nhu trung ngụ cương, miên lý tàng châm" (trong mềm ngụ cứng, trong bông giấu kim) của Thái Cực Quyền. Các thức Thái Cực Quyền lưu hành hiện nay, từ phương diện tổ chức giá tử mà nhìn, đại thể là giống nhau, nhưng từ phương diện cương nhu mau chậm mà nhìn, thì mỗi thức đều có đặc sắc riêng. Vì vậy, những người thông thường học Thái

  • ① Như dây cót của đồng hồ, có cương đàn hồi nhu nhuyễn nhất, cũng là cương có chất lượng kiên cố nhất.

· 51 · người luyện quyền có thể tùy theo nhu cầu của mình mà học điều mình thích. Còn thuyết thuần nhu vô cương hoặc thuần cương vô nhu, thì bất cứ võ thuật nào cũng đều không có. Cho dù là ngạnh công quyền thường được gọi, bên trong nó cũng vẫn có cương có nhu. Huống chi Thái Cực Quyền là một loại quyền thuật do âm dương tương tế sinh ra một loạt đặc sắc vừa tương tế vừa đối lập. Vì vậy, cái gọi là "nhu công Thái Cực Quyền" hay "cương công Thái Cực Quyền" là không tồn tại.

Phần 15

Trang sách 56

II. Thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương

II. Thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương

Một người bất luận hắn có luyện qua võ thuật hay vận động khác hay không, nhưng trong sinh hoạt thường ngày ắt phải thường xuyên cầm vật nặng, dùng sức. Như vậy, liền khiến mỗi người trong động tác đều không khỏi mang theo cổ kình cương ngạnh. Nếu muốn học tốt vận động Thái Cực Quyền, thì đối với những cổ kình vốn có này ắt phải lấy khí thế "bách luyện thành cương, hà kiên bất tồi" (luyện trăm lần thành thép, cứng nào không tổn) mà loại bỏ nó đi — đây là yêu cầu sơ kỳ của luyện Thái Cực Quyền.

Trong thời kỳ này, phải cố gắng cầu nhu nhuyễn, ắt phải trong quá trình "thiên chùy bách luyện" (ngàn lần đập trăm lần luyện) đi giá tử khiến cương ngạnh kình vốn có trong động tác của người ta hóa thành nhu nhuyễn kình, và dưỡng thành thói quen nhu nhuyễn này. Đây là thời kỳ tồi khứ cương ngạnh vốn có và kiến lập nhu nhuyễn mới. Đặc sắc của thời kỳ này là tận lực cầu nhu, dưới nguyên tắc hào bất dụng lực mà động tác chậm rãi. Lúc này càng không dùng lực, thì càng dễ khiến người ta phát hiện khuyết điểm trong động tác, cũng có thể càng mau chóng tồi khứ cương ngạnh kình trong động tác. Vì vậy, có thể nói đây là một "lò luyện thép" tốt nhất, có thể đem vận động luyện đến tiết tiết nhu nhuyễn mà quán xuyến lại với nhau.

III. Thời kỳ luyện nhu thành cương

Yêu cầu của thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương nói trên, là yêu cầu sơ kỳ của hóa ngạnh chuyển nhu. Bản kỳ này thì là thời kỳ chuyển nhu thành cương. Thời kỳ này, trước tiên phải làm rõ cương là loại cương có tính chất nào và làm thế nào mới có thể vận nhu thành cương. Quyền phổ nói, luyện quyền phải "hữu tâm cầu nhu, vô ý thành cương" (có tâm cầu mềm, không ý thành cứng), cho nên động tác không được dùng lực, yêu cầu toàn thân buông lỏng. Loại "tùng" (buông lỏng) này · 52 · là tùng có ý thức, nhưng không phải là tùng tĩnh mịch mà không có ý đồ, đồng thời nó và nỗ trách cổ kình cũng hoàn toàn không có chỗ chung. Cái gọi là "tùng" (buông lỏng) có nghĩa là do phóng trường thân thể và tứ chi mà đạt được tùng khai, do phóng trường của tùng khai mà khiến thân thể và tứ chi sinh ra tính đàn hồi. Tính đàn hồi tăng cường, thì trở thành bằng kình; bằng kình chính là lò xo kình mà Thái Cực Quyền yêu cầu. Sự tăng cường của lò xo kình này chính là cương mà Thái Cực Quyền yêu cầu.

Làm rõ tính chất của cương rồi, nay lại bàn một chút xem làm thế nào mới có thể vận nhu thành cương. Sự tăng cường của cương tính là nhờ nội khí quán xuyến mà thực hiện. Sự nâng cao chất lượng của cương tính, thì nhờ triền ty kình vặn qua vặn lại để tăng cường độ dai của tính đàn hồi mà thực hiện. Vì vậy, vận động như triền ty và phóng trường thân thể tứ chi liền trở thành mấu chốt để làm được vừa nhu nhất vừa cương nhất. Đây chính là điều quyền phổ nói: "Thường cầu nhu nhuyễn chi ư ngoại, cửu chi tự đắc kiên cương chi ư nội", "phi hữu tâm chi kiên cương, thực hữu tâm chi nhu nhuyễn". Thái Cực Quyền chính là như vậy mà từ nhu nhuyễn biến thành kiên cương; và chỉ có loại kiên cương do nhu nhuyễn biến thành này mới có thể đạt được cảnh giới thuần thục hốt nhu hốt cương, diệc nhu diệc cương.

Phần 16

Trang sách 57

IV. Biến hoán của cương nhu

IV. Biến hoán của cương nhu

Biến hoán cương nhu, trên thần khí mà nói, là thông qua ẩn và hiển mà biểu hiện ra: ẩn tắc nhu, hiển tắc cương; trên tư thế mà nói, là thông qua khai và hợp: trong quá trình vận kình biểu hiện là nhu, khi vận động đến điểm đáp thì biểu hiện là cương. Do có sự phối hợp giữa ẩn hiển của thần khí và khai hợp của kình thế, cương nhu liền được biểu hiện đầy đủ. Điểm đáp là điểm vận động đến tận cùng, chính là chỗ thần hiển khí tụ, cho nên lúc này chỗ này vận dụng cương pháp, có thể nói là vừa đúng chỗ. Ngoài điều đó ra, trong mọi quá trình chuyển hoán khai hợp, vì đều là quá trình thần khí cổ đãng và viên hoạt chuyển hoán biến hóa, lúc này đều nên dùng nhu pháp. Khái quát mà nói, mỗi động tác quyền thức đều có khai hợp, mỗi quá trình khai hợp đều có điểm đáp của vận động; điểm đáp phải dùng cương kình, còn các chỗ khác đều dùng nhu kình, để làm được cương nhu tương tế. Đây chính là chỗ đúng để vận dụng cương nhu tương tế, là một nguyên tắc phải tuân thủ · 53 · tắc, cũng là cơ sở để luyện ra bát môn kình biệt. Về phương diện này, có thể căn cứ theo thuyết pháp trong 《Cương Nhu Tương Tế Luận》 trong quyền phổ của Trần Nãi Chu, quy nạp chuyển hoán cương nhu thành năm điểm, để làm tham khảo.

(1) Nếu thuần dùng cương pháp, thì khí trải khắp toàn thân, khiên xế bất lợi, đến điểm đáp ắt không thể biểu hiện kiên cương.

(2) Nếu thuần dùng nhu pháp, thì khí tán không tụ, không có chỗ về, đến điểm đáp cũng không thể biểu hiện kiên cương.

(3) Nên cương mà dùng nhu, thì khí nên tụ mà không tụ; nên nhu mà dùng cương, thì khí nên tán mà không tán — đều không đắc được diệu dụng của cương nhu tương tế.

(4) Cho nên người thiện dụng cương nhu, khi đến điểm đáp thì dùng cương, như chuồn chuồn chấm nước, vừa chạm liền bay lên; đây là hình tượng chính xác của biểu hiện cương điểm. Trong mọi lúc vận động chuyển hoán thì dùng nhu, như bánh xe xoay chuyển lăn đi không ngừng; đây là hình tượng chính xác của biểu hiện nhu điểm.

(5) Ắt như vậy, mới đắc được diệu dụng của cương nhu tương tế, mới có thể loại bỏ khuyết điểm khí khiếm bất thực và nhu trệ bất lợi.

Phần 17

Trang sách 58

V. Sự nắm giữ cương nhu tương tế

V. Sự nắm giữ cương nhu tương tế

(1) Cố gắng cầu nhu nhuyễn — khi mới học đi giá tử, chủ yếu là học tập các loại tư thế. Thông qua học tập những tư thế bất đồng này, trước tiên hóa khứ cương ngạnh kình vốn có trên thân, loại cương ngạnh kình này ai ai cũng có. Cho nên, ở giai đoạn này nên bất di dư lực mà tận lực cầu nhu nhuyễn; điều này đối với những người trước kia đã học ngạnh công quyền rồi sau chuyển học Thái Cực Quyền, lại càng tỏ ra quan trọng.

(2) Cố gắng phóng trường thân thể tứ chi, để sinh đàn hồi cương — sau khi luyện tập rất nhu, rất chậm như vậy một hai năm, nếu trong động tác đã trừ sạch cương ngạnh, đạt đến mức miên nhuyễn, và đã dưỡng thành thói quen này, thì có thể chuyển sang bước luyện tập tiếp theo. Lúc này, trước tiên trên ý niệm phải có ý niệm phóng trường khắp mọi chỗ của toàn thân, và trong tư thế động tác · 54 · theo quy định của quyền luận mà tiến hành đại lực bài tập chuyên môn phóng trường (như hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền, hàm hung bạt bối v.v.), nhờ đó khiến tâm ý và thân thể tứ chi trong sự phối hợp chặt chẽ mà chuyên tâm toàn thần phóng trường, để cầu đắc đàn hồi cương. Khi mới luyện quyền, đối với các quy định phóng trường, như hàm hung bạt bối v.v., chỉ dùng ý niệm là được; mà đến giai đoạn này, thì nên tiến hành chung trong dụng ý và thân thể tứ chi, bởi vì đến lúc này đã không còn đến nỗi vì phóng trường mà nhiễm thành bệnh tượng cổ kình ngược lại nữa.

图 L0F16
图 L0F16
Sơ đồ cương nhu tương tế (trong hình ghi rõ nhu vận tuyến (đường tròn), điểm đáp của động tác, cương điểm (điểm vuông), phương viên tương sinh)

(3) Làm tốt "nhu hành khí, cương lạc điểm" (nhu hành khí, cương đáp điểm) — sau khi phóng trường toàn thân đạt được yêu cầu, liền có thể tiến thêm một bước ở điểm đáp của mỗi khai hợp, kết hợp với sự ngoại hiển của thần khí mà hình thành điểm vuông, biểu hiện ra kình biệt của tứ chính và tứ ngung; đây là bài tập về phương trong "phương viên tương sinh" của Thái Cực Quyền. Ở điểm vuông phải biểu hiện ra cương vô cùng kiên cương (tức là phải khiến thân thể tứ chi căng cực chặt và dài), mà sau khi cương qua rồi thì yêu cầu trong toàn bộ quá trình vận động biểu hiện ra hành khí vô cùng nhu nhuyễn. Cả một lượt giá tử nên tiến hành dưới tình huống cương nhu tương tế như vậy. Vì vậy, khi luyện quyền nên ghi nhớ chắc chắn sáu chữ yếu lĩnh: "nhu hành khí, cương lạc điểm".

(4) Vận dụng cương nhu và "ý khí phong phát" — vận dụng cương nhu, ắt phải kết hợp với sự vận dụng của tâm ý, thần khí và hô hấp; tức là trên cơ sở "ý khí phong phát"

· 55 · mà phối hợp vận dụng hô hấp sâu dài để khiến thân thể tứ chi trầm xuống mà phóng trường, nhờ đó tăng cường tính đàn hồi, thành đàn hồi cương (như phát kình v.v.); trên cơ sở ý tĩnh khí liễm, mà khiến cơ nhục của tứ chi liên đới tùng khai, từ đó hình thành nhu nhuyễn hoạt bát vô trệ, do nhu nhuyễn biến hóa muôn vàn. Hai cái này trên sinh lý đều là một loại hiện tượng tự nhiên.

Tóm lại, cương của Thái Cực Quyền, không phải là cương của cổ kình; nhu của Thái Cực Quyền, không phải là nhu không có tính đàn hồi; mà là "ý khí phong phát" ngoại hiển để thành cương, ý tĩnh khí liễm nội ẩn để thành nhu. Tâm ý vừa động, thần khí theo đó; thần khí ẩn hiển, thì nhu cương biến hoán. Cho nên trong việc luyện tập một lượt giá tử, thần khí nên hốt ẩn hốt hiển, tâm ý nên không ngừng chỉ huy, thần khí còn phải không ngừng ẩn hiển và cổ đãng; như vậy cơ nhục mới có thể không ngừng biến hoán cương nhu. Đây là một con đường trọng yếu để nắm giữ và luyện tập biến hoán cương nhu.

Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ bảy, khái quát yếu lĩnh của nó như sau.

(1) Sơ kỳ phải hóa khứ cương ngạnh kình vốn có, càng nhu nhuyễn càng tốt; khoảng thời gian này cũng là càng dài càng tốt, thông thường cần một, hai năm.

(2) Toàn thân luyện đến miên nhuyễn rồi, thì có thể tiến thêm một bước cụ thể luyện tập phóng trường toàn thân, để luyện cương kình.

(3) Hành khí dùng nhu, lạc điểm dùng cương, là giới hạn phân chia cương nhu của Thái Cực Quyền.

(4) Tâm ý kết hợp với sự hốt ẩn hốt hiển của thần khí và hô hấp, là pháp tắc của Thái Cực Quyền đối với biến hoán cương nhu.

(5) Cương nhu đồng dạng đạt đến trình độ cao cấp, là tiêu chuẩn của danh hiệu diệu thủ Thái Cực Quyền①.

  • ① Theo Trần Hâm 《Tổng Luận Phát Minh》 nói: "Thuần âm vô dương thị nhuyễn thủ, thuần dương vô âm thị ngạnh thủ; nhất âm cửu dương căn đầu côn, nhị âm bát dương thị tán thủ; tam âm thất dương do giác ngạnh, tứ âm lục dương loại hảo thủ; duy hữu ngũ âm tịnh ngũ dương, âm dương vô thiên xưng diệu thủ; diệu thủ nhất vận nhất Thái Cực, tích tượng hóa hoàn quy ô hữu" (Thuần âm không dương là tay mềm, thuần dương không âm là tay cứng; một âm chín dương là gậy đầu cán, hai âm tám dương là tán thủ; ba âm bảy dương còn thấy cứng, bốn âm sáu dương loại hảo thủ; chỉ có năm âm cùng năm dương, âm dương không lệch gọi là diệu thủ; diệu thủ một vận một Thái Cực, dấu vết hóa hết về hư vô). Đây là tiêu chuẩn của Trần thức đối với độ cương nhu của Thái Cực Quyền. Vì Trần Gia Câu ở vào sườn dốc Hoàng Hà, người tập ngạnh công quyền nhiều, do đó sợ rằng vì hoàn cảnh rèn luyện mà dần dần thiên về kiên ngạnh, nên có các danh hiệu ngạnh thủ, tán thủ, hảo thủ, diệu thủ, để làm tiêu chuẩn hạn chế người luyện quyền thiên về kiên ngạnh.

· 56 ·

Phần 18

Trang sách 60

Đặc điểm thứ tám: Vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn

Đặc điểm thứ tám: Vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn

Quyền phổ quy định①:

(1) "Động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy" (Đối phương động gấp thì ứng gấp, đối phương động chậm thì theo chậm);

(2) "Bỉ bất động, dĩ bất động; bỉ vi động, dĩ tiên động" (Người kia không động, ta không động; người kia hơi động, ta động trước);

(3) "Sơ học nghi mạn, mạn bất khả si ngai; tập nhi hậu khoái, khoái bất khả thác loạn" (Mới học nên chậm, chậm không được si ngai; tập rồi sau nhanh, nhanh không được thác loạn);

(4) "Hình kháng ngũ nhạc, thế áp tam phong, do từ nhập tật, do thiển nhập thâm" (Hình chống năm núi, thế ép ba đỉnh, từ chậm vào nhanh, từ nông vào sâu).

Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, khi mới luyện sáo lộ Thái Cực Quyền (một lượt giá tử), động tác nên càng chậm càng tốt, có thể kéo dài thời gian. Động tác chậm lại rồi, mới có cơ hội sửa đổi, mới có thể kiểm tra ra chỗ không thuận lợi. Nhưng chậm không được chậm đến mức mặt mày biểu hiện si ngai; đây là hạn độ của chậm. Về sau, theo mức độ thuần thục nâng cao, có thể dần dần nhanh lên, rút ngắn thời gian cần để đi một lượt giá tử. Nhưng từ chậm chuyển nhanh, đồng dạng cũng phải có một hạn độ, tức là phải làm được tuy nhanh, nhưng động tác vẫn trầm ổn, vẫn biểu hiện ra kình biệt, và không phát sinh hiện tượng phù phiêu và thác loạn. Đây là nói về độ dài ngắn của thời gian cần để luyện một lượt giá tử. Trên tiền đề có thể chậm có thể nhanh này, khi vận dụng vào mỗi quyền thức thì phải đem cặp đối lập khoái mạn này thống nhất vào một

  • ① Trong quyền phổ, hàm nghĩa của khoái mạn có hai nội dung:

Hàm nghĩa thứ nhất chỉ độ dài ngắn của thời gian cần để luyện một lượt giá tử. Như Giáp luyện một lượt giá tử cần mười hai phút, Ất cần mười lăm phút, thì chúng ta nói "Giáp khoái Ất mạn".

Hàm nghĩa thứ hai chỉ tốc độ vận động trong mỗi quyền thức. Nó là chậm ở chỗ chuyển quan, qua chuyển quan rồi dần dần nhanh, vận đến điểm đáp thì nhanh nhất, phát xong lại chuyển chậm.

Trong bốn câu nguyên tắc được dẫn dụng hiện nay, hai câu đầu chỉ hàm nghĩa thứ hai, hai câu sau chỉ hàm nghĩa thứ nhất. Đây là vấn đề phải phân rõ khi học tập.

· 57 · quyền thức, tức ở chỗ chuyển quan phải chậm, qua chỗ chuyển quan rồi thì dần dần nhanh lên, vận đến điểm đáp thì nhanh nhất, sau đó lại chuyển chậm, cứ thế tuần hoàn lặp lại. (Như trong Hình 17.) Cho nên mỗi quyền thức của Thái Cực Quyền đều phải trải qua sự rèn luyện có thể chậm có thể nhanh; như vậy mới có thể khi đẩy tay "bỉ vi động, dĩ tiên động", "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", sáng tạo điều kiện có lợi cho mình, và có thể đạt được sự thống nhất của khoái mạn tương gian.

Cho nên, vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn trở thành đặc điểm thứ tám của Thái Cực Quyền.

Phần 19

Trang sách 61

I. Trình tự phát triển của khoái mạn

I. Trình tự phát triển của khoái mạn

Giai đoạn mới học Thái Cực Quyền, quyết không được nhanh, phải tận lực cầu chậm, càng chậm càng tốt. Bởi vì chậm có thể chăm chú suy đoán tính chính xác của tư thế, có thể từ thô đến tinh, đối với lai long khứ mạch của mỗi động tác đều có đủ thời gian để thẩm tra; như vậy, tư thế liền dễ sửa chữa, và ở chỗ chuyển quan có thể kiểm tra ra có thuận lợi hay không. Nhưng chậm, cũng không phải là chậm vô thời hạn; thông thường sau một hai năm học tập, mô phỏng, kiểm tra và sửa chữa, là được. Điểm này khi mới học phải có một khái niệm chính xác. Đây là thời kỳ chỉ cầu tư thế chính xác, không cầu kình biệt phân minh.

Sự chậm của thời kỳ này còn phải có một điều kiện, tức là chậm phải trên tiền đề đề khởi tinh thần và thần bất ngoại tán mà cầu chậm. Nếu động tác chậm đến mức trên thần khí biểu hiện ra trì độn và ngai bản, trên hành động biểu hiện ra trệ trọng và bất linh, thì đã trái với yêu cầu của vận động ý khí Thái Cực Quyền rồi. Vì vậy, chậm phải trong trạng thái thần khí cổ đãng và ý khí linh hoán mà cầu chậm; đây là tiêu chuẩn của Thái Cực Quyền đối với chậm. Vì thế, khi mới học quyết không được nhiễm phải thói quen ý trệ, thần ngai này, gây khó khăn cho việc nâng cao về sau.

Về sau theo mức độ thuần thục nâng cao, có thể dần dần nhanh tốc độ lên; nhưng nhanh không được thác loạn, đây là thời kỳ rèn luyện kình biệt. Cuối cùng, sau khi công phu tinh tiến, quyền thức có thể từ khai triển phát triển thành khẩn thấu, khiến tốc độ vận động lại dần dần hoãn lại, mà chỗ chuyển quan · 58 · thì góc tốc độ lại càng nhanh hơn. Đây là công phu ba tầng: trước chậm, sau nhanh, lại hoãn; cũng là ba trình tự phát triển của khoái mạn.

Phần 20

Trang sách 62

II. Thời gian và điều kiện của việc chuyển từ mạn sang khoái

II. Thời gian và điều kiện của việc chuyển từ mạn sang khoái

Vào lúc nào và dưới điều kiện nào thì chuyển từ mạn sang khoái là thích hợp nhất? Để trả lời vấn đề này, trước tiên phải làm rõ hai tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái.

(1) Động tác trầm ổn — trong toàn lượt giá tử, cho dù động nhanh hơn trước một chút, nhưng vẫn không được thay đổi tính trầm ổn vốn có của vận động; đây là gia tốc chính xác. Nếu không thể, và tỏ ra phù phiêu, thì chứng tỏ động tác đã gia tốc quá mức, phải lập tức chậm lại một chút. Dưới sự chỉ dẫn của tiêu chuẩn này, có thể theo mức độ thuần thục nâng cao mà dần dần nhanh lên.

(2) Có thể biểu hiện ra kình biệt — Thái Cực Quyền là do bát môn ngũ bộ cấu thành. Khi vận kình nên biểu hiện đầy đủ một trong bát kình (như bằng lãm tễ án của tứ chính, hoặc thái liệt trửu kháo của tứ ngung). Nếu động tác quá nhanh, vừa xoay liền trượt qua, thì không dễ biểu hiện ra kình biệt yêu cầu. Vì vậy, nếu cảm thấy mình rất khó biểu hiện ra kình biệt nữa, thì chứng tỏ động tác đã gia tốc quá mức, nên chậm lại một chút. Đây cũng là tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái①.

Hai điểm nói trên, chính là hai tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái. Có hai tiêu chuẩn này rồi, liền có thể chỉ dẫn chúng ta nắm giữ chính xác thời gian và điều kiện của việc chuyển từ mạn sang khoái, khiến tốc độ vận động vừa đúng chỗ mà từ mạn chuyển thành khoái. Cái khoái được chỉ ở đây, cũng không phải là đem toàn bộ động tác Thái Cực Quyền đều đổi thành động tác nhanh, mà là trong khai hợp của mỗi quyền thức, chỗ chuyển quan chiết điệp đều phải lấy tùng phi tùng, tương triển vị triển mà biểu hiện ra lưu luyến miên

  • ① Bất luận nhanh thế nào, để biểu hiện trầm ổn và kình biệt, giá tử thập tam thế của đệ nhất lộ nhanh nhất cũng không quá tám, chín phút. Đây là tốc độ khi thầy Dương Trừng Phủ năm 1914 công khai biểu diễn Thái Cực Quyền tại hội nghị thường niên của Nam Kinh Thể Dục Nghiên Cứu Xã.

· 59 · nhuyễn và nhuyễn nhuyễn động tác chậm. Vì vậy, cái gọi là khoái, chỉ là biểu hiện ra trong quá trình từ tròn chuyển sang vuông. (Như trong Hình 17.) Loại vận động gia tốc này là cơ sở sinh ra bát môn kình biệt; nếu không có loại góc gia tốc này, thì không có cách nào biểu hiện ra kình biệt của tứ chính và tứ ngung, cũng không có cách nào thích hợp yêu cầu "động cấp tắc cấp ứng". Phát kình của Thái Cực Quyền, chính là lợi dụng quá trình gia tốc này mà thực hiện: dưới điều kiện khai trung ngụ hợp và nội kình khúc súc, khi đạt đến gần mục tiêu, đột nhiên như dây cung tuột khấu mà chấn một cái mà phát, đem nội kình từ trong khoảng cách ngắn phát ra ngoài. Võ thuật gia gọi đây là "thốn kình" (kình tấc)①.

图 L0F17
图 L0F17
Sơ đồ khoái mạn tương gian (trong hình ghi rõ vòng xoắn ốc "từ mạn đến khoái" và vòng xoắn ốc "từ khoái đến mạn", ở giữa là "phương viên tương sinh", hai bên ghi các chữ như "khai bất xuất nhập (kình biệt và điểm vuông)", "chỗ chuyển quan chậm" v.v.)

Phần 21

Trang sách 63

III. Khoái mạn tương gian và câu thanh, kình biệt

III. Khoái mạn tương gian và câu thanh, kình biệt

Căn cứ lý luận nói trên có thể biết, phàm là động tác mạn đơn độc hoặc động tác khoái đơn độc đều không hợp với yêu cầu âm dương tương tế của Thái Cực. Thứ hai, đối với lực chú ý của nhân loại

  • ① "Thốn kình", phàm là súc phát kình trong khoảng cách một xích, đều gọi là thốn kình.

· 60 · mà nói, từ cơ sở sinh lý tâm lý có thể thấy rằng muốn khiến lực chú ý tiến hành chú ý lâu dài với cường độ ngang nhau mà không phá hoại tính ổn định của nó là không thể. Muốn khiến lực chú ý ổn định và ý chủng bất hoán tán, thì phải khiến cường độ của lực chú ý có cao có thấp. Mà Thái Cực Quyền là vận động ý khí, nó yêu cầu đem ý quán chú vào trong động tác, cho nên để không khiến ý chủng hoán tán, thì động tác phải khoái mạn tương gian; như vậy mới có thể phối hợp đặc tính khởi phục của ý khí, thúc đẩy lực chú ý được ổn định và thần khí cổ đãng. Kỳ thực, khoái mạn tương gian của động tác cũng là một loại bản năng tự nhiên của nhân loại; nó vừa là tất yếu của bảo kiện, cũng là không thể thiếu của kỹ kích. Vì vậy, lấy một quyền thức mà nói, yêu cầu đạt được khoái mạn tương gian (như trong Hình 17). Nhưng mà lấy một lượt giá tử mà nói, loại khoái mạn tương gian của mỗi quyền thức này còn yêu cầu có biên độ biến hóa đều đặn. Điều này cũng có nghĩa là, từ khi vận động bắt đầu đến khi kết thúc, cần chậm thì đều là chậm như nhau, cần nhanh thì đều là nhanh như nhau; dùng thuật ngữ Thái Cực Quyền mà nói, thì là phải làm được "câu thanh" (đều rõ). Giả sử có thể đạt được yêu cầu này, thì hô hấp của hắn ắt có thể điều tiết rất "câu thanh", sẽ không có hiện tượng dần dần trở nên cấp xúc. Loại công phu khiến động tác và hô hấp cả hai đều đạt được "câu thanh" này, là một loại biểu hiện cụ thể của tu dưỡng hữu tố của Thái Cực Quyền, là chân công phu có được do luyện lâu. Vì vậy, khi bắt đầu từ mạn chuyển khoái, quyết không được sợ hô hấp cấp xúc mà không dám làm động tác gia tốc — đó là nhân ế phế thực (vì nghẹn mà bỏ ăn). Tóm lại, Thái Cực Quyền phải như sóng của sông Trường Giang sông lớn, vừa thao thao bất tuyệt vừa câu thanh mà khởi phục vận động.

Thái Cực Quyền là do bát môn ngũ bộ cấu thành. Khi mới học, để hóa khứ chuyết lực cương ngạnh vốn có của thân thể tứ chi, cho nên tạm thời có thể không biểu hiện ra kình biệt, có thể chỉ tròn không vuông. Thời kỳ này cho phép không biểu hiện ra kình biệt, là vì luyện tập chưa đủ, công phu chưa sâu và thói quen chưa dưỡng thành; là vì lúc này nếu yêu cầu biểu hiện ra kình biệt, thì dễ sinh ra bệnh nỗ trách cổ kình, không còn có thể sinh ra đàn hồi kình của phóng trường thân thể tứ chi nữa.

Sau khi luyện qua công phu cầu nhuyễn tồi cương một hai năm, tự giác cương kình đã trừ sạch, thì có thể biểu hiện ra kình biệt khi đi giá tử. Biểu hiện ra kình biệt, chính là luyện tập · 61 · Thái Cực Quyền sở tất bất khả thiểu, cũng là bát kình sở yêu cầu, tức là khi gia tốc lực đến điểm đáp phải biểu hiện ra:

(1) Hướng ngoại có bằng kình, hướng nội có lãm kình, song hợp có tễ kình;

(2) Hướng xuống có án kình, song phân có thái kình, phát xuất có liệt kình;

(3) Cổ tay ra khỏi phương viên có trửu kình, cùi chỏ cánh tay lại ra khỏi phương viên có kháo kình.

Vận động như vậy, mới có thể nói là Thái Cực Quyền do bát môn ngũ bộ cấu thành. Vì thế, luyện quyền đến một thời kỳ nhất định rồi khi đi giá tử, nên làm đầy đủ động tác khoái mạn tương gian này. Khoái mạn tương gian vào luyện lâu tập, liền có thể khiến bát môn kình từ vô đến hữu, từ hữu đến cường, làm được bát môn ngũ bộ đúng như tên gọi.

Phần 22

Trang sách 65

IV. Sự nắm giữ khoái mạn tương gian

IV. Sự nắm giữ khoái mạn tương gian

(1) Khi mới học tận lực cầu mạn — khi mới học, để tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa mỗi động tác, ắt phải chậm, phải tuần tự tiệm tiến luyện qua thời kỳ cầu mạn này; quyết không được nóng vội, để tránh gây khó khăn cho việc nâng cao thêm.

(2) Phải trong tình huống tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán mà cầu mạn — khi mới học, vì kiểm tra và sửa chữa tư thế mà không thể không chậm. Nhưng như trên đã nói, chậm phải có một hạn độ; nói cách khác, không được chậm đến mức tựa động tựa đình, mắt định thần ngai, như thể ở đó nghĩ ngợi điều gì. Loại chậm này gần với công phu đứng giá tử, không phải điều hành động cần. Vì vậy, chậm phải trên tiền đề tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán mà cầu chậm; như vậy mới không đến nỗi sinh ra khuyết điểm si ngai và tinh thần hoán tán.

(3) Phải trong tình huống động tác trầm ổn và có thể biểu hiện ra kình biệt mà cầu khoái — cầu khoái cũng như cầu mạn, cũng không phải là đi lên khoái vô hạn; đồng dạng phải có một hạn độ: tuy nhanh, nhưng động tác vẫn phải trầm ổn. Khoái trầm ổn, là khoái mà Thái Cực Quyền yêu cầu; không trầm ổn thì là bệnh tượng. Đồng thời, còn phải trong tình huống có thể biểu hiện ra kình biệt mà cầu khoái, bởi vì biểu hiện ra kình rồi, liền hạn chế được khoái. Loại khoái này là có lợi vô hại · 62 · khoái — nó không đến nỗi phù phiêu bất trầm và kình biệt bất phân, không đến nỗi mất đi công năng phương viên tương sinh.

(4) Chỗ chuyển quan chậm, chuyển về điểm vuông thì nhanh — ba điểm trên nói rõ phân tấc nên nắm giữ đối với khoái mạn khi đi một lượt giá tử; nay lại bàn một chút về nguyên tắc khoái mạn của mỗi quyền thức. Thái Cực Quyền quy định, phàm ở chỗ chuyển quan chiết điệp thì nên chậm, qua chuyển quan rồi thì vận dụng gia tốc kình mà vận động lên nhanh, cứ thế tuần hoàn lặp lại mà tiến hành. Đồng thời, trong một lượt giá tử, sự biến hoán khoái mạn tương gian này còn yêu cầu đạt được "câu thanh". Đây là cơ sở để rèn luyện bát môn kình biệt, khiến nó từ vô đến hữu, từ hữu đến cường.

Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ tám, khái quát yếu lĩnh của nó như sau.

(1) Khi mới học phải chậm, là để có cơ hội kiểm tra sửa chữa.

(2) Cầu mạn ắt phải lấy tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán làm tiền đề.

(3) Theo mức độ thuần thục nâng cao, nên dần dần rút ngắn thời gian cần để đi một lượt giá tử. Nhưng cầu khoái, ắt phải lấy động tác trầm ổn và có thể biểu hiện ra kình biệt làm tiền đề.

(4) Nguyên tắc của khoái mạn tương gian là: chỗ chuyển quan chiết điệp thì chậm, qua chuyển quan rồi thì dần dần nhanh lên, qua điểm vuông rồi thì lại chuyển chậm. Đồng thời, khi chuyển quan thì hành khí phải chậm, điểm đáp ở tận cùng thì phải nhanh.

(5) Trong cả lượt giá tử, biên độ biến hóa của khoái mạn tương gian yêu cầu đạt được câu thanh.

Phần 23

Trang sách 66

Kết ngữ

Kết ngữ

Tám đặc điểm của Thái Cực Quyền là được chọn lọc ra từ quyền phổ Thái Cực Quyền, qua nhiều lần tinh luyện. Kinh nghiệm luyện quyền quý giá mà tiền nhân để lại, đã sớm trở thành nguyên tắc luyện tập Thái Cực Quyền hiện nay, cũng là chuẩn tắc mà mọi người luyện Thái Cực Quyền nhất trí tuân theo.

Ngoài ra nên chỉ ra rằng, đặc điểm tuy chia thành tám, nhưng thực chất của nó là một; cho nên khi luyện tập giá tử hoặc đẩy tay, không được cô lập mà đối đãi những đặc điểm này, ắt phải trong mỗi động tác đều dần dần làm được phù hợp với những đặc điểm này. Bởi vì bất cứ quyền thức hay động tác nào, đều phải vận dụng ý thức tập trung để chỉ huy toàn bộ quá trình động tác (đặc điểm · 63 · nhất), khiến thân thể tứ chi trên tiền đề tinh thần đề khởi mà có tính đàn hồi (đặc điểm hai), và trong sự biến hoán hư thực linh hoạt (đặc điểm bốn) cùng thuận nghịch xoắn ốc triền ty (đặc điểm ba), thúc thành nội ngoại tương hợp, đạt được tiết tiết quán xuyến của nhất động vô hữu bất động (đặc điểm năm) và nhất khí a thành của liên tương bất đoạn (đặc điểm sáu), biểu hiện ra chất lượng cương nhu tương tế (đặc điểm bảy) và tốc độ hữu mạn hữu khoái (đặc điểm tám); đây là đặc sắc mà Thái Cực Quyền nên có.

Từ phân tích trên có thể thấy, những đặc điểm này là tương hỗ y lại, tương hỗ chế ước, tương hỗ thúc tiến và tương hỗ chuyển hóa. Vì vậy, nếu cô lập mà đối đãi, ý đồ chỉ quán triệt một đặc điểm mà bỏ đi đặc điểm khác, thì không những tổn hại cái sau, mà đồng thời cũng ảnh hưởng cái trước. Cho nên những đặc điểm này không phải là đặc hữu của một động tác đặc định, lại càng không phải là một động tác nào chỉ có một đặc điểm nào, mà là đặc điểm mà mỗi quyền thức cấu thành toàn bộ sáo lộ Thái Cực Quyền đều nên có.

Thái Cực Quyền lưu hành hiện nay, bất luận là thức nào, cũng không hỏi tư thế là khai triển hay khẩn thấu, lại càng không quản lượt giá tử này có nhiều hơn mấy quyền thức hay ít hơn mấy quyền thức, chỉ cần quan sát kỹ càng, thì những giá tử Thái Cực Quyền ngoại biểu tuy có sai dị này, bên trong ít nhiều đều có những đặc điểm cộng đồng này. Chỗ bất đồng, chỉ là có cái biểu hiện rõ ràng ở ngoài, còn có cái thì lấy phương thức ám kình mà ẩn tàng bên trong. Điều này cũng nói rõ Thái Cực Quyền lưu hành mấy trăm năm mà không bị võ thuật khác đồng hóa, và vẫn có thể độc cụ nhất cách, đều là những đặc điểm cộng đồng này đã làm trung lưu để trụ. Vì vậy, khi học tập Thái Cực Quyền, không được coi nó là chuyện tầm thường mà đối đãi.

Nhưng khi mới học muốn một cái liền nắm giữ được tám đặc điểm này, đây là không thể. Khi mới học chỉ cần nhận thức được những đặc điểm này, biết nó là tổng kết kinh nghiệm mà tiền nhân để lại, hiểu rõ nó là nhân tố cơ bản cấu thành Thái Cực Quyền, thì không khó căn cứ theo kinh nghiệm của tiền nhân, tuân theo phương hướng mà tiền nhân đã chỉ ra mà vững bước tiến lên, không khó thu được công hiệu mà Thái Cực Quyền nên có.

· 64 · Chương hai: Đồ giải đệ nhất lộ Trần thức Thái Cực Quyền

Phần 24

Trang sách 67

Thứ tự tên các quyền thức của đệ nhất lộ Trần thức Thái Cực Quyền

Thứ tự tên các quyền thức của đệ nhất lộ Trần thức Thái Cực Quyền
SốTên thứcSốTên thức
Thức 1Thức dự bịThức 16Phi thân chùy
Thức 2Kim cương đảo đốiThức 17Bối triết kháo
Thức 3Lãn trát yThức 18Thanh long xuất thủy
Thức 4Lục phong tứ bếThức 19Song thôi thủ
Thức 5Đơn tiênThức 20Tam hoán chưởng
Thức 6Đệ nhị kim cương đảo đốiThức 21Trửu để chùy
Thức 7Bạch hạc lượng síThức 22Đảo quyển quăng
Thức 8Tà hành ảo bộThức 23Thoái bộ áp trửu
Thức 9Sơ thuThức 24Trung bàn
Thức 10Tiền thang ảo bộThức 25Bạch hạc lượng sí
Thức 11Đệ nhị tà hành ảo bộThức 26Tà hành ảo bộ
Thức 12Tái thuThức 27Thiểm thông bối
Thức 13Tiền thang ảo bộThức 28Yểm thủ quăng chùy
Thức 14Yểm thủ quăng chùyThức 29Lục phong tứ bế
Thức 15Đệ tam kim cương đảo đốiThức 30Đơn tiên

· 65 ·

SốTên thứcSốTên thức
Thức 31Vận thủThức 58Vận thủ
Thức 32Cao thám mãThức 59Bãi cước điệt xoa
Thức 33Hữu sát cướcThức 60Tả hữu kim kê độc lập
Thức 34Tả sát cướcThức 61Đảo quyển quăng
Thức 35Đặng nhất cănThức 62Thoái bộ áp trửu
Thức 36Tiền thang ảo bộThức 63Trung bàn
Thức 37Kích địa chùyThức 64Bạch hạc lượng sí
Thức 38Phiên thân nhị khởi cướcThức 65Tà hành ảo bộ
Thức 39Thú đầu thếThức 66Thiểm thông bối
Thức 40Toàn phong cướcThức 67Yểm thủ quăng chùy
Thức 41Đặng nhất cănThức 68Lục phong tứ bế
Thức 42Yểm thủ quăng chùyThức 69Đơn tiên
Thức 43Tiểu cầm đảThức 70Vận thủ
Thức 44Bão đầu thôi sơnThức 71Cao thám mã
Thức 45Tam hoán chưởngThức 72Thập tự bãi liên
Thức 46Lục phong tứ bếThức 73Chỉ đang chùy
Thức 47Đơn tiênThức 74Bạch viên hiến quả
Thức 48Tiền chiêuThức 75Lục phong tứ bế
Thức 49Hậu chiêuThức 76Đơn tiên
Thức 50Dã mã phân tôngThức 77Tước địa long
Thức 51Lục phong tứ bếThức 78Thượng bộ thất tinh
Thức 52Đơn tiênThức 79Thoái bộ khóa hổ
Thức 53Song chấn cướcThức 80Chuyển thân song bãi liên
Thức 54Ngọc nữ xuyên toaThức 81Đương đầu pháo
Thức 55Lãn trát yThức 82Kim cương đảo đối
Thức 56Lục phong tứ bếThức 83Thu thế
Thức 57Đơn tiên

· 66 ·

Phần 25

Trang sách 69

Mấy điểm nói rõ về đồ giải

Mấy điểm nói rõ về đồ giải

1. Các hình phân giải động tác trong đồ giải đệ nhất lộ là được mô vẽ theo ảnh quyền của bạn học Trần Chiếu Khuê. Các hình phân giải động tác trong đồ giải đệ nhị lộ (pháo chùy) là được vẽ theo ảnh quyền của thầy Trần Phát Khoa; ngoài ra, căn cứ theo nhu cầu của việc phân giải động tác, lại theo thể hình của bạn học Trần Chiếu Khuê mà tăng vẽ thêm một số hình.

2. Để tiện cho độc giả tra đối phương hướng của quyền thức, quy ước phương hướng của tư thế trong ảnh hình là: quay mặt về phía độc giả bằng hướng nam, quay lưng về phía độc giả bằng hướng bắc, bên phải của người quay mặt về phía độc giả bằng hướng đông, bên trái của người quay mặt về phía độc giả bằng hướng tây. Sau khi độc giả luyện tập thuần thục rồi, có thể căn cứ theo hình dạng sân bãi mà tùy chọn phương hướng, không nhất định phải đem thức dự bị bắt đầu từ đứng quay mặt về hướng nam.

3. Tất cả mũi tên có đường liền nét hoặc đường đứt nét trong hình, đều biểu thị xu hướng động tác của tay hoặc chân; tất cả mũi tên trong hình đều biểu thị xu hướng động tác từ hình này quá độ đến hình sau. Phàm động tác tương đối đơn giản, dùng văn tự là có thể nói rõ, thì không còn biểu thị xu hướng động tác của nó trong hình, có thể tham khảo văn tự và hình sau là có thể hiểu rõ; ngoài ra, đối với quyền thức giống với một thức nào đó ở phía trước, mà hình phân giải động tác được lược từ mấy bức thành một hoặc hai bức, thì có thể tham khảo hình phân giải của quyền thức giống nhau ở phía trước, không còn biểu thị xu hướng động tác của nó trong hình đã lược thành một hoặc hai bức nữa.

4. Mũi tên có đường liền nét biểu thị xu hướng động tác của tay phải hoặc chân phải, mũi tên có đường đứt nét biểu thị xu hướng động tác của tay trái hoặc chân trái.

5. Do động tác của chân trong Thái Cực Quyền cũng khá tinh tế, để biểu thị chân và mặt đất, bên cạnh chân có vẽ bóng mờ để phân biệt. (Tham khảo hình dưới đây.)

· 67 · (Tiếp theo trang trước, điểm thứ 5 của mấy điểm nói rõ về đồ giải — cách biểu thị bóng mờ của chân với mặt đất)

a. Bên cạnh chân có bóng mờ liền thành một khối, biểu thị cả bàn chân chạm đất.

b. Bên cạnh chân không có bóng mờ, biểu thị cả bàn chân rời đất.

c. Bóng mờ bên cạnh chân chỉ liền ở chỗ gót chân, biểu thị gót chân chạm đất.

d. Bóng mờ bên cạnh chân chỉ liền ở chỗ mũi chân, biểu thị mũi chân chạm đất.

Phần 26

Trang sách 70

Trần thức Thái Cực Quyền đệ nhất lộ

Trần thức Thái Cực Quyền đệ nhất lộ
Thức thứ nhất: Thức dự bị

Thân thể đứng ngay ngắn, khoảng cách hai chân hơi rộng hơn vai, hai mũi chân hơi xoay ra ngoài, hai cánh tay buông xuôi tự nhiên, mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 1)

Yếu điểm:

· 68 · Thức dự bị là sự chuẩn bị về ý thức và tư thế trước khi bắt đầu động tác; nó yêu cầu: nội cố tinh thần, ngoại thị an dật (bên trong củng cố tinh thần, bên ngoài tỏ ra an nhàn); hư lĩnh đỉnh kình, tức là đầu phải ngay ngắn, đỉnh đầu phải hư hư lĩnh khởi, đỉnh kình như thể được treo lơ lửng; môi khẽ khép, răng khẽ chạm, cằm dưới hơi thu vào trong; trầm kiên, tức là hai vai hơi cuộn về trước, và buông lỏng trầm xuống; hàm hung bạt bối, tức là ngực không lõm vào hay ưỡn ra mà ngậm lại, lưng sống phải có ý kéo dài lên xuống; đang phải khai, và có cảm giác tròn hư; hai gối hơi cong, đứng mà không thẳng cứng, khớp gối để lại dư địa; toàn thân buông lỏng, hô hấp tự nhiên, ý tồn đan điền.

Những yếu điểm nói trên, không những khi làm thức dự bị, mà còn khi làm bất cứ động tác nào của toàn bộ quyền sáo, đều phải khắc khắc chú ý. Ngoài ra, như trên đã nói, các phương diện tuy cố nhiên mỗi cái có yêu cầu riêng, nhưng lại ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ: do vai hơi cuộn về trước và tùng trầm, liền dễ làm được hàm hung bạt bối, tinh thần nội cố, khí trầm đan điền và hư lĩnh đỉnh kình; do gối hơi cong, thì đang dễ khai mà tròn (đang tức là phần hội âm giữa hai chỗ đại tiểu tiện; khai đang tức là cảm thấy có khí đề khởi và phần da thịt này không sa xuống).

图 L1F1
图 L1F1
Thức dự bị
Thức thứ hai: Kim cương đảo đối

Động tác một: Thân hơi hạ ngồi xổm, hai cùi chỏ hơi cong, hai lòng bàn tay hướng xuống (hai tay có ý hợp kình), mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 2) Thân thể hơi xoay sang trái; đồng thời hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, nâng lên về phía góc chéo trước trái đến cao ngang vai, hai lòng bàn tay vẫn hướng xuống. (Hình 3) Thân thể xoay sang phải, và tiếp tục hạ ngồi xổm, trọng tâm toàn bộ chuyển lên chân phải, chân trái nâng lên; trong lúc xoay thân, hai tay vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền mà triển khai về phía sau phải, lòng bàn tay hướng về sau phải, các ngón tay duỗi dài chớ mềm. (Hình 4)

图 L1F2
图 L1F2
Kim cương đảo đối (động tác một): thân hơi hạ ngồi xổm, hai tay hợp kình, lòng bàn tay hướng xuống
图 L1F3
图 L1F3
Kim cương đảo đối (động tác một): thân hơi xoay trái, hai tay nâng lên về phía góc chéo trước trái
图 L1F4
图 L1F4
Kim cương đảo đối (động tác một): thân xoay phải hạ ngồi xổm, chân trái nâng lên, hai tay triển khai về phía sau phải

Động tác hai: Mũi bàn chân trái vểnh lên, lấy mặt trong gót chân dán đất mà xẹt về phía trước trái · 69 · ra, theo trọng tâm tiến về trước, dần dần đến chân trái đạp chắc; đồng thời hai chưởng vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền, triển khai triền ty về phía sau phải và hơi trầm, cùng lúc chân trái đạp chắc, hai tay theo thân trọng lượng tiến về trước. (Hình 5 Giáp, Hình 5 Ất) Trọng tâm tiến về trước chuyển lên chân trái, thân thể theo đó xoay trái; chân phải bước lên trước một bước, lấy mũi chân điểm đất; đồng thời hai tay từ sau hướng tới trước tả nghịch, hữu thuận triền, tay trái lòng bàn tay hướng xuống, cong cùi chỏ tễ về trước, tay phải theo lúc chân phải bước lên mà liêu về trước, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 6)

图 L1F5甲
图 L1F5甲
Kim cương đảo đối (động tác hai): chân trái xẹt ra phía trước trái, trọng tâm tiến về trước, hai tay triển khai triền ty
图 L1F5乙
图 L1F5乙
Kim cương đảo đối (động tác hai): trọng tâm tiến về trước lên chân trái, hai tay hợp kình
图 L1F6
图 L1F6
Kim cương đảo đối (động tác hai): chân phải bước lên trước một bước lấy mũi chân điểm đất, tay trái cong cùi chỏ tễ về trước, tay phải liêu về trước

· 70 · Động tác ba: Chưởng phải biến thành quyền, từ ngoài hướng lên thuận triền; chưởng trái từ trong hướng xuống thuận triền; đồng thời chân phải nâng về. (Hình 7) Chưởng trái hạ đến trước bụng, quyền phải liền hạ vào trong lòng bàn tay trái; đồng thời chân phải đạp đất chấn cước bên cạnh chân trái. (Hình 8)

图 L1F7
图 L1F7
Kim cương đảo đối (động tác ba): chưởng phải biến thành quyền từ ngoài hướng lên thuận triền, chưởng trái từ trong hướng xuống thuận triền, chân phải nâng về
图 L1F8
图 L1F8
Kim cương đảo đối (động tác ba): chưởng trái hạ đến trước bụng, quyền phải hạ vào trong lòng bàn tay trái, chân phải chấn cước

Yếu điểm:

1. Triền ty kình chính là Thái Cực kình, là hạch tâm cấu thành Thái Cực Quyền. Nó là do hai loại triền ty cơ bản đối lập thống nhất lại. Bất cứ động tác nào của toàn bộ Thái Cực Quyền, từ đầu đến cuối đều không được rời khỏi triền ty kình. Vì vậy, triền ty kình quán xuyến suốt quá trình của mọi động tác. Thuận nghịch hai loại triền ty là điều mà động tác của toàn bộ quyền đều phổ biến có; mỗi động tác trong quyền thức đều có thuận nghịch triền ty, cho nên thuận nghịch triền ty là thuộc về triền ty cơ bản có tính phổ biến. Còn lý ngoại, thượng hạ, tả hữu, tiền hậu, đại tiểu, năm cặp này là để hình dung điểm bất đồng về phương vị và đại tiểu của triền ty trong mỗi động tác, cho nên thuộc về triền ty phương vị có tính đặc thù. Nhưng không có nghĩa là trên triền ty thuận nghịch có tính phổ biến thì chỉ có một cặp triền ty phương vị đơn nhất, mà là căn cứ theo yêu cầu của mỗi động tác, có cái là đơn nhất, như tả hữu thuận nghịch; có cái thì vừa có bất đồng thượng hạ, lại vừa có bất đồng lý ngoại, như động tác ba (Hình 7) chính là như vậy. Về triền ty kình có thể tham khảo đặc điểm thứ ba, và ở · 71 · Trong đặc điểm thứ ba có đồ triền ty để tham khảo.

2. Thức này là thế thứ nhất trong thập tam thế của Thái Cực Quyền; ở giữa đã trải qua việc vận dụng năm cặp triền ty kình, cuối cùng một cái đảo (chấn cước và quyền phải đập xuống vào trong lòng bàn tay trái), tức là biểu thị quyền thức này kết thúc.

3. Tác dụng của chấn cước là khiến khí toàn thân trầm xuống, và có lợi cho tuần hoàn máu. Ví dụ, đứng lâu cảm thấy mệt mỏi, mà hoàn cảnh lại không cho phép đi lại, thì hai chân lấy mũi chân điểm đất, nâng gót chân lên, rồi hạ xuống chấn nhẹ; vận động như vậy mấy lần, đồng dạng có thể thu được công hiệu khôi phục mệt mỏi. Ngoài ra, nặng nhẹ của chấn cước có thể căn cứ theo tuổi tác và thân thể mạnh yếu của người luyện mà định; nhưng bất luận nhẹ hay nặng đều phải khiến kình trầm xuống được chỉnh. Kình chỉnh hay không, còn có thể căn cứ theo tiếng chấn cước mà phán đoán.

4. Bất cứ động tác nào của Thái Cực Quyền đều yêu cầu "trầm kiên trụy trửu". "Trầm kiên" đã được giải thích trong yếu điểm của thức dự bị; "trụy trửu" tức là hai cánh tay trong bất cứ động tác nào, khớp cùi chỏ đều phải giữ cong nhất định, không được thẳng cứng, và đầu cùi chỏ có ý trụy xuống.

5. Chưởng trong Trần thức Thái Cực Quyền yêu cầu các ngón tay cong về sau, tức là ngoài ngón tay cái ra, bốn ngón còn lại đều cong nhẹ về phía mu bàn tay (tham khảo hình chưởng trong các hình). Như vậy, có thể khiến khí quán chú vào giữa các đầu ngón (khí đạt lưỡng sao), còn có thể cảnh tỉnh và tiêu trừ khuyết điểm cánh tay dùng chuyết lực.

Thức thứ ba: Lãn trát y
图 L1F9
图 L1F9
Thế định khi hai tay tả nghịch, hữu thuận triền bắt chéo hợp kình trước ngực, do chân trái thực chuyển thành chân phải thực.
图 L1F10
图 L1F10
Hai tay mở rộng vòng triền ty mà tách ra, phải trên thuận triền, trái dưới nghịch triền, tạo thành khai kình.

Động tác một: Thân trước hơi xoay trái, rồi chuyển thành hơi xoay phải, tức thì xoay về chính; đồng thời hai tay ở trước bụng dưới theo thân xoay từ trái hướng ra ngoài và lên rồi sang phải và xuống vòng một vòng nhỏ (lại trở về tư thế của Hình 8). Tiếp đó thân thể lại từ hơi xoay trái chuyển thành hơi xoay phải; đồng thời hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, hợp kình giao nhau ở trước ngực; từ chân trái thực chuyển thành chân phải thực. (Hình 9) Hai tay mở rộng vòng triền ty, hữu thượng thuận, tả hạ nghịch triền mà tách ra, hình thành khai kình; khi khai từ chân phải thực biến thành chân trái thực. (Hình 10–11) Trọng tâm toàn bộ chuyển lên chân trái, chân phải nâng lên, tức lấy gót chân xẹt ra về phía phải dán đất; đồng thời hai tay · 72 · Tiếp tục vạch cung, từ đại khai chuyển thành đại hợp song thuận triền (Hình 12 Giáp); trọng tâm dần dời sang phải, mũi bàn chân phải đạp vững, thân thể hơi xoay trái, tay phải hơi mở sang trái. (Hình 12 Ất)

图 L1F11
图 L1F11
Thế định của khai kình; khi khai thì do chân phải thực biến thành chân trái thực.
图 L1F12甲
图 L1F12甲
Thế định khi tiếp tục vạch cung, từ đại khai chuyển thành đại hợp song thuận triền.

Động tác hai: Thân thể hơi xoay phải, theo trọng tâm dời sang phải, dần đến chân phải biến thành thực; đồng thời hai tay từ hợp lại mở ra, tay phải đại thuận triền chuyển cánh tay mở sang phải, tay trái tiểu nghịch triền rồi lật bàn tay đặt trước lưng eo trái, lòng bàn tay trái hướng lên. (Hình 13) Thân thể xoay thẳng, điều chỉnh hậu khóa, toàn thân buông lỏng, khí trầm xuống. (Hình 14)

Yếu điểm:

1. Khi chân phải bước ra, phải đúng lúc tay phải hướng trái thuận triền trầm xuống, thì mới có cái thế · 73 · cảm giác tay trầm xuống sang trái mà đè chân phải đẩy ra sang phải. Đến khi tả nghịch, hữu thuận lại hợp nhau, động tác này biểu hiện đầy đủ yêu cầu "nhất động vô hữu bất động" của đặc điểm thứ năm.

图 L1F12乙
图 L1F12乙
Tư thế quá độ khi sau đại hợp song thuận triền, trọng tâm dần dời sang chân phải, thân thể hơi xoay trái, tay phải hơi mở sang trái.

2. Trần thức Thái Cực Quyền khi bắt đầu mỗi thức đều phải do bên trong dẫn động bên ngoài, cho nên về hình dáng bên ngoài có một vòng nhỏ dẫn dắt động tác phía sau. Như khi bắt đầu làm Kim cương đảo đối (Vajra Pounds the Mortar) từ thức dự bị, hai tay ở bên hông co khuỷu hơi nâng, tức lòng bàn tay hướng xuống hơi ấn, tạo thành hợp kình, rồi mới động tác lên; khi bắt đầu làm Lãn trát y (Lazily Tucking the Robe) từ Kim cương đảo đối, hai tay thì vạch một vòng nhỏ trước bụng (như đường chấm hai tay trong Hình 8). Khi mỗi thức hoàn thành đều có một động tác điều chỉnh, như Kim cương đảo đối cuối cùng là một cái giậm, còn Lãn trát y cuối cùng là thân thể xoay thẳng, điều chỉnh hậu khóa.

图 L1F13
图 L1F13
Thế định: thân thể hơi xoay phải, hai tay từ hợp lại mở ra, tay phải đại thuận triền chuyển cánh tay mở sang phải, tay trái tiểu nghịch triền rồi lật bàn tay đặt trước lưng eo trái, lòng bàn tay trái hướng lên.
图 L1F14
图 L1F14
Thế định của việc thân thể xoay thẳng, điều chỉnh hậu khóa, toàn thân buông lỏng, khí trầm xuống.

3. Thức này biểu hiện đầy đủ quan hệ trên dưới (tay với chân) tương tùy. Vạch một · 74 · Khi vòng chuyển lên bằng kình thì tay là hư, chân dưới tay liền biến thành thực, ngược lại thì là hư. Đây cũng là mấu chốt để cầu được nội kình trung chính (nhưng người nâng chân đứng riêng thì trừ ra. Vì một chân đứng, để giữ trung chính, cân bằng trọng tâm, chân riêng đang đứng là thực, tay trên chân thực vẫn phải thực). Điều này trong Hình 10 và Hình 11 biểu hiện rõ nhất.

4. Lãn trát y là một trong những thức cơ bản của Trần thức Thái Cực Quyền, nó được hình thành bởi tay trái tiểu lý nghịch triền và tay phải đại ngoại thuận triền; yêu cầu làm được không có lồi lõm, không có khuyết hãm và nội kình không đứt đoạn, nhất là tiểu lý nghịch triền khó hơn, phải chú ý và luyện tập nhiều mới đạt được yêu cầu. Trong thức Lãn trát y này, càng phải chú ý trong thu (khi co vòng) có phóng, trong phóng (khi mở vòng) có thu; mấu chốt là trong quá trình thu phóng thêm nhiều thành phần triền ty trong ngoài, thì dễ đạt được yêu cầu ấy; chỉ khi đạt được yêu cầu ấy mới có thể "khiên động vãng lai khí thiếp bối".

5. Hai cánh tay bằng kình chuyển thành hợp kình: do khí dán vào lưng sống và hai cánh tay đụng nhau, khiến bằng kình không mất, thì sinh ra diệu dụng "hợp trung ngụ khai"; đồng dạng do hai cánh tay đụng nhau, khi hai cánh tay tách ra thành khai kình, bên trong lại vẫn có hợp kình, lại sinh ra diệu dụng "khai trung ngụ hợp".

图 L1F15甲
图 L1F15甲
Vị trí hai tay trước ngực bụng khi hai cánh tay hợp kình, khí dán vào lưng sống.
图 L1F15乙
图 L1F15乙
Vị trí hai tay tách trước sau khi hai cánh tay khai kình, hai cánh tay đụng nhau.
Đệ tứ thức: Lục phong tứ bế (Sáu phong bốn bế)

· 75 · Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời sang trái, chân trái biến thành thực; đồng thời hai tay trước tiên mỗi tay tại chỗ xoay cánh tay vạch một vòng nhỏ (để dẫn khởi động tác), tức tay phải đại thuận triền chuyển cánh tay bằng đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền bằng đến trước ngực, hai tay hình thành hợp kình; thân thể hơi xoay phải, trọng tâm dời sang phải, tay trái lấy bên ngón cái áp sát sườn phải cuộn xoay vào trong, thành lòng bàn tay hướng trái, tay phải nghịch triền khiến lòng bàn tay lật hướng xuống (Hình 15 Giáp, Hình 15 Ất). Thân thể hơi xoay phải, trọng tâm dời sang phải, chân phải biến thành thực; đồng thời, tay phải chuyển cánh tay thuận triền, lòng bàn tay trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình, hướng lên trên phải vạch cung tễ ra (Hình 16).

图 L1F16
图 L1F16
Thế định khi thân thể hơi xoay phải, tay phải chuyển cánh tay thuận triền, lòng bàn tay trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình vạch cung tễ ra hướng lên trên phải.
图 L1F17
图 L1F17
Tư thế quá độ khi hai tay nâng đỡ lên trên phải, tay trái sau nghịch triền chuyển cánh tay lật khớp cổ tay lên trên, ngón tay phải rủ xuống.

Động tác hai: Thân thể lại hơi xoay trái, trọng tâm lại dời về chân trái, chân trái biến thành thực. Đồng thời, tay phải thuận triền nâng đỡ lên, kình xuyên tới lòng bàn tay và ngón tay, ngón tay chớ mềm; tay trái nghịch triền chuyển cánh tay, lấy một bên khớp cổ tay phía mu bàn tay vạch cung bằng sang trái trên, kình xuyên tới mu bàn tay, năm ngón tay xiên rủ xuống, ngón tay chớ mềm. (Hình 17—18) Thân thể tiếp tục hơi xoay trái; đồng thời hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài. (Hình 19) Lập tức hai bàn tay hợp kình ấn xuống phải (bắt đầu hít ra một hơi sâu, khi hô hấp sâu kết thúc thì đúng lúc hai ấn tới đáy, lấy hô khí làm chủ, động tác phối hợp làm khách); đồng thời, thân thể theo hai tay ấn phải mà xoay phải, trọng tâm cũng theo đó dời sang chân phải, chân trái bước sát sang phải lấy mũi bàn chân chấm bên cạnh chân phải. (Hình 20)

Yếu điểm:

· 76 · 1. Hai tay từ hợp chuyển khai hoặc từ khai chuyển hợp, đều phải lấy lưng sống eo làm trục (sự xoay chuyển của thân thể) để dẫn dắt; khi xoay trái phải thân trên vẫn phải thẳng đứng, chớ cúi trước ngửa sau; khi hai lòng bàn tay ấn xuống, phải khí dán lưng sống, nách tròn rỗng, lấy tay phải làm chủ, tay trái làm khách.

图 L1F18
图 L1F18
Tư thế quá độ khi hai tay từ hợp chuyển khai, lấy trục lưng sống eo dẫn dắt, hai lòng bàn tay tách trên dưới.
图 L1F19
图 L1F19
Thế định khi thân thể hơi xoay trái, hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài.

2. Thức Lục phong tứ bế này có nghĩa là sáu phần phong bốn phần bế. Tác dụng của nó giống với "kim cương đẩu lực" trong Ngũ Cầm Kinh của Hoa Đà. Khi hai tay ấn xuống, phải chúm môi thở ra thật chậm một hơi dài sâu, điều này rất có ích cho việc điều chỉnh hệ hô hấp.

图 L1F20
图 L1F20
Thế định khi hai lòng bàn tay hợp kình ấn xuống phải (khi thở ra xong thì vừa ấn tới đáy), thân thể theo hai tay xoay phải, chân trái bước sát.
图 L1F21
图 L1F21
Tư thế khi hai lòng bàn tay ấn tới trước bụng, trọng tâm dời sang chân phải.
Đệ ngũ thức: Đan tiên (Single Whip)

Động tác một: Thân thể hơi xoay phải rồi xoay trở lại sang trái; đồng thời tay phải thuận triền hướng vào trong, tay trái · 77 · Tay nghịch triền hướng ra ngoài mỗi tay lật một vòng, lập tức tay phải biến thành câu thủ nâng lên bên phải, lòng bàn tay trái vạch cung dời tới trước bụng; khi thân thể xoay qua lại trái phải, chân trái cũng theo đó lấy mũi bàn chân chấm đất xoay trở. (Hình 21—22)

Động tác hai: Tiếp theo trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, nâng chân trái lên, thân thể ngồi xổm, tức lấy gót chân trái hướng trái hư hư dán đất đạp ra, lúc này gốc khóa càng mở rộng, theo trọng tâm dời sang trái, dần đến mũi bàn chân trái chạm đất, chân trái biến thành thực. (Hình 23—24)

图 L1F22
图 L1F22
Tư thế quá độ khi tay phải biến thành câu thủ nâng lên bên phải, lòng bàn tay trái vạch cung dời tới trước bụng, chân trái lấy mũi bàn chân chấm đất xoay trở.
图 L1F23
图 L1F23
Động tác hai: tư thế khi nâng chân trái, lấy gót chân trái hướng trái hư hư dán đất đạp ra, gốc khóa mở rộng.

Động tác ba: Lòng bàn tay trái từ trước bụng hơi nâng lên trên phải, tức vạch cung sang trái thuận triền, triền đến bên trái cao ngang vai thì lấy gốc bàn tay hơi ấn xuống; khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái chuyển ấn, tay phải phối hợp hơi thuận triền hướng ngoài hình thành khai kình; tỷ lệ thực hư hai chân cũng đồng thời gia tăng, vừa hình thành Đan tiên thì buông lỏng hậu khóa, xoay thẳng thân thể. (Hình 25—26)

图 L1F24
图 L1F24
Động tác ba: thế định khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái cao ngang vai, lấy gốc bàn tay hơi ấn xuống.
图 L1F25
图 L1F25
Thế định khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái, tay phải hơi thuận triền hướng ngoài hình thành khai kình, tỷ lệ thực hư hai chân gia tăng (Đan tiên đã thành).

· 78 · [đến khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái] thì tay phải phối hợp hơi thuận triền hướng ngoài hình thành khai kình; tỷ lệ thực hư hai chân cũng đồng thời gia tăng, vừa hình thành Đan tiên thì buông lỏng hậu khóa, xoay thẳng thân thể. (Hình 25—26)

Yếu điểm:

1. Trong động tác một, khi hai tay tại bên phải thân thể mỗi tay lật một vòng trọn, phải vận dụng lưng sống eo làm trục để dẫn dắt, mới làm được viên kình tiêu sái, đồng thời khiến động tác ấy biểu hiện ra kình từ gót chân phải qua lưng sống thăng lên mà hình thành nơi ngón tay trái, rồi buông lỏng hậu khóa, khi xoay thẳng lại thì lại biểu hiện kình ấy từ ngón tay trái vắt ngang lưng sống, cho đến khi tay phải hợp bằng mà móc lên. Động tác này lấy gót chân trái chạm đất làm thực, nhưng phải chú ý "hư" chẳng phải hoàn toàn vô lực, "thực" chẳng phải hoàn toàn đứng chết, bởi vì khi gót chân trái chạm đất xoay trở, trọng tâm trên chân trái cũng theo sự xoay chuyển của thân thể mà có tăng giảm.

图 L1F26
图 L1F26
Thế định Đan tiên: hai cánh tay mở ra, tay phải câu thủ nâng lên bên phải, lòng bàn tay trái duỗi sang trái, tỷ lệ thực hư hai chân gia tăng.

2. Trong động tác hai, chân trái bước sang trái, yêu cầu mũi bàn chân vểnh lên, lấy gót chân dán đất nhẹ nhàng đạp ra, như mèo bắt chuột khi bước, mới có thể vững mà không trệ, nhẹ mà không phù, tỏ ra trầm ổn mà lại nhanh nhẹn.

3. Thái Cực Quyền yêu cầu ý khí phải chuyển đổi cho linh hoạt; Đan tiên chính là một ví dụ hay: khi tay trái triền sang trái thì ý chú vào tay trái, đến khi hoàn thành xoay thẳng thân thể thì ý lại chuyển chú vào tay phải, cho nên Hình 25 và Hình 26 khác nhau: Hình trước ý chú tay trái, Hình sau đã chuyển sang tay phải.

4. Thức này lấy vận động tay trái làm chủ, gia tăng lượng vận động của tay trái, bởi vì trong toàn · 79 · bộ quyền tay trái vận động ít hơn tay phải. Ngoài ra, yêu cầu tay trái chuyển cánh tay sang trái như roi mềm vung ra, vận kình đến ngón giữa lòng bàn tay trái (như Hình 25). Do thức này đối lập với Lãn trát y lấy vận động tay phải làm chủ, cho nên Lãn trát y và Đan tiên là thức thứ hai của Thái Cực Quyền, gọi là nhị nghi thức. Ngoài ra, tuy đều lấy luyện một tay làm chủ, nhưng phải khiên động đến nhất động vô hữu bất động, để đạt được tiết tiết quán xuyến. Yêu cầu này khó hơn luyện toàn động bằng hai tay, phải lấy vận dụng đặc điểm thứ năm làm trọng điểm.

5. Tám đặc điểm của Thái Cực Quyền phải biểu hiện trong mỗi động tác, cũng có thể nói Thái Cực Quyền là quyền vận động liên hợp tám đặc điểm. Tuy nhiên, đối với một động tác nào đó thì lấy một đặc điểm nào đó làm nội dung chính, các đặc điểm còn lại là thứ yếu, nhưng không có nghĩa là không vận dụng các đặc điểm còn lại nữa. Vì vậy phải làm rõ đặc điểm thứ năm nêu trên chỉ là nói trong thức ấy lấy đặc điểm này làm chủ mà thôi.

6. Bất cứ động tác nào của Thái Cực Quyền đều yêu cầu "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư", cho nên khi làm thức này phải chú ý khiến cánh tay phải và khớp gối phải hơi co, không được duỗi thẳng.

Đệ lục thức: Đệ nhị Kim cương đảo đối (Second Vajra Pounds the Mortar)

Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, cửa đáy quần mở rộng; đồng thời hai cánh tay trầm xuống, trái nặng phải nhẹ, lòng bàn tay trái tại bên trái nghịch triền một vòng trọn, tay phải câu thủ biến thành chưởng ngoại thuận triền thành lòng bàn tay hướng ngoài trên, hai cánh tay ngoại bằng và hợp giữ kình. (Hình 27)

图 L1F27
图 L1F27
Thế định khi thân thể hơi xoay trái, lòng bàn tay trái tại bên trái nghịch triền một vòng trọn, tay phải câu thủ biến thành chưởng ngoại thuận triền lòng bàn tay hướng ngoài trên, hai cánh tay ngoại bằng hợp giữ kình.

Động tác hai: Hai tay mở rộng vòng triền ty, lấy tả nghịch, hữu thuận triền từ trái mà lên hợp giữ kình chuyển sang phải; tay trái dời đến trước ngực phải, lòng bàn tay hướng phải, tay phải chuyển đến bên phải, cao ngang đầu; khi hai tay bắt đầu chuyển sang phải, trọng tâm dời phải, chân phải biến thành thực. (Hình 28) Trở xuống giống · 80 · phần sau của lời giảng động tác hai của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối", chỉ khác là phương hướng khác, khi thức này hoàn thành thì mặt hướng chính đông.

Động tác ba giống động tác ba của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối", chỉ khác là phương hướng khác, thức này mặt hướng chính đông. (Tiếp Hình 7—8)

图 L1F28
图 L1F28
Thế định khi hai tay mở rộng vòng triền ty, lấy tả nghịch hữu thuận triền từ trái mà lên hợp giữ kình chuyển sang phải, tay trái đến trước ngực phải, tay phải đến bên phải cao ngang đầu, chân phải biến thành thực.

Yếu điểm:

1. Trong động tác một, hai tay mỗi tay triền một vòng nhỏ để dẫn động động tác phía sau, làm động tác chuẩn bị cho thức này.

2. Hợp kình của hai tay trong Hình 27 khác với hợp kình trong các tư thế hợp thức phía trước, mà là hợp kình trong khai thế, cần phân biệt cho rõ.

3. Tư thế trong Hình 28 là do hai cánh tay tương hệ, trải qua tả nghịch, hữu thuận mỗi tay triền một vòng mà hình thành, đồng thời là hai cánh tay tương hệ hợp giữ kình dưới, vận dụng thân pháp lấy lưng sống eo làm trục mà hoàn thành.

4. Còn lại giống yếu điểm của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối".

Đệ thất thức: Bạch hạc lượng sí (White Crane Spreads Its Wings)

Động tác một giống động tác một của Đệ tam thức "Lãn trát y", chỉ khác là chỗ nối động tác này với "Kim cương đảo đối", hai tay không vạch vòng nhỏ trên bụng dưới mà trực tiếp làm động tác bắt chéo trước ngực. (Hình 29—31)

Động tác hai: Theo chân phải bước ra sang phải, tiếp theo trọng tâm dời sang chân phải, chân trái sát lại chân phải, lấy mũi bàn chân hư điểm bên cạnh chân phải; đồng thời với việc trọng tâm dời phải, hai tay đều nghịch triền, tay phải vạch cung tách lên trên phải, tay trái tách xuống dưới trái. (Hình 32—) Tất cả động tác của thức này đều phải làm theo hướng chính đông, từ bốn bức Hình 29—32 cho thấy · 81 · (đều cho thấy mặt chính của nó)

图 L1F29
图 L1F29
Bạch hạc lượng sí động tác một: thế định khi hai tay bắt chéo trước ngực, hai cánh tay ngoại bằng.
图 L1F30
图 L1F30
Bạch hạc lượng sí động tác hai: tư thế quá độ khi tay phải vạch cung lên trên phải, tay trái vạch cung xuống dưới trái tách ra.
图 L1F31
图 L1F31
Tư thế khi hai tay đều nghịch triền, chân phải bước ra sang phải, thân thể ngồi xổm.
图 L1F32
图 L1F32
Thế định Bạch hạc lượng sí: tay phải nâng lên trên phải, lòng bàn tay trái ấn xuống dưới trái, chân trái sát lại chân phải lấy mũi bàn chân hư điểm bên cạnh chân phải.

Yếu điểm:

1. Thức này và Đệ tam thức "Lãn trát y" đều nối tiếp vào "Kim cương đảo đối", nhưng động tác nối tiếp khác nhau: thức này không lấy hai tay vạch vòng nhỏ trước bụng để nối tiếp, mà yêu cầu khí dán lưng sống, hai cánh tay trước tiên hơi mở rồi sau hợp lại bắt chéo; như vậy để nối liền với kình của quyền thức trước, đồng thời lại biểu hiện ý muốn hợp ắt trước phải rời ra, để đạt tới đặc điểm · 82 · — thứ sáu, "tương liên bất đoạn". Khi hợp đến điểm cuối, lại phải trước tiên hơi hợp rồi mới khai, điều này lại biểu hiện ý muốn khai ắt trước ngụ hợp. Khi khai hợp đều phải chú ý gốc bàn tay, mới không sinh ra khuyết điểm lồi lõm.

2. Thức này hoàn thành sau hai lần hợp hai lần khai. Đặc điểm của lần khai hợp sau là: khi hai chân mở thì hai tay hợp, đến khi hai tay mở thì hai chân lại hợp, hai tay do song thuận triền mà hợp, do song nghịch triền mà khai.

3. Khi làm thức này có thể kiểm tra xem có phù hợp các yêu cầu như hư lĩnh đỉnh kình, trầm kiên trụy trửu, hàm hung bạt bối, khuất tất viên đang, đồng thời kiểm tra trong thức ấy lấy mũi bàn chân trái chấm đất và chân phải đạp vững có đủ khí thế chống đỡ tám mặt không. Thức này yêu cầu lấy đặc điểm thứ năm và thứ tư làm chủ mà biểu hiện ra.

Đệ bát thức: Tà hành ảo bộ (Diagonal Brush Step)

Động tác một: Thân thể hơi xoay trái; đồng thời hai tay, phải thuận, trái nghịch triền, tại hai bên trái phải mỗi bên một vòng nhỏ, tay trái chuyển cánh tay nâng lên đến trước trán, tay phải ấn xuống; khi hai tay mỗi tay triền nửa vòng thì thân thể xoay phải cho thẳng; trọng tâm vẫn ở chân phải, chân phải là thực, theo lúc xoay thân lấy mũi bàn chân trái chấm đất xoay trở. (Hình 33—34)

图 L1F33
图 L1F33
Tà hành ảo bộ động tác một: tư thế khi tay trái chuyển cánh tay nâng lên trước trán, tay phải ấn xuống, lấy mũi bàn chân trái chấm đất xoay trở.
图 L1F34
图 L1F34
Tư thế khi thân thể xoay phải cho thẳng, trọng tâm vẫn ở chân phải, chân phải là thực.

· 83 · Động tác hai: Thân thể tiếp tục xoay phải, chân trái nâng lên, hướng trái trước (đông bắc) xiên phương lấy gót chân nhẹ nhàng dán đất đạp ra. Đồng thời, tay phải hơi hướng phải sau (tây nam) xiên phương nghịch triền mà lên mở ra, đến cao ngang vai, lòng bàn tay xiên hướng phải trước; tay trái thuận triền, hướng trước vai phải (đông nam) vạch cung đẩy ra, khuỷu tay vẫn giữ co. (Hình 35)

Động tác ba: Thân thể xoay trái, trọng tâm dời trái, chân trái biến thành thực. Đồng thời, tay trái tiếp tục thuận triền mà xuống, qua trước bụng hướng trái vòng qua gối trái, tức biến câu hướng lên trái nâng đến cao ngang vai; tay phải từ ngoài vào trong triền chuyển nghịch triền, co cánh tay triền qua bên tai phải, lòng bàn tay hướng tai phải. (Hình 36)

图 L1F35
图 L1F35
Động tác hai: tư thế khi chân trái hướng trái trước xiên phương lấy gót chân dán đất đạp ra, tay phải nghịch triền mà lên mở ra, tay trái thuận triền hướng trước vai phải vạch cung đẩy ra, khuỷu tay vẫn giữ co.
图 L1F36
图 L1F36
Động tác ba: thế định khi tay trái tiếp tục thuận triền mà xuống, qua trước bụng hướng trái vòng qua gối trái biến câu hướng lên trái nâng, tay phải co cánh tay triền qua bên tai phải, lòng bàn tay hướng tai phải.

Động tác bốn: Thân thể hơi xoay phải; tay phải qua bên tay phải từ trái trước hướng phải tiếp tục nghịch triền, tách khỏi tay trái. (Hình 37) Buông lỏng khóa phải, thân thể hơi xoay trái, hai vai trầm xuống, tay phải hơi ấn xuống, tay trái huyền. (Hình 38 — Tất cả động tác của thức này đều làm theo hướng chính đông, điểm rơi của chân trái phải giống như Hình 39, trong Hình 33—38 đều cho thấy mặt chính của nó)

Yếu điểm:

1. Tay phải, tay trái và chân trái của động tác hai phải đồng thời mở ra theo ba phương hướng (phương hướng xem lời giảng động tác).

· 84 · 2. Trong động tác một, hai, khi hai tay động tác, xem ra dường như tay trái qua thân thể hướng phải, tay phải qua thân thể hướng trái triền, kỳ thực hai tay đều chuyển động ở hai bên trái phải, lấy eo làm trục thân pháp mà hoàn thành. Cho nên không thể chỉ vung cánh tay.

图 L1F37
图 L1F37
Tư thế quá độ khi tay phải từ trái trước hướng phải tiếp tục nghịch triền, tách khỏi tay trái.
图 L1F38
图 L1F38
Thế định khi buông lỏng khóa phải, thân thể hơi xoay trái, hai vai trầm xuống, tay phải hơi ấn xuống, tay trái huyền.

3. Kình lực của lòng bàn tay phải triền qua bên tai phải phải có cảm giác đến từ tay trái thành câu và chân trái thành cung. Lòng bàn tay phải qua bên tai phải chuyển cánh tay nghịch triền mà ra, phải khiến lưng sống căng chặt, sinh ra công dụng khí dán lưng sống.

4. Hai bức Hình 37, 38 nhìn bề ngoài dường như giống nhau, kỳ thực nội kình của hình trước là song khai, còn hình sau do khuỷu trầm xuống, khiến toàn thân khí trầm xuống, nội kình liền biến thành song hợp.

5. Thức này là tả câu hữu chưởng, đối lập đúng với thức "Đan tiên". Thức này tại hai bên trái phải làm triền ty thuận nghịch lẫn nhau, chúng dưới điều kiện thống nhất mà mỗi bên tự động tác, có thể khiến thân thể cảm thấy nhẹ nhàng vui vẻ.

Đệ cửu thức: Sơ mục (First Herding)
图 L1F39
图 L1F39
Đệ cửu thức Sơ mục động tác một: tư thế khi hai mũi bàn chân theo thân thể hơi xoay phải, tay trái câu thủ biến thành chưởng cùng tay phải song thuận triền, hướng trước ngực trái lấy gốc bàn tay hợp bằng, tay trái ở trước, tay phải hợp bên khuỷu trái.

· 85 · Động tác một: Hai mũi bàn chân theo thân thể hơi xoay phải; đồng thời, tay trái câu thủ biến thành chưởng cùng tay phải song thuận triền, hướng trước ngực trái lấy gốc bàn tay hợp bằng, tay trái ở trước, tay phải hợp bên khuỷu trái. (Hình 39)

Động tác hai: Thân thể hơi xoay phải và hướng phải dưới hạ xuống, trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, tức xoay chuyển mà đứng lên, nâng chân trái trở về, mũi bàn chân trái tự nhiên rủ xuống, gối phải hơi co, thành thức độc lập phải; khi thân xoay phải hai tay lấy tả nghịch, hữu thuận triền, theo chân trái nâng lên thì biến thành song nghịch triền hướng xuống hợp kình, hai lòng bàn tay xiên hướng trước xuống. (Hình 40—41 — Từ Hình 39 đến 45, phương hướng tư thế trong hình đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong lời giảng động tác)

图 L1F40
图 L1F40
Sơ mục động tác hai: tư thế khi nâng chân trái trở về lên, mũi bàn chân trái tự nhiên rủ xuống, gối phải hơi co thành thức độc lập phải, hai tay song nghịch triền hướng xuống hợp kình, hai lòng bàn tay xiên hướng trước xuống.
图 L1F41
图 L1F41
Thế định thức độc lập phải: đầu chính thân thẳng, hai tay hợp kình trước gối trái.

Yếu điểm:

1. Trong động tác một (Hình 39), hai lòng bàn tay phải dưới hai cánh tay tương hệ mà trước sau tương đối hợp kình. Thân xoay phải, hai tay lấy tả nghịch, hữu thuận hướng phải chuyển nửa vòng thì hai lòng bàn tay hướng xuống, đồng thời chân phải dần hạ xuống; qua nửa vòng rồi, hai tay bắt đầu nâng lên, hai lòng bàn tay lại trước sau tương đối; chân trái nâng lên, thân thể đứng dậy, thành thức độc lập phải, hai lòng bàn tay · 86 · tâm lại đều xiên hướng trước xuống hợp kình. Khi song nghịch triền phải chú ý ngón út hai tay.

2. Thức này là ý lần đầu thu hồi tỳ bà, yêu cầu vận dụng kình đàn hồi sau khi chân phải hạ xuống và kình triền ty nhỏ của hai tay tả nghịch hữu thuận khiến thân thể xoay chuyển mà lên, thành thức độc lập.

3. Thức này là thức độc lập hợp kình, muốn đạt được ổn định thì khó hơn đạt được ổn định bằng khai kình, mấu chốt ở chỗ đỉnh kình lĩnh khởi, khí trầm đan điền, hai tay nghịch triền và ý chú ngón út hai tay, như vậy mới dễ đạt được ổn định.

Đệ thập thức: Tiền thang ảo bộ (Forward Treading Brush Step)

Động tác một: Tiếp theo chân trái bắt đầu hạ xuống; đồng thời hai tay hướng phải đảo lấy tả thuận, hữu nghịch hạ triền (nội kình chớ mất, để tiếp thức trước). (Hình 42) Chân trái triền kình hướng trước (đông) hạ xuống, mũi bàn chân xiên hướng trái trước, thân thể xoay trái. Đồng thời, tay trái thuận triền chuyển cánh tay đến trước ngực, lòng bàn tay hướng phải trước; lòng bàn tay phải nghịch triền đến trên cẳng tay trái, lòng bàn tay hướng trái trước, hai cánh tay bắt chéo. Thân thể tiếp tục xoay trái. (Hình 43—44)

Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, chân phải hướng phải trước (đông nam) xiên phương ngang bước một bước; đồng thời hai lòng bàn tay nghịch triền tách hướng trái phải mở ra, hai lòng bàn tay đều hướng ngoài, ngón tay hướng lên. (Hình 45 và hình chính diện của Hình 45)

图 L1F42
图 L1F42
Tiền thang ảo bộ động tác một: tư thế khi chân trái bắt đầu hạ xuống, hai tay hướng phải đảo lấy tả thuận hữu nghịch hạ triền.

Yếu điểm:

1. Từ hai lòng bàn tay rơi ở bên phải mà triền đến trước ngực, phải làm được nội kình không đứt; khi hai cánh tay bắt chéo phải gia căng hợp lại một cái, rồi sau tách hướng trái phải mở ra; khi mở ra phải chú ý hai · 87 · ngón cái của bàn tay.

图 L1F43
图 L1F43
Tư thế khi chân trái hướng trước (đông) hạ xuống, mũi bàn chân xiên hướng trái trước, thân thể xoay trái, tay trái thuận triền đến trước ngực.
图 L1F44
图 L1F44
Tư thế khi hai cánh tay bắt chéo, lòng bàn tay phải nghịch triền đến trên cẳng tay trái, thân thể tiếp tục xoay trái.

2. Khi từ thức độc lập xoay thân sang trái, bước lên phải ổn định, trong quá trình từ trên dưới chuyển thành trái phải triền ty đều là hợp kình, và không được có chỗ đứt đoạn lồi lõm.

图 L1F45
图 L1F45
Thế định khi chân phải hướng phải trước (đông nam) xiên phương ngang bước một bước, hai lòng bàn tay nghịch triền tách hướng trái phải mở ra, hai lòng bàn tay đều hướng ngoài ngón tay hướng lên.
图 L1F45附图
图 L1F45附图
Hình chính diện của Hình 45.
Đệ thập nhất thức: Đệ nhị tà hành ảo bộ (Second Diagonal Brush Step)

Động tác giống động tác của Đệ bát thức "Tà hành ảo bộ", chỉ khác động tác nối tiếp hơi lạ, nhưng vẫn có thể dùng lời giảng của Đệ bát thức để phối hợp mà tham khảo hình ảnh. (Hình 46—48, lại tiếp Hình 35—38. Hình 46 là chân theo phương hướng hình chính diện của Hình 45 mà hạ xuống, kỳ thực động · 88 · tác và phương hướng chân trái bước lên vẫn giống Đệ bát thức, là hướng đông bắc xiên phương bước lên)

图 L1F46
图 L1F46
Đệ nhị tà hành ảo bộ: tư thế khi thân thể xoay trái, chân trái hướng trái trước (đông bắc) xiên phương lấy gót chân dán đất đạp ra, tay trái thuận triền nâng lên, tay phải ấn xuống.
图 L1F47
图 L1F47
Thế định khi tay trái tiếp tục thuận triền mà xuống, qua trước bụng hướng trái vòng qua gối trái biến câu hướng lên trái nâng, tay phải co cánh tay triền qua bên tai phải.
图 L1F48
图 L1F48
Thế định khi tay phải từ trái trước hướng phải tiếp tục nghịch triền tách khỏi tay trái, thân thể hơi xoay trái, hai vai trầm xuống, tay phải hơi ấn xuống, tay trái huyền.

Yếu điểm: giống yếu điểm của Đệ bát thức "Tà hành ảo bộ".

Đệ thập nhị thức: Tái mục (Herding Again)

Động tác, phương hướng và yếu điểm đều giống Đệ cửu thức "Sơ mục". (Hình 39—41)

Đệ thập tam thức: Tiền thang ảo bộ (Forward Treading Brush Step)

Động tác, phương hướng và yếu điểm đều giống Đệ thập thức "Tiền thang ảo bộ". (Hình 42—45)

Đệ thập tứ thức: Yểm thủ quăng chùy (Cover-Hand Forearm Punch)

Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời sang chân trái, chân phải nâng lên; theo lúc xoay thân và trọng tâm dời trái, lòng bàn tay phải biến thành quyền thuận triền đến trước ngực; lòng bàn tay trái nghịch triền hợp trên phía trên cánh tay phải, bắt chéo với cánh tay phải, lòng bàn tay hướng vai phải. (Hình 49) Hai tay thuận triền trầm xuống, điểm bắt chéo hai cánh tay dời về trước; đồng thời chân phải theo khí trầm mà đạp đất giậm chân. (Hình 50)

Động tác hai: Chân trái hướng trái trước (đông bắc) xiên phương bước lên, trọng tâm dần dời trái; đồng thời điểm bắt chéo hai cánh tay tiếp tục dời về trước, lập tức hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, hướng trái · 89 · trên, phải dưới vạch cung tách ra, lòng bàn tay phải hướng xuống, lòng bàn tay trái hướng ngoài. (Hình 51—52)

图 L1F49
图 L1F49
Yểm thủ quăng chùy động tác một: tư thế khi lòng bàn tay phải biến thành quyền thuận triền đến trước ngực, lòng bàn tay trái nghịch triền hợp trên phía trên cánh tay phải bắt chéo với cánh tay phải, lòng bàn tay hướng vai phải.
图 L1F50
图 L1F50
Tư thế khi hai tay thuận triền trầm xuống, điểm bắt chéo hai cánh tay dời về trước, chân phải theo khí trầm đạp đất giậm chân.
图 L1F51
图 L1F51
Động tác hai: tư thế quá độ khi điểm bắt chéo hai cánh tay tiếp tục dời về trước, hai tay tả nghịch hữu thuận triền vạch cung hướng trái trên phải dưới tách ra.
图 L1F52
图 L1F52
Thế định khi lòng bàn tay phải hướng xuống, lòng bàn tay trái hướng ngoài, thân thể hơi xoay phải.

Động tác ba: Thân thể hơi xoay phải, toàn thân khí hướng xuống trầm. Đồng thời, quyền phải thuận triền, hướng phải mà lên qua trước ngực thu vào bên sườn phải; tay trái từ nghịch triền biến thành thuận triền dời hướng trước ngực. (Hình 53)

Động tác bốn: Thân thể hơi xoay trái; đồng thời, hai tay thuận triền hợp trước ngực, lòng bàn tay trái và lòng quyền phải đều hướng lên, quyền phải đặt trên lòng bàn tay trái (tựa dừng mà không dừng, thân thể tiếp tục trầm xuống để súc kình). Trọng tâm nhanh chóng dời trái, thành tả cung bộ, chân phải hơi co chớ thẳng · 90 · thẳng. Đồng thời, quyền phải nhanh chóng hướng phải trước (đông, hơi lệch nam) phát ra, lòng quyền theo đó chuyển hướng xuống; tay trái cũng nhanh chóng thu về bên sườn trái. (Hình 54 — Từ Hình 49 trở đi là chân theo phương hướng hình chính diện của Hình 45 mà hạ xuống, kỳ thực trong động tác phương hướng chân trái bước lên là đông bắc xiên phương, trong Hình 49—54 đều cho thấy mặt chính của nó)

图 L1F53
图 L1F53
Động tác ba: tư thế khi quyền phải thuận triền hướng phải mà lên qua trước ngực thu vào bên sườn phải, tay trái từ nghịch triền biến thành thuận triền dời hướng trước ngực.
图 L1F54
图 L1F54
Động tác bốn: thế định khi trọng tâm nhanh chóng dời trái thành tả cung bộ, quyền phải nhanh chóng hướng phải trước phát ra, lòng quyền chuyển hướng xuống, tay trái nhanh chóng thu về bên sườn trái.

Yếu điểm:

1. Thức này (Hình 51, 52) yêu cầu biểu hiện ra yểm phóng kình; khi yểm yêu cầu cửa đáy quần trầm xuống, mới có thể khiến kình siết chặt; khi phóng thì trước tiên phải siết chặt rồi sau mới tách ra làm phóng kình. Yểm phóng kình là khiên động kình, không được vượt ra ngoài vòng tay chân, và nó là cơ sở của súc phát.

2. Súc kình của Thái Cực Quyền phải giống như giương cung, phải siết chặt mới thành súc. Súc không có nghĩa là độ cong gia tăng, mà là chỉ súc đủ tính đàn hồi trước khi phát và không có khuyết hãm, yêu cầu năm cung (tức một cung lưng sống, hai cung tay và hai cung chân) đều bằng đầy. Cái gọi là "khuyết hãm" ở đây không phải chỉ kình đứt, mà là chỉ kình chưa đạt tới lưng cung, do đó tính đàn hồi không đủ. Chỉ khi luyện được tiết tiết quán xuyến, toàn thân như một nhà, mới có thể thành một cây cung dẻo dai đầy đủ, có tính đàn hồi mạnh mẽ.

3. Thức này giậm chân phải và phát quyền phải, phải biểu hiện ra cương kình của Thái Cực Quyền. Thái Cực Quyền đối với vận kình và phát kình là coi trọng như nhau. Tuy Trần thức đệ nhất lộ lấy nhu, vận làm chủ, · 91 · Đệ nhị lộ (pháo chùy) lấy cương, phát làm chủ; nhưng trong nhất lộ cũng có động tác cương, phát làm phụ (như Yểm thủ quăng chùy v.v.), trong nhị lộ cũng có động tác nhu, vận làm phụ (như Lãn trát y v.v.); đây là để đạt được mục đích cương nhu tương tế và chuyển đổi linh hoạt cùng dùng.

4. Quyền luận yêu cầu "lực do tích phát", "phát kình như phóng tiễn", "phát kình tu trầm trước tùng tĩnh", "chuyên chú nhất phương". Cho nên trước tiên phải "súc cung" để súc kình, rồi do lưng sống "thoát khấu" mà phát, kình chuyên chú ở phía "mũi tên", cuối cùng như kình xuyên qua bia tên mà chấn động một cái, để hoàn thành động tác này. Nhìn từ tư thế, khi phát kình, tuy một tay hướng trước, một tay hướng sau (hoặc một trên một dưới, một trái một phải) để giữ cân bằng, nhưng kình lực vẫn lấy một phương làm chủ (thực), phương kia làm khách (hư), mà không phải song trùng.

Đệ thập ngũ thức: Đệ tam Kim cương đảo đối (Third Vajra Pounds the Mortar)

Động tác một: Thân thể hơi xoay phải; đồng thời, quyền phải biến thành chưởng thuận triền, hướng phải sau hơi thu, lòng bàn tay trái vẫn ở bên sườn trái hơi nghịch triền để phối hợp. (Hình 55) Tiếp theo thân thể hơi xoay trái; đồng thời hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, vạch cung hướng trước ngực bắt chéo, hợp kình, tay trái ở trên, lòng bàn tay hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng lên. (Hình 56)

图 L1F55
图 L1F55
Đệ tam Kim cương đảo đối động tác một: tư thế khi thân thể hơi xoay phải, quyền phải biến thành chưởng thuận triền hướng phải sau hơi thu, lòng bàn tay trái vẫn ở bên sườn trái hơi nghịch triền để phối hợp.
图 L1F56
图 L1F56
Thế định khi hai tay hữu thuận tả nghịch triền vạch cung hướng trước ngực bắt chéo hợp kình, tay trái ở trên lòng bàn tay hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng lên.

· 92 · Động tác hai: Thân thể xoay phải, trọng tâm dời phải sang chân phải; đồng thời, lòng bàn tay phải thuận triền hướng phải trên, lòng bàn tay trái nghịch triền hướng trái dưới mở ra. (Hình 57—58 — Từ Hình 55 đến 57, trong đó chân trái vẫn ở đông bắc xiên phương, vị trí chân trái phải giống Hình 58, từ Hình 58—76, phương hướng tư thế trong đó đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong lời giảng động tác) Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng thu về, lấy mũi bàn chân hướng trước điểm trước chân trái. Đồng thời, hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, tay trái co khuỷu ngang cánh tay trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải theo chân phải hướng trước mà hướng trước ngực liêu lên, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 59)

图 L1F57
图 L1F57
Động tác hai: tư thế khi thân thể xoay phải, lòng bàn tay phải thuận triền hướng phải trên, lòng bàn tay trái nghịch triền hướng trái dưới mở ra.
图 L1F58
图 L1F58
Tư thế khi chân phải nâng thu về, lấy mũi bàn chân hướng trước điểm trước chân trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái.
图 L1F59
图 L1F59
Thế định khi hai tay tả nghịch hữu thuận triền, tay trái co khuỷu ngang cánh tay trước ngực lòng bàn tay hướng xuống, tay phải hướng trước ngực liêu lên, hai tay hình thành hợp kình.

Động tác ba giống động tác ba của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối". (Tiếp Hình 7—8)

Yếu điểm:

1. Từ khai kình và phát kình của thức trước Yểm thủ quăng chùy, chuyển thành hợp kình của thức này, tay phải phải hơi thu vào trong rồi hướng phương phát kình đẩy về trước một cái, đưa kình đứt nối liền lại, khiến nội kình không đứt, quán xuyến vào trong hợp kình của thu hồi song hợp phía sau.

2. Mỗi động tác nửa vòng mở ra hết mức của thức này, biến thành động tác co rút lại thành nửa vòng hợp lại cực nhỏ, yêu cầu cảm thấy toàn thân đầy đặn, khí thế bàng bạc.

3. Điểm khác của thức này với hai lần Kim cương đảo đối trước là: lần thứ nhất biểu hiện ra bằng kình của năm đôi phương vị trong Thái Cực Quyền; lần thứ hai là khai kình tiếp trên từ Đan tiên, chuyển · 93 · thành hợp kình; lần thứ ba chủ yếu đưa kình đứt sau phát kình của thức trước nối liền lại. Đó là sự kết thúc của thức thứ năm trong Thái Cực thập tam thế.

Đệ thập lục thức: Phi thân chùy (Drape-Body Punch)

Động tác một: Hai tay hướng trái phải nghịch triền mở ra, năm ngón tay rủ xuống, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 60) Hai tay tiếp tục nâng lên, chuyển thành thuận triền, đến cao ngang vai thì lòng bàn tay lật hướng trước trên. (Hình 61) Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên, tức lấy gót chân hướng phải dán đất đạp ra, lập tức trọng tâm dời phải, thành mã bộ; đồng thời hai tay tiếp tục hơi nâng lên, tức theo chân phải bước sang phải mà hướng trước ngực thuận triền bắt chéo khép lại, lòng bàn tay trái ở ngoài. (Hình 62—63)

图 L1F60
图 L1F60
Phi thân chùy động tác một: tư thế khi hai tay hướng trái phải nghịch triền mở ra, năm ngón tay rủ xuống, lòng bàn tay hướng vào trong.
图 L1F61
图 L1F61
Tư thế khi hai tay tiếp tục nâng lên chuyển thành thuận triền, đến cao ngang vai lòng bàn tay lật hướng trước trên.
图 L1F62
图 L1F62
Tư thế khi trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên lấy gót chân hướng phải dán đất đạp ra.
图 L1F63
图 L1F63
Thế định khi thành mã bộ, hai tay theo chân phải bước sang phải hướng trước ngực thuận triền bắt chéo khép lại, lòng bàn tay trái ở ngoài.

· 94 · Động tác hai: Hai tay biến thành quyền, quyền phải trước mặt từ trong hướng phải nghịch triền mà khai, tức từ phải hướng trước biến thuận triền mà hợp, vòng một vòng trọn, lòng quyền hướng vào trong; tay trái hướng trái nghịch triền mà khai, tức biến thuận triền theo lúc tay phải hợp mà hơi hợp, lòng quyền hướng phải; khi tay phải hướng phải vòng nửa vòng, trọng tâm hơi dời phải, thân hơi xoay phải, khi tay phải vòng thành một vòng, trọng tâm dời trở lại, thân thể xoay thẳng. (Hình 64)

图 L1F64
图 L1F64
Phi thân chùy động tác hai: thế định khi hai tay biến thành quyền, quyền phải vòng một vòng trọn, tay trái theo lúc tay phải hợp mà hơi hợp.

Động tác ba: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời trái, cung chân trái. Đồng thời, hai quyền thuận triền, quyền phải dời đến trước tai trái, cao ngang đầu, lòng quyền hướng vào trong; quyền trái tại chỗ cũ bên trái thuận triền một vòng nhỏ, để phối hợp quyền phải hợp kình, lòng quyền hướng trái trước. (Hình 65) Trọng tâm dời phải, cung chân phải, thân thể xoay phải. Theo lúc xoay thân, quyền phải hướng phải dưới vạch cung thuận triền đến bên chân phải, lòng quyền hướng lên; quyền trái từ trái hướng phải qua trước mặt thuận triền, cao ngang đầu, lòng quyền hướng vào trong, cùng quyền phải hợp giữ kình. (Hình 66)

图 L1F65
图 L1F65
Động tác ba: tư thế khi thân thể hơi xoay trái, cung chân trái, quyền phải dời đến trước tai trái cao ngang đầu, quyền trái tại chỗ cũ bên trái thuận triền một vòng nhỏ phối hợp quyền phải hợp kình.
图 L1F66
图 L1F66
Thế định khi trọng tâm dời phải cung chân phải, quyền phải hướng phải dưới vạch cung thuận triền đến bên chân phải, quyền trái từ trái hướng phải qua trước mặt thuận triền cùng quyền phải hợp giữ kình.

· 95 · Yếu điểm: 1. Thức này từ hợp kình của thức trước Kim cương đảo đối chuyển thành khai kình song nghịch, sau khi khai biến thành song thuận triền, lòng bàn tay lật hướng ngoài hợp kình của hai tay, lập tức hai tay thuận triền bắt chéo khép lại; trong lúc khai khai hợp hợp này, phải chú ý thực hư của hai tay và thực hư của hai chân, nhất là thực hư giữa tay và chân. Về điểm này có thể tham khảo đặc điểm thứ tư.

2. Động tác hai, ba (Hình 64—66) là động tác sau khi hai lòng bàn tay biến thành quyền, phải liên quán làm một, phải tiến hành động tác dưới yêu cầu khí dán lưng sống và lấy eo làm trục; mấu chốt ở chỗ đặc biệt mở rộng triền ty trong ngoài, và phải lấy triền ty trước dẫn dắt triền ty sau; chỉ có như vậy mới có thể khiến động tác trong ba hình thức liên làm một, và khiến nội kình không mất, biến đổi qua lại trong tình trạng không chút lồi lõm, về điểm này có thể tham khảo đặc điểm thứ năm.

3. Thức này trong bất cứ quá trình khai hợp và hợp khai nào đều giàu nhu kình, là nhu kình trong tứ ngung, làm một loại phụ trợ trong tứ chính giá tử.

Đệ thập thất thức: Bối chiết kháo (Back-Bending Shoulder)

Động tác một: Thân thể xoay trái 90 độ. Đồng thời, tay phải nghịch triền, vạch cung nâng lên, lòng quyền hướng trái; tay trái chuyển cánh tay thuận triền, vạch cung trái hạ xuống bên hông eo trái, lòng quyền hướng sau. (Hình 67)

图 L1F67
图 L1F67
Bối chiết kháo động tác một: tư thế khi thân thể xoay trái 90 độ, tay phải nghịch triền vạch cung nâng lên lòng quyền hướng trái, tay trái chuyển cánh tay thuận triền vạch cung hạ xuống bên hông eo trái lòng quyền hướng sau.

Động tác hai: Thân thể tiếp tục hơi xoay trái. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay lấy nghịch triền chuyển thuận triền, cánh tay phải co lại trước đỉnh đầu; quyền trái tại bên trái làm vòng thuận triền cực nhỏ, rồi lấy mặt quyền áp chặt vào hông eo trái, lập tức thân thể hơi xoay phải, lấy phần lưng gần vai phải kháo ra sau phải; đồng thời cửa đáy quần càng trầm xuống, mắt nhìn mặt bàn chân trái. (Hình 68)

· 96 · Yếu điểm: 1. Hai cánh tay phải có bằng kình tương hệ giữ nhau, để đạt được kình khai trung ngụ hợp; chỉ cần lấy eo làm trục giữa, lưng phải tự nhiên chuyển gấp lại được, thì không có lo chăm cái này mất cái kia.

2. Hình 68 biểu hiện sự vận dụng cánh tay phải trước đỉnh đầu, phải lấy tiểu nghịch triền khiến cánh tay chuyển đến trước đỉnh đầu; mấu chốt của thức này ở chỗ lấy quyền trái áp chặt hông eo trái, khiến lưng phải càng căng chặt, biểu hiện ra kháo kình của lưng.

图 L1F68
图 L1F68
Bối chiết kháo động tác hai: tư thế khi cánh tay phải co trước đỉnh đầu, mặt quyền trái áp chặt hông eo trái, lấy phần lưng gần vai phải kháo ra sau phải, cửa đáy quần càng trầm xuống.

3. Kháo kình phát ra của thức Bối chiết kháo này, trong Đệ nhị lộ pháo chùy thì nhiều hơn. Thức này là một loại kháo kình trong tứ ngung thủ, làm một loại phụ trợ trong tứ chính giá tử.

Đệ thập bát thức: Thanh long xuất thủy (Green Dragon Emerges from Water)
图 L1F69
图 L1F69
Thanh long xuất thủy động tác một: tư thế khi quyền phải chuyển cánh tay thuận triền từ trên qua trước ngực hướng phải vạch cung hạ xuống bên chân phải lòng quyền hướng lên, quyền trái rời hông eo trái nghịch triền từ trái vạch cung nâng lên lòng quyền hướng vào trong.
图 L1F70
图 L1F70
Thế định khi quyền phải từ phải vạch cung nâng lên lại chuyển thành thuận triền triền đến lòng quyền hướng trái, quyền trái biến thuận triền co khuỷu ngang cánh tay qua trước ngực mà xuống đặt trước bụng lòng quyền hướng lên.

Động tác một: Trọng tâm dời trái, thân thể hơi xoay phải. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền, từ trên qua trước ngực hướng phải vạch cung hạ xuống bên chân phải, lòng quyền hướng lên; quyền trái rời hông eo trái nghịch triền, từ trái vạch cung nâng lên, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 69) Quyền phải biến nghịch triền từ phải vạch cung · 97 · lên, lại chuyển thành thuận triền, triền đến lòng quyền hướng trái; đồng thời quyền trái biến thuận triền, co khuỷu ngang cánh tay qua trước ngực mà xuống, đặt trước bụng, lòng quyền hướng lên. (Hình 70)

图 L1F71
图 L1F71
Động tác hai: tư thế khi quyền trái biến thành chưởng lấy nghịch triền hướng phải trước duỗi ra lòng bàn tay hướng phải sau, quyền phải thuận triền co khuỷu hạ xuống đặt trước ngực trên cánh tay trái lòng quyền hướng vào trong.

Động tác hai: Thân thể hơi xoay trái. Đồng thời, quyền trái biến thành chưởng, lấy nghịch triền hướng phải trước duỗi ra, lòng bàn tay hướng phải sau; quyền phải thuận triền co khuỷu hạ xuống, đặt trước ngực, trên cánh tay trái, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 71) Trọng tâm hơi dời phải. Đồng thời, tay trái thuận triền trầm xuống, lòng bàn tay hướng phải sau; quyền phải thuận triền thu gom dưới ngực, cùng lòng bàn tay trái hợp giữ kình, căng chặt lưng sống. (Hình 72) Thân thể hơi xoay trái, đồng thời với khóa kình trầm xuống, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền, đột nhiên do lưng sống "thoát khấu", hướng phải trước lấy bên xương trụ gần cổ tay phát kình; tay trái thuận triền lấy tốc độ phát kình của quyền phải mà thu về, đặt bên hông eo trái. (Hình 73)

图 L1F72
图 L1F72
Tư thế khi tay trái thuận triền trầm xuống, quyền phải thuận triền thu gom dưới ngực, cùng lòng bàn tay trái hợp giữ kình, căng chặt lưng sống.
图 L1F73
图 L1F73
Thế định khi thân thể hơi xoay trái, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền do lưng sống "thoát khấu" hướng phải trước lấy bên xương trụ gần cổ tay phát kình, tay trái thuận triền thu về đặt bên hông eo trái.

Yếu điểm:

1. Trần thức Thái Cực Quyền không chỉ hai tay vận dụng triền ty kình, kỳ thực hai chân cũng đồng thời vận · 98 · dụng. Thức này do bước chân lớn, cửa đáy quần rộng, là ví dụ rõ nhất của chân bộ biểu hiện triền ty kình. Chân bộ triền ty là: khi một tay trên một chân nào đó thuận triền, thì chân ấy nói chung cũng theo đầu gối xoay ra ngoài thuận triền; ngược lại thì đầu gối xoay vào trong nghịch triền (nguyên tắc chân bộ triền ty, tham khảo yếu điểm 2 của Đệ nhị thập nhất thức "Trửu để chùy"). Nhìn tư thế trong hình của thức này, hai chân dường như không hề động đậy, chỉ thấy hai cánh tay biến đổi động tác, kỳ thực chân bộ cũng theo đó triền ty.

2. Thái Cực kình là nội kình khởi từ gót chân, phát ở chân, chủ tể ở lưng sống eo, mà hình thành ở ngón tay; triền ty thì là một đường lộ vận động khá dài mà nội kình này đi qua. Trong toàn thân đường lộ như vậy có hai đường, tức từ gót chân trái đến ngón tay phải và từ gót chân phải đến ngón tay trái, chúng lần lượt bắt chéo hình chữ thập ở lưng sống.

3. Muốn khiến các khớp toàn thân quán xuyến như một đường, ắt phải do xoắn ốc của triền ty mà hoàn thành. Triền ty chủ tể ở lưng sống eo, dẫn dắt hai cánh tay, mà cơ sở ở hai chân, nếu chân bộ không có triền ty, thì không thể đạt được cảnh giới chu thân nhất gia. Về điểm này phải chú ý.

4. Thức này sở dĩ gọi là "xuất thủy", là vì loại phát kình này, như ý "vật sắp vén lên mà gia thêm tỏa xuống", tức là, ở điểm cuối của nửa vòng hướng xuống có mang kình hướng lên, cho nên lại gọi là đẩu kình (kình rung) của xuất thủy.

5. Phát kình của thức này thuộc liệt kình trong tứ ngung thủ, sở dĩ nó không gọi là "đả" hay "kích", là vì liệt kình là một loại đả kích khoảng cách ngắn, cho nên lại có người gọi nó là "thốn kình".

Đệ thập cửu thức: Song thôi thủ (Double Push Hands)

Động tác một: Trọng tâm hơi dời phải, thân thể hơi xoay phải. Đồng thời, khuỷu phải hơi co, quyền phải hơi thu, lòng quyền hướng vào trong; lòng bàn tay trái duỗi trước ở bên trong cổ tay phải, lập tức hai tay hướng ngoài hơi bằng (để dẫn động động tác phía sau). (Hình 74) Tiếp theo trọng tâm dời sang chân trái, thân thể hơi xoay trái; đồng thời, cánh tay phải thuận triền hướng trái dưới bằng đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền theo cánh tay phải · 99 · lan bằng giữ. (Hình 75) Trở xuống giống phần sau lời giảng động tác một của Đệ tứ thức "Lục phong tứ bế". (Tiếp Hình 16)

图 L1F74
图 L1F74
Song thôi thủ động tác một: tư thế khi khuỷu phải hơi co, quyền phải hơi thu lòng quyền hướng vào trong, lòng bàn tay trái duỗi trước ở bên trong cổ tay phải, hai tay hướng ngoài hơi bằng.
图 L1F75
图 L1F75
Tư thế khi cánh tay phải thuận triền hướng trái dưới bằng đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền theo cánh tay phải lan bằng giữ.

Động tác hai: Giống phần trước lời giảng động tác hai của Đệ tứ thức "Lục phong tứ bế". (Hình 77, tiếp Hình 76, trong đó chỗ khác là, lòng bàn tay trái của thức này qua hông eo rồi lại ấn xuống một động) Tiếp theo mũi bàn chân trái xoay ra ngoài, thân thể xoay trái (ngực từ hướng nam chuyển thành hướng đông), trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng thu về, hướng trái trước (nam, hơi lệch đông), lấy mũi bàn chân điểm đất. Đồng thời, lòng bàn tay phải thuận triền tiếp tục triền lấy lòng bàn tay nâng đỡ lên; lòng bàn tay trái nghịch triền thu chuyển về bên sườn trái, lấy mu bàn tay căng giữ, lòng bàn tay xiên hướng lên. (Hình 77 — Từ Hình 77—85, động tác trong hình đều phải thân thể hướng đông mà làm, trong hình đều cho thấy mặt chính của nó)

图 L1F76
图 L1F76
Động tác hai: tư thế khi hai tay giống phần trước động tác hai của "Lục phong tứ bế", trọng tâm dời sang chân phải.
图 L1F77
图 L1F77
Tư thế khi mũi bàn chân trái xoay ra ngoài, thân thể xoay trái, chân phải nâng thu về hướng trái trước lấy mũi bàn chân điểm đất, lòng bàn tay phải thuận triền lấy lòng bàn tay nâng đỡ lên, lòng bàn tay trái nghịch triền thu chuyển về bên sườn trái lấy mu bàn tay căng giữ lòng bàn tay xiên hướng lên.

· 100 · Động tác ba: Thân thể tiếp tục hơi xoay trái; đồng thời, hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài; lấy mũi bàn chân phải điểm đất xoay trở, gối phải theo thân thể chuyển hướng. (Hình 78) Chân phải hơi nâng lên hướng phải (nam) bước, trọng tâm lập tức dời sang chân phải, chân trái hướng phải bước sát, lấy mũi bàn chân điểm bên cạnh chân phải, đồng thời thân thể xoay phải; hai lòng bàn tay hợp kình, theo lúc xoay thân hướng phải dưới ấn. (Hình 79)

图 L1F78
图 L1F78
Động tác ba: tư thế khi hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài, lấy mũi bàn chân phải điểm đất xoay trở, gối phải theo thân thể chuyển hướng.
图 L1F79
图 L1F79
Thế định khi chân phải hướng phải bước, trọng tâm dời sang chân phải, chân trái hướng phải bước sát lấy mũi bàn chân điểm bên cạnh chân phải, thân thể xoay phải, hai lòng bàn tay hợp kình theo lúc xoay thân hướng phải dưới ấn.

Yếu điểm:

1. Thức này với động tác của Lục phong tứ bế về cơ bản giống nhau, chỉ khác sự chuyển đổi trên bộ pháp và đường lộ kình của song thôi. Thôi kình của thức này khá cương, và khi thôi đến điểm cuối gốc bàn tay sau phải biểu hiện ra liệt kình trầm xuống, do đó tốc độ của một cái trầm cũng nhanh hơn.

2. Thức này tức tiếp sau phát kình của thức trước. Bởi vì phát kình là cầu kình đứt, kình không đứt không thể vượt ra ngoài thân mà gia vào bên ngoài, nhưng lại phải cùng thức này tương liên không đứt mà nối liền lại. Phần trước của động tác một (Hình 74) liền đóng vai trò tiếp giữ kình của phát kình, và dẫn dắt động tác phía sau. Yêu cầu "đoạn nhi phục liên, năng đoạn năng tiếp", xem rõ đặc điểm thứ sáu.

3. Sau phát kình của thức trên, chuyển thành hợp, sau hợp lại khai; phải ở trong hợp khai · 101 · trong đó thân chuyển một kình vặn lưng, chuyển thành thế hai tay đỡ (song thác) tay trái sau tay phải trước; hai tay đỡ trong khi thuận triền đôi đòi hỏi phải sinh ra hợp kình, để chuẩn bị cho động tác song thôi.

Thức thứ hai mươi — Tam hoán chưởng (Ba lần đổi chưởng)

Động tác: Thân chuyển sang phải; đồng thời, chưởng phải hướng vào trong, lướt nhẹ trước ngực rồi thuận triền thu về, lòng bàn tay hướng vào trong; chưởng trái nghịch triền xoay cánh tay duỗi thẳng ra trước, chuyển thành lòng bàn tay hướng lên trên. (Hình 80) Thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, chưởng phải thuận triền đẩy ra với kình bằng (chưởng), lòng bàn tay nghiêng ra ngoài; chưởng trái theo đà chuyển thân nghịch triền thu về trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên. (Hình 81) Thân lại chuyển sang phải; đồng thời, chưởng phải thuận triền thu về trước bụng, chưởng trái từ trước bụng hướng lên nghịch triền đưa ra trước, qua phía trên cánh tay phải đẩy ra với kình bằng (chưởng). (Hình 82) Trong khi động tác, theo đà chuyển thân lấy mũi chân trái điểm tại chỗ mà xoay trở, đầu gối trái xoay theo hướng chuyển thân.

图 L1F80
图 L1F80
Tam hoán chưởng: tư thế chưởng phải hướng vào trong lướt qua trước ngực rồi thuận triền thu về, lòng bàn tay hướng vào trong, và chưởng trái nghịch triền xoay cánh tay duỗi thẳng ra trước, chuyển thành lòng bàn tay hướng lên trên.
图 L1F81
图 L1F81
Tư thế chưởng phải thuận triền đẩy ra với kình bằng (chưởng), lòng bàn tay nghiêng ra ngoài, và chưởng trái theo đà chuyển thân nghịch triền thu về trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên.
图 L1F82
图 L1F82
Tư thế chưởng phải thuận triền thu về trước bụng, và chưởng trái từ trước bụng hướng lên nghịch triền đưa ra trước, qua phía trên cánh tay phải đẩy ra với kình bằng (chưởng).

Thức Tam hoán chưởng này, khi hai chưởng thay phiên duỗi ra thu về, động tác phải tròn hoạt: khi lưng và háng (khố) hơi xoay sang phải thì chưởng trái duỗi ra, khi lưng và háng hơi xoay sang trái thì chưởng phải duỗi ra; lưng và háng xoay hai vòng khứ hồi, chưởng trái duỗi ra trước hai lần, chưởng phải duỗi ra trước một lần, nên gọi là Tam hoán chưởng. Tam hoán chưởng là phương pháp triền nã (cuốn bắt), vì thế chưởng duỗi ra trước không phải là đánh ra, mà là tròn xoay mà triền nã đường kình và khớp xương của đối phương. Tuy trọng tâm đều ở chân phải, nhưng do sự khai hợp khi động tác qua lại, lưng và háng khai hợp trong khi xoay, dẫn dắt khớp gối của hai chân cũng khai hợp trong khi xoay, vẫn · 102 · nhiên là "nhất động vô hữu bất động" (một phần động thì không phần nào không động).

Do động tác của thức này và thức sau liền sát nhau không hề gián đoạn, lại do hai thức có chỗ yếu lĩnh giống nhau, nên yếu lĩnh của thức này cũng được gộp vào thức sau.

Thức thứ hai mươi mốt — Trửu để chùy (đấm dưới cùi chỏ)

Động tác: Tiếp liền thân lại chuyển sang trái; đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở ra xuống trái, tay phải mở ra lên phải. (Hình 83) Thân tiếp tục hơi chuyển sang trái; đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hơi cuốn đến ngang vai, hai lòng bàn tay đều hướng xuống (đây là giai đoạn bắt đầu của Trửu để chùy). (Hình 84) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hợp kình; trong quá trình hợp, cánh tay trái từ nghịch triền chuyển thành thuận triền, theo đà cuốn mà dựng cẳng tay trái lên, lòng bàn tay xoay cuốn hướng sang phải; chưởng phải biến thành quyền, thuận triền từ phải hướng ra trước, gập cùi chỏ hợp kình sang trái, qua phía dưới cánh tay trái vạch một vòng nhỏ rồi đặt ở phía dưới cùi chỏ trái, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 85)

图 L1F83
图 L1F83
Khởi đầu Trửu để chùy: tư thế hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở xuống trái và tay phải mở lên phải.
图 L1F84
图 L1F84
Tư thế hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hơi cuốn đến ngang vai, hai lòng bàn tay đều hướng xuống (giai đoạn bắt đầu của Trửu để chùy).
图 L1F85
图 L1F85
Tư thế hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hợp kình, cánh tay trái từ nghịch triền chuyển thành thuận triền, cẳng tay trái dựng lên, lòng bàn tay xoay cuốn hướng sang phải, chưởng phải biến thành quyền thuận triền từ phải hướng ra trước gập cùi chỏ hợp kình sang trái rồi đặt ở phía dưới cùi chỏ trái.

Yếu lĩnh:

1. Đặc điểm của thức trên và thức này là trong động tác chặt chẽ mà đạt được tiết tiết quán xuyến (từng đốt xuyên suốt) và nhất động vô hữu bất động. Vì thế, đầu gối trái cũng lấy mũi chân trái điểm đất mà xoay trở, làm trục mà xoay theo đà chuyển thân; nhưng phải chú ý, "hư" không phải hoàn toàn vô lực, "thực" không phải · 103 · hoàn toàn đứng chết; về điểm này, có thể tham khảo yếu lĩnh 1 của thức thứ năm "Đan tiên".

2. Muốn đạt yêu cầu tiết tiết quán xuyến và nhất động vô hữu bất động của Thái Cực Quyền, then chốt là ở việc vận dụng triền ty kình (kình cuốn tơ) của toàn thân; chỉ có qua triền ty mới có thể khiến kình khởi từ gót chân, tiết tiết quán xuyến mà đi đến ngón tay. Vì thế, triền ty của chân và triền ty của tay giữ địa vị quan trọng ngang nhau; trong phần thuyết minh động tác không nhắc đến triền ty của chân, là vì triền ty của chân và của cánh tay (trừ khi nâng chân độc lập và thoát khỏi cầm nã) đều là trên dưới nhất trí. Nguyên tắc như sau: (1) hễ tay là thuận triền, thì chân (gối) phía dưới tay ấy cũng thuận triền từ trong ra ngoài; (2) hễ tay là nghịch triền, thì chân (gối) phía dưới tay ấy cũng nghịch triền từ ngoài vào trong; (3) hễ chân phải thuận triền ra ngoài, thì chân trái nghịch triền vào trong, và ngược lại; (4) ví như nghịch triền của tay đối với gót chân trái, phát đến chân thì đương nhiên là nghịch, lên đến háng (khố) rồi thì tự nhiên xéo qua eo lưng, hình thành lưng bên trái căng chặt, bên phải lỏng, rồi chuyển lên cánh tay phải, tay phải bèn thành thuận triền. Cho nên, triền ty của tay chân là trước sau giao chéo qua lưng, tự nhiên hình thành tác dụng toàn thân nhất gia (một nhà).

3. Thức trên là trong song hợp chặt chẽ đạt được tiết tiết quán xuyến và toàn động; thức này là trong động tác đại khai triển biểu hiện ra nhất động vô hữu bất động. Sau cùng, do chuyển thân mà hợp lại một cái, thu nhỏ vòng triền ty, chặt chẽ song hợp lại với nhau; kình lực bên trong tuy khác nhau, nhưng khiến cho khứ lai (đi lại) và khí dính sát lưng thì là như nhau. Vì thế, nên chú ý đến sự vận dụng lưng.

4. Từ thức trên làm thẳng đến khi song hợp ở điểm cuối của thức này, lại càng phải khiến đỉnh kình hư hư lĩnh khởi; sau khi luyện quyền lâu ngày, luyện đến thức này sẽ khiến cho các khớp kình và khớp xương phía trên lồng ngực kêu răng rắc, đây là hiện tượng tự nhiên sinh ra sau khi luyện quyền lâu ngày, không nên miễn cưỡng cầu, để khỏi sinh ra tệ hại. Chỉ có đạt đến cảnh giới ấy mới đủ để chứng minh rằng trong động tác của thức đó, đã đạt được yêu cầu toàn động và các khớp xương mở lỏng.

Thức thứ hai mươi hai — Đảo cuốn quăng (lùi bước cuốn cánh tay)

Động tác một: Trọng tâm dời sang phải. Đồng thời, chưởng trái qua trước mặt nghịch triền mà xuống; quyền phải biến · 104 · chưởng từ dưới cùi chỏ trái qua trước bụng rồi hướng lên sang phải, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má phải, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước trái. (Hình 86) Chân trái nâng lên, qua bên mắt cá chân phải lùi về phía sau trái (tây bắc) theo đường chéo hình cung, trọng tâm theo đó dời về sau, chân trái biến thành thực. Đồng thời, chưởng phải nghịch triền đẩy ra trước; chưởng trái ở trước ngực qua phía dưới cẳng tay phải đang duỗi ra trước, giao chéo mà qua, tức từ phía dưới trái theo khi chân trái lùi về sau mà mở ra theo hình cung về phía sau trái. (Hình 87–88; hình phụ 87 và hình chính diện 88. Phương hướng của tư thế trong hai hình 87, 88 đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong thuyết minh động tác. Hình 86 phía trước và các hình 89–92 về sau đều cho thấy chính diện của chúng, kỳ thực đều nên cùng phương hướng với hình 87 và 88, đều là ngực hướng về chính đông mà làm động tác)

图 L1F86
图 L1F86
Tư thế chưởng trái từ dưới cùi chỏ trái qua trước bụng rồi hướng lên sang phải, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má phải, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước trái.
图 L1F87附图
图 L1F87附图
Tư thế chân trái qua bên mắt cá chân phải lùi về sau trái (tây bắc) theo hình cung chéo, trọng tâm dời về sau, chân trái biến thành thực, chưởng phải nghịch triền đẩy ra trước, chưởng trái qua dưới cẳng tay phải giao chéo mà qua rồi mở ra theo hình cung về phía sau trái. Hình phụ cho thấy mặt sau của tư thế.
图 L1F87正面图
图 L1F87正面图
Hình chính diện của cùng một động tác như hình phụ 87, ngực hướng về chính đông.
图 L1F88附图
图 L1F88附图
Tiếp theo hình phụ 87, tư thế chưởng trái tiếp tục mở ra theo hình cung về phía sau trái, chưởng phải đẩy ra trước. Hình phụ cho thấy mặt sau của tư thế.

· 105 · Động tác hai: Hai tay và hai chân mỗi bên thuận triền một vòng nhỏ (lấy chuyển kình), tiếp đó trọng tâm dời sang trái. Đồng thời, chưởng trái từ bên trái hướng lên, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má trái, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước phải; chưởng phải từ tiểu thuận đến đại thuận triền, từ phải sang trái cuốn qua trước ngực mà xuống. (Hình 89) Chân phải nâng lên, qua bên mắt cá chân trái lùi về phía sau phải (tây nam) theo hình cung chéo, trọng tâm theo đó dời về sau, chân phải biến thành thực. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền đẩy ra trước; chưởng phải ở trước ngực qua phía dưới cẳng tay trái đang duỗi ra trước giao chéo mà qua, tức từ phía dưới phải theo khi chân phải lùi về sau mà mở ra theo hình cung về phía sau phải. (Hình 90)

Động tác ba giống động tác hai, chỉ trái phải đổi ngược nhau. (Hình 91, rồi theo hình chính diện của 88)

图 L1F88正面图
图 L1F88正面图
Điểm cuối của động tác một (tiếp theo hình phụ 88): hình chính diện của tư thế chưởng trái mở ra theo hình cung về phía sau trái, chưởng phải đẩy ra trước, ngực hướng về chính đông.
图 L1F89
图 L1F89
Khởi đầu động tác hai: tư thế chưởng trái từ bên trái hướng lên, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má trái, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước phải, và chưởng phải từ phải sang trái cuốn qua trước ngực mà xuống.
图 L1F90
图 L1F90
Tư thế chân phải qua bên mắt cá chân trái lùi về sau phải (tây nam) theo hình cung chéo, trọng tâm dời về sau, chân phải biến thành thực, chưởng trái nghịch triền đẩy ra trước, chưởng phải qua dưới cẳng tay trái giao chéo mà qua rồi mở ra theo hình cung về phía sau phải.
图 L1F91
图 L1F91
Động tác ba, giống động tác hai mà trái phải đổi ngược: tư thế chưởng phải cong theo hình cung cuốn đến bên má phải, chưởng trái cuốn qua trước ngực mà xuống, kế đó chân trái qua bên mắt cá chân phải lùi về sau trái theo hình cung chéo, chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái mở ra theo hình cung về phía sau phải.

· 106 · Yếu lĩnh:

1. Thức này là từ khai mà hợp, lại từ hợp mà khai. Khai rồi lại hợp và lại khai. Động tác khai trung ngụ hợp (trong khai có chứa hợp), hợp trung ly khai (trong hợp có rời khai) đặc biệt này được hoàn thành trong khi liên tục lùi bước.

2. Trong khi liên tục lùi bước, không phải là lùi một mạch trôi chảy. Theo yêu cầu "tiến thoái tu hữu chuyển hoán" (tiến thoái phải có chuyển hoán), trong hai động tác lùi bước có kẹp vào một tư thế song khai và sự chuyển hoán của nội kình. Như vậy mới không cảm thấy là lùi một mạch, mà cảm thấy khai kình trước sau khi vận dụng triền ty. Đồng thời, có chuyển hoán thì thành ra trong thoái có tiến, tiến tức là thoái, thoái tức là tiến, tiến thoái tự như, khiến nó thành phép thoái của Thái Cực Quyền có thể chống đỡ tám mặt.

3. Đảo cuốn quăng là thức duy nhất của Thái Cực Quyền liên tục lùi về sau; nó đòi hỏi trong khi lùi phải kẹp chút thuận nghịch triền ty nhỏ, và phải làm cho tròn chuyển thuận toại, không có khuyết hãm lồi lõm và không có khuyết điểm nội kình gián đoạn, hợp với yêu cầu của đặc điểm thứ sáu.

5. Thức này cũng có thể làm phát kình hình ra bên ngoài, tức khi lùi bước về đến điểm dừng, gót chân đạp đất thành tiếng, đồng thời tay trước phát kình ra ngoài, tay sau dùng trầm kình mà trầm giữ.

Thức thứ hai mươi ba — Thoái bộ áp trửu (lùi bước ép cùi chỏ)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng trái xoay cánh tay thuận triền, mở ra xuống phía dưới trái, lòng bàn tay hướng xuống; chưởng phải nghịch triền mở ra xéo lên trên phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 92. Hình này tiếp theo hình chính diện của hình 88 mà xuống, cho nên tuy các hình 92–96 đều cho thấy chính diện, kỳ thực vẫn nên làm động tác với ngực hướng về đông.) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải thuận triền hướng ra trước rồi vào trong, biến thành nghịch triền vòng một vòng sang phải; chưởng trái theo chưởng phải khi vòng từ trước phải hơi dời sang trái, tức theo khi chưởng phải vòng sang phải mà thuận triền vạch cung sang phải đến trước sườn phải. (Hình 93)

Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, thân chuyển sang trái, chân phải nâng gót, lấy mũi chân sát đất, qua phía trong mắt cá chân phải lùi về sau phải (hướng nam, hơi lệch tây) theo đường xéo, đến điểm dừng thì gót chân đáp xuống giậm đất, và trọng tâm dời về sau, thân đồng thời chuyển sang phải. Theo thân · 107 · thể chuyển sang trái, đồng thời chưởng phải thuận triền, cong theo hình cung thu về, lấy ngón tay áp vào bụng trái; cùi chỏ trái qua phía trong chưởng phải căng lên, chưởng trái nghịch triền, lấy mu bàn ngón tay áp vào sườn phải mà lên; theo khi thân chuyển sang phải và chân phải giậm đất, đồng thời chưởng trái đẩy ra xéo về phía trước trái bằng chưởng, chưởng phải lấy ngón tay áp theo thân mà dời đến bụng phải. (Hình 94–95)

图 L1F92
图 L1F92
Động tác một của Thoái bộ áp trửu: tư thế chưởng trái xoay cánh tay thuận triền mở ra xuống phía dưới trái, lòng bàn tay hướng xuống, và chưởng phải nghịch triền mở ra xéo lên trên phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 L1F93
图 L1F93
Tiếp theo hình 92: tư thế chưởng phải thuận triền hướng ra trước rồi vào trong, biến thành nghịch triền vòng một vòng sang phải, và chưởng trái theo khi chưởng phải vòng sang phải mà thuận triền vạch cung sang phải đến trước sườn phải.
图 L1F94
图 L1F94
Động tác hai: tư thế chưởng phải thuận triền cong theo hình cung thu về, lấy ngón tay áp vào bụng trái, cùi chỏ trái qua phía trong chưởng phải căng lên, chưởng trái nghịch triền, lấy mu bàn ngón tay áp vào sườn phải mà lên.
图 L1F95
图 L1F95
Tiếp theo hình 94: tư thế theo khi thân chuyển sang phải và chân phải giậm đất, chưởng trái đẩy ra xéo về phía trước trái bằng chưởng, chưởng phải lấy ngón tay áp theo thân mà dời đến bụng phải.

Yếu lĩnh:

1. Thức này khi hai cánh tay vòng ôm hợp lại (hình 94) như một vòng tròn nguyên vẹn, phải thành tề kình (kình ép) dai chắc đàn hồi; trọng điểm của nó là ở dưới khí áp vào lưng, căng chặt da lưng để xoa động lưng; đồng thời là lúc súc dĩ đãi phát (tích trữ để chờ phát).

· 108 · 2. Tuy hình 94 đã đưa chân phải lùi về sau, nhưng chưa giậm chân; giậm chân phải ăn khớp nhất trí với lúc phát chưởng trái, để hình thành khai kình, như tư thế trong hình 95.

3. Thoái bộ áp trửu là bổ phát kình ở cự ly ngắn, phải nhu trung ngụ cương (trong mềm có cứng); khi động kình đã sẵn, trong khoảnh khắc dùng đan điền kình lấy chưởng trái trầm kình phát ra, phải ăn khớp với tiếng gót chân phải giậm đất, khiến toàn thân kình lực hoàn chỉnh.

Thức thứ hai mươi bốn — Trung bàn (đĩa giữa)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, rồi chuyển sang phải. Chưởng trái theo thân chuyển sang trái hơi dời sang trái, tức theo thân chuyển sang phải mà cánh tay từ trái lên trên phải nghịch triền đến trước sườn phải, lòng bàn tay hướng lên; đồng thời chưởng phải nghịch triền giơ lên về phía sau phải, lòng bàn tay hướng sang phải. Theo khi chưởng phải giơ lên, chân phải nâng lên. (Hình 96)

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, chân phải đặt xuống bên cạnh chân trái, trước lấy mũi chân chạm đất, tiếp liền lấy gót chân đạp đất giậm chân, trọng tâm liền dời sang chân phải, gót chân trái nâng lên. Theo khi chân phải đáp xuống, tay phải nghịch triền (gập cùi chỏ để mũi cùi chỏ qua phía trên chưởng phải) từ trên vạch cung đến trước lông mày trái; chưởng trái thuận triền dời xuống dưới sườn trái, lòng bàn tay hướng lên, hai cánh tay giao chéo trước ngực. (Hình 97, hình chính diện của hình phụ 97. Phương hướng của hình 96 nhất trí với phương hướng của hình chính diện 97, nên hình 96 cũng nên làm động tác với ngực hướng về đông)

图 L1F96
图 L1F96
Động tác một của Trung bàn: tư thế chưởng trái theo thân chuyển sang phải mà cánh tay từ trái lên trên phải nghịch triền đến trước sườn phải, lòng bàn tay hướng lên, và chưởng phải nghịch triền giơ lên về phía sau phải, lòng bàn tay hướng sang phải, theo khi chưởng phải giơ lên thì chân phải nâng lên.
图 L1F97
图 L1F97
Động tác hai: tư thế chân phải đặt xuống bên cạnh chân trái, trước lấy mũi chân chạm đất rồi lấy gót chân đạp đất giậm chân, trọng tâm dời sang chân phải, gót chân trái nâng lên, tay phải nghịch triền gập cùi chỏ để mũi cùi chỏ qua phía trên chưởng phải, từ trên vạch cung đến trước lông mày trái, chưởng trái thuận triền dời xuống dưới sườn trái, lòng bàn tay hướng lên, hai cánh tay giao chéo trước ngực.
图 L1F97附图
图 L1F97附图
Một góc nhìn khác của cùng động tác như hình 97, cho thấy chính diện (ngực hướng về đông).

· 109 · Động tác ba: Thân hơi chuyển sang trái, chân trái mở ngang một bước về phía sau trái (hướng bắc, hơi lệch tây) theo đường xéo, khuất gối ngồi xổm; đồng thời, hai tay thuận triền căng ra ngoài, lòng bàn tay chuyển hướng ra ngoài xuống, theo khi chân trái mở bước thì hai cánh tay hơi hợp lại, hai lòng bàn tay chuyển hướng vào trong, kế đó hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở ra lên trên trái, tay phải mở ra xuống dưới phải, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. (Hình 98–99, hình phụ 98 và 99)

图 L1F98
图 L1F98
Động tác ba của Trung bàn: tư thế chân trái mở ngang một bước về phía sau trái (hướng bắc, hơi lệch tây) theo đường xéo, khuất gối ngồi xổm, hai tay thuận triền căng ra ngoài, lòng bàn tay chuyển hướng ra ngoài xuống, theo khi chân trái mở bước thì hai cánh tay hơi hợp lại.
图 L1F98附图
图 L1F98附图
Một góc nhìn khác của cùng động tác như hình 98.
图 L1F99
图 L1F99
Tiếp theo hình 98: tư thế hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở ra lên trên trái, tay phải mở ra xuống dưới phải, hai lòng bàn tay đều hướng xuống.
图 L1F99附图
图 L1F99附图
Một góc nhìn khác của cùng động tác như hình 99.

Yếu lĩnh:

1. Thức này khi bắt đầu nên chú ý đến độ lớn nhỏ của thuận nghịch triền ty. Để cho động tác đắc thế và đắc kình, khi chưởng phải qua dưới cùi chỏ trái thì nên thu nhỏ đường kính vòng; đây cũng là lúc đại tiểu thuận nghịch triền bắt đầu hình thành. Trước song khai phải hít vào, chuyển sang song khai thì phải thở ra, thở ra cho đến khi hai tay mở đến điểm dừng, đây cũng là điều khiến động tác này đạt đến thần khí cổ đãng · 110 · phương pháp.

2. Khi song hợp (hình 98), đòi hỏi hợp trung ngụ khai (trong hợp có chứa khai), then chốt là ở trước khi song hợp, phải để khí áp vào lưng, khi hai chưởng giao chéo song hợp thì lòng bàn tay phải chuyển hướng ra ngoài xuống một cái, như vậy mới có thể trong hợp ngụ có khai kình; nếu không đạt được hợp trung ly khai, thì kình sẽ bị vo tròn đọng lại trên thân, mất đi tính đàn hồi, thành bệnh biển (bẹp).

3. Thức này khi thân trung chính ngồi xổm xuống, khố khẩu (miệng háng) phải rộng. Như vậy, sẽ khiến khí hội âm tự nhiên từ vĩ lư (xương cụt) thăng lên, đây là điều rất có lợi. Nhưng, khi ngồi xổm thì độ cao của khố khẩu không được thấp hơn đầu gối, để khỏi hình thành đãng đang (háng xệ), nếu có đãng đang sẽ khiến hai bên ngoài của hai bàn chân hư phù, do đó lại khiến cho việc chuyển hoán hư thực sinh ra nhu trệ (chậm trễ), cho nên đồng thời cũng nên tránh bệnh song trọng của chân.

Thức thứ hai mươi lăm — Bạch hạc lượng sí (hạc trắng xòe cánh)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, chân phải bước kề về bên trái, lấy mũi chân điểm bên cạnh mũi chân trái. Đồng thời, chưởng phải xoay cánh tay thuận triền qua trước bụng vạch cung sang trái, lòng bàn tay hướng lên; chưởng trái nghịch triền qua trước mặt hướng sang phải gập cùi chỏ hợp ở phía trên cánh tay phải. (Hình 100, hình chính diện của hình phụ 100) Chân phải bước ra xéo về phía trước phải (đông nam). Phần sau giống động tác hai của thức thứ bảy "Bạch hạc lượng sí". (Tiếp hình 31–32)

图 L1F100
图 L1F100
Động tác một của Bạch hạc lượng sí: tư thế chân phải bước kề về bên trái lấy mũi chân điểm bên cạnh mũi chân trái, chưởng phải xoay cánh tay thuận triền qua trước bụng vạch cung sang trái, lòng bàn tay hướng lên, chưởng trái nghịch triền qua trước mặt hướng sang phải gập cùi chỏ hợp ở phía trên cánh tay phải.
图 L1F100附图
图 L1F100附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 100.

· 111 · Yếu lĩnh:

Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ bảy "Bạch hạc lượng sí".

Thức thứ hai mươi sáu — Tà hành ngạo bộ (bước xéo nghịch)

Động tác và yếu lĩnh đều giống thức thứ tám "Tà hành ngạo bộ". (Tiếp hình 33–38)

Thức thứ hai mươi bảy — Thiểm thông bối (lóe qua lưng)

Động tác một giống động tác một của thức thứ chín "Sơ thu". (Tiếp hình 101)

Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân phải, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái (ngực chuyển hướng bắc), chân phải theo đà chuyển thân lùi về sau theo hình cung, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái. Đồng thời, tay phải thuận triền, lật thành lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái nghịch triền, qua trước bụng hợp kình sang phải, lấy chưởng áp vào phía dưới cẳng tay phải, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 102, hình chính diện của hình phụ 102)

图 L1F101
图 L1F101
Động tác một của Thiểm thông bối (giống động tác một của thức thứ chín "Sơ thu").
图 L1F102
图 L1F102
Động tác hai: tư thế trọng tâm dời sang chân phải, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái, ngực chuyển hướng bắc, chân phải theo đà chuyển thân lùi về sau theo hình cung, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái, tay phải thuận triền lật thành lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay trái nghịch triền qua trước bụng hợp kình sang phải, lấy chưởng áp vào phía dưới cẳng tay phải, lòng bàn tay hướng vào trong.
图 L1F102附图
图 L1F102附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 102.

Động tác ba: Thân hơi ngồi xổm xuống; đồng thời, hai tay hơi thuận triền hơi hợp lại, liền chuyển thành nghịch triền mở ra sang trái phải (chú ý ngón út), tay trái hướng vào trong gập cổ tay cho lòng bàn tay hướng vào trong, tay phải là chưởng ngang, cổ tay hướng lên, cho lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 103, hình chính diện của hình phụ 103)

Động tác bốn: Lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển sang phải; lấy mũi chân trái điểm đất xoay trở, đầu gối trái theo đà chuyển thân mà chuyển hướng. Đồng thời, tay phải hợp sang trái vào bên sườn bụng trái, lòng bàn tay · 112 · hướng lên; tay trái thuận triền, theo đà chuyển thân gập cánh tay đẩy xuống phía trước, lòng bàn tay hướng ra trước. (Hình 104, một góc nhìn nghiêng khác của hình phụ 104) Chân trái bước lên một bước, kế đó trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực. Đồng thời, chưởng trái qua trước ngực sang trái rồi đặt bên cạnh háng trái, lòng bàn tay hướng xuống phải; chưởng phải thuận triền duỗi ra trước, lòng bàn tay hướng lên. (Hình 105, một góc nhìn nghiêng khác của hình phụ 105)

图 L1F103
图 L1F103
Động tác ba của Thiểm thông bối: tư thế thân hơi ngồi xổm xuống, hai tay hơi thuận triền hơi hợp lại rồi chuyển thành nghịch triền mở ra sang trái phải, tay trái hướng vào trong gập cổ tay cho lòng bàn tay hướng vào trong, tay phải là chưởng ngang, cổ tay hướng lên cho lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 L1F103附图
图 L1F103附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 103.
图 L1F104
图 L1F104
Động tác bốn: tư thế lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển sang phải, lấy mũi chân trái điểm đất xoay trở, đầu gối trái theo đà chuyển thân mà chuyển hướng, tay phải hợp sang trái vào bên sườn bụng trái, lòng bàn tay hướng lên, tay trái thuận triền theo đà chuyển thân gập cánh tay đẩy xuống phía trước, lòng bàn tay hướng ra trước.
图 L1F104附图
图 L1F104附图
Một góc nhìn nghiêng khác của cùng động tác như hình 104.

Động tác năm: Lấy gót chân trái làm trục, thân nhanh chóng chuyển về phía sau phải, chân phải lấy nửa trước bàn chân sát đất theo đà chuyển thân chuyển nửa vòng về phía sau phải, liền lấy gót chân đạp đất giậm chân. Theo đà chuyển thân, · 113 · tay phải thuận triền chuyển vào trong đến khi lòng bàn tay hướng ra ngoài, theo đà chuyển thân cong xuống ấn đến bên cạnh háng phải, lòng bàn tay hướng xuống; chưởng trái gập cánh tay lật lên, qua bên tai trái đẩy ra phía trước xuống dưới. (Hình 106, hình chính diện của hình phụ 106)

图 L1F105
图 L1F105
Động tác bốn của Thiểm thông bối: tư thế chân trái bước lên một bước rồi trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực, chưởng trái qua trước ngực sang trái rồi đặt bên cạnh háng trái, lòng bàn tay hướng xuống phải, chưởng phải thuận triền duỗi ra trước, lòng bàn tay hướng lên.
图 L1F105附图
图 L1F105附图
Một góc nhìn nghiêng khác của cùng động tác như hình 105.
图 L1F106
图 L1F106
Động tác năm: tư thế lấy gót chân trái làm trục, thân nhanh chóng chuyển về phía sau phải, chân phải lấy nửa trước bàn chân sát đất theo đà chuyển thân chuyển nửa vòng về phía sau phải rồi lấy gót chân đạp đất giậm chân, tay phải thuận triền chuyển vào trong đến khi lòng bàn tay hướng ra ngoài, theo đà chuyển thân cong xuống ấn đến bên cạnh háng phải, lòng bàn tay hướng xuống, chưởng trái gập cánh tay lật lên qua bên tai trái đẩy ra phía trước xuống dưới.
图 L1F106附图
图 L1F106附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 106.

Yếu lĩnh:

1. Trong động tác bốn (hình 105), chân trái bước lên và chưởng duỗi ra trước phải nhất trí; trong động tác năm (hình 106), gót chân phải đáp đất giậm chân phải nhất trí với tay phải ấn xuống và tay trái đẩy ra trước.

· 114 · 2. Cái mà khí công gọi là "thông tam quan" (khai thông ba cửa ải), tức đòi hỏi khí đi qua vĩ lư quan (cửa ải xương cụt), giáp tích quan (cửa ải kẹp sống lưng) và ngọc chẩm quan (cửa ải gối ngọc), nó bao gồm toàn bộ thần kinh giao cảm và phó giao cảm của cột sống. Công pháp ngồi, nằm, đứng của khí công là dùng tĩnh công pháp để mặc cho khí tự phát đi qua tam quan; còn "hành công" (công phu động) này của Thái Cực Quyền thì là động trung cầu tĩnh (trong động tìm tĩnh), trong quá trình nhất động vô hữu bất động, thông qua chuyên nhất nhi động, khiến ý chí tập trung, để cầu được cái "tĩnh" trong động. Quyền luận nói: "Tâm bất tĩnh, tắc bất chuyên, động tác toàn vô định hướng hĩ" (Tâm không tĩnh thì không chuyên nhất, động tác hoàn toàn không có hướng nhất định). Hành công của Thái Cực Quyền, do động tác và ý thức có phương hướng nhất định hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời, trong quá trình hành công, nội kình và ngoại hình lại phải làm được vĩ lư chính trung thần quán đỉnh, khí trầm đan điền hải để gian và hàm hung bạt bối, khai khố viên đang, thúc đẩy khí từ trong háng đi qua. Như vậy, đã rèn luyện được con đường tuần hoàn lớn từ trước xuống dưới rồi sau lên trên của toàn thân. Ngày tháng về sau, khiến "thông tam quan" trong khí công có thể không cầu thông mà tự thông.

3. Thức này là động tác hoàn toàn lấy thông lưng làm chính. Hình 101 là tư thế khí đi qua các đốt xương cổ, hình 102 là tư thế khí đi qua mấy đốt xương ngực trên, hình 104 là tư thế khí đi qua mấy đốt xương ngực dưới, hình 105 là tư thế khí đi qua các đốt xương thắt lưng, hình 106 là tư thế khí đi qua các đốt xương cùng. Đây là nói riêng mỗi hình lấy mấy đốt nào đó làm chính mà động tác, chứ không phải nói các đốt khác thì không động, vì Thái Cực Quyền là nhất động vô hữu bất động.

4. Trong "Trần thị Thái Cực Quyền hội tông" (sách này do Trần Hâm viết, Trần Tích Phủ biên ấn, chia làm hai tập thượng hạ), thức quyền "Hải để châm" (kim đáy biển), nó là hai chân mở ngang, hổ khẩu chưởng phải mở ra rơi xuống giữa hai chân, điều này đối với tác dụng thông lưng và khí từ trong háng đi về sau, rồi từ vĩ lư thăng lên sống lưng, là có giúp đỡ nhất định.

Thức thứ hai mươi tám — Yểm thủ quăng chùy (che tay đấm cẳng tay)

Động tác một: Hai tay mở ra sang trái phải với khai kình. (Hình 107, hình chính diện của hình phụ 107) Phần sau giống động tác một, hai, ba, bốn của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy", chỉ có phương hướng khác nhau; khi thức thứ mười bốn hoàn thành, chân trái ở đông bắc, chân phải ở tây nam, còn · 115 · khi thức này hoàn thành, chân trái ở tây nam, chân phải ở tây bắc. (Hình 108–109, rồi tiếp hình 52–54)

图 L1F107
图 L1F107
Động tác một của Yểm thủ quăng chùy: tư thế hai tay mở ra sang trái phải với khai kình.
图 L1F107附图
图 L1F107附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 107.
图 L1F108
图 L1F108
Tiếp theo động tác của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy", cho thấy tư thế (mặt sau) sau khi phương hướng của thức này thay đổi, chân trái ở tây nam, chân phải ở tây bắc.
图 L1F109
图 L1F109
Như trên, từ một góc độ khác, cho thấy thế đứng của nó.

Yếu lĩnh:

Giống yếu lĩnh của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy".

Thức thứ hai mươi chín — Lục phong tứ bế (sáu phong bốn bế)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm hơi dời về sau; đồng thời hai tay trước tiên mỗi tay xoay cánh tay tại chỗ vạch một vòng nhỏ (để dẫn khởi động tác), tức tay phải đại thuận triền xoay cánh tay với đến bụng · 116 · trước, tay trái tiểu nghịch triền vòng đến trước ngực, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 110) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực; đồng thời, tay phải xoay cánh tay thuận triền, chưởng trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình, cong theo hình cung chen ra về phía trên phải. (Hình 111)

图 L1F110
图 L1F110
Động tác một của Lục phong tứ bế: tư thế tay phải xoay cánh tay đại thuận triền với đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền vòng đến trước ngực, hai tay hình thành hợp kình.
图 L1F111
图 L1F111
Tiếp theo hình 110: tư thế thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực, tay phải xoay cánh tay thuận triền, chưởng trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình cong theo hình cung chen ra về phía trên phải.

Động tác hai: Thân chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên về trước. Đồng thời, tay phải thuận triền đỡ lên; tay trái nghịch triền xoay cánh tay, lấy khớp cổ tay ở phía mu bàn tay cong theo hình cung bằng (chưởng) về phía trên trái, năm ngón tay rủ xuống. (Hình 112) Thân tiếp tục hơi chuyển sang trái, chân phải bước lên một bước; đồng thời hai tay thuận triền lật chưởng đặt ở hai bên tai, lòng bàn tay nghiêng hướng ra ngoài. (Tiếp hình 19) Phần sau giống thuyết minh phần sau của động tác hai thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Hình 20)

图 L1F112
图 L1F112
Động tác hai: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên về trước, tay phải thuận triền đỡ lên, tay trái nghịch triền xoay cánh tay lấy khớp cổ tay ở phía mu bàn tay cong theo hình cung bằng (chưởng) về phía trên trái, năm ngón tay rủ xuống.

Yếu lĩnh:

Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".

· 117 ·

Thức thứ ba mươi — Đan tiên (roi đơn)

Động tác và yếu lĩnh đều giống thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21–25, rồi tiếp hình 113)

Thức thứ ba mươi mốt — Vận thủ (vận tay)

Động tác một: Thân chuyển sang trái, gối phải hơi duỗi không thẳng cứng. Đồng thời, tay móc phải biến thành chưởng thuận triền, cong sang trái dời lên đến trước trán phải, lòng bàn tay hướng sang trái; chưởng trái từ trong ra ngoài trái thuận triền hơi duỗi, cánh tay không thẳng cứng, lòng bàn tay hướng xuống. (Hình 114) Thân hơi chuyển sang phải, chân trái kề nửa bước sang phải, lấy mũi chân điểm đất, chân phải biến thành thực. Đồng thời, chưởng phải từ thuận triền chuyển thành nghịch triền mở ra sang phải, lòng bàn tay từ hướng xuống chuyển thành hướng sang phải; chưởng trái từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải thuận triền đến bên phải thân, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải. (Hình 115) Thân hơi chuyển sang trái, chân trái mở ngang nửa bước sang trái. Đồng thời, tay phải cong theo hình cung rơi xuống, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài, vạch cung lên trên. (Hình 116)

图 L1F113
图 L1F113
Đan tiên: động tác và yếu lĩnh giống thức thứ năm "Đan tiên".
图 L1F114
图 L1F114
Động tác một của Vận thủ: tư thế thân chuyển sang trái, gối phải hơi duỗi không thẳng cứng, tay móc phải biến thành chưởng thuận triền cong sang trái dời lên đến trước trán phải, lòng bàn tay hướng sang trái, chưởng trái từ trong ra ngoài trái thuận triền hơi duỗi, cánh tay không thẳng cứng, lòng bàn tay hướng xuống.
图 L1F115
图 L1F115
Tiếp theo hình 114: tư thế thân hơi chuyển sang phải, chân trái kề nửa bước sang phải lấy mũi chân điểm đất, chân phải biến thành thực, chưởng phải từ thuận triền chuyển thành nghịch triền mở ra sang phải, chưởng trái từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải thuận triền đến bên phải thân, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải.

· 118 · Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, chân phải qua phía sau chân trái lén bước một bước sang trái (đông), thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay qua trước mặt cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái, lòng bàn tay chuyển hướng sang trái; chưởng phải xoay cánh tay qua trước bụng cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái và lên, lòng bàn tay lật hướng lên trên trái. (Hình 117) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái mở ngang một bước sang trái (đông). Đồng thời hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải nghịch triền vận lên, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải; chưởng phải xoay cánh tay từ trái lên trên qua trước mặt vận sang phải, lòng bàn tay hướng sang phải. (Hình 118) Trọng tâm dần dời sang trái, thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng phải cong theo hình cung vận xuống, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái thuận triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài nghịch triền vận lên (theo hình 116).

Động tác ba, bốn đều lặp lại động tác hai. (Theo hình 117–118 rồi tiếp 116–118, sau tiếp 119)

图 L1F116
图 L1F116
Tiếp theo hình 115: tư thế thân hơi chuyển sang trái, chân trái mở ngang nửa bước sang trái, tay phải cong theo hình cung rơi xuống, lòng bàn tay hướng xuống, tay trái từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài vạch cung lên trên.
图 L1F117
图 L1F117
Động tác hai của Vận thủ: tư thế trọng tâm dời sang chân trái, chân phải qua phía sau chân trái lén bước một bước sang trái (đông), thân hơi chuyển sang phải, hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay qua trước mặt cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái, lòng bàn tay chuyển hướng sang trái, chưởng phải xoay cánh tay qua trước bụng cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái và lên, lòng bàn tay lật hướng lên trên trái.
图 L1F118
图 L1F118
Tiếp theo hình 117: tư thế thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái mở ngang một bước sang trái (đông), hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải nghịch triền vận lên, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải, chưởng phải xoay cánh tay từ trái lên trên qua trước mặt vận sang phải, lòng bàn tay hướng sang phải.
图 L1F119
图 L1F119
Tiếp nối Vận thủ: tư thế trọng tâm dần dời sang trái, thân hơi chuyển sang trái, chưởng phải cong theo hình cung vận xuống, lòng bàn tay hướng xuống, tay trái thuận triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài nghịch triền vận lên.

· 119 · sau tiếp 119)

Yếu lĩnh:

1. Thức này phải chú ý đến yêu cầu hư thực của thượng hạ tương tùy (trên dưới theo nhau), kiểm tra xem có rõ ràng biểu hiện được yêu cầu này ra không: tức khi một tay nào đó xoay lên bằng (chưởng) thành hư, thì trọng tâm phải dần dời đến chân ở phía dưới tay ấy, chân ấy liền biến thành thực; một khi đã bằng lên rồi chuyển thành bằng xuống, thì chân ấy liền phải chuyển thành hư. Làm như vậy, sẽ thống nhất hư thực của hai tay và hư thực của hai chân vào trong toàn bộ thượng hạ hư thực, hình thành chỗ nào cũng luôn có một hư một thực (trừ khi nâng chân độc lập, thoát khỏi cầm nã), đạt được yêu cầu ý khí linh hoạt chuyển hoán, sinh ra thú vị tròn hoạt như hạt châu.

2. Do thức này bước ngang, nên rất dễ biểu hiện yêu cầu về viên đang (háng tròn). Viên đang là hình thức tất phải có để sinh ra ám kình ốc vít của chân. Viên đang đúng và tiêu chuẩn, tức là không được hình thành cao trạm nhi tiêm đang (đứng cao mà háng nhọn), đê trạm nhi đãng đang (đứng thấp mà háng xệ), đòi hỏi động tác được làm trong tình trạng không nhọn không xệ, để đạt được viên đang chính xác.

3. Vận thủ là thức duy nhất trong Thái Cực Quyền rèn luyện đại triền ty từ song thuận chuyển thành song nghịch. Thức này phải biểu hiện đầy đủ tác dụng lưng và eo hợp nhất làm một, trở thành trục xe hình cầu; then chốt là nó không phải triền ty trái phải trên mặt phẳng, mà có thành phần triền ty trong ngoài, và lấy đó làm dẫn đạo. Qua yêu cầu này, tiến thêm một bước có thể kiểm tra xem "khí áp vào lưng" có áp chặt không, eo như trục tròn có tròn mà hoạt không.

Thức thứ ba mươi hai — Cao thám mã (vuốt ngựa cao)

Động tác một: Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân phải bước xéo nửa bước về phía trước phải (tây nam). Đồng thời, tay trái nghịch triền, thu về trước ngực; tay phải thuận triền, qua trước bụng hợp lại sang trái, hai cánh tay giao chéo trước ngực, cánh tay phải ở ngoài. (Hình 120) Hai cánh tay trước tiên hơi hợp lại, co nhỏ vòng giao chéo, kế đó hai tay nghịch triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay nghiêng hướng xuống; trọng tâm khi hai cánh tay hơi hợp thì hơi dời sang phải, khi hai tay mở ra thì lại dời sang trái. (Hình 121)

Động tác hai: Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang chân phải. Đồng thời, tay phải xoay cánh tay nghịch · 120 · triền đến bên cạnh tay phải, lòng bàn tay nghiêng hướng vào trong; tay trái tiểu thuận triền hợp sang phải, lòng bàn tay hướng lên.

图 L1F120
图 L1F120
Động tác một của Cao thám mã: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân phải bước xéo nửa bước về phía trước phải (tây nam), tay trái nghịch triền thu về trước ngực, tay phải thuận triền qua trước bụng hợp lại sang trái, hai cánh tay giao chéo trước ngực, cánh tay phải ở ngoài.
图 L1F121
图 L1F121
Tiếp theo hình 120: tư thế hai cánh tay trước tiên hơi hợp lại co nhỏ vòng giao chéo, kế đó hai tay nghịch triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay nghiêng hướng xuống, trọng tâm khi hai cánh tay hơi hợp thì hơi dời sang phải, khi hai tay mở ra thì lại dời sang trái.

(Hình 122) Lấy gót chân phải làm trục, thân tiếp tục chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, chân trái nâng thu về, qua phía trong mắt cá chân phải lùi bước về sau (tây), lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, khoảng cách hai chân bằng vai. Đồng thời, chưởng trái gập cánh tay nghịch triền thu về bên hông trái, lòng bàn tay hướng lên; chưởng phải thuận triền đẩy ra trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 123–124, hình chính diện của hình phụ 124)

图 L1F122
图 L1F122
Động tác hai của Cao thám mã: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang chân phải, tay phải xoay cánh tay nghịch triền đến bên cạnh tay phải, lòng bàn tay nghiêng hướng vào trong, tay trái tiểu thuận triền hợp sang phải, lòng bàn tay hướng lên, hai cánh tay duỗi ra trước.
图 L1F123
图 L1F123
Tiếp theo hình 122: tư thế lấy gót chân phải làm trục, thân tiếp tục chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, chân trái nâng thu về qua phía trong mắt cá chân phải lùi bước về sau (tây), lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, khoảng cách hai chân bằng vai, chưởng trái gập cánh tay nghịch triền thu về bên hông trái, lòng bàn tay hướng lên, chưởng phải thuận triền đẩy ra trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài.

Yếu lĩnh:

1. Phần sau của động tác hai, chưởng phải đẩy ra, chưởng trái thu vào và chân trái lùi bước · 121 · phải phối hợp nhất trí.

2. Thức này tiếp ngay sau song khai của Vận thủ, cho nên khi làm động tác hợp khai, phải chú ý yêu cầu "ý dục hợp tất tiên ly khai, ý dục khai tất tiên ly xá" (muốn hợp ắt trước phải rời khai, muốn khai ắt trước phải rời buông). Tức là trước khi hợp, trước tiên đem hai gốc chưởng trầm xuống dưới, rồi song hợp lại; sau khi hợp rồi, trước khi lại khai, cũng phải trước tiên thu chặt một chút vòng hợp, rồi mới mở đôi ra sang trái phải.

图 L1F124
图 L1F124
Đoạn cuối động tác hai của Cao thám mã: tư thế (mặt sau) lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển sang trái, chân trái nâng thu về qua phía trong mắt cá chân phải lùi bước về sau, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, chưởng trái gập cánh tay nghịch triền thu về bên hông trái, chưởng phải thuận triền đẩy ra trước, kế đó hai tay hợp lại, hai cánh tay duỗi ra trước.
图 L1F124附图
图 L1F124附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 124.

3. Khi tay phải vòng một vòng nhỏ thu về bên tai phải, phải để khí áp vào lưng, trước tiên dùng sàm kình (kình đỡ). Chỉ có sàm đủ rồi mới buông ra, mới có thể buông ra một loại án kình xoay chuyển.

4. Thức này khi tay phải đẩy ra trước làm động tác cao thám, phải có thế chống đỡ tám mặt. Điểm khác biệt giữa thức này và Tà hành ngạo bộ là: tay phải của Tà hành ngạo bộ qua bên tai phải là kình mở ra sang trái phải; còn thức này là kình trước sau khai trung ngụ hợp, và đòi hỏi trong đường triền ty không có khuyết điểm lồi lõm và nội kình gián đoạn.

Thức thứ ba mươi ba — Hữu sát cước (chân phải chà xát)

Động tác một: Tay phải tiểu thuận triền lật xuống đến trước bụng, lòng bàn tay hướng sang trái, ngón tay hướng xuống; tay trái từ bên hông xoay cánh tay nghịch triền đến trước ngực, lòng bàn tay hướng lên. (Hình 125, hình chính diện của hình phụ 125. Tư thế trong hình 125 ở sau hình chính diện của hình 125, là lúc đã sắp đá ra sang phải) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm vẫn ở chân phải; đồng thời, · 122 · hai tay trái nghịch, phải thuận triền, tay trái phụ ở phía trong cẳng tay phải, lấy cẳng tay phải bằng (chưởng) ra trước, cao ngang vai. (Hình 126, hình chính diện của hình phụ 126)

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, tay trái nghịch triền, từ phải xuống dưới qua trước bụng mở ra sang trái, lòng bàn tay hướng sang phải; chưởng phải thuận triền hơi dời xuống, lòng bàn tay hướng xuống, hai cánh tay mở ra (lúc này mũi cùi chỏ trầm xuống một cái, là khai trung ngụ hợp). (Hình 127, hình chính diện của hình phụ 127) Thân hơi chuyển sang phải, tay phải xoay cánh tay thuận triền hợp vào trong đến bên trái trước ngực, tay trái từ trái lên trên vạch cung sang phải đến phía trên cánh tay phải, hai cánh tay giao chéo; đồng thời chân trái qua trước chân phải bước ngang sang phải, mũi chân hướng ra trước. (Hình 128, hình chính diện của hình phụ 128)

图 L1F125
图 L1F125
Động tác một của Hữu sát cước: tư thế (mặt sau) tay phải tiểu thuận triền lật xuống đến trước bụng, lòng bàn tay hướng sang trái, ngón tay hướng xuống, tay trái từ bên hông xoay cánh tay nghịch triền đến trước ngực, lòng bàn tay hướng lên, hai tay mở ra.
图 L1F125附图
图 L1F125附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 125.
图 L1F126
图 L1F126
Tiếp theo hình 125: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm vẫn ở chân phải, hai tay trái nghịch, phải thuận triền, tay trái phụ ở phía trong cẳng tay phải, lấy cẳng tay phải bằng (chưởng) ra trước cao ngang vai.
图 L1F126附图
图 L1F126附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 126.

· 123 · Động tác ba: Chân phải căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước phải; đồng thời, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng xuống, chưởng phải liền nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân phải, chưởng trái cũng theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau trái. (Hình 129, hình chính diện của hình phụ 129)

图 L1F127
图 L1F127
Đoạn đầu động tác hai của Hữu sát cước: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang trái, tay trái nghịch triền từ phải xuống dưới qua trước bụng mở ra sang trái, lòng bàn tay hướng sang phải, chưởng phải thuận triền hơi dời xuống, lòng bàn tay hướng xuống, hai cánh tay mở ra (mũi cùi chỏ trầm xuống).
图 L1F127附图
图 L1F127附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 127.
图 L1F128
图 L1F128
Tiếp theo hình 127: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang phải, tay phải xoay cánh tay thuận triền hợp vào trong đến bên trái trước ngực, tay trái từ trái lên trên vạch cung sang phải đến phía trên cánh tay phải, hai cánh tay giao chéo, đồng thời chân trái qua trước chân phải bước ngang sang phải, mũi chân hướng ra trước.
图 L1F128附图
图 L1F128附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 128.

Yếu lĩnh:

图 L1F129
图 L1F129
Động tác ba của Hữu sát cước: tư thế (mặt sau) chân phải căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước phải, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng xuống, chưởng phải nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân phải, chưởng trái theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau trái.
图 L1F129附图
图 L1F129附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 129.
图 L1F130
图 L1F130
Động tác một của Tả sát cước: tư thế (mặt sau, cho thấy thế chuyển phải rơi xuống của nó) chân phải thu về rơi xuống sang phải (đông), mũi chân vểnh ra ngoài đạp vững, thân đồng thời chuyển sang phải, trọng tâm dời sang chân phải, gót chân trái rời đất nâng lên, hai tay thuận triền từ trái phải xuống dưới hợp lại giao chéo trước ngực.
图 L1F130附图
图 L1F130附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 130.

Động tác chính của Sát cước là lấy khai của lý đại song thuận triền, chuyển thành hợp của đại song thuận triền; khi hai cánh tay song hợp, chân trái bước ngang, từ hư biến thành thực; đồng thời, chân phải biến · 124 · hư, tức lấy chân phải đá lên, lúc này hai cánh tay liền chuyển thành đại song nghịch triền vỗ chà ra sang trái phải; lúc này nên chú ý ngón út của hai tay. Trong quá trình sát cước đại thuận đại nghịch triền như vậy, Then chốt khiến chân trái độc lập vững vàng là ở chỗ mu bàn chân phải đá lên có tác dụng bằng phẳng thẳng.

Thức thứ ba mươi bốn — Tả sát cước (chân trái chà xát)

Động tác một: Chân phải thu về, rơi xuống sang phải (đông), mũi chân vểnh ra ngoài đạp vững, thân đồng thời chuyển sang phải, trọng tâm dời sang chân phải, gót chân trái rời đất nâng lên; đồng thời, hai tay thuận triền từ trái phải xuống dưới hợp lại giao chéo trước ngực. (Hình 130, hình mặt sau của hình phụ 130) Thân hơi chuyển sang phải; đồng thời, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 131)

· 125 · Động tác hai: Chân trái căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước trái; đồng thời, chưởng trái nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân trái, chưởng phải cũng theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau phải. (Hình 132)

图 L1F131
图 L1F131
Đoạn sau động tác một của Tả sát cước: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang phải, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 L1F132
图 L1F132
Động tác hai của Tả sát cước: tư thế chân trái căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước trái, chưởng trái nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân trái, chưởng phải theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau phải.

Yếu lĩnh:

1. Khi chuyển hoán một hợp một khai, phải giữ vững vàng, tức khi trọng tâm dời lên chân phải, phải do hai tay hợp kình mà nâng chân trái lên. Đồng thời, khi trọng tâm dời sang phải thì thân phải trung chính.

2. Phải nâng chân trái lên khi hai tay mở ra sang trái phải, rồi đá chân trái lên trên; hướng đá là ở giữa phía trái và phía trước, tức là hợp với đường quyền thành 45 độ là thích hợp.

Thức thứ ba mươi lăm — Đăng nhất căn (đạp một cái)

Động tác một: Chân trái thu về nâng lên, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái 135 độ; đồng thời, hai tay lấy thuận nghịch triền giao chéo trước ngực; trong khi chuyển thân, hai chưởng biến thành quyền nghịch triền một vòng giao chéo hợp kình ở trước ngực. (Hình 133, hình chính diện của hình phụ 133)

Động tác hai: Kế đó mũi chân trái vểnh lên, lấy gót chân đạp ra sang trái (tây); đồng thời hai quyền nâng lên, qua trước ngực phát ra sang trái phải, tâm quyền hướng xuống. (Hình · 126 · 134, hình chính diện của hình phụ 134)

图 L1F133
图 L1F133
Động tác một của Đăng nhất căn: tư thế (mặt sau) chân trái thu về nâng lên, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái 135 độ, hai tay lấy thuận nghịch triền giao chéo trước ngực, trong khi chuyển thân hai chưởng biến thành quyền nghịch triền một vòng giao chéo hợp kình ở trước ngực.
图 L1F133附图
图 L1F133附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 133.
图 L1F134
图 L1F134
Động tác hai của Đăng nhất căn: tư thế (mặt sau) mũi chân trái vểnh lên, lấy gót chân đạp ra sang trái (tây), đồng thời hai quyền nâng lên qua trước ngực phát ra sang trái phải, tâm quyền hướng xuống.
图 L1F134附图
图 L1F134附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 134.

Yếu lĩnh:

1. Khi thân chuyển một cái phải giữ vững vàng; khi chuyển thân, phải căng bằng mu bàn chân trái đã nâng lên càng nhiều càng tốt, cho mũi chân hướng xuống, để giảm bớt trọng lượng rủ xuống của chân trái. Chuyển thân phải vận dụng quán tính khi hai cánh tay song nghịch triền để dẫn thân xoay qua. Cho nên, có người gọi là "Quải thụ đăng cước" (treo trên cây đạp chân), vì hai cánh tay song nghịch xoay một cái ở trên, giống như hai tay treo trên cây vậy. Thức này còn phải chú ý các yêu cầu lập thân trung chính, khí trầm đan điền và đỉnh kình bất thất (không đánh mất đỉnh kình).

· 127 ·

Thức thứ ba mươi sáu — Tiền thang ngạo bộ (bước xéo lội tới trước)

Động tác một: Chân trái thu về nâng lên; đồng thời, hai tay biến thành chưởng, tay trái thuận triền vạch cung đến trước ngực, tay phải hơi nghịch triền, hai lòng bàn tay đều hướng sang phải. (Hình 135) Mũi chân trái vểnh ra ngoài rơi xuống sang trái (tây nam), thân chuyển sang trái. Đồng thời, tay trái thuận triền xoay cánh tay đến trước ngực, lòng bàn tay hướng phải trước; chưởng phải nghịch triền đến phía trên cẳng tay trái, lòng bàn tay hướng trái trước, hai cánh tay giao chéo. (Hình 136)

Động tác hai giống động tác hai của thức thứ mười "Tiền thang ngạo bộ", chỉ khác phương hướng. Trong thức thứ mười chân phải bước ra xéo về phía đông nam, còn thức này chân phải bước ra xéo về phía tây bắc. (Hình 137)

Yếu lĩnh:

Giống thức thứ mười "Tiền thang ngạo bộ".

Thức thứ ba mươi bảy — Kích địa chùy (đấm xuống đất)
图 L1F135
图 L1F135
Động tác một của Tiền thang ngạo bộ: tư thế chân trái thu về nâng lên, hai tay biến thành chưởng, tay trái thuận triền vạch cung đến trước ngực, tay phải hơi nghịch triền, hai lòng bàn tay đều hướng sang phải.
图 L1F136
图 L1F136
Tiếp theo hình 135: tư thế mũi chân trái vểnh ra ngoài rơi xuống sang trái (tây nam), thân chuyển sang trái, tay trái thuận triền xoay cánh tay đến trước ngực, lòng bàn tay hướng phải trước, chưởng phải nghịch triền đến phía trên cẳng tay trái, lòng bàn tay hướng trái trước, hai cánh tay giao chéo.

Động tác một: Thân chuyển sang phải, mũi chân phải vểnh ra ngoài, trọng tâm dời sang chân phải, chân trái nâng lên, qua phía trong mắt cá chân phải bước lên xéo về phía trước trái (tây nam), kế đó trọng tâm dời sang trái. Đồng thời, chưởng trái thuận triền, từ trái qua trước mặt dời sang phải biến thành quyền, tâm quyền hướng vào trong; tay phải · 128 · chưởng từ thuận triền thành nghịch triền, vạch cung sang phải sau biến thành quyền, tâm quyền hướng trước lên. (Hình 138)

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, quyền phải thuận triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng vào trong; quyền trái thuận triền, qua trước ngực mà xuống rơi về bên trái, tâm quyền hướng lên. (Hình 139, hình chính diện của hình phụ 139) Thân tiếp tục hơi ngồi xổm xuống, chân trái tiếp tục cung ra trước. Đồng thời, quyền trái nghịch triền gập cùi chỏ nâng lên về phía trên trái, tâm quyền hướng xuống; quyền phải nghịch triền đấm xuống phía trước (từ ngoài vào trong nghịch triền một vòng nhỏ), tâm quyền hướng vào trong. (Hình 140, hình chính diện của hình phụ 140)

图 L1F137
图 L1F137
Động tác hai của Tiền thang ngạo bộ: chân phải bước ra xéo về phía tây bắc (giống động tác hai của thức thứ mười "Tiền thang ngạo bộ", chỉ khác phương hướng).
图 L1F138
图 L1F138
Động tác một của Kích địa chùy: tư thế thân chuyển sang phải, mũi chân phải vểnh ra ngoài, trọng tâm dời sang chân phải, chân trái qua phía trong mắt cá chân phải bước lên xéo về phía trước trái (tây nam) rồi trọng tâm dời sang trái, chưởng trái thuận triền từ trái qua trước mặt dời sang phải biến thành quyền, tâm quyền hướng vào trong, chưởng phải từ thuận triền thành nghịch triền vạch cung sang phải sau biến thành quyền, tâm quyền hướng trước lên.
图 L1F139
图 L1F139
Động tác hai của Kích địa chùy: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang trái, quyền phải thuận triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng vào trong, quyền trái thuận triền qua trước ngực mà xuống rơi về bên trái, tâm quyền hướng lên.
图 L1F139附图
图 L1F139附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 139.

· 129 · Yếu lĩnh:

1. Trọng điểm của thức này là phải trong khi phủ phục đạt được yêu cầu "vĩ lư chính trung thần quán đỉnh" (xương cụt ngay giữa, thần xuyên qua đỉnh); chỉ cần vĩ lư ngay giữa, mới khiến thân không ngã về phía trước, tức do xương cụt ép xuống, có thể khiến toàn bộ xương sống quán xuyến; chỉ cần trên xương sống đàn hồi đầy đủ (tam quan đại đạo đã mở ra), thì có thể bật dậy một cái, bất kỳ trọng áp nào cũng không đè nổi; nếu vĩ lư đổ xuống một cái, mất đi đàn hồi, thì phủ phục dưới đất không thể đứng dậy nổi nữa.

2. Phải trong khi phủ phục không đánh mất đỉnh kình, tức là do hai quyền lấy kình song thuận triền vạch đối nhau một vòng trên mặt đất, như vậy không những xoa động lưng, mà trên đỉnh đầu cũng đồng dạng xoay một vòng nhỏ. Cho nên lại gọi là "Thần tiên nhất bả trảo" (thần tiên chụp một cái), tức là sau khi chụp một vòng thì biến thành quyền, rồi lại xoay một vòng trên mặt đất, và đấm xuống dưới, giống như sau khi gạt bỏ bụi đất trên mặt đất, đem vật cắm trồng xuống vậy, do đó lại gọi là Tài chùy (đấm trồng cây).

Thức thứ ba mươi tám — Phiên thân nhị khởi cước (trở mình đá hai cái)
图 L1F140
图 L1F140
Đoạn cuối động tác hai của Kích địa chùy: tư thế (mặt sau) thân tiếp tục hơi ngồi xổm xuống, chân trái tiếp tục cung ra trước, quyền trái nghịch triền gập cùi chỏ nâng lên về phía trên trái, tâm quyền hướng xuống, quyền phải nghịch triền đấm xuống phía trước (từ ngoài vào trong nghịch triền một vòng nhỏ), tâm quyền hướng vào trong.
图 L1F140附图
图 L1F140附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 140.

Động tác một: Thân chuyển sang phải, trọng tâm ở chân trái, chân phải hơi duỗi không thẳng cứng; đồng thời, quyền trái gập cánh tay theo đà chuyển thân hơi dời xuống, quyền phải xoay cánh tay, gập cùi chỏ, gập cổ tay nâng lên, hai tâm quyền đều hướng vào trong. (Hình 141, hình chính diện của hình phụ 141) Lấy gót chân trái làm · 130 · trục, thân tiếp tục chuyển sang phải, chân theo đà chuyển thân thu về nửa bước, lấy mũi chân điểm đất. Đồng thời, quyền phải thuận triền rơi xuống về bên phải thân, tâm quyền hướng lên; quyền trái nghịch triền từ trái ra trước gập cùi chỏ nâng lên, tâm quyền hướng vào trong. (Hình 142) Trọng tâm dời đến chân trái, chân trái ngồi xổm xuống (tăng cường đàn hồi của chân trái); đồng thời, quyền phải xoay cánh tay nghịch triền từ phía sau thân cong theo hình cung nâng lên, quyền trái nghịch triền rơi xuống về bên trái thân. (Hình 143)

图 L1F141
图 L1F141
Đoạn đầu động tác một của Phiên thân nhị khởi cước: tư thế (mặt sau) thân chuyển sang phải, trọng tâm ở chân trái, chân phải hơi duỗi không thẳng cứng, quyền trái gập cánh tay theo đà chuyển thân hơi dời xuống, quyền phải xoay cánh tay gập cùi chỏ gập cổ tay nâng lên, hai tâm quyền đều hướng vào trong.
图 L1F141附图
图 L1F141附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 141.
图 L1F142
图 L1F142
Tiếp theo hình 141: tư thế (mặt sau) lấy gót chân trái làm trục, thân tiếp tục chuyển sang phải, chân theo đà chuyển thân thu về nửa bước lấy mũi chân điểm đất, quyền phải thuận triền rơi xuống về bên phải thân, tâm quyền hướng lên, quyền trái nghịch triền từ trái ra trước gập cùi chỏ nâng lên, tâm quyền hướng vào trong.
图 L1F143
图 L1F143
Tiếp theo hình 142: tư thế trọng tâm dời đến chân trái, chân trái ngồi xổm xuống (tăng cường đàn hồi của chân trái), quyền phải xoay cánh tay nghịch triền từ phía sau thân cong theo hình cung nâng lên, quyền trái nghịch triền rơi xuống về bên trái thân.

Động tác hai: Trọng tâm dời về trước, gót chân phải rơi xuống đạp vững, chân trái căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước trên; đồng thời hai quyền biến thành chưởng nghịch triền, tay phải ra trước lên, tay trái ra sau xuống · 131 · vạch cung, lòng bàn tay phải hướng ra trước, lòng bàn tay trái hướng vào trong xuống. (Hình 144, hình chính diện của hình phụ 144) Chân trái chưa rơi xuống đất, chân phải liền đạp đất nhảy lên, đá lên phía trước trên với mu bàn chân căng bằng, chưởng phải liền đón đánh vào mu bàn chân phải về phía trước, kế đó chân trái rơi xuống đất, chưởng trái khi chưởng phải đón đánh mu bàn chân phải thì giơ ngang sang trái. (Hình 145–146, hình chính diện của hình phụ 146)

Yếu lĩnh:

图 L1F144
图 L1F144
Động tác hai của Phiên thân nhị khởi cước: tư thế (mặt sau) hai quyền biến thành chưởng nghịch triền, tay phải vạch cung ra trước lên, tay trái ra sau xuống, lòng bàn tay phải hướng ra trước, lòng bàn tay trái hướng vào trong xuống.
图 L1F144附图
图 L1F144附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 144.
图 L1F145
图 L1F145
Tiếp theo hình 144: tư thế chân trái chưa rơi xuống đất, chân phải đạp đất nhảy lên đá lên phía trước trên với mu bàn chân căng bằng, chưởng phải đón đánh vào mu bàn chân phải về phía trước, chưởng trái giơ ngang sang trái.
图 L1F146
图 L1F146
Tiếp theo hình 145: tư thế (mặt sau) chân phải đá lên giữa không trung, chưởng phải đón đánh vào mu bàn chân phải, chưởng trái giơ ngang sang trái, kế đó chân trái rơi xuống đất.
图 L1F146附图
图 L1F146附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 146.

· 132 · Nhị khởi cước là động tác huấn luyện nhảy bật, là hai chân trái phải lần lượt rời đất nhảy lên đá ra, cho nên lại gọi là Thích nhị khởi (đá hai cái). Nhị khởi cước của Trần thức Thái Cực Quyền có bốn cách luyện, có thể căn cứ vào thể lực mạnh yếu và mục đích của người luyện mà chọn. Nay theo thứ tự từ dễ đến khó, liệt kê như sau:

(1) Lấy nhất khởi thay cho nhị khởi, tức là chỉ lấy chân phải đá lên, lấy chưởng phải đón đánh vào mu bàn chân phải, mà không có quá trình hai chân rời đất, nhưng khi luyện vẫn phải có thượng đề kình của nhị khởi;

(2) Tức theo phương pháp thuyết minh động tác ở trên mà rèn luyện, đặc điểm của nó là lấy đại khai đại triển mở rộng vòng triền ty để hỗ trợ thân nhảy lên và đá hai cái;

(3) Giảm bớt động tác và thu nhỏ vòng triền ty, chỉ cuốn một vòng, tức hai chân lần lượt rời đất đá lên;

(4) Sau khi Kích địa chùy, phiên thân một cái, hai chân liền lần lượt rời đất đá lên, đây là cách đơn giản nhất, cũng là cách khó nhất.

Thức thứ ba mươi chín — Thú đầu thế (thế đầu thú)

(Còn gọi là Hộ tâm chùy — đấm che tim, hoặc Đả hổ thế — thế đánh hổ)

Động tác một: Chân phải rơi xuống chưa chạm đất, chân trái liền nhảy lên; đồng thời hai tay từ trái lên trên rồi bằng (chưởng) lên trên phải thuận triền (hai tay phải có lĩnh kình, dẫn thân bay lên giữa không trung, giống tư thế ném rổ bóng rổ. Nếu người yếu, có thể cho chân phải rơi xuống trước, chân trái rồi nâng lên, không làm động tác có quá trình rời đất). (Hình 147. Hình này tiếp theo hình chính diện của hình 146 mà xuống, cho nên từ hình 147–151 vẫn nên làm động tác với ngực hướng về đông) Kế đó chân phải rơi xuống đất, chân phải ngồi xổm xuống, tiếp theo chân trái bước ngang một bước xéo về phía sau trái (tây bắc), hạ thấp chân trái (bộc), đầu gối trái hơi khuất; thân đồng thời chuyển sang phải; hai chưởng theo đà chuyển thân rơi xuống về phía trước phải, lòng bàn tay hướng xuống phải. (Hình 148) Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, cung chân trái, đạp chân phải, đầu gối phải hơi khuất; đồng thời hai chưởng biến thành quyền xoay cánh tay trái nghịch, phải thuận triền, quyền trái qua trước bụng cuốn lên trên trái cho tâm quyền hướng sang trái, quyền phải từ phải cuốn · 133 · đến trước ngực, tâm quyền hướng lên trên trái (thành thức Tả đả hổ). (Hình 149)

图 L1F147
图 L1F147
Động tác một của Thú đầu thế: tư thế chân phải rơi xuống chưa chạm đất, chân trái liền nhảy lên, hai tay từ trái lên trên rồi bằng (chưởng) lên trên phải thuận triền (hai tay có lĩnh kình dẫn thân bay lên giữa không trung, giống tư thế ném rổ bóng rổ).
图 L1F148
图 L1F148
Tiếp theo hình 147: tư thế chân phải rơi xuống đất, chân phải ngồi xổm xuống, tiếp theo chân trái bước ngang một bước xéo về phía sau trái (tây bắc), hạ thấp chân trái, đầu gối trái hơi khuất, thân đồng thời chuyển sang phải, hai chưởng theo đà chuyển thân rơi xuống về phía trước phải, lòng bàn tay hướng xuống phải.
图 L1F149
图 L1F149
Tiếp theo hình 148: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, cung chân trái đạp chân phải, hai chưởng biến thành quyền xoay cánh tay trái nghịch, phải thuận triền, quyền trái qua trước bụng cuốn lên trên trái, tâm quyền hướng sang trái, quyền phải từ phải cuốn đến trước ngực, tâm quyền hướng lên trên trái, thành thức Tả đả hổ.

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang phải, chân phải dời sang trái một chút, lấy mũi chân điểm đất; đồng thời, quyền trái nghịch triền gập cánh tay thu vào trong đến ngang đầu, quyền phải thuận triền gập cánh tay thu vào trong đến trước ngực. (Hình 150) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái ngồi xổm xuống, phía trong gót chân phải sát mặt đất, vạch ra bộc bộ về phía trước phải (nam, hơi lệch đông); đồng thời hai quyền trái nghịch, phải thuận triền theo thân ngồi xổm mà trầm xuống. (Hình 151) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải, cung chân phải. Đồng thời hai tay xoay cánh tay nghịch triền, quyền trái theo đà chuyển thân dời sang phải, tâm quyền hướng phải sau; quyền phải qua trước ngực mà xuống cuốn đến bên phải bụng, tâm quyền hướng vào trong. (Hình 152. Tư thế trong hình này là chính diện, kỳ thực chỗ hai chân đạp vẫn như hình trên tại chỗ chưa động, từ hình 152–154 cũng vẫn là ngực hướng về đông mà làm động tác) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải. Đồng thời, quyền trái qua trước ngực sang trái thuận triền đến trước hông trái, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải từ phải sau lên trên, xoay cánh tay gập cùi chỏ nghịch triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng xuống. (Hình 153) Thân chuyển sang trái, trọng tâm hơi dời sang trái, đầu gối trái hơi khuất, quyền trái thu vào trong một chút đến trước bụng, · 134 · Quyền phải xoay cánh tay, cổ tay gập vào trong duỗi ra trước, hai tâm quyền đều hướng vào trong. (Hình 154)

Yếu lĩnh:

1. Thức này đòi hỏi thành phần lý ngoại triền ty (triền ty trong ngoài) nhiều hơn, và đòi hỏi trong động tác trong ngoài đạt được tiết tiết quán xuyến, chu thân nhất gia (toàn thân một nhà). So với trước, đây là điều cần tiến thêm một bước luyện tập. Thức quyền này dễ biểu hiện rõ ràng yêu cầu nhất động toàn động (một phần động thì toàn thân động).

图 L1F150
图 L1F150
Đoạn đầu động tác hai của Thú đầu thế: tư thế thân hơi chuyển sang phải, chân phải dời sang trái một chút lấy mũi chân điểm đất, quyền trái nghịch triền gập cánh tay thu vào trong đến ngang đầu, quyền phải thuận triền gập cánh tay thu vào trong đến trước ngực.
图 L1F151
图 L1F151
Tiếp theo hình 150: tư thế thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái ngồi xổm xuống, phía trong gót chân phải sát mặt đất vạch ra bộc bộ về phía trước phải (nam, hơi lệch đông), hai quyền trái nghịch, phải thuận triền theo thân ngồi xổm mà trầm xuống.
图 L1F152
图 L1F152
Tiếp theo hình 151: tư thế thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải cung chân phải, hai tay xoay cánh tay nghịch triền, quyền trái theo đà chuyển thân dời sang phải, tâm quyền hướng phải sau, quyền phải qua trước ngực mà xuống cuốn đến bên phải bụng, tâm quyền hướng vào trong.
图 L1F153
图 L1F153
Tiếp theo hình 152: tư thế thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, quyền trái qua trước ngực sang trái thuận triền đến trước hông trái, tâm quyền hướng vào trong, quyền phải từ phải sau lên trên xoay cánh tay gập cùi chỏ nghịch triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng xuống.
图 L1F154
图 L1F154
Tiếp theo hình 153: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm hơi dời sang trái, đầu gối trái hơi khuất, quyền trái thu vào trong một chút đến trước bụng, quyền phải xoay cánh tay, cổ tay gập vào trong duỗi ra trước, hai tâm quyền đều hướng vào trong.

2. Do thành phần lý ngoại triền ty nhiều, liền thúc đẩy tác dụng lưng và eo liên hợp chủ tể, mà trong chủ tể lại lấy lưng giữ vị trí thứ nhất (là chủ yếu để dẫn tiến lạc không · 135 · triền ty). Cho nên thức này trong vận động Thái Cực Quyền là một trong những hình thức chính để rèn luyện lý ngoại, thuận nghịch triền ty kình.

3. Thức này khi động tác lên, khố khẩu (miệng háng) đòi hỏi thấp (nhưng thấp không quá đầu gối); nó khi chuyển hoán hư thực trong chân, lúc đó càng dễ cảm thấy khí của hội âm (phần giữa của tiền âm và hậu âm) xông lên vĩ lư, đây là yêu cầu chính của viên đang biểu hiện trong thức này.

4. Trong thức này, kình bằng (chưởng) của ngoại thuận triền và kình bằng của nội nghịch triền, đòi hỏi khi chuyển góc ngoặt chuyển hoán mặt bằng triền ty, động tác xoắn ốc của nó đều có thể đạt đến trên da, và không có khuyết hãm tồn tại bên trong; đây tức là nói, chỉ có xoắn ốc trên da mới có thể đạt được tác dụng dắt động của triền ty kình (triền ty kình có thể đạt đến trên mặt da mà không có khuyết hãm hay không, trong thức này dễ biểu hiện ra nhất).

Thức thứ bốn mươi — Toàn phong cước (chân gió xoáy)
图 L1F155
图 L1F155
Đoạn đầu động tác một của Toàn phong cước: tư thế thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân trái hơi cung, tay trái thuận triền lật xuống đến trước bụng trái, tâm quyền hướng lên, tay phải thuận triền hơi lật sang phải trước đến trước bụng, tâm quyền hướng vào trong lên.
图 L1F156
图 L1F156
Tiếp theo hình 155: tư thế thân chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải, cung chân phải, chân trái duỗi mà không thẳng, hai quyền biến thành chưởng nghịch triền.
图 L1F157
图 L1F157
Tiếp theo hình 156: tư thế trọng tâm dời sang chân phải, chân trái nâng lên gập gối, hai tay tách ra trên dưới trước ngực.

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân trái hơi cung. Đồng thời tay trái thuận triền lật xuống đến trước bụng trái, tâm quyền hướng lên; tay phải thuận triền hơi lật sang phải trước đến trước bụng, tâm quyền hướng vào trong lên. (Hình 155. Trong hình này chỗ hai chân đạp vẫn như hình trên tại chỗ chưa động, ngực vẫn hướng về đông, từ hướng ngực hướng về đông bắt đầu động tác của thức này) Thân chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải, cung chân phải, chân trái duỗi mà không thẳng; đồng thời hai quyền biến thành chưởng nghịch · 136 · triền, qua trước ngực mở ra sang phải. (Hình 156) Hai tay nghịch triền sang phải mà xuống, biến thành phải thuận, trái nghịch triền xoay lên trên đất, chưởng trái qua trước bụng vạch cung lên trên trái đến ngang đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài; chưởng phải cong theo hình cung cuốn đến trước bụng, lòng bàn tay hướng sang trái. Đồng thời trọng tâm dời sang trái, chân phải nâng lên về trước. (Hình 157)

Động tác hai: Mũi chân phải vểnh ra ngoài bước lên nửa bước về phía trước, thể trọng dời về trước, chân trái theo đó nâng lên; trong khi chân phải nâng lên bước tới, đồng thời hai tay thuận triền, chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái qua trước mặt cong theo hình cung rơi xuống sang phải, cẳng tay trái rơi trên cẳng tay phải, hai cánh tay giao chéo hợp kình, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. (Hình 158) Hai cánh tay thuận triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay đều hướng ra sau; đồng thời, chân trái từ sau dưới lên trên lấy khỏa kình (kình quấn) cong theo hình cung quấn lên, lấy phía trong bàn chân đón đánh vào chưởng trái. (Hình 159, lúc này ngực nên hướng về nam) Lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau phải (180 độ, ngực hướng bắc); theo khi chuyển thân, đồng thời hai tay từ khai chuyển thành lý hợp, giao chéo trước ngực, cánh tay trái ở trên; chân trái cũng theo đà chuyển thân từ trên quét chuyển sang phải sau. (Hình 160) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái rơi xuống đất; đồng thời hai tay thu nhỏ vòng hợp kình, lòng bàn tay trái hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng vào trong. (Hình 161, hình chính diện của hình phụ 161, hình chính diện của hình 161 tiếp liền sau hình 160, kỳ thực là ngực hướng bắc, mà từ hình 161 trở đi đã phù hợp với phương hướng trong thuyết minh động tác)

图 L1F158
图 L1F158
Đoạn đầu động tác hai của Toàn phong cước: tư thế mũi chân phải vểnh ra ngoài bước lên nửa bước về phía trước, thể trọng dời về trước, chân trái theo đó nâng lên, trong khi chân phải nâng lên bước tới thì hai tay thuận triền, chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái qua trước mặt cong theo hình cung rơi xuống sang phải, cẳng tay trái rơi trên cẳng tay phải, hai cánh tay giao chéo hợp kình, hai lòng bàn tay đều hướng xuống.
图 L1F159
图 L1F159
Tiếp theo hình 158: tư thế hai cánh tay thuận triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay đều hướng ra sau, đồng thời chân trái từ sau dưới lên trên lấy khỏa kình cong theo hình cung quấn lên, lấy phía trong bàn chân đón đánh vào chưởng trái (lúc này ngực hướng về nam).

· 137 · Yếu lĩnh:

1. Toàn phong cước là kình quét đất (tảo thang thối) một chân đứng, một chân lơ lửng giữa không trung; bốn vòng phía trước là biểu hiện khai hợp trước khi quét của toàn phong (từ hình 158–161 để hoàn thành động tác xoáy quét của Toàn phong cước).

2. Hình 159 biểu hiện động tác quét lên của Toàn phong cước, chưởng trái và phía bên chân trái vỗ rồi chuyển thân; trong quá trình chuyển, đòi hỏi chân trái hơi cong không thẳng mà chuyển ngang qua, nhưng không cho phép gập chân mà chuyển qua; đây là sự huấn luyện đối với thối kình (kình chân) và thăng bằng của tay phải, cần bỏ ra ít thời gian để luyện tập.

3. Trần thức Thái Cực Quyền để thích ứng với các đối tượng khác nhau, có những động tác chia làm hai cách luyện khó và dễ. Cách luyện khác của thức này là (bắt đầu từ hình 158) trước tiên đưa chân phải lên nửa bước về trước, gót chân trái nâng lên, hai tay giao chéo trước ngực; tiếp theo chân trái đá lên về phía trước (không phải quét ngang), sau khi đá thì gập gối thu chân chuyển thân rơi xuống (không phải duỗi thẳng chân mà chuyển ngang qua); sau khi chân trái đạp vững, nâng chân phải lên đạp ra ngang bằng gót chân. Điểm khác biệt của nó là bỏ đi kình quét ngang, thay đổi thành hai động tác đá chân và đạp chân.

图 L1F160
图 L1F160
Đoạn cuối động tác hai của Toàn phong cước: tư thế lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau phải (180 độ, ngực hướng bắc), theo đà chuyển thân hai tay từ khai chuyển thành lý hợp giao chéo trước ngực, cánh tay trái ở trên, chân trái cũng theo đà chuyển thân từ trên quét chuyển sang phải sau.
图 L1F161
图 L1F161
Tiếp theo hình 160: tư thế (mặt sau) thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái rơi xuống đất, hai tay thu nhỏ vòng hợp kình, lòng bàn tay trái hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng vào trong.
图 L1F161附图
图 L1F161附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 161 (ngực hướng bắc).

· 138 · bỏ đi kình quét ngang, thay đổi thành hai động tác đá chân và đạp chân.

Thức thứ bốn mươi mốt — Đăng nhất căn (đạp một cái)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm hơi dịch sang trái; đồng thời, hai lòng bàn tay lật hướng ra trước, và thu nhỏ vòng giao chéo, tức thì hai chưởng nghịch triền qua trước bụng phân hướng hai bên mở ra (ý chú vào hai ngón út); thân thể theo lúc hai tay phân khai mà chuyển về chính, khẩu đương càng trầm xuống. (Hình 162) Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, chân phải thu về, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái; đồng thời, hai chưởng biến thành quyền thuận triền, từ hai bên mà xuống hướng trước bụng hợp trụ kình, hai cẳng tay giao chéo, cánh tay trái ở trên, lòng quyền đều hướng vào trong xuống. (Hình 163, hình chính diện của hình phụ 163) Thân thể tiếp tục hơi chuyển sang trái (bồng kình toàn thân không mất), hai cánh tay thu nhỏ vòng giao chéo (để súc kình), chân phải nâng lên. (Hình 164, hình chính diện của hình phụ 146)

Động tác hai: Hai quyền thuận triền phân hướng hai bên phát kình; đồng thời chân phải móc lên mũi chân, lấy gót chân hướng sang phải đạp ra phát kình. (Hình 165)

Yếu lĩnh:

1. Điểm khác nhau giữa thức này và thức thứ ba mươi lăm "Đăng nhất căn" là, thức trước đạp chân trái, thức này đạp chân phải. Làm động tác Đăng nhất căn này, phải trước khi đạp làm tốt súc kình đầy đủ, rồi sau mới phát, để đạt được yêu cầu "súc nhi hậu phát".

图 L1F162
图 L1F162
Đăng nhất căn động tác một: tư thế thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm hơi dịch sang trái, hai lòng bàn tay lật hướng ra trước và thu nhỏ vòng giao chéo, tức thì hai chưởng nghịch triền qua trước bụng phân hướng hai bên mở ra (ý chú vào hai ngón út), thân thể theo lúc hai tay phân khai mà chuyển về chính, khẩu đương càng trầm xuống.
图 L1F163
图 L1F163
Tiếp theo hình 162: tư thế (mặt sau) thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, chân phải thu về lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái, hai chưởng biến thành quyền thuận triền từ hai bên mà xuống hướng trước bụng hợp trụ kình, hai cẳng tay giao chéo cánh tay trái ở trên, lòng quyền đều hướng vào trong xuống.
图 L1F163附图
图 L1F163附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 163.

· 139 ·

Thức thứ bốn mươi hai — Yểm thủ quăng chùy (che tay, đấm bằng cẳng tay)

Động tác một: Chân phải nâng gối thu về, chân trái đứng độc lập; đồng thời, quyền phải thuận triền rơi xuống trước đương, quyền trái thuận triền hơi rơi xuống. (Hình 166) Lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải (đông). Đồng thời, cánh tay phải ngoại chuyển hướng vào trong thuận triền, từ trước đương mà lên, theo đà chuyển thân hướng sang phải hình cung hạ lật đến bên chân phải, cánh tay phải buông xuống, lòng quyền hướng lên; quyền trái chuyển cánh tay nghịch triền từ trong dưới chuyển hướng ra ngoài trên, dựng thẳng cẳng tay trái, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 167)

图 L1F164
图 L1F164
Tiếp theo hình 163: đoạn đầu động tác hai của Đăng nhất căn, tư thế (mặt sau) thân tiếp tục hơi chuyển sang trái, hai cánh tay thu nhỏ vòng giao chéo để súc kình, chân phải nâng lên.
图 L1F164附图
图 L1F164附图
Hình chính diện của cùng động tác như hình 164.
图 L1F165
图 L1F165
Đăng nhất căn động tác hai: tư thế hai quyền thuận triền phân hướng hai bên phát kình, đồng thời chân phải móc lên mũi chân lấy gót chân hướng sang phải đạp ra phát kình.

Động tác hai: Hai quyền biến thành chưởng hợp trước ngực, song thuận triền rơi xuống, tay phải hơi thấp hơn tay trái, chân phải vẫn nâng lên. (Hình 168) Hai chưởng từ hai bên giơ lên, dẫn thân thể đứng lên (như hai tay ném bóng rổ với song lĩnh kình), mũi chân phải nâng lên. (Hình 169—170, sau khi thân thể được dẫn đứng lên trong hai hình, vẫn phải cùng hướng với hình 168, hai · 140 · hình cho thấy chính diện và mặt bên của nó) chân phải bàn chân đạp đất duỗi ra, thân hơi chuyển sang phải, chân trái bước sang trước trái (đông bắc), hai chân khuất gối hạ tấn; đồng thời, chưởng phải biến thành quyền nghịch triền đến trước bụng trái, chưởng trái nghịch triền hướng vào ngực thu hợp bồng, chưởng trái đặt trên khuỷu tay phải giao chéo. (Hình 171)

图 L1F166
图 L1F166
Đoạn đầu động tác một của Yểm thủ quăng chùy: tư thế chân phải nâng gối thu về, chân trái đứng độc lập, quyền phải thuận triền rơi xuống trước đương, quyền trái thuận triền hơi rơi xuống.
图 L1F167
图 L1F167
Tiếp theo hình 166: tư thế lấy gót chân trái làm trục thân chuyển sang phải (đông), cánh tay phải ngoại chuyển hướng vào trong thuận triền từ trước đương mà lên, theo đà chuyển thân hướng sang phải hình cung hạ lật đến bên chân phải cánh tay phải buông xuống lòng quyền hướng lên, quyền trái chuyển cánh tay nghịch triền từ trong dưới chuyển hướng ra ngoài trên dựng thẳng cẳng tay trái lòng quyền hướng vào trong.
图 L1F168
图 L1F168
Yểm thủ quăng chùy động tác hai: tư thế hai quyền biến thành chưởng hợp trước ngực, song thuận triền rơi xuống, tay phải hơi thấp hơn tay trái, chân phải vẫn nâng lên.
图 L1F169
图 L1F169
Tiếp theo hình 168: tư thế (chính diện) hai chưởng từ hai bên giơ lên dẫn thân thể đứng lên, mũi chân phải nâng lên.
图 L1F170
图 L1F170
Hình mặt bên của cùng động tác (thân thể được dẫn đứng lên) như hình 169.
图 L1F171
图 L1F171
Tiếp theo trên: tư thế chân phải bàn chân đạp đất duỗi ra, thân hơi chuyển sang phải, chân trái bước sang trước trái (đông bắc) hai chân khuất gối hạ tấn, chưởng phải biến thành quyền nghịch triền đến trước bụng trái, chưởng trái nghịch triền hướng vào ngực thu hợp bồng, chưởng trái đặt trên khuỷu tay phải giao chéo.

· 141 · Động tác ba: Quyền phải chuyển cánh tay thuận triền hướng xuống phải, chưởng trái nghịch triền hướng lên trái phân khai thành hình cung, lòng quyền phải hướng xuống, lòng chưởng trái hướng ra ngoài. (Tiếp hình 52; hình 51 tức là thế biến của hình 171)

Động tác bốn giống với động tác ba của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy". (Tiếp hình 52—54)

Yếu lĩnh:

1. Chân phải sau khi đạp không rơi xuống đất. Do hai quyền thuận triền rồi thu về, dẫn dắt chân phải thu về; trong quá trình thu về, do hai quyền trái hướng tới trước, phải hướng tới sau song lật, khiến chân phải thu về và chân trái độc lập ổn định lại.

2. Yêu cầu đỉnh kình thượng ngạc, khí hướng xuống trầm, thùy kiên thùy chửu, chân trái đạp phẳng vững vàng. Thì tự nhiên độc lập vững vàng.

3. Trọng điểm của thức này và thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy", đều ở phát kình, chỉ có động tác bồng tiếp khác nhau.

4. Thức này sau khi chuyển thân đạp chân, chuyển thành hai tay trên dưới lật chuyển mà hợp trụ kình (hình 167); hợp xong hai tay phân một cái, sinh ra khai kình (hình 168); phân xong hai tay lập tức giơ lên và hai chưởng thượng thác, như bưng quả bóng rổ nhảy lên, và hướng vào rổ ném vào vậy, như thế có thể đem thân thể dẫn đứng lên.

Thức thứ bốn mươi ba — Tiểu cầm đả (bắt nhỏ rồi đánh)

Động tác một: Thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, quyền phải biến thành chưởng đại nghịch triền, khuất chửu, lòng chưởng hướng xuống, hổ khẩu mở ra; chưởng trái từ bên sườn trái tiểu nghịch triền đến dưới ngực. (Hình 172, hình mặt bên phía bên kia của hình phụ 172) Mũi chân phải xoay ra ngoài bước tới trước; đồng thời, chưởng phải hướng tới trước thuận triền lật chưởng khiến lòng chưởng hướng lên, chưởng trái thuận triền giao đáp trên cẳng tay phải. (Hình 173) Tiếp liền chân trái hướng tới trước bước một bước lớn, mũi chân hơi khấu vào trong, bộc thối; đồng thời hai chưởng nghịch triền lật chưởng, chưởng phải hướng xuống, chưởng trái hướng tới trước xuống phân khai lấy gốc bàn tay đột nhiên chém ra. (Hình 174)

图 L1F172
图 L1F172
Tiểu cầm đả động tác một: tư thế thân thể chuyển sang phải, quyền phải biến thành chưởng đại nghịch triền khuất chửu, lòng chưởng hướng xuống hổ khẩu mở ra, chưởng trái từ bên sườn trái tiểu nghịch triền đến dưới ngực, mũi chân phải xoay ra ngoài bước tới trước, chưởng phải hướng tới trước thuận triền lật chưởng khiến lòng chưởng hướng lên, chưởng trái thuận triền giao đáp trên cẳng tay phải.
图 L1F172附图
图 L1F172附图
Hình mặt bên phía bên kia của cùng động tác như hình 172.
图 L1F173
图 L1F173
Tiếp theo hình 172: tư thế chân trái hướng tới trước bước một bước lớn, mũi chân hơi khấu vào trong bộc thối, hai chưởng nghịch triền lật chưởng, chưởng phải hướng xuống, chưởng trái hướng tới trước xuống phân khai.
图 L1F173附图
图 L1F173附图
Hình mặt bên phía bên kia của cùng động tác như hình 173.
图 L1F174
图 L1F174
Tiếp theo hình 173: tư thế định thức hai chưởng lấy gốc bàn tay đột nhiên chém ra (chưởng phải chém xuống, chưởng trái chém tới trước xuống).
图 L1F175
图 L1F175
Tiểu cầm đả động tác hai: tư thế thân hơi chuyển sang phải, chưởng phải từ trên phải thuận triền rơi xuống bên sườn phải lòng chưởng hướng vào sườn, chưởng trái thuận triền từ dưới chuyển lên cẳng tay dựng thẳng lòng chưởng hướng tới trước trên.

· 142 · · 143 · Động tác hai: Tiếp liền, thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải từ trên phải thuận triền rơi xuống bên sườn phải, lòng chưởng hướng vào sườn; chưởng trái thuận triền từ dưới chuyển lên, cẳng tay dựng thẳng, lòng chưởng hướng tới trước trên. (Hình 175) Trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền chuyển cánh tay hơi rơi, chưởng phải thuận triền từ trên hướng sang trái, hai chưởng giao chéo nội hợp hướng sang trái (đông) phát kình. (Hình 176)

Yếu lĩnh:

1. Động tác của thức này phải hoàn thành một mạch liên tục, không chút dừng lại, mục đích ở chỗ thuận theo yếu kình mà cho đi, tức là thuận theo hướng yếu cầu, không đỉnh kháng, do hai chưởng nghịch triền song phẫu mà giải phóng.

2. Động tác cuối cùng của thức này, phải trong quá trình không dừng lại, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, hai chưởng hợp đến điểm cuối, giao chéo đột nhiên hướng sang trái đánh một cái; lúc này nên chú ý gốc bàn tay của hai chưởng.

3. Thức quyền Tiểu cầm đả này, phân thành hai phần động tác trái phải, nhưng lại biểu hiện thống nhất, mục đích ở chỗ vận dụng xoáy ốc triền ty, thuận theo yếu kình, do song thuận triền thủ pháp và song nghịch triền khai kình, lại chuyển thành song thuận hợp kình và song nghịch phát kình.

Thức thứ bốn mươi bốn — Bão đầu thôi sơn (ôm đầu đẩy núi)
图 L1F176
图 L1F176
Đoạn cuối Tiểu cầm đả: tư thế định thức trọng tâm dịch sang trái cung chân trái, thân hơi chuyển sang trái, chưởng trái nghịch triền chuyển cánh tay hơi rơi, chưởng phải thuận triền từ trên hướng sang trái, hai chưởng giao chéo nội hợp hướng sang trái (đông) phát kình.

Động tác một: Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, hai chưởng biến thành quyền, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền hướng tới trước xuống duỗi, lòng quyền hướng xuống; quyền trái nghịch triền từ dưới trái thu về, vạch một vòng nhỏ hợp đáp trên cánh tay phải, lòng quyền hướng xuống; trọng tâm vẫn ở bên trái, cung chân trái. (Hình 177) Trọng tâm dịch vào chân trái, lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải sau, chân phải thu vào nửa bước, lấy · 144 · mũi chân điểm đất; đồng thời hai quyền tiểu thuận triền tại trước ngực hợp trụ kình, lòng quyền đều hướng vào trong trên. (Hình 178) Hai quyền biến thành chưởng lấy song thuận triền khẩn súc giao chéo vòng rồi rơi xuống, tức chuyển cánh tay thành song nghịch triền, hướng hai bên phân khai, sắp đạt đến điểm cuối thì chuyển thành song thuận triền, lấy mu bàn tay phóng kình, hai lòng chưởng hướng vào nhau; mũi chân phải vẫn điểm đất. (Hình 179)

图 L1F177
图 L1F177
Đoạn đầu động tác một của Bão đầu thôi sơn: tư thế thân hơi chuyển sang phải, hai chưởng biến thành quyền, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền hướng tới trước xuống duỗi lòng quyền hướng xuống, quyền trái nghịch triền từ dưới trái thu về vạch một vòng nhỏ hợp đáp trên cánh tay phải lòng quyền hướng xuống, trọng tâm vẫn ở bên trái cung chân trái.
图 L1F178
图 L1F178
Tiếp theo hình 177: tư thế trọng tâm dịch vào chân trái, lấy gót chân trái làm trục thân thể chuyển sang phải sau, chân phải thu vào nửa bước lấy mũi chân điểm đất, đồng thời hai quyền tiểu thuận triền tại trước ngực hợp trụ kình, lòng quyền đều hướng vào trong trên.
图 L1F179
图 L1F179
Tiếp theo hình 178: tư thế hai quyền biến thành chưởng lấy song thuận triền khẩn súc giao chéo vòng rồi rơi xuống, tức chuyển cánh tay thành song nghịch triền hướng hai bên phân khai, sắp đạt đến điểm cuối thì chuyển thành song thuận triền lấy mu bàn tay phóng kình, hai lòng chưởng hướng vào nhau.
图 L1F180
图 L1F180
Bão đầu thôi sơn động tác hai: tư thế thân thể chuyển sang trái, hai chưởng theo đà chuyển thân hơi dịch sang trái hai khuỷu trầm xuống, hai chưởng lấy hữu thuận tả nghịch triền thu về đến bên hai tai lòng chưởng hướng vào hai gò má, trọng tâm lại hơi dịch sang trái vẫn lấy mũi chân phải điểm đất.
图 L1F181
图 L1F181
Tiếp theo hình 180: tư thế chân phải bước tới trước nửa bước, theo trọng tâm tiền dịch chân phải khuất gối biến thực, thân thể chuyển sang phải, hai chưởng từ bên hai gò má hướng sang phải hơi rơi xuống, theo đà chuyển thân song thuận triền hướng tới trước đẩy ra ý chú hai ngón út lòng chưởng hướng ra ngoài.

Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái; đồng thời, hai chưởng theo đà chuyển thân hơi dịch sang trái, hai khuỷu trầm xuống, hai chưởng tức lấy hữu thuận, tả nghịch triền thu về đến bên hai tai, lòng chưởng hướng vào hai gò má; đồng thời trọng tâm lại hơi dịch sang trái, vẫn lấy mũi chân phải điểm đất. (Hình 180) Chân phải bước tới trước nửa · 145 · bước, theo trọng tâm tiền dịch, chân phải khuất gối biến thực, thân thể chuyển sang phải; đồng thời, hai chưởng từ bên hai gò má hướng sang phải hơi rơi xuống, tức theo đà chuyển thân song thuận triền hướng tới trước đẩy ra; ý chú hai ngón út của hai chưởng, lòng chưởng hướng ra ngoài. (Hình 181)

Yếu lĩnh:

1. Yếu điểm của thức này ở chỗ song nghịch khai rồi biến thành song thuận mà đạt đến điểm cuối. Dùng hai mu bàn tay phóng ra và khuỷu trầm xuống, và do trầm chửu đem hai chưởng chuyển đến bên hai tai, hình thành nửa thức đầu của Bão đầu.

2. Những thức dùng hai chưởng hợp mà hướng tới trước án kình, trong quyền sáo đệ nhất lộ có ba loại kình: (1) "Lục phong tứ bế", nó là hai tay hướng tới trước biểu hiện ra bốn phần bế và sáu phần phong kình; (2) "Song thôi thủ", nó là hai tay hướng tới trước lấy gốc bàn tay đẩy kình ra; (3) "Bão đầu thôi sơn", nó là hai tay hướng tới trước án, hơi súc, phóng ra bước lớn, cung gối phải, mông không co duỗi, từ sống lưng phóng kình ra.

3. Loại hai chưởng tiền án này hình thức và nội kình đều khác nhau, đã như trên thuật. Ngoài ra, nó khi thôi sơn phóng kình, còn phải lấy hô khí (phát ra âm "hư") để phối hợp cùng gốc bàn tay hạ tháp, cùng nhau phóng ra, mới khiến sự thôi động của thôi sơn đúng mức.

Thức thứ bốn mươi lăm — Tam hoán chưởng (ba lần đổi chưởng)

Động tác một: Thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, tay trái thuận triền lật chưởng hơi tiền duỗi, khiến lòng chưởng hướng lên; tay phải thuận triền khuất chửu thu vào đến trên cánh tay trái. Đồng thời phối hợp lấy gối trái nội triền, gối phải ngoại triền. (Hình 182) Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng phải thuận triền hướng tới trước chuyển, chuyển oản nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng trái thuận triền khuất chửu thu vào đến trước ngực, lòng chưởng hướng lên phải. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ nhất). (Hình 183)

Động tác hai: Thân lại hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng trái qua trước ngực mà lên thuận triền hướng tới trước, chuyển thành nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng phải thuận triền khuất chửu thu vào đến trước ngực, lòng chưởng hướng lên trái. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ hai · 146 · chưởng). (Hình 184) Thân hơi chuyển sang trái, gối phải càng cung về trước; đồng thời, chưởng phải qua trước ngực mà lên thuận triền hướng tới trước chuyển thành nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống, lòng chưởng xiên hướng vào trong phải. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ ba). (Hình 185)

图 L1F182
图 L1F182
Tam hoán chưởng động tác một: tư thế thân thể chuyển sang phải, tay trái thuận triền lật chưởng hơi tiền duỗi khiến lòng chưởng hướng lên, tay phải thuận triền khuất chửu thu vào đến trên cánh tay trái, đồng thời phối hợp gối trái nội triền, gối phải ngoại triền.
图 L1F183
图 L1F183
Tiếp theo hình 182: tư thế thân hơi chuyển sang trái, chưởng phải thuận triền hướng tới trước chuyển chuyển oản nghịch triền hoành chưởng đẩy ra, chưởng trái thuận triền khuất chửu thu vào đến trước ngực lòng chưởng hướng lên phải, đồng thời phối hợp gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ nhất).
图 L1F184
图 L1F184
Tiếp theo hình 183: tư thế thân hơi chuyển sang trái gối phải càng cung về trước, chưởng phải qua trước ngực mà lên thuận triền hướng tới trước chuyển thành nghịch triền hoành chưởng đẩy ra, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống lòng chưởng xiên hướng vào trong phải, đồng thời phối hợp gối phải ngoại triền, gối trái nội triền.
图 L1F185
图 L1F185
Tiếp theo hình 184: tư thế định thức gối phải cung về trước sau khi hoàn thành lần đổi chưởng thứ ba.

Yếu lĩnh:

1. Thức này tiến hành động tác trong tình huống bất động bộ, và không có đại khai đại hợp, mà chỉ trong phạm vi rất nhỏ trước ngực biến hoán thủ pháp, nó chuyển cánh tay thu về là thuận triền, chuyển đến thôi động thì là nghịch triền, đây là đặc điểm của hoán chưởng.

· 147 · 2. Trong quá trình tam hoán chưởng, không những đạt được yêu cầu nhất động vô hữu bất động trong phạm vi nhỏ trước ngực này, mà còn phải trong khi chuyển đổi đầu trái phải, trên bồng kình không có khuyết hãm (hình dạng lồi lõm và kình đoạn tục), cốt yếu toàn ở vận hóa trong ngực và giữa lưng.

3. Tam hoán chưởng, lần thứ nhất dùng chưởng phải đẩy ra, lần thứ hai dùng chưởng trái đẩy ra, lần thứ ba vẫn như cũ dùng chưởng phải đẩy ra, nó trong tình huống không đổi chân hình thành ba lần chuyển đổi; khi chuyển đổi do sự biến hoán của eo mông và sự xoay ốc của chân, khiến hư thực của nội kình ở eo đương và chân cũng theo ba lần chuyển đổi, khiến nó vẫn phù hợp yêu cầu thượng hạ tương tùy; nhưng một chân chống đỡ toàn thân khá lâu, lượng vận động tức khá lớn. Thức này không những nâng cao hiệu quả thể dục, mà cũng nâng cao kỹ năng hóa kình của kỹ kích (đây là kiệt tác những năm cuối của thầy Trần Phát Khoa).

Thức thứ bốn mươi sáu — Lục phong tứ bế (sáu phong bốn bế)

Động tác giống với động tác hai của thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Tiếp hình 18—20)

Yếu lĩnh:

Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".

Thức thứ bốn mươi bảy — Đan tiên (roi đơn)

Động tác và yếu lĩnh giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Tiếp hình 21—26)

Thức thứ bốn mươi tám — Tiền chiêu (chiêu về phía trước)

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm càng hơi dịch sang trái. Đồng thời, câu thủ phải biến thành chưởng, khuất chửu chuyển cánh tay, dựng cẳng tay thuận triền đến trước mặt, lòng chưởng hướng lên trái; tay trái nghịch triền hướng sang trái xuống án, lòng chưởng hướng xuống. (Hình 186)

Động tác hai: Trọng tâm dịch sang phải, lấy gót chân phải làm trục, thân thể chuyển sang phải, mũi chân phải xoay ra ngoài; chân trái nâng lên, theo đà chuyển thân hướng vào chân phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải. Đồng thời, tay phải chuyển cánh tay nghịch triền hoành chưởng hướng sang phải hình cung ngoại triển, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng trái chuyển cánh tay rơi xuống, theo đà chuyển thân hình cung dịch sang phải, lòng chưởng hướng sang phải. (Hình 187)

图 L1F186
图 L1F186
Tiền chiêu động tác một: tư thế thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm càng hơi dịch sang trái, câu thủ phải biến thành chưởng khuất chửu chuyển cánh tay dựng cẳng tay thuận triền đến trước mặt lòng chưởng hướng lên trái, tay trái nghịch triền hướng sang trái xuống án lòng chưởng hướng xuống.
图 L1F187
图 L1F187
Tiền chiêu động tác hai: tư thế trọng tâm dịch sang phải, lấy gót chân phải làm trục thân thể chuyển sang phải mũi chân phải xoay ra ngoài, chân trái nâng lên theo đà chuyển thân hướng vào chân phải thu sát lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải; tay phải chuyển cánh tay nghịch triền hoành chưởng hướng sang phải hình cung ngoại triển lòng chưởng hướng ra ngoài, chưởng trái chuyển cánh tay rơi xuống theo đà chuyển thân hình cung dịch sang phải lòng chưởng hướng sang phải.

· 148 · Yếu lĩnh:

Động tác của thức này như cầm trường thương múa động vậy, hai cánh tay là hợp kình. Trước hết chưởng trái như cầm chuôi thương hướng lên trái lĩnh lên, chưởng phải tại bên phải hướng lên trái hoành thác, như cầm cán thương, đem chân phải dẫn lên, lúc này da bên trái eo căng, mà bên phải lỏng, đây là một động tác đặc thù vận dụng eo khiến người ta cảm thấy thoải mái.

Thức thứ bốn mươi chín — Hậu chiêu (chiêu về phía sau)

Động tác một: Chân trái hướng sang trái hoành khai một bước, trọng tâm tức thì dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, tay trái nghịch triền chuyển cánh tay hướng lên trái lật chuyển, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng phải chuyển cánh tay từ bên phải thuận triền rơi xuống, lòng chưởng hướng xuống trái. (Hình 188)

Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái, trọng tâm tiếp tục dịch sang trái, chân phải hướng vào chân trái thu sát, lấy mũi chân phải điểm trước chân trái;

图 L1F188
图 L1F188
Hậu chiêu động tác một: tư thế chân trái hướng sang trái hoành khai một bước, trọng tâm tức thì dịch sang trái cung chân trái, tay trái nghịch triền chuyển cánh tay hướng lên trái lật chuyển lòng chưởng hướng ra ngoài, chưởng phải chuyển cánh tay từ bên phải thuận triền rơi xuống lòng chưởng hướng xuống trái.

· 149 · tay trái nghịch triền một vòng. (Hình 189) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, hình cung thượng lật, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, từ trên xuống dưới hình cung dịch sang phải, hai tay tại bên phải trên dưới hợp trụ kình. (Hình 190)

Yếu lĩnh:

1. Yếu điểm chính của Tiền chiêu, là chưởng phải thác rồi chuyển một cái, luyện kình chuyển này, nâng cao công năng phía bên phải của eo, Hậu chiêu thì nâng cao công năng phía bên trái của eo, cho nên thống xưng là tiền hậu chiêu, cũng có thể hợp lại thành một thức quyền.

2. Tiền chiêu được xếp sau Đan tiên, nó liên hợp Hậu chiêu, lại thống xưng là tà đan tiên, biểu thị sau Đan tiên, tiếp liền làm một tà thức đan tiên. Nó vận dụng tiểu thân pháp để nhu động eo sống lưng. Trọng điểm ở linh hoạt địa tả hữu biến hoán, khiến người ta cảm thấy có một loại thú vị viên hoạt.

Thức thứ năm mươi — Dã mã phân tông (ngựa hoang giũ bờm)
图 L1F189
图 L1F189
Tiếp theo hình 188: tư thế tay trái nghịch triền một vòng.
图 L1F190
图 L1F190
Tiếp theo hình 189: tư thế thân hơi chuyển sang phải, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền hình cung thượng lật lòng chưởng hướng ra ngoài, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền từ trên xuống dưới hình cung dịch sang phải, hai tay tại bên phải trên dưới hợp trụ kình.
图 L1F191
图 L1F191
Đoạn đầu động tác một của Dã mã phân tông: tư thế tay trái nghịch triền chuyển cánh tay qua trước ngực mà lên hướng lên trái lật chuyển lòng chưởng hướng sang trái, tay phải thuận triền chuyển cánh tay từ bên phải mà xuống khuất chửu hướng lên phải thác lòng chưởng xiên hướng vào trong trên, hai tay tại bên trái trên dưới hợp trụ kình, trọng tâm vẫn ở chân trái, thân hơi hạ tấn chân phải hơi hướng tới trước mũi chân lìa đất nâng lên. (Hình 191 và hình 192 cùng hàng song song.)
图 L1F192
图 L1F192
Tiếp theo hình 191: tư thế chân trái hướng sang trái sau nghịch triền triển khai lòng chưởng hướng ra ngoài, chân phải hướng tới trước bước theo trọng tâm tiền dịch cung chân phải chân phải biến thực, tay phải thuận triền theo đà trọng tâm tiền dịch tiền thác, tay trái nghịch triền hướng tới sau ngoại xanh, cao ngang vai lòng chưởng xiên hướng sau xuống.
图 L1F193
图 L1F193
Tiếp theo hình 192: tư thế thân thể chuyển sang trái, chưởng phải khuất chửu chuyển cánh tay thuận triền đến trước mặt, chưởng trái chuyển cánh tay hơi khuất chửu nghịch triền hướng sang trái xuống án, trọng tâm vẫn ở chân phải.

Động tác một: Tay trái nghịch triền chuyển cánh tay, qua trước ngực mà lên hướng lên trái lật chuyển, lòng chưởng hướng sang trái; tay phải thuận triền chuyển cánh tay, từ bên phải mà xuống, khuất chửu hướng lên phải thác, lòng chưởng xiên hướng vào trong trên, hai tay tại bên trái trên dưới hợp trụ kình; trọng tâm vẫn ở chân trái. (Hình 191) Thân hơi hạ tấn, chân phải hơi hướng tới trước, mũi chân lìa đất nâng lên. Đồng thời, chưởng trái hướng sang trái sau · 150 · Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái; đồng thời, chưởng phải khuất chửu chuyển cánh tay thuận triền đến trước mặt, chưởng trái chuyển cánh tay hơi khuất chửu nghịch triền hướng sang trái xuống án; trọng tâm vẫn ở chân phải. (Hình 194) Lấy gót chân phải làm trục, mũi chân xoay ra ngoài, thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền hướng lên phải lật, ngoại triển, lòng chưởng hướng tới trước xuống; chưởng trái theo đà chuyển thân hướng tới trước vạch cung. (Hình 195) Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, mũi chân phải tiếp tục xoay ra ngoài, trọng tâm toàn bộ dịch vào chân phải, chân trái hướng tới trước nâng lên. Đồng thời, chưởng phải theo đà chuyển thân lấy nghịch triền hướng sang phải sau (đông) hình cung hoành triển; chưởng trái hơi rơi xuống, chuyển cánh tay khuất chửu hướng tới trước trên thác. (Hình 196) Chân trái hướng tới trước · 151 · bước, theo trọng tâm tiền dịch, cung chân trái, chân trái biến thực. Đồng thời, tay trái thuận triền theo đà trọng tâm tiền dịch tiền thác; tay phải nghịch triền hướng tới sau ngoại xanh, cao ngang vai, lòng chưởng xiên hướng sau xuống, hoàn thành Dã mã phân tông thứ hai. (Hình 197)

图 L1F194
图 L1F194
Dã mã phân tông động tác hai đoạn đầu: tư thế lấy gót chân phải làm trục mũi chân xoay ra ngoài thân thể chuyển sang phải, chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền hướng lên phải lật ngoại triển lòng chưởng hướng tới trước xuống, chưởng trái theo đà chuyển thân hướng tới trước vạch cung.
图 L1F195
图 L1F195
Tiếp theo hình 194: tư thế thân thể tiếp tục chuyển sang phải mũi chân phải tiếp tục xoay ra ngoài, trọng tâm toàn bộ dịch vào chân phải, chân trái hướng tới trước nâng lên, chưởng phải theo đà chuyển thân lấy nghịch triền hướng sang phải sau (đông) hình cung hoành triển, chưởng trái hơi rơi xuống chuyển cánh tay khuất chửu hướng tới trước trên thác, chân trái hướng tới trước bước.
图 L1F196
图 L1F196
Tiếp theo hình 195: tư thế chân trái hướng tới trước bước theo trọng tâm tiền dịch cung chân trái chân trái biến thực, tay trái thuận triền theo đà trọng tâm tiền dịch tiền thác, tay phải nghịch triền hướng tới sau ngoại xanh cao ngang vai lòng chưởng xiên hướng sau xuống, hoàn thành Dã mã phân tông thứ hai.
图 L1F197
图 L1F197
Dã mã phân tông động tác ba: tư thế thân thể chuyển sang phải, trọng tâm hơi dịch sang trái, chân trái càng cung về trước, chưởng trái theo đà chuyển thân lấy nghịch triền lật chưởng hướng sang trái trước án ra, chưởng phải nghịch triền từ bên phải hình cung thu đến trước ngực.

Động tác ba: Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm hơi dịch sang trái, chân trái càng cung về trước; đồng thời, chưởng trái theo đà chuyển thân lấy nghịch triền lật chưởng hướng sang trái trước án ra, chưởng phải nghịch triền từ bên phải hình cung thu đến trước ngực. (Hình 198) Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải. Đồng thời, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, qua trước ngực hữu án; chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, hướng sang phải triển khai, lòng chưởng hướng sang phải. (Hình 199) Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, · 152 · chưởng phải thuận triền rơi xuống đến trước bụng phải, lòng chưởng hướng sang trái trước; chưởng trái qua trước ngực mà xuống, nghịch triền khuất chửu hướng sang trái nâng lên đến cao ngang vai, lòng chưởng hướng sang trái. (Hình 200) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải; đồng thời, chưởng trái thuận triền, từ bên trái mà xuống triền đến trước bụng, chưởng phải hướng sang phải nghịch triền đến cao ngang bụng, lưng lòng chưởng xiên hướng sang phải sau xuống. (Hình 201) Thân thể chuyển sang trái, mũi chân trái xoay ra ngoài, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, chưởng trái thuận triền khuất chửu, oản, qua trước ngực hướng sang trái hình cung lật ra, lòng chưởng lật hướng vào trong trên; chưởng phải từ bên phải qua trước mặt hướng sang trái nghịch triền duỗi ra, lòng chưởng nghiêng hướng tới trước xuống. (Hình 202)

图 L1F198
图 L1F198
Dã mã phân tông động tác ba: tư thế thân thể chuyển sang phải, trọng tâm hơi dịch sang trái, chân trái càng cung về trước, chưởng trái theo đà chuyển thân lấy nghịch triền lật chưởng hướng sang trái trước án ra, chưởng phải nghịch triền từ bên phải hình cung thu đến trước ngực.
图 L1F199
图 L1F199
Tiếp theo hình 198: tư thế thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải cung chân phải, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền qua trước ngực hữu án, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền hướng sang phải triển khai lòng chưởng hướng sang phải.
图 L1F200
图 L1F200
Tiếp theo hình 199: tư thế thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái cung chân trái, chưởng phải thuận triền rơi xuống đến trước bụng phải lòng chưởng hướng sang trái trước, chưởng trái qua trước ngực mà xuống nghịch triền khuất chửu hướng sang trái nâng lên đến cao ngang vai lòng chưởng hướng sang trái.
图 L1F201
图 L1F201
Tiếp theo hình 200: tư thế thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải cung chân phải, chưởng trái thuận triền từ bên trái mà xuống triền đến trước bụng, chưởng phải hướng sang phải nghịch triền đến cao ngang bụng, lưng lòng chưởng xiên hướng sang phải sau xuống.
图 L1F202
图 L1F202
Tiếp theo hình 201: tư thế thân thể chuyển sang trái, mũi chân trái xoay ra ngoài, trọng tâm dịch sang trái cung chân trái, chưởng trái thuận triền khuất chửu oản qua trước ngực hướng sang trái hình cung lật ra lòng chưởng lật hướng vào trong trên, chưởng phải từ bên phải qua trước mặt hướng sang trái nghịch triền duỗi ra lòng chưởng nghiêng hướng tới trước xuống.

· 153 ·

Yếu lĩnh:

1. Dã mã phân tông là một đại phô thân pháp khiến khí đạt đến tứ sào, như ngựa hoang không chịu trói buộc mà phi nước đại vậy. Yêu cầu duy nhất của thức này là da và cơ thịt hai bên chuỗi xương sống từ dưới cằm đến lưng phải có ý song phân khai kình, như ngựa giũ bờm; vì ở bộ vị này của thân thể là "bạt trường dễ dàng phân khai khó", động tác biên độ nhỏ, khó mà đem nó phân khai, cho nên phải trái phải lặp đi lặp lại luyện tập.

2. Thức này dễ biểu hiện ra thuận nghịch đại triền ty kình nhất. Nó trong yêu cầu lập thân trung chính an thư, chi xanh bát diện, tất cả động tác đều phải tương đối biểu hiện ra Thái Cực lục triền ty kình; hai tay là thử thượng bỉ hạ, thử hạ bỉ thượng, thử lý bỉ ngoại, thử ngoại bỉ lý, thử thuận bỉ nghịch, thử nghịch bỉ thuận, khai trung ngụ hợp, hợp trung ngụ khai mà chuyển động. Cho nên, nó rất có thể làm một ví dụ đại biểu cho Thái Cực lục triền ty kình.

3. Thái Cực Quyền yêu cầu tất cả động tác, đều do eo sống lưng làm chủ tể mà vận động, cho nên khí thiếp tích bối (khí dán vào sau lưng) là hạch tâm của vận động. Nhưng đối với bối tích (như bảy đốt xương sống vùng cổ), là bộ vị khó nhất phân khai và nhu động nó, vì thế thức quyền này, chính là để phù hợp yêu cầu này mà được liệt vào quyền sáo.

Thức thứ năm mươi mốt — Lục phong tứ bế

Động tác giống với động tác hai của thức thứ hai mươi chín "Lục phong tứ bế". (Hình 203, tiếp hình 19—20)

Yếu lĩnh:

Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".

Thức thứ năm mươi hai — Đan tiên

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21—26)

图 L1F203
图 L1F203
Lục phong tứ bế động tác hai: tư thế động tác hai như biểu hiện ở thức thứ hai mươi chín "Lục phong tứ bế" (tham khảo hình 19—20).

· 154 ·

Thức thứ năm mươi ba — Song bãi cước (hai chân bày)

Động tác một: Thân thể chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, chân phải hơi duỗi chớ thẳng. Theo lúc chuyển thân, câu thủ phải biến thành chưởng thuận triền, từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến trước sườn trái (chú ý nội kình không mất, không biển), lòng chưởng hướng sang trái; tay trái thuận triền hướng sang trái duỗi ra, lòng chưởng hướng xuống. (Hình 204) Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải, chân trái duỗi mà chớ thẳng. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, từ trước sườn trái mà lên qua trước mặt hướng sang phải triển khai, lòng chưởng hướng tới trước; chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền, theo đà chuyển thân khuất chửu hơi nâng, lòng chưởng hướng lên. (Hình 205)

图 L1F204
图 L1F204
Song bãi cước động tác một đoạn đầu: tư thế thân thể chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái cung chân trái chân phải hơi duỗi chớ thẳng, câu thủ phải biến thành chưởng thuận triền từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến trước sườn trái (nội kình không mất không biển) lòng chưởng hướng sang trái, tay trái thuận triền hướng sang trái duỗi ra lòng chưởng hướng xuống.
图 L1F205
图 L1F205
Tiếp theo hình 204: tư thế thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải cung chân phải chân trái duỗi mà chớ thẳng, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền từ trước sườn trái mà lên qua trước mặt hướng sang phải triển khai lòng chưởng hướng tới trước, chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền theo đà chuyển thân khuất chửu hơi nâng lòng chưởng hướng lên.

Động tác hai: Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, mũi chân trái khấu vào trong, trọng tâm hướng về sau dịch vào chân trái, chân phải hơi thu vào trong, lấy mũi chân điểm đất. Đồng thời, chưởng trái từ bên trái qua trước mặt nghịch triền rơi xuống đến trên khuỷu tay phải; chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền, từ bên phải mà xuống hướng tới trước trên liêu đến trước ngực. (Hình 206) Hai tay tại trước ngực nghịch triền, lấy triền ty kình dẫn khởi toàn thân, nâng lên chân phải, chân trái đạp đất nhảy lên. (Hình 207—208) Hai chân trái trước phải sau rơi xuống (cho nên lại tên Song lạc cước), đạp đất chấn cước, trái nặng phải nhẹ; hai chưởng theo lúc chấn cước hạ án, lòng chưởng lật hướng xuống. (Hình 209)

Yếu lĩnh:

· 155 · 1. Nội hợp của hình 207 là súc kình, khiến tính đàn hồi của bồng kình nơi thân chi tăng mạnh, phải lấy lĩnh kình của hai cánh tay hơi mở mà hợp và thượng đàn kình của chân trái, mượn đà lĩnh thân chi một cái mà nhảy lên, sau đó tự nhiên lần lượt rơi xuống.

2. Tác dụng của chấn cước đã thấy ở yếu lĩnh 3 của thức thứ hai "Kim cang đảo đối". Ngoài ra, trong xã hội cũ, nếu có người bị người ta lấy các thủ pháp "tiết nã trảo bế" v.v. làm bị thương đến hôn mê hoặc ngây dại, để khôi phục bình thường, thường là đem thân thể người bệnh dựng thẳng nhấc lên, hướng xuống đất đảo một cái, do chấn động, có thể khiến tuần hoàn ở một bộ phận nào đó khôi phục lại.

图 L1F206
图 L1F206
Song bãi cước động tác hai đoạn đầu: tư thế thân thể tiếp tục chuyển sang phải, mũi chân trái khấu vào trong, trọng tâm hướng về sau dịch vào chân trái, chân phải hơi thu vào trong lấy mũi chân điểm đất, chưởng trái từ bên trái qua trước mặt nghịch triền rơi xuống đến trên khuỷu tay phải, chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền từ bên phải mà xuống hướng tới trước trên liêu đến trước ngực.
图 L1F207
图 L1F207
Tiếp theo hình 206: một trong các tư thế hai tay tại trước ngực nghịch triền lấy triền ty kình dẫn khởi toàn thân nâng lên chân phải, chân trái đạp đất nhảy lên.
图 L1F208
图 L1F208
Tiếp theo hình 206: tư thế thứ hai thân thể nhảy lên đằng không, chân phải nâng lên.
图 L1F209
图 L1F209
Song bãi cước động tác hai đoạn cuối: tư thế hai chân trái trước phải sau rơi xuống (lại tên Song lạc cước), đạp đất chấn cước trái nặng phải nhẹ, hai chưởng theo lúc chấn cước hạ án lòng chưởng lật hướng xuống.

· 156 ·

Thức thứ năm mươi bốn — Ngọc nữ xuyên sác (ngọc nữ luồn thoi)

Động tác một: Chân phải hơi nâng, tay phải hơi nhấc, tay trái tại trước ngực phối hợp hợp trụ kình (tư thế giống hình 206). Chân phải hướng tới trước dược tiến nửa bước; đồng thời, chưởng phải hướng tới trước bình thôi phát kình, và dẫn dắt chân trái hướng tới trước dược tiến một bước lớn, thân thể theo đó chuyển sang phải, chưởng trái cũng theo đó tiền thôi (hình thành quá trình hai chân đằng không, như hình 210; nếu già yếu có thể không làm động tác quá trình đằng không, như hình phụ 210) thân thể lăng không tiếp tục hướng sang phải sau chuyển 270 độ, chân trái rơi xuống đất, tiếp theo chân phải cũng theo đà chuyển thân hướng sang phải hoành hành lạc bộ; đồng thời, hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, tay phải hướng lên phải, tay trái hướng xuống trái hướng biệt triển khai, hình thành khai kình. (Hình 211)

图 L1F210
图 L1F210
Ngọc nữ xuyên sác động tác một đoạn đầu: tư thế quá trình chân phải hướng tới trước dược tiến nửa bước, chưởng phải hướng tới trước bình thôi phát kình và dẫn dắt chân trái hướng tới trước dược tiến một bước lớn, thân thể theo đó chuyển sang phải hai chân đằng không.
图 L1F210附图
图 L1F210附图
Tư thế cách luyện giản lược của cùng động tác như hình 210 (già yếu không làm quá trình đằng không).
图 L1F211
图 L1F211
Tiếp theo hình 210: tư thế thân thể lăng không tiếp tục hướng sang phải sau chuyển 270 độ, chân trái rơi xuống đất tiếp theo chân phải cũng theo đà chuyển thân hướng sang phải hoành hành lạc bộ, hai tay hữu thuận tả nghịch triền, tay phải hướng lên phải tay trái hướng xuống trái hướng biệt triển khai hình thành khai kình.
图 L1F212
图 L1F212
Ngọc nữ xuyên sác động tác hai: tư thế thân thể chuyển sang trái chính (hướng nam), gối trái hơi khuất, hai chưởng lấy thuận triền mà hợp, lấy nghịch triền phân khai, phải trên trái dưới.

· 157 · Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái chính (hướng nam), gối trái hơi khuất; hai chưởng lấy thuận triền mà hợp, lấy nghịch triền phân khai, phải trên trái dưới. (Hình 212)

Yếu lĩnh:

1. Thức này do hai động tác liên hợp thành một động tác, yếu điểm của nó ở chỗ tiếp liền ba bước, tức là chân phải tiền dược nửa bước, chân trái tiền khiêu một bước lớn và chân phải lại hoành lạc một bước. Ba bước này phải tiếp liền hoàn thành. Như thoi trên máy dệt trong hai lớp sợi rất nhanh chóng xuyên qua vậy, đây là xuyên sác kình đúng với tên gọi, khác với động tác trong quyền thức Ngọc nữ xuyên sác sau này phát triển thành xuyên sác hướng bốn góc lật chuyển.

2. Thức này như một loại tam cấp khiêu viễn đặc thù, là trong ba bước nhảy dùng xoay chuyển thân thể mà hoàn thành; về mặt kỹ kích mà nói, nó thích dụng để xuyên ra khỏi vòng vây, là trong tư thế diệc công diệc thủ mà xuyên ra.

3. Nếu sân vận động nhỏ, hoặc già yếu, hoặc muốn giảm nhỏ lượng vận động, đều có thể bỏ đi động tác đằng không khiêu dược, đổi thành phương pháp luyện tập chuyển thân thượng bộ.

Thức thứ năm mươi lăm — Lãn trát y (lười buộc áo)

Động tác một: Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, chân phải nâng về, mũi chân một khi điểm bên cạnh chân trái rồi, tức lấy gót chân hướng sang phải thiếp đất lật ra; đồng thời hai tay vạch cung, do đại khai chuyển thành song thuận triền đại hợp. (Tiếp hình 12)

Động tác hai giống với động tác hai của thức thứ ba "Lãn trát y". (Tiếp hình 13—14)

Yếu lĩnh:

Giống với yếu lĩnh của thức thứ ba "Lãn trát y" trước.

Thức thứ năm mươi sáu — Lục phong tứ bế

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Hình 15—20)

Thức thứ năm mươi bảy — Đan tiên

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21—25, sau tiếp hình 113)

· 158 ·

Thức thứ năm mươi tám — Vận thủ (vận tay)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi mốt "Vận thủ". (Hình 114—119)

Thức thứ năm mươi chín — Bãi cước điệt xoa (bày chân ngã xoạc)

Động tác một: Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang trái, gối trái cung ra; đồng thời hai chưởng tương hệ lấy hữu nghịch, tả thuận triền mà hướng sang phải bình dịch đến bên phải thân thể, cao ngang vai, lòng chưởng đều hướng sang phải. (Hình 213) Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân thể đứng lên, chân phải nâng lên, từ bên trái mà lên qua trước ngực mà lên hướng sang phải hoành bãi; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền, từ bên vai phải hướng sang trái, chưởng trái trước, chưởng phải sau hoành hành nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài, liên tục kích hưởng hai tiếng, hai lòng chưởng đều hướng sang trái. (Hình 214)

图 L1F213
图 L1F213
Bãi cước điệt xoa động tác một đoạn đầu: tư thế thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang trái, gối trái cung ra, hai chưởng tương hệ lấy hữu nghịch tả thuận triền mà hướng sang phải bình dịch đến bên phải thân thể, cao ngang vai lòng chưởng đều hướng sang phải.
图 L1F214
图 L1F214
Tiếp theo hình 213: tư thế trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân thể đứng lên, chân phải nâng lên từ bên trái mà lên qua trước ngực hướng sang phải hoành bãi, hai chưởng tả nghịch hữu thuận triền từ bên vai phải hướng sang trái, chưởng trái trước chưởng phải sau hoành hành nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài, liên tục kích hưởng hai tiếng, hai lòng chưởng đều hướng sang trái.
图 L1F215
图 L1F215
Bãi cước điệt xoa động tác hai đoạn đầu: tư thế hai chưởng phách mu bàn chân rồi biến thành quyền, tay trái lý nội nghịch triền từ bên trái mà xuống qua trước ngực hướng sang phải vạch cung, tay phải ngoại thuận triền rơi xuống trước bụng, hai cánh tay hợp kình giao chéo trước ngực, quyền trái điệp trên cánh tay phải; chân phải hoành bãi rồi từ bên phải rơi xuống bên cạnh chân trái đạp đất chấn cước, toàn thân khí hướng xuống trầm, gót chân trái hơi nâng lên.

Động tác hai: Hai chưởng phách mu bàn chân rồi biến thành quyền, tay trái lý nội nghịch triền từ bên trái mà xuống qua trước ngực hướng sang phải vạch cung, tay phải ngoại thuận triền rơi xuống trước bụng, hai cánh tay hợp kình giao chéo trước ngực, quyền trái điệp trên cánh tay phải; chân phải hoành bãi rồi, từ bên phải rơi xuống, bên cạnh chân trái đạp đất chấn cước, toàn thân khí hướng xuống trầm, gót chân trái hơi nâng lên. (Hình 215) Chân phải khuất gối hạ tấn, mũi chân trái kiều lên, lấy gót chân thiếp đất hướng sang trái sản xuất, gối phải khấu vào trong, tùng khoá, hợp đương hạ trầm, mông, bên trong gối phải và phía sau chân trái cùng nhau thiếp đất. Cùng · 159 · lúc, quyền phải qua trước mặt mà lên hướng sang phải hình cung giơ lên, lòng quyền xiên hướng lên phải; quyền trái qua bên trong cánh tay phải mà xuống theo chân trái sản xuất tiền duỗi, lòng quyền hướng lên. (Hình 216) Thân thể hướng tới trước mà lên, đặng chân phải, cung chân trái, thành tả cung bộ. Đồng thời, quyền trái lấy mặt quyền hướng tới trước trên xung khởi, lòng quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống bên hông phải. (Hình 217)

图 L1F216
图 L1F216
Bãi cước điệt xoa động tác hai đoạn sau: tư thế chân phải khuất gối hạ tấn, mũi chân trái kiều lên lấy gót chân thiếp đất hướng sang trái sản xuất, gối phải khấu vào trong tùng khoá hợp đương hạ trầm, mông bên trong gối phải và phía sau chân trái cùng nhau thiếp đất; quyền phải qua trước mặt mà lên hướng sang phải hình cung giơ lên lòng quyền xiên hướng lên phải, quyền trái qua bên trong cánh tay phải mà xuống theo chân trái sản xuất tiền duỗi lòng quyền hướng lên.
图 L1F217
图 L1F217
Bãi cước điệt xoa động tác hai đoạn cuối: tư thế thân thể hướng tới trước mà lên, đặng chân phải cung chân trái thành tả cung bộ, quyền trái lấy mặt quyền hướng tới trước trên xung khởi lòng quyền hướng vào trong, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống bên hông phải.

Yếu lĩnh:

1. Thức này phân thành hai giai đoạn bãi cước và điệt xoa; trong giai đoạn bãi cước, khi bãi cước nhìn như hai tay đi phách chân, kỳ thực phải tay và chân tương hỗ nghênh kích, chân phải ngoại bãi rơi xuống thì thân thể vẫn phải trung chính, khi chấn cước phải hạ trầm kình chỉnh; trong giai đoạn điệt xoa, nói về tác dụng kỹ kích của nó, là dự phòng bất thận ngã đảo, có thể lợi dụng mông hạ trầm trước đất bật lên, tức lấy sau cước xanh khởi và tả quyền thượng xung (hai cái phải đồng thời, nhất trí địa động tác), đằng nhiên nhi khởi, đạt được hiệu quả bại trung thủ thắng.

2. Thức này khá khó làm, đối với người từ nhỏ đã học, vẫn là dễ làm được. Để thích hợp với các đối tượng khác nhau như già yếu, thích hợp luyện tập trên nền xi măng hoặc mặc quần âu, thức này cũng có thể đổi thành "Bãi cước hạ thế", tức là sau khi bãi cước, đem một cái ngã trong giai đoạn sau hủy bỏ, đổi thành chân phải khuất gối hạ tấn, chân trái hướng · 160 · bộc bộ tiền phác do, tiếp làm động tác của hình 218 phía sau.

Thức thứ sáu mươi — Tả hữu kim kê độc lập (gà vàng độc lập trái phải)

Động tác một: Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân hơi chuyển sang trái, chân trái đứng lên, gối trái hơi khuất, chân phải nâng lên, mu bàn chân phải căng phẳng, mũi chân hướng xuống. Đồng thời, hai quyền thuận triền, quyền trái từ bên trái trước mà xuống, quyền phải từ bên phải sau hướng tới trước mà lên, hai quyền tại trước ngực giao chéo mà qua; theo lúc chân phải sắp nâng lên, hai quyền biến thành chưởng, tay phải thuận triền từ trước ngực phải thượng thác, tay trái nghịch triền hạ án (như hình 222, chỉ trái phải tương phản); theo lúc chân phải nâng lên, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái nghịch triền triển khai, thành tả thức Kim kê độc lập. (Hình 218)

图 L1F218
图 L1F218
Tả hữu kim kê độc lập động tác một: tư thế trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân hơi chuyển sang trái chân trái đứng lên gối trái hơi khuất, chân phải nâng lên mu bàn chân phải căng phẳng; đồng thời hai quyền thuận triền quyền trái từ bên trái trước mà xuống quyền phải từ bên phải sau hướng tới trước mà lên hai quyền tại trước ngực giao chéo mà qua; theo chân phải sắp nâng lên hai quyền biến thành chưởng tay phải thuận triền từ trước ngực phải thượng thác tay trái nghịch triền hạ án; theo chân phải nâng lên chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái nghịch triền triển khai, thành tả thức Kim kê độc lập.
图 L1F219
图 L1F219
Tả hữu kim kê độc lập động tác hai: tư thế chân trái hơi khuất súc kình tức dược khởi hai chân đằng không, tức thì hai chân trái trước phải sau rơi xuống đạp đất chấn cước (trái nặng phải nhẹ, là Song lạc cước), hai gối hơi khuất; chưởng phải theo chân phải rơi xuống đồng thời hạ án đến trước hông phải, chưởng trái cũng hướng sang trái hông trước hạ án.

Động tác hai: Chân trái hơi khuất (súc kình), tức dược khởi, hai chân đằng không, tức thì hai chân trái trước, phải sau rơi xuống, đạp đất chấn cước (trái nặng phải nhẹ. Là Song lạc cước), hai gối hơi khuất; chưởng phải theo chân phải rơi xuống đồng thời hạ án đến trước hông phải, chưởng trái cũng hướng sang trái hông trước hạ án. (Hình 219) Thân hơi chuyển sang phải rồi chuyển sang trái, chân phải hướng sang phải (nam) hoành khai một bước lớn, chân trái khuất gối hạ tấn. Hai chưởng theo lúc thân hơi chuyển sang phải từ trên phải giơ lên, tức theo lúc khai hữu bộ và thân chuyển sang trái qua trước ngực hướng sang trái lấy tả nghịch, hữu thuận đại triền · 161 · đến ngang vai, lòng chưởng đều hướng sang trái. (Hình 220) Trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng sang phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời hai chưởng thuận triền, phân biệt rơi xuống bên hai hông. (Hình 221)

Động tác ba: Tiếp theo chân trái đạp thực, trọng tâm dịch sang trái, biến thành chân trái thực, tức lại đem trọng tâm dịch về chân phải, vẫn biến thành chân phải thực, gót chân trái vẫn lìa đất nâng lên. Đồng thời, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền khuất chửu thượng thác, chưởng phải nghịch triền tại bên phải phối hợp hạ án. (Hình 222) Tức thì chân trái nâng lên, theo chưởng trái hướng lên trái, chưởng phải hướng xuống phải đều lấy nghịch triền triển khai, thành hữu thức Kim kê độc lập. (Hình 223)

图 L1F220
图 L1F220
Kim kê độc lập: tư thế thân hơi chuyển sang phải rồi chuyển sang trái, chân phải hướng sang phải (nam) hoành khai một bước lớn chân trái khuất gối hạ tấn, hai chưởng theo khai hữu bộ và thân chuyển sang trái qua trước ngực hướng sang trái lấy tả nghịch hữu thuận đại triền đến ngang vai, lòng chưởng đều hướng sang trái.
图 L1F221
图 L1F221
Tiếp theo hình 220: tư thế trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng sang phải thu sát lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải thành chân phải thực chân trái hư, hai chưởng thuận triền phân biệt rơi xuống bên hai hông.
图 L1F222
图 L1F222
Tiếp theo hình 221: tư thế chân trái đạp thực trọng tâm dịch sang trái biến thành chân trái thực, lại đem trọng tâm dịch về chân phải vẫn biến thành chân phải thực gót chân trái vẫn lìa đất nâng lên, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền khuất chửu thượng thác, chưởng phải nghịch triền tại bên phải phối hợp hạ án.
图 L1F223
图 L1F223
Tiếp theo hình 222: tư thế chân trái nâng lên, theo chưởng trái hướng lên trái chưởng phải hướng xuống phải đều lấy nghịch triền triển khai, thành hữu thức Kim kê độc lập.

· 162 · Yếu lĩnh:

1. Sau khi thức trước điệt xoa bật lên (hình 218), tức là chuẩn bị tốt cho thức này. Then chốt làm tốt độc lập, ở chỗ mu bàn chân của chân nâng lên phải căng phẳng, mũi chân cố sức hướng xuống, để giảm nhẹ trọng lượng đòn treo của chân; và lấy hai cánh tay trên dưới trái phải phân triển, đối lạp để giữ thăng bằng, như thế có thể khiến thân thể đạt được ổn định.

2. Trong khoảng từ Kim kê độc lập thứ nhất quá độ đến Kim kê độc lập thứ hai có bốn vòng, để cầu được ổn định trong quá trình hoán vị, rồi sau mới làm Kim kê độc lập thứ hai, như thế, độc lập thứ hai có thể súc nhi hậu phát địa thượng hạ nhất tề phát kình, hiển xuất toàn thân bồng ý bột phát ra ngoài.

3. Bất luận thức trước điệt xoa rơi xuống đất hoặc đổi thành hạ thế không rơi xuống, đều là do thấp nhất mà phấn khởi, đạt đến cao nhất đích độc lập quyền thức, có thể luyện tập tính đàn hồi của chân và đề kình của mông, đây là đặc điểm của thức này. Đồng thời, khi hình thành độc lập, đỉnh kình phải huyền khởi, tinh thần phải chấn tác, khiến khí biến thân khu, hình thành hình tượng "ý khí phong phát".

Thức thứ sáu mươi mốt — Đảo quyển quăng (lui bước cuốn cánh tay)

Động tác một: Chân phải khuất gối hạ tấn. Đồng thời, chưởng trái qua trước mặt nghịch triền mà xuống; chưởng phải từ bên phải mà lên do thuận triền chuyển thành nghịch triền, hình cung triền đến bên má phải, lòng chưởng xiên hướng sang trái trước. (Hình 224) Dưới đây giống với phần thuyết minh hình 87—88 trong động tác một của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng". (Tiếp hình 87—88, hình chính diện của hình phụ 87 và 88)

Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng". (Hình 89—91, lại tiếp hình chính diện của 88)

Yếu lĩnh:

图 L1F224
图 L1F224
Đảo quyển quăng động tác một: tư thế chân phải khuất gối hạ tấn, chưởng trái qua trước mặt nghịch triền mà xuống, chưởng phải từ bên phải mà lên do thuận triền chuyển thành nghịch triền hình cung triền đến bên má phải, lòng chưởng xiên hướng sang trái trước.

· 163 · Giống với yếu lĩnh của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng".

Thức thứ sáu mươi hai — Thoái bộ áp chửu (lui bước ép khuỷu)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi ba "Thoái bộ áp chửu". (Hình 92—95)

Thức thứ sáu mươi ba — Trung bàn (đĩa giữa)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi bốn "Trung bàn". (Hình 96—99)

Thức thứ sáu mươi bốn — Bạch hạc lượng sí (bạch hạc xòe cánh)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi lăm "Bạch hạc lượng sí". (Hình 100)

Thức thứ sáu mươi lăm — Tà hành ngạo bộ (bước xéo đi ngang)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi sáu "Tà hành ngạo bộ". (Tiếp hình 33—38)

Thức thứ sáu mươi sáu — Thiểm thông bối (lóe qua lưng)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi bảy "Thiểm thông bối". (Tiếp hình 101—106)

Thức thứ sáu mươi bảy — Yểm thủ quăng chùy

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi tám "Yểm thủ quăng chùy". (Hình 107—109, lại tiếp hình 52—54)

Thức thứ sáu mươi tám — Lục phong tứ bế

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi chín "Lục phong tứ bế". (Hình 110—112, tiếp hình 19—20)

Thức thứ sáu mươi chín — Đan tiên

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi "Đan tiên". (Hình 21—25, sau tiếp hình 113)

Thức thứ bảy mươi — Vận thủ

· 164 · Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi mốt "Vận thủ". (Hình 114—119)

Thức thứ bảy mươi mốt — Cao thám mã (dò ngựa cao)

Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi hai "Cao thám mã". (Hình 120—124)

Thức thứ bảy mươi hai — Thập tự bãi liên (bày sen chữ thập)

Động tác một: Tiếp sau khai thức của thức trước Cao thám mã, chân trái nâng về, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, vẫn là chân phải thực, chân trái hư; đồng thời, hai chưởng chuyển cánh tay tả nghịch, hữu thuận triền, chưởng trái từ bên trái mà lên hướng sang phải, chưởng phải từ bên phải mà xuống hướng sang trái vạch cung, hai tay lấy oản bộ giao chéo trước ngực. (Hình 225) Lấy gót chân phải làm trục, thân thể chuyển sang phải, vẫn lấy mũi chân trái điểm đất; đồng thời, hai tay nghịch triền, thu nhỏ giao chéo vòng, tay trái ở trong, hai tay hợp trụ kình. (Hình 226) Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn, chân trái nâng lên hướng sang trái (đông bắc) hoành mại một bước lớn, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái; đồng thời, hai tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, lòng chưởng đều hướng ra ngoài. (Hình 227)

图 L1F225
图 L1F225
Thập tự bãi liên động tác một đoạn đầu: tiếp sau khai thức Cao thám mã, chân trái nâng về lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải vẫn là chân phải thực chân trái hư; hai chưởng chuyển cánh tay tả nghịch hữu thuận triền, chưởng trái từ bên trái mà lên hướng sang phải, chưởng phải từ bên phải mà xuống hướng sang trái vạch cung, hai tay lấy oản bộ giao chéo trước ngực.
图 L1F226
图 L1F226
Tiếp theo hình 225: tư thế lấy gót chân phải làm trục thân thể chuyển sang phải vẫn lấy mũi chân trái điểm đất; hai tay nghịch triền thu nhỏ giao chéo vòng, tay trái ở trong, hai tay hợp trụ kình.
图 L1F227
图 L1F227
Tiếp theo hình 226: tư thế thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn, chân trái nâng lên hướng sang trái (đông bắc) hoành mại một bước lớn, trọng tâm dịch sang trái cung chân trái; hai tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, lòng chưởng đều hướng ra ngoài.

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm tiếp tục dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, hữu · 165 · chưởng chuyển cánh tay thuận triền, từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến dưới nách trái, lòng chưởng hướng sau xuống; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, khuất chửu khiến cẳng tay dựng thẳng, lòng chưởng hướng lên phải. (Hình 228) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng trái thuận triền, qua trước cổ hướng sang phải hợp trên cánh tay phải, lòng chưởng hướng xuống; tay phải tại dưới nách trái thuận triền, khiến lòng chưởng chuyển hướng xuống. Trọng tâm đồng thời càng dịch sang trái. (Hình 229)

图 L1F228
图 L1F228
Thập tự bãi liên động tác hai đoạn đầu: chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến dưới nách trái lòng chưởng hướng sau xuống, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền khuất chửu khiến cẳng tay dựng thẳng lòng chưởng hướng lên phải.
图 L1F229
图 L1F229
Tiếp theo hình 228: tư thế thân hơi chuyển sang phải, chưởng trái thuận triền qua trước cổ hướng sang phải hợp trên cánh tay phải lòng chưởng hướng xuống, tay phải tại dưới nách trái thuận triền khiến lòng chưởng chuyển hướng xuống, trọng tâm đồng thời càng dịch sang trái.
图 L1F230
图 L1F230
Thập tự bãi liên động tác ba đoạn đầu: chân phải nâng lên từ bên trái trước mà lên hướng sang phải ngoại bãi nửa vòng, đồng thời chưởng trái nghịch triền hướng sang trái nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài.
图 L1F231
图 L1F231
Tiếp theo hình 230: tư thế lấy gót chân trái làm trục thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải khuất gối nâng lên.

Động tác ba: Chân phải nâng lên, từ bên trái trước mà lên hướng sang phải ngoại bãi nửa vòng; đồng thời chưởng trái nghịch triền hướng sang trái nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài. (Hình 230) Lấy gót chân trái làm trục, thân · 166 · thân chuyển sang phải (tây); đồng thời hai chưởng biến thành quyền, tả nghịch, hữu thuận triền, quyền phải qua trước ngực rồi sang phải xuống dưới, quyền trái chuyển cánh tay khuất chửu từ trái lên trên, nhất tề phát kình; quyền phải cao ngang hông, tâm quyền hướng lên, quyền trái cao hơn đầu một chút, tâm quyền hướng phải. (Hình 231)

Yếu điểm:

1. Thức này là từ khẩn hợp đến đại khai, lúc này yêu cầu khí thế hạ trầm; khi chuyển sang trái hai hông phải tương liên, là trong hợp ngụ khai; sau đó lại khai, là trong khai ngụ hợp.

2. Do chưởng trái giao thoa đập vào mặt ngoài bàn chân phải, cho nên gọi là Thập tự bãi liên. Sau khi đập lấy quyền trái thượng cử, quyền phải hạ phiên đồng thời phát kình, lấy sự phối hợp phát kình này để đạt được ổn định sau khi chuyển thân.

3. Khi làm động tác Thập tự bãi liên, thường thấy thoải mái và sau lưng nóng lên, đây là hiện tượng thúc đẩy khí biến khắp thân thể.

Thức thứ 73 Chỉ đang chùy
图 L1F232甲
图 L1F232甲
Chỉ đang chùy động tác một: tư thế chân trái hơi nhảy lên sang trái, chân phải rơi xuống chỗ chân trái đã đạp đặng địa chấn cước, thân chuyển sang phải, chân trái bước chéo sang phía trước trái (tây nam) trọng tâm dần dịch sang trái; theo chân phải rơi xuống chấn cước tay trái chuyển cánh tay thuận triền đến bên phải ngực, quyền phải thuận triền từ phải lên trên rồi sang trái rơi trên tiểu tí trái (chính diện).
图 L1F232乙
图 L1F232乙
Tiếp theo hình 232甲: một góc nhìn khác của cùng động tác, quyền phải thuận triền rơi trên tiểu tí trái, trọng tâm dần dịch sang trái.

Động tác một: Chân trái hơi nhảy lên sang trái, chân phải rơi xuống chỗ chân trái đã đạp, đặng địa chấn cước; thân chuyển sang phải, chân trái bước chéo sang phía trước trái (tây nam), trọng tâm dần dần dịch sang trái. Theo chân phải rơi xuống chấn cước, tay trái chuyển cánh tay thuận triền đến bên phải ngực; quyền phải thuận triền từ phải lên trên rồi sang trái rơi trên tiểu tí trái; theo chân trái bước ra, quyền trái · 167 · theo thân chuyển nghịch triền từ trước ngực rồi sang phải vén lên, khuất chửu dựng tiểu tí lên, lấy tiểu tí đẩy nhẹ ra trước, tâm quyền hướng phải; quyền phải thuận triền phiên đến bên hông phải, tâm quyền hướng trước.

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang phải. Quyền trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống trước ngực; quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền từ phải lên trên, qua bên tai phải rơi xuống trước ngực ở phía trong cánh tay trái, hai tay hợp trụ kình. (Hình 233, hình này biểu thị mặt bên, kỳ thực hai chân vẫn ở chỗ cũ như chỗ hai chân đạp trong hình 233 không động) Thân chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, quyền trái chuyển cánh tay thuận triền thu hồi vòng về dưới sườn trái, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền đánh ra phía trước trái dưới phát kình. (Hình 234, kèm hình mặt bên của hình 234)

Yếu điểm:

1. Thức này phải chú trọng đặc biệt đến súc kình. Khi hai quyền hợp trụ kình trước ngực, hai hông phải đại khai, viên đang và khí dán vào sau lưng. Ở tư thế này, cũng dễ nhất kiểm tra ra năm cây cung — cung hai tay, cung hai chân và cung sau lưng có vận hành đồng đều qua đang hay không, trên lưng năm cây cung có tăng cường tính đàn hồi hay không, tức là có cảm thấy hiện tượng căng chặt trên lưng năm cây cung hay không.

图 L1F233
图 L1F233
Đoạn trước của Chỉ đang chùy động tác hai: tư thế thân hơi chuyển sang phải, quyền trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống trước ngực, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền từ phải lên trên qua bên tai phải rơi xuống trước ngực ở phía trong cánh tay trái, hai tay hợp trụ kình (hình là mặt bên, hai chân vẫn ở chỗ cũ không động).
图 L1F234
图 L1F234
Tiếp theo hình 233: tư thế thân chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái cung chân trái, quyền trái chuyển cánh tay thuận triền thu hồi vòng về dưới sườn trái tâm quyền hướng vào trong, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền đánh ra phía trước trái dưới phát kình.
图 L1F234附图
图 L1F234附图
Hình mặt bên của hình 234, biểu thị tư thế mặt bên quyền phải nghịch triền đánh ra phía trước trái dưới, quyền trái thu hồi về dưới sườn trái.

2. Thức này lại là một động tác luyện tập "hông đả", nguồn gốc động lực của nó ở tại · 168 · hông phải một phiên, mà đem kình của quyền phải phóng ra, chỉ vào trong đang của đối phương.

3. Khi thức này phát kình, bề ngoài là nghiêng lệch sang phải, tựa hồ hình dáng không chính, nhưng nội kình lúc phát kình ở tại lực thượng lĩnh của tay trái lĩnh ra sau, thuộc hư, mà tay phải chỉ đang trầm xuống là thực, chân phải lại là hư; do loại "thượng hạ tương tùy" này, bèn đem nội kình điều chỉnh cân bằng, mà đạt được trung chính; đây là trung chính chính xác, tuy hình dáng tựa hồ không chính, nhưng nội kình vẫn là trung chính bất thiên.

Thức thứ 74 Bạch viên hiến quả
图 L1F235
图 L1F235
Đoạn trước của Bạch viên hiến quả động tác một: tư thế thân hơi chuyển sang trái, quyền phải nghịch triền thu về trái ở bên hông trái, quyền trái nghịch triền trước sườn trái phối hợp vòng một vòng nhỏ, hai tay hợp trụ kình chớ biều.
图 L1F235附图
图 L1F235附图
Hình mặt bên của hình 235: góc nhìn mặt bên của cùng tư thế, quyền phải thu ở bên hông trái, quyền trái vòng trước sườn trái.
图 L1F236
图 L1F236
Tiếp theo hình 235: tư thế thân chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải rồi vẫn dịch về trái, hai tay nghịch triền từ trái ra trước dời đến trước ngực cao ngang ngực, theo trọng tâm dời về chân trái hai quyền chuyển thành lật trong ngoài hợp trụ kình.
图 L1F236附图
图 L1F236附图
Hình mặt bên của hình 236: biểu thị tư thế mặt bên hai tay nghịch triền dời đến trước ngực, trọng tâm dời về chân trái hai quyền lật trong ngoài hợp trụ kình.

Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, quyền phải nghịch triền thu về trái ở bên hông trái, quyền trái nghịch triền trước sườn trái, phối hợp vòng một vòng nhỏ, hai tay hợp trụ kình chớ biều. (Hình · 169 · 235, hình mặt bên của hình 235) Thân chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải rồi vẫn dịch về trái. Đồng thời, hai tay nghịch triền, từ trái ra trước dời đến trước ngực, cao ngang ngực; theo trọng tâm dời về chân trái, hai quyền chuyển thành lật trong ngoài giảo, hợp trụ kình. (Hình 236, hình mặt bên của hình 236)

Động tác hai: Lấy gót chân trái làm trục, thân chuyển sang trái, chân phải nâng lên, mu bàn chân phải căng phẳng, mũi chân hướng xuống. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền, từ phải xuống dưới theo chân phải nâng lên xoay chuyển thượng xung, cao ngang mắt, tâm quyền hướng vào trong; chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền một vòng thu đặt ở bên hông trái. (Hình 237)

Yếu điểm:

1. Thức này do "tả lý nghịch triền và hữu ngoại thuận triền" phải không lồi không lõm mà khiến thân thể bình xoay đi lên; hai tay chuyển thành thượng hạ nghịch thuận triền ty, đem quyền phải triền đến trước mặt, quyền trái triền đến ngang hông, phải không chút khuyết hãm mà hoàn thành, đây là trọng điểm của thức này.

2. Thức này phải nắm vững sự xoắn ốc thăng lên sau khi song hợp. Ngoài ra, tay trái đặt ở bên hông trái, phải làm được nghịch triền chính xác, phải từ ngoài trái triền trở về ngang hông, đây cũng là mấu chốt khiến chân trái trung chính lập vững.

Thức thứ 75 Lục phong tứ bế

Động tác: Thân thể hơi chuyển sang trái, chân phải bước ra phía trước phải; đồng thời hai quyền biến thành chưởng thuận triền phiên chưởng phân đặt bên hai tai, lòng chưởng nghiêng hướng ra ngoài. (Tiếp theo hình 19) Phần sau giống như phần sau của động tác hai thức thứ 4 "Lục phong tứ bế". (Hình 20)

Yếu điểm:

Xem yếu điểm của thức thứ 4 "Lục phong tứ bế".

图 L1F237
图 L1F237
Bạch viên hiến quả động tác hai: tư thế lấy gót chân trái làm trục thân chuyển sang trái, chân phải nâng lên mu bàn chân phải căng phẳng mũi chân hướng xuống; quyền phải chuyển cánh tay thuận triền từ phải xuống dưới theo chân phải nâng lên xoay chuyển thượng xung cao ngang mắt tâm quyền hướng vào trong, chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền một vòng thu đặt ở bên hông trái.

· 170 · Thức thứ bảy mươi sáu: Đơn tiên (Đơn roi / Single Whip) Động tác và yếu điểm đều giống với thức thứ năm "Đơn tiên". (Hình 21–26)

Thức thứ bảy mươi bảy: Tước địa long (Sẻ đất bay) Động tác một: Thân thể chuyển sang trái, chân trái cung phía trước. Đồng thời hai tay biến thành quyền nghịch triền, quyền phải từ phải mà xuống qua trước bụng hướng lên trái liêu lên, tâm quyền hướng lên; quyền trái hướng phải hợp vào phía trên cánh tay phải, tâm quyền hướng vào trong, hai tay hợp trụ kình. (Hình 238) Trọng tâm chuyển sang phải, thân hơi chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn; đồng thời, hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, quyền trái từ phía trong cánh tay phải hướng trái mà xuống, quyền phải từ phía ngoài cẳng tay trái hướng phải mà lên phân biệt triển khai, quyền trái duỗi đến trên gối trái, tâm quyền trái hướng lên phải, tâm quyền phải hướng lên phải. (Hình 239)

图 L1F238
图 L1F238
Tước địa long động tác một: tư thế thân thể chuyển sang trái, chân trái cung phía trước, đồng thời hai tay biến thành quyền nghịch triền, quyền phải từ phải mà xuống qua trước bụng hướng lên trái liêu lên, tâm quyền hướng lên, quyền trái hướng phải hợp vào phía trên cánh tay phải, tâm quyền hướng vào trong, hai tay hợp trụ kình.
图 L1F239
图 L1F239
Tiếp theo hình 238: tư thế trọng tâm chuyển sang phải, thân hơi chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn, đồng thời hai tay hữu thuận tả nghịch triền, quyền trái từ phía trong cánh tay phải hướng trái mà xuống, quyền phải từ phía ngoài cẳng tay trái hướng phải mà lên phân biệt triển khai, quyền trái duỗi đến trên gối trái, tâm quyền trái hướng lên phải, tâm quyền phải hướng lên phải.

Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, chân trái hạ trầm bộc thối (chân duỗi thấp), chân phải tiếp tục hạ tấn; quyền trái duỗi về trước đến phía trên mắt cá chân trái, tâm quyền hướng lên, quyền phải hơi hạ trầm; mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 240) Mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể hướng trước mà khởi, đạp chân phải, cung chân trái, thành tả cung bộ. Đồng thời, quyền trái lấy mặt quyền hướng lên trước xung khởi, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay thuận triền hạ lạc bên hông phải. (Hình 241)

Yếu điểm: 1. Thức này khác với Điệt xoa (ngã xoạc) ở chỗ chỉ là không ngã, là ở quyền phải chuyển cánh tay từ trên · 171 · Khi đá sang phải, chân phải phía sau không dán vào mặt đất, nhưng phải cố gắng hạ tấn, các bộ phận khác yêu cầu giống với Điệt xoa (ngã xoạc).

图 L1F240
图 L1F240
Tước địa long động tác hai: tư thế thân hơi chuyển sang trái, chân trái hạ trầm bộc thối, chân phải tiếp tục hạ tấn, quyền trái duỗi về trước đến phía trên mắt cá chân trái, tâm quyền hướng lên, quyền phải hơi hạ trầm, mắt nhìn thẳng phía trước.
图 L1F241
图 L1F241
Tiếp theo hình 240: tư thế mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể hướng trước mà khởi, đạp chân phải cung chân trái thành tả cung bộ, đồng thời quyền trái lấy mặt quyền hướng lên trước xung khởi, tâm quyền hướng vào trong, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền hạ lạc bên hông phải.

2. Thức này cũng như Điệt xoa, để thích hợp với các đối tượng khác nhau, có thể đổi thành chân trái bắp chân không dán đất, mà cố gắng làm đến thế hạ (hình 239). 3. Thức này trước tiên làm song hợp bồng kình (kình đỡ), bồng rồi phóng (lợi dụng ly tâm lực), phóng đến cực khai và cực thấp thì lại lợi dụng hướng tâm lực của hai tay lại hợp sau khi phóng, đem kình vận dụng lên quyền phải, nổi lên tác dụng lĩnh thân lên.

Thức thứ bảy mươi tám: Thượng bộ thất tinh (Bước lên bảy ngôi sao) Động tác: Mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể chuyển sang trái, trọng tâm hướng trước toàn bộ dời vào chân trái, chân phải tiến lên nửa bước, lấy mũi chân điểm đất. Theo thân thể chuyển sang trái đồng thời, quyền trái thuận triền lý hợp; quyền phải thuận triền, từ phải mà xuống theo chân phải thượng bộ hướng trước qua phía ngoài cổ tay trái xung khởi, hai quyền lấy cổ tay giao xoa, tâm quyền đều hướng vào trong. Theo chân phải thượng bộ lấy mũi chân điểm đất thì, hai quyền lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trên mà vào trong xuống dưới rồi về trước vòng một vòng nhỏ sau hướng trước biến chưởng hơi đĩnh. (Hình 242–243)

图 L1F242
图 L1F242
Thượng bộ thất tinh động tác: tư thế mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời vào chân trái, chân phải tiến lên nửa bước lấy mũi chân điểm đất, quyền trái thuận triền lý hợp, quyền phải thuận triền từ phải mà xuống theo chân phải thượng bộ hướng trước qua phía ngoài cổ tay trái xung khởi, hai quyền lấy cổ tay giao xoa, tâm quyền đều hướng vào trong.
图 L1F243
图 L1F243
Tiếp theo hình 242: tư thế theo chân phải thượng bộ lấy mũi chân điểm đất thì, hai quyền lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trên mà vào trong xuống dưới rồi về trước vòng một vòng nhỏ sau hướng trước biến chưởng hơi đĩnh.

Yếu điểm: 1. Mỗi thức quyền của Thái cực quyền, khi luyện tập đều yêu cầu "nhất động vô hữu bất động", · 172 · mà trong mỗi thức quyền lại tất có phần chủ yếu của vận động nó; thức này thì lấy cổ tay làm chủ, đối với cổ tay có sự huấn luyện tốt. Đương nhiên trong các thức quyền khác cổ tay cũng hoạt động, mà trong thức này các bộ phận khác cũng hoạt động, ở đây chỉ là nói bộ phận nào làm chủ mà thôi. 2. Do Thái cực quyền yêu cầu động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy, lại phải triêm niêm liên tùy, khử bỏ đính biển đâu kháng, cho nên cơ hội vận dụng cầm nã lẫn nhau khá nhiều; thức này là một loại chuyển pháp để giải thoát hai tay bị cầm nã.

Thức thứ bảy mươi chín: Thoái bộ khóa hổ (Lùi bước cưỡi hổ) Động tác một: Hai chưởng ở trước ngực vẫn lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trước mà xuống vào trong mà lên vẫn phiên uyển trở lại; đồng thời, theo hai chưởng phiên chuyển, theo lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải (nam), chân phải thoái hậu một bước. (Hình 244) Hai cánh tay hơi hợp, khẩn súc một cái giao xoa vòng sau chấn hai chưởng, tức hướng tả hữu hạ phương phân khai, tâm chưởng đều hướng xuống. (Hình 245)

图 L1F244
图 L1F244
Thoái bộ khóa hổ động tác một: tư thế hai chưởng ở trước ngực lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trước mà xuống vào trong mà lên phiên uyển trở lại, theo lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải (nam), chân phải thoái hậu một bước.
图 L1F245
图 L1F245
Tiếp theo hình 244: tư thế hai cánh tay hơi hợp, khẩn súc một cái giao xoa vòng sau chấn hai chưởng, tức hướng tả hữu hạ phương phân khai, tâm chưởng đều hướng xuống.

Động tác hai: Trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng chân phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải; đồng thời hai tay hữu nghịch, tả thuận triền, chưởng phải từ phải mà lên hướng trước mặt hoa hồ, chưởng trái từ trái mà lên hướng trước bụng hoa hồ, hai tay thượng hạ hợp trụ kình. (Hình 246) Thân hơi · 173 · hạ tấn; đồng thời, hai chưởng chuyển cánh tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, tâm chưởng phải xiên hướng lên phải, tâm chưởng trái xiên hướng xuống trái, thành khóa hổ thức. (Hình 247)

图 L1F246
图 L1F246
Thoái bộ khóa hổ động tác hai: tư thế trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng chân phải thu sát lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, đồng thời hai tay hữu nghịch tả thuận triền, chưởng phải từ phải mà lên hướng trước mặt hoa hồ, chưởng trái từ trái mà lên hướng trước bụng hoa hồ, hai tay thượng hạ hợp trụ kình.
图 L1F247
图 L1F247
Tiếp theo hình 246: tư thế thân hơi hạ tấn, đồng thời hai chưởng chuyển cánh tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, tâm chưởng phải xiên hướng lên phải, tâm chưởng trái xiên hướng xuống trái, thành khóa hổ thức.

Yếu điểm: 1. Thức quyền duy nhất liên tục thoái hậu trong bài quyền này là Đảo niện quăng (Đảo niện hồng), mà thức tiến một bước rồi tiếp theo thoái hậu một bước thì chỉ có Thoái bộ khóa hổ. Thức trước là thuận ứng yếu kình mà hướng trước thượng bộ, thức này vẫn là thuận ứng cấp kình mà thoái bộ. Đây là luyện pháp nhất tiến nhất thoái.

· 174 · 2. Thức trước hai cổ tay từ dưới mà vào trong về trước phiên, tự nhiên có bồng kình phát ra; thức này phiên trở lại một vòng sau đột nhiên chấn một cái, kình như thoát còng, sau đó song phân mà khai, đồng thời khí và đảng kình phải hạ trầm.

Thức thứ tám mươi: Chuyển thân song bãi liên (Xoay thân hai lần vỗ sen) Động tác một: Lấy gót chân phải làm trục, thân thể hướng hữu hậu chuyển 180 độ, chân trái nâng lên theo chuyển thân hướng hữu hậu bãi. Đồng thời, chưởng phải theo chuyển thể cũng bình toàn 180 độ, nghịch triền hoành chưởng ở hữu thượng phương, tâm chưởng hướng phải; chưởng trái thuận triền hướng hữu hậu hoành tảo đến trước chửu phải, tâm chưởng hướng phải. (Hình 248–249)

图 L1F248
图 L1F248
Chuyển thân song bãi liên động tác một: tư thế lấy gót chân phải làm trục, thân thể hướng hữu hậu chuyển 180 độ, chân trái nâng lên theo chuyển thân hướng hữu hậu bãi, đồng thời chưởng phải theo chuyển thể bình toàn 180 độ nghịch triền hoành chưởng ở hữu thượng phương, tâm chưởng hướng phải, chưởng trái thuận triền hướng hữu hậu hoành tảo đến trước chửu phải, tâm chưởng hướng phải.
图 L1F249
图 L1F249
Tiếp theo hình 248: đồng động tác thân thể hữu hậu chuyển, chưởng phải bình toàn hoành chưởng ở hữu thượng phương, chưởng trái thuận triền hữu hậu hoành tảo đến trước chửu phải.
图 L1F250
图 L1F250
Chuyển thân song bãi liên động tác hai: tư thế chân trái hướng trước (tây bắc) xiên phương lạc bộ, theo trọng tâm tả di, chân trái khuất gối hạ tấn, thân thể đồng thời hữu chuyển, đồng thời hai chưởng tả nghịch hữu thuận triền từ phải hơi hạ lạc.

Động tác hai: Chân trái hướng trước (tây bắc) xiên phương lạc bộ, theo trọng tâm tả di, chân trái khuất gối hạ tấn, thân thể đồng thời hữu chuyển; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền từ phải hơi hạ lạc. (Hình 250) Trọng tâm toàn bộ dời vào chân trái, thân thể khởi lập, chân phải nâng lên, từ trái mà lên qua trước ngực mà lên hướng phải hoành bãi; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền, từ phải hướng trái, chưởng trái trước, chưởng phải sau hoành hành nghênh phách mặt ngoài mu bàn chân phải, liên tục kích hưởng hai tiếng, hai tâm chưởng đều hướng trái. (Tiếp hình 214, duy phương hướng hơi dị, trong hình tư thế bộ phận ngực hướng nam, mà thức này ngực phải hướng đông bắc xiên phương)

Yếu điểm:

· 175 · 1. Phàm động tác chuyển thể mà một chân độc lập, một chân nâng lên, đều phải trong quá trình chuyển thể biểu hiện vừa ổn định lại vừa "nhất động vô hữu bất động". Then chốt ở chỗ hai cánh tay hợp rồi sau khai (hợp là song thuận triền, chuyển thành khai thì biến thành song nghịch triền), do khai kình đem thân thể dẫn chuyển qua, đây là do tác dụng cân bằng của song nghịch triền đối khai mà đạt được thân thể ổn định. 2. Ngoài ra, muốn đạt được ổn định, còn phải lập thân trung chính. Mà then chốt của trung lập, lại hệ ở đỉnh kình hư huyền; nếu đỉnh kình không hư hư huyền khởi, hơi có thiên ỷ, liền lập tức không thể ổn định, vì đầu bộ cư ở đỉnh cao nhất của thân thể, phía trên hơi thiên, thì ảnh hưởng đến độ nghiêng của toàn thân phía dưới rất lớn. Cho nên nhất thiết động tác của Thái cực quyền đều phải đỉnh kình hư huyền, như vậy, không những giảm bớt trọng lượng đầu chiến hạ áp, mà còn sinh ra công hiệu củng chính thiên ỷ.

图 L1F251
图 L1F251
Đương đầu pháo động tác một: tư thế chân phải sau khi ngoại bãi hướng hữu hậu (nam) phương lạc bộ, đồng thời hai chưởng biến quyền chuyển cánh tay thuận triền hạ tỏa tức chuyển hướng trước thượng hơi xung, hai tâm quyền tương đối, quyền trái ở trước quyền phải ở sau, theo xung quyền tả tất tiền cung.
图 L1F252
图 L1F252
Tiếp theo hình 251: tư thế hai chưởng biến quyền, chuyển cánh tay thuận triền hạ tỏa, hai tâm quyền tương đối, quyền trái ở trước quyền phải ở sau.
图 L1F253
图 L1F253
Tiếp theo hình 251 đến 252: tư thế chuyển cánh tay thuận triền hạ tỏa sau tức chuyển hướng trước thượng hơi xung, theo xung quyền tả tất tiền cung.

Thức thứ tám mươi mốt: Đương đầu pháo (Pháo đón đầu) Động tác một: Chân phải sau khi ngoại bãi, hướng hữu hậu (nam) phương lạc bộ; đồng thời hai chưởng biến quyền, chuyển cánh tay thuận triền hạ tỏa, tức chuyển hướng trước thượng hơi xung, hai tâm quyền tương đối, quyền trái ở trước, quyền phải ở sau; theo xung quyền tả tất tiền cung. (Hình 251) Động tác hai: Trọng tâm hậu di, chân phải khuất gối hạ tấn biến thực, tả tất hơi khuất, thân · 176 · thể hữu chuyển; đồng thời, hai quyền chuyển cánh tay thuận triền, từ trước mà xuống vào trong mà lên, hồ hình lý thu vào bên hữu hiếp, tâm quyền trái hướng vào trong, tâm quyền phải hướng trái (hình 252), trọng tâm tiền di, cung chân trái, đặng chân phải thành tả cung bộ, thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, hai quyền chuyển cánh tay thuận triền hướng trước đẩu kình, hai chửu hơi khuất, quyền trái hơi hoành tí ở trước, tâm quyền trái hướng vào trong, tâm quyền phải hướng trái. (Hình 253)

Yếu điểm: 1. Toàn bộ bài quyền của Thái cực quyền lấy văn tượng thủy, vũ tượng chung, cho nên khi luyện đến thức Đương đầu pháo này, thì phải "ý khí phong phát" mà biểu hiện bá phóng súc phát tứ kình, cũng tận kỳ sở năng mà đem tứ kình phát huy ra. ① 2. Thức này phải đối với phương diện động của Thái cực kình làm một lần kiểm tra cuối cùng, tức là trong quá trình bá phóng, có hay không lìa khỏi triền ty kình của Thái cực kình; khi súc phát thì căn của nó có ở chân không, và có hay không do gót chân đạt đến hai quyền. 3. Kình phát ra trong thức này, vận dụng là đẩu kình; đẩu kình là một loại của ải kình cự ly ngắn. Đẩu kình, phải biểu hiện ra một loại kình kinh giác như trên da dính tia lửa, phải do một cái đẩu mà ra.

Thức thứ tám mươi hai: Kim cương đảo chùy (Kim cương giã cối) Động tác một: Trọng tâm hậu di, chân phải khuất gối hạ tấn, chân phải biến thực, thân thể hữu chuyển; đồng thời, hai tay tả nghịch, hữu thuận triền hướng hữu hậu phương triển khai, tâm chưởng hướng hữu hậu phương, thủ chỉ thư triển vật nhuyễn. (Tiếp hình 4, duy chân trái bất đồng, trong hình chân trái lìa địa, cai thức chân trái hư đạp ở mặt đất, phương hướng diệc bất đồng, thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" là ngực bộ hướng nam tiến hành động tác, thức này là ngực bộ hướng bắc tiến hành động tác) Động tác hai: Trọng tâm tiền di; đồng thời hai chưởng vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền, hướng phải

  • ① "Chàng" (đâm) là do đại quyển thu súc thành tiểu quyển, nhất bàn dụng vu kính kình, biểu hiện ở trong "tẩu", chàng đến tận cùng triền ty, liền thành "súc" kình. "Phóng" là do tiểu quyển khai triển thành đại quyển, nhất bàn dụng vu kính kình, biểu hiện ở trong "niêm", phóng đến hư xử của đối phương, liền thành phát kình.

· 177 · hậu kế tục vi triển hạ trầm. (Tiếp hình 5, duy nam bắc phương hướng tương phản) Hậu đồng thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" động tác hai hình 6 thuyết minh. (Tiếp hình 6, duy nam bắc phương hướng tương phản) Động tác ba đồng thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" động tác ba, duy phương hướng bất đồng, nam bắc tương phản. (Hình 7–8)

Yếu điểm: Thứ nhất "Kim cương đảo chùy" trong bài quyền Trần thức đệ nhất lộ Thái cực quyền, biểu hiện ra ngũ đối thuận nghịch triền ty của Thái cực quyền ngụ ở trong động tác khai thủy; thứ hai "Kim cương đảo chùy" biểu hiện ra kết thúc của đệ nhị thế; thứ ba "Kim cương đảo chùy" biểu hiện ra kết thúc của đệ ngũ thế, thức này là thứ tư "Kim cương đảo chùy", biểu hiện ra kết thúc của toàn sáo. Yếu điểm của nó đồng với yếu điểm của thức thứ hai "Kim cương đảo chùy".

Thức thứ tám mươi ba: Thu thế (Thu thức) Động tác: Thân thể khởi lập, hai tất hơi khuất; đồng thời hai tay nghịch triền phân hướng tả hữu lưỡng trắc hạ thùy, tâm chưởng đều hướng hậu, khôi phục dự bị thức tư thế. (Án hình 1)

Yếu điểm: 1. Khi khôi phục đến tĩnh thái tư thế, vẫn phải án các yếu điểm trong dự bị thức kiểm tra một lượt. 2. Luyện xong sau, căn cứ vào trình độ tăng thêm của tần suất hô hấp của bản thân, thì có thể phán đoán trong quá trình luyện tập "dĩ khí vận thân" làm được như thế nào, hô hấp điều tiết đủ tiêu chuẩn hay không. Nếu phát sinh hiện tượng khí suyễn, thì phải kiểm tra động tác và hô hấp phối hợp có tự nhiên hay không. 3. Trần thức đệ nhất lộ Thái cực quyền và đệ nhị lộ Pháo chùy, giả thiết đều lấy mặt hướng nam khai thủy luyện tập, khi thu thế thì đều mặt hướng bắc. Nếu đem đệ nhất lộ hoặc đệ nhị lộ liên tục luyện tập hai lần, hoặc đem đệ nhất lộ và đệ nhị lộ án liên luyện tập, tối hậu thu thế thì có thể khôi phục thành mặt hướng nam.

· 178 · Chương ba: Trần thức Thái cực quyền đệ nhị lộ đồ giải Trần thức Thái cực quyền đệ nhị lộ quyền thức danh xưng thứ tự Đệ nhất thức Dự bị thức      Đệ thập tứ thức Phiết thân chùy (Nghiêng thân đấm) Đệ nhị thức Kim cương đảo chùy  Đệ thập ngũ thức Trảm thủ (Chém tay) Đệ tam thức Lãn trát y (Biếng mặc áo) Đệ thập lục thức Phiên hoa vũ tụ (Lật hoa múa tay áo) Đệ tứ thức Lục phong tứ bế    Đệ thập thất thức Yểm thủ quăng quyền (Che tay đấm cùi chỏ) Đệ ngũ thức Đơn tiên       Đệ thập bát thức Phi bộ ảo loan chửu Đệ lục thức Ban lan chửu     Đệ thập cửu thức Vận thủ (tiền tam) Đệ thất thức Hộ tâm chùy     Đệ nhị thập thức Cao thám mã (Cao thám ngựa) Đệ bát thức Ảo bộ tà hành    Đệ nhị thập nhất thức Vận thủ (hậu tam) Đệ cửu thức Sát yêu áp chửu quyền Đệ nhị thập nhị thức Cao thám mã Đệ thập thức Tỉnh lãm trực nhập Đệ nhị thập tam thức Liên châu pháo (nhất) Đệ thập nhất thức Phong tảo mai hoa Đệ nhị thập tứ thức Liên châu pháo (nhị) Đệ thập nhị thức Kim cương đảo chùy Đệ nhị thập ngũ thức Liên châu pháo (tam) Đệ thập tam thức Tí thân chùy   Đệ nhị thập lục thức Đảo kỵ lân (Cưỡi kỳ lân ngược)

· 179 · Thức 27 Bạch Xà Thổ Tín (Rắn Trắng Phun Lưỡi) (1)  Thức 50 Yêm Thủ Quăng Chùy (Che Tay Đánh Cùi Chỏ) Thức 28 Bạch Xà Thổ Tín (2)         Thức 51 Tả Xung (Xung Trái) Thức 29 Bạch Xà Thổ Tín (3)         Thức 52 Hữu Xung (Xung Phải) Thức 30 Hải Để Phiên Hoa (Đáy Biển Lật Hoa)  Thức 53 Đảo Sáp (Chọc Ngược) Thức 31 Yêm Thủ Quăng Chùy         Thức 54 Hải Để Phiên Hoa Thức 32 Chuyển Thân Lục Hợp         Thức 55 Yêm Thủ Quăng Chùy Thức 33 Tả Khỏa Tiên Pháo (Bọc Pháo Trái) (1) Thức 56 Đoạt Nhị Quăng (Đoạt Hai Cánh Tay) (1) Thức 34 Tả Khỏa Tiên Pháo (2)        Thức 57 Đoạt Nhị Quăng (2) Thức 35 Hữu Khỏa Tiên Pháo (1)       Thức 58 Liên Hoàn Pháo (Pháo Liên Hoàn) Thức 36 Hữu Khỏa Tiên Pháo (2)       Thức 59 Ngọc Nữ Xuyên Thoa (Ngọc Nữ Xâu Thoi) Thức 37 Thú Đầu Thế (Thế Đầu Thú)      Thức 60 Tứ Đầu Đương Môn Pháo Thức 38 Phách Giá Tử (Chẻ Giá)        Thức 61 Ngọc Nữ Xuyên Thoa Thức 39 Phiên Hoa Vũ Tụ (Lật Hoa Múa Tay Áo) Thức 62 Tứ Đầu Đương Môn Pháo Thức 40 Yêm Thủ Quăng Chùy         Thức 63 Phiết Thân Chùy (Xoay Thân Đấm) Thức 41 Phục Hổ (Hàng Phục Cọp)       Thức 64 Ảo Loan Trửu (Cùi Chỏ Vặn Loan) Thức 42 Mạt Mi Hồng (Xoa Lông Mày Đỏ)    Thức 65 Thuận Loan Trửu (Cùi Chỏ Thuận Loan) Thức 43 Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy    Thức 66 Xuyên Tâm Trửu (Cùi Chỏ Xuyên Tim) Thức 44 Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy     Thức 67 Oa Lý Pháo (Pháo Trong Ổ) Thức 45 Tả Đăng Nhất Căn (Đá Gót Trái)    Thức 68 Tỉnh Lãm Trực Nhập Thức 46 Hữu Đăng Nhất Căn (Đá Gót Phải)   Thức 69 Phong Tảo Mai Hoa (Gió Quét Hoa Mai) Thức 47 Hải Để Phiên Hoa          Thức 70 Kim Cang Đảo Đối (Kim Cang Giã Cối) Thức 48 Yêm Thủ Quăng Chùy         Thức 71 Thâu Thế (Thu Thế) Thức 49 Tảo Thang Thối (Nghịch Hĩnh Pháo — Pháo Xoay Cẳng)

· 180 · Trần Thức Thái Cực Quyền Đệ Nhị Lộ Đệ Nhị Lộ của Trần Thức Thái Cực Quyền tức là bài quyền thứ hai, thường gọi là "Nhị Thức", còn có tên là "Pháo Chùy" (Quyền Pháo). Nhị Thức bắt đầu từ đầu cho đến thức Đan Tiên (Đơn Tiên) đầu tiên: tức từ thức Dự Bị, Thượng Bộ Kim Cang Đảo Đối, Lãn Trát Y, Lục Phong Tứ Bế, cho đến Đan Tiên — năm động tác này hoàn toàn giống với Đệ Nhất Lộ. Sở dĩ phải lặp lại năm động tác này là để trước tiên làm vài thế quyền mềm mại nhằm duỗi gân cốt, thích ứng với yêu cầu luyện Nhị Thức. Vì vậy, phần thuyết minh động tác của Đệ Nhị Lộ trong chương này được nói bắt đầu từ sau thức Đan Tiên thứ nhất (ngực hướng về nam). Thuyết minh bốn thế quyền trước Đan Tiên xin xem ở Đệ Nhất Lộ, nơi đây không nhắc lại. Để tiện thuật lại, các hình 1–26 và thuyết minh của chúng trong đồ giải Đệ Nhất Lộ sẽ không lặp lại trong đồ giải Đệ Nhị Lộ; còn hình 26 trong đó thì được kê làm hình 1 của đồ giải này. Phần thuyết minh về đồ giải cũng xin xem ở đồ giải Đệ Nhất Lộ.

Thức Thứ Sáu Phiết Lan Trửu (Cùi Chỏ Nghiêng Đỡ) (ngực hướng về nam)

Động tác: Trọng tâm hơi chuyển sang phải; đồng thời, tay móc phải biến thành quyền tại bên phải với thuận triền nhỏ, làm cho lòng nắm tay hướng lên, tay trái biến thành quyền từ trái xuống dưới nghịch triền đến trước ngực; tiếp liền trọng tâm chuyển sang trái; khi trọng tâm chuyển sang trái, quyền trái qua trước ngực đánh ngang sang trái bằng mắt nắm tay để phát kình, quyền phải từ phải sang trái cũng đánh ngang bằng mắt nắm tay để phát kình, hai tay: lòng quyền trái hướng lên, lòng quyền phải hướng xuống. (Hình 2) Trọng tâm chuyển sang phải; khi trọng tâm chuyển sang phải, hai tay: trái nghịch, phải thuận triền, từ trái sang phải đánh ngang bằng mắt nắm tay để phát kình, lòng quyền trái hướng xuống, lòng quyền phải hướng lên. (Hình 3)

图 L2F1
图 L2F1
Ở thế cung bộ, tay móc phải giữ trước thân, tay trái duỗi ra trước; là tư thế mở đầu của đồ giải Đệ Nhị Lộ.

Yếu điểm:

Thức này có hai lần phát kình trái phải, phải làm liền kề nhau. Từ Đan Tiên quá độ đến phát kình sang trái, phải trước tiên đưa trọng tâm hơi chuyển sang phải, rồi mới phát kình, để đạt yêu cầu "tích trữ rồi sau mới phát". Khi phát kình, sự di chuyển của trọng tâm và sự phát kình của hai quyền phải nhất trí, cầu cho kình được chỉnh.

Thức Thứ Bảy Hộ Tâm Chùy (Đấm Hộ Tâm) (ngực hướng về đông bắc)

图 L2F2
图 L2F2
Đứng chính diện ở thế cung bộ, hai quyền đánh ngang sang bên trái; tư thế khi trọng tâm chuyển sang phải để đánh ngang sang phải.
图 L2F3
图 L2F3
Đứng chính diện ở thế cung bộ, hai quyền đánh ngang sang phải, cánh tay phải giơ lên theo đường vòng cung.
图 L2F4
图 L2F4
Chân phải co gối ngồi xuống, thân thể xoay trái, quyền trái nâng lên che ngực.
图 L2F5
图 L2F5
Hai chân đứng tách ra, hai tay thu hợp trước ngực.

Động tác: Trọng tâm toàn bộ chuyển vào chân phải, chân trái nâng lên, thân thể xoay trái, chân phải đạp đất nhảy lên, kế đó chân trái đáp xuống đất, chân phải cũng theo đó bước chéo về phía trước bên trái (đông nam). Cùng với lúc chuyển thân, quyền trái nghịch triền hướng vào trong hơi nâng lên, tức theo thân xoay hướng phía sau bên trái, theo đường vòng cung thuận triền đến bên hông trái, lòng quyền nghiêng hướng lên phải; quyền phải trước nghịch sau thuận triền, theo thân xoay từ phải lên trên, qua bên trước trán phải sang trái, cùng lúc chân phải bước xuống thì đánh xuống. (Hình 4) Quyền trái thuận triền nâng sang trái cao ngang vai, quyền phải thuận triền thu vào. (Hình 5) Quyền trái từ trái ra trước, qua bên ngoài quyền phải xuống dưới vào trong, quyền phải từ trong ra ngoài, hai quyền giao nhau vượt qua trước ngực; kế đó hai tay thuận triền, quyền trái thu vào, quyền phải lấy mu nắm tay gần cổ tay đẩy ra trước (bằng kình); đồng thời trọng tâm chìm xuống. (Hình 6)

Yếu điểm:

Động tác Thái Cực Quyền, hễ muốn mở rộng vòng tròn thì trước tiên phải thu nhỏ vòng tròn; điều này nhằm tăng cường kình bằng (kình đỡ), khiến trong điều kiện "khí dán vào sống lưng" mà dẫn nội kình xuyên suốt đến gốc bàn tay. Khi hai tay làm động tác nghịch triền đôi trong ngoài trái phải mở ra trước ngực, tức hình thành tác dụng hợp kình phải trước trái sau; cuối cùng, như chữ ∞, khiến hai vòng hội hợp trước ngực để che giữ tim; đồng thời dần dần thu nhỏ vòng tròn, hình thành kình tích trữ như dây cung căng, để tăng cường kình bằng.

Thức Thứ Tám Ảo Bộ Tà Hành (Bước Chéo Đi Nghiêng) (ngực hướng đông chuyển đông nam)

图 L2F6
图 L2F6
Ở thế cung bộ nghiêng thân, hai quyền giao nhau trước ngực, quyền phải đẩy ra trước bằng kình.
图 L2F7
图 L2F7
Đứng nghiêng thân, hai quyền giao nhau thu trước ngực.

Sau khi hai quyền trên đây che giữ ngực, hai quyền mở ra thành chưởng, và làm động tác triền ty phải thuận trái nghịch, hợp nhau trước ngực. Lúc này tay phải ở trên, tay trái ở dưới, lòng bàn tay phải hướng trái, lòng bàn tay trái hướng lên. Tiếp đó vẫn làm động tác song phân phải thuận trái nghịch. (Hình 7, 8, 9) Sau đó, lại song hợp trước ngực, nhưng lúc này tay phải đã chuyển xuống, tay trái đã chuyển lên, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. Tiếp đó tay phải lại chuyển lên, tay trái thì chuyển sang trái; đồng thời thân pháp nâng cao, chân phải nâng lên, chân trái đứng độc lập, hai chưởng hợp giữ kình. (Hình 10) Đợi khi lại chuyển thành khai kình (kình mở), khiến chân phải đáp xuống đất dậm một cái mà biến thành thực. Tiếp đó chân trái bước triền một bước về phía đông bắc, chưởng phải thuận triền từ trước chìm xuống sang phải. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền chuyển vòng cung lên sang phải; khi chuyển đến lúc chưởng trái mở sang trái, thì chưởng phải vừa thuận triền lên đến bên tai phải. Lúc này chân trái là thực — đó là tư thế khởi. Tiếp đó chưởng phải ở bên tai phải chuyển nửa vòng rồi nghịch triền phóng về phía trước bên phải.

图 L2F8
图 L2F8
Đứng nghiêng thân, hai chưởng tách lên xuống.
图 L2F9
图 L2F9
Đứng độc lập nghiêng thân, hai chưởng mở ra lên xuống.
图 L2F10
图 L2F10
Chân trái đứng độc lập, chân phải nâng lên, hai chưởng hợp trước ngực.
图 L2F11
图 L2F11
Ở thế cung bộ rộng mở, hai chưởng tách sang trái phải, thân ngay thế vững.

mở; đồng thời, chưởng trái sau khi hơi nghịch triền sang phải, liền thuận triền mở ra sang trái, trở thành song khai kình (kình mở đôi). Lúc này, ngực hướng về nam. (Hình 11)

Yếu điểm:

Thức này khi chân phải đáp xuống đất, là tay phải mở, tay trái hợp; đợi khi tay trái chuyển sang mở ra ngoài trái, thì tay phải lại chuyển đến bên tai phải để hợp. Do tả hợp hữu khai và tả khai hữu hợp, khiến nội khí xoay vần mà chìm xuống; cuối cùng, khi hoàn thành thức này, hai chưởng trái phải đồng thời dưới song nghịch triền mở đôi ra; đợi khi mở đến tận cùng, lại lấy song thuận triền hợp đôi vào. Khi song hợp, các ngón của hai tay phải dựng hướng lên; đồng thời, nội kình của hai cùi chỏ cũng phải hợp nhất. Tiếp đó, tức khắc khí trầm đan điền, trọng tâm cũng đồng thời chuyển đến chân phải. Thức này do sự biến đổi khai hợp, phối hợp dậm chân và xoay ngó trái phải, khiến khí buộc phải đi xuống, là một loại công phu cơ bản của hành công luyện khí trầm xuống, cũng là một thế quyền dễ khiến người ta cảm nhận được cuối cùng khí trầm đan điền nhất.

Thức Thứ Chín Sát Yêu Áp Trửu Quyền (Hạ Eo Ép Cùi Chỏ Đấm) (ngực hướng về đông nam)

Động tác: Sau khi hai chưởng của thức tà hình trên đây đã tách ra, chưởng phải bên phải dùng thuận triền, khi chuyển lên trên thì biến chưởng thành quyền đặt ở phía trên đầu gối phải. Đồng thời, chưởng trái ở bên trái dùng tiểu thuận triền trên biến thành quyền, đối diện từ xa với quyền phải, hợp kình ở phía trên trái. Đáy quần chìm xuống, hình thành đương (háng) tròn thấp; chân từ trái thực chuyển thành phải thực; lúc này ngực hướng về nam. (Hình 12)

Thức Thứ Mười Tỉnh Lãm Trực Nhập (Vượt Rào Giếng Đi Thẳng Vào) (ngực hướng về bắc)

Động tác: Chân trái nâng lên bước ra 180° sang bên phải, khiến ngực chuyển hướng về bắc. Quyền trái biến thành chưởng, và theo chân trái từ trên nghiêng về phía trước dưới của ngực một cái ấn kình, kình ở gốc bàn tay. Đồng thời quyền phải thuận triền, cũng biến thành chưởng khi chìm xuống.

图 L2F12
图 L2F12
Ở thế mã bộ tầm thấp, quyền phải đặt trên đầu gối phải, quyền trái hợp kình ở phía trên.

lật chưởng tâm hướng lên khiến gần bên trái hông. Khi xoay chuyển thì lấy lưng eo làm trục giữa. Lúc này chân phải là thực. (Hình 13)

图 L2F13
图 L2F13
Đứng nghiêng thân, hai tay lật ở bên hông, lòng bàn tay hướng lên.
图 L2F14
图 L2F14
Đứng thẳng hai chân sát nhau, hai cánh tay mở sang trái phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài.

Thức Thứ Mười Một Phong Tảo Mai Hoa (Gió Quét Hoa Mai) (ngực hướng về nam)

Động tác: Sau khi hoàn thành động tác tay trái ấn từ trên xuống dưới 180°, tiếp đó do tay phải tiếp nhận kình liệt thoát của tay trái, dùng thuận triền từ dưới rồi lên trên thái (ngắt) chuyển 180°; đến phía trên bên phải thì lại chuyển thành nghịch triền mở ra. Đồng thời, tay trái ở dưới nghịch triền tách xuống phía dưới bên trái, hình thành song khai kình. Lúc này chân trái là thực, và làm trục giữa xoay chuyển; chân phải theo thân xoay phải bước ngang về phía tây của chân trái. Cuối cùng hình thành tư thế như hình 13. Lúc này hai tay đều đã biến thành song nghịch triền.

Yếu điểm:

Tác dụng của ba thức quyền trên đây chủ yếu ở chưởng phải trong song khai của thức thứ tám: giả định đã bị thái nã (ngắt bắt), cho nên trước tiên trong lúc tiểu thuận triền biến chưởng thành quyền, thì theo yếu kình của thái, chuyển mà ấn xuống xoay người vòng qua. Đây là cơ sở dùng liên tùy (liền theo) để cầu giải thoát. Khi xoay thân, đồng thời dùng kình ấn xuống của chưởng trái và kình nâng lên của chưởng phải, khiến hai tay trái phải run lên nhất trí trên dưới, để đạt mục đích giải thoát. Trong quá trình đại xoay thân như vậy, phải khiến xoay chuyển trầm ổn; phương pháp là không cho phép bình toàn (xoay ngang), mà phải khiến xoay chuyển từ · 186 · trên xuống dưới (khi ấn hợp), rồi lại từ dưới lên trên (khi mở bằng kình), hầu đạt được trong trầm ổn tác dụng giải thoát của nghịch triền. Loại triền ty đại xoay thân này dễ khiến người ta sinh ra hiện tượng "khuyết hãm", "lồi lõm" và "đoạn tục". Vì vậy, nếu muốn tránh khuyết điểm trên, yếu điểm là ở dưới sự liên hệ của hai cánh tay mà giữ chắc kình bằng, đồng thời vận dụng lưng eo làm trục giữa, khiến có thể căng mà xoay chuyển, sinh ra quán lực xoay như cối xay gió. Trong quá trình xoay chuyển, trước tiên hướng ra sau dưới 180° một cái ấn hợp kình, để tăng cường tính trầm ổn; đồng thời không ngừng lại mà lại hướng ra sau trên 180° một cái mở kình bằng, cuối cùng hoàn thành đại xoay thân 360°. Về vận dụng kình loại, nửa vòng trên là hợp kình xoay chuyển lấy tay trái làm chủ; nửa vòng dưới là khai kình xoay chuyển lấy tay phải làm chủ. Như vậy khiến nội kình không ngừng hiển lộ ra ngoài mà đạt tới lưng cung, cũng không đến nỗi lại sinh ra các khuyết điểm như khuyết hãm.

Thức Thứ Mười Hai Kim Cang Đảo Đối (Kim Cang Giã Cối) (ngực hướng về nam)

Động tác: Khi thức trên hoàn thành, dùng song khai kình của tả hữu song nghịch triền. Thức này là từ khai kình của tả hữu song nghịch triền chuyển thành hợp kình của tả hữu song thuận triền, khiến khí chú vào ngón út. Lúc này chân trái là thực. (Hình 15) Sau khi hợp lại lại chuyển thành song phân kình của thượng hạ nghịch triền, khi đạt đến điểm cuối là hữu thượng tả hạ, chưởng phải xoay một cái biến thành quyền, rồi từ trên thuận triền mà xuống; đồng thời chưởng trái nghịch triền đến trước bụng dưới, lòng bàn tay hướng lên; cuối cùng là khiến quyền phải rơi vào trong lòng bàn tay trái một cái hợp kình; đồng thời khi chân trái là thực, chân phải nâng lên dậm chân xuống đất. (Hình 16)

图 L2F15
图 L2F15
Đứng thẳng hai chân sát nhau, hai cánh tay giao nhau trước ngực, hai chưởng hợp kình.
图 L2F16
图 L2F16
Đứng hai chân sát nhau, quyền phải rơi vào lòng bàn tay trái, chân phải nâng lên dậm chân.

Yếu điểm:

Sau khi hoàn thành đại xoay thân 360°, nội khí phải như bánh xe chấn động ra bốn phía, rồi sau đó lại hạ xuống vào trong đan điền, và giã cho chắc — đây là tác dụng chính của thức này. Khi nó từ tương khai tương hợp của tả hữu chuyển thành tương khai tương hợp của thượng hạ cùng dậm chân, có thể khiến khí lại càng giã chắc hơn trong đan điền. Động tác dậm chân này có thể nhẹ có thể nặng, chủ yếu ở chỗ có thể vận dụng ý khí hạ đạt xuống, chứ không ở nhẹ nặng của cái dậm chân. Vì vậy, ngoài việc dùng âm thanh dậm chân để kiểm nghiệm kình chỉnh hay không chỉnh, còn phải xem có thể làm được công phu động tĩnh tương hợp hay không, để đạt tới "một tĩnh thì không có gì không tĩnh".

图 L2F17
图 L2F17
Mã bộ chìm xuống, hai tay trước ngực đối nhau trên dưới, lòng bàn tay hướng vào nhau.
图 L2F18
图 L2F18
Cung bộ nghiêng thân, cánh tay phải giơ quá đầu, chưởng trái ấn xuống.

Thức Thứ Mười Ba Tý Thân Chùy (Đấm Che Thân) (ngực hướng về nam)

Động tác: Bắt đầu từ một hợp kình sau thức trên, hai tay đều nghịch triền tách xuống trái phải; cùng lúc song khai, chân phải bước ngang nửa bước sang phải; sau khi khai lại hợp, lúc này hai tay từ dưới hướng lên trước tiếp tục nghịch triền, cuối cùng đặt tay trái ở phía ngoài tay phải, hợp trước ngực, hình thành khai khoa (mở háng) viên đương (háng tròn), chân trái là hư. (Hình 17) Đây là từ hợp mà khai, khai rồi lại hợp, là tiểu khai tiểu hợp khít khao. Tiếp đó chưởng phải hướng sang sau phải chuyển ra ngoài nghịch triền thành quyền, chưởng trái hướng xuống trái nghịch triền cũng thành quyền. Sau song phân, quyền phải từ dưới hướng lên phải nghịch triền, lại từ trước đỉnh đầu mà vượt qua. Quay trở về bên trái. Khi quyền trái nghịch triền đến giữa hông trái, · 188 · Nắm đấm phải bỗng thu người trở lại, phát kình cùi chỏ về phía trên bên phải; trọng tâm chuyển sang phải, chân phải chuyển thành thực, toàn thân theo đó chìm xuống sang phải, chân cũng theo đó hạ thấp. (Hình 18)

Yếu điểm:

Dưới thế ngậm ngực cất lưng, do hai luồng triền ty nghịch siết chặt rồi nới vòng để tăng cường tính đàn hồi bên trong của kình bồng (peng) ở hai cánh tay, có thể khởi lên tác dụng tích kình hình vòng quanh thân. Nó chủ yếu luyện tay phải và eo lưng, từ vòng lớn chuyển thành vòng nhỏ để tăng cường tích kình (trong đó đồng thời có kình tựa vai hướng sang phải); cuối cùng, từ một vòng nhỏ tiến tới không vòng, đưa kình xuyên suốt tới đầu cùi chỏ. Bởi vậy, đây là một thức quyền vận động chặt chẽ, đòi hỏi dưới sự tương hợp của hai luồng triền ty nghịch, tiếp tục chuyển qua bằng hai luồng triền ty nghịch. Trong quá trình chuyển, ắt phải làm được nội kình không khuyết tổn và không đứt đoạn. Cho nên yếu điểm của nó nằm ở chỗ vận dụng eo lưng làm trục giữa; khi tay phải bắt đầu bằng triền nghịch rồi chuyển tới trước mặt lại triền nghịch một vòng lớn, phải biểu hiện được sự xuyên suốt từng đốt một. Khi lại từ triền nghịch chuyển sang triền thuận và bỗng nhiên lại chuyển một lần nữa thành triền nghịch phát kình cùi chỏ ra phía trên bên phải, đòi hỏi phải thấy được kình khởi từ gót chân mà thành hình nơi đầu cùi chỏ.

Thức thứ mười bốn Phiết thân chùy (ngực hướng nam chuyển đông nam)

Động tác: Khi ở thức trên nắm đấm trái đặt nơi háng phát kình cùi chỏ phải, giả định rằng nắm đấm trái đặt nơi háng bỗng bị thái (bắt gạt); thì lúc này thuận theo yếu kình của động tác thái, trước tiên lấy một vòng nhỏ bên phải triền thuận bên trái triền nghịch, thân người hơi chuyển sang phải, chân phải thành thực, tiếp đó liền lấy thế lật trở lưng nắm đấm với bên trái triền thuận bên phải triền nghịch, dùng kình bồng phản kích ra phía bên trái. Đồng thời, tay phải dùng tiểu triền nghịch phóng kình về phía sau bên phải để giữ thăng bằng (đây là phát kình hai chiều cùng mở). Nhưng phát kình ắt phải chuyên chủ một bên, thức này lấy bên trái làm chủ, bên phải làm khách, cho nên nắm đấm phải thuộc về phóng kình, còn nắm đấm trái thì thuộc về phát kình. Đồng thời, khi phát ra thì chân phải là thực, ngực hướng đông nam. (Hình 19)

图 L2F19
图 L2F19
Thức thứ mười bốn Phiết thân chùy: thân người hơi chuyển sang phải, nắm đấm trái lật lưng đấm phản kích ra bên trái, nắm đấm phải phóng kình về phía sau bên phải, ngực hướng đông nam.

· 189 · Yếu điểm: Khi bên trái chuyển tới háng trái mà cánh tay trái lại bị thái, để không mất cũng không chống đối, thích ứng với yếu kình của động tác thái, nên thuận theo phương hướng yếu kình của đối phương, dùng kình đánh ra về phía bên trái. Đây là cách thức trực tiếp rõ ràng nhằm cầu giải thoát. Bởi vậy, thức này lấy nắm đấm trái phản kích làm chủ, nhưng căn nguồn của cú đánh lại nằm ở nắm đấm phải đang triền thuận xoay ở trên bên phải, thông qua nó mà đem nội kình quán chú theo lối triền miên vào trong cánh tay trái.

Thức thứ mười lăm Trảm thủ (ngực đông nam chuyển bắc)

Động tác: Thức này giả định rằng ở cú đánh của thức trên "Phiết thân chùy" vẫn chưa được giải thoát, thì lại thuận theo phương hướng yếu kình bước chéo lên chân phải; tay phải dùng triền thuận từ sau bên phải hướng lên trên theo thân lật chuyển tới, và hợp vào phía trên tay trái; cùng lúc bàn tay trái bị thái bỗng nhiên nhấc lên, mé bàn tay phải như dao chém xuống, tạo thành thế hai chiều cùng mở bổ về phía trước với bên trái cao bên phải thấp, và phụ thêm động tác chấn cước chân phải chìm xuống. Đây là bước chéo lên chân phải, khiến hai tay ở trong vòng tròn vuông của mình, là cách thức đánh tung thoát ra khi hai tay và một chân đồng thời cùng dùng. Lúc này, ngực đã chuyển hướng bắc. (Hình 20)

Yếu điểm:

图 L2F20
图 L2F20
Thức thứ mười lăm Trảm thủ: bước chéo lên chân phải, tay phải triền thuận lật lên rồi mé bàn tay phải chém xuống, tay trái đồng thời nhấc lên, thành thế hai chiều cùng mở bổ về trước với bên trái cao bên phải thấp, ngực chuyển hướng bắc.

Đây là cách giải thoát tay trái bị thái lần thứ hai. Cách thường dùng nhất trong kình thái là ép xuống dưới khiến đối phương khó bề theo kịp, làm cho người bị thái không thể không nghiêng về thế quỳ, do đó không thể không áp dụng cách bước lên lấy tay dẫn thân, để tăng tốc cách giải thoát lấy "hữu chước" (chém phải), "tả đề" (nhấc trái) và "chấn cước" (dậm chân) ba thứ cùng thi hành. Cho nên, dưới yêu cầu kình của tay phải không đứt đoạn, dùng vòng xoay tiểu thuận triền để bước lên chân phải, khiến bàn tay trái bị thái ở vào trong vòng tròn vuông của mình; đây là phương pháp cơ bản lấy nhẹ chế nặng. Trước khi bước lên và sau khi bước lên cũng như · 190 · Khi chém xuống, vĩ lư (xương cụt) đều phải ngay chính giữa, tuyệt đối không được vì cú đánh xuống mà khiến vĩ lư đổ về phía trước.

Thức thứ mười sáu Phiên hoa vũ tụ (ngực hướng bắc chuyển nam, lại chuyển đông bắc)

Động tác: Giả định lần giải thoát thứ hai vẫn chưa thành công, nghĩa là dưới thế nhấc lên chém xuống vẫn chưa thể chém đứt tay thái của đối phương, thì phải dùng động tác lật xoay của thân thể để giải thoát thêm một bước, tức là thuận theo kình chém kháng cự hướng lên của đối phương, bỗng nhiên nhảy vọt lên; tay trái triền nghịch nhấc lên vòng qua đỉnh đầu, và lật người trở lại. Đây là đại chuyển thân từ dưới lên trên. Lực quán tính của động tác lật do tay trái dẫn dắt. Lúc này, tay phải cũng dùng triền nghịch từ dưới lên trên để phụ trợ, và dùng kình hai chiều cùng mở để nhảy vọt thân thể và lật mặt trở lại. Đồng thời, chân trái nhấc lên, và dẫn dắt chân phải cũng theo đó nhảy lên. Động tác này bao gồm có hai cánh tay và kình tựa vai để giải thoát bàn tay bị thái. (Hình 21, hình này là khoảnh khắc nhảy lên chuyển mặt) Tiếp đó, trong quá trình xoay chuyển tiếp tục từ trên xuống dưới, khi tay trái ở bên trái từ triền nghịch chuyển thành triền thuận đi xuống, thì chân trái đồng thời chạm đất dậm một cái chấn cước. Đây là động tác tay trái và chân trái đồng thời tiến hành. Khi chân trái chạm đất mà chân phải bước lên phía trước sang phải, bàn tay phải phải đồng thời triền nghịch từ phía sau trên chuyển thành triền thuận, và chém xuống phía trước bằng mé bàn tay (khi chém thì kình giống như kình chém của động tác bổ khung). Đồng thời, tay trái thành nắm đấm triền thuận đánh ra về phía sau bên trái với tư cách là khách. Lúc này chân trái là thực. (Hình 22, hình này là tư thế khi xoay chuyển thân thể chạm đất chém một cái)

图 L2F21
图 L2F21
Thức thứ mười sáu Phiên hoa vũ tụ, động tác nhảy lên chuyển mặt: thân thể nhảy vọt lên, tay trái nhấc lên vòng qua đỉnh đầu lật chuyển, tay phải phụ trợ, chân phải theo chân trái nhảy lên.
图 L2F22
图 L2F22
Phiên hoa vũ tụ, chạm đất chém một cái: chân trái chạm đất chấn cước thành thực, chân phải bước lên phía trước, mé bàn tay phải chém xuống phía trước, nắm đấm trái triền thuận đánh ra phía sau bên trái.

· 191 · Yếu điểm: Đặc điểm của cách giải thoát trảm thủ ở thức trên là cánh tay của cả hai bên đều ở phía trước, khoảng cách từ điểm tác dụng của lực tới hai bên đều bằng nhau; còn động tác chuyển thân của thức này "Phiên hoa vũ tụ" thì vận dụng tác dụng xoay chuyển của thân pháp và eo lưng, khiến khoảng cách từ điểm tác dụng của lực bỗng nhiên hình thành sự đối chiếu chênh lệch (mình gần, đối phương xa). Nghĩa là, khiến điểm giải thoát xa đối phương và gần mình. Quan hệ một gần một xa này hình thành sự biến đổi về độ lớn của mô-men lực. Sau khi chuyển thân, hai chân là chân trái chạm đất chấn cước trước, chân phải chạm đất hơi sau, như vậy là đã tăng cường lực quán tính xoay của trục eo, do đó cũng tăng cường kình chém xuống của tay phải, đây chính là chỗ then chốt của thêm một phương pháp cầu giải thoát. Cách giải thoát này lấy động tác chém xuống của mé bàn tay phải để tiếp nhận lực quán tính xoay khi tay phải triền thuận lật chuyển. Đồng thời, khi chém xuống phải buông lỏng và có tính đàn hồi, như vậy mới có thể xúc tiến thức sau nhẹ nhàng nhảy vọt lên. Cách giải thoát này cũng là một tấm gương khác về lấy nhẹ chế nặng, là biểu hiện cụ thể của một động tác hai công dụng, nghĩa là, trong giải thoát có chứa đánh, trong đánh có chứa giải thoát — cách dùng kép. Cho nên thức này chủ yếu là một tay giải thoát, tay kia thuận theo vòng xoay mà chém xuống.

Thức thứ mười bảy Yểm thủ quăng quyền (ngực hướng đông bắc chuyển đông)

Động tác: Đây là thức quyền chủ yếu dùng để luyện tập tích kình và phát động, trong khung thức của lộ thứ hai, hễ là sau những thức quyền đặc biệt thì phần nhiều dùng nó để liên hệ lại. Đây là Yểm thủ quăng quyền thứ nhất của lộ quyền thứ hai. Nó mượn tính đàn hồi của cú chém ở thức trên, hai tay lấy song thuận nhảy vọt thân thể lên, và đổi vị trí trước sau của chân trái chân phải, tiếp đó chân phải chạm đất chấn cước thành thực, chân trái bước tới kiễng lên thành hư. Đồng thời, lấy song nghịch triền đem kình của toàn thân uốn cong tích tụ lại, thu nhỏ vòng tròn của hai cánh tay để tăng cường tích kình. Lúc này, tay trái ở trên, tay phải ở dưới, chân phải hư mà chân trái thực. (Hình 23) Tiếp đó, nửa đoạn sau là phát động. Trước khi phát, tay phải trước tiên làm vòng nhỏ triền nghịch đặt nơi thắt lưng, tâm nắm đấm hướng lên; đồng thời tay trái tương đối triền nghịch, tâm nắm đấm hướng xuống, đây là động tác tích kình bên trái. Khi tay phải ở nơi thắt lưng bên phải, tay phải chìm kình xuống, và trong sự trầm ổn vẫn lấy triền nghịch dùng đột · 192 · Thế phát đem kình phát ra phía trước. Lúc này, tâm nắm đấm hướng xuống. Đồng thời, tay trái tương đối chuyển thành triền nghịch, đem nắm đấm phóng kình về phía sau để thu về, và đặt nơi thắt lưng trái. Tâm nắm đấm hướng xuống. Khi tích kình, chân phải là thực; khi phát kình, chân trái là thực. (Hình 24)

图 L2F23
图 L2F23
Thức thứ mười bảy Yểm thủ quăng quyền tích kình: chân phải thực chân trái hư, tay trái ở trên tay phải ở dưới, song nghịch triền uốn cong tích kình.
图 L2F24
图 L2F24
Yểm thủ quăng quyền phát kình: nắm đấm phải phát ra phía trước, tâm nắm đấm hướng xuống, tay trái phóng kình ra sau thu về đặt nơi thắt lưng trái, khi phát kình chân trái là thực.

Yếu điểm:

Thức này là thức quyền được vận dụng nhiều nhất (sáu lần) trong bộ khung thứ hai, yếu điểm của nó nằm ở chỗ tăng cường luyện tập kình "tích kình như kéo cung". Nó do động tác ngậm ngực cất lưng làm dẫn dắt, khiến hai cánh tay có kình hợp lại hình chữ 6. Khi luyện tập phát kình, phải có kình phát kiểu nâng vật lên rồi hạ xuống. Bởi vậy, nửa đoạn trên phải như kéo cung để tăng cường tính đàn hồi, nửa đoạn dưới lại càng phải có triền kình như phóng tên cắm sâu vào bia. Đây là biểu hiện cụ thể khiến động tác phát được xa dài. Vì thế, trước khi phát kình phải có vòng nhỏ chìm xuống, mới khiến kình tích có kéo theo và kình phát hai thứ hợp làm một, không được chỉ dùng kình tích phát đường thẳng không có kéo theo.

Thức thứ mười tám Phi bộ ảo loan trửu (ngực hướng đông chuyển bắc, lại chuyển nam)

图 L2F25
图 L2F25
Thức thứ mười tám Phi bộ ảo loan trửu, động tác xoay thân: lấy chân phải làm trục xoay gót, chân trái vạch cung vượt qua chân phải, thân bay lên xoay 270°, nắm đấm trái triền nghịch phía sau.
图 L2F26
图 L2F26
Sau khi xoay chuyển 270° đại chuyển thân, thế mã bộ rộng: hai tay kéo mở thành một vòng lớn, thân chìm xuống thành mã bộ, chân trái ở bên trái, hai nắm đấm chia mở trước sau.

Động tác: Sau khi phát kình ở thức trên "Yểm thủ quăng quyền", hai nắm đấm làm một tiểu nghịch triền tại chỗ cũ, hợp kình lại trước sau; khi nắm đấm phải triền nghịch hướng tới trước, nắm đấm trái triền nghịch hướng ra sau để mở, chân phải theo đó nhấc lên, và bước bay về phía trước nhảy tới, chạm đất thành thực. Đồng thời, lấy · 193 · Chân phải làm trục xoay gót, khiến chân trái vạch cung vượt qua chân phải, thuộc về phía đông của chân phải, làm cho thân bay lên xoay chuyển 270°. (Hình 25) Đây là giả định ở thức trên "Yểm thủ quăng quyền" sau khi tay phải phát ra kình bị người ta thái, không kịp thu về mà áp dụng thức quyền này. Đối phương là thuận theo phương hướng phát mà yếu kình, vì thế, không thể không mau chóng thuận theo, để thích ứng với người, dùng phi bộ thuận theo và biến hóa kình. Trong quá trình thuận theo phi bộ, tự nhiên lật người chuyển sang trái, dùng kình bối chiết kháo (lưng gập tựa) để giải thoát tay phải bị thái, có phần giống với các thức "Ngọc nữ xuyên thoa" của lộ thứ nhất, Cũng là bước nhảy, nhưng thủ pháp khác nhau. (Hình 26) Sau khi xoay chuyển 270° đại chuyển thân, giả định kình bối chiết kháo của đại chuyển thân vẫn không thể giải thoát tay phải bị thái, thì sau khi chuyển thân, hai tay lấy song nghịch triền hợp làm một, tâm bàn tay trái đè lên bàn tay thái của đối phương, khiến hai cánh tay hình thành một vòng tròn nằm ngang, và lấy kình cùi chỏ phải đánh tới trước. Đây là động tác cuối cùng một động hai công dụng, là giải thoát, cũng là tiến công. Sau khi chuyển thân, chân phải thực; khi phát kình cùi chỏ, chân trái thực. Thế Ảo loan trửu cuối cùng hình thành như hình 27.

图 L2F27
图 L2F27
Ảo loan trửu định thức: hai tay lấy song nghịch triền hợp làm một, tâm bàn tay trái đè lên bàn tay thái của đối phương, hai cánh tay hình thành vòng tròn nằm ngang, cùi chỏ phải đánh ra phía trước; sau khi chuyển thân chân phải thực, khi phát kình cùi chỏ chân trái thực.

· 194 · Yếu điểm: Đây là phương pháp cuối cùng dùng kình bối chiết kháo để giải thoát tay phải bị thái. Bởi vì quan hệ xoay chuyển thân thể, lại có thể khiến khoảng cách của điểm tác dụng lực bỗng nhiên hình thành sự đối chiếu chênh lệch có lợi cho mình, để đạt tới lấy nhẹ chế nặng; đây là thức quyền và cú đánh không cầu giải thoát mà tự giải thoát. Đồng thời, thức này khác với mấy thức trước ở chỗ đem bàn tay trái đè nơi cùi chỏ phải, và lấy lưng cùi chỏ liên hợp đánh ngang đối phương. Đây là một loại thức quyền đặc biệt đè chặt cẳng tay của đối phương khi tới thái, để cố định điểm thái của đối phương, không cho hắn biến đổi, và quật người ta ngã ngang ra ngoài. Bởi vậy, cũng là một động tác hai công dụng. Yếu điểm của nó nằm ở chỗ sau khi bước bay ra vẫn có thể lập thân trung chính mà chạm đất. Đặc biệt phải chú ý là sau khi phát ra, hai cánh tay vẫn phải uốn cong tích kình có thừa, chứ không phải duỗi thẳng tay ra hết mức. Vì thế phải vận dụng phi bộ bước ra để thích hợp với yếu kình. Đây là phương pháp giải thoát cuối cùng trong một chuỗi động tác giải thoát, cũng chính là ví dụ về luyện tập thái liệt (bắt gạt) và giải thoát khỏi thái liệt của bộ khung thứ hai. Thức này tuy lấy kình cùi chỏ đánh tới trước, nhưng gốc của nó vẫn ở kình bối chiết kháo của bên phải. Vì thế, yếu lĩnh của nó phải trên cơ sở lập thân trung chính, mới có thể đạt được sự thống nhất của cùi chỏ và kháo cùng dùng.

Thức thứ mười chín Vận thủ (ba lần đầu, ngực hướng nam)

图 L2F28
图 L2F28
Thức thứ mười chín Vận thủ, đoạn đầu: hai tay đồng thời đi sang trái, lập thân trung chính, hai bàn tay một trước một sau vạch cung.
图 L2F29
图 L2F29
Vận thủ, đoạn chuyển phải: hai tay đồng thời đi sang phải rồi lại sang trái, hai bàn tay vạch cung vận chuyển theo đường vòng.

Động tác: Hai tay đồng thời đi sang trái, lại đồng thời đi sang phải, sau đó lại đi sang trái vận động, thành · 195 · Thành ba động tác vận thủ, hơi khác với vận thủ của lộ thứ nhất. Sau kình hợp của thức trước Ảo loan trửu, trọng tâm hoàn toàn chuyển sang chân trái, chân phải bước tới sát bên, lấy mũi bàn chân chấm bên cạnh chân trái; đồng thời, bàn tay trái triền nghịch vận chuyển sang trái, nắm đấm phải biến thành bàn tay triền thuận vận sang trái. (Hình 28) Tiếp đó trọng tâm chuyển sang phải, chân phải đạp vững, gót chân trái trước tiên rời đất nhấc lên; đồng thời, hai tay phải nghịch, trái thuận triền, bàn tay phải qua trước mặt, bàn tay trái qua trước bụng vận chuyển sang phải. (Hình 29) Tiếp đó chân trái mở ngang nửa bước sang trái, trọng tâm dần dần chuyển sang trái, chân trái đạp vững, chân phải biến hư; đồng thời, hai tay trái nghịch, phải thuận triền, bàn tay trái qua trước mặt, bàn tay phải qua trước bụng vận chuyển sang trái. (Hình 30)

图 L2F30
图 L2F30
Thức thứ mười chín Vận thủ, động thứ ba: chân trái mở ngang nửa bước sang trái, trọng tâm chuyển sang trái, chân trái đạp vững chân phải biến hư, hai tay trái nghịch phải thuận triền, bàn tay trái qua trước mặt bàn tay phải qua trước bụng vận chuyển sang trái.

Yếu điểm:

Thức này phải dưới vận động đường cong hòa hoãn mà làm sự biến hóa triền ty của trái thuận phải nghịch và phải thuận trái nghịch, và trong điều kiện không động bước mà nhấc chân và đặt chân, đầy đủ biểu hiện yêu cầu phân chia hư thực của tay chân trên dưới tương tùy, đây cũng là yêu cầu cơ bản của thức này. Bộ khung thứ hai trải qua mấy thức quyền nhảy nhót mệt sức trước đó, tới đây có thể điều chỉnh một chút động tác hô hấp. Cho nên hai tay trong động tác hình chữ ∞ này, đối với tốc độ vận động là có thể chậm, có thể nhanh; đây là nơi phân đoạn tự nhiên của bộ khung thứ hai.

Thức thứ hai mươi Cao thám mã (ngực hướng tây)

Động tác: Sau khi làm ba động tác vận thủ trước, lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển phải, gót chân phải rời đất; đồng thời, hai tay phải nghịch, trái thuận triền, bàn tay phải qua trước mặt, bàn tay trái qua trước bụng vận chuyển sang phải, khi bàn tay trái vận chuyển tới bên phải thân thì tâm bàn tay hướng lên. (Hình 31) Tiếp đó chân phải nhấc lên, thân thể tiếp tục chuyển phải; đồng thời, bàn tay phải triền thuận qua dưới bàn tay trái · 196 · Thu vào từ bên trong, tâm bàn tay hướng lên, bàn tay trái triền nghịch qua phía trên bàn tay phải đẩy tới trước, tâm bàn tay hướng ra ngoài và xuống dưới. (Hình 32)

图 L2F31
图 L2F31
Thức thứ hai mươi Cao thám mã, động tác vận thủ trước đó: hai tay phải nghịch trái thuận triền vận chuyển sang phải, khi bàn tay trái vận tới bên phải thân thì tâm bàn tay hướng lên.
图 L2F32
图 L2F32
Thức thứ hai mươi Cao thám mã định thức: bàn tay phải thu vào từ bên trong, tâm bàn tay hướng lên, bàn tay trái triền nghịch qua phía trên bàn tay phải đẩy tới trước, tâm bàn tay hướng ra ngoài và xuống dưới.

Thức thứ hai mươi mốt Vận thủ (ba lần sau)

图 L2F33
图 L2F33
Thức thứ hai mươi mốt Vận thủ (ba lần sau), động tác chuyển đổi: hai tay lấy phải nghịch trái thuận, tay phải chuyển hướng tới phía trước bên phải, tay trái chuyển hướng tới trước ngực, toàn thân lấy chân trái làm trục xoay chuyển 90°, chân phải chạm đất chấn cước biến thành thực.
图 L2F34
图 L2F34
Vận thủ (ba lần sau), động tác mở ngang chân trái: chân trái mở ngang một bước sang trái, trước tiên lấy gót chân chạm đất, trọng tâm chuyển sang chân trái.

Động tác: Sau khi làm Cao thám mã, tiếp đó hai tay lấy phải nghịch trái thuận đem tay phải chuyển hướng tới phía trước bên phải, mà tay trái chuyển hướng tới trước ngực. Cùng lúc hai tay chuyển đổi này, toàn thân lấy chân trái làm trục xoay chuyển 90°. Đồng thời, chân phải chạm đất dậm một cái chấn cước mà biến thành thực, chân trái mở ngang một bước sang trái, trước tiên lấy gót chân chạm đất. (Hình 33) Trọng tâm chuyển sang chân trái. Chân trái · 197 · Đạp vững, chân phải bước nửa bước sang bên trái, trước tiên chạm đất bằng mũi bàn chân; đồng thời, hai tay quấn nghịch bên trái, quấn thuận bên phải, lòng bàn tay trái đi qua trước mặt, lòng bàn tay phải đi qua trước bụng, vận chuyển sang trái. (Hình 34) Tiếp đó chân phải đạp mạnh, chân trái mở ngang nửa bước sang trái; đồng thời, hai tay quấn nghịch bên phải, quấn thuận bên trái, lòng bàn tay phải đi qua trước mặt, lòng bàn tay trái đi qua trước bụng, vận chuyển sang phải. (Hình 35)

Yếu điểm:

Trong bộ khung thứ hai có ba động tác vận thủ phía trước và ba động tác vận thủ phía sau; ba động tác trước ngực hướng về nam; ba động tác sau ngực hướng về bắc, yêu cầu cơ bản và tác dụng của động tác đều giống nhau, không nhắc lại nữa. Vì thế, yếu điểm của thức này cũng không bàn đến bản thân động tác vận thủ nữa, mà chỉ nói về cái chuyển từ động tác nâng chân chính diện làm cao thám mã rồi quay về phía sau lưng. Động tác này đòi hỏi phải xoay người qua trong đường cong hoãn, vặn ốc không ngừng và nội kình xâu chuỗi, cho nên nhất định phải làm tốt một vòng nhỏ thu tay trái về trước ngực theo nghịch quấn trong quá trình xoay người. Thông qua nghịch quấn này để chuyển dịch thân mình, có thể đem thân mình và vặn ốc chuyển đổi qua trong trạng thái treo giữa không trung. Như vậy không những khiến nội kình không ngừng, mà còn có thể xâu chuỗi nội kình vào động tác tiếp theo. Cho nên thức này cũng là một động tác có độ khó khá cao để luyện tập xâu chuỗi từng tiết từng tiết một.

Để dễ làm xong động tác xoay người trở lại, sau khi Trần Phát Khoa đến Bắc Kinh, để khiến Thái Cực Quyền Trần thức phổ cập hóa, trong cái xoay này đã thêm vào hai thức quyền là vân thủ và cao thám mã. Như vậy liền không còn yêu cầu xoay gấp giữa không trung mà xâu chuỗi nữa, nên dễ làm hơn.

Thức thứ hai mươi hai: Cao thám mã (ngực hướng bắc chuyển tây bắc)

Động tác: Sau khi chuyển chưởng sang phải của thức trên, khi thân lại xoay sang trái, hai tay trước tiên cùng quấn thuận mà cùng hợp lại, khiến hai tay giao nhau trước ngực rồi vượt qua, lại cùng quấn nghịch mà cùng mở ra.

图 L2F35
图 L2F35
Hai tay vận chuyển quấn nghịch trái thuận phải, thế xoay người và mở chân trái nửa bước ngang

lên. Khi hợp thì chân trái là thực. (Hình 37) Khi khai thì chân phải là thực (Hình 38). Đây là một thức quyền liên hệ với thức tiếp theo, kình giống như "Bạch hạc lượng sí" trong bộ thứ nhất, chỉ có điều hai tay cao thấp khá cân bằng, hai chân vượt ra rộng hơn, phải thể hiện được đāng tròn.

Yếu điểm:

Đây là một thức quyền do song thuận mà hợp, rồi lại do song nghịch mà khai, đòi hỏi trong quá trình chuyển khai sau khi hợp không có góc cạnh và lồi lõm, khiến kình vặn ốc vận đến trên lưng cung. Đồng thời, đòi hỏi dưới tư thế mở rộng và khai triển, xâu chuỗi từng tiết mà tăng cường luyện tập tính đàn hồi, để nâng cao băng kình. Khi hợp phải chú ý hai ngón cái, lấy ngón tay trái làm chủ; khi khai thì chú ý hai ngón út, lấy ngón tay phải làm chủ.

Thức thứ hai mươi ba: Liên châu pháo (một) (ngực hướng tây bắc chuyển tây)

图 L2F36
图 L2F36
Hai tay song thuận song hợp, giao nhau trước ngực, thế chân trái thực
图 L2F37
图 L2F37
Song nghịch mà khai, chân phải thực, đāng tròn

Động tác: Từ khai kình của thức trên đến hợp kình của thức này, là do song nghịch quấn mà hợp. Lúc này, tay phải nghịch quấn đến bên phải ngực, lòng bàn tay hướng ra trái; tay trái nghịch quấn đến trước ngực, lòng bàn tay hướng ra phải, hai tay hợp thành một hợp kình trước ngực. Lúc này chân trái thực, chân phải hư. Tiếp đó, hai tay thuận quấn băng ra trước, đồng thời chuyển chân phải thành thực, khi hai tay băng song thuận mà đi xuống, chân trái lùi lại một bước, trọng tâm cũng lập tức chuyển sang trái, ngồi trên chân trái làm thực. Khi hai tay hạ tháp xuống, hình thành thế toàn thân súc kình. (Hình 38) Tiếp đó, hai tay lại chuyển song nghịch băng về phía trước trên, cuốn lên súc lại, chuyển chân phải thành thực. Sau đó hai tay lại lập tức từ trước quấn thuận xuống sang trái sau. Khi hai tay hạ tháp xuống, lại chuyển chân trái thành thực. Đây là trên cơ sở súc kình trước đó lại thêm một súc nữa. Cuối cùng lấy song nghịch quấn phát ra băng kình. Lúc này lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, lòng bàn tay trái hướng xuống. Trong khi phát kình, chân phải bước lên nửa bước về phía trước, chân trái cũng theo đó bước theo nửa bước, gót chân cọ đất có tiếng. (Hình 38, 39) Đây là động tác liên châu pháo thứ nhất, thức này có tổng cộng ba động tác liên châu pháo.

Yếu điểm:

图 L2F38
图 L2F38
Song nghịch quấn phát ra băng kình, lòng bàn tay phải hướng ngoài, lòng bàn tay trái hướng xuống, chân phải tiến nửa bước
图 L2F39
图 L2F39
Chân phải theo vào nửa bước, gót chân cọ đất có tiếng

Thức này thích hợp với thủ pháp khai môn khi Thái Cực Quyền tiến vào vòng người để hoạt động. Đặc điểm của nó là lấy hai tay chủ động xoay tròn làm thức quyền tiến vào vòng người. Thủ pháp của nó giống như đẩy cối nước, lấy tay trái xoay tròn ở trong để phòng ngự lỗ ngực, lấy tay phải xoay tròn ở ngoài để tiến công về phía trước. Hai tay như vậy kết hợp trong ngoài, không ngừng dùng tay trái thêm nguyên liệu, dùng tay phải chuyển động cối đá. Đồng thời, hai chân theo bộ pháp theo bước mà theo vào. Tuy không cầu dính đối phương, nhưng chỉ cần một bộ phận nào đó của cánh tay phải xoay tròn công kích chạm đến một điểm nào đó của đối phương, thì tại nơi chạm đó có thể làm điểm dính, liền tùy chỗ mà dính vào mà biến hóa muôn vàn. Thức này đã dùng "lấy thân tiến thoái" và thân pháp trung chính linh hoạt biến đổi, khi khách quan cần ứng biến và chuyển đổi, đều có dư dật, và đủ để chống đỡ tám mặt. Cái Tiếp theo, vì thức trên là song khai của triển sí, cho nên thức này trước tiên phải cuốn nó lên súc lại. Đây là để súc rồi sau mới phát. Đồng thời, để phát được giòn hơn, trước khi phát kình lại thu nhỏ một vòng, để tăng cường thêm tính đàn hồi của nó, rồi trầm ổn mà phát kình ra. Khi phát kình, tuy chân phải là thực, nhưng vì quan hệ trung chính "trung thổ bất ly vị", mức thực của chân trước và hư của chân sau đòi hỏi chênh lệch không lớn, để có thể nhanh chóng xoay tròn mà tiến lên về phía trước.

Thức thứ hai mươi tư: Liên châu pháo (hai) (ngực hướng tây)

Thức thứ hai mươi lăm: Liên châu pháo (ba) (ngực hướng tây)

Động tác: Khi làm liên châu pháo thứ hai và thứ ba, tay phải từ trước trên thuận quấn về phía trước ngực, tay trái từ trái sau dưới thuận quấn hợp với tay phải trước ngực. Lúc này, ngồi trên chân trái lại hình thành toàn thân súc kình. (Hình 40) Về sau động tác từ Hình 40 đến Hình 41, giống với liên châu pháo thứ nhất (tức giống động tác từ Hình 38 đến Hình 39).

Thức quyền này có thể theo nhu cầu của người luyện tập, làm liên tiếp mấy lần hoặc đưa ra chuyên luyện, động tác của nó giống với mấy liên châu pháo trước. Nhưng để khiến cả bộ khung khi kết thúc vẫn trở về chỗ cũ, cho nên khi thức này làm thêm mấy lần, thì "Bạch xà thổ tín" phía sau cũng phải làm thêm mấy lần như vậy, khiến số lần làm hai thức quyền này bằng nhau. Các yếu điểm khác giống với "liên châu pháo" thứ nhất.

Thức thứ hai mươi sáu: Đảo kỵ lân (ngực hướng tây chuyển đông)

图 L2F40
图 L2F40
Ngồi trên chân trái súc kình, tay phải thuận quấn trước ngực hợp với tay trái

Động tác: Sau khi liên châu pháo của thức trên tiến ba bước, hai chưởng cùng song hợp với nhau; trước tiên đem chưởng trái nghịch quấn chuyển hướng về trước ngực, ngón tay dựng đứng, lòng bàn tay hướng phải. Đồng thời, chưởng phải nghịch quấn chuyển hộ ở ngoài cẳng tay trái, trọng tâm dịch về trước, chân phải là thực (Hình 42). Tiếp đó, tay phải nghịch quấn sang phải sau trên, tay trái nghịch quấn sang trái trước dưới; đồng thời nhấc chân trái lên, hai tay tách ra, lấy chân phải làm trục xoay, xoay sang phải 180° (Hình 43), xoay người hướng đông; khi xoay đến đông, do khai mà hợp đem thân mình dẫn xoay lại. Lúc này tay phải ở dưới phải, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái ở trên trái, ngón tay dựng đứng. Lúc này, chân trái theo thân xoay chuyển lại vẫn nhấc lên. (Hình 44)

Yếu điểm:

图 L2F41
图 L2F41
Tay phải nghịch quấn chuyển hộ ngoài cẳng tay trái, trọng tâm dịch về trước, chân phải thực
图 L2F42
图 L2F42
Tay phải nghịch quấn sang phải sau trên, tay trái nghịch quấn sang trái trước dưới, nhấc chân trái hai tay tách ra
图 L2F43
图 L2F43
Lấy chân phải làm trục xoay sang phải 180°, thế xoay người hướng đông
图 L2F44
图 L2F44
Do khai mà hợp dẫn thân xoay lại, tay phải dưới phải lòng bàn tay hướng xuống, tay trái trên trái ngón dựng đứng

Lấy chân phải làm trục, khi chân trái theo thân xoay bước vượt lại, thân trên vẫn không được ngả trước hoặc ngả sau. Do chân trái theo thân thể xoay sang phải sau 180° mà bước ngược vượt qua, cho nên lấy ý "bước ngược", đặt tên là "Đảo kỵ lân".

Thức thứ hai mươi bảy: Bạch xà thổ tín (một) (ngực hướng đông)

Động tác: Sau khi chân trái của thức trên bước ngược vượt qua, tiếp ngay lấy tay phải làm chủ thuận quấn ra trước một vòng nhỏ, dùng băng kình của ngón tay đánh ra. Đồng thời, tay trái ở sau vẫn lấy nghịch quấn phối hợp với tay phải cùng phát về trái sau. Lúc này, chân trái tiến nửa bước đặt đất làm thực, chân phải lập tức theo vào, cọ đất có tiếng, hoàn thành băng phát của Bạch xà thổ tín thứ nhất. (Hình 45) Thức quyền này là động tác ao bộ mà người ta ít có, phải tốn chút công phu mới thuần thục đắc kình, hoặc đưa ra chuyên luyện.

Yếu điểm:

Thức này cũng có thể làm một loại thủ pháp khai môn, là cách lấy ao bộ tiến vào vòng người; đều là lấy thân tiến thoái, không cho phép có thân pháp ngả ngửa nghiêng ngả, tránh sinh ra tật chỉ chống đỡ được một mặt trong vòng người. Để có thể làm được biến đổi linh hoạt dọc ngang trước sau, sự phân chia hư thực trong thức quyền này giống với "liên châu pháo"; cũng đòi hỏi tiểu hư tiểu thực (1), để sau khi tiến vào vòng, chạm đến bất cứ bộ phận nào, liền có được tác dụng dính bám thuận lợi. Chỗ khác nhau là ở chỗ thức trước liên châu pháo là thuận bộ, thức này "Bạch xà thổ tín" là ao bộ (đôi khi để đơn giản dễ làm, có người đổi "Bạch xà thổ tín" thứ hai thành (1) Tiểu hư tiểu thực, chính là chỉ tỷ lệ phân phối tải trọng của hai chân: giả định hai chân chịu tải tổng cộng 100 cân, một chân 55 cân, chân kia 45 cân, như vậy chỉ cần động một chút là có thể rất nhanh chuyển đổi hư thực qua lại; cho nên người công phu sâu thì sự khác biệt hư thực nhỏ, vòng tròn biểu hiện ra bên ngoài cũng nhỏ.

图 L2F45
图 L2F45
Sau khi chân trái bước ngược, tay phải thuận quấn băng kình đánh ra trước, chân trái tiến nửa bước làm thực, chân phải theo vào

"Yểm thủ quăng chùy", về sau lại làm Bạch xà thổ tín thứ ba, như vậy thì dễ làm hơn nhiều). Khi luyện tập ao bộ tiến về trước, ban đầu sẽ có chút không thuận, cho nên nhất định phải luyện tập nhiều. Đồng thời, thức quyền này là súc phát ở cự ly ngắn, cho nên phải hàm hung bạt bối, do cột sống dẫn đầu, làm được xâu chuỗi từng tiết và kình phát từ cột sống. Đây là động tác đại biểu cho kình phát từ cột sống của cả bộ khung. Nếu chỉ do hai cánh tay thể hiện phát ra cong vẹo là không hợp yêu cầu. Nếu có thể đưa ra chuyên luyện thì càng tốt.

Thức thứ hai mươi sáu: Bạch xà thổ tín (hai) (ngực hướng đông)

Thức thứ hai mươi bảy: Bạch xà thổ tín (ba) (ngực hướng đông)

图 L2F46
图 L2F46
Tay phải ở trước thuận quấn súc đến trước ngực lòng bàn tay hướng trái, tay trái nghịch quấn chuyển bên sườn trái, trọng tâm dịch sau chân phải thực, mũi chân trái chấm đất
图 L2F47
图 L2F47
Chưởng phải ở trước thuận quấn một vòng nhỏ, dùng băng kình ngón tay đánh ra

Động tác: Súc kình của "Bạch xà thổ tín" thức trên là do hợp thế của "Đảo kỵ lân" phân chuyển rồi lại một hợp kình mà hoàn thành. Còn súc kình của "Bạch xà thổ tín" này, thì là tiến hành súc kình sau khi phát kình của "Bạch xà thổ tín". Đây là điểm khác nhau của hai "Bạch xà thổ tín". Khi bắt đầu, tay phải ở trước lấy thuận quấn súc đến trước ngực, lòng bàn tay hướng trái. Đồng thời, tay trái ở bên trái, lấy nghịch quấn chuyển đến bên sườn trái. Khi súc thì hai cánh tay hợp giữ kình, trọng tâm dịch về sau, chân phải là thực, mũi chân trái chấm đất là hư. (Hình 46) Tiếp đó, chưởng phải ở trước thuận quấn làm chủ một vòng nhỏ, dùng băng kình của ngón tay đánh ra. Đồng thời, chưởng trái ở sau, lấy nghịch quấn phối hợp với chưởng phải cùng phát kình. Lúc này, chân trái tiến nửa bước về trước, đặt đất làm thực, chân phải lập tức theo vào, cọ đất có tiếng, hoàn thành "Bạch xà thổ tín" thứ hai. (Hình 47) Thức này cũng có thể theo nhu cầu của người luyện tập, làm thêm mấy lần Bạch xà thổ tín có số lần giống với "liên châu pháo".

Yếu điểm: Giống với Bạch xà thổ tín thứ nhất.

Thức thứ ba mươi: Hải để phiên hoa (ngực hướng đông chuyển tây)

Động tác: Đây là một thức quyền đặc biệt. Sau khi tay phải của thức trên phát ra băng kình về phía trước, liền cùng tay trái ở sau song thuận quấn giao nhau mà hợp. Sau khi hợp, lấy song khai kình hữu thuận tả nghịch đem thân xoay sang phải 180°. Lúc này trọng tâm dịch sang chân trái, hình thành tư thế độc lập. Trong quá trình xoay hướng tây, tay trái tay phải thành quyền, quyền phải lấy lưng quyền đánh phát xuống dưới sau, lòng quyền hướng trước. Quyền trái đánh phát lên trên sau, lòng quyền hướng phải. (Hình 48, từ Hình 48 trở đi cho đến hình cuối cùng, do trước đây khi chụp ảnh cho thầy Trần Phát Khoa đều chụp ảnh mặt trái của động tác, cho nên tất cả các hình ảnh phía sau, lấy mặt hướng về người đọc là hướng bắc, lưng hướng về người đọc là hướng nam, mặt hướng về người đọc phía trái là hướng đông, mặt hướng về người đọc phía phải là hướng tây, phía sau không nhắc lại nữa).

Yếu điểm:

Thức quyền này lấy vận động khớp khuỷu tay làm chủ. Quyền trái đánh phát về sau trên và quyền phải về sau dưới, đánh phát lên xuống, là sự phát động về phía sau ít có, cho nên yếu điểm của nó ở chỗ khi phát động lên xuống về phía sau đòi hỏi giữ được sự cân bằng của thân mình.

Thức thứ ba mươi mốt: Yểm thủ quăng chùy (ngực hướng tây)

图 L2F48
图 L2F48
Tay trái tay phải thành quyền, quyền phải lưng quyền đánh phát xuống dưới sau lòng quyền hướng trước, quyền trái đánh phát lên trên sau lòng quyền hướng phải, thân xoay sang phải 180° trọng tâm dời chân trái độc lập

Động tác: Ở thức trên nhấc chân phải lên, hai quyền ở trên dưới phân biệt đánh phát về phía sau bên sau, quyền phải thuận quấn hơi nhấc lên rồi lại lấy thuận quấn chìm xuống, lưng quyền hướng xuống, chân phải đồng thời chấn chân xuống đất. Đồng thời, quyền trái phối hợp với quyền phải lấy nghịch quấn hơi chìm xuống rồi lập tức nâng lên, toàn thân trọng tâm đều ở trên cái chấn của chân phải. Đợi quyền phải thuận quấn đến lòng quyền lại hướng lên, và thêm một chút chìm kình, rồi lại chuyển thành nghịch quấn mà phát kình ra. Tay phát ra, vẫn phải lưu lại dư dật, không được duỗi thẳng hết mức. Đồng thời, quyền trái nghịch quấn nâng lên chuyển một cái thành thuận quấn phát ra về sau làm khách, để giữ được song phát có chủ có khách. (Hình 49)

Yếu điểm: Giống với thức thứ mười bảy "Yểm thủ quăng chùy".

Thức thứ ba mươi hai: Chuyển thân lục hợp (ngực hướng tây do bắc chuyển nam)

图 L2F49
图 L2F49
Quyền phải thuận quấn nhấc lên chìm xuống, lưng quyền hướng xuống, chân phải chấn chân xuống đất, quyền trái nghịch quấn chìm xuống rồi nâng lên
图 L2F50
图 L2F50
Tay phải thuận quấn thu về trước vai trái, tay trái nghịch quấn duỗi trước ngực, trọng tâm dời phải thân xoay phải
图 L2F51
图 L2F51
Hai quyền tách ra sang trái phải

Động tác: Do khai của thức trên "Yểm thủ quăng chùy", đem tay phải đã phát động ở phía trước thuận quấn thu về trước vai trái; đồng thời, tay trái nghịch quấn duỗi ra trước ngực. Đồng thời trọng tâm dịch sang phải, thân thể xoay sang phải. (Hình 50) Sau đó tiếp lấy hai quyền tách ra sang trái phải. (Hình 51) Tiếp Chuyển toàn bộ trọng tâm sang chân trái, lấy gót chân trái làm trục, nhấc chân phải lên, thân mình xoay sang phải-sau; đồng thời, hai nắm đấm khép lại giao nhau trước bụng, nắm đấm phải ở trong, lòng cả hai nắm đấm đều hướng vào trong. (Hình 52)

Phần 27

Trang sách 195

Thức thứ ba mươi ba. Tả quả tiên pháo (1)

Thức thứ ba mươi ba. Tả quả tiên pháo (1)

Tiếp đó bàn chân phải đặt xuống giậm chân. (Hình 53) Đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước; hai tay chuyển thành song thuận, phát kình cứng ra hai bên ngoài trái phải và hơi về phía sau. Lúc này, lòng nắm đấm hướng ra trước lên trên, khi phát thì tay trái chân trái là chủ yếu. Đây là thế biến trong quả tiên (biến). (Hình 54)

图 L2F52
图 L2F52
Trọng tâm dồn lên chân trái, chân phải nhấc lên, thân mình xoay sang phải-sau, hai nắm đấm khép lại giao nhau trước bụng, nắm phải ở trong
图 L2F53
图 L2F53
Chân phải đặt xuống giậm chân, thế thân mình xoay sang phải
图 L2F54
图 L2F54
Chân trái bước ngang sang trái, hai tay song thuận phát kình ra hai bên ngoài trái phải, lòng nắm đấm hướng trước lên trên

Yếu điểm: Hàm hung bạt bối nghĩa là xương sống căng cứng từ trên xuống dưới. Thức này do quan hệ của "quả", nên xương sống căng cứng cả bốn mặt trên dưới trái phải, là một thức quyền đặc biệt nữa để luyện lực phát ra từ xương sống, cũng là thức quyền luyện bộ pháp hoành hành của bộ khung thứ hai. Đây là một loại bộ pháp kiểu quần chiến. Khi chân và cánh tay giao nhau · 207 · Lúc này là "quả", là sự tích lực của chân. Khi tách hai chân ra thành "tiên", là sự phóng lực của chân, có thể khiến người ta luyện thành công phu nhẹ thân nhảy ngang. Yếu điểm của thức này là trước khi phát, phải quấn chặt một cái, khiến khí trầm xuống hơn nữa, sau đó mới có thể phát kình sang trái phải một cách dứt khoát, biểu hiện ra tính đàn hồi cứng rắn. Như vậy liên tiếp tích và phát hai lần. Đồng thời, khi hai tay từ song khai thuận triền chuyển thành song hợp nghịch triền làm thành "quả", chính là lúc toàn thân quấn chặt, khí dán vào xương sống, hình thành lúc tích lực đầy đủ; vừa đặt chân xuống giậm chân, tức khắc là sự phát kình trái phải của "tiên".

Phần 28

Trang sách 196

Thức thứ ba mươi tư. Tả quả tiên pháo (2) (ngực hướng nam)

Thức thứ ba mươi tư. Tả quả tiên pháo (2) (ngực hướng nam)

Động tác: sau khi "chuyển thân lục hợp" và thức trước "quả tiên pháo" phát động sang trái phải, hai nắm đấm lại chuyển thành song nghịch, trọng tâm trước hết dịch sang phải, khiến chân phải thành thực, sau đó lại đưa hai nắm đấm hợp trước bụng dưới, trọng tâm dịch sang trái; đồng thời nhấc chân phải lên, hạ xuống bên trái chân trái, khiến hai nắm đấm và hai chân giao nhau quấn lại. Đây lại là một "quả". (Hình 55) Lúc này hai cánh tay quấn chặt, có kình trầm xuống, xương sống cũng phải căng cứng. Tiếp đó chuyển hai nắm đấm thành song thuận, phát kình cứng ra hai bên ngoài trái phải và hơi về sau, đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước, đây lại là một "tiên". (Hình 56) Thức này cũng có thể tùy theo nhu cầu mà liên tiếp làm thêm vài cái, động tác giống như tả quả tiên pháo (2).

图 L2F55
图 L2F55
Hai nắm đấm hợp trước bụng dưới, trọng tâm dịch sang trái, chân phải nhấc lên hạ xuống bên trái chân trái, hai nắm đấm và hai chân giao nhau quấn lại
图 L2F56
图 L2F56
Hai nắm đấm chuyển song thuận phát kình ra hai bên ngoài trái phải, chân trái bước ngang sang trái

· 208 · Yếu điểm: Đây là một thức quyền quần chiến vừa là "tẩu" (đi), vừa là "công" (đánh). Yếu điểm của nó là khi nhảy ngang rơi xuống phải biểu hiện trầm ổn không phù phiếm; đồng thời trong quá trình một quấn một biến, không được đứt kình, để thích ứng với yêu cầu của quần chiến là không có khe hở để tìm. Cho nên, ở điểm nối tiếp sau khi phát kình song khai của quả tiên thứ nhất phải làm ra một cái "chiết điệp", khiến nội động năng chuyển tiếp theo đường cong nhẹ nhàng vào quả tiên thứ hai.

Phần 29

Trang sách 197

Thức thứ ba mươi lăm. Hữu quả tiên pháo (1) (ngực từ nam chuyển bắc)

Thức thứ ba mươi lăm. Hữu quả tiên pháo (1) (ngực từ nam chuyển bắc)

Động tác: kình song thuận phát của quả tiên thứ hai ở thức trên là kình song khai; sau khi khai lại có một kình song trầm ra ngoài xuống, hai nắm đấm đều đổi thành song nghịch triền tích lại, và hợp trước bụng dưới, lưng nắm đấm đối nhau; đồng thời, lấy chân trái làm trục xoay, nhấc chân phải lên, lợi dụng kình song hợp của hai nắm đấm, cánh tay trái vòng nhỏ, cánh tay phải vòng lớn. Dẫn thân mình xoay sang trái 180°, chân trái lấy bàn chân dán đất quét xoay nửa vòng theo thân xoay. (Hình 57) Lúc này, hai nắm đấm cũng chuyển thành song thuận hướng ra hai bên trái phải, và hơi về sau phát ra kình cứng. Khi phát lấy tay trái, chân trái làm chủ, hình thành quả tiên thứ nhất sau khi xoay thân. (Hình 58)

图 L2F57
图 L2F57
Lấy chân trái làm trục nhấc chân phải lên, hai nắm đấm song nghịch triền hợp trước bụng dưới lưng nắm đấm đối nhau, thân dẫn xoay sang trái 180°
图 L2F58
图 L2F58
Hai nắm đấm chuyển song thuận phát kình cứng ra hai bên trái phải, tay trái chân trái làm chủ, thành quả tiên thứ nhất sau khi xoay thân

Yếu điểm: Nó lấy chân trái làm trục xoay ở giữa, dùng thế "quả" tích lực để xoay thân · 209 · thân. Chân trái theo thân xoay quét ngang nửa vòng, trong quá trình này vẫn phải giữ thân mình vững vàng, đây là điều kiện quan trọng để kình phát của một "tiên" sau khi xoay thân dứt khoát hay không dứt khoát. Các yếu điểm khác giống như hai quả tiên trước.

Thức thứ ba mươi sáu. Hữu quả tiên pháo (2) (ngực hướng bắc)

Động tác: thức quyền này giống như quả tiên thứ hai trước khi xoay thân, chỉ khác là ngực đã xoay hướng về phía bắc. (Hình 59, 60, 61)

图 L2F59
图 L2F59
Hai nắm đấm hợp trước bụng dưới, chân phải nhấc lên, hữu quả tiên pháo tích thế
图 L2F60
图 L2F60
Chân phải hạ xuống bên phải chân trái, hai nắm đấm và hai chân giao nhau quấn lên
图 L2F61
图 L2F61
Hai nắm đấm chuyển song thuận phát kình cứng ra hai bên trái phải, ngực hướng bắc

Yếu điểm: giống thức thứ ba mươi tư.

Thức thứ ba mươi bảy. Thú đầu thế (ngực từ nam chuyển đông bắc)

Động tác: sau khi phát kình song khai của quả tiên ở thức trên, chân phải chuyển cung sang phải-sau 90° không cùng độ rộng với chân trái. Sau đó chân trái chuyển cung sang trái-sau nửa bước, xoay qua thân mình. Đồng thời, phần trên lấy nắm đấm phải thuận triền vạch cung từ ngoài vào trong, chuyển đến dưới cùi chỏ trái, lòng nắm đấm hướng vào trong. Nắm đấm trái nghịch triền, từ ngoài-dưới lên trong-trên dựng đứng lên, lòng nắm đấm hướng sang phải, hình thành thế song hợp. Lúc đó, chân phải thực. (Hình 62) Tiếp đó đem cánh tay trái đã dựng đứng, thuận triền ép ngang sang trái, từ phải sang trái-sau làm động tác phóng kình giả (tân), đồng thời chân trái lùi bước sang trái-sau, vẫn lấy chân phải làm thực, để phối hợp với tay phải xoay dưới cùi chỏ đưa cẳng tay ra trước ngang, thuận triền phát ra kình cùi chỏ của cẳng tay ngang. (Hình 63)

图 L2F62
图 L2F62
Nắm đấm phải thuận triền vạch cung chuyển đến dưới cùi chỏ trái, nắm đấm trái nghịch triền dựng đứng lên, hình thành thế song hợp, chân phải thực
图 L2F63
图 L2F63
Cánh tay trái thuận triền ép ngang sang trái phóng kình, tay phải xoay dưới cùi chỏ đưa cẳng tay ra trước ngang phát ra kình cùi chỏ

· 210 · Yếu điểm: Thức này khi bắt đầu dựng đứng cánh tay trái, đưa ngang sang phải đâm, hình thành thế biến của việc tích lực, yêu cầu đem nội kình trong thân mình rót đầy đủ. Chân phải chuyển cung nửa vòng, bước tháo về phải-sau, có thể thúc đẩy kình rót đầy đủ. Đây là tác dụng "lùi tức là tiến", "giữ tức là công". Bởi vì khi cánh tay trái dựng đứng vừa gập ngang, hình thành sự tăng cường của hợp kình, cánh tay phải lập tức vượt qua trên cánh tay trái mà phát ra kình cùi chỏ, tức là cái gọi là xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, khiến đối phương khó phòng ngự. Loại thức quyền lấy cẳng tay đưa ngang phát ra kình cùi chỏ này, ngoài "đoạt nhị quăng" ở sau cùng là thức quyền luyện kình phát cùi chỏ ra, trong bộ khung thứ hai không còn thức quyền nào khác luyện kình phát cùi chỏ, cho nên phải tỉ mỉ tập luyện (nghe nói đây là chọn ra từ quyền phổ của Thích Kế Quang)

Phần 30

Trang sách 198

Thức thứ ba mươi tám. Phách giá tử (ngực hướng đông bắc)

Thức thứ ba mươi tám. Phách giá tử (ngực hướng đông bắc)
图 L2F64
图 L2F64
Hai chưởng giao nhau hợp đôi, đũng tròn trầm xuống, chân trái bước ra thành cung bộ
图 L2F65
图 L2F65
Phát ra kình vai tựa trái, chân phải thực

Động tác: thức này sau khi "thú đầu thế" phát kình, nắm đấm phải hướng xuống rồi chuyển lên một thuận triền nhỏ. Đồng thời, nắm đấm trái hướng lên rồi chuyển xuống một nghịch triền nhỏ. Khi sự chuyển động đối ứng đến lúc nắm đấm trái ở dưới, nắm đấm phải ở trên thành một đường thẳng đứng, thì nhảy chân phải lên; đồng thời, chân trái bước ra trước một bước. Lúc này hai nắm đấm đều biến thành chưởng, chặt chẽ giao nhau hợp đôi lại, và khiến đũng (háng) tròn mà trầm xuống, bên trong giấu kình vai tựa (kháo) ở cự ly gần. Lúc này chân trái · 211 · chân là thực. (Hình 65) Động tác trên là phát ra kình vai tựa trái trong lúc tích lực; không cần tích lực nữa, chỉ cần buông lỏng thế tích lực của thức trước, tức là phát động; là dùng tay trái hướng lên ngoài thuận triền phát ra, là kình đánh lên duy nhất trong Thái Cực quyền. Mục tiêu đánh trúng là cằm dưới của người. Thức này là thức quyền có thể dùng cả chùy (nắm đấm) lẫn chưởng, cũng là phép đánh ra sau của tay phải hướng xuống trong nghịch triền làm động tác giả. (Hình 66)

图 L2F66
图 L2F66
Tay phải hướng xuống trong nghịch triền đánh ra sau, tay trái hướng lên ngoài thuận triền đánh lên

Yếu điểm: Đây là thức quyền sau khi phát kình bằng (bằng) của thức trên chuyển thành tích lực, và trong tích lực có ngụ ý phóng kình. Khi hai tay giao nhau bước ngang nửa bước, kình chặt của chưởng đập mặt của tay phải ở trên đánh sang trái-trên và kình vai tựa ra ngoài trái của vai trái phải đồng thời cùng dùng. Hai kình chỉ có một là kình tựa, một rõ một tối, một cánh một hư, là đặc điểm của thức này. Bởi vì phàm khi dùng kình vai tựa phát ra, đầu dễ bị người khống chế nhất. Cho nên thức này trong cự ly gần bảy tấc, đồng thời dùng chưởng đập mặt có thế đánh tới trước, do đó đối với đầu không những có tác dụng bảo vệ, mà còn bổ sung cho sự không đủ của kình vai tựa.

· 212 · Trong lúc tích thế tích lực mà dùng kình tựa, phải có kình trung chính an ổn; nếu kình tựa rơi vào khoảng không, thì ở một bên tựa, cúi chỏ đánh và tay bằng (bằng) đều đã tích sẵn chờ phát, bất cứ lúc nào cũng có thể cứu chữa điều không kịp.

Hình 66 là một trong những thủ pháp lấy bằng thủ làm chủ. Nó sau kình phát bằng, kình chặt của chưởng và kình vai tựa, lại thêm một kình đánh lên độc nhất. Đây là kình phát kiểu liên châu, mục đích là đánh trúng đối phương chứ không phải đánh văng đối phương. Nhưng đánh trúng cằm dưới của đối phương, cũng có khả năng khiến đối phương ngã. Đây là một phép đánh đặc biệt trong thủ pháp của Thái Cực quyền. Đồng thời, do thức quyền trước đã tích lực đầy đủ cho hai tay hai chân, cho nên cú đánh lên của thức này, yếu điểm của nó ở chỗ trong một cái trầm kình có thể tập trung kình của nó cao độ hơn nữa, như vậy mới khiến động tác đánh lên biểu hiện ra nội kình cứng rắn mà trầm ổn.

Phần 31

Trang sách 200

Thức thứ ba mươi chín. Phiên hoa vũ tụ (ngực từ đông nam chuyển đông bắc)

Thức thứ ba mươi chín. Phiên hoa vũ tụ (ngực từ đông nam chuyển đông bắc)

Động tác: đây là sau cú đánh lên chia đôi kình của thức trên, biến thành thân pháp trầm xuống. Trước khi động tác, phải thêm một kình đàn hồi trầm ổn nữa, và do đỉnh kình dẫn đầu kéo thân mình lên. Đây là yêu cầu "ý muốn lên trên, ắt trước phải ngụ xuống dưới". Cho nên, dưới sự phối hợp của thần khí cổ động chuyển từ sau-dưới thành trước-trên, dẫn tay phải từ sau-dưới nghịch triền hướng trước xuống. Đồng thời, tay trái ở trước làm vòng nhỏ thuận triền, phối hợp tay phải hợp kình lại. Tiếp đó, tay phải vẫn lấy nghịch triền từ trước-trên hướng trước xuống dùng cạnh chưởng chặt xuống, giống như dùng búa bổ củi vậy. Khi chặt toàn thân phải buông lỏng ra, phải dùng kình đàn hồi; đồng thời, tay trái hướng trái-sau làm động tác đánh giả (tân). Khi hai tay hướng sang phải-sau, nhấc chân trái lên; khi hai tay đến trước-trên, chân trái rơi xuống thành thực; đồng thời chân phải bước ra trước một bước. Khi tay phải chặt xuống là thực, chân phải là hư. (Hình 67)

图 L2F67
图 L2F67
Tay phải nghịch triền từ trước-trên hướng trước xuống dùng cạnh chưởng chặt xuống, tay trái hướng trái-sau đánh giả, chân trái rơi xuống thành thực thành cung bộ

· 213 · Yếu điểm: Thức này cũng là chọn ra từ quyền phổ của Thích Kế Quang, nó khác với thức trước: thức trước là từ dưới đánh lên, mà thức này là từ trên chặt xuống. Để làm tốt cái chặt xuống, trước hết phải hợp kình lại ở trước ngực, sau đó liên hợp nội kình của thân mình, và chặt xuống sau khi chuyển vòng. Lúc này, yêu cầu tay chân phối hợp nhịp nhàng, và dưới sự đắc thế đắc kình biểu hiện ra một cái chặt cứng rắn. Cho nên, hai tay phải sau khi chuyển qua một vòng lớn, mới bắt đầu chặt xuống; giống như cầm búa lớn chuyển một vòng rồi đập sắt vậy. Đây là thức quyền duy nhất chuyển vòng rồi chặt xuống của bộ khung thứ hai. Khi phát cái chặt xuống, thân khu phải trung chính không lệch, và có sự buông lỏng đàn hồi, đây là biểu hiện cụ thể của việc lợi dụng lực quán tính của một vòng xoay để tăng cường kình chặt xuống; phải làm cho hai tay và hai chân đồng thời cùng dùng, để đạt đến yêu cầu vô cùng phối hợp.

Phần 32

Trang sách 201

Thức thứ bốn mươi. Yểm thủ quăng chùy (ngực từ đông bắc chuyển đông)

Thức thứ bốn mươi. Yểm thủ quăng chùy (ngực từ đông bắc chuyển đông)

Động tác: thức này nối tiếp sau "phiên hoa vũ tụ", khác với "yểm thủ quăng chùy" trước; thức này phải do đỉnh kình dẫn đầu kéo thân mình lên, nhấc chân phải lên, hạ xuống ở chỗ song song với chân trái giậm chân thành thực; đồng thời, đưa chân trái duỗi ra trước một bước nhỏ thành hư. Thức này yêu cầu khi nhảy lên thì chân trước chân sau đổi vị trí cho nhau. Khi thân khu được dẫn lên, tay phải thuận triền cùng tay trái nghịch triền hợp đôi lại, lúc chân phải rơi xuống đồng thời, hai tay lấy song nghịch triền tách ra, rồi lại chuyển tích lên. Lúc này tay phải đổi chưởng thành nắm đấm, đặt ở bên hông phải, và dưới một cái trầm kình lấy nắm đấm phải làm chủ phát kình ra. Lúc này, tay trái lấy nghịch triền hướng ra sau làm động tác giả phóng kình. (Hình 68)

Yếu điểm: Khi làm cái chặt xuống trong thức "phiên hoa vũ tụ", là buông lỏng mà chặt một cái, khiến người ta có khí thế khuếch tán kình ra bốn phía, giống như túi tro rơi xuống đất, tro tán ra bốn phía.

图 L2F68
图 L2F68
Chân phải nhấc lên hạ xuống chỗ song song với chân trái giậm chân thành thực, tay phải đổi chưởng thành nắm đấm đặt bên hông phải phát kình, tay trái nghịch triền hướng sau phóng kình

· 214 · ra; bởi vì là kình chặt buông lỏng, cho nên khi làm thức quyền tiếp theo thì lợi dụng tính đàn hồi của cái chặt xuống để dẫn thân mình lên, giống như tập trung kình bốn phía vào một điểm mà dẫn lên vậy. Đến khi chân phải rơi xuống giậm chân và chân trái duỗi ra bước tới, trong ý niệm lại có ý đồ đưa kình tản ra. Đây là thần thái mà thức quyền này phải có.

Phần 33

Trang sách 202

Thức thứ bốn mươi mốt. Phục hổ (ngực từ đông chuyển đông nam)

Thức thứ bốn mươi mốt. Phục hổ (ngực từ đông chuyển đông nam)

Động tác: sau khi nắm đấm phải phát kình ở thức trên, nghịch triền thu nắm đấm phải về, đồng thời tay trái nghịch triền thành nắm đấm, hướng trái-trước buông ra. Khi nắm đấm phải nghịch triền hướng sau, đưa chân phải ở phía sau lùi thêm nửa bước sang phải-sau thành thực, đến khi nắm đấm phải nghịch triền hướng ngoài phải làm một vòng lớn, lại làm một vòng nhỏ, khiến nắm đấm phải đến góc trán trái, thì hoàn thành thức quyền phục hổ. Đồng thời, nắm đấm trái thu về làm một vòng nhỏ hướng trong trái, khi chuyển đến bên hông trái thì chống ở bên hông trái. Lúc này chân phải thực, chân trái hư. (Hình 69)

Yếu điểm: Thức này khi xoay một vòng lớn trái phải trước sau và trên dưới (đại tích lực), phải khiến thân khu trong khi vận chuyển càng vận càng thấp, đồng thời vòng lớn cũng càng xoay càng nhỏ, đây là một ví dụ rõ ràng nhất của việc hình thành thân khu xoáy ốc đi xuống. Thức này khác với các thức quyền thông thường ở chỗ trong tư thế khai mà hình thành súc động; bởi vì thân khu càng vận chuyển về chỗ thấp, tính đàn hồi của súc kình tác dụng lên chân cũng càng lớn. Loại súc kình này, có thể chuẩn bị tốt cho lực đàn hồi nhảy lên nhẹ nhàng linh hoạt của thức sau, đây là thức quyền thấp nhất của bộ khung thứ hai, cũng là thức quyền rõ ràng nhất về triền ti của chân phối hợp với triền ti của tay.

Thức thứ bốn mươi hai. Mạt mi hồng (ngực từ đông nam chuyển bắc, rồi chuyển nam)
图 L2F69
图 L2F69
Nắm đấm phải nghịch triền hướng ngoài phải làm vòng lớn rồi làm vòng nhỏ đến góc trán trái, nắm đấm trái chống ở bên hông trái, chân phải thực chân trái hư

Động tác: thức quyền trên là đại súc thân pháp, khi làm thức này, thì là ở thức trên · 215 · Thân pháp phóng đại trong trường hợp thân pháp đã tích súc đầy đủ. Trên cơ sở bên phải của sống lưng đã duỗi dài và đàn hồi đầy đủ, vận dụng quá trình thu súc của tính đàn hồi hồi phục nơi lưng eo, dùng tay phải thuận triền (thuận quấn) vạch cung từ trên xuống rồi chuyển ra trước quật một cái (giả định tay trái của thức trước "Ngọa Hổ Sát Yêu" đã bị thải), quyền trái dùng nghịch triền (nghịch quấn) từ dưới ra sau vạch lên một vòng tròn khép kín, mượn lực ly tâm của quyền phải quật ra trước để lĩnh thân mình lên, chân phải cũng theo đó nhảy tới trước một bước lớn, chân trái theo sau bước tới. Lúc này hai chân rời khỏi mặt đất. (Hình 70) Nhảy tới bên đối diện, khi chân phải chạm đất làm thực điểm, khiến thân mình xoay trái 180° giữa không trung, đặt chân trái về phía đông của chân phải. Lúc này, quyền trái cũng từ trên nghịch triền xuống đặt nơi lưng eo. (Hình 71) Trong quá trình nhảy tới xoay thân, một kình "bối chiết kháo" (kình tựa gãy lưng) biểu hiện rất tự nhiên, để gỡ bỏ bàn tay trái bị thải, và thu tay trái về đặt nơi lưng eo.

Yếu điểm: Thức này chủ yếu dựa trên súc kình của thức trên. Trước khi nhảy tới, phải ngồi lùi eo chân một chút để tăng cường đàn kình. Sau đó mượn tính đàn hồi của súc kình, khiến thân nhảy vọt lên về trước, đây là mấu chốt để đạt được khinh linh và dễ xoay chuyển. Khi xoay thân nhất định phải giữ thân trung chính, đây là bảo đảm để kình "bối chiết kháo" được phát phóng an toàn, cũng là cách tự nhiên thoát ra mà không phải cầu thoát ra.

图 L2F70
图 L2F70
Tay phải thuận triền quật xuống, quyền trái nghịch triền vạch lên một vòng tròn khép kín, thân mình lĩnh lên, chân phải nhảy tới trước, hai chân rời đất
图 L2F71
图 L2F71
Nhảy tới bên đối diện, chân phải chạm đất, thân mình xoay trái 180° giữa không trung, quyền trái hạ xuống đặt nơi lưng eo

cơ sở.

Thức thứ bốn mươi ba: Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy (ngực hướng nam)

Động tác: Sau khi thức này nhảy lên xoay thân, quyền trái chống lưng eo, tiếp đó tay phải vạch vòng trước ngực bằng thuận triền. Khi tay phải vạch vòng xuống dưới, chân phải lập tức nhấc lên làm hư. (Hình 72) Khi tay phải vạch vòng lên trên, chân phải lại hạ xuống làm thực, hoàn thành một lần "giảo thủy" (khuấy nước). (Hình 73) Tiếp đó tiếp tục làm thêm hai lần động tác "giảo thủy". (Hình 74, 73, rồi tiếp 74, 73, 74)

图 L2F72
图 L2F72
Tay phải vạch vòng xuống bằng thuận triền trước ngực, chân phải nhấc lên làm hư
图 L2F73
图 L2F73
Tay phải vạch vòng lên, chân phải hạ xuống làm thực
图 L2F74
图 L2F74
Tay phải tiếp tục vạch vòng khuấy nước, quyền trái chống lưng eo, chân phải chuyển đổi hư thực

Yếu điểm: Theo yêu cầu của kỹ năng vận động mà nói, thức quyền càng đơn giản thì càng khó làm tốt yêu cầu "nhất động toàn động" (một động tác khiến toàn thân động). Thức này chỉ có một tay phải vạch vòng, chân phải phối hợp lên xuống phân hư thực để tiến hành vận động, động tác như vậy khá đơn giản, cho nên đây là công phu cơ bản để luyện triền ty kình (kình quấn tơ) đạt tới tiết tiết quán xuyến. Muốn đạt tới "nhất động toàn động", yếu điểm vẫn nằm ở sự dẫn dắt của lưng eo và sự buông lỏng của kình nơi cánh tay, vạch vòng như chiếc roi — đây là mấu chốt để làm tốt thức quyền này.

Nơi đây chính là phân đoạn thứ hai của giá thứ hai, có thể tùy nhu cầu mà lặp lại làm vài lần. Bởi vì trước khi "giảo thủy", đã liên tục tiến hành một loạt vận động khá kịch liệt, nên ở đây có thể khiến người ta được hưu chỉnh nhất định.

· 217 · Thức thứ bốn mươi bốn: Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy (ngực hướng nam, chuyển bắc)

图 L2F75
图 L2F75
Sau khi xoay thân, quyền trái buông ra đón lên phải, tay trái nghịch triền vạch vòng sang trái, tay phải sau tiểu thuận triền đặt nơi eo phải
图 L2F76
图 L2F76
Tay trái vạch vòng khuấy nước trước thân, chân trái nhấc lên làm hư
图 L2F77
图 L2F77
Tay trái vạch vòng lên, chân trái hạ xuống làm thực

Động tác: Tiếp thức trên, xoay thân lại, đổi thành tay trái "giảo thủy" vạch vòng. Cách làm của nó cơ bản giống với động tác "giảo thủy" của tay phải, điểm khác là phải làm được việc khi tay trái tay phải thay phiên và xoay thân thì phải giữ nội kình không đứt. Thức trên khi tay phải vạch vòng đến lúc từ dưới chuyển sang trái, quyền trái đang chống nơi eo trái buông ra và nghịch triền hướng lên phải để đón, hình thành sự tương hợp trái hơi dưới, phải hơi trên. Lúc này chân phải nhấc lên làm hư, vừa khi giao nhau xong, hai tay lập tức biến thành song nghịch triền, do lưng eo dẫn đầu và tay phải kéo dắt, xoay thân mang chuyển 180° sang phải. Đồng thời, chân phải chạm đất làm thực, và làm trục giữa của sự xoay chuyển. Theo đó, chân trái cũng lập tức cùng thân làm cung chuyển, đặt về phía tây của chân phải, hoàn thành quá trình xoay thân. Đồng thời, tay trái từ nghịch triền chuyển thuận vạch vòng sang phía trái, tay phải thì sau một tiểu thuận triền đặt nơi bên phải lưng eo. (Hình 75) Đây là điểm khởi đầu sau khi "Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy" xoay thân. Về sau cũng như "Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy", khi tay trái vạch xuống, chân trái phải nhấc lên làm hư. (Hình 76) Khi tay trái vạch lên, chân trái lại hạ xuống làm thực. (Hình 77), hoàn thành một lần "giảo thủy". Tiếp đó làm thêm hai lần động tác "giảo thủy". (Hình 78, 77, rồi theo hình 78, 77, 78)

Yếu điểm: Yêu cầu của bản thân thức này giống với "Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy", nhưng phải đặc biệt chú ý là khi xoay thân đổi tay, không những phải xoay với đường cong hòa hoãn, đồng thời còn yêu cầu quán xuyến một hơi, không để xảy ra đứt đoạn và lồi lõm. Mấu chốt của nó nằm ở chỗ khi tay trái buông ra và tay phải tương hợp, hình thành hai cánh tay tương hệ, có thể làm được khi tách ra xoay một vòng nữa thì kình liền từ tay phải đổi sang tay trái.

Tuy yếu điểm và động tác của thức này giống với thức trước, nhưng để khiến tay trái có được mức linh hoạt như tay phải, thức này có thể làm nhiều lần hoặc hơn mười lần; khi vận động thức này vị trí chân phải không đổi, cho nên làm nhiều lần tại chỗ cũng không tổn hại đến kết cấu của toàn bộ bài quyền.

Thức thứ bốn mươi lăm: Tả Đăng Nhất Căn (ngực hướng bắc)

图 L2F78
图 L2F78
Tay trái thuận triền vạch cung từ trong ra ngoài, tay trái chống eo khai hợp, chân trái chuyển đổi hư thực
图 L2F79
图 L2F79
Hai tay thu hợp trước bụng đối với trung tâm thân, hai chân đứng
图 L2F80
图 L2F80
Cánh tay trái thuận triền vạch cung ra ngoài, tay phải buông ra vạch vòng tương đối, chân trái nhấc lên — tư thế khởi đầu của cước đăng

Động tác: Sau "giảo thủy" của thức trên, khi cánh tay trái thuận triền vạch cung từ trong ra ngoài, tay phải đang chống eo buông ra, và thừa thế gia nhập vòng vạch tương đối lại tương phân; khi chuyển đi qua một vòng rồi chuyển xuống dưới, liền trở thành song hợp kình. Lúc này lòng bàn tay đối lòng bàn tay, hai tay tương đối hơi hẹp hơn vai, đặt trước bụng. Khi tay phải gia nhập đến cuối cùng thành hợp, chân trái từ thực chuyển hư. (Hình 79) Dưới hai tay không ngừng vạch vòng, tiếp tục lấy song thuận triền siết chặt một hợp, khiến hai chưởng biến thành quyền giao nhau trước ngực. Lúc này, tay trái ở ngoài, tay phải ở trong, đồng thời, nhấc chân trái lên. (Hình 80) Sau khi đạt tới điểm cuối của giao nhau, phát kình hai tay và chân trái ra hết sức về hai bên trái phải cùng một lượt. Đây là đá chân trái phát kình trong tư thế đứng độc lập trên chân phải. Lúc này tay trái làm chủ, tay phải làm khách. (Hình 81)

Yếu điểm: Đàn kình của thức này là song khai kình sinh ra trong song hợp, bởi vì khi hai tay làm song hợp, cùi chỏ và cánh tay trên có song khai kình. Đồng thời, khi hai chân hơi cong mà song hợp, do viên đang (háng tròn) khiến chân cũng có song khai kình. Điều này chứng tỏ hai cánh tay và hai chân đều có kình ngoại nả tương hệ, đây là mấu chốt để phát kình được tùng thúy. Đợi khi hai tay và chân trái cùng phân phát về hai bên trái phải, do tác dụng ổn định của hai tay phân phát, khiến thân mình khi phát ra được tính ổn định nhất định. Cách phát kình này là biện pháp tốt để luyện dây chằng khớp và tăng cường tính đàn hồi của nó.

Thức thứ bốn mươi sáu: Hữu Đăng Nhất Căn (ngực hướng bắc chuyển nam)

Động tác: Sau "Tả Đăng Nhất Căn" của thức trên, hai tay từ nghịch triền hợp về phía trái một cái, kéo dắt thân mình xoay sang trái; đồng thời chân trái chạm đất dậm chân một cái, và nhấc chân phải lên, hình thành chân trái đứng độc lập, hai tay hợp kình tại hai bên đầu gối phải. (Hình 82) Tiếp đó phát kình hai tay và chân phải ra hết sức về hai bên trái phải cùng một lượt, đây là đá chân phải phát kình trong tư thế đứng độc lập trên chân trái. Lúc này tay phải làm chủ, tay trái làm khách. (Hình 83)

图 L2F81
图 L2F81
Sau khi hai tay giao nhau đến điểm cuối, hai tay và chân trái cùng phát kình sang hai bên; trong tư thế đứng trên chân phải, chân trái đá ra, tay trái làm chủ, tay phải làm khách.
图 L2F82
图 L2F82
Chân trái đứng độc lập, hai tay hợp kình tại hai bên đầu gối phải, chân phải đá ra phân phát về hai bên
图 L2F83
图 L2F83
Chân trái đứng độc lập, hai tay và chân phải cùng phát kình ra hai bên trái phải

· 220 · Yếu điểm: Thức này là nhấc chân trái xoay ngang sang trái, khi xoay ngang không dễ đạt được xoay chuyển ổn định, cho nên, yếu điểm của nó nằm ở việc nhấc đỉnh kình lên và hai tay nghịch triền hợp kình lẫn nhau, khiến sống lưng căng chặt, mũi chân trái hướng xuống, để giảm nhẹ trọng lượng chìm xuống của chân trái treo giữa không. Đây là tư thế súc kình cần nắm vững khi xoay thân trước cước đăng phải. Sau khi chân trái chạm đất dậm chân một cái, lập tức nhấc chân phải, phát chân phải và hai tay trái phải cùng một lượt ra hai bên.

Thức thứ bốn mươi bảy: Hải Để Phiên Hoa (ngực hướng tây)

Động tác: Giống thức thứ ba mươi "Hải Để Phiên Hoa", chỉ có mức xoay thân nhỏ hơn, còn lại đều giống nhau. (Hình 84)

Thức thứ bốn mươi tám: Yểm Thủ Quăng Chủy (ngực hướng tây)

Động tác: Chân phải hạ xuống dậm chân làm thực; lúc này tay phải là thuận triền, tay trái là nghịch triền. Khi tay trái chuyển về phía trước trái, chân trái tiến thêm một bước về phía trước trái; đồng thời chưởng phải biến thành quyền chuyển nghịch triền phát kình ra, quyền trái sau khi nghịch triền chuyển, phát kình ra phía sau trái làm khách. (Hình 85)

Yếu điểm: Giống thức thứ mười bảy.

图 L2F84
图 L2F84
Hải Để Phiên Hoa, xoay thân với biên độ nhỏ hơn để lật hoa
图 L2F85
图 L2F85
Yểm Thủ Quăng Chủy phát kình, quyền phải nghịch triền phát ra trước, quyền trái nghịch triền phóng ra sau
图 L2F86
图 L2F86
Tay phải ở trước nghịch triền thu về rồi vạch vòng ra trước, tay trái ở sau nghịch triền vạch vòng ra trước rồi ra sau
图 L2F87
图 L2F87
Tay phải nghịch triền thu về đến trước eo phải, chân phải dậm chân, quyền trái nghịch triền nâng lên trước trên

· 221 · Thức thứ bốn mươi chín: Tảo Thảng Thối (chuyển eo đập, ngực hướng đông, chuyển bắc, sau chuyển nam rồi chuyển bắc)

Động tác: Sau khi "Yểm Thủ Quăng Chủy" phát kình, tay phải ở trước nghịch triền thu về rồi vạch một vòng ra trước, tay trái ở sau nghịch triền vạch một vòng ra trước rồi ra sau. (Hình 86) Khi tay phải lại nghịch triền từ trước thu về đến trước eo phải, chân phải dậm đất dậm chân một cái; lúc này quyền trái nghịch triền nâng lên trước trên. (Hình 87) Ngay sau khi dậm chân, mũi chân phải hơi hất ra ngoài, bước ra nửa bước nhỏ về phía sau phải, hình thành quán tính xoay chuyển, mang thân xoay về phía sau phải · 222 · khoảng 280°, chân phải ngồi xổm xuống, chân trái cũng theo đó duỗi chân vạch cung quét ngang 280°, quét đến phía tây bắc của chân phải. (Hình 88)

Yếu điểm: Thức này là luyện kình đập mắt cá chân khi chân quét ngang. Để xoay chuyển chân trái một cách ổn định, quét ngang một vòng tròn khép kín, tất phải khiến ý khí biểu hiện như thể chân phải đã mọc rễ trên mặt đất. Thứ hai, để tăng cường kình quét ngang của chân, phải lợi dụng việc chân phải bước nửa bước nhỏ về phía sau phải, mũi chân hất ra, để dẫn dắt sự xoay chuyển của thân mình, hình thành quán tính xoay chuyển. Thứ ba, phải làm tốt trên dưới phối hợp nhất trí, mới có thể khiến thân mình xoay chuyển khinh linh mà trầm ổn; điều này chủ yếu ở nửa vòng đầu của vận động là như vậy, biến thế là từ cao chuyển xuống thấp, mà ở vòng sau của vận động, thì nội kình lại phải từ thấp chuyển lên cao rồi sau đó hạ xuống. Đây cũng là một động tác có độ khó khá cao, là vận động luyện chân lĩnh thân, có thể khiến cơ bắp chân duỗi dài và tăng cường. Để tăng cường kình quét ngang của chân, có thể tách ra làm chuyên luyện tán thủ, cũng có thể làm hai lần 360° tảo thảng thối.

Thức thứ năm mươi: Yểm Thủ Quăng Chủy (ngực hướng bắc chuyển đông)

Động tác: Sau khi thức trên xoay qua 280°, hai tay giao nhau hợp trước ngực (Hình 89A); tiếp đó hai chưởng biến chưởng, phân biệt vạch cung lên trên mở ra về hai bên trái phải; đồng thời, chân phải rời đất nhấc lên, chân trái liền đạp đất nhảy vọt lên. (Hình 89B) Tiếp đó chân phải hạ xuống phía tây nam, chân trái theo đó hạ xuống phía đông bắc. Hai tay từ trên song nghịch triền hợp trước ngực, rồi thuận triền mà khai, nghịch triền mà hợp, sau đó quyền phải đánh ra, quyền trái thu về dưới sườn trái. (Hình 90) Điểm khác của thức này với thức thứ mười bảy trước chỉ có động tác nhảy bước, đợi sau khi hai chân chạm đất, liền giống với các thức "Yểm Thủ Quăng Chủy" khác.

图 L2F88
图 L2F88
Chân trái duỗi chân vạch cung quét ngang, quét đến phía tây bắc của chân phải, chân phải ngồi xổm xuống
图 L2F89甲
图 L2F89甲
Hai tay giao nhau hợp trước ngực
图 L2F89乙
图 L2F89乙
Hai chưởng vạch cung mở ra hai bên, chân phải rời đất, chân trái đạp đất nhảy vọt lên

· 223 · Yếu điểm: Đây là một động tác ổn định khi giá thức xoay tròn bay lên đạt tới điểm cuối, là bài luyện bay lên theo đường xoắn ốc sau khi thân mình lật lớn xoay chuyển, cũng là một sự rèn luyện tốt về mặt thể dục đối với cơ quan phân tích tiền đình; muốn đạt được tác dụng ổn định này, khi tảo thảng thối kết thúc lập thân tất phải trung chính. Yếu điểm: Giống thức thứ ba mươi mốt.

Thức thứ năm mươi mốt: Tả Xung (ngực hướng đông)

Động tác: Vì động tác là do chân trái ở trước bắt đầu, nên gọi là "Tả Xung". Nó sau khi thức trên "Yểm Thủ Quăng Chủy" phát kình, quyền phải thuận triền thu về, quyền trái nghịch triền duỗi ra trước, hai quyền hợp kình, hình thành hai quyền tương đối. (Hình 91) Tiếp đó mượn tay trái duỗi ra trước cùng tay phải cùng chìm xuống vạch một vòng về phía sườn phải, khi vạch đến sau trên thì thu chân trái về, và nhấc lên làm hư. (Hình 92) Khi hai quyền lại từ trên chuyển đến bên eo trái, chân trái chạm đất dậm chân một cái. Khi vạch đến trước dưới, bước chân phải ra; hai quyền chuyển đến trái · 224 · Ép sườn ra sau, trầm kình xuống (Hình 93), đây là tư thế tích lực của Xung chùy. Tiếp đó dùng hai cẳng tay phát kình rung về phía trước và lên trên. Khi vạch vòng rồi trầm xuống, bàn chân trái ở phía sau là thực; khi hai nắm đấm rung kình ra trước, bàn chân phải là thực. (Hình 94)

图 L2F91
图 L2F91
Cung bộ bên phải, hai nắm đấm xung ra trước, tư thế tích lực
图 L2F92
图 L2F92
Nâng gối đứng một chân, hai nắm đấm giơ lên vạch vòng
图 L2F93
图 L2F93
Chân trái là thực, trầm kình tích lực
图 L2F94
图 L2F94
Chân phải là thực, hai nắm đấm rung ra trước

Yếu điểm: Động tác của thức này là hai nắm đấm từ bên phải chuyển sang bên trái, vạch trọn hai vòng lớn trước sau trên dưới. Động tác phải liên tục không ngừng, hoàn thành trong một hơi, cho nên tất phải lợi dụng quán tính xoay, có như vậy mới khiến kình xuyên suốt đến cái rung cuối cùng. Nếu ở giữa có ngắt đoạn, sẽ mất tác dụng tăng cường kình lực. Đồng thời, đây là một thức quyền cần thiết để luyện kình rung. Khi mới học, sau khi vung hai vòng lớn mới phát kình rung, về sau có thể dần · 225 · —vung dần nhỏ lại, từng bước giảm xuống còn một vòng; cuối cùng, chỉ cần ý niệm vừa phát động là có thể phát kình rung như vậy. Đây là công phu sâu nhất của việc phát kình rung.

Thức thứ năm mươi hai — Hữu xung (ngực hướng đông)

Động tác: Vì động tác bắt đầu từ chân phải ở phía trước, nên gọi là "Hữu xung" (xung bên phải). Thức này trước tiên chân phải ở trước, cuối cùng đổi thành chân trái ở trước; hai nắm đấm trước tiên từ bên sườn trái chuyển sang bên sườn phải, vạch hai vòng lớn rồi rung kình ra ngoài; ở hai điểm này, thức này hoàn toàn ngược với thức trên, cho nên đường đi động tác của nó đối xứng với thức trên. (Hình 95, 96, 97)

Yếu điểm: Giống "Tả xung".

Thức thứ năm mươi ba — Đảo suất (ngực hướng đông, chuyển đông bắc)

Động tác: Sau khi thức trên phát ra song kình rung, giả định tay phải bị thái (loại thái kình này thường có thể khiến người bị thái quỳ xuống), để làm được triêm niêm liên tùy, khiến nó không chống đối, tay phải liền dùng nghịch triền hạ tùy, khiến tay phải hợp với tay trái. Khi hợp, tay trái lót phía dưới tay thái, và dùng tay phải đè xuống, làm giải thoát bước đầu. Lúc này tay phải hướng xuống là thực, chân phải bước lên là hư, đứng song song với chân trái, mũi chân chấm đất, như vậy hai tay gần sát phần trên dưới của thân mình, đây là "giải thoát trong hợp", lại là một ví dụ nữa của việc dùng nhẹ chế nặng. (Hình 98)

图 L2F95
图 L2F95
Nâng gối ôm quyền, tích thế chuyển động
图 L2F96
图 L2F96
Cung bộ tiến thân, hai nắm đấm vạch vòng trầm xuống
图 L2F97
图 L2F97
Chân phải cung ra trước, hai nắm đấm rung ra trước

· 226 · Thức thứ năm mươi tư — Hải để phiên hoa (ngực hướng đông)

Động tác: Nếu như thức trên đảo sáp không thể "giải thoát trong hợp", thì lại trầm xuống thêm rồi đột nhiên xoay một cái, kéo dài thân thể, chuyển thành hai tay khai trên dưới. Đây là dưới tình trạng khí dán vào sống lưng, do đỉnh kình dẫn thân thể lên, là lần giải thoát thứ hai, là phương pháp "giải thoát trong khai" sau "giải thoát trong hợp". Đồng thời với "khai giải", tay phải thuận triền chuyển sang phải trên rồi chuyển phải dưới, tay trái nghịch triền chuyển sang trái dưới rồi chuyển trái trên, toàn thân kéo dài, chân trái đứng độc lập, chân phải nâng lên (làm chuẩn bị để đá); nắm đấm trái phóng kình lên trên về phía trái, tâm quyền hướng phải; nắm đấm phải phóng kình xuống dưới về phía sườn lưng phải, tâm quyền hướng trước; động tác của nó giống mấy thức "Hải để phiên hoa" trước, chỉ có thức này chỉ hơi chuyển thân, mấy thức trước biên độ chuyển thân lớn hơn. (Hình 99)

图 L2F98
图 L2F98
Hai chân đứng song song, hai tay hợp bên thân
图 L2F99
图 L2F99
Chân trái đứng độc lập, hai tay khai trên dưới, hải để phiên hoa

Yếu điểm: Thái cực quyền phần nhiều dùng thái kình hướng xuống, khiến đối phương khó dùng liên tùy để được giải thoát; vì thế, tay phải nghịch triền hướng xuống, chân phải bước tới trước; tay trái lót vào phía dưới tay thái. Do chân phải của "Đảo sáp" bước lên, tức khiến hai tay mình gần sát tâm vòng của mình, từ đó tăng mô-men tác dụng lên đối phương, đồng thời giảm mô-men tác dụng của mình; một lớn một nhỏ, lại là một điển phạm dùng nhẹ chế nặng, có thể khiến mình · 227 · —"đắc thế". Cách giải thoát đè trên lót dưới này là hình thức bước đầu để cầu giải thoát. Nếu vẫn không thoát được, đã sinh ra chống đối với đối phương, thì nên thuận theo kình chống đối của hắn mà đi ngược lại đường đi của nó, chuyển tay trái lên trên tay thái của đối phương, khiến tay trái chém xuống và tay phải nâng lên, làm cho giống như "Trảm thủ". Đồng thời chấn một cái ở chân trái, khiến toàn thân kéo dài mà đứng dậy, hai tay khai kình ra hai bên. Đây là hình thức giải thoát biến hoán, nói rõ ở vùng hải để có sự phiên chuyển và biến hoán của song khai, song hợp, cũng là thủ pháp đánh phát và giải thoát dùng chung một chiêu.

Thức thứ năm mươi lăm — Yểm thủ quăng chùy (ngực hướng đông)

Động tác: Dưới tình trạng chân phải của thức trên đã nâng lên, tiếp làm phát kình, động tác của nó giống thức thứ năm mươi mốt. (Hình 100)

Yếu điểm: Giống thức thứ ba mươi mốt.

Thức thứ năm mươi sáu — Đoạt nhị quăng (một) (ngực hướng đông, chuyển nam)

图 L2F100
图 L2F100
Cung bộ yểm thủ quăng chùy, nắm đấm phải phát kình ra trước

Động tác: Sau khi thức trên "Yểm thủ quăng chùy" phát kình, trước hơi khai hai tay ra, tức thì nắm đấm trái nghịch triền, nắm đấm phải thuận triền, từ bên phải chuyển về hợp thành một hợp kình. Lúc này nắm đấm phải ở dưới ngoài, nắm đấm trái ở trên trong, đồng thời chân phải bước theo nửa bước, khiến sát với chân trái. Sau đó hai nắm đấm chuyển thành song thuận, khiến nắm đấm phải thu lên trên về tới ngực, nắm đấm trái trầm xuống tới trước gối trái, đồng thời chân trái bước ra trước nửa bước (Hình 101). Tiếp đó, trọng tâm chuyển về trước, khiến chân trái là thực; đồng thời do hợp kình, lấy chân trái làm trục thân xoay sang phải 180°. Chân phải ở phía sau đồng thời nâng lên lùi bước về phía sau trái (dịch ngang nửa bước). Trong quá trình xoay thân, hai nắm đấm tiếp tục ở trước ngực trong ngoài song phiên hợp trụ kình mà thuận triền. Khi xoay thân đến thân mình hướng đông, nắm đấm phải vừa ở trong trước trên, nắm đấm trái thì ở ngoài trước dưới. Khi nắm đấm phải từ trong chuyển xuống ngoài rồi chuyển lên trong, chân phải theo đó nâng lên, men theo mặt đất thu · 228 · —về, hai cánh tay hợp trụ kình. Lúc này nắm đấm phải cong ở ngoài, nắm đấm trái cong ở trong. (Hình 102) Động tác nói trên là tích kình, động tác sau đó tức là phát kình sau khi tích. Nó dưới sự ôm vòng của hai nắm đấm căng kình đầy đủ, nắm đấm phải hơi nâng lên, khi chuyển đến phía trong nắm đấm trái, liền trầm kình xuống. Đồng thời chân phải chấn một cái, men theo mặt đất lách ra ngoài, trên dưới tương tùy lách đến tâm vòng của đối phương, cánh tay phải nằm ngang phát kình ra từ cẳng tay, đồng thời nắm đấm trái nghịch triền phóng kình về phía sau trái. Đây là động tác đặc biệt tay phải và chân phải cùng tiến, cũng là trên dưới tương tùy trong tư thế. Khi phát kình chân trái là thực. (Hình 103)

图 L2F101
图 L2F101
Hai nắm đấm hợp kình thu ôm, chân trái bước tới
图 L2F102
图 L2F102
Nắm đấm phải cong ngoài, nắm đấm trái cong trong, hợp kình tích thế
图 L2F103
图 L2F103
Chân phải lách tới trước phát kình, cánh tay phải đưa ngang, nắm đấm trái phóng kình ra sau

Yếu điểm: Yếu điểm của thức quyền này là xoay thân trong hợp kình, khác với các thức trước xoay thân trong khai kình, cho nên đây là nội dung chủ yếu luyện tập của thức này. Thức này giả định phía sau gặp tập kích, thì dùng xoay thân để hóa giải tập kích ấy, và lợi dụng xoay thân để tăng cường tích kình, khiến thức quyền sau có thể phát ra giòn hơn, đây là tác dụng đặc biệt của thức này. Trong khi xoay · 229 · —thân, phải giữ vĩ lư ở giữa và thần quán đỉnh, tức là đỉnh kình không mất, vĩ lư không đổ.

Sau khi xoay thân, khi cánh tay phải nằm ngang hợp trụ kình, giả định khớp cổ tay phải ở trước bị thái, thì lúc này không cần tìm phương pháp giải thoát khác, có thể nắm đấm phải và chân phải đồng thời chấn một cái, lách ra trước theo mặt đất, và do cẳng tay phải nằm ngang băng kình ra ngoài (băng kình là kình lò xo, đứng đầu trong bát kình của Thái cực quyền, là một loại kình phòng ngự. Nếu có thể dùng trong băng phát kình, thì bằng một chiêu hai dụng; loại chiêu kích này chỉ cần tay run một cái là phát ra được, cho nên khoảng cách ngắn mà hiệu dụng lớn, là cách phát kình đơn giản nhất). Đây cũng là tác dụng liên hợp của giải thoát và kích phát trong một chiêu hai dụng. Yếu điểm của nó là phải tìm được giải thoát dưới "trung thổ bất ly vị" và "dĩ thân tiến thoái"①, cũng là thủ pháp kích phát để tiến vào vòng của người, đặc biệt là dùng băng vào kích phát, là thủ pháp đơn giản nhất của một chiêu hai dụng.

Thức thứ năm mươi bảy — Đoạt nhị quăng (hai) (ngực hướng nam, chuyển tây rồi chuyển nam)

Động tác: Sau khi thức trên băng phát kình, giả định vẫn chưa được giải thoát, thì phải tiếp tục làm "Đoạt nhị quăng" thứ hai; cho nên, nên có nhân tự thượng bộ. Đây là động tác theo người băng tỏa tiến lên hai bước, trong khung quyền là ít thấy, cho nên phải luyện tập như một động tác. Động tác này, khi bắt đầu là nắm đấm phải thuận triền thu lên trên vào trong, đồng thời nắm đấm trái từ dưới ngoài lên trên, chân trái theo đó bước theo một bước. (Hình 104) Khi nắm đấm trái tới phía ngoài cánh tay phải rồi dùng kình hướng lên trên và cánh tay phải ở phía trong nắm đấm trái triền hướng xuống dùng kình, và áp sát thân mình trên dưới đối kình, thì cánh tay phải bị thái đã được giải thoát. Đồng thời với giải thoát, lại bước chân phải lên, đây cũng là chuẩn bị cho động tác băng phát của cánh tay phải—

  • ① "Trung thổ bất ly vị" và "dĩ thân tiến thoái" là thuật ngữ Thái cực quyền, ý nói khi tay và chân lần lượt liên hệ tiến lên, phải di động như lá cờ lớn dựng đứng không đổ.
图 L2F104
图 L2F104
Cung bộ tiến thân, hai nắm đấm trên dưới đối kình triền chuyển

· 230 · Chuẩn bị tích kình. (Hình 105)

Sau khi thức trên đã bước chân trái, liên tiếp bước chân phải thứ hai, đây là bước cuối cùng của nhân tự thượng bộ. Hai nắm đấm như cánh quạt gió ở trước ngực trong ngoài lần lượt phiên triền một vòng lớn. Động tác trên, khi nắm đấm phải thuận triền hướng trước lên trong, chân phải thu về nửa bước, mũi chân chấm đất. Tiếp đó nắm đấm phải trước ngực trầm kình xuống phối hợp với nắm đấm trái hướng lên, để lần thứ hai giải thoát tay phải bị thái. Đồng thời chân phải chấn chân xuống, và thừa thế lách tới trước theo mặt đất. Đồng thời, nắm đấm phải đưa ngang cánh tay ra trước, băng kình ra ngoài. (Hình 106)

Yếu điểm: Nếu băng phát kình của thức trên vẫn chưa đủ để giải thoát tay phải bị thái, để tránh chống đối, thì phải vận dụng liên tùy mà kéo theo bước lên liên tiếp. Cho nên, nội dung luyện tập chủ yếu của thức này là liên tục tiến lên hai bước mà vẫn không xảy ra đoạn kình, và phải luôn có cơ thế có thể thoát và có thể kích. Muốn đạt yêu cầu này, yếu điểm của nó là hai cánh tay liên hệ với nhau khiến hai nắm đấm phiên động lên xuống trong khi hành tiến, lấy việc lắc động sống lưng để thoát khỏi việc tay phải bị thái.

图 L2F105
图 L2F105
Nghiêng thân hai nắm đấm triền chuyển, tích kình chờ phát
图 L2F106
图 L2F106
Cung bộ đưa ngang cánh tay băng ra trước, nắm đấm phải phát kình ra trước phải

Do "Đoạt nhị quăng" thứ nhất vẫn chưa tìm được giải thoát, thì phải thuận theo yếu kình, trong quá trình đẩy đối phương lui ra sau, vừa thoát vừa kích mà băng kình ra ngoài. Đây là tác dụng thống nhất của thôi động và giải thoát. Cho nên, nó bất luận là bước chân trái hay bước chân phải, đều phải · 231 · Xoay động sống lưng mà tiến. Đây là mấu chốt của việc khi phát băng kình có thể khiến tích kình của sống lưng phóng kình ra như dây cung bật khỏi lẫy hay không.

Thức thứ năm mươi tám — Liên châu pháo (ngực hướng tây)

Động tác (một): Sau khi tay phải của thức trên băng phát kình, nắm đấm trái tích ở sau bên trái như dây cung bật khỏi lẫy kích mà rung ra, đồng thời nắm đấm phải thuận triền thu về đặt ở bên sườn phải. Khi kích ra chân trái là thực. (Hình 107)

Động tác (hai): Động tác (một) là kình rung của nắm đấm trái, động tác (hai) là kình rung của nắm đấm phải, hai cái cơ bản giống nhau, chỗ khác nhau là sống lưng lắc động. Khi nắm đấm trái thuận triền thu về đặt trước ngực, thì nắm đấm phải như liên châu phát ra ngoài. Khi nắm đấm phải phát ra chân phải là hư. (Hình 108)

Động tác (ba): Giống động tác một. (Hình 109)

Yếu điểm: "Xung chùy" là kình rung do hai nắm đấm phát ra, thức này là kình rung do từng nắm đấm phát riêng. Yếu điểm của nó ở chỗ buông lỏng thân chi, rồi đột nhiên rung ra ngoài, là cương kình khoảng cách ngắn. Sau khi phát ra vẫn phải cong tích cánh tay; độ cong tích lấy việc có thể phát lại làm chuẩn.

图 L2F107
图 L2F107
Nắm đấm trái như dây cung bật lẫy rung ra, nắm đấm phải thu về sườn phải
图 L2F108
图 L2F108
Nắm đấm trái thu về trước ngực, nắm đấm phải phát ra như liên châu
图 L2F109
图 L2F109
Nắm đấm phải rung ra trước, chân trái là thực

· 232 · Việc dùng kình của động tác (hai), giống như thợ mộc dùng khoan tay khoan lỗ, có tác dụng kích ra liên hoàn, đây là thức quyền đặc biệt để rèn luyện eo lưng và tính đàn hồi của hai cánh tay.

Thức thứ năm mươi chín — Ngọc nữ xuyên thoa (ngực hướng tây, chuyển bắc rồi chuyển đông)

Động tác: Sau khi thức trên phát kình, giả định nắm đấm trái bị thái, tức thì nắm đấm trái hơi thu vào trong rồi duỗi ra, đồng thời bước chân trái phi bộ nhảy tới. (Hình 110) Đồng thời chân phải theo đó tiến lên, đưa thân mình xoay sang phải 180°, đặt chân phải ở phía tây chân trái, để giải thoát việc nắm đấm trái bị thái; và do đó xoay thân dùng bối chiết kháo kình kích phát đối phương. Đồng thời, hai nắm đấm ở trước ngực song nghịch hạ tỏa hợp trụ kình. (Hình 111)

Thức thứ sáu mươi — Hồi đầu đương môn pháo (ngực hướng đông)

Từ khi xoay thân của thức trên chân trái thực, qua giai đoạn khuỷu chân phải thực; tiếp đó hai quyền song thuận triền rung kình ra trước lên, lúc này chân trái là thực. (Hình 112)

Yếu điểm: Bối chiết kháo kình của Thái cực quyền đều là vì liên tùy, là kình bất đắc dĩ mới dùng, là không dễ dàng dùng thân pháp để kích phát. Bởi vì trong quá trình phi thân liên tùy của "Ngọc nữ xuyên thoa"

图 L2F110
图 L2F110
Chân trái phi bộ nhảy tới, chân phải theo lên, thân hình tung lên
图 L2F111
图 L2F111
Xoay thân dùng bối chiết kháo kình, hai nắm đấm trước ngực hạ tỏa hợp kình
图 L2F112
图 L2F112
Quay đầu hai nắm đấm song thuận triền rung kình ra trước lên

· 233 · Trong động tác này, vận dụng cú tựa (kháo) của thân xoay, không những có thể thoát được tay bị thái (bắt), mà còn có thể lập tức dùng thức "quay đầu pháo đương môn" (hồi đầu đương môn pháo) để công kích đối phương. Đây là cách đơn giản nhất dùng để vừa thoát vừa phát kình, cho nên trong quá trình xoay thân thường dùng cú tựa gấp sau lưng để cầu thoát. Bước bay xoay thân của "Ngọc Nữ Xuyên Thoa," cùng lấy kháo kình công kích đối phương, cũng là một ví dụ khác của việc vận dụng nguyên tắc trên. Yếu điểm của nó là trước khi nhảy bật ra phải trầm kình ở chân phải trước, sau đó mới bước chân trái bật tới trước. Trong quá trình "hạ cánh," còn phải chú ý giữ thân trung chính, đây là điều kiện tất yếu để vận dụng kháo kình. Tiếp đó, hai quyền lại thuận triền mà đẩu kình ra.

Phần 34

Trang sách 219

Thức thứ 61: Ngọc Nữ Xuyên Thoa (ngực hướng đông, chuyển bắc rồi chuyển tây)

Thức thứ 61: Ngọc Nữ Xuyên Thoa (ngực hướng đông, chuyển bắc rồi chuyển tây)

Động tác: Thức này cùng với "Ngọc Nữ Xuyên Thoa" trước, đều là thức quyền phi thân nhảy vọt, và trong quá trình xoay thân nhảy vọt đều vận dụng công kích bằng kháo kình gấp sau lưng để cầu thoát. Điều khác nhau là thức trên bị bắt tay trái, cho nên dùng kháo kình gấp sau lưng của vai trái khi xoay người sang phải; thức này bị bắt tay phải, dùng kháo kình gấp sau lưng của vai phải khi xoay người sang trái. Kháo kình gấp sau lưng của xoay trái và xoay phải nên song hành với nhau. Sau khi phát kình ở thức trên, giả định tay phải bị bắt, thu tay phải lại chút rồi duỗi ra, tay trái đồng thời thu về bên hông, đồng thời chân phải cũng lập tức bật tới trước một bước lớn. (Hình 113) Tiếp đó chân trái theo đó bước tới, đưa thân mình xoay sang trái.

图 L2F113
图 L2F113
Thế xoay người tựa gấp sau lưng: quyền phải duỗi tới trước, quyền trái thu về bên hông, chân phải bật ra
图 L2F114
图 L2F114
Bước bật theo tới, hai tay đẩy tới trước và thân xoay sang trái

· 234 · Xoay theo 180°, vòng chân trái sang phía đông của chân phải, để thoát quyền phải khỏi bị bắt. (Hình 114)

Phần 35

Trang sách 220

Thức thứ 62: Quay Đầu Pháo Đương Môn (ngực hướng tây)

Thức thứ 62: Quay Đầu Pháo Đương Môn (ngực hướng tây)

Động tác: Sau khi xoay thân hạ cánh từ thức trên, hai quyền nghịch triền về phía sau dưới mà trầm kình, lập tức đẩu kình ra hướng phải trước trên. Khi trầm kình thì chân trái là thực; khi phát kình thì chân phải là thực. (Hình 115)

Yếu điểm: Giống thức thứ 60.

图 L2F115
图 L2F115
Hai quyền nghịch triền về sau dưới trầm xuống, thân xoay phải với chân trái làm thực
图 L2F116
图 L2F116
Hai quyền đẩu kình ra hướng phải trước trên, chân phải làm thực
图 L2F117
图 L2F117
Hai quyền thuận triền tới trước một vòng nhỏ, ngực chuyển về nam, quyền trái thuận thế ra sau trái bằng bối phản chùy
Thức thứ 63: Triệt Thân Chùy (ngực hướng tây, chuyển nam)

Động tác: Ở thức trên chân phải ở trước, chân trái ở sau; sau khi hai quyền song thuận triền phát kình ra trước, hai cánh tay ràng buộc nhau mà hơi hàm súc thế. Giả định có tình huống bị tập kích từ phía sau trái hoặc phải, cho nên hai quyền ở trước song thuận triền một vòng nhỏ, khiến tay trái chuyển đến trước ngực và hợp kình cùng tay phải ở trên phải, ngực chuyển về nam. (Hình 116) Khi hai quyền lại chuyển sang phải, hai bên khai kình, liền đưa quyền trái thuận triền sang sau trái, lấy bối phản chùy phát kình ra. Đồng thời quyền phải thuận triền phóng kình sang sau phải, trọng tâm dời sang chân trái làm thực. Khi phát kình thì quyền trái là chủ, quyền phải là khách. (Hình 117)

· 235 · Yếu điểm:

Đây là thức quyền được áp dụng sau khi hai quyền ở thức trên đẩu kình ra phía phải trước, bỗng nhiên phía trái phát hiện có thể bị tập kích. Yêu cầu của nó là chỉ cần quay đầu nhìn một cái, quyền trái liền rất tự nhiên dùng bối phản chùy phát kình ra. Muốn làm tốt cú đánh này, chủ yếu là trên cơ sở hạ trầm ở đương khẩu, giống như trước bụng dưới có một vòng nhỏ xoay một cái, rồi do lưng sống dẫn đầu, vận dụng lực ly tâm đưa lưng quyền trái quăng ra.

Phần 36

Trang sách 221

Thức thứ 64: Nựu Loan Chửu (ngực hướng nam, chuyển bắc)

Thức thứ 64: Nựu Loan Chửu (ngực hướng nam, chuyển bắc)

Động tác: Sau khi quyền trái ở thức trên phát kình ra sau trái, giả định sau khi phát quyền trái lại bị bắt, liền không chút chậm trễ mà trầm kình hai quyền, hậu chuyển song nghịch, hai cánh tay hợp kình lại. Đồng thời mang xoay thân mình sang trái 180°, chân phải cũng theo tới một bước lớn đến phía đông của chân trái. Quyền trái mở ra thành chưởng, đè lên cánh tay bắt của đối phương (cũng tức là đặt trên quyền phải của mình), khiến hai cánh tay như hình vòng hợp thành một cánh tay, dùng quyền phải đè trong chưởng trái làm tâm xoay chuyển, lấy tiểu tí phải nghịch triền phát chửu kình ra phía phải ngực. Đồng thời chưởng trái cũng theo sự xoay chuyển của quyền phải mà lật lên, tâm chưởng hướng lên, chân trái làm thực. (Hình 118)

Yếu điểm:

Thức trên sau khi phát kình quyền trái bị bắt, để không đỉnh không kháng, không thể không bước một bước lớn, xoay người lại, đè điểm bắt của đối phương làm trục giữa của xoay cánh tay, phát chửu kình ra phía trước. Đây là chửu kình ở cự ly gần, cũng là phương pháp đơn giản để thoát khỏi bị bắt. Dùng chưởng đè lên bàn tay bắt của đối phương, và lấy đó làm trung tâm, khiến tay bắt của đối phương khó đổi thay, rồi lấy chửu phải đánh ngang sang phải. Đây là cách đánh kịch liệt, cũng là một thức quyền khác không cầu thoát mà tự thoát.

图 L2F118
图 L2F118
Nựu Loan Chửu: chưởng trái đè quyền phải làm tâm xoay chuyển, tiểu tí phải nghịch triền phát chửu kình ra phía phải ngực

· 236 ·

Phần 37

Trang sách 222

Thức thứ 65: Thuận Loan Chửu (ngực hướng bắc)

Thức thứ 65: Thuận Loan Chửu (ngực hướng bắc)

Động tác: Đây là tiếp theo thức trên "Nựu Loan Chửu," sau khi chửu ngang từ trước ngực đánh ra nội phải, nếu vẫn chưa thoát được sự bắt của nó, liền tiếp tục thuận theo yếu kình, tách hai tay của mình ra, dùng chửu phải nghịch triền và chửu trái thuận triền một vòng nhỏ, phát kình xuống dưới. Bởi vì chân phải ở phía phải trước là hư, nên rất tự nhiên cứ men theo mặt đất mà chui tới, chân trái ở sau theo đó tiến tới. (Hình 119)

Thức thứ 66: Xuyên Tâm Chửu (ngực hướng bắc)

Động tác: Đây là tiếp theo thức trên "Thuận Loan Chửu," sau khi hai chửu trầm xuống phát kình, lấy chưởng trái hộ ngực, dùng chửu phải nghịch triền một vòng nhỏ, triển khai bộ pháp về phía phải để đánh ra. Chân phải chui theo mặt đất, chân trái ở sau theo đó tiến tới. Chân phải ở trước là hư. Nhưng khi phát chửu kình, chân phải lập tức biến thành thực. (Hình 120)

图 L2F119
图 L2F119
Thuận Loan Chửu: tách hai tay, chửu phải nghịch triền và chửu trái thuận triền một vòng nhỏ phát kình xuống dưới
图 L2F120
图 L2F120
Xuyên Tâm Chửu: chưởng trái hộ ngực, chửu phải nghịch triền một vòng nhỏ, triển khai bộ pháp sang phải và đánh ra

Yếu điểm:

Phàm cánh tay vượt ra ngoài vòng phương viên, thì gọi là "xuất ngung"; vượt vào trong vòng phương viên, thì gọi là "tiến ngung." Xuất ngung cần dùng thái lệ (bắt và liệt); tiến ngung cần dùng chửu kháo. Cho nên công dụng của chửu kháo giống như binh khí ngắn giao nhau, đánh nhanh thắng nhanh, không có chỗ để vòng vo. Vì thế, cần phải có liên · 237 · những biện pháp dùng từng hạt, để cầu được sự giải thoát cuối cùng. Thức này chính là sự tiếp nối của biện pháp ấy. Khi tay phải vẫn chưa thoát được, thuận theo yếu kình, chân phải men theo mặt đất chui tới, chửu phải đánh ra sang phải, đồng thời chân trái theo sau men mặt đất đá một cái—đây là tạo thành khí thế như dây cung bật khỏi móc, tạo thành yếu điểm của việc lấy nhẹ chế nặng và chửu kích liên châu.

Phần 38

Trang sách 223

Thức thứ 67: Oa Lý Pháo (ngực hướng bắc)

Thức thứ 67: Oa Lý Pháo (ngực hướng bắc)

Động tác: Đây là từ sau khi tay trái của "Triệt Thân Chùy" bị bắt, một chuỗi liên tiếp vận dụng chửu kình đánh liên châu, giải trừ được tay trái bị bắt, đến đây là một lần phát kình tiếp ngay sau khi giải trừ. Nó lấy hữu thuận tả nghịch hàm kình cả hai trước ngực, khiến quyền phải ở dưới ở trong, quyền trái ở trên ở ngoài; đồng thời thu chân phải đang ở trước về, tạo thành tư thế khúc súc khí dán vào lưng sống; sau khi súc thế, quyền phải lập tức lật ra ngoài, dùng lưng quyền đánh ra hướng phải trước; đồng thời quyền trái nghịch triền sang sau trái đến bên hông trái phóng kình, để phối hợp với cú đánh của quyền phải. Khi quyền phải đánh ra phía trước, đè chân phải ra ngoài, trọng tâm dời tới trước, chân trái cũng theo đó tiến nửa bước. (Hình 121)

图 L2F121
图 L2F121
Oa Lý Pháo: quyền phải lật ra ngoài dùng lưng quyền đánh ra hướng phải trước, quyền trái nghịch triền phóng kình về bên hông trái, chân phải đè ra

Yếu điểm:

Thức thứ 63 "Triệt Thân Chùy" là bối phản chùy của tay trái, thức này thì là bối phản chùy của tay phải. Yếu điểm của thức này là dưới sự men đất tiến tới của thức trên, lấy gần bỏ xa, trong khi lòng bàn chân hạ trầm và vận dụng lực ly tâm, lấy trụy chửu làm then chốt mà dùng lưng quyền phản kích ra; chân phải cũng theo đó men đất mà tiến. Để kình phát ra càng dứt khoát, thì phải dưới hợp kình hữu thuận tả nghịch của hai quyền, thu nhỏ vòng tròn, để tăng cường súc kình, rồi do chửu dẫn thân mà phản kích ra phía phải ngoài. Thức này yêu cầu một động mà toàn thân đều động, và điều này chỉ có thể làm được vừa đúng mức trên cơ sở lưng sống phối hợp, vận dụng lực quán tính.

· 238 ·

Thức thứ 68: Tỉnh Lan Trực Nhập (ngực hướng bắc, chuyển nam)

Động tác: Tiếp tục thức trên, sau khi quyền phải phát kình, hữu thuận tả nghịch hợp lại trước ngực, hai quyền lại lấy hữu thuận tả nghịch khai kình sang phải, mang thân mình lấy chân phải làm trục giữa xoay chuyển mà xoay sang phải 180°, chân trái cũng theo đó xoay cung đến phía đông của chân phải. Khi ngực xoay đến mặt nam, hai quyền ở trước ngực làm thuận triền trong ngoài trên dưới, như kiểu cối xay gió uốn cánh tay xoay một vòng. Khi quyền phải lật vào trong lên trên, chân phải làm thực. (Hình 122) Khi quyền phải lật ra ngoài xuống dưới và quyền trái lật vào trong lên trên, chân trái làm thực. (Hình 123)

图 L2F122
图 L2F122
Tỉnh Lan Trực Nhập: hai quyền thuận triền trong ngoài trên dưới trước ngực như cối xay gió xoay, quyền phải lật vào trong lên trên với chân phải làm thực
图 L2F123
图 L2F123
Quyền phải lật ra ngoài xuống dưới, quyền trái lật vào trong lên trên, chân trái làm thực

Yếu điểm:

Thức này chủ yếu là dưới đương khẩu của kỵ mã thức, hai quyền đủ đầy động kình mà lật trước ngực, làm một vòng thuận triền trên dưới trong ngoài, xoa động lưng sống, để rèn luyện công phu khí do lưng sống mà phát. Khi làm thức này, hai chân đứng song song cũng phải triền trong ngoài, phải biểu hiện ra thần thái kình khởi từ gót chân, đạt đến đầu quyền. Đây là một thức quyền để hiệu chỉnh động tác, đạt đến tư thế chính xác.

Thức thứ 69: Phong Tảo Mai Hoa (ngực hướng nam, chuyển tây rồi chuyển bắc)

Động tác: Sau thức trên "Tỉnh Lan Trực Nhập," để chuyển hướng mặt bắc, hai quyền biến thành hai chưởng, khiến hai chưởng lấy hữu thuận tả nghịch triền ty mà phân nhánh trên dưới rồi hợp đôi trước ngực;

· 239 · Sau đó lấy tả nghịch hữu thuận lật mở vòng tròn của nó ra, thúc đẩy thân mình xoay sang phải 90°. Lúc này chân trái làm thực, và lấy chân trái làm trục giữa xoay chuyển, chân phải theo đó quét ngang sang phải đến phía đông của chân trái. Khi chưởng phải từ trên thuận triền xuống dưới, đợi đến trước bụng dưới, thì tâm chưởng đã lật chuyển hướng lên trái. Đồng thời chưởng trái cũng lấy nghịch triền từ trên trái án kình xuống dưới phải, hợp cùng chưởng phải ở trước bụng dưới. (Hình 124) Tiếp đó, chưởng trái án giữ một điểm rồi nghịch triền ra sau trái, trọng tâm vẫn ở chân trái; chưởng phải theo đó thuận triền khai kình lên trên, để mang xoay thân mình xoay thêm 90° sang phải. Lúc này vẫn lấy chân trái làm trục giữa xoay chuyển. (Hình 125)

图 L2F124
图 L2F124
Phong Tảo Mai Hoa: chưởng phải thuận triền xuống đến trước bụng dưới, chưởng trái nghịch triền án kình từ trên trái xuống dưới phải để hợp lại
图 L2F125
图 L2F125
Chưởng phải thuận triền khai kình lên trên, mang thân mình xoay thêm 90° sang phải
图 L2F126
图 L2F126
Kim Cang Đảo Chùy: hai chưởng hợp lại, tay phải nắm quyền tay trái bao quyền trước bụng

Yếu điểm:

"Phong Tảo Mai Hoa" của thức này cùng với "Phong Tảo Mai Hoa" của thức thứ 10 cơ bản giống nhau; điều khác là "Phong Tảo Mai Hoa" của thức thứ 10 xoay 360°, còn thức này thì xoay 180°. Tác dụng của nó chủ yếu là khiến người luyện tập cuối cùng chuyển thành mặt bắc mà kết thúc giá tử (bài quyền) thứ hai.

Phần 39

Trang sách 224

Thức thứ 70: Kim Cang Đảo Chùy (ngực hướng bắc)

Thức thứ 70: Kim Cang Đảo Chùy (ngực hướng bắc)

Động tác: Thức này là một "Kim Cang Đảo Chùy" tiếp tục không ngừng sau "Phong Tảo Mai Hoa." Nó giống với "Kim Cang Đảo Chùy" làm sau khi xoay 360° của thức thứ 12, cho nên không thuật lại nữa. (Hình 126)

· 240 · Yếu điểm (2): Giống thức thứ 12.

Phần 40

Trang sách 225

Thức thứ 71: Thâu Thế (ngực hướng bắc)

Thức thứ 71: Thâu Thế (ngực hướng bắc)

Động tác: Thức này kế thừa thức trên "Kim Cang Đảo Chùy," lập tức hai tay tách ra trái phải, lấy hai tay song nghịch triền hợp hội đến trước ngực; sau khi ngón tay hai tay chạm nhau, tâm chưởng hướng xuống, lại nghịch triền hai tay phân đôi ra trước rồi xuống, dừng ở hai bên đùi; tâm chưởng hướng ra sau, khôi phục về thức dự bị. (Xem Hình 1)

Yếu điểm:

Giá tử (bài quyền) thứ hai cũng giống như vậy, lấy "văn tượng" bắt đầu, "võ tượng" kết thúc, mặt nam mà khởi, mặt bắc mà kết; nếu không đem giá tử thứ nhất và thứ hai luyện liên tục với nhau, hoặc là giá tử thứ hai không muốn luyện liên tiếp hai lần, thì phải thêm vào hai thức quyền "Kim Cang Đảo Chùy" và "Thâu Thế" này.

· 241 · Chương 4: Thôi Thủ của Thái Cực Quyền Trần Thức Phương pháp thôi thủ (đẩy tay) hai người của Thái Cực Quyền Trần Thức, nguyên trước gọi là "trịch thủ" hoặc "đả thủ," là một môn vận động cạnh kỹ sáng tạo độc đáo của phái Thái Cực Quyền, kế thừa và phát triển các phương pháp kỹ kích của võ thuật dân gian đời Minh. Nó tổng hợp kế thừa và phát triển ba phương pháp "cầm, điệt, trịch đả" (bắt, vật, ném đánh), cho nên tính kỹ kích nguyên thủy của nó vô cùng mãnh liệt. Triền ty triêm tùy và vận động xoáy ốc kiểu triền ty, là nội dung trung tâm trong thành tựu sáng tạo của nó. Căn cứ vào lý luận "Thái Cực lưỡng nghi, hữu nhu hữu cương" (Thái Cực có hai nghi, có nhu có cương), nó yêu cầu lấy nội kình biến hóa linh hoạt, giàu đàn hồi và dẻo dai, "cương nhu tương tế, khinh trầm kiêm bị" (cương nhu hỗ trợ nhau, nhẹ nặng đều đủ) làm thống soái.

Trần Vương Đình nói trong "Quyền Kinh Tổng Ca": "Tung phóng khuất thân nhân mạc tri, chư kháo triền nhiễu ngã giai y" ("chư kháo" chỉ hai người lấy cánh tay tựa vào nhau, vận dụng tám phương pháp và loại kình "bằng lữ tễ án thái liệt chửu kháo"), hai câu này khái quát mà nói rõ đặc điểm và phương pháp của thôi thủ. Bốn câu nguyên thủy của "Đả Thủ Ca": "Bằng lữ tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan xâm, nhậm nhân cự lực lai đả ngã, tứ lạng hóa động bát thiên cân" (Bằng lữ tễ án phải nghiêm túc, trên dưới theo nhau người khó xâm phạm, mặc người sức lớn đến đánh ta, bốn lạng hóa động tám nghìn cân)—đây là giải thích tác dụng của "chư kháo" và nguyên tắc lấy bốn tay bằng lữ tễ án làm công phu cơ bản.

Đến cuối thế kỷ mười tám, Vương Tông Nhạc người Sơn Tây, cùng với Vũ Vũ Tương và Lý Diệc Dư, hai thầy trò người Vĩnh Niên Hà Bắc vào giữa đến cuối thế kỷ mười chín, đều phát huy lý luận Thái Cực Quyền và kỹ pháp thôi thủ, và căn cứ vào kinh nghiệm luyện quyền của riêng mình mà viết nên những luận văn tổng kết về Thái Cực Quyền và thôi thủ. Những quyền luận này, lời gọn ý đủ, được sao chép lưu truyền rộng rãi, trở thành · 242 · Lý luận chỉ đạo cho người tập Thái Cực Quyền và đẩy tay; Trần Trọng Thân đời Trần gia cùng con là Trần Hâm, đồng thời với Vũ và Lý, cũng đã trình bày lý luận Thái Cực Quyền và đẩy tay mà Trần gia tích lũy qua nhiều đời.

Phần 41

Trang sách 227

1. Những yếu nghĩa chung của đẩy tay

1. Những yếu nghĩa chung của đẩy tay

Từ khi Thái Cực Quyền thức Dương thịnh hành, gọi "huề thủ" hoặc "đả thủ" là "thôi thủ" (đẩy tay), thì "đẩy tay" đã thành một danh từ thông dụng. Đẩy tay là hai người bắt tay nhau, quấn lấy nhau, vận dụng phương pháp luyện tập độc đáo của động tác Thái Cực Quyền như con vít. Căn cứ vào nguyên tắc "triêm liên niêm tùy, bất đâu bất đỉnh, vô quá bất cập, tùy khuất tựu thân", vận dụng tám phương pháp và loại kình là bồng, lữ, tễ, án, thải, liệt, trửu, kháo để luyện tính linh mẫn của xúc giác toàn thân và cảm giác trong cơ thể, dò biết kình lực của đối phương lớn nhỏ, cương nhu, hư thực, dài ngắn, nhanh chậm và hướng động. Chọn điểm triêm niêm hợp với nguyên lý đòn bẩy làm điểm tựa, vận dụng tác dụng dẫn kéo của tính đàn hồi và ma sát (điểm lực), phát huy kỹ xảo "dẫn tiến lạc không", "thừa thế tá lực", "dĩ khinh chế trọng", nắm vững chiến lược chiến thuật "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", "bỉ bất động, kỷ bất động, bỉ vi động, kỷ tiên động", dẫn động trọng tâm đối phương; vào thời cơ và điểm lực thích đáng nhất lại "dĩ trọng kích khinh, dĩ thực phá hư" mà phát kình ra. Cách phát kình này phải "trầm trước tùng tĩnh, chuyên chú nhất phương", đi từ hình cung rồi thẳng tới mục tiêu, vừa vững vừa chuẩn, như khi bắn tên mũi tên cắm sâu vào bia, thừa thế phát đối phương ra dứt khoát. Yêu cầu chung là hóa được và phát được; hóa kình tùng tĩnh, phát kình dứt khoát. Môn thể thao đối kháng này vừa luyện được lực lượng và sức bền, vừa luyện được các tố chất thân thể như linh mẫn, kỹ xảo và tốc độ.

Phương pháp đẩy tay phát triển cận đại, để tránh tai nạn thương tổn, đã hạn chế việc dùng các phương pháp như trảo nã, vật suất, đả kích; vì thế đã trở thành một môn võ thuật mà nam nữ già trẻ ai cũng luyện được.

· 243 · Việc luyện tập bài quyền Thái Cực vốn cùng song hành với "đẩy tay". Khi bài quyền đã luyện thuần thục tinh tế, trung chính viên mãn, trong ngoài hợp nhất và hư thực cương nhu đầy đủ, thì có thể phát huy đầy đủ kỹ xảo đẩy tay. Trong khi luyện quyền, nếu lại luyện đẩy tay, thì vừa có thể đem các loại kình thu được từ việc đi giá thức vận dụng viên dung vào việc đẩy tay trong luyện tập đối kháng, đồng thời lại có thể kiểm nghiệm mức độ chính xác của việc luyện tập bài quyền Thái Cực, tiện cho việc sửa chữa, bổ sung tư thế và động tác. Tổ chức thi đấu đẩy tay có thể uốn nắn một số cách luyện xuyên tạc lý luận Thái Cực Quyền, uốn nắn cách hiểu phiến diện về đẩy tay, khiến kỹ thuật Thái Cực Quyền được khôi phục và phát triển.

Phần 42

Trang sách 228

2. Phương pháp đẩy tay thức Trần

2. Phương pháp đẩy tay thức Trần

Bộ pháp cơ bản của đẩy tay thức Trần là một tiến một thoái, cũng có thể liên tục tiến bộ hoặc liên tục thoái bộ. Thủ pháp là bồng lữ tễ án, gọi là tứ chính thủ; mỗi khi bốn tay đẩy qua một vòng tức là một tiến một thoái, người tiến làm tễ án, người thoái làm bồng lữ. Khi đẩy tay tứ chính thủ đã thuần thục, rồi xen vào thải liệt trửu kháo, đây là tứ ngung thủ, cũng gọi là đại lữ, đại kháo. Sau khi bộ pháp cơ bản đã thuần thục, có thể luyện đẩy tay "tản bộ", tức động bộ không câu nệ phương hướng, cũng có tên gọi "loạn thải hoa".

Khi đẩy tay thức Trần, nếu Giáp có chân phải (trái) ở trước, thì Ất có chân trái (phải) ở trước, khiến hai tay ở thượng chi đẩy nhau, chân trước ở hạ chi cũng niêm hóa lẫn nhau, làm cho tay chân đồng thời luyện được xúc giác linh mẫn. Phàm bên tiến bộ, chân trước đạp vào phía trong chân trước của đối phương. Chân trước hai bên tựa sát dán vào nhau, có thể dùng làm phương pháp quản cước về sau, làm huấn luyện cơ sở để phát triển kỹ xảo ngã pháp.

Giáp, Tứ chính cơ bản đẩy tay: bồng lữ tễ án

Trước khi hai người bắt tay, đứng đối diện nhau, trung chính an thư mà thành tư thế nghiêm. Đối diện · 244 · Khoảng cách đứng, lấy việc hai bên giơ hai tay ra trước ngang tầm (nắm quyền), mặt quyền chạm nhau làm chuẩn. Nếu Giáp bước tới chân phải (trái), thì Ất bước tới chân trái (phải), thành thức cung bộ, nhưng trọng tâm rơi vào giữa hai chân, tiện cho lúc tấn công thì ngồi thực chân trước, lúc dẫn hóa thì ngồi thực chân sau; đồng thời mỗi người lấy tay phải (trái) bồng ra phía trước, cao không quá mày, lòng bàn tay hướng ra ngoài (lòng bàn tay hướng ra ngoài là để tiện thải nã), hai vai thả lỏng, khớp khuỷu rủ xuống, mặt ngoài phía dưới khớp cổ tay dán dính bồng vào nhau. Phàm khi bắt tay, cánh tay phải tùng nhu, nhưng điểm niêm trước của tay công thủ chính phải lấy ý quán kình mà bồng giữ, không được nhuyễn hóa; Vũ Vũ Tương đã tổng kết đúng: "nhất cử động, duy thủ tiên trước lực, tùy tức tùng khai", lực mà ông chỉ là lực có tính đàn hồi và tính dai sau khi tùng khai, không phải là lực chuyết cố sức cổ trướng; cho nên Lý Diệc Dư trong "Ngũ tự quyết", mục "tâm tĩnh" nói: "bỉ hữu lực, ngã diệc hữu lực, ngã lực tại tiên; bỉ vô lực, ngã diệc vô lực (bồng kình bất đâu), ngã ý nhưng tại tiên". Trần Hâm nói: "bất khả hữu lực, diệc bất khả vô lực, chiết kỳ trung nhi dĩ". Khớp cổ tay hướng về đường giữa ngực mình, khi lòng bàn tay hướng vào trong thì ngón cái hướng về đầu mũi; khi lòng bàn tay hướng ra ngoài thì ngón út hướng về đầu mũi; đồng thời xương trụ dưới khớp cổ tay trái (phải) nhẹ dán vào phần thượng bác phía trên khớp khuỷu của đối thủ. (Như hình 1: Song đáp thủ) Sau đó một bên chủ động tấn công dùng pháp án, bên kia dùng pháp bồng dẫn hóa, tức bắt đầu luyện tập bồng lữ tễ án, tuần hoàn lặp lại, liên miên không dứt.

Bồng kình Do thân thể và chi thể duỗi dài sinh ra một loại tính đàn hồi, giống như dây cung được lực đàn hồi của lưng cung kéo dài mà sinh ra tính đàn hồi, hình thành một loại kình lò xo, gọi là bồng kình. Phàm lấy ý quán chú vào bất cứ bộ phận nào của chi thể, xoay chuyển mà duỗi dẫn về phía trước (thuận triền ty), đều là tác dụng của bồng kình.

Trong đẩy tay, bồng là lấy tay phải (trái) bồng giữ song án của đối phương, điểm niêm làm chuyển động trục tâm xoay tròn, theo sự xoay tròn trục tâm "chủ tể tại yêu tích", dùng vòng cung xoáy trôn ốc của triền ty để tẩu hóa, đồng thời thải nã bàn tay đối thủ mà dẫn tiến (thải nã hiện chỉ thức Trần vận dụng), đồng thời lấy chỗ xương trụ của tay trái (phải) nhẹ bồng tay phải (trái) của đối phương · 245 · thượng bác mà dẫn tiến. Việc hợp nhất thải liệt, mục đích là khiến đối phương đứng không vững. Thân dần ngồi sau, đồng thời thu khố, chuyển yêu, đạp cước, chân sau dần biến thành thực, chân trước dần biến thành hư, thành thế "hạ dịch ngoại bãi". (Như hình 2: Giáp án Ất bồng.)

Lữ kình Lữ kình cũng sinh ra trong điều kiện thân thể và chi thể duỗi dài; khi thân chi vận chuyển vào trong trái hoặc trong phải, và làm xoáy trôn ốc nghịch triền ty, thì sinh ra lữ kình. Do quan hệ xoáy ốc, mở rộng mặt tiếp xúc, do đó tăng lớn tác dụng ma sát. Phàm lấy ý quán chú vào bất cứ bộ phận nào của chi thể, xoay chuyển mà tẩu hóa về phía sau hoặc sang trái hoặc sang phải, đều là tác dụng của lữ kình.

Lữ kình là mặt trái của bồng kình. Trong đẩy tay, khi đối phương song án, qua bồng hóa của ta mà không đắc kình, liền biến thành tễ tiếp tục tiến công, ta vẫn dần vạch cung bồng về, dẫn hắn gần đến bên trái hoặc bên phải thân mình mà hóa, khiến hắn lạc không (lữ để dẫn tiến vào thân mình là lạc không mà dụ đối phương vào sâu, nhưng tay phải bồng giữ, và phải chú ý khi lữ về cánh tay mình chớ dán vào thân mình, "khuỷu không dán sườn", mũi khuỷu chớ để chuyển về phía sau thân, e rằng bị bức bách không thể phát kình phản kích). Khi lữ thì ngồi thực chân sau, chuyển yêu lạc khố, đang bộ hạ dịch ngoại bãi. (Như hình 3: Giáp tễ Ất lữ. Hình 5: Ất tễ Giáp lữ.)

Tễ kình Hai kình bồng lữ là chủ kình của tứ chính, án tễ là phụ trợ kình của bồng lữ. Có lúc tính đàn hồi của lữ kình không đủ, để tránh phát sinh bệnh biển, dùng hai tay giao nhau để tăng mạnh lữ kình, hợp hai cánh tay thành như hình vòng, trong lực học gọi là hợp lực. Như thế có thể tả hữu phùng nguyên, hư thực hỗ biến mà phát kình, gọi là tễ kình. Trong đẩy tay, khi song án của ta bị đối phương bồng hóa lữ dẫn mà cảm thấy đã bất đắc thế, tức biến tay trước (tay bị bồng, bị lữ là tiền thủ) thành khuỷu cong, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài và xuống, hoặc bình viên (tay và khuỷu ngang nhau) tễ về trước, hoặc lập viên (tay ở dưới, khuỷu ở trên) tễ về trước, tay sau dán dưới khớp khuỷu của tay trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài, để trợ thế của tay trước (lòng bàn tay sau xiên hướng trước lên, làm pháp phòng vệ phòng đối phương đả kích mặt, cũng tiện cho đối phương tiếp thủ nã hoặc lữ, hoặc biến thành án, dần dần bức bách đối phương đứng không vững, thân ngồi về trước, chân trước thành thực).

图 L3F1
图 L3F1
Hai người tay phải dán vào nhau thành thế khai thủ của song đáp thủ (bồng).
图 L3F2
图 L3F2
Giáp án Ất bồng: tiếp hình 1, một bên hai tay án ra, bên kia bồng giữ dẫn hóa.
图 L3F3
图 L3F3
Giáp tễ Ất lữ: Giáp cong khuỷu tễ về trước, Ất ngồi chân sau chuyển yêu lữ hóa.
图 L3F4
图 L3F4
Thế song án của Giáp án Ất bồng.

· 246 · Án kình Án là lấy tâm bàn tay làm trục tâm, dùng bốn phía của bàn tay xoay chuyển áp bách để tìm cái hư không của đối phương, cố gắng lên trên, ở vị trí trên tay người khác; như thế không những công dụng nhiều, phạm vi rộng, mà thiên địa bàn lớn, dễ chuyển thành ba kình khác của tứ chính, cũng dễ chuyển thành hai kình thải liệt của tứ ngung. Trong đẩy tay, án là lấy hai bàn tay mình án giữ một cánh tay đối phương và chuyển đổi hư thực trong song án, một tay khống chế khớp cổ tay, một tay khống chế khớp khuỷu, khiến đối phương không dễ hoạt biến và phản kích; trầm kiên, thùy trửu, tọa uyển, hư hư lung trụ, không dùng chuyết lực; trường kình hướng về trước nhẹ nhàng án lên thân đối phương, trong tay nhẹ nặng đều có. Không những hai bàn tay đang hỗ hoán hư thực, hốt ẩn hốt hiện, mà quanh một bàn tay hư thực cũng tức tức biến đổi, tâm bàn tay · 247 · quanh xoay trên cánh tay đối phương, tức là không ngừng di động điểm lực, tưởng tượng vô số lần án về trước, dần dần bức bách đối phương đứng không vững, thân dần ngồi về trước, chân trước thành thực. (Như hình 4: Ất án Giáp bồng.)

Tóm lại, hai kình bồng lữ là thủ pháp tẩu hóa kình, lữ kình phải đi xuống, đạp bộ phải hạ dịch ngoại bãi, ngồi thực chân sau; khi yêu khố biến đổi trọng tâm, cũng phải khiến kiên khố thẳng đứng, hai vú và hai góc bụng thành thẳng đứng, chớ để thân thể phủ ngưỡng nghiêng lệch, thủy chung bảo trì lập thân trung chính. Cánh tay mình phải khinh linh nhu nhuyễn, nhưng lại không được mất bồng kình, để khỏi mất thế "tùng khai ngã kình vật sử khuất". Cho nên phần tí trửu quyết không được dán vào thân mình, phải để dư địa xoay chuyển tẩu hóa; dưới nách cũng thủy chung giữ có khe hở ước khoảng một nắm tay. Đồng thời mũi khuỷu không được chuyển về phía sau thân, để khỏi bị bức bách mà không thể xuất kình phản kích.

Hai kình án tễ là thủ pháp tiến công: ngồi thực chân trước, xuất thủ không nên quá mũi chân, khớp khuỷu rủ xuống thủy chung cong mà không thẳng; ở bất cứ góc độ nào cũng cố gắng để vai và khố thẳng đứng, hai vú và hai góc bụng thẳng đứng, không để thân thể phủ ngưỡng oai tà, phải bảo trì "lập thân trung chính", "thượng hạ nhất điều tuyến".

Ất, Tứ ngung bổ trợ đẩy tay: thải liệt trửu kháo
图 L3F5
图 L3F5
Ất tễ Giáp lữ: Ất cong khuỷu tễ về trước, Giáp ngồi thực chân sau chuyển yêu hạ dịch ngoại bãi mà lữ.

Thải kình Thải kình ngược với tễ kình: tễ là song hợp, mà thải là song phân; hình thức của nó giống như một tay nắm cành cây, một tay hái quả. Thải kình là cơ sở của cầm nã. Cầm nã thủ phát triển từ trong thải kình mà ra. Tác dụng chính của nó là ở chỗ xuất ngung chế ngung và khiên động đối phương. Quyền luận nói: "thải thiên kháo địa tương ứng cầu". Thải pháp là lấy chưởng chỉ hư hư · 248 · lung giữ cánh tay đối phương, thừa thế tá lực mà từ nhẹ bỗng nhiên trầm trọng thải một cái. Tốc độ nhanh, khoảng cách ngắn, điểm rơi chuẩn, mãnh lực thải một cái, không đột nhiên nắm chết trì trệ nặng nề, đây là phép kinh chiến, dễ nhất khiên động gót chân đối phương, nhưng cũng dễ chấn động thần kinh não đối phương; vì thế không nên khinh dụng; người công lực tương đương có thể thử lẫn nhau xem dụng kình đắc đáng hay không.

Liệt kình Đặc sắc của liệt kình là vận dụng điểm nhọn của chỉ chưởng, lấy phương thức đột kích mà run ra một loại kình trong khoảng cách gần, là cơ sở của nội bế huyệt trong cầm nã xưa nay. Liệt chủ yếu dùng đả kích bằng run, chứ không phải phát kình; thường dùng khi tay đã đạt điểm mà thế phát đã biến, muốn phát không được, thì đổi thành liệt kình mà run ra. Nếu khi dùng liệt, xúc giác biết đối phương đã bị khiên động, thì lại có thể thừa thế chuyển thành phát kình. Liệt kình này cùng với án kình đều thuộc loại thủ pháp có phạm vi vận dụng khá rộng. Liệt kình ngoài tác dụng chính là đả kích bằng run, còn có tác dụng ngược hướng với bồng kình: là hình cung tức hóa tức đả, chỉ khác là hướng ngược nhau. Bồng là tẩu hóa về phía sau hoặc trái hoặc phải; liệt là hình cung hơi hóa rồi xoay xiên bồng ra phía trước góc xiên, như hình vật ném; bồng là khiến đối phương ngã nghiêng về phía sau lưng ta hoặc trái hoặc phải, liệt là khiến đối phương xoay về trái phải của bản thân mà ngã sau.

Tóm lại, liệt kình và thải kình, chúng là một mặt đối lập; trong quá trình thải gặp trở ngại, tức có thể chuyển thành liệt; liệt gặp trở ngại, tức có thể chuyển ngay thành thải. Đây là sự thống nhất của thải và liệt, giống như hai kình bồng lữ của tứ chính. Nhưng thải, liệt là thống nhất trong bồng, lữ; giữa chúng lấy bồng, lữ làm chủ, thải, liệt làm khách.

Trửu kình Trửu, kháo với thải, liệt, tuy cùng là ngung thủ; nhưng thải, liệt dùng khi thủ uyển đã ra ngoài vòng tròn vuông tròn, mà trửu, kháo thì dùng khi thủ pháp tiến vào nội vòng của vòng tròn vuông tròn (tham khảo hình 12 của chương hai); đây cũng thuộc xuất ngung, cho nên thải, liệt ví như "trường binh" tiếp chiến, mà trửu, kháo là "đoản binh" để dùng. Trong quá trình đẩy tay nếu hình thành phủ tà xuất quyển, thì dùng thải, liệt bổ cứu; nếu hình thành ngưỡng biển tiến vào nội quyển, thì dùng trửu, kháo làm hậu bị quân.

Trửu chi vi dụng, cánh tay kia phải thấu lên cánh tay khuỷu phát ra phía trước, khiến một khuỷu biến thành hai · 249 · Trửu chi vi dụng, như các thức quyền của bộ thứ hai là "ảo loan trửu", "thuận loan trửu" thì có thể tiến kích tả hữu. Dùng trửu, liệt đều ở vị trí chữ nhân giữa bộ, khác với thải thiên, kháo địa; nó ví như tác dụng của sĩ tướng trong cờ tướng. Trửu kích là lấy mũi khuỷu hoặc phần chung quanh khuỷu dán chặt vào thân thể người mà kích ra; vì lấy mũi khuỷu kích ngực sườn người dễ làm thương người, nay đã không cho phép áp dụng vào ngực sườn; khi đẩy tay dùng bộ khuỷu tiến kích ngực sườn đối phương, chỉ cho phép dán chặt cánh tay đối phương mà dùng trửu pháp phóng kình.

Kháo kình Phàm dùng một bộ phận nào đó của thân thể lấy lực chấn đàn run động để kích người, đều gọi là kháo kình. Kháo kình như tướng soái trong cờ tướng tự mình ra trận, bát diện uy phong, khí thế bức người; cũng có khi vì một cánh tay trái hoặc phải xuất ngung, mà cánh tay kia lại không kịp chi viện, ở trong tình thế bất đắc dĩ như thế, mới vận dụng thân pháp lấy kiên kháo kích. Kiên kháo có phân biệt tiền kiên, trắc kiên, hậu kiên. Kiên kháo phải làm được khi kháo ra trọng tâm không lệch về một bên, và nhắm vào trọng tâm đối phương mà kích ra, để khỏi có cái lo lạc không thất thế. Khi kiên kháo phải đỉnh kình trầm xuống, thân pháp trung chính; khi tiền kiên, trắc kiên kháo ra, phần vai không được vượt quá mũi gối.

Ngoài kiên kháo ra, còn có "thất thốn kháo": khi bị bồng lữ phủ khuynh thất thế, tức thì thừa thế tiến bộ sáp đang, cúi thân lấy vai khêu tiểu phúc đối phương để nghênh ngã (phải là người có công phu yêu thối mới làm được); còn có "bối chiết kháo", là nhảy lên gấp xoay thân thể lấy lưng kích ra. Đây là khi gặp bị thải yếu kình, để thuận ứng yếu kình mà cho nó, trong quá trình cho thì quay lưng lại thân thể, là phương pháp tự nhiên giải thoát thế bị thải. Đồng thời còn có thể được cơ hội tiến công: trong xung kích đột nhiên chuyển chiết phát kình, là một chiêu hai dụng, cho nên gọi là bối chiết kháo kình. Sử dụng kháo pháp, phải yêu thối thân thừa thế niêm dán thân chi đối phương; đợi đối phương hơi động tức thì phát kình; khi cần thiết phải bộ pháp hơi theo vào, xâm chiếm địa vị đối phương, mới có thể phóng kình dứt khoát mà bản thân không mất trọng tâm.

Trửu kích kiên kháo trong đẩy tay đều là thừa thế mà dùng. Tiền bối quyền gia họ Trần có người chuyên lấy trửu kích kiên kháo nổi tiếng, nhưng nói chung cũng có người bị bức thất thế mà tùy dùng trửu kiên. Tức khi thủ uyển vào trong nội quyển vuông tròn mà thất thế thì dùng trửu pháp; trửu pháp thất thế thì theo đó dùng · 250 · vai; dùng kiên kháo và bối chiết kháo đều là phương pháp thiếp thân kháo đả. Kẻ lấy bộ khố đàn kích đối phương cũng thuộc phạm vi của kháo pháp. Phương pháp lấy thân công kích này, thân nhập hổ huyệt, thiệp hiểm tiết đoản, thường là biểu hiện của "bát bì đởm đại công phu thuần", dám bức cận đối phương; ví như trong cờ tướng lấy tướng soái tự mình tác chiến, có uy lực nhất định của nó, nhưng nếu vận dụng không khéo thì nguy cơ hiện ra ngay, cho nên không phải là phép chính thường. Thái Cực Quyền đẩy tay tuy có bát pháp bát kình, mà cơ bản công phu thì lấy tứ chính đẩy tay làm thượng. Cho nên trong "Đả thủ ca" có câu "bồng lữ tễ án tu nhận (chân), thượng hạ tương tùy nhân nan tiến"; từ đây cũng có thể thấy quan hệ chủ tòng giữa tứ chính đẩy tay và tứ ngung đẩy tay. Đây là kinh nghiệm quý báu mà tiền nhân luyện quyền tổng kết ra, là vấn đề đáng để chúng ta chú ý khi luyện tập.

Ngoài ra, còn phải nhận thức rằng: trong tứ chính đẩy tay lại lấy hai kình bồng lữ làm chủ; bồng là thuận triền, lữ là nghịch triền; nghịch từ thuận mà đến, tương phản tương thành. Bồng, lữ là mâu thuẫn lẫn nhau mà lại thống nhất; xoáy trôn ốc thức thuận triền là ly tâm lực, xoáy trôn ốc thức nghịch triền là hướng tâm lực.

Phần 43

Trang sách 234

3. Hai sự diễn biến của đẩy tay thức Trần

3. Hai sự diễn biến của đẩy tay thức Trần

Đẩy tay thức Trần vốn nã, ngã, trịch đả (phát kình) kiêm thi dụng, thừa thế hoạt biến. Nã pháp vốn lấy nã mạch, trảo cân, phản cốt làm chủ, sau vì tránh phát sinh tai nạn thương tổn, đã không khinh truyền thụ và vận dụng; khi đẩy tay vận dụng nã pháp, cũng thích khả nhi chỉ, và phát triển thành lấy việc nã trụ kình lộ của đối phương làm chủ, nã thành đắc cơ đắc thế tức chỉ. Người công phu thuần tinh, một cử thủ, một đầu túc, viên chuyển, nhu hòa, khinh linh mà khống chế kình lộ đối phương, tức có thể khiến đối phương thất cơ thất thế, không có cách chuyển biến, tức có thể phát kình; hoặc vừa đợi phóng nhậm chuyển biến, tức thuận ứng điểm chuyển biến mà phát kình. Đây là kỹ thuật cao cấp của việc nã trụ kình lộ đối phương.

Đẩy tay thức Trần vốn khi thoái bộ dùng bồng kình để hóa khai tễ kình hoặc kháo kình của đối phương, · 251 · Hạ thấp thân người ngồi xuống, mà thân pháp vẫn giữ được trung chính không lệch, đạt tới mức bắp chân của chân trước chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, nhô lên hạ xuống theo thế (do chân trước duỗi ra xa, có thể phát huy tác dụng khống chế hai chân của đối phương, khi sử dụng thủ pháp vật ngã thì cực kỳ tinh xảo). Nhưng với thế tấn thấp như vậy, nổi lên chìm xuống, tới lui qua lại, lượng vận động của eo và chân rất lớn, cho nên nếu không luyện từ nhỏ thì khó có thể làm được. Hiện nay nói chung lấy nguyên tắc không hạ thân ngồi xuống, khiến cho càng thích hợp với đại chúng.

Phần 44

Trang sách 235

4. Thôi thủ Thái Cực Quyền là kiêm bị cả âm và dương

4. Thôi thủ Thái Cực Quyền là kiêm bị cả âm và dương

Các nhà triết học cổ đại nước ta cho rằng, trên thế giới tồn tại hai loại lực không thể phân chia mà lại đối kháng lẫn nhau, đó là âm và dương. Hai giả là nguồn gốc của sự biến hóa và phát triển của vạn vật, sự hòa hợp của âm dương là sự chuyển hóa và thống nhất của các mặt đối lập của mâu thuẫn. Thái Cực chính là một học thuyết âm dương bao hàm hai loại lực lượng âm và dương. Âm dương đại biểu cho những sự vật đối lập như động tĩnh, cương nhu, hư thực, khinh trầm, nhanh chậm v.v., đối với quan hệ giữa hai mặt đối lập, hai giả có quan hệ thống nhất là nương tựa lẫn nhau, ước chế lẫn nhau, hỗ dụng lẫn nhau.

Thái Cực Quyền lấy học thuyết âm dương làm cơ sở lý luận, đòi hỏi động tĩnh, cương nhu, hư thực, khinh trầm, nhanh chậm đều kiêm bị, lại đòi hỏi dương không rời âm, âm không rời dương, âm lấy dương làm chủ, dương lấy âm làm gốc, đạt tới trình độ đổng kình là cương nhu chập chờn, âm dương tương tế, tiến thêm một bước đòi hỏi đạt tới giai đoạn "thần minh" là hốt âm hốt dương, âm dương không có dấu vết để tìm. Cho nên khi luyện tập Thái Cực Quyền và thôi thủ, không thể thiên về nhu, cũng không thể thiên về cương, mà phải âm dương tương tế. Phàm thiên về nhu thì chỉ được một mặt của Thái Cực, chỉ có thể gọi là nhu quyền, không thể gọi là Thái Cực Quyền; thiên về cương thì chỉ có thể gọi là cương quyền, cũng không thể gọi là Thái Cực Quyền. Phàm có thể nhu có thể cương, có khinh có trầm, hư thực kiêm đáo, cấp ứng hoãn tùy, động tĩnh hợp nghi mới là Thái Cực Quyền hoàn chỉnh.

"Cực nhu nhuyễn, nhiên hậu năng cực kiên cương" (Cực mềm mại, sau đó mới có thể cực cứng cỏi), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất tồi" (Vận kình như thép luyện trăm lần, không gì cứng mà không phá) — các luận thuyết Thái Cực Quyền cổ điển đã nói đúng rằng luyện Thái Cực Quyền phải phát triển mặt như của— · 252 · —nhu tới cực độ, đồng thời cũng phải phát triển mặt cương tới cực độ, cương nhu chập chờn, biến hóa chằng chịt, mới có thể như sách 《Chu Dịch·Hệ Từ》 đã nói: "Biến động bất cư, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch, bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích" (Biến động không dừng, lưu khắp sáu hư, trên dưới vô thường, cương nhu đổi nhau, không thể lấy làm điển yếu, chỉ có biến mới là nơi thích ứng). Muốn nâng cao kỹ thuật thôi thủ Thái Cực Quyền, dương cương âm nhu ắt phải kiêm bị, mới có thể cuối cùng cầu được kỹ thuật cao cấp toàn diện "hóa kình tùng tịnh, phát kình thúy càn" là có thể hóa, có thể phát.

Phần 45

Trang sách 236

5. Yếu lĩnh động tác thôi thủ

5. Yếu lĩnh động tác thôi thủ
(1) Thân pháp

Khi thôi thủ ắt phải lập thân trung chính, bất thiên bất ỷ, hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền, vĩ lư trung chính, thảng kình mãn túc, trầm kiên đọa trửu, hàm hung bạt bối, thượng hạ tương tùy, huyệt bách hội trên đỉnh đầu và huyệt hội âm trong đũng luôn giữ được đường thẳng đứng ("thượng hạ nhất điều tuyến", trên dưới một đường); cột sống phải từng đốt từng đốt tùng trầm mà lại hư hư đối chuẩn, phần eo phải tùng trầm trực thụ, phải hơi chuyển động, không thể mềm nhũn sụp đổ, không thể lắc lư; khiến thân pháp khi bất kỳ biến hóa nào đều giữ được trung chính, có thể tám mặt chống đỡ; các đốt xương cột sống và các xương sườn ngực lưng từng đốt từng đốt tùng trầm, mà ý hướng lên trên (nội kình từ trong đũng hướng lên trên tới lưng sống, gọi là "khí thiếp bối", "lực do tích phát", "chủ tể tại yêu"), kỵ cúi về trước, lệch trái nghiêng phải, càng kỵ ngửa ra sau; khi tay chân tiến tới, huyệt mệnh môn của eo lưng chống ra sau, thảng kình phải chìm xuống, điều này nhất trí với yêu cầu luyện quyền. Lấy huyệt mệnh môn của eo lưng (hậu đan điền) làm trục tâm điều tiết sự thăng bằng của toàn thân, và làm nguồn gốc của sức bộc phát lấy eo làm chủ tể, chúng tôi đã chứng minh trong thực tiễn rằng nó là then chốt để luyện tốt kỹ xảo thôi thủ.

Sự biến hóa hư thực của thân pháp, then chốt ở chỗ lấy huyệt mệnh môn của eo lưng làm trục tâm mà rút đổi hai khe eo trái phải (hai thận); khe eo rút về trái thì trái thực mà phải hư, khe eo rút về phải thì phải thực mà trái hư; lấy huyệt mệnh môn của eo lưng làm trục mà hai thận trái phải rút đổi (hình dạng bên ngoài là sự rút đổi hai bên eo) biến hóa hư thực, là nơi tổng hư thực của toàn thân, cũng là nơi có quyết khiếu "nguyên động yêu tích", "nội động bất lệnh nhân tri" (nguồn động ở eo lưng, động bên trong không để người biết).

· 253 · Thái Cực Quyền dưới yêu cầu thân pháp nói trên, vận dụng "triêm, liên, niêm, tùy" (dính, liền, dính chặt, theo), lấy bất đâu bất đỉnh, bất biển bất kháng làm nguyên tắc, đối phương ấn thì ta bằng (peng), đối phương tề thì ta lũm (lu), chỉ bốn chữ bằng lũm tề ấn này, tuần hoàn vô cùng, lại càng phải phân biệt rõ ràng kình biệt, luyện tập lâu dài, theo quy theo củ, đánh tốt nền tảng vững chắc viên mãn nhu thuận.

Thái Cực Quyền và thôi thủ đều trước tiên chú trọng thân pháp, thân pháp đoan chính mới có thể chế người mà không bị người chế, thân pháp sai lệch thì khắp nơi dâng sơ hở cho người, sao có thể chế người? Cái gọi là "kỳ thân chính, bất lệnh nhi tòng; kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng" (thân mình chính thì không ra lệnh mà người theo; thân mình không chính thì dù ra lệnh người không theo), chính là đạo lý này. Thái Cực Quyền và thôi thủ, lấy hư tĩnh làm cực trí, lấy trung chính thân pháp làm cơ sở, hư thì không gì không bao dung, tĩnh thì không gì không ứng, thân pháp trung chính thì đã có thể tám mặt chống đỡ, cũng có thể tám mặt chuyển hoán, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, cho nên lý luận truyền thống của Thái Cực Quyền và thôi thủ đều nhấn mạnh thời thời trung chính. Danh quyền sư nổi tiếng Trần Gia Câu là Trần Trường Hưng (1771—1853) nổi tiếng vì lập thân trung chính, người đương thời gọi ông là "Bài vị đại vương". Trần thức quyền gia lấy lập thân trung chính làm đệ nhất yếu nghĩa, các quyền gia Dương, Vũ nhị thức phát triển trực tiếp từ Trần thức cũng nghiêm khắc tuân thủ quy định này, đáng để chúng ta nghiên cứu nguyên lý ở đâu.

(2) Thủ pháp

Khi mới học thôi thủ, triền ti chuyển vòng phải rộng lớn, cầu cho viên mãn nhu thuận, không có chỗ lồi lõm, khuyết hãm, gián đoạn và đỉnh kháng (tham kiến đặc điểm thứ ba của chương thứ nhất), động tác phải chậm không nên nhanh, nhanh thì khắp nơi dễ trượt qua; sau khi công phu tăng sâu thì dần dần thu vòng nhỏ lại, có thể chậm có thể nhanh, thích hợp với yêu cầu "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy" (động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm).

Khớp vai luôn phải tùng nhu viên hoạt mà hạ trầm, khớp khuỷu luôn phải rơi xuống, dùng ý rót vào. Tiến công dẫn hóa luôn phải thủ cánh tay tùng nhu, dụng ý bất dụng lực, mới có thể linh hoạt vô trệ, khiến đối phương không dễ phát giác động hướng của ta. Cột sống tùng trầm, xương cùng hữu lực, thảng kình chìm tốt, tự nhiên ổn trọng mà lại linh hoạt. Phàm những điều này, luôn luôn quý ở sự nghiêm cẩn.

Quyết khiếu của dẫn hóa tiến kích là ở chỗ nội kình không để người biết, ý ở trước người, lấy điểm dính làm trục tâm xoay chuyển, từng bước cầu được "tiên dẫn hậu tiến", "bán dẫn bán tiến", "tức— · 254 · —tức dẫn tiến". Trần Hâm gọi là: "Lưỡng thủ chuyển lai tự loa văn" (Hai tay xoay lại như vân ốc), "Cách bạc lệnh kỳ cốt chuyển, phương năng dĩ chân kình dẫn động" (Khiến xương cánh tay chuyển động, mới có thể lấy chân kình dẫn động), khiến đối phương "dục tiến bất đắc thế, dục thoái bất cảm, thử dẫn tiến chi diệu cảnh dã" (muốn tiến không được thế, muốn thoái không dám, ấy là diệu cảnh của dẫn tiến). "Tiên dẫn hậu tiến" là dẫn hóa kình tới khiến nó rơi vào khoảng không rồi mới tiến kích; "bán dẫn bán tiến" là phần cánh tay trên khuỷu hơi lùi về sau, hạ đan điền (tiểu phúc) hơi tiến tới, từ khuỷu xuống đến cổ tay bàn tay tiến theo, thành thế súc hấp mà phát hô; "tức dẫn tức tiến" là tiểu quyển chuyển quan, gọn gàng bắn thẳng, Trần Hâm gọi là "hư lung trá dụ, chỉ vị nhất chuyển" (vây hư lừa dẫn, chỉ vì một chuyển), cũng tức là pháp tiệt kình tới của đối phương. Một mặt luyện quyền, một mặt thôi thủ, sửa chữa thủ pháp, thân pháp, bộ pháp và nhãn pháp; tiến công thoái hóa, thượng hạ tương tùy, khiến từng cái hợp với yếu lĩnh rèn luyện Thái Cực Quyền; minh quy củ nhi thủ quy củ, thoát quy củ nhi hợp quy củ (rõ quy củ mà giữ quy củ, thoát quy củ mà hợp quy củ); kiên trì nguyên tắc, không lấy thắng bại làm niệm, không vọng dụng chuyết lực, mới có thể phát triển kỹ xảo.

Bắt đầu từ tùng tĩnh, khinh nhu, cùng một bước với luyện quyền; công phu lâu ngày, toàn thân hợp nhất, từ tùng tĩnh, khinh nhu mà dần vào trầm trước, hai vai tùng nhu linh hoạt, hai đầu khuỷu chìm xuống, tay trước đi, tay sau theo; một tay về, tay khác theo, "lưỡng thủ chuyển lai tự loa văn". Hai cánh tay khống chế hai tay đối phương, khống chế các khớp của họ (khớp cổ tay là sao tiết, khớp khuỷu là trung tiết, khớp vai là căn tiết), khiến khó biến hóa linh hoạt. Trong đó còn có cái khéo của cầm nã, triêm tùy không rời, trong tay dường như nhu mà không nhu, dường như cương mà không cương, ngoài như bông, trong như thanh thép, có thể vận dụng phương pháp dẫn tiến lạc không, sau đó mới giảng cầu phóng kình; tiểu quyển chuyển quan, gọn gàng bắn thẳng (Trần Hâm nói "hư lung trá dụ, chỉ vị nhất chuyển"), như điện quang lóe mạnh, nhanh vô cùng. Phàm những điều này đều là ý, không ở ngoại hình, kình của đối phương vừa chạm vào da lông ta, ý của ta đã vào trong xương đối phương, khắp nơi ý ở trước người, thì không đến nỗi đâu đỉnh cứng đụng, không đến nỗi chỉ cậy dũng của huyết khí, cũng không đến nỗi cứng gắng chỉ cầu khinh linh mà không cầu nội kình sung mãn (đúng như Trần Hâm nói "tức cầm tức túng triền ti kình, tu vu thử nội hội thiên cơ" — vừa bắt vừa thả kình triền ti, phải ở trong đó mà hội được thiên cơ). Sau đó càng luyện càng tinh mật, linh xảo, tùy cơ ứng biến, toàn thân khinh linh, chạm vào đâu thì đó động, khắp nơi có thể khúc tuyến nhu hóa, khắp nơi có thể trực tuyến cương phát, khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát, súc phát tòng tâm sở dục.

(3) Bộ pháp

· 255 · Bước động phải khinh linh, hai chân phải phân hư thực, lại phải trong hư có thực, trong thực có hư, hư thực thẩm thấu lẫn nhau, khiến biến hóa được linh hoạt. Hai chân phân rõ hư thực, then chốt ở sự rút đổi của hai khớp háng, sự rút đổi của hai khớp háng nhất trí với sự rút đổi của khe eo, cũng tức là bộ pháp phải biến đổi theo sự biến đổi của thân pháp; sắp muốn bước chân trái, khe eo trước hết rút phải và lạc thực, khí chìm xuống bên phải bụng, khớp háng phải theo đó thu vào mà chìm xuống, chân phải là thực, sau đó chân trái bước ra, ngược lại cũng vậy.

Bộ pháp lại phải hô ứng với thủ pháp, khiến thượng hạ tương tùy. Cái gọi là "thượng ư lưỡng bạc tương hệ, hạ ư lưỡng thối tương tùy" (trên thì hai cánh tay liên hệ nhau, dưới thì hai chân theo nhau), lại phải khiến tay chân có ý tương hấp tương hệ. Tay với chân hợp, khuỷu với gối hợp, vai với háng hợp — ngoại tam hợp ắt phải chú ý, khiến thượng hạ hoàn chỉnh không loạn. Động ắt tiến bước, tiến ắt "sáo sáp" (bao khớp). Sáo là chân trước khống chế bên ngoài chân trước đối phương, sáp là chân trước chen vào giữa chân bước của đối phương. Sáo phong sáp bức, túc tiến kiên tùy, pháp đại la đại kháo (vận dụng bốn kình thái liệt trửu kháo) chính ở trong đó.

Sáo phong sáp bức là phương pháp khống chế chân và chiếm thế của hạ thể khi sử dụng pháp vật ngã trong thôi thủ; sự nội khấu và ngoại phiết của khớp gối có tác dụng lấy kình đàn hồi đánh động bước của đối phương, cũng có tác dụng tiêu hóa việc đối phương dùng khớp gối đánh động bước của ta. Trần Hâm nói "quyền trung thôi thị yếu vật pháp, bất minh vật pháp thân đồ lao" (trong quyền thôi là cần pháp vật ngã, không rõ pháp vật ngã thì thân uổng công). Pháp vật ngã trong Trần thức thôi thủ nay vẫn tiếp tục giữ gìn. Hư thực của hai chân phải linh hoạt biến hoán, lại phải tháp yêu lạc khố, kình của chân thực triền nhiễu chìm xuống như cắm sâu vào đất, khiến có thể vững bước khi vận hóa, không vì bị bức, bị dẫn mà phá hoại thân pháp; khi triêm hóa hoàn kích, háng trước chìm xuống, hình cung hơi hướng lên trên mà tiến về trước bức tới, nhất trí với động tác hình xoáy ốc của thủ pháp, mới có thể khi phóng kình lợi dụng tốt hơn phản tác dụng lực của mặt đất, khiến kình khởi từ gót chân, rót vào eo lưng, thông qua xương sống, hình thành ở ngón tay.

Khi thôi thủ, ý phải liền, hình phải liền, sắp muốn phóng kình, bước phải ám tiến, thắng ở tiến bước, không bại ở thoái bước; thân thủ bộ ắt phải thượng hạ tương tùy; tiến tay mà không tiến thân, thân tay tiến mà không tiến bước, không những triêm phong bất thành, phóng kình phù mà bất trầm, không thể liên hoàn phóng kình, mà cũng dễ bị đối phương khiên động. Khi phóng kình, thân, thủ, bộ và nhãn thần phải · 256 · —nhất tề câu đáo, đỉnh gối, đỉnh chân, đỉnh mũi, đỉnh tay và nhãn thần phải nhắm cùng một phương hướng, khiến điểm lực tập trung.

(4) Nhãn pháp

Các nhà quyền pháp, lấy nhãn thần làm tôn, người phát lệnh là não, người truyền lệnh là nhãn thần, chỗ tinh xảo hoàn toàn dựa vào nhãn pháp. Ý của ta có thể vào trong xương đối phương, hoàn toàn dựa vào nhãn lực có thể "địch tình dự hiểu" (biết trước tình địch), cái gọi là "nhất nhãn khán thấu" (một mắt nhìn thấu). Cổ quyền gia còn coi trọng "tiên dĩ nhãn pháp nhiếp phục đối phương" (trước tiên dùng nhãn pháp khuất phục đối phương); biến hóa của dẫn kình phát kình, ý ở dẫn đầu, ánh mắt cũng theo đó biến hoán, thân thủ bộ theo sự động của ánh mắt mà chuyển hoán. Sắp muốn đánh lên trên, ắt trước phải ngụ ý hướng xuống, ánh mắt cũng phải trước hơi nhìn xuống rồi sau hướng về trước hướng lên bắn thẳng, thì phương hướng phát kình đúng mà ý xa kình dài. Khống chế kình lộ của đối phương lấy tay nào làm chủ, thì ánh mắt phải nhìn vào chỗ đó. Ánh mắt quyết không được có sai lệch với phương hướng động.

Phóng được người ra, ánh mắt vẫn phải chú về trước, mới có tác dụng "nhất khắc như thủy chiến" (một khắc như trận đầu), "kình đoạn ý bất đoạn" (kình đứt ý không đứt), "thần khí bất lệnh cát đoạn" (thần khí không để bị cắt đứt), "phóng kình như nhập mộc tam phần" (phóng kình như vào gỗ ba phần). Nhãn thần thì phải kiêm cố chu thân thượng hạ, cho nên ánh mắt nên có chuyên chú, mà nhãn thần quyết không được nhìn đờ, ắt phải như nhãn thần của mèo bắt chuột. Có người cho rằng chỗ tinh xảo của Thái Cực Quyền ở xúc giác linh mẫn, không coi trọng vận dụng nhãn pháp, có người thậm chí nghiêng đầu nhìn bên, biểu thị chuyên ở tay nghe kình, đây là hiểu lầm. Phải biết rằng, thị giác, thính giác và xúc giác là hữu cơ phối hợp với nhau, không phải ly tán.

(5) Triêm liên niêm tùy

Khi thôi thủ không những hai tay phải triêm liên niêm tùy, mà thân pháp, bộ pháp cũng phải có ý triêm liên niêm tùy, không trước không sau, phối hợp động tác. Đây là biểu hiện của việc làm được thượng hạ tương tùy, chu thân nhất gia trong động tác. Hình phải liên, ý phải liên, theo sự động của người mà co duỗi tiến thoái, có thể bất đâu, bất đỉnh, bất biển, bất kháng, đây gọi là công phu "đổng kình". Đổng kình là do "xả kỷ tòng nhân" (bỏ mình theo người) mà đến, khắp nơi có thể phát giác và thuận theo quy luật biến hóa khách quan. Có thể làm được thượng hạ tương tùy trên hư thực, thì tiến công thoái hóa có thể xả kỷ tòng nhân và · 257 · —viên chuyển tự như; từ người mà vẫn chủ tể ở ta, không mất trung chính bất thiên của ta, thì có thể chế người mà không bị người chế. Đây là công dụng của thủ pháp, thân pháp và bộ pháp đạt tới triêm liên niêm tùy.

Vận hóa trước tiên ở eo chân, kế ở ngực, lại kế ở tay. Cho nên nói: "Khẩn yếu toàn tại hung trung yêu gian vận hóa" (điều cốt yếu hoàn toàn ở vận hóa trong ngực và nơi eo), "hữu bất đắc cơ đắc thế xứ, thân tiện tán loạn, tất chí thiên ỷ, kỳ bệnh tất ư yêu thối cầu chi, thượng hạ tiền hậu tả hữu giai nhiên" (có chỗ không được cơ được thế, thân liền tán loạn, ắt đến thiên ỷ, bệnh của nó ắt phải tìm ở eo chân, trên dưới trước sau trái phải đều vậy). Trong đó khúc duỗi vãng lai hình xoáy ốc triền ti, là tác dụng chính của "dẫn tiến lạc không hợp tức xuất" (dẫn vào khoảng không, hợp là phát ra). Tay ở điểm dính không rời mặt chống đỡ, làm sự xoay chuyển động tác trục tâm, có thể viên chuyển tự như, từ triêm hóa mà biết trước hư thực của đối phương. Tác dụng kình của điểm dính thân thủ, tức là diệu dụng "triền trung bất triền" (xoay mà không xoay), trong triêm hóa không mất cơ thế của ta. Khi phóng kình tay không vượt quá đầu ngón chân, kình lực có thể chìm thấu, thân mình cũng không mất trọng tâm, có thể giữ thế súc của "bát diện chi trì" (tám mặt chống đỡ), sau đó có thể "thao thao bất tuyệt", kình không đứt, và có thể liên hoàn phóng kình.

Trần thức thôi thủ đã yêu cầu làm được không để đối thủ chạm tới thân mình, mà mình có thể khống chế trọng tâm đối phương, lại yêu cầu làm được dám để đối thủ áp sát thân mình, đạt tới đáp tay tức có biện pháp, cận thân cũng có biện pháp. Công phu triêm liên niêm tùy, ở trên tay, cũng ở trên thân. Đáp tay hơi dẫn tức phát kình là một pháp, đáp tay dẫn khiến cận thân, thụ nhi chế chi, chế nhi tồi chi; dĩ thân thụ thủ, khiến một tay hoặc hai tay đối phương đặt vào chỗ vô dụng, mà tay ta vẫn có thể hoạt biến: đây lại là một pháp. Xa không sợ, gần không sợ, có thể xa có thể gần, có thể súc có thể phát, có thể nhu có thể cương, thì đã làm hết được khả năng của thôi thủ.

Thôi thủ tới giai đoạn đổng kình, vận kình phải hốt ẩn hốt hiện, tự hữu thực vô, tự vô thực hữu; công phu thuần túy giả, theo động hướng kình lực của người, có thể triêm tẩu không chút sai. Nội kình tiềm di mặc hóa, ý ở trước người; nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân (người không biết ta, ta riêng biết người); nhưng y theo chỗ nào, tức y hướng chỗ đó phóng kình (Trần Hâm nói: "Y trước hà xứ hà xứ kích, vô tâm thành hóa như châu viên, thử thị bản địa phong quang, tối nan tối nan" — y theo chỗ nào thì chỗ đó kích, vô tâm thành hóa như châu viên, đây là phong quang bản địa, khó nhất khó nhất). Tùy cảm nhi ứng, tự nhiên có thể không nê (không câu nệ) ở bát pháp, bát kình như bằng tễ ấn thái liệt trửu kháo; đây là từ triêm liên niêm tùy đạt tới đổng— · 258 · —kình giai đoạn, tiến thêm mà đạt tới công phu "giai cập thần minh" là chạm đâu thành viên, có thể hóa có thể phát. Nguyên tắc chung là đối phương lấy cương tới, ta lấy nhu ứng, trong nhu ngụ cương, khiến người khó phòng, thời thời tồn một mảnh linh cơ, khắp nơi mật dính với đối thủ, triêm tẩu tương sinh, ý ở trước người.

(6) Nhất thân bị ngũ cung

Trần Trọng Sân nói: "Hồn hạo lưu hành, tự nhiên nhất khí. Khinh như dương hoa, kiên như kim thạch. Hổ uy tỉ mãnh, ưng dương tỉ tật. Hành đồng hồ thủy lưu, chỉ mâu hồ sơn trĩ. Tiêu tức tại bất tức bất ly chi gian, tinh thần tại dẫn nhi vị phát chi tế" (Mênh mông chảy khắp, tự nhiên một khí. Nhẹ như hoa dương, cứng như vàng đá. Oai hổ sánh mạnh, tung ưng sánh nhanh. Đi như nước chảy, dừng như núi đứng. Tin tức ở giữa không gần không xa, tinh thần ở lúc dẫn mà chưa phát). Vũ Vũ Tương trong 《Thái Cực Quyền Luận》 cũng nói: "Tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà" (Tĩnh như núi cao, động như sông lớn). "Tĩnh như sơn nhạc" là biểu thị sự ổn định trầm trọng khi định thế, nghiêm chỉnh hữu lực; mà trong tĩnh có thế dự động, gọi là "thị tĩnh do động" (xem tĩnh như động), cũng tức là "tinh thần tại dẫn nhi vị phát chi tế"; "động nhược giang hà" là biểu thị khi động tác thì sóng nhấp nhô, thao thao bất tuyệt, hình thành sự biến hoán linh động của hư thực, không ngừng tẩu hóa hình cung, không ngừng trực tiến triêm bức, mà khi biến chuyển vẫn chu thân quy củ hợp nhất, gọi là "thị động do tĩnh" (xem động như tĩnh), cũng tức là "tiêu tức tại bất tức bất ly chi gian". 《Thập Tam Thế Hành Công Ca Quyết》 của Dật Danh thị nói "tĩnh trung xúc động động do tĩnh, nhân địch biến hóa thị thần kỳ" (trong tĩnh chạm động, động vẫn như tĩnh, nhân địch biến hóa là thần kỳ), đều là khai triển thôi thủ khi phải "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà" chu thân nhất gia, hoàn thành yêu cầu "súc kình như trương cung, phát kình như phóng tiễn" (súc kình như giương cung, phát kình như bắn tên). Trong khẩu thụ quyết khiếu của Trần Vũ hai nhà, sự tương biến súc phát của toàn thân chỉnh thể kình là cần "nhất thân bị ngũ cung". Nay thử tổng hợp phương pháp thao tác cụ thể "nhất thân bị ngũ cung" của Trần Vũ hai nhà, thuật tóm tắt như sau.

Nhất thân bị ngũ cung chỉ thân khu như một cây cung, hai tay là hai cây cung, hai chân là hai cây cung. Ngũ cung hợp nhất, tức là chỉnh thể kình của toàn thân, "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà", có thể súc có thể phát, thao thao bất tuyệt.

Thân cung lấy eo làm cung bả (cán cung), huyệt mệnh môn của eo lưng sau rốn luôn lấy ý rót vào, trung định mà không thiên ỷ dao động; khi phóng kình huyệt mệnh môn phải chống ra sau, "hạp môn" (đốt thứ bảy xương cổ · 259 · —tiết) và xương vĩ lư làm cung sao (đầu cung), trên dưới đối xứng, điều tiết cường độ kình, tăng cường thế súc hấp của nó (thân cung của Vũ thức, lấy đại chùy làm một trong các cung sao, cường độ điều tiết kình nhỏ hơn "hạp môn"). Thân cung bị, thì phần eo nhu nhận trung định mà chìm xuống, trên ở "hạp môn" hư thụ, đại chùy hơi phồng lên có ý thượng đề (tức tác dụng bạt bối, khí thiếp bối); dưới ở xương vĩ lư tiền tống mà nội kình có ý thượng phiên. Xương vĩ lư phải tiền tống, thì không có bệnh đột đồn (đít nhô); đồn lại phải có ý thượng phiếm, thì nội kình từ trong bàng thượng phiên, qua lưng sống tới đỉnh đầu mà xuống, khí lạc đan điền, lâu ngày nhâm đốc nhị mạch tự nhiên tiếp thông.

Thủ cung lấy khuỷu làm cung bả, lấy ý rót vào tiết khuỷu, khiến trầm trước tùng tĩnh mà có định hướng. Cổ tay và xương quai xanh dưới cổ làm cung sao, cung sao ắt phải cố định, trước sau đối xứng. Tay trong tùng nhu linh hoạt dùng "tọa uyển" (ngồi cổ tay) để cố định (gốc bàn tay hơi trước lực mà chìm xuống, tiết cổ tay nhu mà bất nhuyễn gọi là "tọa uyển"). Xương quai xanh dùng ý để cố định, không để thiên ỷ dao động, xương quai xanh quản động hướng của hai tay, cố định xương quai xanh là tiền đề cố định hai tay.

Túc cung lấy gối làm cung bả, xương háng và gót chân làm cung sao. Túc cung bị, thì khớp gối hữu lực mà hơi tiền đĩnh, xương háng tùng trầm mà hậu xanh, gót chân chìm xuống mà kình hướng lên trên, kình của eo chân tự nhiên tương thuận tương tùy, gọi là "hữu thượng tất hữu hạ, hữu tiền tất hữu hậu, hữu tả tất hữu hữu" (có trên ắt có dưới, có trước ắt có sau, có trái ắt có phải), tương phản tương thành, đối lạp quân xứng, tự nhiên có thể kình khởi từ gót chân, chủ tể ở eo, thông qua lưng sống, hình thành ở ngón tay.

Ngũ cung lấy thân cung làm chủ, thủ cung túc cung làm phụ, thế là lấy eo làm trục, trên ở hai bạc tương hệ, dưới ở hai chân tương tùy, thượng hạ tương tùy, trung gian tự nhiên tương tùy. Mỗi khi đứng một thế, ngũ cung câu bị, hình thành thế súc bát diện chi trì. Nguyên động yêu tích, chu thân kình chỉnh, thì có thể "cơ do kỷ phát, lực tòng nhân tá" (cơ do mình phát, lực từ người mượn), hình cung tẩu hóa, trực tuyến phát động, súc phát tương biến, thao thao bất tuyệt. Người công phu cực sâu, chạm đâu thành viên, nhưng y theo chỗ nào tức từ chỗ đó phóng kình.

Ngũ cung hợp nhất là quy định cụ thể của nội ngoại chỉnh thể kình. Luyện quyền và thôi thủ đều nên vừa động thế tức ngũ cung câu bị. Ngũ cung hợp nhất thì "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà", · 260 · "Lập thân cần trung chính an thư, năng bát diện chi trì" (đứng thân phải trung chính thoải mái, có thể chống đỡ tám mặt), "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư" (kình nhờ cong mà tích lại nên có dư), và thế "khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát" (trong cong tìm thẳng, tích rồi mới phát) liền có thể hiện ra.

(VII) Sự đề hợp súc và phóng khai phát của phát kình

Luyện tập đẩy tay, nên trước hết thuần thục bốn tay bằng, lũ, tễ, án, ra sức mềm mại thuận hòa tròn đầy, toàn thân một nhà, trước học nhu hóa, sau cầu phát kình. Phát kình nên ra sức khiến hai chân đối phương rời đất, hướng sau (cũng có thể hướng trái hoặc hướng phải) hướng lên lượn qua không trung ném ra là tốt nhất. Giai đoạn luyện tập phát kình, cần nghiên cứu phương pháp đề phóng kết hợp với hô hấp, khiến hít súc đủ, thở phát thấu; hít đủ để thấy cái khéo của mình, phát thấu để thấy cái diệu của mình; súc được khéo, mới có thể phát được diệu.

Hít là đề, là hợp, là súc; thở là phóng, là khai, là phát. Bình thường, cần luyện đơn và luyện đôi phương pháp đề phóng. Luyện đơn là rút ra mấy thức quyền chính diện, phản diện mà liên tục chuyên tập súc phát; lực chấn đạn của ngực, vai, lưng, háng, mông v.v. đều cần luyện đơn thuần thục, phải có [điểm]. Luyện đôi là phương pháp "cho ăn" để nghiên cứu mức độ chính xác của súc phát kình. Phát kình cần tập trung mà mãnh thấu, càng cần trầm trầm, khiến phát kình cực kỳ khắc nhập mà sắc bén; động quý ở ngắn, ý quý ở xa, kình quý ở dài, tập trung thì chuyên chú... phương mà lực thấu, nhanh thì thừa thế mà không đến nỗi mất thế, muốn đi là đi, không phạm bệnh do dự, thì đối phương không dễ biến hóa; trầm thì chế trụ lực của hắn, khiến không thể biến hóa linh hoạt; động ngắn thì một chạm là phát, hắn không kịp tẩu hóa, mà mình đã nhảy ra. Bậc công phu cao diệu, có thể khiến đối phương không thấy mình động, mà mình đã lượn qua không trung ném ra. Ý xa kình dài, thì phóng người càng xa. Bậc công phu thuần túy, động đến cực vi, dẫn đến cực dài, phát đến cực chợt, hít thì tự nhiên có thể nhấc được gót chân của người, lợi dụng phản lực của hắn, động trọng tâm của hắn; thở thì tự nhiên có thể trầm xuống, phóng người ra mà gọn gàng dứt khoát. Khi hít đề thì khí trầm xuống tiểu phúc (hạ đan điền, huyệt Trung Cực), khi hô hấp thì một phần khí thở ra, một phần khí hạ trầm xuống tiểu phúc, một phần khí chuyển hành đến vùng đản (trung đan điền, huyệt Đản Trung), khi thở ra thì nửa thổ nửa trầm, mới có dư không hết, cuồn cuộn không tuyệt. Thượng đan điền ở huyệt Bách Hội, từ đầu đến cuối hư linh đỉnh kình (đỉnh đầu như treo hư không), để giữ cho thân đứng trung chính khi hít đề, thở phóng.

Các cao thủ Thái Cực quyền cận đại như Trần Phát Khoa, Dương Trừng Phủ v.v., khi vận hóa thì nhẹ mềm · 261 · tròn hoạt, hoàn toàn không chịu lực, khiến đối phương mất thăng bằng, có cảm giác lơ lửng mất trọng lượng; khi phóng kình do tốc độ nhanh, điểm rơi chính xác, nội kình đủ, tại điểm dính bỗng nhiên phóng kình, đối phương không kịp cảm giác, không cách nào vận hóa, đã bị ném qua không trung, đạt đến kỹ xảo cao cấp của súc phát tương biến.

(VIII) Hô hấp và phương viên cương nhu

Sự vận dụng qua lại của hô hấp, không ra ngoài sự hỗ biến của phương viên và hỗ hoán của cương nhu. Dính liền mật thiếp, tiếp chuyển nhu hóa thành viên (tròn); được thời được vị, cương kình thôi bách thành phương (vuông); sự xoay chuyển của kình là viên, phóng phát là phương. Kình dính tùy như keo như sơn, chính là từ sự ma sát do gia tốc hướng tâm, ly tâm của triền toàn mà sinh ra. Điểm hạch tâm của mặt dính tùy, chính là một điểm trên trục hướng tâm của triền toàn. Thuận xoay là tác dụng của ly tâm lực, nghịch xoay là tác dụng của hướng tâm lực. Sự biến hóa chằng chịt của thuận xoay nghịch xoay, càng vi tế linh xảo, "khúc trung cầu trực", "súc nhi hậu phát", thì sự vận dụng viên trung hữu phương, phương trung hữu viên càng hiển thị sự tinh diệu của nó. "Đả Thủ Ca" rằng: "Dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, chiêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh" (dẫn vào làm không, hợp là ra; chiêm liên niêm tùy, không mất không chống), rất hoàn mỹ mà thuyết minh tác dụng của hô hấp với phương viên cương nhu. Khi phát kình, "khúc trung cầu trực", ngoài phương mà trong viên, khúc súc hữu dư, cuồn cuộn không tuyệt; thở thì thân chi khai triển thành phương, hít thì thân chi khẩn thấu thành viên, tùy lực tựu viên mà vãng lai; hít thì đề kình thành nhu, thở thì phóng kình thành cương. Yêu cầu cao nhất là tốc chiến tốc quyết, cho nên cũng phải dưỡng thành kỹ thuật một hít một thở mà thắng phụ lập phán (phân định ngay), Dương Ban Hầu được truyền của họ Trần liền chủ trương "nhất hanh nhất ha, thắng phụ lập phán" (một tiếng hanh một tiếng ha, thắng phụ phân định ngay). Do đó bởi vì hô hấp liền ảnh hưởng đến sự hỗ tương biến hóa của phương viên cương nhu, dần dần đến khi hô hấp luyện được cực kỳ tự nhiên, tuyệt nhiên không dụng lực, mà lại có thể đề khiến hắn đến không thể không đến, phóng khiến hắn đi không thể không đi; xả kỷ tòng nhân (bỏ mình theo người) mà cầm túng tại ngã (giữ buông ở mình), xả kỷ tòng nhân mà vẫn do kỷ; cầm túng tại ngã là do kỷ, do kỷ mà vẫn tòng nhân. Vận động như thế, liền có thể biểu hiện thành không ngừng phương nhi viên, viên nhi phương, khiến cho cái viên của nó để ứng vô cùng. Trong đó chất lượng là cương nhi nhu, nhu nhi cương, chợt nhu chợt cương, diệc nhu diệc cương, đợi đến khi cương nhu không vết tích có thể tìm, phương viên không hình dạng có thể thấy, đó là trong đẩy tay đạt đến diệu · 262 · cảnh giới của tay.

Tuyệt cú "Vịnh Thái Cực Quyền" của Trần Trọng Sân rằng: "Động tĩnh vô đoan tùy thế chuyển, dẫn tiến lạc không nhậm nhân lai, nhược phi Thái Cực đồ trung đắc, na hữu thần cơ bão phụ hoài" (động tĩnh không đầu mối, theo thế mà chuyển; dẫn vào làm không, mặc người đến; nếu không phải được trong đồ Thái Cực, thì đâu có thần cơ ôm ấp trong lòng). Công phu đạt đến giai đoạn "giai cập thần minh" này, hô hấp tự nhiên hợp nhịp, cương nhu phương viên không những kiêm bị, mà cũng không vết tích có thể tìm, hỗn nhiên mà thành một hình tròn của đồ Thái Cực.

(IX) Tác dụng của nội kình trong đẩy tay

Nội kình là một loại kình ẩn chứa bên trong (tham kiến Chương Một), là một danh từ chuyên dụng của phái Thái Cực quyền. Nó là một loại "đàn kình" (kình đàn hồi) và "nhận kình" (kình dai bền) được rèn luyện ra từ sự tùng nhu của "thần thư thể tĩnh" (thần thoải mái thân yên tĩnh) bằng ý quán chú. Nhu trung hữu cương là đàn kình, cương trung hữu nhu là nhận kình. Cái gọi là "nhu lý hữu cương công bất phá, cương trung vô nhu bất vi kiên" (trong nhu có cương thì công không phá; trong cương không nhu thì không bền vững), biện chứng mà thuyết minh đặc tính của đàn kình và nhận kình cùng tính thống nhất của đối lập. Nội kình có đặc điểm "thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng" (thần để biết điều sắp đến, trí để chứa điều đã qua), ẩn bên trong mà không hiển lộ ra ngoài, theo động của người mà không ngừng thay đổi phương hướng, bất đâu bất đỉnh (không mất không chống), không một ly sai, nội động không khiến người ta biết, nên gọi là "nội kình". Nội kình sung mãn, thì tính đàn hồi và tính dai bền liền đủ. Đây là một loại kình độc đáo sinh ra từ sự kết hợp của bài quyền Thái Cực và đẩy tay. Về thực chất và vận hành của nội kình Thái Cực quyền, Trần Hâm cho rằng là dĩ ý hành khí (dùng ý dẫn khí), khinh khinh vận động, phát ư đan điền, vận ư cốt phùng chi nội (vận trong khe xương), lại từ trong khe xương vận đến cơ phu (da thịt), quán chú vào tứ sao (bốn đầu ngón: hai ngón tay, hai đầu ngón chân), phục quy ư đan điền, triền nhiễu vãng lai, khinh linh viên chuyển, dần dần sinh ra một loại nội kình miên nhuyễn mà lại trầm trọng, ngoài tựa bông gòn, trong như thanh thép. Công phu càng sâu, chất lượng của nội kình càng cao; Vũ Vũ Tương, người được truyền lão giá và tân giá của họ Trần, hình dung loại kình này là "tự tùng phi tùng, tương triển vị triển" (tựa lỏng mà không lỏng, sắp mở mà chưa mở), "hành khí như cửu khúc châu, vô vi bất đáo" (hành khí như chuỗi châu chín khúc, không chỗ nào không đến), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất thôi" (vận kình như thép luyện trăm lần, không gì cứng mà không phá).

Nội kình là tiềm di mặc hóa (âm thầm chuyển hóa) mà xoay theo kiểu triền toàn, nó chảy cực kỳ nhanh như thủy ngân; nhìn ở ngoại hình, nó khinh linh mà không rơi vào phiêu phù, trầm trước mà không dính vào ngưng trệ, giàu ý thú triền ti quanh co. Nội kình chủ yếu là từ khi luyện quyền giá · 263 · rèn luyện ra, nó là một loại kình hồn hậu linh hoạt, cực kỳ trầm trọng mà lại cực kỳ hư linh. Khi đẩy tay nếu không có nội kình, dù đã làm được "nhất thân bị ngũ cung" (toàn thân có đủ năm cái cung), nắm được liên hệ hữu cơ của hô hấp súc phát, vẫn là không thể khiến đối phương "dẫn chi sử lai, bất đắc bất lai, phóng chi sử khứ, bất đắc bất khứ" (dẫn hắn đến, không thể không đến; phóng hắn đi, không thể không đi). Trần Hâm nói: "Đãn dẫn nhi bất kích, hữu thuận thế khiên chi sử tiến, dĩ đẩu tha nhân chi kình; đẩu túc tắc kỳ kình tự tán, toàn thể vô lực, dục tiến bất đắc thế, dục thoái bất cảm, thử dẫn tiến chi diệu cảnh dã" (chỉ dẫn mà không đánh, có thuận thế kéo hắn tiến lên, để đẩu kình của người; đẩu đủ thì kình của hắn tự tán, toàn thân không lực, muốn tiến không được thế, muốn lùi không dám, đây là diệu cảnh của dẫn tiến). Loại đẩu kình này chính là bắt nguồn từ nội kình sung mãn, cũng thuyết minh lúc Thái Cực quyền triền nhiễu vận chuyển cần nội kình, là có quan hệ với thực tiễn của đẩy tay.

Đẩy tay nếu chỉ dựa vào xúc giác nhạy bén, mà thiếu một loại nội kình hồn hậu khinh linh "cực nhu nhuyễn, nhiên hậu năng cực kiên cương" (cực mềm mại, rồi sau mới có thể cực cứng rắn), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất thôi", thì ngang với có bị động mà không có chủ động, có vũ khí nhẹ mà không có vũ khí nặng, rất khó dẫn động đối phương, phóng kình gọn gàng; ngược lại, dễ bị đối phương dẫn động.

Mặt âm nhu khinh linh của Thái Cực quyền, ví như gió hòa mưa nhỏ; mặt dương cương trầm trước của Thái Cực quyền, ví như sấm sét muôn quân, cả hai cùng đủ mà hỗ dụng, mới được cái toàn vẹn của "Thái Cực lưỡng nghi, hữu nhu hữu cương" (Thái Cực hai nghi, có nhu có cương). Dương cương và âm nhu cả hai hòa hợp không kẽ hở, tức là hai nghi vẫn trở về Thái Cực. Phàm lệch về cương mà không nhu thì phải đề phòng té ngã; lệch về nhu mà không cương, khó đương đầu với địch mạnh. Một khi cử động, khinh nhu và trọng cương cùng phát, thì khắp nơi có thể khống chế trọng tâm của đối phương, khiến mất thăng bằng, khắp nơi có thể vượt qua điểm phòng thủ của đối phương mà tiến thoái khinh linh, khiến đối phương không biết tay ta từ đâu mà đến, đạt đến cảnh giới "xuất thủ bất kiến thủ, thủ đáo bất năng tẩu" (ra tay không thấy tay, tay đến thì không thể đi). Đó mới là diệu thủ của Thái Cực quyền. Nội kình tức là bao hàm đại dụng toàn thể của âm dương hỗn luân nhu hóa cương phát. Trần Hâm nói: "Nhược thị công phu thuần thục, do kỳ đại vô ngoại chi viên, tạo đáo kỳ tiểu vô nội chi cảnh, bất ngộ địch tắc dĩ, như ngộ kình địch, tắc nội kình tốt phát, như tấn lôi liệt phong chi tồi khô lạp hủ, thục năng đương chi" (nếu công phu thuần thục, từ cái vòng lớn không ngoài của nó, tạo đến cảnh nhỏ không trong của nó, không gặp địch thì thôi, nếu gặp kình địch, thì nội kình phát đột ngột, như sấm chớp gió dữ phá cây khô đập vật mục, ai có thể đương nổi). Nếu kình triền nhiễu chiêm liên niêm tùy không có nội kình sung túc, thì ra tay không có uy lực, hóa cũng hóa không tốt, phát cũng phát không tốt; muốn dẫn động đối phương thì không có tác dụng, liền không thể đắc cơ đắc thế mà chế người; muốn hóa động đối · 264 · phương đến kình, lại dễ bị ép bẹp mà thân pháp bị phá hoại, do đó ở vào cục diện bị động mất cơ mất thế mà bị chế ngự bởi người. Trần Hâm chỉ ra: "Khí bất do trung tâm đan điền nhi phát, tắc khí vô sở bản nhi thất ư cuồng vọng, tất chí thất bại. Thử nội kình chi bất khả bất nghiên luyện dã; quả năng nghiên luyện chí thử, tắc thần hồ kỳ kỹ hĩ" (khí không phát từ trung tâm đan điền, thì khí không có gốc mà mất vào cuồng vọng, ắt dẫn đến thất bại. Nội kình này không thể không nghiên cứu rèn luyện; nếu có thể nghiên cứu rèn luyện đến đây, thì kỹ thuật thần diệu vậy).

Nội kình là vô định hướng, mà cũng hữu định hướng, "vô định hướng" là "viên", "hữu định hướng" là "phương", hai giả hỗ biến, hỗ vi kỳ căn (làm gốc cho nhau), nó là "cương nhu kiêm chí nhi hỗn ư vô tích" (cương nhu đều đến mà hòa lẫn không vết tích), là linh hoạt thiện biến. Nhưng tất phải phương pháp đúng, cương nhu hư thực của Thái Cực lưỡng nghi tất phải kiêm bị, cộng thêm không ngừng khổ luyện, mới có thể công phu thượng thân (công phu lên thân), dần dần đạt tinh diệu. Nói suông "dẫn tiến lạc không", "tứ lạng bạt thiên cân" mà công phu không thượng thân, cương nhu không kiêm bị, cái gọi là "quyền vô công, nhất tràng không" (quyền không công phu, chỉ là một màn không), là không chịu nổi khảo nghiệm của thi đấu đẩy tay. Trần Hâm nói: "Súc biến vô hình tịnh vô cùng, vô cùng công phu tại bách luyện; bất tật nhi tốc đắc chân tể, như thử phương xưng Thái Cực quyền" (súc biến vô hình và vô cùng, công phu vô cùng ở trăm lần luyện; không nhanh mà nhanh, đắc được chân chủ, như thế mới gọi là Thái Cực quyền). Khi đẩy tay lấy chiêm liên niêm tùy của kình triền ti làm linh hồn, nhưng lại cần lấy nội kình cương nhu kiêm bị làm thống soái, đây là nguyên tắc huấn luyện của các bậc tiền bối Thái Cực quyền, cực kỳ biện chứng mà quán triệt hàm nghĩa của Thái Cực. Trong kình triền ti có sự quán chú của nội kình, mới có thể phát huy tác dụng "năng hối vạn pháp vi nhất, năng diễn nhất pháp vi vạn" (có thể hội muôn pháp thành một, có thể triển khai một pháp thành muôn). Trước (chiêu thức) là pháp, pháp có muôn ngàn; lấy một pháp chế một pháp, ngang với một chìa khóa mở một ổ khóa. Kình quán triệt ở trung tâm, kình là một loại nội kình cương nhu kiêm bị, lấy một quán muôn, lấy giản ngự phồn, ngang với nắm được chìa khóa tổng. Cho nên Vương Tông Nhạc nói: "Tuy biến hóa vạn thù, nhi duy lý nhất quán" (tuy biến hóa muôn ngàn khác nhau, mà chỉ một lý xuyên suốt). "Biến hóa vạn thù" là trước pháp, "duy lý nhất quán" là nội kình "chiêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh" cương nhu, hư thực đều đủ, "tự tùng phi tùng", "tựu khúc tựu thân" (thì co thì duỗi). Thái Cực quyền coi trọng nội kình, được cái một thì muôn sự xong. Đẩy tay mang tính y liệu, giải trí không cần cầu nội kình, nhưng đẩy tay mang tính thi đấu thì tất phải cầu nội kình.

· 265 · Sáu. Tác dụng chỉ đạo về nguyên tắc của "Thái Cực Quyền Luận" đối với đẩy tay "Thái Cực Quyền Luận" là tác phẩm kinh điển về mặt lý luận của Thái Cực quyền, đối với đẩy tay cũng là một sự chỉ đạo lý luận rất tốt, tế tâm nghiên cứu nội dung của nó và dùng nó để chỉ đạo luyện tập đẩy tay, thì có thể được hiệu quả sự bán công bội (nửa công gấp đôi).

(I) Bốn nguyên tắc cơ bản của công phu đẩy tay Thái Cực quyền (1) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Thái Cực giả vô cực nhi sinh, động tĩnh chi cơ, âm dương chi mẫu dã; động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" (Thái Cực là do Vô Cực mà sinh, là cơ của động tĩnh, là mẹ của âm dương; động thì phân, tĩnh thì hợp). Cái mà cổ nhân gọi là "Thái Cực", là tượng trưng của đối lập thống nhất, là cơ khu của mọi động tĩnh; do Thái Cực sinh âm dương, như thuận nghịch, nhu cương, khinh trầm, viên phương, hư thực, khai hợp v.v. đều thuộc về đó. Khi vận động thì tận dụng ly tâm lực và hướng tâm lực, cho nên động thì phân, tĩnh thì hợp; phân là dương, hợp là âm. Trần Hâm nói: "Thái Cực lưỡng nghi, thiên địa âm dương, hạp tịch động tĩnh, nhu chi dữ cương" (Thái Cực hai nghi, trời đất âm dương, khép mở động tĩnh, nhu với cương), chính là chỉ quy luật này. Loại mâu thuẫn này tồn tại trong toàn bộ quá trình đẩy tay, và xuyên suốt từ đầu đến cuối của mỗi quá trình động tác. Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ nhất của đẩy tay, tức là nó phải phù hợp với pháp tắc mâu thuẫn của sự vận động sự vật, tức "mâu thuẫn và khai hợp".

(2) Quá trình hai bên dựng tay đối luyện khi đẩy tay, cũng là quá trình không ngừng sinh ra mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Cái mà "Thái Cực Quyền Luận" nói "vô quá bất cập, tùy khúc tựu thân" (không quá không thiếu, tùy cong mà duỗi), chính là chỉ động tác phải phù hợp với bốn điểm sau:

  • ① Tất phải "vô quá" (không quá); vô quá gọi là "chiêm kình", quá thì gọi là "đỉnh bệnh" (bệnh chống);
  • ② Tất phải "năng cập" (có thể đến); năng cập gọi là "niêm kình" (kình dính), bất cập gọi là "biển bệnh" (bệnh bẹp);

· 266 ·

  • ③ Tất phải "tùy khúc" (theo cong); tùy khúc gọi là "liên kình" (kình liền), không theo mà cong gọi là "đâu bệnh" (bệnh mất);
  • ④ Tất phải "tựu thân" (theo duỗi); tựu thân gọi là "tùy kình" (kình theo), duỗi quá sớm, gọi là "kháng bệnh" (bệnh chống).

Mọi quá trình của đẩy tay đều yêu cầu có đủ bốn công "chiêm niêm liên tùy" (dính dính liền theo), không sinh ra bốn bệnh "đỉnh biển đâu kháng" (chống bẹp mất kháng). Trần Hâm nói: "Chiêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận ngã hư linh, di gia chỉnh trọng" (chiêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng). Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ hai là "chiêm liên niêm tùy".

(3) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Nhân cương ngã nhu vị chi tẩu, ngã thuận nhân bối vị chi niêm; động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy; tuy biến hóa vạn đoan, nhi lý vi nhất quán" (người cương ta nhu gọi là tẩu (đi); ta thuận người bối gọi là niêm (dính); động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm; tuy biến hóa muôn mối, mà lý là một xuyên suốt). Đây là biện pháp để làm được bốn công, tránh bốn bệnh. Điều đó nói rằng, người cương thì ta nhu, dùng "tẩu" để dẫn hắn. Đây là sự vận dụng "quyển hợp" trong cục diện bị động. Đồng thời, để gián kình (thử kình), vận dụng thế và kình thuận toại, bức bách đối phương thành "bối", chuyển hóa thành ta cương người nhu, dùng "niêm" để bức hắn. Khi niêm tẩu, đối phương động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm, như thế thì có thể có bốn công mà không có bốn bệnh. Trần Hâm nói: "Tiền hậu tả hữu, thượng hạ tứ bàng, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp tương tương" (trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, chậm gấp cùng đưa nhau). Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ ba là "cấp hoãn niêm tẩu" (niêm tẩu gấp chậm).

(4) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Do trước thục nhi tiệm ngộ đổng kình, do đổng kình nhi giai cập thần minh, nhiên phi dụng lực chi cửu, bất năng khoát nhiên quán thông yên" (từ quen chiêu thức mà dần ngộ hiểu kình, từ hiểu kình mà lên đến thần minh, nhưng không phải dùng sức lâu dài, thì không thể bỗng nhiên thông suốt vậy). Khi đẩy tay, sau khi thuần thục nắm được ba nguyên tắc cơ bản trước, thì có thể lĩnh ngộ kình của người, thăm dò động hướng của đối phương, cái gọi là hiểu được kình của người. Đến lúc này, có thể tín thủ nhi ứng (tùy tay mà ứng), đạt đến cảnh giới "thần minh" tự động. Đây là kết quả của nhiều năm nhiều lần suy ngẫm, thực tiễn và nghiên cứu lý luận cuối cùng đạt được sự khoát nhiên quán thông. Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ tư là "thực tiễn và lý luận nhất trí".

· 267 · Bốn nguyên tắc cơ bản của công phu đẩy tay

Số thứ tựNguyên tắc cơ bảnCách làm cụ thể
1.Mâu thuẫn khai hợpĐộng tác phải trong khai ngụ hợp, trong hợp ngụ khai để đạt đến thống nhất của mâu thuẫn đối lập.
2.Chiêm niêm liên tùyPhải làm được đề thượng bạt cao (nhấc lên kéo cao), lưu luyến triền nhiễu, xả kỷ vô ly (bỏ mình không lìa), hắn đi thì ta ứng.
3.Cấp hoãn niêm tẩuKhiến hành động niêm tức là tẩu, tẩu tức là niêm, và động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm.
4.Thực tiễn và lý luận nhất tríKết hợp nghiên cứu sâu kinh nghiệm của người trước với việc mình dụng công nhiều.

(II) Cách sắp xếp bản thân để vận dụng bốn nguyên tắc cơ bản

"Thái Cực Quyền Luận" nói: "Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền; bất thiên bất ỷ, hốt ẩn hốt hiển; tả trọng tắc tả hư, hữu trọng tắc hữu đạp, ngưỡng chi tắc di cao, phủ chi tắc di thâm; tiến chi tắc dũ trường, thoái chi tắc dũ xúc; nhất vũ bất năng gia, dăng trùng bất năng lạc; nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân; anh hùng sở hướng vô địch, cái giai do thử nhi cập dã" (đỉnh đầu hư linh, khí trầm xuống đan điền; không lệch không nghiêng, chợt ẩn chợt hiện; bên trái nặng thì bên trái hư, bên phải nặng thì bên phải tối; ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu; tiến thì càng dài, lùi thì càng gấp; một lông cũng không thêm được, con ruồi cũng không đậu được; người không biết ta, ta một mình biết người; anh hùng đi đến đâu cũng vô địch, đều do đó mà đạt tới). Cho nên, để vận dụng bốn nguyên tắc cơ bản, tất phải theo quyền luận trên đây làm tốt sáu điểm sau:

(1) Đỉnh kình phải hư hư lĩnh khởi (nhẹ nhàng dẫn lên), thì tinh thần tự nhiên nâng lên. Đồng thời khí trầm xuống đan điền. Do thượng lĩnh hạ trầm, khiến thân khu dài ra mà sinh tính đàn hồi thành băng kình (kình căng). Trần Hâm nói: "Diên lộ triền nhiễu, tĩnh vận vô hoảng, cơ phu cốt tiết, xứ xứ khai trương" (dọc đường triền nhiễu, tĩnh vận không hoảng, da thịt khớp xương, chỗ chỗ khai trương). Nếu là kình cứng đờ (ngạnh bang bang), thì sẽ mất băng kình, cũng liền không thể lại thông qua chiêm niêm để cầu hiểu kình.

(2) Lập thân cần trung chính an thư, có thế chống đỡ tám mặt, khiến thân khu khi đẩy tay không đến nỗi lệch về một bên hoặc dựa vào thân tay của đối phương, để tránh kình của mình bị người hiểu. Nếu lệch về một bên, thì không dễ thuận toại mà vận dụng công phu niêm tẩu.

(3) Trên tiền đề thần khí nội ẩn thì nhu, ngoại hiển thì cương, khi đẩy tay phải có · 268 · có tác dụng biến đổi cương nhu khi ẩn khi hiển, đây chính là biểu hiện của việc không ngừng gián kình trong quá trình cầu hiểu kình.

(4) Khi đẩy tay yêu cầu làm được hai tay có hư thực, hai chân có hư thực, một tay một chân trên dưới cũng phải phân hư thực, hình thành chỗ chỗ đều có một hư một thực này. Trần Hâm nói: "Hư thực kiêm đáo, hốt kiến hốt tàng" (hư thực cùng đến, chợt thấy chợt tàng); "thực trung hữu hư, nhân kỷ tương tham; hư trung hữu thực, thục trắc cơ quan" (trong thực có hư, người mình cùng xen; trong hư có thực, ai đoán được cơ quan). Đợi sau khi chuyển đổi hư thực thuần thục, chỉ cần chú ý một tay, tay kia và hai chân do trên dưới tương tùy, tự nhiên cũng liền theo đó linh hoạt chuyển đổi. Cho nên Trần Hâm lại nói: "Thiên cổ nhất nhật, chí lý tuần hoàn, thượng hạ tương tùy, bất khả không đàm" (nghìn xưa như một ngày, chí lý tuần hoàn, trên dưới tương tùy, không thể nói suông). Đây là cơ sở của gián kình, hóa kình và công phu đắc được hiểu kình.

(5) Đối phương ngẩng lên đến thì cao mà dẫn hắn, khiến có cảm giác cao không thể với mà mất trọng tâm; đối phương cúi xuống đến thì càng dẫn xuống dưới, khiến có cảm giác như đến bờ vực sâu, lay lắt muốn rơi; đối phương tiến bức thì càng dẫn càng hư, khiến có cảm giác dài không thể tới; đối phương lùi chạy thì niêm bức khiến có cảm giác bị truy bức. Đây là phù hợp với yêu cầu của hóa kình và phát kình của chiêm, niêm, liên, tùy, như thế thì có thể tránh phát sinh bốn bệnh đỉnh biển đâu kháng.

(6) Khi đẩy tay tinh thần phải nâng lên, như thế toàn thân mới có thể khinh linh quán xuyến, và phải khinh linh đến mức có sự nhạy cảm "nhất vũ bất năng gia" (một lông cũng không thêm được). Đồng thời phải triền ti theo kiểu xoáy ốc mà không ngừng biến động, phải xoay chuyển đến mức hình thành khí thế "dăng trùng bất năng lạc" (ruồi không thể đậu). Nếu động tác biểu hiện trì trọng bất linh, thì không dễ hiểu kình; nếu vận động mà không có triền ti, thì mất hóa kình, cũng mất kỹ xảo kình triền ti của bán hóa bán tiến, minh hóa ám tiến, tức hóa tức tiến. Không có hóa kình, thì biến thành so sức, liền không thành đẩy tay kiểu Thái Cực nữa. Có thể hóa mà không thể phát, có thể nhu mà không thể cương, cương nhu không thể tương tế, đều không phải cái toàn vẹn của Thái Cực lưỡng nghi.

Có được sáu công năng liệt kê trên, thì có thể quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản của đẩy tay, đạt đến công phu hiểu được kình của người mà không bị người hiểu kình của mình, khiến thi đấu có thể ở vào thế bất bại.

· 269 · Sự vận dụng cụ thể của bốn nguyên tắc cơ bản

STTMục chínhGiải thích
1Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điềnPhải được thực hiện trong điều kiện tinh thần được nâng lên, khí đi xuống và toàn thân được kéo dài ra.
2Bất thiên bất ỷ (không lệch không nghiêng)Phải đứng cho thân mình ngay ngắn, chống đỡ tám hướng, xương cùng ngay giữa và thần xuyên lên đỉnh đầu.
3Ẩn hiện bất thườngKhi ẩn thì mềm, khi hiện thì cứng; khi ẩn khi hiện, cứng mềm tương trợ.
4Trái nặng thì phải yếu, trái nặng thì phải hưHai tay phân hư thực, hai chân phân hư thực; một tay một chân trên dưới đi theo nhau, đất phân hư thực.
5Ngước lên càng cao, cúi xuống càng sâu; tiến vào càng dài, lùi ra càng gấpBốn mục liệt kê trên phải tuân theo mà thực hiện, tuyệt đối không được đi ngược lại; nó mô tả phương hướng của dính, liền, dán, theo.
6Một lông cũng không thêm được, một con ruồi cũng không đậu đượcNhẹ nhàng linh hoạt đến mức một lông cũng không thêm được; xoay chuyển đến mức một con ruồi cũng không đậu được.
7Không cho người biết, nhưng khéo biết ngườiDính tức là chạy, chạy tức là dính; người khác không biết là đang dính hay đang chạy; bằng sự dẫn vào của dính và sự buông rỗng của chạy, thông qua dính chạy mà biết được người.

(3) Đẩy tay trong Thái Cực quyền đòi hỏi dùng sức người để khắc chế tự nhiên "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Thuật này có rất nhiều môn phái bên cạnh; tuy thế thức có khác nhau, nhưng đại khái đều không ngoài việc mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh. Có sức đánh không sức, tay chậm nhường tay nhanh — ấy đều là khả năng tự nhiên bẩm sinh, không liên quan đến những gì đạt được do học lực. Xét câu 'bốn lạng gạt ngàn cân', rõ ràng không phải thắng bằng sức; xem hình ảnh một cụ già có thể chống đỡ cả đám đông, thì nhanh nhẹn làm được gì?" Do đó có thể thấy rằng đẩy tay trong Thái Cực quyền không phải so sức mạnh mà là so kỹ xảo. "Mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh" là bản năng tự nhiên, không phải chức năng của kỹ xảo. Cái gọi là kỹ xảo, chính là thuận theo tự nhiên để khắc chế tự nhiên, đạt tới "yếu thắng mạnh, chậm thắng nhanh". Nguyên lý điểm tựa của đòn bẩy và sự chuyển hóa xoắn ốc trong thế giới tự nhiên chính là có chức năng "bốn lạng gạt ngàn cân". Đẩy tay vận dụng nguyên lý này thì có thể hóa giải mọi trọng lực, gọi là hóa kình. Có công phu hóa kình này thì có thể dùng nhẹ khắc chế nặng. Đồng thời, vận động của Thái Cực quyền là vận dụng lực ly tâm, và lấy eo · 270 · lấy sống lưng làm trục giữa, khiến mọi động tác đều đi theo vòng trong; đi vòng trong, và "tốc độ đường thẳng" tương đối chậm, mà vẫn có thể thắng được cái nhanh đi vòng ngoài. Đó là nguyên do của "người đến sau mà ta đến trước", cũng là then chốt của việc chậm thắng nhanh.

(4) Làm thế nào để phòng ngừa "bệnh song trùng"

"Thái Cực Quyền Luận" nói: "Đứng như cái cân bằng, động như bánh xe; lệch chìm thì đi theo, song trùng thì trì trệ. Thường thấy những kẻ nhiều năm công phu thuần thục mà không thể vận hóa, đều là tự để người khác chế phục; ấy là chưa ngộ ra bệnh song trùng vậy." Cái gọi là bệnh song trùng chính là hiện tượng bệnh lý khi hai bên trong đẩy tay giằng co bất động. Điều này hình thành do sự kháng đỉnh phát sinh trên tư thế và trên kình biệt. Để giải trừ bệnh này, trên thân thể phải "đứng như cái cân bằng", trên bộ pháp phải "động như bánh xe". Cái gọi là cân bằng, chính là đầu như kim chỉ, eo như gốc cây, hai cánh tay liên kết với nhau mà chuyển động như hai đĩa, khiến mình hình thành thân pháp giống như một chiếc thủy bình. Dùng thân pháp như vậy để thăm dò đối phương, thì nhẹ nặng phù trầm của đối phương không gì là không thể phân biệt rõ ràng. Nếu lệch chìm về phía mình, thì chạy để dẫn nó; nếu lệch chìm về phía đối phương, thì dính để theo nó; đây là công dụng "đứng như cái cân bằng" trong thân pháp. Sự xoay chuyển của hai cánh tay liên kết ở phần trên, sự biến đổi của hai chân đi theo nhau ở phần dưới, giống như một chiếc thủy bình lắp trên bánh xe hình cầu, có thể xoay chuyển trái phải, trước sau, trên dưới. Bộ theo thân xoay chuyển, thân theo mắt mà động, mắt và thân đi theo nhau, thì xoay chuyển tiến lui đều tự nhiên, đây là thành quả của "động như bánh xe" trong bộ pháp. Bởi vậy, nếu có thể dẫn vào theo ra, thì thân pháp và bộ pháp đều có thể tránh được hiện tượng bệnh song trùng.

Biện pháp phòng ngừa "hiện tượng bệnh song trùng"

STTMục chínhGiải thích
1Đứng như cái cân bằngToàn thân có một sức bồng nhất định; chỉ dưới điều kiện thân đứng ngay giữa mới có thể đạt được sự cân bằng như thủy bình.Dùng thân pháp như vậy để thăm dò đối phương, nhẹ nặng phù trầm không gì là không thể phân biệt rõ ràng.
2Động như bánh xeDưới điều kiện lấy eo lưng làm trục giữa và hai cánh tay liên kết nhau, then chốt của hoạt động nằm ở chỗ trên dưới hư thực đi theo nhau.Một tác dụng khác của động như bánh xe là khi đối phương sắp động thì chiếu theo mà cho, nếu đối phương cho kình thì xoay mà nhận lấy.

· 271 · (5) Yêu cầu đạt tới hiểu kình trong khi tránh "bệnh song trùng"

"Thái Cực Quyền Luận" nói: "Muốn tránh bệnh này, phải biết âm dương; dính tức là chạy, chạy tức là dính; âm không rời dương, dương không rời âm; âm dương tương trợ, mới gọi là hiểu kình." Muốn phòng ngừa bệnh song trùng, về phương diện kình biệt, trước tiên phải hiểu đạo lý dính tức là chạy và chạy tức là dính, để đạt tới sự thống nhất của dính và chạy. Sự thống nhất của dính và chạy là do xoắn ốc mà có; đã thống nhất dính chạy, thì có thể tùy thời chuyển đổi lẫn nhau, và linh hoạt thay đổi phương hướng của dính và chạy. Trong khoảnh khắc thay đổi này, gọi là "thính kình①". Thính kình là dùng xúc giác và cảm giác trong cơ thể để thăm dò động hướng của kình nơi đối phương: nếu đối phương hơi xoay về phía sau trái hoặc sau phải, thì lập tức dùng dính theo thuận triền; nếu đối phương hơi xoay sang trái hoặc phải, thì lập tức dùng chạy theo nghịch triền. Đây là yêu cầu "đối phương không động, mình không động; đối phương hơi động, mình động trước". Do dính chạy thống nhất, nên hình thành âm dương tương trợ; do dính liền dán theo, nên đạt được công phu hiểu kình. Đó là diệu dụng của việc chuyển từ tránh song trùng mà có được hiểu kình.

Công phu đạt tới hiểu kình trong quá trình phòng ngừa bệnh song trùng

STTCách tránh song trùngCách đạt được công phu hiểu kình
1Phải biết âm dươngPhải biết đầu đuôi ngọn ngành động tác của đối phương và độ lớn của kình, phải làm được sự thống nhất của dính chạy, như chậm nhanh, nhẹ nặng, cứng mềm v.v., đây là cách thức cơ bản của hiểu kình
2Dính tức là chạy, chạy tức là dínhĐây là khâu trung tâm của đẩy tay, nó thể hiện nguyên tắc thu tức là phóng, phóng tức là thu. Yêu cầu trong dính chạy phải như vòng tròn không có đầu mối. Nếu không thể dính chạy tương sinh, thì đẩy tay không có gì gọi là hiểu kình.
3Âm không rời dương, dương không rời âmDính chạy là đường lối, âm dương là chất lượng. Biểu hiện cụ thể của nó là nhanh chậm xen nhau, mềm cứng tương trợ, tròn vuông tương sinh, nhẹ nặng đổi nhau, hư thực tương ứng, khai hợp tiếp nối. Bao nhiêu thứ ấy đều nằm trong động tác cụ thể của dính tức là chạy, chạy tức là dính.

(6) Giai đoạn "thần minh" sau khi hiểu kình và ranh giới của xả kỷ tòng nhân "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Sau khi hiểu kình, càng luyện càng tinh, ngầm nhận mà suy ngẫm,

  • ① Cái gọi là thính kình, là dùng xúc giác của da và cảm giác trong cơ thể để thăm dò độ lớn, dài ngắn và động hướng của kình nơi đối phương.

· 272 · dần dần đạt tới mức tùy tâm sở dục. Điều này vốn là xả kỷ tòng nhân, nhưng nhiều người lầm mà bỏ gần cầu xa. Cái gọi là 'sai một ly, đi một dặm', người học không thể không phân biệt rõ". Trên cơ sở thuần thục, phải tiến thêm một bước nghiên cứu về lý luận, thông qua sự sờ mó khách quan và sự suy ngẫm chủ quan, khiến chủ quan và khách quan đạt tới thống nhất. Định hình động lực luyện được từ thực tiễn dần dần đạt tới mức tùy tâm sở dục, đạt tới giai đoạn "thần minh" tự động hóa. Đây là công phu cao nhất của đẩy tay. Tới giai đoạn này, vẫn phải phân biệt rõ ranh giới của xả kỷ tòng nhân, để cầu đạt sự vận dụng chính xác. Đẩy tay yêu cầu xả kỷ tòng nhân, đây là yêu cầu cơ bản để sinh ra dính liền dán theo. Nhưng tòng nhân phải có chừng mực, không thể mù quáng theo mãi; nguyên tắc của nó là: "theo gần chứ không theo xa". Xa thì cô quân thâm nhập, khiến mình ra khỏi vuông tròn. Đây là để người ta lợi dụng mà chế mình, là trao cán cho người. Trần Hâm nói: "Địch nếu trá dụ, không thể đuổi sát; nếu vượt qua giới hạn, tình thế khó xoay lại, huống chi một khi mất thế, dù hối cũng sao kịp". Điều này nói rằng, về phương diện này tuy khác biệt nhỏ, nhưng đối với được mất cuối cùng lại quan hệ rất lớn.

· 273 · Chương Năm: Quyền luận Thái Cực quyền thức Trần Trần Hâm để lại nhiều trước tác về lý luận Thái Cực quyền thức Trần; ông từng giảng giải tỉ mỉ từng thế về lý pháp và vận động, trở thành môn học chuyên môn của dòng họ Trần qua nhiều đời. Nhưng lý luận mà Trần Hâm trình bày tản mác trong các thiên, không đủ hệ thống, cũng không đủ tập trung. Tác giả (Cố Lưu Hinh) vốn yêu thích Thái Cực quyền và nghiên cứu tận cùng đạo lý của nó, nên đã phân loại trích lục quyền luận của Trần Hâm từ mấy cuốn sách, để tiện tham khảo và suy ngẫm khi luyện quyền.

Các quyền luận trích lục theo phân loại dưới đây chủ yếu căn cứ vào "Trần Thị Thái Cực Quyền Đồ Thuyết" do Trần Hâm soạn và phần trước tác của Trần Hâm trong cuốn "Trần Thị Thái Cực Quyền Hối Tông" do Trần Tích Phủ soạn. Cuốn sau hiệu đính sơ sài, sai chữ thiếu chữ khá nhiều; may được cụ Lý Kiếm Hoa dựa theo bản chép tay của nguyên cảo (nguyên tên là "Thái Cực Chân Kinh") để hiệu chính văn tự, nên gần như không còn sai sót.

Một hai trăm năm trước, Thái Cực quyền cũng là một loại quyền thuật mang tính kỹ kích, cho nên trong cổ quyền luận có nhiều phần lấy động tác của thức Trần lão giá làm ví dụ, xuất phát từ góc độ kỹ kích để luận thuật. Cuốn sách này để tiện nghiên cứu và chỉnh lý lý luận Thái Cực quyền, đặc biệt là để phổ biến đẩy tay Thái Cực quyền, nên cũng chọn dùng những quyền luận ấy cho thích hợp; mong độc giả phê phán mà tiếp nhận, làm được việc cổ vi kim dụng.

· 274 · Lược truyện Trần Hâm Trần Hâm, tự Phẩm Tam (1849–1929), người làng Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam. Ông nội là Trần Hữu Hằng, thúc tổ là Trần Hữu Bản, đều nổi tiếng về Thái Cực quyền gia truyền. Hữu Bản còn sáng tạo ra tân giá thức Trần. Cha là Trần Trọng Sinh (1809–1871), chú là Trần Quý Sinh (1809–1865); Hữu Hằng trung niên chết đuối ở hồ Động Đình, nên Trọng Sinh và Quý Sinh bèn đổi sang học quyền với thúc phụ là Hữu Bản.

Trọng Sinh có lưng vượn cổ hổ, vóc vạc hơn người thường; ba tuổi đã tập võ, khi lớn lên cùng em là Quý Sinh đều vào võ trường. Thời Hàm Phong, các bậc quyền gia ở Trần Gia Câu lấy Trọng Sinh, Quý Sinh và con của Trần Trường Hưng (1771–1853) là Canh Vân làm công phu tốt nhất; Trọng Sinh có thể vận dụng cây thiết thương nặng ba mươi cân để tác chiến, lại càng nổi tiếng vũ dũng. Trần Hâm cùng anh là Nghiêu theo cha học quyền. Nghiêu mười chín tuổi vào võ trường, · 275 · Ông hẹn Trần Tử Minh đến Trần Gia Câu sưu tầm sử liệu Thái Cực quyền, thấy di cảo của ông mà khen hay. Đầu xuân năm 1931, ông đề nghị với Quan Bách Ích, quán trưởng Quốc thuật quán Hà Nam, mua sách của ông; họ Quan bèn góp bảy trăm đồng mua được một bản từ Xuân Nguyên, giao cho Khai Phong Khai Minh thư cục xuất bản năm 1933, đóng chỉ bốn tập. Sau khi Trần Hâm mất, vì nhà nghèo nên quan tài để nhiều năm chưa chôn; Xuân Nguyên nhận được tiền nhuận bút mới lo việc mai táng. Năm 1935, Trần Tích Phủ (Chiếu Phi) biên soạn "Trần Thị Thái Cực Quyền Hối Tông" (bản Nam Kinh, hai tập) cũng thu vào đồ thuyết của ông, chỉ có điều bản được dùng là một bản thảo khác, nội dung hơi ít hơn sách trước, văn tự cũng đôi chỗ khác nhau. "Thái Cực Quyền Dẫn Mông Nhập Lộ" là bản giản minh của "Trần Thị Thái Cực Quyền Đồ Thuyết"; "Tam Tam Quyền Phổ" là bản tu đính quyền phổ Hình Ý theo lý pháp Thái Cực quyền — Đường Hào từng đọc qua sách ấy tại chỗ Xuân Nguyên, chỉ được phép sao chép mục lục, phần tu đính của ông ước chừng ba phần mười của nguyên phổ Hình Ý. Xuân Nguyên qua đời năm 1949, di cảo của Trần Hâm không biết lưu lạc nơi ai. Từ khi Trần Vương Đình đời thứ chín họ Trần ở Trần Gia Câu sáng tạo Thái Cực quyền, họ Trần đời đời tập quyền ấy, danh thủ xuất hiện liên tục, mà trước tác lại rất ít. Trải bảy lần truyền đến Trần Hâm mới bắt đầu coi trọng ghi chép văn tự.

(Tư liệu truyện này được biên soạn căn cứ vào "Trần Thị Thế Truyện Thái Cực Quyền Thuật" của Trần Tử Minh, "Ôn Huyện Trần Quân Mộ Minh" của Trương Gia Mưu, "Trần Thị Gia Thừa" của Trần Hâm và những điều Đường Hào thuật lại lúc sinh thời)

Một. Thái Cực Quyền Kinh Phổ  Trần Hâm

Thái Cực lưỡng nghi, trời đất âm dương, khép mở động tĩnh, mềm với cứng. Co duỗi qua lại, tiến lui tồn vong, một khai một hợp, có biến có thường. Hư thực đều tới, chợt hiện chợt tàng, cương nhu mỗi thứ một nửa, dẫn vào tiến tới tinh tường. Hoặc thu hoặc phóng, chợt căng chợt duỗi, đan xen biến hóa, muốn đè trước nâng. Trước phải có việc, chớ giúp chớ quên, thật tích lực lâu, mộc mạc mà càng tiến. Doanh hư có hình, ra vào không phương, thần để biết tới, trí để giấu lui. Khách chủ phân minh, trung đạo rực rỡ, kinh quyền dùng lẫn, bù ngắn cắt dài. Thần long biến hóa, ai đo được mênh mông? Dọc đường dằng dai, tĩnh vận không hoảng. Cơ phu cốt tiết, khắp chốn khai trương, không trước không sau, đón tiễn tương xứng. Trước · 276 · sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp nhanh nhạy, chậm gấp cùng nhau. Nâng cao lấy thấp, như nguyện được đền, không trệ nơi dấu vết, không sa vào hư không, chí thành vận động, bắt thả tùy ý, thiên cơ hoạt bát, hạo khí lưu hành. Giả thua trá bại, quyền hành chế thắng, thuận tới nghịch lui, khiến người khó lường. Tùy thời chế nghi, giấu diệu quyết bên trong, trên đi dưới đánh, tuyệt không thiên lệch. Đánh đông kích tây, trái phải đều nên, lạnh đi nóng tới, ai biết mối manh? Ngàn xưa một ngày, chí lý tuần hoàn, trên dưới đi theo, không thể nói suông. Tuần tự tiến tới, nghiên cứu kỹ càng, người chịu khổ được, cuối cùng tới vững chắc. Tới nhanh tới chớp, quấn quanh hồi xoay, lìa hình được giống, sao chẳng trăng tròn. Tinh luyện đã cùng cực, nhỏ nhất cũng là vòng; mặt trời đứng bóng thì xế, mặt trăng tròn thì khuyết. Cho nên như trá dụ, không thể đuổi sát, nếu vượt giới hạn, thế khó xoay về. Huống chi mất thế, dù hối sao kịp? Ta giữ cõi ta, không hèn không ngạo, chín khúc ruột dê, không thể nhường chút nào; nếu nhường người khác, người đứng ta ngã, gấp tranh phong, lên được chớ xuống; chiếm thêm một phần, ta giữ thế thắng, một người giữ ải, muôn người mất dũng. Dính liền dán theo, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng. Tỉ mỉ êm ái, trung quyền hậu kình, hư lung trá dụ, chỉ vì một chuyển; được thế nơi mạch tới, chuyển quan có khó gì? Trong thực có hư, người ta tham chiếu; trong hư có thực, ai đo được cơ quan? Không che không đỡ, không đỉnh không dây dưa (trì), không mềm không cứng, không thoát không dính, đột nhiên mà tới, người không biết vì sao, chỉ thấy như gió thổi đổ, ngã nhào tuyệt diệu, cõi linh khó nói thành lời. Thử hình dung một phen: trong tay có quyền, nên nhẹ thì nhẹ, châm chước không lệch; nên nặng thì nặng, như hổ xuống núi. Dẫn xem người tới, tiến do ta đi; tới nên nghe thật, đi quý thần tốc. Một lần dòm thế nó, một lần nhìn khe nó, có khe để thừa, không dám không vào, mất cơ hội này, e khó có lại; một điểm cõi linh, vì người chỉ ra. Về thân pháp, vốn không nhất định, không định mà có định, ở người tự dụng. Ngang dọc điên đảo, đứng ngồi nằm núp, trước cúi sau ngửa, kỳ chính tương sinh. Hồi xoay tựa nghiêng, tụ nhảy đều trúng (đều có trung khí thu phóng, chủ tể ở trong.) Ngàn biến muôn hóa, khó vẽ hình nó. Khí không lìa lý, một lời khả tận, khai hợp hư thực, tức là quyền kinh. Dùng sức lâu ngày, hoát nhiên thông suốt, ngày ngày đổi mới không ngừng, tự đạt thần thánh. Hỗn nhiên không dấu, diệu thủ không không, nếu có quỷ thần, giúp hư linh ta, há biết lòng ta, chỉ giữ một kính.

· 277 · Hai. Quyền phổ Thái Cực quyền  Trần Hâm Trung khí (tức nguyên khí thái hòa, không lệch không nghiêng, không thái quá không bất cập) quán túc, tinh thần gấp trăm lần (mười năm dụng công, mười năm dưỡng khí). Lâm trận giao chiến, tuyệt kỵ tiến trước; nếu bất đắc dĩ, nếm nhẹ mang dẫn, tĩnh để chờ động, củng cố lũy lệ của ta. Trận đường hoàng, cờ chỉnh tề, có phòng bị thì không lo, để nó lén doanh; một dẫn một tiến, kỳ chính tương sinh, giả thua trá bại, biến bại thành công. Một dẫn tức tiến, chuyển (chuyển là từ dẫn mà chợt xoay) tiến như gió, tiến tới bảy phần, nhanh chóng đình lại. Binh hành quỷ kế, nghiêm phòng phía sau xâm nhập (trước sau đều là địch), trước sau trái phải, đều phải để tâm. Tiến bộ chớ chậm, không thẳng không theo hết, chân theo tay vận, vòng xoay như thần. Chợt lên (tay chân lên) chợt xuống (tay chân xuống), hoặc thuận (dùng thuận triền pháp, kình nó thuận) hoặc nghịch (dùng đảo chuyển pháp, kình nó nghịch); ánh mặt trời chiếu khắp, không rơi biên tế (trên đây là địch xâm ta). Ta tiến đánh người, khiến nó không phòng; nó nếu phòng được, ắt không phải diệu phương (bốn câu là ta xâm người). Đại tướng lâm địch, không đâu không cẩn thận; mặc nó vây quanh, cùng nhau tiến vào; chém tướng đoạt cờ, cái chân của bá vương. Chí lý Thái Cực, một lời khó hết; âm dương biến hóa, tồn tại ở người. Hơi dính hư ngụy (học và nghĩ dùng chung, phải hạ công phu thật) thì diệu lý khó tìm. (Quyền pháp có kinh có quyền, sinh cơ vô cùng, biến hóa do ta, không đợi suy nghĩ.)

Ba. Trần Hâm Thái Cực Quyền Luận Phân Loại Ngữ Lục①

1. Tâm tĩnh thân chính, dĩ ý vận động

"Người học lên sân đánh quyền, đoan nhiên cung kính đứng, khép mắt nghỉ khí, hai tay buông xuống, thân trụ đoan chính, hai chân song song, trong tâm không có gì cả, một niệm không nghĩ gì, mục mục hoàng hoàng,

  • ① Tất cả những gì tập lục đều căn cứ theo cách thức phương pháp luyện tập của thức Trần lão giá mà ghi ra, nhưng có thể dùng để tham khảo khi luyện tân giá, và có thể chứng minh lão giá nói chung là khó luyện, phức tạp.

· 278 · hỗn nhiên như cảnh tượng vô cực của đại hỗn độn, nên hình nó không thể gọi tên, gọi nó là Vô Cực, là tượng hình vậy."

"Thái Cực là sinh từ Vô Cực. Âm dương từ vi tế tới hiển trước, tuần hoàn không mối, tức là cơ sinh sinh của nó vậy. ... Lên sân đánh quyền, tay chân tuy chưa vận động, mà trong cái đoan nhiên cung kính ấy, cái cơ khai hợp âm dương của nó, cái số tiêu tức doanh hư của nó, đã đều gửi trong tâm phúc. Lúc này chuyên nhất chí, ngưng tụ thần, chuyên chủ ở kính, mà âm dương khai hợp, tiêu tức doanh hư, chỉ là chưa hiện hình thôi. Thời không thể gọi tên, cũng gọi nó là Thái Cực. Nói điều này để chỉ cho người học khi mới lên sân, trước hết rửa lòng gột nghĩ, bỏ đi vọng niệm, bình tâm tĩnh khí, để chờ nó động. Như vậy rồi sau mới có thể học quyền."

"Quyền gọi là Thái Cực, thật là sự vận hành tự nhiên của thiên cơ, sự khai hợp tự nhiên của âm dương, một chút cũng không giả gắng gượng; kẻ gắng gượng đều không phải lý tự nhiên của Thái Cực, không được gọi là Thái Cực quyền." "Tinh thần quý ở chỗ uẩn súc, không thể lộ ra góc cạnh."

"Tĩnh để chờ động." "Thái hòa nguyên khí tới lúc tĩnh, không tĩnh thì không thấy cái lạ của động."

"Không khoe không trương, độ lượng ung dung, tuy nói là tập võ, văn ở trong đó vậy."

"Thân phải lấy đoan chính làm gốc."

"Thân pháp đoan ngưng chớ nghiêng, thu liễm tinh thần, không có quyết khiếu nào khác; tâm bình khí hòa thì được."

"Người thân pháp chính, thân trụ đoan chính, không chỗ thiên lệch, hư linh hàm chứa bên trong, nên không sợ người khác đẩy ngã."

"Không lệch không nghiêng, không thái quá không bất cập."

"Không lệch không nghiêng, không phải nói về dấu vết hình tích, mà là nói thần tự nhiên được trung vậy." "Nếu kiêm mang pháp phủ ngưỡng co duỗi, thì quy củ mới hoàn toàn hợp nhất. Luyện lâu thuần thục thì khởi lạc tiến lui, xoay chuyển tự do, mà nhẹ nặng, hư thực, cương nhu đều phát cùng lúc."

"Đánh quyền vốn là để bị thân pháp; thân pháp có chính có tà, có thẳng có cong, có thuận có nghịch; có thiên về trước, có thiên về sau; có thiên về trái, có thiên về phải; có thiên về trên, có thiên về dưới;

· 279 · có ngồi trên đất, có bay trên không; có bó lại, có tản ra; các thứ thân pháp không thể kể hết, đều có trung khí để xuyên suốt. Điều này tùy lúc lấy ý hội mà tự biết."

"Thân tuy có khi nghiêng lệch, mà trong nghiêng lệch tự gửi trung chính, không thể chấp nê."

"Giá thức tức là khi thân pháp có khi nghiêng lệch, ấy cũng là cái thiên của trung chính; trong thiên có chính, có chân ý; có chân ý thì cả một mảng ý vị dằng dai của nó không giống với cứng đờ ưỡn ngực bá đạo, chảy vào phái cứng."

"Lấy hào nhiên chi khí trong tâm, vận khắp toàn thân; tuy có khi hình thể nghiêng tựa, mà trong nghiêng tựa tự có trung chính chi khí để chủ tể."

"Về thân pháp, vốn không nhất định, không định mà có định, ở người tự dụng: ngang dọc điên đảo, đứng ngồi nằm núp, trước cúi sau ngửa, kỳ chính tương sinh, hồi xoay tựa nghiêng, tụ nhảy đều trúng (đều có trung khí thu phóng, chủ tể ở trong), ngàn biến muôn hóa, khó vẽ hình nó."

"Thân pháp bất luận là đại thân pháp chuyển quan hay tiểu thân pháp quá giác, lấy linh động mẫn tiệp làm quý."

"Ai hiểu được pháp chuyển thân này, thì thần cơ biến hóa ở trong đó."

"Đánh quyền tâm là chủ."

"Lấy tâm làm chủ, mà ngũ quan bách hài không gì không nghe theo."

"Thiên quân có chủ tể, bách hài nghe theo."

"Vận dụng ở tâm, đây là chân quyết." "Trung hòa nguyên khí, tùy ý sở chi; ý chi sở hướng, toàn thần quán chú."

"Động tĩnh hoãn cấp, vận chuyển tùy tâm."

"Vận hóa toàn ở một tâm."

"Tứ thể theo tâm mà vận, quan hài đều vui mà thuận theo, mà cốt yếu đều lấy càn khôn chính khí mà hành vậy."

"Trong tâm không một vật gì, cực kỳ hư linh; một khi có chỗ chấp trước, thì không hư không linh, · 280 · Chỉ lấy tĩnh mà giữ gìn, nuôi dưỡng lòng thành cho đến khi động và tĩnh đều thích hợp, biến hóa khôn lường."

"Diệu cơ vốn phát ra từ tâm."

"Hỏi: chủ tể của sự vận hành là gì? Đáp: chủ tể ở tại tâm. Tâm muốn trái phải thay nhau vận hành, thì tay chân trái phải liền thay nhau vận hành; tâm muốn dùng kình triền ti để chuyển vòng thuận, thì hai tay trái phải liền dùng kình triền ti chuyển vòng thuận; tâm muốn trầm khuỷu áp vai, khuỷu liền trầm, vai liền áp; tâm muốn ngực bụng khép phía trước, kình lưng xoay xuống, khung ngực mở tròn, thì ngực hướng về trước mà khép, kình lưng xoay xuống, khung ngực liền mở tròn — không gì là không như ý. Tâm muốn khuất hai gối, hai gối liền khuất; chân phải chạy theo tay phải, chân trái chạy theo tay trái, mà gối cùng chân trái phải đều theo đó — bằng không thì sinh ra nhiều tì vết rối ren. Đó là lý do vì sao thân thể và tay chân không thể không theo tâm. Cho nên ta nói: tâm là chủ tể vận hành của một thân."

"Có người hỏi: đại khái của quyền đã được nghe rõ, song khi đánh không ra được thần tình, vì sao? Đáp: điều đó ở chỗ bình nhật phải bỏ lòng ham nhanh, như Mạnh Tử nói, tất phải có việc ở đó mà chớ cưỡng cho đúng, tâm chớ quên, chớ giúp cho lớn. Lúc lâm trận trước tiên phải bỏ cái khí khinh phù hoảng trương, thanh tâm quả dục, bình tâm tĩnh khí, mỗi thế đều theo khuôn phép, tích lâu công chín, rồi sau cái tầng tầng quanh co trong đó, trải hết cảnh khó, khổ qua ngọt tới, cơ thú tràn đầy, không thể ngăn được, trong tâm có tình có cảnh, tự nhiên đánh ra thần tình. Tóm lại, đó đều là việc sức người làm được; còn đến cái vô tâm thành hóa, là ở sự hàm dưỡng, ngày tháng ung dung, để chờ nó tự đến thì được vậy."

"Một mảnh linh cơ vẽ Thái Hòa, hoàn toàn nhờ tấc vuông [tấm lòng] mà biến ra nhiều, hữu tâm vận đến chỗ vô tâm, nước thu trong lắng hiện ra Thái A [bảo kiếm]."

"Quyền tuy là tiểu kỹ, đều gốc ở chính lý Thái Cực."

"Quyền tuy là võ nghệ, được chính đạo của nó (đạo Trung Dung — không lệch không nghiêng, không thừa không thiếu), thì không đâu là không thích hợp."

2. Khai hợp hư thực, hô hấp tự nhiên

"Khai hợp hư thực, tức là quyền kinh."

"Lấy nguyên khí vốn có trong thân ta, vận hành trong thân ta, cái co duỗi qua lại, thu phóng cầm phóng, cũng chỉ là một khai một hợp với một hư một thực mà thôi."

"Một khai một hợp, thuật quyền hết ở đó vậy."

"Động tĩnh tuần hoàn, há có lúc gián đoạn! Điều ta nói là: một động một tĩnh, một khai một hợp, đủ hết cái diệu trong quyền."

"Một khai một hợp diệu nhập vi, trên dưới bốn bên tan vào cơ hóa, dẫu cho sáu đứa con [sáu căn] đều khéo miệng, cũng khó tả được bông tuyết bay."

"Khai hợp vốn không định, khuất duỗi thế liền nhau. Thái Cực phân âm dương, thần long biến vô phương."

"Khép mở cương nhu theo tự nhiên, một dương một ức lý tuần hoàn."

"Một khai một hợp, có biến có thường, hư thực cùng đến, chợt hiện chợt ẩn."

"Trong khai có hợp, trong hợp có khai; trong hư có thực, trong thực có hư."

"Trong thực có hư, trong hư có thực — cái diệu dụng tự nhiên của Thái Cực; đến lúc kết quả, mới ngộ ra cái tinh diệu của lý ấy."

"Cả thân cùng hợp thành một khối, thần khí không tán, mới có thể nhất khí lưu thông, hộ vệ khắp thân."

"Đánh quyền để điều dưỡng huyết khí, hô hấp theo tự nhiên. ... Điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan. ... Nhẹ nhàng vận hành, lặng lẽ dừng lại, chỉ lấy ý tứ mà vận hành."

"Đầu thẳng, mắt nhìn ngang; vai hợp với vai, khuỷu hợp với khuỷu, tay hợp với tay, gốc đùi hợp với gốc đùi, gối hợp với gối, chân hợp với chân. Bình tâm tĩnh khí; khi hợp thì trên dưới cùng hợp lại một chỗ, khí quy về đan điền, các pháp hợp đều dùng pháp triền nghịch (đảo)."

"Khai thì đều khai, hợp thì đều hợp." "Đến lúc hợp, khí ắt phải quy về đan điền."

"Một khai một hợp, không gì là không tự nhiên."

"Không chỉ lấy thế mà hợp, nên trước hết lấy thần mà hợp."

· 282 · "Hợp là hợp cái thần của toàn thân, không chỉ hợp bốn chi."

"Một khai một hợp âm dương đủ, bốn chi (hai tay hai chân) ân cần căng khớp xương."

"Mỗi ngày tinh tường ngắm đồ Thái Cực, một khai một hợp ở trong thân ta."

"Tâm phải hư; tâm hư thì bốn chi đều hư. Đan điền và kình lưng, gót chân phải thực; ba chỗ một khi thực, thì cái hư của bốn chi đều thành thực — đó gọi là hư mà thực."

"Lý âm dương của trời đất, không qua tiêu tức doanh hư mà thôi, cho nên Khổng Tử chuộng tiêu tức doanh hư. Đánh Thái Cực quyền cũng là tiêu tức doanh hư. Tức là thở, là khí hô hấp, là sinh trưởng; cho nên con của người ta gọi là tức [con], vì nó do mình sinh ra; nhân khí vi, nên gọi là tức. Tiêu là giảm, là lùi. Doanh là ở giữa đầy tràn. Hư là ở giữa trống không."

3. Khinh linh viên chuyển, trung khí quán túc

"Có thể kính, có thể tĩnh, tự giữ được hư linh."

"Tâm thân không được sử khí, nhẹ nhàng vận động."

"Lấy linh động nhanh nhẹn làm chuộng."

"Hơn nữa tâm một khi hư, thì toàn thân đều hư; chỉ hư mới linh, linh đủ để ứng địch."

"Người đánh quyền, tay cực hư cực linh, vật có chạm vào liền biết, liền có thể tùy cơ mà ứng; không chỉ tay, mà sau lưng cả thân đều là hư linh."

"Qua lại khuất duỗi, như gió thổi cành dương; thiên cơ động đậy, sống động hồn nhiên, không chút trệ cơ."

"Lấy tấm lòng hư linh, nuôi cái khí cương trung."

"Còn như tay chân vận động, không ngoài một vòng, tuyệt không đi thẳng lại thẳng." "Vòng được vẽ có chính có nghiêng, không gì ngoài một vòng một Thái Cực." "Dọc đường triền ti, tĩnh vận không hoảng."

"Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."

"Lìa hình mà được tựa — nào phải trăng tròn, tinh luyện đã tột, nhỏ mấy cũng là vòng." "Vòng là toàn thân chuyển, không chỉ tay chân; mà tay chân ở ngoài dễ thấy, nên lấy tay chuyển mà nói."

· 283 · "Càng nhỏ càng nhỏ đến khi không còn vòng, mới về cái chân thần diệu của Thái Cực."

"Trung khí của đánh quyền đi tới đâu, ai có thể cấm ngăn!"

"Lấy hào nhiên chi khí mà hành, không đâu là không thích hợp."

"Tâm kình một khi phát, mà gân mạch khớp xương khắp thân không gì không theo; cái hình thành ở ngoài đều do cái phát từ trong — cho nên gọi là nội kình."

"Nội kình phát thế nào, hành thế nào? Phát từ tâm, hành nơi tủy xương của tứ chi, sung khắp cơ phu của tứ chi."

"Không trệ, không tức, không trái, không lìa, không lệch, không nghiêng — tức là trung khí."

"Trung khí được mười phần đầy đủ, khí thế thịnh túc."

"Quyền lấy trung khí vận hành, người ta mới tâm phục, thế là giáo hóa thành thiên hạ."

"Lấy dẫn chân làm chỉ; người học phần nhiều tính táo, chưa hạ công phu, trước đã thích đánh người, không biết xâm đến đâu, liền lấy nơi đó dẫn kích, không câu nệ định cách."

"Trung khí quán túc, vật đến thuận ứng, vật không thể trái."

"Quyền gia tay thành, có thể bình được chí mình, tự nhiên không có khí ngang."

"Trung khí vận đến tay mới là vận đủ."

"Ngón chân cái chờ khí của tay đi đủ rồi, mới cùng tay hợp lại một chỗ; lúc đó mới có thể đạp thực."

"Kình của nó đều phát từ trong tâm, nhập vào tủy xương, đạt ra ngoài tới cơ phu; là một luồng kình, không phải mấy luồng kình, tức là khí phát ra từ trong tâm. Được cái trung chính của nó tức là trung khí, nuôi nó tức là hào nhiên chi khí."

"Trung khí quán nơi giữa lưng."

"Nếu hỏi cái tin thật ở trong đó, phải tìm nơi khớp xương sống lưng."

"Trung khí từ trên huyệt Bách Hội, xuống quán huyệt Trường Cường, như một sợi chỉ xâu thành."

"Trung khí quán nơi giữa tâm thận, thông lên đỉnh đầu, xuống tới hội âm, ... trung khí sung thực ở trong, rồi sau khai hợp cầm tung, tự nhiên không trở ngại." "Trung khí ắt từ giữa cánh tay chậm rãi vận hành, không được hoảng trương sơ lược, thuận theo lẽ đương nhiên của nó, vận cái tự nhiên, chớ để lệch nghiêng, mà lấy tâm khí hành nơi giữa hai cánh tay — ấy là trung khí."

"Hình của nó như dừng, ý của nó không dừng, dần dần sung mãn nội kình của nó; ắt khiến kình từ trong tủy xương sung tới cơ phu, cho đến đầu ngón tay. Chờ nội kình mười phần sung túc, thì cơ trí của thế sau tự động."

"Nhất khí vận hành, tuyệt không dừng lại, thuần là hào khí lưu chuyển khắp thân, thế không thể ngăn."

"Chỉ nhờ toàn thân không linh, một luồng trung khí theo thế mà dương lên."

"Hai người đối địch, là quan hệ tính mạng; ngoài quán sát người, trong quán sát mình, biết mình biết người, trăm trận trăm thắng; mà một mực lấy trung khí ngự trị, không mất đạo đại trung chí chính."

"Lấy trung khí trong tâm vận nơi giữa tứ chi; đó là chỗ người ta không thấy mình, chỉ mình ta biết; phải luôn luôn lấy thần mà hội, lâu rồi tự tỏ."

"Dẫn đỉnh kình lên (đỉnh kình: trung khí của tâm. Dẫn, như nâng lên). Đỉnh kình ở đâu? Ở huyệt Bách Hội; ý chỉ cần dẫn giữ một chút (dẫn là dẫn cái tinh thần toàn thân của nó, khiến nó không lệch không nghiêng) là đủ, không được quá, quá thì cằm dưới treo lên, đứng không vững vàng. Đây là mấu chốt của một thân, nơi trung khí đi qua — không thể không biết. Trung khí lên thông Bách Hội, xuống thông hai mươi đốt sống; chỗ này một khi thông thì trên dưới đều thông, khí mạch toàn thân đều thông, tự nhiên không có tệ nạn nghiêng đổ. Hai gân sau ót là vật phò trợ trung khí; chỗ không có gân giữa hai gân là đường lưu thông lên xuống của trung khí, xuống giữa xương sống đến đốt thứ hai mươi mốt thì dừng. Tức là hai mạch Nhâm Đốc trước sau cũng đều phò trợ trung khí của ta.

Trung khí khó gọi tên nhất, mà đường trung khí đi cũng khó gọi tên nhất — không hình không tiếng; không hao công phu lâu dài thì không thể biết. Cho nên 'không lệch không nghiêng' không phải nói về dấu vết hình tướng, mà là nói cái tên của thần tự nhiên được trung. Tức là trung khí vận trong tứ chi cũng chính là dòng bên của trung khí này, không phải có một trung khí riêng khác. Chỗ này không lệch, rồi sau trung khí trong tứ chi đều không lệch; dẫu hình tích tứ chi biểu hiện nhiều thế lệch, mà trung khí lưu trong tứ chi tự nhiên không lệch. Ý này có · 285 · thể lấy thần mà minh vậy."

"Khí không phải có hai; cái mềm mà kình là trung khí, cái thuần cứng là hoành khí. Công dụng của nó: không lệch không nghiêng, không thừa không thiếu, là công dụng của trung khí, không phải thể của trung khí. Thể của trung khí tức là chính khí âm dương trong tâm ta, tức là cái 'hào nhiên chi khí phối đạo nghĩa' mà Mạnh Tử nói."

4. Triền ti vận động, thư sướng kinh lạc

"Mọi kinh lạc đều có lợi cho quyền."

"Đánh Thái Cực quyền phải rõ kình triền ti; triền ti là pháp môn vận trung khí; không rõ điều này tức là không rõ quyền."

"Thái Cực quyền là pháp triền ti. Tiến triền, thoái triền, tả hữu triền, thượng hạ triền, lý ngoại triền, đại tiểu triền, thuận nghịch triền — mà phải không gì là vừa dẫn vừa triền, vừa tiến vừa triền, không thể mỗi thứ là một chiêu riêng; nếu mỗi thứ là một chiêu riêng, thì không phải âm dương lấy nhau làm gốc."

"Toàn thân đều là triền kình; đại lược lý triền ngoại triền đều là tùy động mà phát. Có tay trái trước, tay phải sau; tay phải trước, tay phải sau, mà hợp lại một cách thuận; cũng có khi tả lý hợp, hữu bối hợp; cũng có khi dùng phản bối kình mà hợp về phía sau lưng — mỗi thứ tùy theo thế của nó mà vận hành theo cách tự nhiên. Kình của nó đều phát từ trong tâm, nhập vào tủy xương, đạt ra ngoài tới cơ phu; là một luồng kình, không phải mấy luồng kình. Tức là khí phát từ trong tâm; được cái trung chính của nó thì là trung khí, nuôi nó tức là hào nhiên chi khí."

"Ý thú trong đó, chớ cắt đứt thần khí; thần khí không đứt thì huyết mạch tự nhiên lưu thông."

"Trong khoảng trời đất chưa từng có cái đi mãi mà không trở lại; cũng chưa từng có cái thẳng mà không cong."

"Vì vật có đối đãi, thế có hồi hoàn — lý không đổi của xưa nay." "Cái gốc của vệ sinh là diệu quyết hoàn khí. Có thể khéo vận khí, mới có thể vệ được sinh mệnh của mình."

"Tự nhiên phải theo thầy giỏi, lại nên tìm bạn cao; mỗi nơi theo khuôn phép; một sợi chỉ khai linh minh; một tầng sâu một tầng, tầng tầng ý vô cùng; một khai liền một hợp, khai hợp chuyền nhau kế tục."

"Ngũ vận lục khí tư biến hóa, võ thuật được đó tự thông thần."

· 286 · "Mạch Nhâm khởi ở Hội Âm, lên theo trong bụng đến Thiên Đột, Liêm Tuyền thì dừng. Mạch Đốc cũng từ Hội Âm khởi, qua Trường Cường, thuận sống lưng nghịch hành lên đến Bách Hội, xuống đến Nhân Trung thì dừng. ... Nhâm Đốc của thân người, nói theo bụng lưng, ... đều ở nơi trung, có thể chia, có thể hợp. Chia để thấy âm dương không lìa nhau; hợp để thấy hỗn luân không khe hở. ... Người ta có thể rõ Nhâm Đốc để vận khí giữ thân, ... hành thuật đạo dẫn, lấy đó làm cái gốc (khước bệnh diên niên). Đánh quyền để điều dưỡng huyết khí, hô hấp theo tự nhiên, quét trừ vọng niệm, trút hết trọc khí, trước định căn cơ, thu thị phản thính, hàm quang mặc mặc, điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan (tức đan điền); công lâu thì trong chớp mắt nước trung phát hỏa, trong tuyết hoa nở, hai thận nóng như nước sôi, bàng quang như lửa cháy, chân khí tự đủ. Nhâm Đốc như bánh xe, tứ chi như đá núi. Không niệm mà phát, thiên cơ tự động. Mỗi lần đánh một thế, nhẹ nhàng vận hành, lặng lẽ dừng lại, chỉ lấy ý tứ vận hành, thì thủy hỏa tự nhiên hỗn dung. ... Luyện hơn mười năm về sau, toàn thân hỗn độn, cực kỳ hư linh, không biết thân là ta, ta là thân, cũng không biết thần do khí sinh, khí tự có thần; vòng thì trúng quy, gấp thì trúng củ, không nghĩ mà được, không gắng mà trúng, ... không biết vì sao mà như vậy; cũng không biết Nhâm là Đốc, Đốc là Nhâm, trung khí là trung khí vậy. Lúc thời đều thích hợp, tự nhiên hợp nhịp. Đây nói sự lên xuống thuận nghịch của Nhâm Đốc, phò trợ trung khí để thành công. Khí động do thận mà sinh, tĩnh rồi vẫn quy túc nơi thận. Mỗi một hô một hấp, sự ra vào của chân khí đều ở đó. ... Tóm lại, dẫu nói ngàn lời vạn ngữ, không gì bằng thanh tâm quả dục, bồi cái bản nguyên, để dưỡng nguyên khí. Thân vốn cường tráng, đánh quyền tự hơn người một bậc."

"Kình này đều do trong tâm phát; mặt ngoài đùi cánh tay tựa như tơ quấn. Triền xiên thuận nghịch vốn có định; rất đáng nông sâu suy xét kỹ. Suy xét công phu thật lâu ngày, một khi khoát nhiên Thái Cực quyền; thân người mọi chỗ đều Thái Cực, một động một tĩnh đều hỗn nhiên."

"Kình cánh tay do tâm phát, hành nơi vai, qua khuỷu, đến ngón tay — đó là pháp thuận triền. Từ xương đến cơ phu, từ vai đến ngón tay, là xuất kình vậy. Từ ngón tay đến vai là pháp đảo (nghịch) triền; cái gọi là nhập kình là dẫn nó mà đến, khiến địch gần lại ta vậy."

· 287 · "Kình của hai chân đều do ngón cái chân dẫn khởi, qua Dũng Tuyền, lên qua mắt cá ngoài, triền vào trong, xiên lên, qua Tam Lý, vượt gối, qua Huyết Hải, đến gốc đùi; chỗ giữa hai gốc đùi gọi là đương, tức huyệt Hội Âm vậy (vì hai kình đối đầu nhau, đó là chỗ kết huyệt; chỗ này là nơi quy túc của kình chân, kình lưng hơi hạ xuống, hạ đến gốc đùi này mà chống mở, thì kình đương tự tròn). Vận động sau gót chân đạp đất, dần đến ngón chân thông qua Thông Cốc, Đại Chung, Ngoại Phì cũng như Ẩn Bạch, Đại Đôn, Lệ Đoài, thật sự đạp trên đất (ngón chân bàn chân phải bấu chặt đất, Dũng Tuyền phải hư, không hư thì ngón chân không dính lực, dùng không ra lực — ấy là trước sau thực, giữa hư).

Kình của quan thể, mỗi thứ theo kinh lạc của mình mà vận hành, không chút nào sai lệch."

"Một đi một lại vận một vòng, khí cơ trên dưới không dừng lại; từ xưa Thái Cực đều như vậy, cớ sao phải ngoài thân vọng mưu cầu."

5. Thượng hạ tương tùy, nội ngoại tương hợp

"Một thân ắt khiến trên dưới theo nhau, nhất khí quán thông."

"Nội ngoại thượng hạ ắt theo, kình của nó không thể trái ngược."

"Người phát lệnh là tâm, người truyền lệnh là tay, người xem sắc là mắt. Đó là thuyết tam đáo của tâm, thủ, nhãn — thiếu một không thể."

"Trên dưới tay chân đều theo nhau; sau tiến về trước chuyển chớ chậm trễ."

"Không trước không sau, đón tiễn tương xứng; trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp cùng đưa."

"Tay trên vận thế nào, chân dưới vận thế ấy; trên dưới theo nhau, tự nhiên hợp nhịp."

"Cốt yếu của tay hoàn toàn ở bàn tay; ngón tay dẫn khởi sự vận động toàn thân, chân theo tay lại càng trọng yếu." "Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."

"Giữa ngực bụng theo tay chân mà vận; trên dưới nhất khí quán thông; nói động thì cùng động, nói dừng thì cùng dừng."

· 288 · "Đánh đầu thì đuôi động, tinh thần quán xuyến; đánh đuôi thì đầu động, mạch lạc khai thông; đánh vào giữa thì đầu đuôi đều động, trên dưới bốn bên khấu lại như cây cung."

"Nội ngoại nhất khí lưu chuyển."

"Tám thể (đỉnh, đương, tâm, nhãn, nhĩ, thủ, túc, yêu) then chốt ngài phải nhớ; sức người vận thành đoạt thiên công."

"Thái Cực quyền ngàn biến vạn hóa, không đâu là không kình; thế tuy không đồng, mà kình quy về một. Cái gọi là một: từ đỉnh đến chân, trong có tạng phủ gân xương, ngoài có cơ phu bì nhục; tứ chi bách hài liên kết mà thành một. Đập nó mà không nứt, đâm nó mà không tán. Trên muốn động thì dưới tự theo; dưới muốn động thì trên tự dẫn; trên dưới động thì phần giữa ứng; phần giữa động thì trên dưới hòa. Nội ngoại liên nhau, trước sau nương cần — cái gọi là 'nhất dĩ quán chi' [một sợi xâu suốt], há phải là nói cái ấy ư!"

"Tâm và thân không được sử khí, nhẹ nhàng tuân giữ quy củ, theo thế tự nhiên của nó mà vận. Lấy tay dẫn khuỷu, lấy khuỷu dẫn vai; dưới thì lấy chân dẫn gối, lấy gối dẫn đùi. Chỗ yếu của nó hoàn toàn ở lấy ngón tay ngón chân dẫn mà vận hành. Có người hỏi: tay chân hoàn toàn không dùng khí, thì vận động thế nào? Đáp: khí trong tay chẳng qua chỉ dẫn giữ vai cánh tay mà thôi, không được quá, quá thì không linh. Còn như chân, so với tay chỉ nặng hơn một chút."

6. Triêm trước quán xuyến, thế thế tương thừa

"Một đạo của quyền là tiến thoái không ngừng, thần khí quán xuyến, tuyệt không gián đoạn." "Người mới học dùng công, trước cầu phục ứng, lai mạch chuyển quan, nhất khí tương sinh." "Thế trên thế dưới, nhất khí thừa tiếp, chớ để thần khí gián đoạn." "Đánh quyền hoàn toàn ở thế khởi; một khi khởi được thế, về sau không gì không được thế. Dẫu không có địch, tay không vận, cũng cảm thấy thừa tiếp được thế, cơ thế linh hoạt. Cho nên ta nói mỗi một thế hoàn toàn ở chỗ khởi; ở chỗ tiếp xương đưa mộng, thế kia hạ xuống thế nào, thế này dâng lên thế nào, phải cẩn thận suy xét. Lại hoàn toàn ở chỗ mỗi lần hạ xuống phải nghĩ thế nào mới tính là đi đến mười phần đầy đủ, không chút khiếm khuyết. Thần khí đã đủ, thế này tựa có thể dừng, mà cơ của thế sau đã động, muốn dừng mà lại không thể dừng; vì cái cơ muốn dừng sắp dừng của nó lại đã gọi dậy · 289 · thế dưới vậy. Cho nên ta nói: cảnh lúc này, tựa dừng mà không dừng (không dừng là vì thần chưa đủ), không dừng mà dừng (cái dừng chỉ một đường, thế dưới liền khởi)."

"Học Thái Cực quyền mỗi chiêu đều phải cẩn thận suy xét; một chiêu không suy xét, thì cơ trí tình lý của thế này rốt cuộc mờ tối. Tức là chỗ kế trên khởi dưới lại càng phải lưu tâm; chỗ này không lưu tâm, thì lai mạch không chân, chuyển quan cũng không linh động; một chiêu tự thành một chiêu riêng, không thể từ đầu đến cuối nhất khí quán thông. Không thể nhất khí quán thông, thì với Thái Hòa nguyên khí rốt cuộc khó hỏi bến."

"Bình thường đánh quyền, hoàn toàn ở một khởi một chuyển — cái gọi là 'đắc thế tranh lai mạch, xuất kỳ tại chuyển quan'. Lúc tay của thế này sắp khởi, ắt trước phải khiến tay thừa tiếp thế trên thế nào, không để cắt đứt thần khí huyết mạch; sau khi đã thừa tiếp, ắt nghĩ tay làm sao đắc cơ đắc thế. Lai mạch chân, cơ thế được, chuyển quan tự nhiên linh động. Có thể như vậy, ngày khác cùng người giao thủ, tự nhiên thân đứng trước ở đất không bại, chỉ huy như ý."

Mỗi thế sắp thành, "dấu như dừng, khí lại không dừng; ắt chờ nội kình chậm rãi vận đến mười phần sung túc, cơ của thế sau nhảy nhót muốn động, mới có thể đánh thông thế trên với thế dưới, giữa không cách ngại, nhất khí lưu hành. Không chỉ một thế như vậy; quyền từ đầu đến cuối, cuối mỗi thế đều như vậy."

"Tiếp xương đấu mộng, cẩn thận suy xét."

"Lý tinh pháp mật, điều lý lũ tích."

"Tầng lũy khúc chiết, đều đến chỗ tột cùng của nó."

7. Hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền

"Hỏi: mấu chốt của đánh quyền ở đâu? Đáp: ở dưới huyệt Bách Hội, từ Đại Chùy sau ót thông đến Trường Cường; chỗ động của nó ở hai mạch Nhâm Đốc."

"Huyệt Bách Hội dẫn cả thân."

"Đỉnh kình là trung khí xung lên đỉnh đầu vậy. Không dẫn thì khí sụp; dẫn quá thì không những khí toàn thân đều ở trên, gót chân không vững, bệnh treo ngược lên, mà đỉnh cũng mất cứng, Xoay trở không linh hoạt, cũng lộ ra vẻ vụng về, là ở chỗ giữ được mức giữa của "dường như có, dường như không" mà thôi."

"Đánh quyền hoàn toàn là đỉnh kình, đỉnh kình dẫn dắt tốt, thì tinh thần toàn thân được chấn hưng làm một."

"Cương lĩnh hoàn toàn ở đỉnh kình, cho nên đỉnh kình vừa dẫn lên thì tinh thần toàn thân đều chấn hưng." "Đỉnh kình, trung khí là một luồng chính khí; ý trong tâm vừa dấy lên là đi đến đỉnh đầu, trung khí tự nhiên dẫn lên, không phải có vật gì nâng nó lên, mà là ý như thế."

"Quyền từ đầu đến cuối, đỉnh kình quyết không thể mất; một khi mất đỉnh kình, tứ chi dường như không có chỗ nương tựa, hơn nữa không có tinh thần, cho nên tất phải dẫn lên, để làm cương lĩnh của toàn thân."

"Đỉnh kình dẫn lên, ý như trên đỉnh đầu phá tan trời, không được dùng khí quá mức."

"Đỉnh kình dẫn lên, nghiêng mà ngụ chính, khoeo chân mở ra (đầu gối mở ra) hợp lại (kình hợp giữ), như nửa vầng trăng."

"Trung khí ở trên từ huyệt Bách hội, ở dưới xuyên qua huyệt Trường cường, như một sợi chỉ xâu thành."

"Dẫn đỉnh kình lên — dẫn đỉnh kình không phải là nói cứng đạp vào hai gân lớn sau gáy và giữa hai tai, mà là trung khí nâng lên. Dường như hữu ý, dường như vô ý; không nhẹ không nặng; dường như có dường như không. Một chút linh kình chợt bùng trong tâm, chảy xuống đỉnh sau, không được nâng quá, cũng không được không tới; nâng quá thì treo lơ lửng ở trên, không tới thì khí lưu lại trong ngực, khó hạ xuống. Đây là kiểu đỉnh kình."

"Trung khí xuyên suốt giữa tâm và thận; ở trên thông với đỉnh đầu, ở dưới đạt tới hội âm."

"Đỉnh kình dẫn lên, trọc khí hạ xuống, trung khí tụ lại vào đan điền."

"Thân người lấy eo làm giới hạn giữa, khí đi lên đi xuống, ở giữa lấy eo làm ranh giới."

"Mạnh Tử nói: Chí là tướng soái của khí, khí là cái làm đầy thân thể. Tâm như tướng quân, khí như binh lính; tướng quân vừa ra lệnh thì binh lính đều nghe theo. Thanh khí thăng lên đi đến tay, trọc khí giáng xuống đi đến chân; khí đều đi đến đầu ngón tay mới dừng. Đan điền là chỗ quy túc của toàn bộ khí trong thân, như chỗ đóng quân của binh mã. Khí đi lên đi xuống dường như hai đọan, thực ra là một khí thông suốt."

"Huyệt Bách hội dẫn dắt toàn thân, phải khiến thanh khí thăng lên, trọc khí giáng xuống. Thanh khí làm sao thăng lên? Không bình tâm tĩnh khí thì không thể; trọc khí tất phải giáng xuống đến chân. Một thế đã xong, lên · 291 · [...] thể thanh khí đều khiến quy về đan điền, vì tâm khí vừa hạ xuống thì toàn bộ khí của toàn thân không có cái nào là không cùng hạ xuống."

"Kình của toàn thân phát ra ngoài, đều phát từ đan điền; thu vào trong, đều thu về đan điền; nhưng đều do tâm chủ tể, khắp nơi đều thấy khí tượng của thái hòa nguyên khí." "Khí quy về đan điền, trên hư dưới thực, trung khí tồn tại ở giữa, hư linh hàm chứa ở trong."

"Thế đã thành, tâm bình khí hòa, trung khí quy về đan điền."

"Khí của đan điền chia làm năm chỗ, thực ra là một khí thông suốt, trên dưới không được sụp đổ, ấy là một. Tâm khí vừa dẫn, khí đan điền thăng lên: sáu phần đến tim, lại một phần chia hai nhánh, ba phần thăng lên đến vai trái, ba phần thăng lên đến vai phải, đều từ trong khe xương vai xuyên đến các đầu ngón tay trái phải; cái ở trong khe xương gọi là trung khí, cái hiện nơi cơ phu gọi là triền ti kình (kình quấn tơ). Bốn phần còn lại cũng chia hai nhánh: hai phần hành nơi đùi trái, hai phần hành nơi đùi phải, đều từ trong tủy xương xuyên đến các ngón chân trái phải.

"Còn như thuyết trung khí quy về đan điền, không cần câu nệ, chỉ cần khiến khí giáng xuống bụng dưới dưới rốn mà thôi. Nếu xét kỹ, đan điền không phải là nguồn của khí, cớ sao riêng nói quy về đây? Đây bất quá chỉ nói đại ý mà thôi. Nếu truy đến nguồn, nguyên khí toàn thân đều xuất từ thận; thận thủy đủ thì khí tự nhiên mạnh; dưỡng ở vị, vị được dưỡng thì khí cũng mạnh; tàng ở can, can khí vừa động thì nghịch khí sinh ngang, khí không được bình; ngâm dưỡng ở tâm, tâm không vọng niệm thì tâm bình mà khí tự nhiên hòa; phế chủ thanh, thực ra là lấy tâm mà kêu lên, cơ của tâm đi đến đâu, không cần tiếng ra khỏi miệng mà tâm đã hiểu trước; mạnh ở đởm, đởm thì không sợ gì phía trước, khí cũng theo đó; vận ở tỳ, kinh này nhiều khí ít huyết, nghe tiếng thì động, động thì vận hóa không ngừng, tâm vừa động thì tỳ liền động ngay. Phụ thêm đại trường, đại trường nhiều khí ít huyết, lại là quan truyền đạo; lại bổ trợ bằng tiểu trường, tiểu trường ở trước trên rốn, sau bám vào sống lưng, cặn bã uế tạp không lưu, trọc khí đi mà thanh khí đến. Các kinh lạc trên đây đều có ích cho quyền, cho nên nói đến. Nếu chuyên nói về thận, thận là quan tác cường, kỹ xảo xuất ra từ đó, kinh này ít huyết nhiều khí, tàng tinh nơi chí, là chỗ ở của tinh thần, là gốc của tính mệnh. Thận có hai quả, mỗi quả hai [nhánh], một buộc vào tâm, một thông lên trên đến não; nơi khí sinh ra, thực bắt đầu từ đây, chỗ quy túc tất quy về đây. Còn như mệnh môn, thực là cửa ra vào của khí giữa hai quả thận, cho nên gọi là mệnh [...] · 292 · [...] môn."

"Mệnh mạch là thận, là nơi trung khí từ đó mà ra. Động thì ra, tĩnh thì vào. Có định mà không định — ý nói thế biến đổi không ngừng theo thời, cho nên hai khí âm dương biến đổi cũng không định." "Ra từ thận, vào từ thận, ấy là chân quyết."

"Thế Khoá Hổ định thức: trên lưng phía trên eo, huyệt Phách hộ và Cao hoang hướng về phía trước sườn mà hợp; phía trước ngực, hàng thứ nhất hai bên sườn — Uyên dịch, Đại bao — thuộc tam tiêu; hàng thứ hai — Triếp cân, Nhật nguyệt — cũng thuộc thiếu dương tam tiêu; hàng thứ ba — Vân môn, Trung phủ, Thực đậu, Hung hương — thuộc phế và tỳ; hàng thứ tư — Quyết âm, Kỳ môn, Thiên trì — thuộc can đởm; hàng thứ năm — dương minh đại trường: Khuyết bồn, Khí hộ, Lương môn, Quan môn — thuộc vị tràng; hàng thứ sáu — thiếu âm: Cách phủ, Thần tàng, U môn, Thông cốc — thuộc tâm thận; hàng giữa — Hoa cái, Tử cung, Ngọc đường, Đản trung, Trung đình, Cưu vĩ.

Hai bên sườn trái phải, từ Uyên dịch, Đại bao cho đến U môn, Thông cốc hai bên, đều hướng về Ngọc đường, Đản trung mà hợp lại; sườn trái phải đều ứng hô lẫn nhau — đây là thức của hai bên sườn trái phải phía trên eo.

Phía dưới eo, hai bên Khí xung, Duy đạo đều hướng về Khí hải, Quan nguyên, Trung cực mà hợp lại — đây là thức phía dưới hai bên sườn mềm."

"Thế nào gọi là thiểm thông bối (chớp xuyên qua lưng)? Lấy trung khí từ tâm giáng xuống qua rốn đến đan điền, lại từ đan điền cùng nhâm mạch nghịch hành mà vượt lên rốn, vượt Thượng quản, Hoa cái, Thiên đột, Liêm tuyền đến Thừa tương (môi dưới); đốc mạch tiếp lấy, nghịch hành Thủy câu, Nhân trung, Tố liêu (đầu mũi), vượt Thần đình, Thượng tinh, Tín hội, Tiền đỉnh cho đến Bách hội, giáng xuống vượt Hậu đỉnh, Cường môn, Não hộ, Phong phủ, Á môn, Đại chùy, Đào đạo, Thân trụ, Thần đạo, Linh đài, Chí dương, Cân súc, Tích trung, Huyền xu, Mệnh môn, Dương quan, Yêu du, cho đến Trường cường (đều là các du huyệt trên lưng sống), lại đến Hội âm thì cùng tận (ấy là nhâm mạch phía trước, đốc mạch phía sau, chỗ khởi đầu của hai mạch ở dưới). Trung khí từ Bách hội xuống thông Trường cường, Hội âm, ấy gọi là thông bối. Thiểm (chớp) là như người ôm giữ sau lưng eo, phía trước eo ưỡn mạnh về trước một cái, đầu và vai hạ xuống một cái, phía sau Trường cường và Hoàn khiêu (tức xương ngoài đùi) dùng sức bẩy mạnh phần bụng dưới của hắn, lật lên một cái, cho nên tay tự tan mở, chớp qua trước mặt từ trên đầu lưỡi, ngã ngửa trước ta. Ấy gọi là thiểm thông [...] · 293 · [...] bối."

"Thông bối là thế nào? Khi đầu và vai cắm xuống, mông vểnh lên một cái, thì đốc mạch từ huyệt Trường cường nghịch hành mà lên thông Bách hội, cho đến Nhân trung, nhâm mạch tiếp lấy giáng xuống cho đến đan điền — ấy là dẫn dương vào âm một vòng. Tay phải từ cánh tay trên nhấc lên, nhâm mạch liền từ đan điền nghịch hành mà lên cho đến huyệt Thừa tương; tay phải theo thân chuyển ngược, tay xuống dưới, đốc mạch từ Nhân trung nghịch hành qua đỉnh đầu, qua đỉnh sau, từ Đại chùy thuận hành mà xuống, lại đến Trường cường — ấy là từ âm phụ vào dương lại một vòng nữa. Đợi khi chân phải lui về sau chân trái, tay phải từ dưới nhấc lên đến trên, thì đốc mạch lại từ Trường cường nghịch hành mà lên, đã đến đỉnh đầu Bách hội rồi. Thế là đốc mạch vận lên đã hơn nửa vòng; đợi thế sau lấy Diễn thủ chùy hợp giữ lại, thì đốc mạch từ Bách hội xuống đến huyệt Nhân trung, nhâm mạch từ Thừa tương giáng xuống cho đến đan điền — ấy là ba vòng. Với một thế thông bối, mà đốc mạch lên xuống ba lần qua lưng nó, ấy gọi là thông bối.

Tay phải từ đầu đến cánh tay trên là thuận triền pháp (pháp quấn xuôi); từ cánh tay trên nhấc lên, chuyển qua thân, tay xuống dưới, lại từ dưới nhấc lên đến sau trên, cho đến thế sau Diễn thủ chùy, đều là nghịch triền pháp."

"Thế Diễn thủ chùy: thế này chân phải đạp sau dùng kình, kình từ đạp sau nghịch hành mà lên, đến trong đũng, lại thượng hành qua Ý xá, Hồn môn, Thần đường, Cao hoang, Phách hộ, đến Kiên ngu, lại từ Kiên ngu hạ hành vào Tiểu hải, chia vào Thủ tam lý, hạ hành Hợp cốc (ngón hai), Trung chử (ngón bốn), Uyển cốc (ngón út), cho đến đốt thứ ba của ngón thứ tư. Kình của chân phải dùng nghịch triền pháp, từ dưới nghịch triền mà lên, đến Hội âm, chéo vào Ý xá, cho đến Kiên ngu, lại dùng nghịch triền pháp quấn đến đầu chùy, mu bàn tay hướng lên, là hợp kình. Đốc mạch nghịch hành mà lên, từ Trường cường lên qua Bách hội, xuống đến Nhân trung; nhâm mạch từ Thừa tương tiếp giữ, hạ hành vào đan điền, trước sau chuyển một vòng, để trợ kình của quyền phải. Và việc dẫn đỉnh kình cũng hoàn toàn nhờ vào đốc mạch này. Đầu gối phải bên phải hướng vào trong hợp giữ kình. Trong ngực phải hư, chỉ hư thì mới linh, kình hướng về trước mà hợp. Kình chân hạ xuống, mông lật lên trên, thì phía trước Khí hải, đan điền và trong đũng tự nhiên hướng về trước hợp giữ kình; đũng không hợp thì hạ thể và bàn chân đều không vững, không hư thì xoay trở trái phải không linh, cho nên tất phải hướng về trước hợp giữ kình, đồng thời lấy hư viên.

· 294 · Diễn thủ chùy: kình của ngũ quan bách hài đều tụ vào nắm đấm.

Người diễn thủ dễ tham về phía trước; không biết rằng tham về phía trước quá mức, không những trái phải dễ bị hất lên, mà xoay trở trái phải không linh, dễ thất bại. Cho nên thà thiếu một hai phần, quyết không được vượt ranh giới một ly — ấy gọi là "nỏ mạnh đến cuối, không thể xuyên thủng lụa mỏng của nước Lỗ", là lỗi của việc quá mức. Người diễn chùy nên răn."

8. Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu (ngậm ngực nhổng lưng, chìm vai rũ cùi chỏ)

"Ngực phải hợp giữ kình, lại phải hư."

"Ngực phải hư hàm như cái khánh."

"Ngực như khom lạy hướng về trước hơi cong, bọc giữ bốn phía."

"Giữa ngực bụng từ huyệt Thiên đột đến dưới rốn ở Âm giao, Khí hải, Thạch môn, Quan nguyên, như cái khánh gập lại như hình khom lạy — ấy gọi là ngậm giữ ngực, ấy là hợp giữ kình, phải hư."

"Bình tâm tĩnh khí, chớ để hoạnh khí lấp đầy trong ngực."

"Ngực phải hàm súc, khí giáng xuống đan điền, không để hoạnh khí lưu lại ở trên."

"Hoạnh khí nơi ngực cách dỡ xuống đáy chân; nếu không thể thì cũng nên dỡ xuống đến đan điền."

"Giữa ngực mở ra lỏng lẻo: ngực vừa lỏng thì toàn thân thư sướng. Không được hữu tâm, cũng không được vô tâm. Từ Hoa cái đến Thạch môn phải hư hư hàm giữ, chớ để hoạnh khí hoành hành trong ngực."

"Ngực cũng theo tay chuyển vòng."

"(Thế Bạch nga lượng sí) Kình trong ngực cũng như theo giữ tay phải và tay trái, trước từ phải xuống dưới, rồi trái lên trên đến phải, vòng một vòng lớn."

"Kình nội trong ngực như thái hòa nguyên khí chuyển vòng."

"Thái hòa nguyên khí vận hành trong ngực, một động một tĩnh hợp với nhẹ nặng."

"Đánh quyền, vận động hoàn toàn ở tay dẫn dắt, chuyển quan hoàn toàn ở lỏng vai; công phu lâu thì khe xương vai tự mở, không thể miễn cưỡng. Vai trái phải lỏng không xuống thì chuyển quan không linh. Và lỏng vai không phải là rũ vai; khớp xương mở thì vai tự lỏng xuống."

"Vai sụp xuống, không được đưa lên."

"Cơ quan chuyển vòng hoàn toàn ở vai, cho nên khe xương trong vai nên khiến cho mở rộng."

· 295 · "Cánh tay như thể treo trên vai vậy."

"Các huyệt Kiên ngu, Kiên tỉnh, Phù đột đều lỏng xuống."

"Khe xương ở đầu vai cánh tay phải mở; ban đầu chưa mở, không được khiến nó mở cưỡng. Khi công phu chưa tới mà tự mở, trong tâm nói đã mở, rốt cuộc vẫn chưa mở; tất phải khổ công lâu ngày, tự nhiên mới mở được, mới tính là mở. Chỗ này vừa mở, thì cánh tay toàn bộ qua lại co duỗi, như gió thổi cành liễu, thiên cơ lay động, sống động không chút trệ, đều buộc vào đây. Đây là chốt xoay của cánh tay, là chỗ liên quan tới linh động, không thể không biết."

"Hai vai phải thường xuyên lỏng xuống; thấy có nổi lên, liền lỏng xuống ngay; nhưng nếu bất đắc dĩ nổi lên, cứ để nó nổi, nổi xong liền lỏng. Không lỏng thì toàn bộ cánh tay chuyển đổi không linh. Cho nên nên nổi thì nổi, nên lỏng thì lỏng. Mỗi thế xong, ngực hướng về trước hợp lại, hai vai ứng hô lẫn nhau. Đây là thức của hai vai."

"Cúi vai một cái tựa, phá tường đồng."

"Hai cùi chỏ phải chìm xuống; không chìm thì vai nổi lên, không thích dụng cho việc dùng."

"Đầu cùi chỏ hướng xuống... đầu gối và đầu cùi chỏ trên dưới chiếu nhau."

"Cùi chỏ ở trước sau, trái phải, trên dưới, đều phải ứng hô hợp giữ kình."

9. Vận nhu thành cương, cương nhu tương tế (vận mềm thành cứng, cứng mềm trợ giúp nhau)

"Đánh quyền lấy mũi làm ranh giới giữa; tay trái quản nửa thân trái, tay phải quản nửa thân phải, mỗi chân theo mỗi tay mà động. Tâm thân không được dụng khí, nhẹ nhàng vận động, lấy tay dẫn cùi chỏ, lấy cùi chỏ dẫn cánh tay; khí trong tay chỉ đủ dẫn lên tay và cánh tay mà thôi, không được quá, quá thì sai vào cứng. Thượng thể tay vận động thế nào, hạ thể cũng theo đó, trên dưới tương tùy, ở giữa tự nhiên đều theo — ấy là một khí thông suốt. Kình đũng phải mở phải hư; đũng mở rồi thì tâm khí mới phát động."

"Cơ phu cốt tiết, khắp nơi khai trương."

"Muốn cứng trước phải mềm, muốn nâng trước phải nhấn."

"Người đời không biết, đều cho (thái cực quyền) là thuật mềm; nào ngờ từ khi ra công đến nay, ngàn lần đập trăm lần luyện (luyện thân này trăm lần thành hán sắt), cứng mà quy về mềm, mềm mà đạt đến · 296 · [...] nơi cương, cương nhu không dấu vết có thể thấy. Nhưng xét từ bên ngoài mà nhìn, dường như mềm, cho nên lấy mềm mà đặt tên, nào phải vậy sao? Và "mềm" là nói đối với "cứng" mà thôi. Thuật này không thể gọi là mềm, cũng không thể gọi là cứng, chỉ có thể đặt tên là thái cực. Thái cực là cứng mềm cùng tới, mà hòa lẫn không dấu vết. Công phu của nó nhiều, cho nên thành tựu của nó khó."

"Âm dương lấy nhau làm gốc, không thể chia làm hai đoạn."

"Thắng cứng thì dễ, thắng mềm thì khó."

"Mềm có thể thắng cứng; lấy lui làm tiến, ấy là đạo của Khôn. Khôn phối với Càn; Càn là cứng. Khôn cực mềm mà động thì cứng. Quyền này bề ngoài dường như mềm, thực ra cực cứng."

"Cho nên quyền thuật lấy mềm thắng cứng, nhân đó mà trúng."

"Đánh quyền há chẳng dùng khí? Không dùng khí thì toàn thân do đâu mà vận động? Nhưng vốn lấy cái khí cực đại cực cương của nó, để trực dưỡng không hại mà thôi."

"Một âm một dương, tất phải lấy trung quyền vận hành chúng. Trung quyền là không lệch không nghiêng, tức là trung khí trong tâm ta (không trệ không ngừng, không trái không lìa, không lệch không nghiêng, ấy là trung khí), cái gọi là hạo nhiên chi khí vậy."

"Khí này hành trong tay chân, không cứng không mềm tự ung dung."

"Hồn hạo lưu hành, tự nhiên một khí, nhẹ như hoa dương liễu, vững như vàng đá, oai hổ sánh mãnh, cánh ưng sánh nhanh; đi như nước chảy, dừng như núi đứng." "Lấy cái tâm hư linh, dưỡng cái khí cương trung."

"Một đoàn thái hòa nguyên khí trong ngực, tràn đầy bốn chi, cực mềm cực cứng, thực đủ đức cương kiện của Càn và thuận của Khôn. Khi nó tĩnh, âm dương sở tồn, không dấu vết có thể tìm; khi nó động, xem dường như cực mềm, thực ra cực cứng; cương nhu đều đủ — ấy gọi là: âm dương hợp đức."

"Vận động dường như mềm mà thực cứng, tinh thần tàng ẩn bên trong mà không lộ, ấy là thượng thừa."

"Khôn cực mềm, mà động thì cứng." "Nhu thuận tế dĩ cương trực."

"Càn cương Khôn nhu, âm dương cùng dùng, không lệch không nghiêng, không quá không tới."

· 297 · "Âm dương hỗ dụng, đạo trời sở tàng, động tĩnh không lệch, ấy là mạnh của ngươi."

"Luyện lâu thuần thục, thì lên xuống tiến lui, xoay trở tự do, mà nhẹ nặng, hư thực, cương nhu cùng phát."

"Mặc người bốn phía đến khinh, thân này toàn nhờ hư linh, quan hài không đâu không để ý,... mặc ngươi gian xảo nảy sinh, tự nhiên cương nhu đều đủ."

"Quyền lấy thái cực mà đặt tên, người xưa tất có cái thâm hiểu lẽ thái cực, rồi nơi toàn thân trên dưới, trái phải, trước sau, lấy tay chân xoay trở vận động, phát minh cái uẩn súc của thái cực, lập tên ấy để định thành phép; nghĩa cực tinh, phép cực nghiêm,... Tuy nói quyền là đạo nhỏ, mà đạo lớn thái cực tồn tại ở đó.... Người đời sau, việc không bắt chước cổ, không chảy vào cuồng vọng thì rơi vào lệch nghiêng; mà cầu một kẻ không cứng không mềm, đúng mực vừa khéo, để hợp với lẽ thái cực — e cũng gồ ghề khó lắm thay."

"Triều đình vua Ngu giữ trung, Khổng môn một lẽ xuyên suốt, ngoài ra không còn uẩn súc gì.... Thần diệu mà hiểu rõ, còn ở người."

"Nhưng cương nhu đã phân, mà phát dụng có khác. Tứ chi phát động, khí hiện ra ngoài, mà trong giữ tĩnh trọng — ấy là thế cương; khí đồn ở trong mà ngoài hiện nhẹ hòa — ấy là thế nhu. Dùng cương không được thiếu nhu, thiếu nhu thì vây quanh không nhanh; dùng nhu không được thiếu cương, thiếu cương thì thúc bách không mau. Cương nhu tương tế, thì niêm, du, liên, tùy, đằng, thiểm, đẩu, không, lôi, quán, tễ, nại, không đâu không được tự nhiên. Cương nhu không được dùng lệch, dùng võ há có thể xem nhẹ!"

10. Tiên mạn hậu khoái, khoái nhi phục mạn (chậm trước, nhanh sau; nhanh rồi lại chậm)

"Từ đầu đến cuối, phải chậm rãi vận hành; chậm được bao nhiêu cứ chậm, chậm đến mười phần công phu, thì có thể linh đến mười phần. Chỉ khi linh đến mười phần hỏa hầu, thì địch nhân theo không kịp ta, trở lại cho thuật của ta là kỳ dị — ấy là tình thường của người; nào ngờ đó là hiệu quả của công phu khó trước."

"Mỗi chiêu trong, ngũ quan bách hài thuận theo thế tự nhiên, mà khí âm dương ngũ hành · 298 · [...] vận hành ở trong đó, như có nói: 'Động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm; một động một tĩnh, lấy nhau làm gốc'. Ấy gọi là: 'Trong dương có âm, trong âm có dương'. Đây chính là bản nhiên của thái cực quyền."

"Luyện thái cực quyền có ba tầng công phu theo bước: bước thứ nhất, khi học nên chậm, chậm không nên ngây ngô; bước thứ hai, học rồi mà nhanh, nhanh không được rối loạn; bước thứ ba, nhanh rồi lại chậm, ấy là nhu; nhu lâu thì cương tự tại trong đó, ấy là cương nhu tương tế." (Một mục này là lời của Trần Phục Nguyên.)

11. Xuyên bôn khiêu dược, hốt thượng hốt hạ (luồn chạy nhảy nhót, bỗng lên bỗng xuống)

"Thanh long xuất thủy là pháp tiến thẳng bằng phẳng mà tung; chân trái theo chân phải tung về trước, trong đũng Hội âm, Trường cường kình theo đỉnh kình mà nâng lên; tung về trước như mèo linh vồ chuột, toàn là tinh thần, vừa hư vừa linh."

"Dẫn mông: chỉ đỗ ninh hạ (bấm vặn đầu ngón tay xuống) tiếp liền Thanh long xuất thủy; trong khe hai thế, trước tiên lỏng vai phải xuống, nửa thân phải theo đó cùng xuống, chân dưới lại dâng lên để tung về trước. Khi chưa tung, tay phải nắm như đầu roi da muốn đánh về trước, trước thu về sau, rồi từ sau lật lên hướng trước vòng một vòng lớn mà đánh tới, thân cũng theo đó tung về trước. Quyết của việc tung: tay phải phía trước dẫn về trước, các huyệt Ẩn bạch, Đại đôn, Lệ đoài, Khiếu âm, Hiệp khê của chân phải phía sau đều dùng kình. Kình từ đáy chân qua Dũng tuyền đến gót chân lật lên, nghịch hành mà lên: Nạo ủy trung, Điện môn, Thừa phù, Hoàn khiêu, chéo vào Phù biên, thượng hành vượt Hồn môn, Phách hộ, đến Phụ phân, lại chéo lên, từ Khúc viên qua Tiểu hải, chéo vào Chi câu, Dương trì, dọc đường lật chuyển. Mở tay ra, bó giữ năm ngón, tay phải dẫn thân tung về trước, chân trái dùng sức đạp xuống, theo tay phải đều đến trước; tay trái cũng theo thân đến trước. Sau khi chân rơi xuống đất, tay trái rơi xuống trước vú phải dừng lại.

Nội kình: nửa thân phải đều dùng hữu chuyển kình (hữu chuyển tức thuận chuyển, từ trong xoay ra ngoài), tay phải dùng triền ti kình từ nách thượng hành, từ trong xoay ra ngoài chéo quấn đến đầu ngón; chân phải cũng dùng triền ti kình thuận triền đến gốc đùi, thượng hành gặp Phù biên, cùng nhau thượng hành đến Phụ phân, phân hành đến nách, chéo quấn đến đầu ngón; tay trái chân trái phải dùng đảo chuyển kình, rồi sau mới có thể theo · 299 · Tay phải chân phải chuyển vòng rồi tung về trước, vốn hoàn toàn do tâm; tâm kình vừa nâng, phía trên đỉnh kình dẫn giữ, ở giữa đan điền kình phát, thượng hành lệch về nửa thân phải; phía dưới hai chân, chân phải dùng pháp nhảy, gót chân phải dùng sức đạp về sau. Trước khi tung, toàn là súc kình, tụ tinh hội thần, đoàn kết khí của nó. Khi vừa tung, thuần là kình vồ về trước, một mạch tiến thẳng. Tay phải dẫn chuyển dẫn tiến, như diều hâu vồ chim cút, chim ưng già bắt thỏ khôn — chí nó chuyên, thần nó ngưng, tiến nó nhanh, khí nó (khí tức phách lực) vững. Ngọc nữ xuyên toa bình tung thân pháp — đây cũng là bình tung pháp, càng xa càng tốt; đều phải tùy sức mình mà làm, tất được khí tượng ung dung, chớ lộ khí nỗ lực căng mới tốt."

"Nội kình của nó phát nguyên xa nhất: từ Bộc tham nghịch hành mà lên, vượt qua lưng vai sau đến Phụ phân, cho đến ngón tay phải."

"Ngọc nữ xuyên toa là thuận triền bình tung pháp.... Tiến như gió,... thủ pháp, bộ pháp, chuyển pháp, càng nhanh càng tốt,... Trên tuy nhờ tay, dưới càng nhờ chân; chân nhanh càng thể hiện năng lực nhanh tay,... Từ thế khởi đến thế chung, tay phải chân phải tuy là thuận triền pháp, mà pháp toàn thân đều là đảo chuyển kình, liền ba lần đuổi tiến, đều là tiến bộ. Về nội kình, từ đỉnh kình cho đến năm ngón chân, pháp đều như trước; từ đầu đến cuối lấy tay phải chân phải làm chủ, mà lấy tay trái chân trái phụ trợ. Tay phải thuận chuyển, tay trái tất là đảo chuyển — triền ti kình là cái đạo mà không thể rời trong khoảnh khắc vậy. Tay phải lấy chuyển vòng lớn làm thức; công lâu tự nhiên nhỏ mới tốt.

Thế này là đại chuyển thân pháp; trên tiếp Dã mã phân tông xuống, tay phải nhân thế nó ở dưới, không cho phép dừng một chút, liền lấy tay phải dùng triền ti kình từ dưới nắm lên, dọc đường hình chéo bay như gió về đông, ngón như dùi sắt; cũng hoàn toàn nhờ chân phải ở sau theo giữ tay phải, cũng dùng thuận triền ti kình giữ lấy thượng thế, đại phô thân pháp, tận lực về đông liền tiến ba bước lớn, mới đủ một vòng lớn khoảng tám chín thước. Nhất là phải nâng đỉnh kình cho tốt; đũng kình không được đầy đủ, thân theo tay phải như chim loan bay nhanh mà tiến, không thể ngăn cản; bước rơi dính đất liền nhấc lên.

Ngọc nữ xuyên toa đã thành thức, dường như cùng Lãm sát y đại đồng tiểu dị, nhưng thực ra rất khác nhau: kia thì thân không chuyển động, chuyên tâm vận tay phải chân phải, khí nó điềm, thần nó · 300 · …tĩnh; ở đây thì xoay thân, đưa tay chân để phòng thân chống địch, và lấy nhanh làm việc, cho nên khí mãnh liệt, thần bận rộn. Nếu bình thường không thực có công phu, lâm sự lấy khí quán xuyên toàn thân trên dưới, thì không thể được vẹn toàn. Vì sao? Bởi vì ra vào giữa đám đông, lấy ít địch nhiều, như chốn không người; chỉ kẻ trời sinh thần dũng, gan chính, khí cương, luyện tập thuần thục, mới có thể quét sạch mọi thứ dễ dàng vậy."

"Chuyển dẫn chuyển kích phá vòng vây, tựa như Chức Nữ giật khung cửi; thân này tiến thẳng, ai sánh kịp tốc độ, một mảnh thần hành xưa nay hiếm."

"Hai cất chân (nhị khởi thối) là pháp nhảy lên… Thế nào gọi là nhị khởi? Hai chân trái phải kế tiếp nhau cùng lìa đất bốn, năm thước mà nhảy lên, nên gọi là đá hai khởi. …Nhưng ắt chân trái trước dùng sức đá mạnh lên, rồi sau ngón chân phải đá cao, mu bàn chân phải phẳng. Nhị khởi thuần là pháp toàn thân thăng đề; thân pháp và tâm kình nâng lên trên, toàn thân tinh thần chấn phấn, đều nhảy lên giữa không trung, chân phải cao hơn đỉnh đầu mới hợp thức. Thân theo đỉnh kình dùng sức tung lên, càng cao càng tốt, có kẻ tung quá đỉnh đầu—không phải thân nhẹ lực lớn thì không thể. …Thân trên tung lên trên, thân dưới càng phải dùng sức theo mà tung lên; pháp tung ấy ắt hai chân dùng sức trước đạp xuống một cái, đạp càng nặng thì thân cất càng cao."

"Tâm kình vừa dẫn khởi lên, thì ngũ quan bách hài đều theo đó mà khởi."

"Hai chân liên hoàn cất lên, toàn thân nhảy giữa không trung."

"Trung khí đề lên, lực sống lưng cương mãnh; liên hoàn nhị khởi bay lên trên."

"Thế nào gọi là điệt xóa: thân từ giữa không trung rơi xuống, hai chân xoạc ra, mới là điệt xóa. Đồ này chân trái mở ra, chân phải co lại, đây là đơn điệt xóa; còn song điệt xóa, không dùng pháp tung thì không đứng lên được, không như đơn điệt xóa chỉ cần gót chân trái đưa tới trước một cái khép, đầu gối phải mở ra ngoài, gót chân phải dùng sức lật một cái, thì vừa cất vừa rơi ngay, so ra hơi dễ hơn, cho nên dùng nó cũng có thể thắng; và nay các nhà quyền đều như vậy, tạm theo đó."

"Điệt xóa và nhị khởi hồi chiếu ứng nhau: nhị khởi từ dưới lên trên, bay vào giữa không trung; còn thế này thì từ giữa không trung xuống dưới, hai chân chạm đất. Tự nhiên chiếu ứng, không làm gượng gạo—luật tạo quyền của người xưa nghiêm như thế."

"Trên kinh dưới thủ, ngươi phải nhớ; chân trái sát đất đá xuống tự lợi."

"Không phải vai khuỷu có thể phá địch; một chân đá đổ lầu Phượng Hoàng."

"Nếu thân này không thành hán sắt, thì ném xuống đất sao có tiếng kim thạch."

"Phá vây chính ở trong một cái đá; không có công phu lớn, không thể lấy một chân thắng người."

"Đá một gót (đặng nhất căn): ta dùng chân trái đá địch, địch dùng tay phải vuốt giữ chân ta, muốn vặn chân ta, khiến ta đau đớn ngã nhào, hoặc nâng chân ta lên muốn toàn thân ta lìa đất rồi lộn lên đánh. Ta bèn thuận thế xoay hai tay úp giữ đất, rồi lấy chân phải theo chân trái đi ngược lên, đạp vào tay phải đang giữ chân trái ta của địch, khó liền giải. Hoặc lại có địch giữ chân trái ta, ta liền lấy chân phải đá đỉnh khuỷu tay phải địch, hoặc đá vào khớp cổ tay chúng, đều có thể giải. Đây là đại lược của đá một gót.

Người ta đến đá ta, ta liền lấy chân trái lui về sau một bước, để phòng chúng đá vào cựu vĩ (jiuwei) và dưới thừa tương (chengjiang) đến yết hầu.

Nhưng cẩn thận vào lúc đá thì đã muộn; không bằng cẩn thận vào lúc thế trên sắp đá—thấy đá được thì đá, không đá được thì thôi, không được vọng dụng cái đá của mình.

Dẫu có khe hở để thừa, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá các huyệt quan khẩn, không quý đá vào bắp đùi rộng và thịt dày nơi không chạm đến chỗ đau ngứa. Đây là yếu quyết; kẻ đá phải biết."

"Thế Dã mã phân tông: hai tay nắm đất xoay như bay, một tuyến giữa xuyên thẳng không nghiêng. Hai tay sát đất mà lên, toàn thân trên dưới đều giữ được; trung khí từ huyệt Bách hội ở trên thấm xuống huyệt Trường cường, như một tuyến xuyên thành. Hai tay như hai vòng tròn, trên dưới lẫn nhau, thay phiên mà múa; cương của nó không gãy, nhuệ của nó vô song, chuyển của nó không ngừng—cho nên có thể chống địch."

"Thế Phô địa cẩm ứng với điệt xóa: điệt xóa từ không trung thả thẳng xuống, chân phải giậm đất như tiếng kim thạch, để giậm chân địch; chân trái đá vào xương ống chân địch, có thể phá dũng khí của chúng. Tay phải mở cánh tay sát đất mà lên, tay trái xông tới trước để đẩy ngực địch; đây thì lấy mông đùi ngồi về sau mà ngồi lên đầu gối người ta, nắm tay phải cong có ý muốn đánh tới trước, chân trái mở ra—nếu không được thắng, hai tay · 301 · …luật quyền nghiêm như thế."

"Trên kinh dưới thủ, ngươi phải nhớ; chân trái sát đất đá xuống tự lợi."

"Không phải vai khuỷu có thể phá địch; một chân đá đổ lầu Phượng Hoàng."

"Nếu thân này không thành hán sắt, thì ném xuống đất sao có tiếng kim thạch."

"Phá vây chính ở trong một cái đá; không có công phu lớn, không thể lấy một chân thắng người."

"Đá một gót (đặng nhất căn): ta dùng chân trái đá địch, địch dùng tay phải vuốt giữ chân ta, muốn vặn chân ta, khiến ta đau đớn ngã nhào, hoặc nâng chân ta lên muốn toàn thân ta lìa đất rồi lộn lên đánh. Ta bèn thuận thế xoay hai tay úp giữ đất, rồi lấy chân phải theo chân trái đi ngược lên, đạp vào tay phải đang giữ chân trái ta của địch, khó liền giải. Hoặc lại có địch giữ chân trái ta, ta liền lấy chân phải đá đỉnh khuỷu tay phải địch, hoặc đá vào khớp cổ tay chúng, đều có thể giải. Đây là đại lược của đá một gót.

Người ta đến đá ta, ta liền lấy chân trái lui về sau một bước, để phòng chúng đá vào cựu vĩ (jiuwei) và dưới thừa tương (chengjiang) đến yết hầu.

Nhưng cẩn thận vào lúc đá thì đã muộn; không bằng cẩn thận vào lúc thế trên sắp đá—thấy đá được thì đá, không đá được thì thôi, không được vọng dụng cái đá của mình.

Dẫu có khe hở để thừa, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá các huyệt quan khẩn, không quý đá vào bắp đùi rộng và thịt dày nơi không chạm đến chỗ đau ngứa. Đây là yếu quyết; kẻ đá phải biết."

"Thế Dã mã phân tông: hai tay nắm đất xoay như bay, một tuyến giữa xuyên thẳng không nghiêng. Hai tay sát đất mà lên, toàn thân trên dưới đều giữ được; trung khí từ huyệt Bách hội ở trên thấm xuống huyệt Trường cường, như một tuyến xuyên thành. Hai tay như hai vòng tròn, trên dưới lẫn nhau, thay phiên mà múa; cương của nó không gãy, nhuệ của nó vô song, chuyển của nó không ngừng—cho nên có thể chống địch."

"Thế Phô địa cẩm ứng với điệt xóa: điệt xóa từ không trung thả thẳng xuống, chân phải giậm đất như tiếng kim thạch, để giậm chân địch; chân trái đá vào xương ống chân địch, có thể phá dũng khí của chúng. Tay phải mở cánh tay sát đất mà lên, tay trái xông tới trước để đẩy ngực địch; đây thì lấy mông đùi ngồi về sau mà ngồi lên đầu gối người ta, nắm tay phải cong có ý muốn đánh tới trước, chân trái mở ra—nếu không được thắng, hai tay · 302 · …bên phải ấn xuống đất, dùng quét đường tiên (tảo đường tiên) để quét ống chân dưới của quần địch, thì khó tự giải. Đây là lấy đồng loại ứng hô nhau như thế. Lại ứng với Kim kê độc lập: Kim kê độc lập dựng chân trái lên, còn đây thì chân trái nằm ngang; Kim kê lấy đầu gối phải húc người, đây cũng lấy đầu gối phải co lại; Kim kê độc lập buông tay trái xuống, cánh tay phải duỗi lên trên, còn đây thì tay phải co lại, tay trái duỗi lên trên—cho nên trên dưới ứng hô nhau. Lại ứng với nhị khởi: nhị khởi thân bay giữa không trung, còn đây thì thân rơi xuống đất—cho nên cũng lấy trên dưới mà ứng hô."

"Trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, chậm gấp cùng đi; nâng cao lấy thấp, như nguyện được thỏa. …Lên đánh xuống đánh, quyết không thể lệch; thanh đông kích tây, trái phải đều thích hợp. …Ngang dọc nghiêng đổ, ngồi đứng nghiêng thẳng, trước cúi sau ngửa, kỳ chính sinh ra nhau, hồi toàn tựa nghiêng, tích dược đều trúng (đều có trung khí phóng thu, dẫn trong đó)."

"Chân theo tay vận, tròn chuyển như thần, bỗng lên (tay chân hướng lên) bỗng xuống (tay chân hướng xuống), hoặc thuận (dùng pháp thuận triền, kình của nó thuận), hoặc nghịch (dùng pháp đảo chuyển, kình của nó nghịch)."

"Đảo quyển hồng là lui hành để tránh trái phải; Bạch nga lượng sí là hữu dẫn tả kích, kiêm thượng dẫn hạ kích pháp; Lâu tất ảo bộ là lục phong (trên dưới, trước sau, trái phải đều phong kín cửa), tứ tị (tứ tị là đông tây nam bắc bốn phương khiến người không có kẽ hở để công); Thiểm thông bối là tiền thiểm (từ sau thiểm tới trước), hậu hoạt (là phía sau không ấn được, mạnh ấn thì trượt mà ngã) tiến kích pháp; Lãm sát y cùng Đan tiên đều là nhất dẫn nhất tiến (chữ "tiến" này là tiến mà kích) pháp; Vận thủ là tả hữu nhất dẫn nhất tiến kích pháp; Cao thám mã là tả quăng bối chiết khuỷu pháp; Tả hữu sáp cước là hạ thể tiền công đặng pháp; Trung đan tiên là tả hữu thượng hạ thủ túc tịnh kích pháp; Kích địa chùy là công hạ pháp, sau thân kiêm hoạt điệt pháp. Khiếu khiếu lấy mệnh môn giữa hai thận trong hai lưng làm quản kiện khu nữu của thượng hạ thể; quản kiện trên dưới đều là đảo chuyển kình; thân mang trắc thiên trú, hữu hậu hiếp hướng lên, tả hậu hiếp hướng xuống, kình đảo hạ tốt, chân đặng vững, người gặp phải sau lưng, thân liền xoay chuyển, càng nhanh càng tốt, nếu theo được túc pháp, thì người tự trượt mà ngã. Đá nhị khởi cùng đá một chân, đặng nhất căn là đảo chuyển đại chuyển thân pháp, kiêm lấy hai chân · 303 · …công pháp (tay đương chân dụng, chân đương tay dụng vậy); Diễn thủ chùy, Tiểu cầm đả là tiền công thượng hạ pháp; Bão đầu thôi sơn là nghịch chuyển (nói về thân) tiến thôi pháp; Đan tiên là thuận chuyển (thuận chuyển cũng là nói về thân pháp) tả hữu dẫn kích pháp.

Trên đây vài chục thế là lấy một người địch vài chục người trong đại chiến; còn phương pháp tránh địch, không vượt quá trên dưới hai bên—bên nào căng thì trước giải vây bên ấy; khi chúng đến cùng một lượt, trung khí vừa động, liền khiến tất cả cùng lượt tản ra. Không có công phu thì không thể làm được."

(Phụ chú: Các thức quyền nêu trên đều là thức của Trần thức lão giá; ghi lại để tham khảo.)

12. Cương nhu câu mẫn, nhất phiến thần hành

"Công phu của vận động, thì biến cương thành nhu, luyện nhu thành cương; cương nhu đắc trung, mới thấy âm dương. Cho nên quyền này không thể lấy cương mà gọi, cũng không thể lấy nhu mà gọi, chỉ lấy cái danh vô danh của Thái cực mà gọi."

"Khi nó tĩnh, âm dương sở tồn, không dấu vết có thể thấy; khi nó động, trông như chí nhu, kỳ thực chí cương; trông như chí cương, kỳ thực chí nhu. Cương nhu hỗ vận, không đầu mối có thể tìm."

"Thái cực lý tuần hoàn, tương truyền bất kế niên; trong đó có tinh nghĩa, động tĩnh đều vô thiên… Khai hợp nguyên vô định (hoạt bát bát địa), khuất thân thế tương liên (khước hữu nhất định). Thái cực phân âm dương, thần long biến vô phương; thiên địa vi phụ mẫu, ma đãng nhu dữ cương; sinh sinh nguyên bất dĩ, kỳ chính bất tầm thường. Càn khôn như nang dược, thái cực nhất đại nang; doanh hư tiêu tức cố, giai tại thử trung tàng. Chí chung phục tự thủy, nhất khí vận trì trương; hữu hình quy vô tích, vật ngã lưỡng tương vong."

"Hạp tịch cương nhu thuận tự nhiên, nhất dương nhất ức lý tuần hoàn."

"Chung nhi phục thủy, thủy nhi phục chung; duy thủy dữ chung, tuần hoàn bất cùng."

"Thái cực bất quá âm dương chi hỗn luân nhĩ. …Mẫn nhiên thanh xú chi câu vô, tiêm xảo tất bị giả, hóa công dã. Hồn hồ điêu khắc chi bất tác."

· 304 · "Một đến một đi vận một vòng, khí cơ trên dưới không dừng lại."

"Thiên cơ hoạt bát, hạo khí lưu hành; động tĩnh hoãn cấp, vận chuyển tùy tâm. …Chí tật chí tấn, triền nhiễu hồi toàn; ly hình đắc tự, hà phi nguyệt viên. Tinh luyện dĩ cực, cực tiểu diệc quyển."

"Thuần hồ thiên tắc đả quyền giai tùy thiên cơ động đãng, mạc phi tự nhiên nhi nhiên, hoạt bát bát địa; Thái cực nguyên tượng, giai tòng ngô thân lưu lộ."

"Nhân thân xứ xứ giai Thái cực, nhất động nhất tĩnh câu hồn nhiên."

"Chí hư chí linh, nhất cử nhất động, câu thị Thái cực viên tượng."

"Viên chuyển tự như, hồn hạo lưu hành, tuyệt vô trệ cơ; mỗi thế hoàn nhưng quy đáo hồn nhiên nhất Thái cực khí tượng, tuyệt vô tích tượng khả tầm, đoan tự khả chỉ."

"Đả quyền thục nhi hựu thục, vô hình tích khả nghĩ, như thần long biến hóa, tróc mạc bất trụ; tùy ý cử động, tự thành pháp độ, mạc khả trắc độ. Kỹ chí thử, chân thần phẩm hĩ. Thái cực chi lý, phát ư vô đoan, thành ư vô tích, vô thủy vô chung, hoạt bàn thác xuất—y! Quan chỉ hĩ! Quyền tuy tiểu đạo, sở vị tức tiểu dĩ kiến đại giả, cái dĩ thử quyền khởi dị ngôn tai!"

"Cố ngô thân chi vận hành hoặc cao hoặc đê, hoặc phản hoặc chính, thả hốt trì hốt tốc, hốt ẩn hốt hiện, hoặc đại khai nhi đại hợp, hốt thời hành nhi thời chỉ, mạc phi nhất phiến linh khí, trình ư sắc tượng, chân như diên phi ngư dược, hóa cơ hoạt bát. Thiện quan quyền giả tất bất ư nhĩ mục thủ túc chi cổ vũ ư tích tượng gian giả thâm gia thưởng dã. Cố học giả tất tiên nghiên kỳ lý; lý minh tắc khí tự sinh động linh hoạt, phi khí chi tự năng sinh động linh hoạt, thực lý sử chi sinh động linh hoạt dã. Tri thử nhi hậu khả dữ ngôn nội kình. Như đệ dĩ do nội phát ngoại giả vi nội kình, thử kỳ luận do thiển yên giả dã."

"Thành ư trung, hình ư ngoại, thiên biến vạn hóa tự vô cùng; hỏa hậu đáo thuần thanh, pháp mật lý tinh, hồn thân khinh linh; tả hữu nã xuất ứng ứng ứng."

"Thần mục mục, mạo hoàng hoàng, khí tượng hồn luân; hư linh cụ nhất tâm, vạn tượng tàng ngũ · 305 · …uẩn. Tịch nhiên bất động nhược ngu nhân, thùy tri đạo, âm dương kết hợp tại thử thân. Nhiệm bằng tha tứ diện bát phương nhân nan cận, túng hữu na dũng mãnh quá nhân, đột nhiên lai xâm, khuynh giả khuynh, điệt giả điệt, mạc trắc kỳ thần; thả cánh hữu khứ nan khứ, tiến nan tiến, như trạm tại viên thạch đầu thượng lập bất ổn, thực tại hiểm tuấn, hậu hối nan miễn đồi. Khởi hữu biệt pháp môn, chỉ yếu công phu thuần; toàn bằng giả, nhất khai nhất hợp, nhất bút hoành tảo thiên nhân quân."

"Thái cực âm dương tạo hóa, diên phi ngư dược tòng quân khán."

"Cước thích quyền đả hạ thừa quyền, diệu thủ vô xứ bất hồn nhiên; nhiệm tha tứ vi đô thị địch, thử thân nhất động tất điên liên. Ngã thân vô xứ phi Thái cực, vô tâm thành hóa thành châu viên; tao trước hà xứ hà xứ kích, ngã diệc bất tri huyền hựu huyền."

"Nhất khí toàn chuyển tự vô đình, càn khôn chính khí vận hồng mông; học đáo hữu hình quy vô tích, phương tri huyền diệu tại thiên công."

13. Bồi dưỡng bản nguyên, cần học khổ luyện

"Tâm là chủ của một thân, thận là nguyên của tính mệnh; ắt phải thanh tâm quả dục, bồi đắp mảnh đất căn bản ấy, không để nó tổn thương. Căn bản vững rồi thì cành lá vinh, muôn việc có thể làm—đấy là điều tối yếu."

"Dẫu nói ngàn lời vạn chữ, đều không bằng thanh tâm quả dục, bồi dưỡng bản nguyên, để dưỡng nguyên khí; thân vốn cường tráng, đánh quyền tự nhiên hơn người một bậc."

"Dụng công, mỗi người tùy theo sức mình mà vận động; số lần một lần cũng được, mười lần cũng được, không câu nệ số lần. Có sức thì cứ vận động, không có sức thì thôi; không cần gượng mà vận động đến nỗi vượt ra ngoài quy củ, chỉ thuận theo tự nhiên thì được."

"Mỗi một thế quyền, thường ngàn lời không thể hết được cái diệu của nó; một khi đã thân hiện thuyết pháp, thì cảm thấy rất dễ. Cái khó là công phu, cái càng khó là công phu lâu dài. Tục ngữ có câu: 'Quyền đả vạn biến, thần lý tự hiện'—đúng thật."

"Không sái quyền thế, nguyên vô định cách. …Bình cư sái quyền, không thể không giữ thành quy, cũng không thể câu nệ thành quy; điều ấy ở chỗ học giả khéo dùng nội kình của mình. Còn về hình tích, hoặc bị địa thế hạn chế, cứ tùy theo địa thế mà châm chước vận dụng cũng được."

· 306 · "Từ thế đầu đến thế cuối, những gì được vẽ ra đều là quyền có hình; chỉ khi từ hữu hình tạo đến vô hình, mà tâm cơ nhập diệu, cuối cùng quy về vô tâm, rồi sau mới có thể nói đến quyền. Có thể thấy quyền ở nơi tâm ta; trong tâm ta thiên cơ lưu động, hoạt bát bát địa, chạm đâu cũng là quyền—không thể so với kẻ ở đời lấy quyền làm quyền. Đây là nghệ thuật cả đời không hết, không phải biết thì khó, mà hành mới khó. Những thế được vẽ ra đều là cơ tự nhiên trong Thái cực. …Ngàn biến vạn hóa, đan xen vô cùng, cho nên cả đời hành mà không thể hết. Học giả gắng lên."

"Khi quyền đã thuần công lực, thì đoan chính cung túc, kính trọng việc mình làm, không dám tự mãn. …Không khoe không căng, độ lượng ung dung; tuy nói là tập võ, mà văn ở trong đó vậy."

"Mạnh Tử nói: 'Đại tượng hối nhân, tất dĩ quy củ.' Quy củ là cái tột của vuông tròn. Lấy đó mà dạy người là điều đại tượng có thể làm; còn đến chỗ khéo, đại tượng không thể khiến được, chỉ ở nơi học giả. Nếu đến được chỗ khéo, thì là theo quy củ mà không nệ quy củ, thoát quy củ mà tự trúng quy củ. Nhưng chí không được đầy. Tục ngữ có câu: 'Ngoài trời còn có trời, một khi đầy liền chuốc tổn.'"

"Hoặc có người nói: 'Quyền này không đánh được người.' Không đánh được người chỉ là công phu chưa đến; nếu công phu thuần thục, từ vòng 'lớn không có gì ở ngoài' tạo đến cảnh 'nhỏ không có gì ở trong', không gặp địch thì thôi, nếu gặp kình địch, thì nội kình đột phát, như sấm nhanh gió mạnh bẻ cành khô đập gỗ mục, ai có thể đương nổi."

"Học giả ngày nay chưa dụng công mà trước đã mong hiệu quả, vừa dùng sức mà đã mong thành; sao bằng Khổng Tử nói 'tiên nan hậu hoạch'? Hỏi: Dụng công thế nào? Ắt phải như Mạnh Tử nói 'tất hữu sự yên nhi vật chính, tâm vật vong, vật trợ trưởng' rồi sau mới được. Lý không minh thì mời minh sư; đường không rõ thì tìm lương hữu. Lý đã minh, đường đã rõ mà vẫn chưa được, thì thêm công phu càn càn ngày ngày, tiến mà không dừng, lâu ngày tự đến. Hỏi: Mất bao lâu? Tiểu thành thì ba năm, đại thành thì chín năm; đến lúc chín năm, có thể xem xét vậy. Hơn nữa đến sau chín năm, tự nhiên muốn nghỉ cũng không được, mỗi ngày hưng thịnh, cả đời không có chỗ dừng chân. Thần thủ dù có dậy lại, cũng không đổi lời ta. Kẻ nóng nảy hãy gắng lên."

· 307 · "Người nói nghệ này có quyết riêng, thường không chịu tỏ cho người khác. Ta nói nghệ này không có gì lạ, chỉ từ nhỏ khó đánh đến già. Đánh đến già tự nhiên ngộ, hoát nhiên nhất quán thần lý diệu. Quay đầu thử nghĩ lúc lười biếng—không phải tiên tri chưa nói đến, mà nói đến chưa vào tâm ta, tâm ta trái lại thấy nhiều phiền não. Ngày ngày nói ra ngày ngày quên, có tâm không dụng thì bao giờ hiểu? Có thể một ngày dùng sức tìm, âm dương tiêu trưởng tự có chân. Mỗi ngày chơi kỹ Thái cực đồ, một khai một hợp ở nơi thân ta; tuần tự tiệm tiến, công phu dài lâu, lâu ngày tự có thể ngửi thấy chân hương. Chỉ cần công lâu không gián đoạn, Thái cực tùy xứ thấy viên quang. Đây là chân quyết trong quyền; xin ngài bình tâm suy nghĩ kỹ."

"Người người đều có một Thái cực, chỉ xem dụng công hay không dụng công; chỉ cần lâu ngày không lơi lỏng, diệu lý tuần hoàn tự nhiên thông."

Phần 46

Trang sách 285

Bốn. Ngữ lục của Trần Hâm về thập tam mục của quan hài ①

Bốn. Ngữ lục của Trần Hâm về thập tam mục của quan hài ①
1. Đầu

"Đầu là thủ của lục dương, là chủ của toàn thân; ngũ quan bách hài không gì không lấy đó làm hướng và ngửa."

"Đỉnh kình dẫn quá thì treo lên trên; dẫn không lên thì đổ sập."

"Còn về đầu: tai có thể nghe tiếng địch đến, mắt có thể thấy sắc địch phát, đầu có thể chạm trước sau trái phải, và tay trái tay phải lại có thể đi lên trợ giúp."

2. Mắt

"Tinh thần của nó ở đâu? Nói rằng: ở nơi đồng tử. Tâm vừa động thì đồng tử truyền đi, không lần nào sai."

"Vận hành gốc ở một tâm, mà tinh thần nhìn nơi mắt; mắt là cơ quan truyền tâm, cho nên mắt không nhìn ngang, đủ chứng tâm không dụng hai."

"Nhãn thần đặc biệt quan trọng, phải theo tay chính mà vận hành, không được nhìn ngang; nhìn ngang thì thần tán, chí cũng không chuyên."

  • ① Trong đó sáu mục đỉnh, kiên, trửu, hung, khóa, tất đã thấy ở trước dẫn, không ghi riêng.

· 308 · "Thủ nhãn vi hoạt, bất khả vọng động."

"Nhãn thần chú ư (chủ yếu) thủ trung chỉ, bất tà thị."

"Mắt nhìn tới ngón giữa của tay trước, tức ngón giữa vậy, cho nên ắt phải nhìn đây, không được nhìn ngang khiến tan tán không chỗ bám. Một thân con người, vận dụng toàn ở một tâm, mà truyền thần toàn ở nơi mắt, cho nên ắt phải ngưng thần chú thị. Thế Lãm sát y tay phải làm chủ, tay trái là khách; tay phải phát đoan, mắt ắt nhìn nó; mắt theo tay phải mà đi, đến khi tay phải dừng, mắt ắt chú vào móng ngón giữa tay phải. Năm đầu ngón tay phải dùng sức—đây là chỗ phía trước phía sau tay vận xong quy túc, cho nên ắt phải dùng sức. Lúc này tay vận động tựa như dừng mà linh khí vận động của nó thực không dừng; vừa dừng thì hơi thở của nó tắt, liền cách ngăn với thế sau. Đây tức là trời đất âm dương vận chuyển không nghỉ; há hai khí ở nơi thân ta lại có thể nghỉ sao! Chỉ vì không nghỉ nên khí càng vận càng thực; đến khi vận đến mười phần thỏa mãn, thì thế sau liền phát khởi. Đây tức là ý "dương cực âm sinh, âm cực dương sinh"."

"Mục năng nhãn quang tứ xạ."

"Mục bất thị tiền, quang tượng tứ xạ."

"Nhãn tình cố thị tả hữu, yếu khoái."

"Thu thị phản thính, hàm quang mặc mặc."

3. Nhĩ

"Nhĩ thính thân hậu kiêm tả hữu."

"Nhĩ thính thân hậu, phòng địch ám toán."

"Địch nhân chi lai, tất tiên hữu phong; cấp giả kỳ phong đại, hoãn giả kỳ phong vi; tức vô phong diệc tất hữu tiên triệu. Địch tại tiền mục năng thị chi; kỳ hoặc tại hữu, tại tả, tại thân hậu, thị tức tiên triệu, …duy bằng nhĩ thính tâm phòng."

"Nhĩ thính tả hữu bối hậu, khủng hữu bất ngu xâm lăng; nhân hữu dĩ hậu lai giả, tất tiên hữu thanh âm, khả văn kỳ thanh âm. Hữu thanh tự dữ vô thanh bất đồng, cố tâm bình khí tĩnh, nhĩ tự thông linh."

4. Tị, khẩu

· 309 · "Hô hấp thuận theo tự nhiên."

"Điều tức miên miên."

"Tâm tức tương y."

"Đả quyền dĩ tị vi trung giới."

"Khẩu thần khinh bế, thiệt tiêm khinh để thượng ngạc."

5. Hạng (cổ)

"Hạng thụ trực bất khả ngạnh."

"Cổ phải đoan chính dựng thẳng, như trụ đá giữa dòng, không trước không sau, không trái không phải, không đến nỗi đổ sập mới được."

"Cổ phải linh hoạt; linh hoạt thì xoay trái phải tự nhiên dễ."

6. Thủ (tay)

"Dĩ tâm vận thủ, thuận thế chuyển quyển."

"Khi tay lĩnh lên trên, lưng và đang cùng nhau đều xuống; thượng thể xoay chuyển tự thấy linh hoạt, hạ thể cũng không chết cứng."

"Tay lĩnh chuyển vòng, vòng vẽ của ngón tay và triền kình của cánh tay là một cỗ kình, không được coi là hai đoạn."

"Thủ hư hư lung trú." "Kình vận đáo chỉ đỗ đầu."

"Nhãn khán trung chỉ giáp, trung chỉ dữ tị chuẩn tương chiếu."

"Ngón giữa lấy đầu mũi làm chuẩn đích; dùng triền ty kình từ vai triền đến tay, trung khí hành đến đầu ngón giữa mới là vận đủ. Kình ngón giữa đến thì kình các ngón khác cũng đến. Nhu trú kình, không được để sót chút khí cứng."

"Dĩ thủ vận hành chỉ vật, tất đắc cương khí hành hồ kỳ trung."

"Thủ như hồng lô xuất thiết, nhân bất cảm mạc."

7. Quyền (nắm tay)

"Khứ thời tán thủ, trước nhân thành quyền."

· 310 · "Quyền lực như gió lại như sấm."

"Một đòn như tiếng sấm nổ một tiếng, không kịp bưng tai."

"Chùy từ sau đánh tới trước như sấm trên núi, nhanh không kịp phòng, tiến tới còn nhanh hơn chim bay."

"Gần người thì co khuỷu dùng sức chứa, đi xa sao có thể không duỗi cánh tay?"

"Dùng toàn thân toàn lực đánh bằng kình 'nắm giữ', không lộ vẻ thô lỗ, mới hợp pháp độ. …Kình từ gót chân sau vượt qua bắp chân, theo sống lưng đi lên truyền đến vai cánh tay, chuyển qua từ mặt sau cánh tay vận đến mu bàn tay, cho nên giữ kình mà đánh mới có lực. Tuy rằng kình khởi từ gót chân, nhưng công dụng vốn ở tâm; tâm vừa động, trung khí liền từ đan điền phát ra đến tay, toàn thân toàn lực đều tụ ở đây. Đến khi đánh người thì xem người ấy xa hay gần: xa thì mở rộng cánh tay có thể tới người; gần thì cánh tay không mở rộng được, cho nên dùng co khuỷu hợp chùy mà đánh, rất có hàm súc, bên ngoài hoàn toàn không lộ dấu vết, kẻ bị đánh liền ngã, mới là bậc thượng thừa. Vì đánh xa thì dễ, đánh gần thì khó, cho nên phải hạ công phu nhiều mới có thể được như vậy."

"Nội kình từ đan điền xuống qua háng, lại từ trường cường (changqiang) nghịch hành lên bách hội, hạ xuống đến vai, tiến tới vận đến chùy, tinh thần toàn thân đều tụ ở chùy, mới có lực. Chân trái chân phải đạp đất vững như núi ở trên đất, không thể lay chuyển, mới là có lực."

"Ở trong quyền thuần là hạo khí lưu chuyển khắp toàn thân, thế không thể ngăn."

8. Bụng

"Eo kình đánh xuống, xương đuôi hơi nhô lên, bụng dưới tự nhiên hợp kình."

"Ngực bụng rộng lớn bao la, hướng ra trước hợp lại, trung khí xuyên suốt, trên dưới toàn thần, thực có khí tượng mặt che lưng. Dùng công ấy lâu, đến cảnh giới ấy, tự nhiên biết thần tình của nó; dẫu đến cảnh giới ấy, cũng chỉ có thể ý hội, không thể ngôn truyền."

"Điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan, công lâu thì trong khoảnh khắc trong nước phát lửa, trong tuyết nở hoa, hai thận nóng như nước sôi, bàng quang như bị lửa đốt, chân khí tự nhiên đầy đủ."

9. Eo

· 311 · "Eo là nơi chuyển quan trục nối của thân trên và thân dưới, không được mềm, cũng không được cứng, gấp lấy chỗ giữa của nó mới được."

"Eo là mấu chốt của thân trên và thân dưới: khí trên eo đi lên trên, khí dưới eo đi xuống dưới, tựa như thế hai bên tranh nhau trên dưới, thực ra là một khí xuyên suốt, song hành không trái nhau."

"Eo kình quý ở chỗ đi xuống, quý ở chỗ kiên thực."

"Eo kình đánh xuống không được mềm."

"Eo kình đi xuống—eo là nơi giao quan trên dưới; không xuống thì khí thân trên phù nổi, chân không vững."

"Eo kình phải đi xuống, đi xuống phải có kình, hai gối chống mở, háng hợp lại, muốn tròn muốn hư, tự nhiên thân dưới vừa hư vừa linh hoạt vừa vững vàng, lay chuyển không động."

"Eo vừa xoay chuyển, thì thân trên tự nhiên xoay chuyển, soi chiếu cùng thân dưới—ấy là eo làm trục nối của thân trên và thân dưới."

"Trong eo phải hư; vừa hư thì trên dưới đều linh hoạt."

"Eo kình không đi xuống, không thể khí quy về đan điền; khí không quy đến đan điền, thì trung cực (zhongji), hội âm mất ở chỗ khinh phù, do đó hoành khí trong ngực lấp đầy sung mãn, tức là phía sau đào đạo (taodao), thân trụ (shenzhu), hai bên linh đài (lingtai), hoành khí cũng đều lấp đầy sung túc, mà trước sau đều trệ sáp vậy. Vì không hướng ra trước hợp lại thì lỗi ở chỗ ngửa ra sau; hướng ra trước hợp lại thì háng kình khinh phù, đáy chân không vững, thân trên cũng không không linh."

"Quyết khiếu lấy chỗ giữa hai bên eo, mệnh môn giữa hai thận, làm ống khóa trục nối của thân trên và thân dưới."

10. Sống lưng, Lưng

"Xương sống là mấu chốt của thân trái phải."

"Chuyển trong ngoài từ từ (chuyển đều là hướng vào trong hoặc ra ngoài), trung khí xuyên suốt giữa sống lưng."

"Nếu hỏi chân tiêu tức trong ấy, ắt phải tìm trong các đốt xương sống lưng."

"Lưng dùng trung khí xuyên giữ."

· 312 · "Lưng gấp mở ra, đỉnh kình và đang kình đầy đủ."

11. Đang và Mông

"Hai bên bìu thận gọi là đang, quý ở chỗ tròn, quý ở chỗ hư, không được kẹp lại."

"Đang phải tròn, tròn thì vững."

"Hai gốc đùi phải mở đang; mở không ở chỗ lớn nhỏ, dù chỉ một sợi nhỏ cũng tính là mở, vì tâm ý vừa mở thì đang liền mở. Kẻ không biết mở đang, đùi dẫu xoạc ba thước rộng, không mở vẫn là không mở. Ấy là ở người học phải tế tâm tham cứu."

"Đang cố nhiên không thể không mở, nhưng hội âm phải hư, bụng dưới phải thực."

"Đang chống tròn, hư hư hợp lại. …(khi dừng thế, chân trái phải) pháp triền ti kình, từ ngón chân từ trong ra ngoài đi lên xéo quấn đến gốc đùi, cùng với hội âm, …Nếu hợp không đến hội âm, thì không có đang kình, và không thể chống tròn; ấy là triền ti kình không thể lìa vậy."

"Hạ eo kình, xương đuôi hơi lật lên, đang kình tự nhiên hợp lại."

"Đang càng phải hư, hư thì xoay chuyển đều linh."

"Trọc khí hạ giáng, hợp đang kình lại."

"Hạ bàn vững vàng, thượng bàn cũng linh động."

"Xương mông lật lên, đang trước hợp lại, mông sau tự nhiên lật lên."

"Xương đuôi, hoàn khiêu nhổng lên, gốc đùi bên trong chống mở, đang tự mở; hai gối hợp lại, đang tự nhiên tròn."

"Chính giữa đang mở tròn, phải hư, không được xoạc như hình chữ nhân."

"Xương bẹn không nhô lên, thì đang trước hợp không giữ được kình."

"Hai thịt mông nở lên trên; không nở lên thì đang trước hợp không lại, dưới sườn mềm là eo, eo kình nắm không xuống, thì gối và chân không có lực. Xương đuôi, hoàn khiêu, xương bên trong hợp vào trong; không hợp thì hai đùi mất sự tụ lại mà tán."

"Đỉnh kình dẫn quá thì phần trên treo lơ lửng; dẫn không lên thì đổ ngã—ấy là không biết hạ eo kình, đang kình, đến nỗi thân không tự chủ."

· 313 · "Đang kình, eo kình đã đều hạ tốt, mà mông không nở lên, không những đang trước hợp không lại, mà cả thân trên cũng đều khấu hợp không lại; trên dưới khấu hợp không giữ được kình, thì đáy chân không có lực, mà ngoại vật đều có thể đẩy ngã ta."

12. Chân

"Ngàn biến vạn hóa do ta vận, hai chân thân dưới định căn cơ."

"Diễn thủ chùy thế: chân trái phải đạp đất vững như núi ở trên đất, không thể lay chuyển, mới là có lực."

"Chân vững thì thân không thể lay."

"Trước sau trái phải dùng kình đều đặn, tự nhiên đứng được vững."

"Hư thực của chân nhân nơi tay: tay hư chân cũng hư, tay thực chân cũng thực."

"Chân thực thì trước sau đáy chân đều phải dùng lực đạp phẳng vững xuống đất, huyệt dũng tuyền phải hư."

"Trên tuy nhờ tay, dưới lại càng nhờ chân; chân nhanh càng tỏ rõ cái năng của tay nhanh."

"Thận tàng chí, lấy chân theo chí, cũng thuận theo vòng xoay."

"Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."

"Sau khi khí của tay đã đi đủ đến chân, ngón chân cái mới cùng tay hợp làm một; lúc ấy mới có thể đạp thực."

"Lấy thuật dẫn tiến bác kích, hành vào trong tay chân."

"Đến như động tác của tay chân, không ngoài một vòng tròn, tuyệt không thẳng tới thẳng lui."

"Hoành khí của cách ngực tạ xuống đáy chân."

"Kình tuy khởi từ gót chân, công dụng vốn ở tâm."

"Một điểm linh khí khởi từ tâm, trên nhập thanh thiên dưới nhập địa; khí ấy hành trong tay chân, không cứng không mềm tự ung dung."

"Vân thủ: hai chân thay phiên xoay, cơ không dừng lại; chân trái ngang mở một bước, chân phải theo sau tuy cũng ngang mở một bước, nhưng chân phải khi sắp đến cạnh chân trái, lại từ trên xoay trở về năm sáu tấc mới chạm đất, như thế mới thấy vận hành không có bước thẳng. Mỗi khi chân trái mở bước, chân phải theo sau đều · 314 · là như vậy. ……Như tay phải thuận triền một vòng, trong nửa vòng trước trung khí từ bên trong nách hướng ra ngoài quấn xéo đến ngón tay; nửa vòng sau từ ngoài trở về, kình từ ngoài quấn xéo đến dưới nách; tay trái cũng vậy. Đến như chân: như chân phải nửa vòng trước từ trong gốc đùi hướng ra ngoài quấn đến ngón chân; trở về từ ngoài hướng vào trong quấn đến gốc đùi; chân trái cũng vậy."

"Chân bước ra, như trước có vực sâu, bảo thu về liền thu về, cực hư cực linh."

"Chân vận hành cực kỳ triền miên không thẳng, lại có thể theo tay vận hành, không mất ốc ti kình."

"Chân đạp càng nặng, thì thân cất lên càng cao."

"Không đạp thì thôi, đạp ắt khiến địch ngã."

"Đến như chân: bên trái tới thì đưa trái, bên phải tới thì đưa phải; dùng cước để chống trước, dùng đạp để chống sau, nhấc chân như sấm nhanh không kịp bưng tai. Phàm địch xâm phạm hạ bàn của ta, chân lập công nhiều nhất; công dụng của chân lớn thay!"

"Khi sắp đá, xem nó có thể đá thì đá, không thể đá thì không đá, không được vọng dụng cái đá của mình. Dẫu có khe hở để thừa cơ, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá trúng huyệt du quan yếu, không quý ở đá chỗ mông rộng thịt dày không đau không ngứa. Ấy là yếu quyết; kẻ đá phải biết."

"Chân đá quyền đập là hạ thừa quyền; diệu thủ chỗ nào mà chẳng hỗn nhiên."

"Tứ chi bách hài chủ ở động, mà thực vận hành là ở bước; bước ấy là căn cơ của một thân, là trục nối của vận động. ……Chùy để luận thế, mà nắm yếu lĩnh là bước; sống hay không sống ở nơi bước, linh hay không linh cũng ở nơi bước—công dụng của bước lớn thay."

13. Khớp xương

"Khớp xương mở ra."

"Cơ phu khớp xương, mọi chỗ mở rộng."

"Toàn thân cùng hợp giữ kình, và khớp xương toàn thân mỗi chỗ cùng mỗi chỗ tự tương hô ứng mà hợp, như tay với chân vậy."

"Nói hợp thì toàn thân cùng khấu hợp lại mới tốt; đến như khớp xương toàn thân, như khuỷu trái phải, vai trái phải, trên dưới các chỗ danh mục tương hợp, mỗi cái đều nhất nhất soi chiếu hợp lại."

· 315 · "Tay với chân, khuỷu với gối, vai với háng, trên dưới, trái phải, trước sau, khi vận chuyển và khi dừng thế cũng đều phải hô ứng thẳng hàng; mở thì đều mở, hợp thì đều hợp."

"Khớp xương phải đối nhau, không đối thì không có lực."

"Khớp xương cùng kêu."

Năm, Nhu thủ quyền luận (Luận về đẩy tay)

1. Nhu thủ luận tập lục

"Triêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng. ……Tế nị uất thiếp, trung quyền hậu kình."

"Bất tức bất ly, bất triêm bất thoát, tiếp cốt đấu chuẩn (khớp mộng), tế tâm suy ma."

"Càn cương khôn nhu, âm dương tịnh dụng; bất thiên bất ỷ, vô quá bất cập."

"Bất tiên bất hậu, nghênh tống tương đương, tiền hậu tả hữu, thượng hạ tứ bàng, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp tương tương."

"Thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng."

"Hai tay xoay lại tựa vân ốc, một lên một xuống rất quân bình, toàn bằng Thái Cực chân tiêu tức, bốn lạng bạt động tám ngàn cân."

"Trung khí quán túc, thiết kỵ tiên tiến, thiển thường đái dẫn, tĩnh dĩ đãi động."

"Hạp tịch động tĩnh, nhu chi dữ cương; khuất thân vãng lai, tiến thoái tồn vong. Nhất khai nhất hạp, hữu biến hữu thường; hư thực kiêm đáo, hốt kiến hốt tàng. Kiện thuận tham bán, dẫn tiến tinh tường; hoặc thu hoặc phóng, hốt thỉ hốt trương."

"Nội dĩ thành tâm thương các (bàn bạc), ngoại dĩ nhu thuận chi khí dẫn nhân chi tiến, thị dĩ cương khí phục ư nhu trung dã."

"Ngã chi giao địch, thuần dĩ đoàn hòa khí dẫn chi sử tiến."

"Bất khả sử ngạnh khí, diệc bất khả thái nhuyễn, chiết kỳ trung nhi dĩ."

"Hựu bán dẫn bán tiến, đái dẫn đái tiến, tức dẫn tức tiến, dĩ dẫn vi tiến, âm dương · 316 · nhất tề tịnh dụng, ấy gọi là: đạo song hành mà không trái nhau. Không phải âm dương hợp đức, thì không thể tâm cơ vừa động tay liền tới, nhanh không gì hơn thế.""Pháp bán dẫn bán tiến ấy: từ khuỷu trở lên dẫn để khiến tiến, dưới tay thì kình tiến về phía trước; mặt sau cánh tay là dương, mặt trong là âm, ấy là pháp dương dẫn âm tiến, không phải hỗ tương vi căn thì không thể."

"Tay dùng dẫn kình dẫn mở tay địch, phải dùng triền ti kình dẫn nó, khiến nó đứng chân không vững."

"Trong duỗi ngụ co ai hiểu, trong co ngụ duỗi kẻ biết thì hiếm."

"Từ từ dẫn tiến người chẳng hiểu, dần dần dừng lại ý tự sâu, phải thực trái hư tàng kích bất ngờ, trên nhấc dưới đánh ngụ tung cầm."

"Trước dẫn sau tiến ai hay biết, Thái Cực tuần hoàn một vòng tròn."

"Dẫn tiến lạc không là trước nhất."

"Địch lấy tay tới, ta lấy tay dẫn, tức dẫn tức đánh, không phải sau khi đã dẫn rồi mới đánh—ở đây đủ chứng thực âm dương hỗ tương vi căn."

"Kình dẫn tiến nói không hết, một âm một dương xem trong tay, muốn đè trước tiên nâng lên là lẽ thật, đánh người không ở chỗ chiếm roi trước."

"Hai người giao tay, ta giữ cương thổ của ta, không hèn không ngạo, chín gấp ruột dê; không được hơi nhượng, như nhượng người khác, người đứng ta ngã; gấp tranh phong, lên được chớ xuống, chiếm thêm một phần, ta cứ địa thế hiểm thắng."

"Tới nên nghe thật, đi quý thần tốc."

"Cực nhanh cực mau, triền nhiễu hồi xoay."

"Lực quý ở phát mau, cơ quý ở thần tốc; một chậm là thất bại, một mau là đắc thế."

"Tiến như gió mạnh thổi người, ánh chớp lóe mạnh, càng mau càng tốt."

"Phát tay phải mau, không mau thì trễ lỡ; đánh tay phải tàn nhẫn, không tàn nhẫn thì không thành."

"Thế như tay đẩy núi Thái Sơn, muốn khiến nó đổ nghiêng. ……Đỉnh kình dẫn tốt, eo kình hạ tốt, đang kình chống tròn, đáy chân dùng lực đạp đất, lực cánh tay dùng đến trên chưởng, sức lực toàn thân đều · 317 · chú vào trên bàn tay trái phải, khi đẩy lực quý ở thần tốc, dẫu không thể đẩy ngã, cũng có thể khiến nó lùi lại mấy bước."

"Người tới cảm ta, không chịu nhẹ buông tha ta; ta cảm người, lẽ nào chịu nhẹ buông tha người? Thế tất phải dùng toàn thân lực, muốn đẩy với thế đẩy ngã núi Thái Sơn."

"Thân này có lực phải hợp làm một, lại càng phải lưu tâm nơi khoảng sống lưng."

"Luyện thành Kim Cương Thái Cực tôn, toàn thân hợp hạ lực ngàn cân."

"Nhưng không phải chỉ lấy khí lớn mà làm, mà thực lấy trung chính nguyên khí vận chuyển thôi bức, khiến nó không thể không lùi lại, và lấy thuật dẫn tiến kích bác, hành trong tay chân, lại khiến nó không thể tiến gần thân ta."

"Tâm thủ nhãn túc nhất khí, địch bị ta cầm định trước."

"Nhu trung ngụ cương, người khó phòng."

"Hư lung trá dụ, chỉ vì một chuyển."

"Đột nhiên một chuyển người chẳng hay."

"Chuyển dẫn chuyển kích, ……một mảnh thần hành."

"Muốn cương trước nhu, muốn dương trước ức, thái hòa nguyên khí, hồn nhiên trung phục."

"Trung khí vận ư tâm, nhất phát mạc bỉ độc; hà huống tiến như phong, tật tấn thùy năng địch? Hình hài dữ nhân đồng, dụng pháp chỉ ngã độc. Bất thị biệt hữu phương, chỉ vị trung khí túc."

"Nhưng bằng đắc chu thân không linh, nhất lũ trung khí tùy thế dương."

"Quyền giả, quyền dã. Sở dĩ quyền vật nhi tri kỳ khinh trọng giả dã. Nhiên kỳ lý thực căn hồ Thái Cực, nhi kỳ dụng bất di hồ lưỡng quyền, thả nhân chi nhất thân, hồn thân thượng hạ đô thị Thái Cực, tức hồn thân thượng hạ đô thị quyền, bất đắc dĩ nhất quyền mục quyền dã."

"Nhãn lực thủ pháp kiêm thân pháp, niêm trước hà xử hà xử động."

"Tinh thần đoàn tụ chu thân kiện, toàn càn chuyển khôn thủ nội tồn."

"Công cửu tắc linh, kỳ linh vô bỉ, y trước tức tri, tự nhiên hữu ứng, bất tức bất ly, triêm liên niêm tùy; như dăng lạc giao, hữu sí nan phi, thử trung chi diệu, vi hồ kỳ · 318 · vi."

"Nếu công phu thuần thục, từ cái vòng lớn không gì ở ngoài của nó, tạo đến cảnh giới nhỏ không gì ở trong, không gặp địch thì thôi, như gặp kình địch, thì nội kình đột phát, như sấm nhanh gió mạnh bẻ gãy cây khô cỏ mục, ai có thể đương nổi!"

"Tức cầm tức túng triền ti kình, phải ở trong ấy hội thiên cơ."

"Hỏi: Luyện quyền dùng triền ti kình để làm gì? Đáp: Kẻ cứng trực tiếp với người thì người dễ né tránh, dễ lìa đi; chỉ lấy nhu tiếp nó, thì người dễ thấy mềm mại mà lòng không sợ; lòng không sợ nên không né tránh. Chỉ lấy pháp triền ti mềm mại ấy tiếp nó, chưa dính thân người thì thôi, như dính thân người thì người không thể né tránh; né thì lấy tay theo nó, như sơn keo dính vật cứng, vật tự không thể né tránh; lìa thì lấy pháp triền quấn cánh tay nó, như nhện lấy tơ quấn ruồi, lại như đinh ốc đã lắp vào, muốn cạy mạnh ra cũng không được. Cho nên chưa dính cánh tay người thì thôi, như đã dính, thì ta lấy pháp triền ti véo giữ thịt nó, khi quấn mà vây nó, triêm nó, liên nó, niêm nó, tùy nó, khiến nó tiến không được tiến—tiến thì trước rơi vào hố hầm; thoái không được thoái—thoái thì sợ ta kích bác, cho nên không dám cứng rắn lìa đi. Triền ti kình này ở trong quyền là diệu quyết trọng yếu nhất."

"Đến khi thành, địch đến thế nào đáp thế ấy, không đợi suy nghĩ, tự nhiên có pháp. ……Nhưng dính vào chỗ nào, liền dùng chỗ ấy (đây là phong quang bản địa, khó nhất khó nhất) dẫn mà đánh nó, thời đều xử trí thích nghi, không hiểu vì sao diệu, thật không nghĩ mà được, không gắng mà trúng. Nhưng kẻ chưa thành không thể được vậy."

"Hỏi: Đến bao giờ mới kể là thành? Đáp: Trong ấy tầng lớp vô cùng, cả đời không hết. Nhưng lấy cái thô sơ trước mắt mà nói: đại thành thì chín năm, tiểu thành thì bảy năm; đến như tinh diệu, cũng là cái học cả đời không hết."

"Kẻ hợp trước thì lấy hợp mà đánh; kẻ khai sau thì lấy khai mà đánh. Tay chân không chỗ nào không phải lúc chuyển vòng, tức không chỗ nào không phải đất đánh người. ……Ta lẽ nào có lòng đánh người! Ta tự đánh quyền ta, cũng là hành sở vô sự mà thôi. Quyền đến thế này, nghệ đã hơn nửa."

· 319 · "Các nhà quyền thuật sáng lập pháp triền ti kình, thầm hành đường xoắn ốc không ngừng của càn khôn, tuần hoàn không đầu mối, thần diệu vạn vật—ấy đến mệnh vậy thay, há chỉ là nghệ thuật sao!"

2. Nhu thủ thập lục mục (Mười sáu mục đẩy tay)

(1) Giác (so)—là so đo cao thấp.

(2) Tiếp (tiếp xúc)—là hai người tay tiếp xúc nhau.

(3) Triêm (dính)—là tay với tay dính nhau, như chữ triêm trong câu "triêm y dục thấp hạnh hoa vũ" (dính áo muốn ướt mưa hoa hạnh).

(4) Niêm (dán)—như keo sơn dán, là người đã dính tay ta, không thể lìa đi.

(5) Nhân (nhân theo)—là nhân theo cái tới của người.

(6) Y (nương)—là ta nương vào thân người.

(7) Liên (liền)—là tay với tay liền tiếp nhau.

(8) Tùy (theo)—là theo cái thế của người để tiến thoái.

(9) Dẫn (dẫn)—là dụ nó tới, kéo dẫn khiến gần ta.

(10) Tiến (tiến)—là khiến người tiến tới, không để nó trốn đi.

(11) Lạc (rơi)—như chữ lạc trong "lạc thành" (hoàn thành), nước mái hiên nhỏ xuống đất; lại như lá rơi xuống đất.

(12) Không (trống không)—nên đọc thanh khứ; người tới muốn đánh thân ta, mà rơi vào đất trống không.

(13) Đắc (được)—là ta được cơ, được thế.

(14) Đả (đánh)—là cơ thế đánh được, thừa cơ mà đánh.

(15) Tật (mau)—là mau lại càng mau, hơi dính chậm trễ, liền không thể đánh; cơ quý ở thần tốc.

(16) Đoạn (quyết đoán)—là quyết đoán; vừa do dự ngờ vực, liền mất cơ hội, qua đó không thể đánh được.

3. Nhu thủ tam thập lục bệnh (Ba mươi sáu bệnh đẩy tay)

· 320 · (1) Rút lui (chou — chou là khi tiến không được thế, biết mình sắp bại, muốn rút thân về)

(2) Nhổ ra (ba — ba là nhổ đi, nhổ về mà chạy trốn)

(3) Che (zhe — zhe là lấy tay che người)

(4) Gạt đỡ (jia — jia là lấy cánh tay đỡ tay người lên)

(5) Đập gõ (keda — keda như lấy vật gõ vào vật mà đánh)

(6) Hung hãn xông (mengzhuang — mengzhuang là bỗng nhiên xông tới, liều lĩnh mà đến, cậy sức mạnh xông thẳng tới; không phát ra từ tự nhiên, mà muốn liều lĩnh cầu thắng)

(7) Trốn tránh (duoshan — duoshan là lấy thân tránh khỏi tay người, muốn lấy sự lừa mà làm ngã người)

(8) Xâm lấn áp bức (qinling — qinling là muốn vào địa giới của người mà áp chế họ)

(9) Chém (che — như dùng dao chặt vật)

(10) Ôm bắt (lou — lou là lấy tay ôm thân người)

(11) Đánh xuống (dao — dao là đánh tay xuống dưới)

(12) Chà xát (cuo — cuo như hai tay chà xát lẫn nhau; lấy tay và cùi chỏ chà xát kẻ địch)

(13) Lấn áp (qiya — qi là lừa người; ya là lấy tay ta cứng mạnh đè tay người)

(14) Treo móc (gua — gua là lấy lòng bàn tay treo người, hoặc lấy bàn chân cong móc người)

(15) Lia ra (li — li là rời khỏi thân người, sợ người đánh ta)

(16) Lừa gạt (shanzhuan — shanzhuan là lừa dối người ngu mà đánh họ)

(17) Gạt ngang (bo — bo là lấy tay ta gạt mạnh người)

(18) Đẩy (tui — tui là lấy tay đẩy sang một bên)

(19) Vụng về (jianshe — jianshe là tay chưa thuần thục)

(20) Thô cứng (shengying — shengying là cậy khí mà đánh người, mang sự thô mà cầu thắng)

(21) Xô đẩy (pai — pai là xô sang một bên)

(22) Cản đỡ (dang — dang là không dẫn được, lấy tay cản cứng)

(23) Cứng ngang (ting — ting là cứng, rắn)

(24) Bá đạo (ba — ba là lấy sức mà bá đạo về sau, như kẻ bá đạo lấy sức khuất phục người)

· 321 · (25) Bốc lên (teng — teng như lấy tay phải tiếp người, lại lấy tay trái đỡ tay người, bốc mở tay phải ra để đánh kẻ địch)

(26) Nâng (qie — qie như dựa vào đốt xương của người mà nâng người)

(27) Thẳng (zhi — zhi là quá thẳng thắn, không có ý dây dưa quanh co)

(28) Thật (shi — shi là chất phác quá thật thà, nên bị người lừa)

(29) Móc (gou — gou là lấy chân móc mà lấy)

(30) Hất lên (tiao — tiao là hất từ dưới lên trên)

(31) Đỡ cứng (shuo — shuo là lấy khí cứng đỡ tay người lên, chứ không lấy trung khí tiếp tay người)

(32) Chống (di — di là cứng cỏi lấy sức lực chống lại người)

(33) Lăn (gun — gun là sợ mình bị thương, lăn sang một bên, lại như vật tròn lăn đi)

(34) Gậy đầu ngọn (gentou gunzi — gậy đầu ngọn là ta nắm đầu nhỏ, bị người lấy đầu lớn đánh ta)

(35) Đánh trộm (touda — touda là đánh người không rõ ràng, đánh trộm ở chỗ người không phòng)

(36) Tán tâm (xintan — xintan là nghệ không đánh được người, tâm như đồ ăn thám lấy, đánh người ắt thất bại)

Ba mươi sáu bệnh trên, có người phạm hết cả, có người phạm bốn, năm, có người phạm một, hai; hễ phạm vào chỗ nào đều không phải là tay đã thành. Khi tay đã thành, bất luận bệnh gì, tất cả đều không phạm, vì được thêm đại hòa nguyên khí, vốn không có sự ngang trái vậy. Thế thì tiếp tay sẽ như thế nào? Cũng nói rằng: "Người lấy tay đến, ta lấy tay dẫn cho họ tiến, khiến họ không được thế mà đánh; ấy gọi là tẩu (zou); tẩu là tên khác của dẫn. Sao đã gọi là dẫn, lại gọi là tẩu? Dẫn là dụ cho tiến; tẩu là người đến ta đi, không chống đỡ thế, ấy gọi là tẩu. Nhưng trong tẩu tự mang sức dẫn tiến (kẻ công thuần thì dẫn cho tiến, họ không dám không tiến, tiến thì ta thuận người nghịch mà bắt thả ở nơi ta), đây là diệu quyết trong quyền, không phải công lâu thì không thể.

Chú của Trang: Mười sáu mục 'nắm tay' và ba mươi sáu bệnh 'nắm tay' là nguyên cảo văn tự của Trần Hâm trong Trần thị thái cực quyền đồ thuyết. Đường Hào vào tháng 1 năm 1932 cùng Trần Tử Minh đến Trần Gia Câu điều tra lịch sử thái cực quyền, đã trích ra hai đoạn này đưa vào sách Trần thị thế truyền thái cực quyền thuật của Trần Tử Minh. Ở đây tham khảo Trần thị thái cực quyền hội tông để hiệu đính và bổ sung. (Cố Lưu Hinh)

· 322 · 4. Hai bài ca "nắm tay"

Khi nắm, bửa, chen, ấn phải nghiêm túc; dẫn vào, rơi vào không, mặc người xâm lấn. Toàn thân theo nhau, kẻ địch khó gần; bốn lạng hóa động tám ngàn cân.

Trên đánh yết hầu, dưới đánh chỗ kín; ở giữa hai bên sườn và ngay tim; phần dưới hai xương ống chân cùng hai gối; một chưởng sau ót lấy mất chân hồn.

Chú: Bài trước là ca quyết cũ truyền của họ Trần, thấy trong quyền phổ của bản Lưỡng Nghi đường họ Trần là: "Chen, bửa, nắm, ấn phải nghiêm túc, trên dưới theo nhau người khó vào, mặc người sức lớn đến đánh, kéo bốn lạng gạt ngàn cân". Bản do Trần Tử Minh chép ra từ bản khác, đề là "Ca quyết nắm tay", có sáu câu: "Nắm, bửa, chen, ấn phải nghiêm túc, toàn thân theo nhau người khó vào, mặc người sức lớn đến công kích, kéo bốn lạng gạt ngàn cân. Dẫn vào rơi không hợp tức xuất, dính liền dán theo tùy co duỗi". Ba bản của họ Trần ghi chép lại có chỗ khác với bản do Lý Dịch Du chép tay và Vương Tông Nhạc ở hiệu muối huyện Ngọ Dương tu đính. Từ Chấn trong Thái cực quyền khảo tín lục nói: "Vì ở Trần Câu, ban đầu chỉ truyền miệng mười miệng, lâu dần hơi khác, và mỗi người theo điều nghe được mà chép vào sách, nên không thể hợp hết được". Đây cũng là lời suy đoán; bốn câu có dị văn, mở rộng thành sáu câu, cũng có thể suy đoán là tì vết của người đời sau tu đính văn tự.

Bài thứ hai là cách đánh liều sống chết, chỉ thấy trong trước tác của Trần Hâm, có lẽ là Trần Hâm tập lục quyết cũ, phụ vào sau bốn câu cũ truyền.

Phần 47

Trang sách 299

Sáu. Tuyển đoạn văn ngắn về quyền luận của Trần Hâm và những người khác

Sáu. Tuyển đoạn văn ngắn về quyền luận của Trần Hâm và những người khác
1. Vịnh thái cực quyền (lời thơ năm chữ thô mộc)

Lý thái cực tuần hoàn, truyền nhau không kể năm, trong đó có tinh nghĩa, động tĩnh đều không lỗi. Thu vào gọi là dẫn, phóng ra như tên rời dây (hai câu này, câu trên nói dẫn vào rơi không, câu dưới nói thừa cơ đánh), hổ báo ngồi núi sâu, giao long bay vực thẳm (câu trên nói tĩnh, câu dưới nói động), khai hợp vốn không định (linh hoạt tràn đầy), co duỗi thế liền nhau (nhưng có nhất định). Thái cực chia âm dương, thần long biến vô phương, trời đất là cha mẹ, cọ xát nhu với cương, sinh sinh vốn không ngừng, kỳ chính không tầm thường. Càn Khôn như ống bễ, thái cực một túi lớn, cớ đầy vơi tiêu tức, đều ẩn trong đó. Đến cuối lại từ đầu, một khí vận căng chùng, có hình · 323 · Trở về không dấu vết, vật và ta đều quên nhau (hợp nhất với đạo). Trong đường thái cực quyền, công phu là trước nhất, theo thứ tự không vượt bậc, người ai cũng tự hợp với trời. Nói suông đều là mực loang, vận dụng thực mới là chân giải. Diều bay lên tận trời, cá nhảy xuống vực, trên dưới đều là chân thú, chủ tể quý ở tinh nghiên. Nếu hỏi ý trong đó, đạo lý nhiệm mầu mà huyền diệu, qua lại như ngày đêm, nhật nguyệt rạng ánh tròn. Hiểu được chân diệu quyết, ấy chính là thái cực quyền, mọi việc đều như vậy, không chỉ ở thời gian. Sau khi trở về chất phác, tức là thần tiên sống, tùy nơi đều được ta, thái phác tự thần toàn (vẫn trở về thái cực).

2. Thơ về phép triền ty của thái cực quyền

Thất ngôn cổ: ba bài

Động thì sinh dương, tĩnh sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau, quả nhiên biết được thú trong vòng, trở chuyển tùy ý thấy chân trời.

Âm dương không đầu lại không cuối, qua lại co duỗi chứa hóa công, thông suốt tin tức trong đó, vòng xoay tùy ý vận hồng mông.

Một trận trong, một trận mê, liên hoàn khai bế nhờ nâng xé, lý kinh tam muội mới sáng, linh cảnh một mảnh là pha lê.

Ngũ ngôn cổ

Cõi lý vốn vô tận, bắt đầu từ kết kiến thành, ba năm không nhìn vườn, nhất chí và thần ngưng. Tự nên theo thầy giỏi, lại nên tìm bạn cao. Khắp nơi theo quy củ, một đường mở linh minh, một tầng sâu một tầng, từng tầng ý vô cùng; một khai liền một hợp, khai hợp nối tiếp nhau. Có khi dẫn vào thắng, công muốn nghỉ mà không được. Thường tập thêm cần mẫn, ngày lên tự bốc lên; một khi không chướng ngại, bỗng nhiên ngộ thái không.

3. Bàn về kình triền ty trong phát mông thái cực quyền — Trần Hâm Thái cực quyền là phép triền. Phép triền như hình ốc vít vận trên da thịt, lúc thường luyện tập luôn dùng kình này, nên khi giao thủ với người, tự nhiên kình này vận hành trên da thịt mà không tự biết, không lâu ở đạo ấy thì không thể được. Phép ấy có: tiến triền, thoái triền; tả triền, hữu triền; thượng triền, hạ triền; lý triền, ngoại triền; thuận triền, nghịch triền; đại triền, tiểu triền.

· 324 · —mà đều phải lấy trung khí vận hành trong đó, tức dẫn tức tiến, đều là lẽ âm dương làm gốc cho nhau. Có người cho là tay mềm; tay mềm sao có thể tiếp vật ứng việc? Nếu chỉ nhìn dấu vết, dường như không kém cứng, nên cho là tay mềm. Quy củ toàn thân nó: đỉnh kình dẫn lên, đương kình hạ xuống (phải chống tròn, phải hợp lại); hai vai buông lỏng, hai cùi chỏ chìm xuống, hai tay hợp lại, ngực hướng về trước mà hợp; mắt chớ nhìn ngang, lấy tay ở phía trước làm đích; đỉnh không được ngã, trong ngực chìm tâm tĩnh khí; hai gối hợp lại dùng kình, lực eo hạ xuống; hai chân thường dùng kình móc, phải trước sau hợp lại dùng kình. Hình bên ngoài, đẹp như trinh nữ, không được mang khí ngông cuồng, một mảnh thần nhàn nhã, đều là phong quy đại nhã. Đến như trong tay, quyền hành đều gốc ở tâm, vật đến thì ứng thuận, tự nhiên hợp với cái thích nghi của tiến thoái, hoãn cấp, khinh trọng. Đây là âm dương của thái cực đình nhau, không chút lệch nghiêng, mà làm diệu dụng của khai hợp. Đạo ấy sao có thể nông cạn vậy!

4. Giải thích nguyên ủy thái cực quyền — Trần Hâm

Quyền là cân, dùng để cân vật mà biết nặng nhẹ. Nhưng lý của nó thực gốc ở thái cực, mà dụng của nó không bỏ hai quyền. Vả lại trong một thân người, toàn thân trên dưới đều là thái cực, tức toàn thân trên dưới đều là quyền, không được lấy một quyền mà coi là quyền.

Then chốt của nó ở một tâm, tâm chủ ở kính, lại chủ ở tĩnh; có thể kính mà tĩnh thì tự giữ hư linh; thiên quân có chủ, trăm đốt nghe lệnh. Động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau. Khí thanh lên trên, khí trọc xuống dưới, bách hội, trung cực, một thể then chốt.

Mới học dùng công, trước cầu phục ứng, mạch đến chuyển cửa, một khí sinh nhau, tay mắt linh hoạt, không được vọng động. Cái khí ấy, chí đại chí cương, dưỡng thẳng không hại, đầy ắp trời đất; phối nghĩa với đạo, bắt đầu từ tập nghĩa, mênh mông vận hành, tự nhiên một khí.

Nhẹ như hoa dương, cứng như vàng đá; uy hổ sánh mãnh, bay ưng sánh nhanh. Đi như nước chảy, dừng sánh núi đứng. Tiến thì người không kịp biết, thoái cũng người không gọi được là nhanh.

Lý tinh phép mật, điều lý phân tơ. Phóng ra thì đầy sáu hợp, cuốn lại thì lui ẩn trong kín. Cái lớn không ngoài, cái nhỏ không trong. Trung hòa nguyên khí, tùy ý mà đi; ý hướng về đâu, · 325 · Toàn thần quán chú. Biến hóa như rồng, người không thể dò, vận dụng ở tâm, đây là chân quyết.

Không lệch không nghiêng, không thái không cập, trong để tu thân, ngoài để chế địch. Tùy thời định nghi, chỉ vì thong dong đầy đủ. Không tức không lìa, không dính không rời, tiếp xương khớp đốt, tỉ mỉ suy ngẫm, thật tích lực lâu, lên nhà vào buồng.

5. Thể và dụng của thái cực quyền

Thể của thái cực quyền

Đạo của thái cực quyền, hai chữ khai hợp nói hết; một âm một dương gọi là quyền, chỗ diệu của nó toàn ở làm gốc cho nhau.

Dụng của thái cực quyền

Vận động của quyền, chỉ có nhu với cương; người lấy cương đến, ta lấy nhu đi; người lấy nhu đến, toàn ở cân lượng (lấy tay ta cân tay người, như cân cân vật; lấy tâm ta đo tâm người, lượng nhanh chậm xuống lên, hoặc nửa đường đổi thế cơ). Trong cương chứa nhu, không sánh với người; trong nhu chứa cương, người khó phòng. Vận dụng ở tâm, không khoe không trương; trong có chủ, không buông cuồng; tùy cơ ứng biến, trọn không kinh hoảng.

6. Tổng luận thái cực quyền và quyền kinh

Một. Tổng luận

Thuần âm không dương là tay mềm, thuần dương không âm là tay cứng. Một âm chín dương là gậy đầu ngọn, hai âm tám dương là tay tán, ba âm bảy dương còn thấy cứng, bốn âm sáu dương rõ là tay giỏi, chỉ có năm âm cùng năm dương, âm dương không lệch gọi là tay diệu. Tay diệu mỗi chạm là một thái cực, không không dấu vết hóa về hư vô.

Hai. Quyền kinh

Thái cực âm dương, có nhu có cương; trong cương chứa nhu, trong nhu chứa cương; cương nhu tương tế, vận hóa vô phương.

7. Trần Phục Nguyên bàn về thái cực quyền — Trần Tử Minh

Tiên nghiêm húy Phục Nguyên, tự Húc Sơ, đầu học nơi Canh Vân công, thành công rồi lại theo Trọng Sân · 326 · Công tập tân giá, nên phát tay có thể nhu như tơ, cứng như thép, qua lại ngoài cửa ải mấy mươi năm, chưa gặp địch thủ. Tử Minh thuở nhỏ hầu bên cạnh, quen nghe lý quyền, nay theo điều còn nhớ mà chép một hai, thành thiên này; cố lậu như ta, chưa nói được muôn phần một.

Khai hợp với âm dương

Động là dương, tĩnh là âm, một động một tĩnh tức là khai hợp; âm biến dương là khai, dương biến âm là hợp, đây nói về toàn thể thái cực quyền. Nói về vận hóa, tay trái dẫn nửa thân trái vận hóa về bên trái, khai là thái dương, hợp là thái âm. Tay phải theo đó mà khai là thiếu dương, hợp là thiếu âm; bên phải cũng vậy. Cương nhu tức bao hàm trong đó, nên thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng. Lưỡng nghi là âm dương, cũng tức khai hợp. Tứ tượng là thái dương, thái âm, thiếu dương, thiếu âm. Âm dương khai hợp, hóa sinh lẫn nhau, đạt đến cực thì hồn nguyên một khí, tuần hoàn không đầu, biến động khôn dò. Cho nên kẻ không hiểu âm dương khai hợp tức không hiểu cương nhu động tĩnh làm dụng cho nhau, lệch cương lệch nhu, không thể tương tế, thì xa gốc thái cực quyền lắm rồi. Lại thầy ta là Phẩm Tam tiên sinh nói: "Đạo luyện quyền, hai chữ khai hợp nói hết, một âm một dương gọi là quyền, chỗ diệu ở làm gốc cho nhau mà thôi". Lại làm hai bài thơ bảy chữ, bài một nói: "Động thì sinh dương tĩnh sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau, quả biết được thú trong vòng, trở chuyển tùy ý thấy chân trời". Bài hai nói: "Âm dương không đầu cũng không cuối, qua lại co duỗi chứa hóa công, thông suốt tin tức trong đó, thái cực chỉ trong một vòng".

Vận hóa chuyển quan

Vận hóa là tiên cơ của chuyển quan, quan tức là huyệt đốt toàn thân người, nên chuyển quan cũng gọi là chuyển tiết. Phàm người mới học, phần nhiều chuộng lực vụng mà không có linh kình, nên dùng vận hóa để trừ khí trệ, khiến chuyển quan đạt đến hư linh, vì hư thì có để tụ, linh thì có để ứng; hư thì tập, linh thì cảm; tập thì tĩnh, cảm thì động; nổi lên xoay chuyển, khai hợp biến hóa, không thể rời vận hóa chuyển quan. Cái gọi là vận hóa chuyển quan, tức từ nhu gân hoạt tiết mà đến tiếp xương đấu mộng (đọc là duẩn), nếu không biết điều này, thì không đủ để nói về hư linh của động tĩnh.

· 327 · Hư thực Thái cực quyền trong khoảnh khắc động tĩnh, không đâu không có hư thực, nên trong phép luyện của nó, tiến lên, thoái về, xoay trái, chuyển phải, nâng chân là hư, đặt chân là thực, quay trái thì trái thực, quay phải thì phải thực, tiến thì sau hư, thoái thì trước hư; nếu hư thực không phân, ắt phạm tệ kéo chân nhấc cẳng; tinh mà cầu thì mỗi chỗ tự có hư thực của mỗi chỗ. Luyện thì như vậy, đối địch với người cũng lại như vậy; người hư thì ta thực, người thực thì ta hư, hư thì thực đó, thực thì hư đó. Lâm địch thừa cơ, chớ câu nệ định pháp, ấy là được yếu đế.

Biến hóa

Biến hóa có biến hóa của một tay, có biến hóa của một chiêu, có biến hóa của một thế; nhưng bất luận một tay, một chiêu, một thế, cái biến mà hóa được đều từ đơn giản dần đến tường mật. Lấy khai hợp làm biến hóa của một tay, lấy chuyển quan làm biến hóa của một chiêu, đây tức là nghĩa trên truyền dưới tiếp. Chỉ có thân pháp, bộ pháp, xoay chuyển chặt chẽ, biến đổi phương hướng, đều thuộc biến hóa của một thế. Từ khai triển đến chặt chẽ, chớ vượt khỏi phạm vi, loạn thứ tự; tự nhiên tích tay thành chiêu, chiêu hợp thành thế, thế liền thành bộ. Mới luyện dường như thấy có ranh giới, luyện lâu công phu thuần thục, tự nhiên hoát nhiên quán thông, vận chuyển tự như, ngàn biến muôn hóa, tùy tâm sở dục vậy.

Bộ châu

Tiên triết có nói: "Vật có gốc ngọn, việc có cuối đầu, biết điều trước sau thì gần đạo vậy". Nếu không có phân biệt nông sâu, thứ tự trước sau, tức là mất gốc rễ; bất luận người dạy bản lĩnh cao cường thế nào, người học nhất định không thể nghệ siêu hơn chúng. Nên bộ châu luyện thái cực quyền thuật có ba tầng công phu: bước thứ nhất, lúc học nên chậm, chậm không nên ngu ngốc; bước thứ hai, tập rồi mà nhanh, nhanh không được loạn; bước thứ ba, nhanh rồi lại hoãn, ấy là nhu, nhu lâu cương tự ở trong đó, ấy là cương nhu tương tế. Người dạy ắt do đó mà dạy, người học cũng ắt do đó mà học, thì gần như không sai lệch.

· 328 · Người luyện thái cực quyền thuật, vốn càng chậm càng nhu càng tốt, không nên dùng lực mang khí; lại phải biết đến khi nào có thể đổi kình, và chậm đến khi nào có thể nhanh nhu, đến khi nào có thể cương. Điều này liên quan đến trách nhiệm của việc dạy học; nên giải thích từ đầu đến cuối, rồi thi hành vào phép, để dễ biết thứ tự công dụng, làm thang bậc nhập môn. Nếu có thể định trước tiến độ, tùy người mà phát, khiến người học tinh thần rạng rỡ, hứng thú vòng quanh, tự nhiên dễ được đường lối, tiến bộ nhanh chóng.

Khai hợp của eo và đương

Người luyện thái cực quyền đối với yếu điểm của hai bộ phận eo và đương không thể không biết, một khai một hợp, một động một tĩnh, eo và đương mỗi cái có chuyên chú, lại quý ở dùng lẫn nhau, nên phải phân tích rõ ràng.

Yếu điểm của eo là: vặn eo, hoạt eo, sụp eo.

Yếu điểm của đương là: lỏng đương, hợp đương, khấu đương.

Khi vặn eo thì đương phải khấu, không khấu thì tán; khi hoạt eo thì đương phải lỏng, không lỏng thì trệ; khi sụp eo thì đương phải hợp, không hợp thì phù.

Phàm sụp eo hoạt đương là súc kình, hoạt eo lỏng đương là nhu kình. Chỉ khi xuất kình phải khấu đương vặn eo.

Nay lấy các thế các chiêu mà nói rõ: như trong quyền thức có Yểm thủ chùy, Phi thân chùy, Thanh long xuất thủy, Trửu để khán quyền, Thiểm thông bối, Thanh long hý thủy, Nhị khởi thức, Thích nhất cước, Đặng nhất cân, Tiểu cầm nã, Bão đầu thôi sơn, Tiền chiêu, Hậu chiêu, Dã mã phân tông, Ngọc nữ xuyên toa, Bãi cước điệt xóa, Thập tự cước, Chỉ đương chùy, Thanh long lãm thủy, Bãi cước, Đương đầu pháo v.v., đều thuộc khấu đương vặn eo. Kim cương đảo đối, Lãn trát y, Đan tiên, Bạch hạc lượng sí, Lâu tất ảo bộ và thức thu, thức hợp v.v., đều thuộc lỏng đương hoạt eo.

Phàm khi thế quyền đã thành thì đương nên hợp, eo nên sụp; nghĩa chủ ở tĩnh, tức là chiêu này đã dừng, chiêu sau chưa làm, hư linh kình dự súc trong đó, động thì ắt biến ắt phát, nên công hiệu vô lượng. Thời gian và phương hướng nó hướng tới không thể định trước, gặp trái thì trái ứng, gặp phải thì phải ứng; trên dưới, trước sau, cương nhu, hoãn cấp, khinh trọng, đều biết cả.

· 329 · Vòng tròn của thái cực quyền Nghe nơi tiên nghiêm rằng, công thái cực quyền lấy mất vòng làm lên đỉnh tột bậc, không thể một bước mà tới, phải theo thứ tự tiến dần, từ vòng lớn thu đến vòng nhỏ, vòng nhỏ thu đến mất vòng, lại lấy nội kình làm thống ngự, liên quán biến hóa, vận dụng thần diệu; kỹ đến đây, trên hình thức không còn cách nào nắm bắt được nữa.

8. Yếu điểm của thái cực quyền — Trần Tử Minh

Ta căn cứ lời cha và thầy, làm thành ba thiên yếu nghĩa thái cực quyền; lại sợ người mới học không được yếu lĩnh của nó, không ngại phiền phức, kính nêu yếu điểm để làm tham khảo cho người nghiên cứu bước đầu.

1. Tính chất: Tính chất của thái cực quyền, thầy ta Phẩm Tam tuy nói "trong cương chứa nhu, trong nhu chứa cương, cương nhu tương tế, vận hóa vô phương", lời ấy nói công phu khi đã thành tay. Mới học nên lấy tự nhiên nhu hoạt làm chính; nhu nên lỏng, hoạt nên dẫn; nhu mà không lỏng, hoạt mà không dẫn, tức không tự nhiên, sao có thể đạt kiên cương về sau.

2. Phương pháp: Phương pháp của thái cực quyền, điều chủ yếu nhất là tám chữ: "hư thực khai hợp, khởi lạc toàn chuyển", mới học nên phân biệt cho rõ.

3. Trình tự: Trình tự tập thái cực quyền, phải trước chậm sau nhanh, nhanh rồi lại hoãn, trước nhu sau cương, sau đó cương nhu mới có thể tương tế.

4. Tư thế: Giá thức khi động tác dừng lại gọi là tư thế; yếu điểm tư thế thái cực quyền không ngoài tay dẫn mắt theo, thân đoan bộ vững, vai bằng thân hợp, lại phải chú ý kình của hai bộ phận đỉnh và đương, đừng để có mất, nếu không ắt khiến trên nặng dưới nhẹ, toàn thân nghiêng lệch, đứng không vững, trăm bệnh đua ra.

5. Động tác: Động tĩnh tác thế của thái cực quyền, thuần nhiệm tự nhiên, vận hóa linh hoạt, tuần hoàn không đầu; phải biết hư thực khai hợp, khởi lạc toàn chuyển của nó đều từ hình tròn mà ra. Phàm bước đầu nhập môn, lấy vòng lớn làm phép, đầu thì nhu gân hoạt tiết, tiến thì tiếp xương đấu mộng. Người học thật hiểu điều này, thân làm tâm nghĩ, sớm tối như thế, tinh mà cầu, tiến bộ tự nhanh.

6. Hô hấp: Hô hấp điều khí đủ để phát đạt phổi; nếu sau khi hô hấp buổi sáng mà luyện · 330 · …tập quyền thuật, hoặc khi luyện quyền có hô hấp thích đáng, theo động tĩnh xuất nạp của nó mà điều khí, thì cân thịt và phổi ắt đồng thời phát đạt, tự nhiên không có nỗi lo phổi yếu.

7. Tinh thần: Tinh thần của thái cực quyền lấy hư linh làm cực tột; người mới tập vốn không thể đạt cảnh giới ấy, nhưng nếu giữ được các yếu điểm đã nêu, khế mà không bỏ, lâu dần tự nhiên nước đến kênh thành.

8. Toàn thân tùy theo: Tứ chi bách hài cùng phối hợp động tác, ấy gọi là toàn thân tùy theo; nên thái cực quyền một động không gì không động, một tĩnh không gì không tĩnh.

9. Biến chiêu chuyển thế: Biến chiêu và chuyển thế của thái cực quyền vốn thuộc hai cách giải. (Một) Chiêu trước đã dừng, chiêu sau chưa làm, động tác ở giữa thành một thế gọi là biến chiêu, như thức hữu hợp khi lãm xuống của Lãn trát y, lại như thức hữu thu khi lãm xuống của Lâu tất ảo bộ, hai thức tả thu trước Dã mã phân tông và Ngọc nữ xuyên toa, đều là biến chiêu. (Hai) Một động tác ở giữa khi chiêu này dừng mà sắp làm chiêu sau gọi là chuyển thế, như chuyển trái dưới Đan tiên, lại như chuyển phải dưới Yểm thủ chùy v.v., đều thuộc chuyển thế, đều phải phân biệt cho rõ.

10. Thân làm tâm duy: Tục ngữ nói "miệng đọc tâm duy", đọc sách còn như thế, huống chi tập võ? Nên thân mà làm, tâm mà duy, là một phép thực tập dễ khiến người tiến bộ nhất. Thân làm tâm duy của thái cực quyền, điều cốt yếu là: thân nên làm cho viên hoạt, tâm nên duy cho hư linh.

11. Không tham không vọng: Tập thái cực quyền kỵ nhất là tham nhiều, lại răn vọng động; phàm vận dụng và tư thế đều phải cầu cho chính xác, ngõ hầu sau khi luyện thành không đến nỗi phạm bệnh, mà tinh tiến tự dễ. Kẻ tham kẻ vọng, thành tựu rốt cuộc hiếm; tệ này người mới học mười phần chín khó tránh, nên hết sức lưu ý.

(Hai thiên trên trích từ Trần thị thế truyền thái cực quyền thuật của Trần Tử Minh, bản Thượng Hải năm 1932.)

(Do Cố Lưu Hinh tuyển biên chỉnh lý)

· 331 · (Bìa sách)

Võ thuật Trung Hoa — Loạt Thái Cực

Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông

Đỗ Trọng Văn

Đỗ Thanh Viễn

Đỗ Thanh Tuyền

biên soạn

Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế

(Bìa sau)

Tác phẩm kinh điển truyền đời của Thái Cực Quyền Dương Thức

Thái Cực Quyền Dương Thức là một trong các phái Thái Cực Quyền truyền thống, do người Vĩnh Niên tỉnh Hà Bắc là Dương Lộc Thiền (1799—1872) cùng con trai Dương Kiện Hầu (1839—1917) và cháu nội Dương Trừng Phủ (1883—1936) phát triển, sáng biên trên cơ sở Thái Cực Quyền lão giá Trần Thức. Quyền giá Dương Thức thư thái giản khiết, thân pháp trung chính, động tác hòa thuận, vừa nhẹ nhàng linh hoạt vừa trầm ổn. Phép luyện đi từ thả lỏng vào nhu hòa, cương nhu tương tế, giản dị chất phác, được đông đảo quần chúng yêu thích nên phổ biến vô cùng rộng rãi. Quyền giá Dương Thức có phân cao, trung, thấp, có thể điều chỉnh lượng vận động theo nhu cầu của từng lứa tuổi và thể chất khác nhau, cho nên vừa thích hợp với người thể lực khá rèn luyện thể chất, vừa thích hợp với người yếu dùng để trị bệnh và bảo vệ sức khỏe. Sách này do nguyên Phó chủ tịch Hội Võ thuật Thành phố Thượng Hải, một trong "Trăm người võ thuật ưu tú Trung Quốc", truyền nhân Thái Cực Quyền Dương Thức là Đỗ Trọng Văn cùng con trai Đỗ Thanh Viễn (Quốc gia võ thuật bát đoạn) và cháu nội Đỗ Thanh Tuyền (Quốc gia võ thuật lục đoạn) tinh tâm biên soạn trên nền tảng nhiều năm thực tiễn giảng dạy. Trong khi biên soạn đã có nhiều bổ sung mới cho yếu lĩnh động tác, như tăng thêm "thiên trước" trong phần dụng pháp. Về phương pháp giảng dạy và phương pháp luyện tập có những luận thuật khá tường tận và sáng tạo, như phép tăng tiến (đệ tăng pháp), phép khẩu quyết (khẩu quyết pháp), phép sửa lỗi (thác ngộ củ chính pháp) v.v., đều đã được thử dụng nhiều năm trong thực tiễn giảng dạy với hiệu quả rất rõ rệt.

Sách này thích hợp cho người yêu thích Thái Cực Quyền học tập, đồng thời có thể cung cấp cho giáo viên các trường đại học, trung học, tiểu học, trường sư phạm, đơn vị thể dục thể thao và các lớp huấn luyện quần chúng dùng để giảng dạy Thái Cực Quyền.

(Ba dòng chữ dọc bên phải) Ba đời tận tâm truyền dạy Thái Cực Quyền thuật của Dương công Trừng Phủ — quy củ chuẩn thằng không chút sai lệch Tường thuật quyền lý quyền pháp, phân giải bí áo kỹ kích — tinh túy của Thái Cực Quyền Huấn luyện và giảng dạy song dụng — khoa học kiện thân, tu nội luyện ngoại, công phòng kiêm bị, tu thân dưỡng tính ISBN 7-5608-2201-0 Định giá: 32,80 tệ (Trang tên sách)

Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông

Đỗ Trọng Văn, Đỗ Thanh Viễn, Đỗ Thanh Tuyền — biên soạn

Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế

(Trang bản quyền)

Dữ liệu Biên mục Xuất bản (CIP)

Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông / Đỗ Trọng Văn và những người khác biên soạn. — Thượng Hải: Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế, 2000.10 ISBN 7-5608-2201-0 Ⅰ. Truyền… Ⅱ. Đỗ… Ⅲ. Thái Cực Quyền, Dương Thức Ⅳ. G852.11 Số chuẩn y dữ liệu CIP Thư viện Trung Quốc (2000) số 66623 Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông Tác giả: Đỗ Trọng Văn, Đỗ Thanh Viễn, Đỗ Thanh Tuyền Biên tập viên: Hoàng Đán Lệ Hiệu đối: Từ Xuân Liên Thiết kế bìa: Lý Chí Vân Xuất bản: Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế Phát hành: Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế (số 1239 đường Tứ Bình, Thượng Hải; mã bưu chính 200092; điện thoại 021-65985622) Kinh tiêu: Các hiệu sách Tân Hoa toàn quốc In ấn: Nhà máy in Nhà máy điện Vọng Đình Khổ sách: 787mm × 1092mm, 1/16 Số tờ in: 18,75 Trang chèn: 12 Số chữ: 480.000 Lần in: Bản thứ nhất tháng 10 năm 2000 In lần thứ nhất tháng 10 năm 2000 Mã sách: ISBN 7-5608-2201-0/G·218 Định giá: 32,80 tệ Nếu sách có vấn đề về in ấn hoặc đóng bìa, xin liên hệ bộ phận phát hành của nhà xuất bản để đổi. (Trang ảnh: chân dung Dương Lộc Thiền tông sư)

Dương Lộc Thiền tông sư (1799—1872)

(Trang ảnh: chân dung dương kiện hầu tổ sư)

Dương Kiện Hầu tổ sư (1839—1917)

(Trang ảnh: chân dung dương trừng phủ tổ sư)

Dương Trừng Phủ tổ sư (1883—1936) (Trang ảnh: chân dung tiên sinh đỗ trọng văn)

Đỗ Trọng Văn (1903—1994)

(Trang ảnh: chân dung tiên sinh đỗ thanh viễn)

Đỗ Thanh Viễn (1931— ) (Trang ảnh: chân dung tiên sinh đỗ thanh tuyền)

Đỗ Thanh Tuyền (1971— )

(Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Đỗ Trọng Văn thời trẻ

Đỗ Trọng Văn ở thế quyền giá Thoái Bộ Khoa Hổ (lùi bước cưỡi hổ)

Ảnh chụp chung của ông Cung Học Bình, Phó Bí thư Thành ủy Thượng Hải, cùng lãnh đạo Ủy ban Thể dục Thể thao thành phố với hai cha con họ Đỗ (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Dương Trừng Phủ tổ sư và Đỗ Trọng Văn chụp chung

Đỗ Thanh Viễn chụp chung với sư thúc Thôi Nghị Sĩ tiên sư và sư thúc Ngưu Xuân Minh tiên sư Năm 1934, Đỗ Trọng Văn theo Dương Trừng Phủ tổ sư đến giảng dạy tại Chính phủ Thành phố Quảng Châu (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Đỗ Trọng Văn thời trung niên

Đỗ Trọng Văn với ngôi sao võ thuật Lý Liên Kiệt

Đỗ Trọng Văn thôi thủ với Đỗ Thanh Viễn

(Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Đỗ Trọng Văn dạy Đỗ Thanh Tuyền lúc 6 tuổi

Đỗ Trọng Văn dạy cháu gái Đỗ Tranh Vanh luyện kiếm

Đỗ Trọng Văn và Đỗ Thanh Tuyền chụp chung tại Nhà Trắng, Hoa Kỳ Ba đời họ Đỗ chụp chung tại Thượng Hải giữa thập niên 1980 (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Ba đời họ Đỗ chụp chung sau khi Đỗ Thanh Tuyền đoạt giải trong thi đấu Đỗ Trọng Văn và Đỗ Thanh Viễn giảng dạy cho chuyên gia nước ngoài tại Đại học Đồng Tế đầu thập niên 1980 Chứng thư (Hiệp hội Võ thuật Trung Quốc, tháng 11 năm 1998, trao cho Đỗ Thanh Viễn giải Võ thuật Thôi Quảng) / Thư bổ nhiệm (Hiệp hội Võ thuật Trung Quốc, tháng 10 năm 1998, bổ nhiệm ông Đỗ Thanh Viễn làm liên lạc viên Ủy ban Phát triển Hải ngoại của Hệ thống Đoạn vị Võ thuật Trung Quốc)

Đỗ Trọng Văn dẫn Đỗ Thanh Tuyền thăm Nhật Bản năm 1988

(Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Cựu Thủ tướng Úc Hawke thân mật tiếp kiến hai cha con họ Đỗ

Ông Từ Tài, cố vấn Tổng hội Thể dục Thể thao Toàn quốc Trung Hoa, chụp chung với Đỗ Thanh Viễn (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Đỗ Thanh Viễn được phong Quốc gia võ thuật bát đoạn

Đỗ Thanh Viễn và học trò Hoa Kỳ

Đỗ Thanh Viễn và học trò Đức

Đỗ Thanh Viễn và học trò Thái Lan

(Chứng thư: Chứng thư Đoạn vị Võ thuật, Hiệp hội Võ thuật Trung Quốc / Trung tâm Quản lý Vận động Võ thuật thuộc Tổng cục Thể dục Thể thao Nhà nước) (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Thái Cực Đao

Thái Cực Kiếm

Đỗ Thanh Viễn đang dạy bà Lý Huy, vô địch Thái Cực Quyền võ thuật thế giới Thôi thủ phát kình (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Ông Chu Mộ Nghiêu, Phó Thị trưởng Thượng Hải, thân mật tiếp kiến Đỗ Thanh Tuyền Ông Lý Kiệt, Viện trưởng Học viện Võ thuật Trung Quốc, chụp chung với hai cha con Đỗ Thanh Viễn và Đỗ Thanh Tuyền (Trang ảnh: ảnh tư liệu lịch sử)

Hai cha con Đỗ Thanh Viễn và Đỗ Thanh Tuyền với học trò Úc

(Chứng thư: Chứng thư Đoạn vị Võ thuật, Hiệp hội Võ thuật Trung Quốc / Trung tâm Quản lý Vận động Võ thuật thuộc Tổng cục Thể dục Thể thao Nhà nước)

Đỗ Thanh Tuyền dạy học trò Úc luyện quyền

Đỗ Thanh Tuyền chụp chung khi giảng dạy tại thành phố Đài Sơn, tỉnh Quảng Đông — quê hương nổi tiếng của Hoa kiều Đỗ Thanh Tuyền chụp chung khi giảng dạy tại Osaka, Nhật Bản Đỗ Thanh Tuyền chụp chung với ông Tam Đại Chính Quảng, Hội trưởng Hội Bằng hữu Thái Cực Quyền Nhật Bản, và sinh viên đại học Thái Cực Đao Ảnh Đỗ Thanh Tuyền trong phim truyền hình Đỗ Thanh Tuyền chụp chung với học trò Hồng Kông (Trang ảnh minh họa: Giáo sư Đỗ Trọng Văn biểu diễn Thái Cực Quyền, số 1—25)

Giáo sư Đỗ Trọng Văn người Vĩnh Niên biểu diễn Thái Cực Quyền (Trang ảnh minh họa: Giáo sư Đỗ Trọng Văn biểu diễn Thái Cực Quyền, số 26—52)

Giáo sư Đỗ Trọng Văn người Vĩnh Niên biểu diễn Thái Cực Quyền (Trang ảnh minh họa: Giáo sư Đỗ Thanh Viễn biểu diễn Thái Cực Quyền, số 1—26)

Giáo sư Đỗ Thanh Viễn người Vĩnh Niên biểu diễn Thái Cực Quyền Quốc gia võ thuật bát đoạn (Trang ảnh minh họa: Giáo sư Đỗ Thanh Viễn biểu diễn Thái Cực Quyền, số 27—56)

Giáo sư Đỗ Thanh Viễn người Vĩnh Niên biểu diễn Thái Cực Quyền)

(Trang đề từ)

(Trang đề từ)

(Lời tựa, do Trần Vi Minh soạn)

Đỗ quân Trọng Văn là hậu duệ bên ngoại của Dương Trừng Phủ sư người Vĩnh Niên, được sư truyền thụ, quy củ chuẩn thằng không chút sai lệch. Người ta gọi ông là chính tông của Thái Cực Quyền. Ông cùng Kiếm Hoa, Vĩnh Niên là giáo thụ học giả của Thái Cực Học Xã, không nhận thù lao, thành tựu rất nhiều. Nay đã mười năm, các ông nhờ tôi viết vài lời để làm kỷ niệm. Phát dương quang đại, ngoài Trọng Văn còn ai nữa?

Trần Vi Minh

(Lời tựa I, do Từ Tài soạn)

Ban cho nghệ thuật kỹ kích Trung Hoa tính chất toàn cầu

Phần 48

Trang sách 318

— Ngợi khen ba đời họ Đỗ

— Ngợi khen ba đời họ Đỗ

Đại sư Đỗ Thanh Viễn là con trai của Đỗ Trọng Văn, một đại tông sư Thái Cực Quyền Dương Thức. Đỗ Trọng Văn theo học nghệ thuật Thái Cực với Dương Trừng Phủ, cháu nội của Dương Lộc Thiền — người sáng lập Thái Cực Quyền Dương Thức — được Dương sư hết sức coi trọng, cho theo hầu không rời bên cạnh và luôn luôn chỉ dạy. Về sau, đại sư Đỗ Trọng Văn trở thành một cao đồ nổi tiếng của đại tông sư Dương Trừng Phủ.

Đại sư Đỗ Thanh Viễn khi còn trẻ đã hấp thu tinh túy của Thái Cực Quyền Dương Thức, và dưới sự dạy dỗ trực tiếp của cha mình đã khổ luyện thực hành, nghệ thuật Thái Cực đạt tới cảnh giới thuần thục tinh luyện, trở thành tông sư và truyền nhân đời thứ năm của Thái Cực Quyền Dương Thức. Ông Đỗ Thanh Tuyền từ nhỏ được ông nội và cha huấn luyện nghiêm khắc, thuở thiếu niên đã nhiều lần tham gia thi đấu trong nước và quốc tế với tư cách vận động viên chuyên nghiệp và đoạt chức vô địch, trở thành hậu bối xuất sắc của gia tộc Thái Cực này. Hai cha con họ đã đưa nghệ thuật này phổ biến ra hải ngoại, thu nhận rất nhiều học trò và đồ đệ, truyền bá khối tài sản văn hóa Trung Hoa vĩ đại này ra các nước trên thế giới. Nhờ nỗ lực của Đỗ đại sư, ngày càng nhiều người dần hiểu và yêu thích Thái Cực Quyền, nhiều người khắp nơi trên thế giới lấy làm vui mừng vì có cơ hội trở thành đồ đệ của Đỗ đại sư và học nghệ thuật Thái Cực Quyền từ ông. Tinh thần cống hiến của Đỗ đại sư trong việc truyền bá nghệ thuật kỹ kích Trung Hoa ra thế giới thật đáng được tôn vinh và ca ngợi.

(tiếp trang sau)

Thế giới ngày nay đã bước vào thời đại thông tin. Trong xã hội tràn đầy thông tin vô tận và truyền thông phát triển cao độ này, quan niệm của con người đang biến đổi to lớn; theo một ý nghĩa nào đó, thế giới nay đã trở nên ngày càng nhỏ bé, thời gian và khoảng cách không còn là trở ngại cho giao lưu, từ đó thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa người dân khắp nơi trên thế giới, và qua đó tiếp tục đẩy mạnh sự truyền bá của Thái Cực Quyền.

Võ thuật Trung Quốc nay đã trở thành sở thích chung của nhân dân thế giới. Thái Cực, với tư cách là nghệ thuật kỹ kích có nội hàm văn hóa sâu sắc nhất trong võ thuật Trung Quốc, đã trở thành một trong những "món quà" giá trị nhất dâng tặng nhân loại, nhờ chức năng giúp con người cường thân kiện thể. Nó đặc biệt thích hợp với người trung niên, cao tuổi và những người công việc đặc biệt bận rộn, trong đó có rất nhiều người lao động trí óc. Có thể khẳng định chắc chắn rằng, tất cả những người luyện tập Thái Cực Quyền đều có thể thu được lợi ích từ đó.

Việc xuất bản Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông có thể ở tầng sâu hơn cung cấp cho người yêu thích Thái Cực Quyền kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy, luyện tập. Sách này giới thiệu tường tận từng động tác, điều hiếm thấy ngay cả trong các sách thuộc loại Thái Cực Quyền. Nó ắt sẽ trở thành người thầy tốt, người bạn hiền của người yêu thích Thái Cực Quyền.

Đại sư Đỗ Thanh Viễn (Quốc gia võ thuật bát đoạn) cùng con trai Đỗ Thanh Tuyền (Quốc gia võ thuật lục đoạn) đã hữu hiệu (Lời tựa I, tiếp theo)

truyền bá nghệ thuật Thái Cực Quyền, mong rằng sự nghiệp của họ đạt được thành công to lớn! Và tiếp tục quảng bá Thái Cực — bảo vật văn hóa Trung Hoa — tới nhân dân các nước trên thế giới, để nó phát dương quang đại trên toàn cầu!

Từ Tài

Tháng 9 năm 2000

Tác giả Lời tựa I

Cố vấn Tổng hội Thể dục Thể thao Toàn quốc Trung Hoa

Chủ tịch Danh dự Liên đoàn Võ thuật Châu Á

(Lời tựa II, do Du Huyền Đức soạn)

Tinh nghĩa của Thái Cực Công phu Trung Quốc có lịch sử lâu đời, vốn nổi tiếng với câu "Nam tôn Võ Đang, Bắc sùng Thiếu Lâm". Mà nay thịnh hành khắp nơi trên thế giới, được mọi người yêu thích nhất trong võ thuật Trung Hoa không gì hơn phép Thái Cực Quyền. Vào lúc chính quyền trung ương đề xướng toàn dân kiện thân phục vụ xã hội, tôi rất vui mừng được biết sư điệt Thanh Tuyền có một tác phẩm ba đời chân truyền — Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông — sắp ra mắt; nhận sự ủy thác của hiền huynh Thanh Viễn, tôi viết lời tựa cho trước tác mới của sư điệt Thanh Tuyền, để bày tỏ niềm vui và lời chúc mừng.

Thuật Thái Cực Quyền do Trương Tam Phong chân nhân trên núi Võ Đang tỉnh Hồ Bắc sáng tạo vào đời Tống, đến nay đã vài trăm năm. Núi Võ Đang là thắng địa Đạo giáo và danh thắng phong cảnh nổi tiếng của Trung Quốc. Sự tích lũy văn hóa lâu đời đã hun đúc nên võ công phái Võ Đang nổi tiếng thiên hạ, đặc biệt công phu Thái Cực Quyền được tôn vinh trong và ngoài nước. Võ công Võ Đang qua các đời thu nhận đồ đệ cực kỳ nghiêm khắc; đời Thanh võ công Võ Đang từ trong giáo phái truyền ra dân gian, bèn hình thành hệ thống Thái Cực Quyền nội gia — phái Nam do Trương Tùng Khê đại biểu, phái Bắc do Vương Tông Nhạc đại biểu. Trong quá trình lưu truyền, công phu Thái Cực lại phát triển ra nhiều lưu phái, tạo thành một kho tàng văn hóa nghệ thuật công phu Thái Cực vô cùng phong phú. Và trong việc truyền bá công phu Thái Cực khắp thế giới, người có công lao xuất sắc không ai hơn vị đại tông sư của một đời — lão tiên sinh Đỗ Trọng Văn.

Đỗ lão và tôi có tình bạn vong niên, cho nên tôi cảm nhận được rất nhiều về phẩm chất cao phong lượng tiết, phong thái hư hoài nhược cốc, kỹ nghệ lô hỏa thuần thanh và hùng phong uy chấn võ lâm của Đỗ lão. Thời Dân Quốc, các môn phái thường giao thủ; vì quyền thuật của Đỗ lão lan truyền rộng rãi từ bắc xuống nam nên kẻ khiêu chiến cũng nhiều. Nhiều quyền gia, danh thủ khi giao đấu vừa chạm tay đã bị quăng ra ngoài vài trượng, vô cùng kinh ngạc trước công phu tùng trầm viên hoạt của Thái Cực, đồng thời cảm động trước võ đức cao thượng của Đỗ lão, không thiếu người bái làm đồ đệ. Sau khi Tân Trung Quốc thành lập, Đỗ lão được Nhà nước quan tâm, khen ngợi và nhận được vinh dự rất cao.

Thanh Tuyền là cháu nội chân truyền của Đỗ lão, được các bậc trưởng bối trong gia tộc dạy dỗ, từ nhỏ theo cha (nhà võ thuật nổi tiếng, Chủ tịch Liên minh Thái Cực Quyền Vĩnh Niên Thế giới — ông Đỗ Thanh Viễn) luyện võ, và từ lâu theo ông nội Đỗ Trọng Văn tham dự các kỳ võ thuật thịnh hội khắp nơi; thuở thiếu niên đã đoạt chức vô địch Thái Cực Quyền toàn quốc, có thể gọi là hổ tử tướng môn. Vì Thanh Tuyền thiên tư thông minh, khổ luyện cần mẫn, nay đã đến tuổi tam thập nhi lập, lại càng thêm khí phách phong phát — thật là "sóng sau sông Trường Giang đẩy sóng trước"! Thanh Tuyền ghi nhớ di nguyện của ông nội, không quản khó nhọc bôn ba trong và ngoài nước truyền thụ công phu Thái Cực, mà nay cũng đã "đào lý mãn thiên hạ". Trong số học trò ông truyền dạy có nhiều người đoạt giải lớn trong các kỳ thi đấu ở nhiều vùng, Đài Truyền hình Trung ương còn quay cho ông phim giảng dạy chuyên đề. (Lời tựa II, tiếp theo)

Sự ra đời của Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông — dù xét về quyền luận hay quyền giá — đều khiến người ta cảm thấy tai mắt như được đổi mới, không mất phong thái đại gia, đối với người võ thuật chuyên nghiệp cũng như người yêu thích võ thuật nghiệp dư đều có giá trị tham khảo và sưu tầm cao, ắt sẽ trở thành một danh tác vượt thế kỷ. Nếu lão tiên sinh Đỗ Trọng Văn có linh thiêng trên trời, hẳn cũng sẽ vô cùng an ủi và yên nghỉ nơi cửu tuyền. Chúng tôi tưởng nhớ vị đại tông sư của một đời là Đỗ Trọng Văn, và càng mong Thanh Tuyền biên soạn thành bộ trước tác, để nhiều người hơn nữa học được chân công phu Thái Cực Quyền Dương Thức truyền thống. Tôi là truyền nhân của quyền tông trong giáo phái Võ Đang, vì đã lâu sống nơi sơn dã, vài lời vội vàng không thể nói hết tinh nghĩa trong sách, còn mong đồng nhân võ lâm soi xét — ấy là lời tựa.

Tác giả Lời tựa II

Động Thiên Chân Nhân, Du Huyền Đức

Tháng giêng năm 2000

(Lời nói đầu, do Đỗ Thanh Tuyền soạn)

Lời nói đầu Vào lúc thế kỷ mới sắp đến, nước ta đang ở trong thời kỳ lịch sử tốt đẹp khi chính trị, kinh tế, văn hóa ngày càng phát triển, nhân dân các dân tộc toàn quốc an cư lạc nghiệp; quần chúng nhân dân rộng rãi, sau khi nhu cầu vật chất cơ bản được thỏa mãn, tha thiết mong nắm được một phương pháp kiện thân khoa học giản tiện để giữ gìn sức khỏe thân tâm. Đồng thời, sự phồn vinh thịnh vượng của một quốc gia không thể tách rời việc nâng cao tố chất quốc dân, bao gồm nâng cao tố chất thể chất và tố chất tâm lý. Mục đích của phong trào toàn dân kiện thân là làm cho số đông quốc dân nhất có được thể phách cường tráng và tâm trí kiện toàn, mà phương pháp kiện thân quần chúng lý tưởng nhất không gì hơn luyện Thái Cực Quyền. Đồng chí Đặng Tiểu Bình từng đánh giá cao Thái Cực Quyền và đề từ "Thái Cực Quyền hảo!" — điều này thể hiện đầy đủ sự coi trọng lâu dài của lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với toàn dân kiện thân và võ thuật truyền thống.

Thái Cực Quyền, với tư cách một môn khoa học vận động và nghệ thuật hình thể, là đại biểu của văn hóa võ thuật truyền thống ưu tú nước ta, là một cống hiến lớn của dân tộc Trung Hoa cho toàn thế giới. Nó vừa có thể cường thân kiện thể, an thần dưỡng não, vừa có thể tu thân dưỡng tính, đào dã tình thao, lại còn bao hàm nội hàm triết học và nền tảng văn hóa phong phú. Thái Cực Quyền thật sự đã đạt tới mức "nhã tục cộng thưởng, lão ấu giai nghi", từ lâu được quần chúng nhân dân yêu thích sâu sắc, và đã được quảng bá truyền bá ra khắp thế giới. Trong quá trình truyền bá, Thái Cực Quyền phát triển và phái sinh ra nhiều lưu phái; trong đó Thái Cực Quyền Dương Thức luôn là lưu phái lưu truyền rộng rãi nhất, và sau Giải phóng được Ủy ban Thể dục Thể thao Nhà nước lấy làm cơ sở, cải biên thành bài thi đấu nhiều lần nhất.

Ông nội tôi từ năm 9 tuổi đã theo Dương Trừng Phủ tổ sư — truyền nhân đời thứ ba của Thái Cực Quyền Dương Thức — học quyền, cho đến khi qua đời năm 1994 ở tuổi 91, dốc sức lực cả đời vào sự nghiệp phát triển và truyền bá Thái Cực Quyền Dương Thức, giành được sự tôn trọng và yêu mến rộng rãi của người yêu thích Thái Cực Quyền trong và ngoài nước. Cha tôi cũng từ năm 9 tuổi theo ông nội học quyền, trước Giải phóng đã giúp ông nội quảng bá Thái Cực Quyền Dương Thức. Sau khi Tân Trung Quốc thành lập, ông làm huấn luyện viên võ thuật chuyên nghiệp hơn 30 năm. Sau khi nghỉ hưu, ông lại nhận lời mời đến Úc, châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước khác truyền bá Thái Cực Quyền Dương Thức; nay tuy đã tuổi cổ hy, ông vẫn không quản khó nhọc bôn ba khắp thế giới, giới thiệu Thái Cực Quyền Dương Thức chính thống ra nước ngoài, để nhiều bạn bè nước ngoài hiểu và yêu thích công phu Thái Cực của Trung Quốc, góp phần tăng tiến giao lưu hữu hảo giữa nước ta với các nước và xây dựng hình ảnh tốt đẹp của nước ta trên trường quốc tế. Tôi từ năm 6 tuổi theo ông nội và cha luyện quyền, từ nhỏ đã tiếp nhận huấn luyện võ thuật chính quy. Thập niên 1980 tôi trở thành vận động viên võ thuật chuyên nghiệp, từng nhiều lần đại diện Đội Thượng Hải và Đội tuyển Quốc gia tham gia các kỳ thi đấu võ thuật trong và ngoài nước và đạt thành tích tốt. Sau đó tôi cũng dạy quyền trong và ngoài nước nhiều năm, hình thành một hệ thống phương pháp dạy quyền có đặc sắc rõ nét. Ba đời ông cháu chúng tôi rất sẵn lòng không chút giữ lại dâng hiến Thái Cực Quyền Dương Thức chính tông gia truyền — tốt hơn, rõ ràng hơn, chính xác hơn — cho xã hội, không phụ lòng mong mỏi tha thiết của đông đảo người yêu Thái Cực (Lời nói đầu, tiếp theo)

Thái Cực dành cho chúng tôi. Nguyện vọng này ở mức độ rất lớn đã thúc đẩy việc xuất bản cuốn Phương Pháp Huấn Luyện Thái Cực Quyền Dương Thức Truyền Thừa Chính Tông này.

Sách này chủ yếu lấy tác phẩm trước của ông nội và cha tôi là Thái Cực Quyền Dương Thức: Phép Dạy và Phép Luyện (Đỗ Trọng Văn, Đỗ Thanh Viễn biên soạn, Diêu Minh Hoa chấp bút. Thượng Hải: Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế, bản thứ nhất 1989) làm khuôn mẫu, dung hợp tâm đắc luyện quyền và kinh nghiệm dạy quyền mấy chục năm của ông nội và cha tôi, cùng thể hội thiết thân hơn 20 năm luyện quyền và dạy quyền của bản thân mà viết thành. Đây là sự tổng kết toàn diện về ngộ, luyện và dạy Thái Cực Quyền của ba đời ông cháu chúng tôi, là kết tinh mới nhất của trí tuệ và tâm huyết ba đời. Trong nhiều năm dạy quyền, chúng tôi ý thức rõ ràng rằng chỉ dựa vào nỗ lực của vài người thì còn xa mới thỏa mãn được nguyện vọng học công phu Thái Cực chính tông của đông đảo người yêu thích Thái Cực Quyền; điều này đòi hỏi nhiều người hơn nữa tham gia vào quá trình luyện và dạy Thái Cực Quyền, tham gia vào sự nghiệp phát triển và truyền bá Thái Cực Quyền. Cho nên chúng tôi tinh tâm chỉnh lý và tổng kết phương pháp, kỹ xảo và kinh nghiệm dạy quyền của ba đời, cung cấp sự giúp đỡ thiết thực hữu hiệu cho tất cả những ai có chí với sự nghiệp phát triển và truyền bá Thái Cực Quyền. Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, chúng tôi phát hiện mọi người phổ biến coi nhẹ tác dụng kỹ kích của Thái Cực Quyền, nhiều sai lầm và lệch lạc sinh ra từ đó. Thật ra Thái Cực Quyền vốn dĩ là một môn võ thuật kỹ kích; chỉ khi hiểu được cách dùng đúng đắn của từng chiêu thức Thái Cực Quyền mới có thể hiểu yếu chỉ của Thái Cực Quyền từ gốc rễ, nắm chính xác yếu lĩnh của từng động tác, đạt mục đích kiện thân tốt hơn. Cho nên, một đặc điểm nổi bật khác của sách này là chú trọng giảng giải cách dùng kỹ kích của Thái Cực Quyền, điều này cũng càng dễ khơi gợi hứng thú học tập của người trẻ.

Thế kỷ 21 là thế kỷ mới của sự phát triển mãnh liệt khoa học kỹ thuật; văn hóa ưu tú truyền thống làm sao thích ứng và bắt kịp sự biến đổi này, và giành được phát triển hơn nữa, là một đề tài nghiêm túc. Sự nghiệp phát triển và truyền bá Thái Cực Quyền cũng đối mặt với thách thức này; mặt khác, khi công nghiệp và văn minh hiện đại mang đến cho con người nhiều tiện lợi hơn và vật chất phong phú hơn, chúng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với tố chất thể chất và tâm lý của con người. Làm sao giữ gìn sức khỏe thân tâm trong đời sống xã hội ngày càng nhanh và cạnh tranh sinh tồn khốc liệt, đã trở thành một vấn đề hiện thực mà người hiện đại phải nghiêm túc đối mặt; và Thái Cực Quyền trong phương diện này không nghi ngờ gì có nhiều chức năng độc đáo.

Là người luyện võ, tôi cảm nhận sâu sắc Thái Cực Quyền bác đại tinh thâm, chỉ có thân thể lực hành mới có thể thể hội. Khoa học không có biên giới, Thái Cực Quyền vẫn đang không ngừng phát triển; sách này tuy đã qua ba đời bổ sung và hoàn thiện, vẫn khó tránh khỏi sơ sót và khiếm khuyết. Vào lúc thế kỷ mới bắt đầu, tôi mong cùng quảng đại quyền hữu và bạn bè các giới đang làm và quan tâm sự nghiệp phát triển, truyền bá Thái Cực Quyền cùng nhau thảo luận, cùng nhau nỗ lực, làm cho Thái Cực Quyền tiến lên một tầng lầu nữa, mang lại nhiều phúc lợi hơn cho nhân loại.

Cuối cùng, mong rằng việc xuất bản sách này có thể giúp nhiều người hơn nữa thu lợi ích từ Thái Cực Quyền, lĩnh hội sức hấp dẫn vô tận của Thái Cực Quyền. Chúc nhân loại sống khỏe mạnh và hạnh phúc hơn trong thế kỷ 21!

Đỗ Thanh Tuyền Ngày 1 tháng 8 năm 2000

  • Lời tựa I
  • Từ Tài Lời tựa II
  • Du Huyền Đức Lời nói đầu
  • Đỗ Thanh Tuyền Chương 1: Lược sử Thái Cực Quyền Dương Thức(1)
  • Chương 2: Phân tích tường tận phép dạy và phép luyện động tác Thái Cực Quyền Dương Thức(7)
  • Thế thứ 1: Dự Bị Thức8
  • Thế thứ 2: Khởi Thế10
  • Thế thứ 3: Lãm Tước Vĩ14
  • Thế thứ 4: Đơn Tiên33
  • Thế thứ 5: Đề Thủ Thượng Thế39
  • Thế thứ 6: Bạch Hạc Lượng Sí44
  • Thế thứ 7: Tả Lâu Tất Ảo Bộ50
  • Thế thứ 8: Thủ Huy Tỳ Bà55
  • Thế thứ 9: Tả Hữu Lâu Tất Ảo Bộ60
  • Thế thứ 10: Thủ Huy Tỳ Bà65
  • Thế thứ 11: Tả Lâu Tất Ảo Bộ66
  • Thế thứ 12: Tiến Bộ Ban Lan Chùy66
  • Thế thứ 13: Như Phong Tự Bế72
  • Thế thứ 14: Thập Tự Thủ76
  • Thế thứ 15: Bão Hổ Quy Sơn79
  • Thế thứ 16: Trửu Để Khán Chùy84
  • Thế thứ 17: Tả Hữu Đảo Niển Hầu91
  • Thế thứ 18: Tà Phi Thức97
  • Thế thứ 19: Đề Thủ Thượng Thế102
  • Thế thứ 20: Bạch Hạc Lượng Sí103
  • Thế thứ 21: Tả Lâu Tất Ảo Bộ104
  • Thế thứ 22: Hải Để Châm105
  • Thế thứ 23: Phiến Thông Bối109
  • Thế thứ 24: Chuyển Thân Phiết Thân Chùy113
  • Thế thứ 25: Tiến Bộ Ban Lan Chùy119
  • Thế thứ 26: Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ120
  • Thế thứ 27: Đơn Tiên122
  • Thế thứ 28: Vân Thủ123
  • Thế thứ 29: Đơn Tiên132
  • Thế thứ 30: Cao Thám Mã133
  • Thế thứ 31: Tả Hữu Phân Cước137
  • Thế thứ 32: Chuyển Thân Đăng Cước144
  • Thế thứ 33: Tả Hữu Lâu Tất Ảo Bộ147
  • Thế thứ 34: Tiến Bộ Tài Chùy149
  • Thế thứ 35: Phiên Thân Phiết Thân Chùy151
  • Thế thứ 36: Tiến Bộ Ban Lan Chùy153
  • Thế thứ 37: Hữu Đăng Cước154
  • Thế thứ 38: Tả Đả Hổ Thức157
  • Thế thứ 39: Hữu Đả Hổ Thức161
  • Thế thứ 40: Hồi Thân Hữu Đăng Cước162
  • Thế thứ 41: Song Phong Quán Nhĩ164
  • Thế thứ 42: Tả Đăng Cước167
  • Thế thứ 43: Chuyển Thân Hữu Đăng Cước168
  • Thế thứ 44: Tiến Bộ Ban Lan Chùy170
  • Thế thứ 45: Như Phong Tự Bế171
  • Thế thứ 46: Thập Tự Thủ173
  • Thế thứ 47: Bão Hổ Quy Sơn173
  • Thế thứ 48: Tà Đơn Tiên175
  • Thế thứ 49: Tả Hữu Dã Mã Phân Tông176
  • Thế thứ 50: Lãm Tước Vĩ180
  • Thế thứ 51: Đơn Tiên182
  • Thế thứ 52: Ngọc Nữ Xuyên Thoa183
  • Thế thứ 53: Lãm Tước Vĩ191
  • Thế thứ 54: Đơn Tiên194
  • Thế thứ 55: Vân Thủ195
  • Thế thứ 56: Đơn Tiên197
  • Thế thứ 57: Hạ Thế198
  • Thế thứ 58: Kim Kê Độc Lập201
  • Thế thứ 59: Tả Hữu Đảo Niển Hầu205
  • Thế thứ 60: Tà Phi Thức207
  • Thế thứ 61: Đề Thủ Thượng Thế207
  • Thế thứ 62: Bạch Hạc Lượng Sí208
  • Thế thứ 63: Tả Lâu Tất Ảo Bộ209
  • Thế thứ 64: Hải Để Châm210
  • Thế thứ 65: Phiến Thông Bối211
  • Thế thứ 66: Chuyển Thân Bạch Xà Thổ Tín211
  • Thế thứ 67: Tiến Bộ Ban Lan Chùy213
  • Thế thứ 68: Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ214
  • Thế thứ 69: Đơn Tiên215
  • Thế thứ 70: Vân Thủ216
  • Thế thứ 71: Đơn Tiên218
  • Thế thứ 72: Cao Thám Mã Đới Xuyên Chưởng219
  • Thế thứ 73: Thập Tự Thối222
  • Thế thứ 74: Tiến Bộ Chỉ Đang Chùy225
  • Thế thứ 75: Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ227
  • Thế thứ 76: Đơn Tiên229
  • Thế thứ 77: Hạ Thế230
  • Thế thứ 78: Thượng Bộ Thất Tinh230
  • Thế thứ 79: Thoái Bộ Khoa Hổ233
  • Thế thứ 80: Chuyển Thân Bãi Liên236
  • Thế thứ 81: Loan Cung Xạ Hổ243
  • Thế thứ 82: Tiến Bộ Ban Lan Chùy248
  • Thế thứ 83: Như Phong Tự Bế250
  • Thế thứ 84: Thập Tự Thủ251
  • Thế thứ 85: Thâu Thế251
  • Sơ đồ lộ tuyến động tác quyền giá Thái Cực Quyền Dương Thức(253)
  • Chương 3: Thôi Thủ (Đẩy tay)(254)
  • Tiết 1: Thôi thủ định bộ(254)
  • Tiết 2: Thôi thủ hoạt bộ(255)
  • Tiết 3: Thôi thủ ngũ thức(258)
  • Tiết 4: Đại lý(259)
  • Chương 4: Trứ tác quan trọng của các danh gia Thái Cực Quyền(266)
  • 1. Bàn về luyện tập Thái Cực Quyền (Dương Trừng Phủ)(266)
  • 2. Thái Cực Quyền Thuyết Thập Yếu (Dương Trừng Phủ)(268)
  • 3. Thái Cực Quyền Luận (Vương Tông Nhạc)(269)
  • 4. Thập Tam Thế Ca(270)
  • 5. Thập Tam Thế Hành Công Tâm Giới (Vũ Vũ Tương)(270)
  • 6. Thái Cực Quyền Luận (Vũ Vũ Tương)(271)
  • 7. Đả Thủ Ca (Vương Tông Nhạc)(271)
  • 8. Lược bàn về luyện Thái Cực Quyền (Đỗ Trọng Văn)(271)
  • 9. Nghiên cứu lý luận Thái Cực Quyền là một đề tài quan trọng (Đỗ Trọng Văn)(273)
  • 10. Yếu lĩnh và kỵ kỵ khi luyện Thái Cực Quyền (Đỗ Trọng Văn)(275)
  • 11. Về hiệu quả y liệu của Thái Cực Quyền (Đỗ Trọng Văn)(276)
  • 12. Bàn về phép luyện Thái Cực Quyền Dương Thức (Đỗ Thanh Viễn)(277)
  • 13. Yếu điểm luyện tập Thái Cực Quyền Dương Thức (Đỗ Thanh Viễn)(278)
  • Bạt I (Hề Quế Trung)(280)
  • Bạt II (Hoàng Kiến Thành)(282)

Chương Một — Lược sử Dương thức Thái Cực Quyền, trang sách 1

Chương Một Lược sử Dương thức Thái Cực Quyền Dương thức Thái Cực Quyền khởi nguồn vào giữa thế kỷ 19 (thời Đạo Quang nhà Thanh), đến nay mới chừng 150 năm, nhưng đã lưu truyền rộng khắp thế giới và trở thành phương pháp rèn luyện thân thể, tăng cường sức khỏe tốt đẹp cho hàng trăm triệu người.

Người sáng lập Dương thức Thái Cực Quyền là Dương Phúc Khôi (1799–1872), tự Lộc Thiền, xuất thân từ một gia đình nông dân ở Nam Quan huyện thành Vĩnh Niên, phủ Quảng Bình, Hà Bắc. Phong khí học võ ở huyện Vĩnh Niên đã có từ lâu đời; Dương Lộc Thiền từ nhỏ đã học luyện Thiếu Lâm quyền. Lúc nông nhàn, ông thường làm thuê ngắn hạn tại một cửa hàng lương thực ở phố Tây huyện thành. Một hôm, một kẻ ác xông vào hiệu thuốc Thái Hòa Đường bên cạnh cửa hàng lương thực, ức hiếp ông chủ hiệu thuốc Trần Đức Hồ vì ông không phải người bản địa, cứ đòi mua dược liệu quý với giá rẻ; vừa chửi vừa toan vung quyền. Chỉ thấy Trần Đức Hồ giơ tay lên một cái, kẻ ác liền ngã lăn ra ngoài phố. Dương Lộc Thiền vô cùng kinh ngạc, mấy hôm sau đến xin Trần Đức Hồ học quyền. Trần Đức Hồ đầu tiên luôn thoái thác cho qua, về sau thấy Dương Lộc Thiền là người trung hậu, nhiệt thành, mới nói với ông rằng mình là người thôn Trần Gia Câu, huyện Ôn, phủ Hoài Khánh, Hà Nam; ở đó có rất nhiều người học luyện Thái Cực Quyền, còn gọi là Triêm Miên Quyền; thầy của mình là Trần Trường Hưng cùng tộc, quyền thuật của thầy mới là đệ nhất thiên hạ. Nghe được tin này, Dương Lộc Thiền rất mừng, liền nhờ Trần Đức Hồ giới thiệu đến Trần Gia Câu ở Hà Nam bái Trần Trường Hưng làm thầy.

Dưới sự chỉ dẫn của Trần Trường Hưng, Dương Lộc Thiền không quản nóng lạnh, khổ luyện miệt mài. Sáu năm sau, ông mang quyền thuật xuất sắc trở về quê. Lúc ấy ở huyện Vĩnh Niên có rất nhiều người học quyền, trong đó có một người khá nổi danh tuyên bố: "Lộc Thiền học nghệ đã về, ta phải thỉnh giáo một phen." Sau đó hai bên thử so tài, Dương Lộc Thiền bị đối phương đánh bại. Nhưng Dương Lộc Thiền không cam chịu thất bại, phấn chí lại đến Trần Gia Câu học nghệ, lại khổ luyện thêm sáu năm. Khi ông trở về quê lần nữa, đúng dịp Tết, hàng xóm láng giềng nhân dịp chúc Tết mà tỉ thí với Dương Lộc Thiền, đều không ai thắng nổi ông; mọi người nói rằng lần này lão Lộc thật sự học được bản lĩnh rồi. Nhưng ở một nhà quan lại họ Vũ tại địa phương, có một người từng có quan hệ họ hàng với người Trần Gia Câu và cũng học các loại quyền thuật. Nghe tin Dương Lộc Thiền về quê, người ấy đề nghị tỉ thí, kết quả bất phân thắng bại. Dương Lộc Thiền cảm thấy mình vẫn chưa đủ, bèn lần thứ ba vào Trần Gia Câu, theo Trần Trường Hưng học thêm ba năm. Tinh thần học cầu chân truyền Thái Cực Quyền, ba lần vào Trần Gia Câu của Dương Lộc Thiền khiến Trần Trường Hưng vô cùng cảm động. Sau khi âm thầm thử thách và khảo nghiệm ý chí học nghệ cùng phẩm chất làm người của Dương Lộc Thiền, cuối cùng ông đem toàn bộ chân công phu truyền lại cho Dương Lộc Thiền. Hai năm sau, Trần Trường Hưng nói với Dương Lộc Thiền: "Con có thể về được rồi, lần này về sẽ không ai dám chọc con nữa." Dương Lộc Thiền vừa về đến quê, mọi người đều đến xem ông giao thủ với người khác; không hiểu thế nào, chỉ thấy ông phất tay một cái là đã hất đối thủ ra sau lưng. Thế là mọi người đều nói Dương Lộc Thiền thật sự đã "mua được hàng về" (ý nói học được chân công phu). (Chương 1: Lược sử Thái Cực Quyền Dương Thức, trang 2)

Dương Lộc Thiền ba lần vào Trần Gia Câu học quyền 18 năm, sau khi học được chân công phu của Trần Trường Hưng vẫn không thỏa mãn, tự mình lại không ngừng nghiên cứu và khổ luyện, cuối cùng đạt tới mức xuất thần nhập hóa, trở thành nhân vật nổi tiếng ở địa phương.

Chẳng bao lâu, Dương Lộc Thiền nhận lời mời của người họ hàng xa Vũ Nhữ Thanh đến Bắc Kinh dạy quyền. Vũ Nhữ Thanh là tiến sĩ đời Đạo Quang nhà Thanh, đương thời giữ chức Viên ngoại lang Bộ Hình. Ở Bắc Kinh, Dương Lộc Thiền trước tiên theo Vũ Nhữ Thanh đến công quán của một người giàu họ Trương làm khách. Trương mở tiệm nhỏ trước, biệt hiệu "Tiểu Phô Trương", sau phát tài. Trương công quán chính là nơi quan lại, thân sĩ, phú hào tìm vui, ở đó còn thuê mấy võ sư, dạy một lớp con em nhà giàu học võ luyện quyền. Trong bữa tiệc lần đầu gặp mặt, Tiểu Phô Trương thấy Dương Lộc Thiền thân hình gầy nhỏ bèn có chút coi thường, xếp Dương Lộc Thiền sau một dãy võ sư to con. Giữa tiệc, Tiểu Phô Trương hỏi: "Dương tiên sinh, miên quyền của ông có đánh được người không?" Dương Lộc Thiền nói: "Miên quyền của tôi trừ người đồng, người sắt, người đá không đánh được, còn do cha mẹ sinh ra có máu có thịt thì đều đánh được." Tiểu Phô Trương lại nói: "Vậy ông có thể cùng các vị tại tòa tỉ thí một phen không?" Dương Lộc Thiền nói: "Được, tôi sẽ thân thiết với các vị sư phụ một phen" — ý là giao đấu vài chiêu. Thế là mọi người tại tòa đều ra vườn. Khi tỉ thí bắt đầu, một quyền sư khí thế hung hăng xông thẳng tới Dương Lộc Thiền, chỉ thấy Dương Lộc Thiền hơi đưa tay ra, quyền sư đó lập tức ngã ra xa mấy trượng. Một quyền sư khác thấy vậy, bèn nói "Ông ta không được, để tôi!" rồi lại đánh tới, cũng chỉ một chiêu đã thấy bay ra; các quyền sư còn lại không dám tỉ thí nữa. Tiểu Phô Trương thấy vậy vô cùng kinh ngạc, lập tức sai bày lại tiệc rượu bằng đồ bạc, mời Dương Lộc Thiền ngồi ghế thượng tọa. Nhưng Dương Lộc Thiền thấy thái độ của gia chủ trước sau khác nhau như hai người, rất không đồng tình, bèn giận dữ rời tiệc, phất áo ra đi.

Sau khi việc tỉ thí ở nhà họ Trương lan truyền, không ngừng có người nghe danh tới muốn tỉ thí so tài với ông, nhưng đều bại dưới tay ông. Thế là trong thành Bắc Kinh, hễ nhắc đến Dương Lộc Thiền, mọi người đều gọi ông là "Dương Vô Địch". Sau đó, Vũ Nhữ Thanh giới thiệu không ít vương tôn công tử theo Dương Lộc Thiền học Thái Cực Quyền, khiến môn quyền này lan truyền rộng rãi trong thành Bắc Kinh, và các gia đình quan lại đương thời cũng lấy việc mời được Dương Lộc Thiền làm vinh. Cứ như vậy, Dương Lộc Thiền dẫn hai con trai Dương Ban Hầu (1837~1892) và Dương Kiện Hầu (1839~1917) ở lâu dài trong phủ Đoan Vương dạy quyền, đến tận tuổi già mới trở về quê.

Dương Ban Hầu là con trai thứ hai của Dương Lộc Thiền, từ nhỏ theo cha học võ, luyện thành một thân công phu giỏi. Tuy tính tình nóng nảy nhưng tính cách cương trực bất khuất. Có một lần, Bắc Kinh đến một quyền sư từng đánh võ đài bảy tỉnh, người ta gọi là "Vạn Cân Lực", tuyên bố muốn tỉ thí cao thấp với Dương Lộc Thiền. Cha con nhà họ Dương biết tin, Dương Lộc Thiền cho rằng không cần để ý, nhưng Dương Ban Hầu nói với cha: "Tiệm chúng ta mở có hàng, người ta đến mua, sao cha lại không bán?" (ý là chúng ta có chân công phu, sao không thể tỉ thí với người khác) Thế là Dương Ban Hầu một mình đến hẹn "Vạn Cân Lực" tỉ thí ở Tây Tứ Bài Lâu, và lập tờ cam kết sinh tử. Đến hôm đó, "Vạn Cân Lực" giành được tiếng reo hò của khán giả nhờ cơ bắp phát triển, đồng thời mọi người cũng lo lắng cho Dương Ban Hầu gầy nhỏ như thư sinh. Khi trận đấu bắt đầu, chỉ thấy "Vạn Cân Lực" một quyền lao tới, Dương Ban Hầu né người tránh đi, nhưng khi "Vạn Cân Lực" lại tiến công đánh vào mặt Dương Ban Hầu, chỉ nghe Dương Ban Hầu hét lên một tiếng, mọi người còn chưa nhìn rõ, "Vạn Cân Lực" đã bị đá bay ra ngoài mấy trượng, và bị Dương Ban Hầu một cú phân cước đá trúng hạ bộ, chết ngay tại chỗ. Và khi mọi người còn đang trầm trồ khen ngợi, Dương Ban Hầu đã ung dung tự tại trở về phủ Đoan Vương.

(Chương 1: Lược sử Thái Cực Quyền Dương Thức, trang 3)

Con trai thứ ba của Dương Lộc Thiền là Dương Kiện Hầu, quyền thuật cương nhu tương tế, đặc biệt giỏi dùng xảo kình, đối với đao, kiếm và thương cũng cực kỳ nghiên cứu. Ông tính tình ôn hòa, khi thi đấu và luyện võ không coi nhẹ bất cứ ai, cho nên mỗi lần thi đấu ông đều thắng.

Thế hệ thứ ba của nhà họ Dương học võ có Dương Lăng Tiêu, tự Triệu Bằng, con trai Dương Ban Hầu, theo đồ đệ của Dương Ban Hầu là Trần Tú Phong học nghệ, sau lại theo anh họ Dương Trừng Phủ học quyền, rồi sau dạy quyền ở Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang và Quảng Tây v.v. Con trai trưởng của Dương Kiện Hầu là Dương Triệu Hùng, hiệu Thiếu Hầu, từ nhỏ học quyền, giỏi nhất tán thủ, động tác nhanh nhẹn, quyền giá trầm ổn, cả đời kiên trì rèn luyện. Còn con trai thứ ba của Dương Kiện Hầu là Dương Triệu Thanh, hiệu Trừng Phủ, thông minh hơn người, được cha Dương Kiện Hầu thân truyền, nghệ tinh kỹ cao, cuối cùng trở thành một đại tông sư của Thái Cực Quyền Dương Thức.

Dương Trừng Phủ (1883~1936) dưới sự dạy bảo của cha, luôn cắm cúi học nghệ ở Bắc Kinh. Mãi đến sau khi Dương Kiện Hầu qua đời, ông mới nhận lời mời đi về phương nam, lần lượt dạy quyền ở Vũ Hán, Nam Kinh v.v. Năm 1928, ông nhận lời mời của Trương Chi Giang dạy tại Trung ương Quốc thuật Quán ở Nam Kinh, sau lại nhận lời mời của Trương Tĩnh Giang đến Hàng Châu làm Giáo vụ trưởng Chiết Giang tỉnh Quốc thuật Quán. Năm 1930 Dương Trừng Phủ định cư ở Thượng Hải, xuất bản Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư; năm 1932 lại nhận lời mời của Trần Tế Đường và Lý Tông Nhân đến Quảng Châu dạy quyền, hai năm sau mới trở về Thượng Hải.

Khi Dương Trừng Phủ làm Giáo vụ trưởng Chiết Giang tỉnh Quốc thuật Quán ở Hàng Châu, trong quán có một quyền sư luyện Thái Ất Quyền tên Cao Thủ Ngô luôn coi thường Thái Cực Quyền nhà họ Dương, thường nói năng vô lễ với Dương Trừng Phủ. Một hôm, Dương Trừng Phủ nhịn không nổi, cãi vã với Cao Thủ Ngô; Cao Thủ Ngô cầm trường thương muốn tỉ thí với Dương Trừng Phủ, Dương Trừng Phủ cầm trường thương chỉ khẽ khấu một cái, thương của Cao Thủ Ngô liền tuột tay bay ra, rơi xuống đất; Cao Thủ Ngô thấy vậy sững sờ, thoắt cái xấu hổ không còn chỗ dung thân.

Dương Trừng Phủ tính tình ôn hòa, quyền thuật miên lý tàng châm, cương nhu tương tế, có đặc điểm phóng được ra, thu được vào, thư triển đại phương, cho nên được nhiều người thưởng thức và noi theo. Dương Lộc Thiền tuy là truyền nhân của Trần Trường Hưng, nhưng ông không câu nệ thành quy, lại phát triển trên cơ sở Thái Cực Quyền lão giá Trần Thức, khiến nó hợp lý hóa hơn, đại chúng hóa hơn, và khiến nó thích hợp mọi lứa tuổi, ai cũng luyện được; người đương thời gọi là "Thái Cực Quyền Dương Thức". Thái Cực Quyền nhà họ Dương qua sự không ngừng thảo luận, cải tiến của Dương Lộc Thiền và hai đời sau, mãi đến tay cháu nội Dương Trừng Phủ mới chính thức định phổ, hình thành Thái Cực Quyền Dương Thức với quyền giá thư triển giản khiết, kết cấu nghiêm cẩn, thân pháp trung chính, động tác hòa thuận, kiêm cả khinh linh và trầm trước.

Cũng chính nhờ nỗ lực của ba đời nhà họ Dương mà môn quyền truyền thống này — Thái Cực Quyền — được quảng bá, phát triển và lưu truyền rộng rãi, và khiến Thái Cực Quyền có những lưu phái phong phú đa dạng: như Vũ Vũ Tương, em ruột của Vũ Nhữ Thanh được Dương Lộc Thiền truyền dạy, sáng biên Thái Cực Quyền Vũ Thức; Vũ Vũ Tương truyền cho cháu ngoại Lý Diệc Xa, Lý lại truyền cho Hác Vi Chân, lại sáng Hác Thức Thái Cực Quyền; Hác Vi Chân lại truyền cho Tôn Lộc Đường, sáng Tôn Thức Thái Cực Quyền; Toàn Hữu được Dương Ban Hầu truyền dạy, Toàn Hữu lại truyền cho con trai Ngô Giám Tuyền, sáng Ngô Thức Thái Cực Quyền. Do đó có thể nói rằng, Thái Cực Quyền Dương Thức là gốc của Thái Cực Quyền Vũ Thức, Hác Thức, Tôn Thức và Ngô Thức. Năm 1956 Ủy ban Thể dục Thể thao Nhà nước lại lấy Thái Cực Quyền Dương Thức có mức lưu truyền rộng nhất để sáng biên một bài Thái Cực Quyền giản hóa; quyền phổ, ảnh quyyền và các tư liệu dùng lúc đó chính do Đỗ Trọng Văn cung cấp. Sau đó các bài Thái Cực Quyền tám mươi tám thức, Thái Cực Quyền bốn mươi tám thức v.v., đều do Ủy ban Thể dục Thể thao Nhà nước chỉnh lý sáng biên theo Thái Cực Quyền Dương Thức — đúng như nhà sử học võ thuật Đường Hào tiên sinh nói: "Thái Cực Quyền Dương Thức và thôi thủ có cống hiến nhiều nhất, mức độ khai triển rộng nhất." Chương Một — Lược sử Dương thức Thái Cực Quyền, trang sách 4

Trong 150 năm phát triển của Dương thức Thái Cực Quyền, Dương Lộc Thiền đã truyền dạy cho Dương Ban Hầu, Dương Kiện Hầu, Vương Lan Đình, Vũ Vũ Tương và những người khác. Dương Ban Hầu truyền cho Vạn Xuân, Lăng Sơn, Toàn Hữu, Hầu Đắc Sơn, Trần Tú Phong, Trương Tín Nghĩa, Lý Liên Phương, Trương Ấn Đường, Giáo Liên Đường, Kỷ Lão Phúc và những người khác; Dương Kiện Hầu truyền cho Dương Thiếu Hầu, Dương Trừng Phủ, Hứa Vũ Sinh, Lưu Thắng Khôi, Trương Nghĩa và những người khác; Dương Thiếu Hầu truyền cho Lưu Hy Triết, Từ Đại Sơn, Điền Triệu Lân, Vưu Chí Học và những người khác. Ba đời nhà họ Dương dốc sức vào việc quảng bá và lưu truyền Thái Cực Quyền, học trò khắp thiên hạ, đặc biệt các truyền nhân của Dương Trừng Phủ là nhiều nhất. Ngoài các con trai Dương Chấn Minh, Dương Chấn Cơ, Dương Chấn Đạc, Dương Chấn Quốc, ông còn truyền cho các đệ tử nhập môn Trần Nguyệt Pha, Diêm Trọng Khôi, Vưu Chí Học, Thôi Nghị Sĩ, Vương Húc Đông, Ngưu Xuân Minh, Lý Xuân Niên, Vương Cảnh Tinh, Trương Khánh Lâm, Quách Tử Vinh, Trần Vi Minh, Khương Đình Tuyên, Lưu Đông Hán, Trương Khâm Lâm, Phó Chung Văn, Vũ Hối Xuyên, Điền Triệu Lân, Đổng Anh Kiệt, Chử Quế Đình, Trịnh Mạn Thanh và những người khác.

Ba đời của một gia đình Phó Chung Văn, Phó Thanh Viễn, Phó Thanh Tuyền đều dốc sức vào sự nghiệp phát triển và truyền bá Thái Cực Quyền. Ông nội Phó Chung Văn tiên sinh (1903–1994) là người huyện Vĩnh Niên, Hà Bắc — quê hương nổi tiếng của Thái Cực Quyền; từ 9 tuổi ông bắt đầu học Dương thức Thái Cực Quyền, đến 14 tuổi theo đến Thượng Hải và lâu dài theo học quyền với Nhất đại Thái Cực tông sư Dương Trừng Phủ. Ông kính trọng sư phụ, siêng năng khổ luyện; thêm nữa vì ông kết hôn với cháu gái bên ngoại của em gái sư phụ Dương, nên ông được sư phụ Dương tin tưởng và truyền chân truyền. Danh gia Thái Cực Quyền Trần Vi Minh tiên sinh gọi ông là "chính tông của Thái Cực Quyền". Khi Dương Trừng Phủ dạy quyền ở Quảng Châu, Nam Kinh, Vu Hồ và những nơi khác, Phó Chung Văn đều biểu diễn tại chỗ, và thay Dương Trừng Phủ ra tỉ thí, liên tiếp giành thắng lợi. Để phát dương quang đại Thái Cực Quyền, cổ xúy võ thuật truyền thống dân gian nhằm chấn hưng dân tâm, cường thân cứu quốc, Phó Chung Văn với sự giúp đỡ to lớn của các tiên sinh Hoàng Diên Phương, Mã Công Ngu, Hoàng Cảnh Ngoan đã sáng lập Thượng Hải Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Xã vào ngày 1 tháng 10 năm 1944. Sau khi Tân Trung Quốc thành lập, Phó Chung Văn tích cực tham gia các hoạt động xã hội về Thái Cực Quyền; năm 1956 ở Bắc Kinh giữ chức trọng tài cuộc thi võ thuật toàn quốc mười hai tỉnh thành, trong thời gian công tác được đồng chí Hạ Long, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, tiếp kiến và khích lệ thân tình; năm 1958 ông trở thành một trong những huấn luyện viên đầu tiên của đội võ thuật Thượng Hải, đóng góp to lớn vào việc đào tạo vận động viên võ thuật của Thượng Hải, đồng thời dẫn dắt đội võ thuật đạt thành tích xuất sắc trong mọi cuộc thi võ thuật toàn quốc. Năm 1972, Đại học Đồng Tế mời Phó Chung Văn và Phó Thanh Viễn đến giảng dạy Dương thức Thái Cực Quyền, đồng thời phối hợp với Viện Nghiên cứu Khoa học Thể dục Thượng Hải, Viện Nghiên cứu Cao huyết áp Thượng Hải, Bệnh viện Hoa Sơn và các đơn vị nghiên cứu khoa học khác tiến hành trắc nghiệm khoa học về chức năng bảo vệ sức khỏe và trị bệnh của Dương thức Thái Cực Quyền. Nghiên cứu chứng minh rằng luyện tập Dương thức Thái Cực Quyền kết hợp với điều trị bằng thuốc là phương pháp hiệu quả để rèn luyện sức khỏe, phòng bệnh và trị các bệnh mạn tính như cao huyết áp, bệnh mạch vành, viêm khớp, bệnh dạ dày ruột và suy nhược thần kinh; nó còn cải thiện chức năng tim phổi, tăng cường sức lực, khiến người luyện tập tràn đầy tinh lực, nâng cao hiệu suất học tập và làm việc. Thành quả nghiên cứu này thu hút sự coi trọng của Ủy ban Thể dục Thể thao Nhà nước và sự quan tâm của quốc tế; Nhật Bản, Đức, Thái Lan… đều có người đến tìm hiểu thành quả này. Trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", Phó Chung Văn tiên sinh bị bức hại; năm 1979 ông được phục hồi danh dự và được bầu làm Phó chủ tịch Hội Võ thuật Thượng Hải. Về những năm cuối đời, ông vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội của Thái Cực Quyền. Năm 1984 ông được bình chọn là "Mười ba danh gia Thái Cực Quyền toàn quốc"; từ 1991 đến 1993 ông giúp tổ chức và dẫn đoàn tham dự Đại hội Giao lưu Hữu nghị Thái Cực Quyền Quốc tế Vĩnh Niên Trung Quốc lần thứ nhất và thứ hai. Năm 1994, ở tuổi 91, ông được mời thăm Hoa Kỳ và được hoan nghênh nhiệt liệt; ông cũng từng lần lượt đến thăm và giảng dạy ở Singapore, Nhật Bản, Úc, Đức, Ý, Thụy Sĩ và các nước khác, mạnh mẽ thúc đẩy việc truyền bá Thái Cực Quyền trên phạm vi thế giới. Ngày 25 tháng 9 năm 1994, Chương Một — Lược sử Dương thức Thái Cực Quyền, trang sách 5

Phó Chung Văn tiên sinh không may bệnh mất tại Thượng Hải, hưởng thọ 91 tuổi.

Phó Thanh Viễn tiên sinh (1931– ) thấu hiểu chân truyền của cha, là một bậc Thái Cực Quyền đại sư có uy vọng khá cao trong và ngoài nước. Phó Thanh Viễn tiên sinh từ 9 tuổi theo cha học quyền, trước giải phóng đã giúp cha quảng bá Dương thức Thái Cực Quyền. Sau khi Tân Trung Quốc thành lập, ông tham gia lớp tu nghiệp cán bộ thể dục Thượng Hải, trở thành huấn luyện viên võ thuật đầu tiên của Trường Thể thao Thượng Hải, từng được mời đến giảng dạy quyền tại các trường đại học Đồng Tế, Phục Đán. Trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" ông từng bị đưa xuống lao động ở nhà máy, sau đó trở về trường đại học tiếp tục làm công tác giảng dạy võ thuật thể dục cho đến khi nghỉ hưu. Giữa thập niên 80, theo lời mời của những người yêu thích Thái Cực Quyền và những người hữu quan ở Úc, ông vượt đại dương, truyền dạy Dương thức Thái Cực Quyền ở nhiều nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, sau đó định cư tại Úc. Hiện nay tuy đã ở tuổi cổ hy, ông vẫn không tiếc sức lực vì sự nghiệp phát triển Thái Cực Quyền. Hiện tại, Phó Thanh Viễn tiên sinh chủ yếu lấy Úc làm nơi đứng chân, hướng tới các nước châu Âu, châu Mỹ quảng bá Dương thức Thái Cực Quyền. Năm 1995, trước sự phát triển nhanh chóng của Thái Cực Quyền trên phạm vi thế giới, Thượng Hải Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Xã vừa tròn 50 năm thành lập đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó, Phó Thanh Viễn tiên sinh trên cơ sở Thượng Hải Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Xã đã sáng lập Thế giới Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Liên minh và giữ chức chủ tịch; năm 1998 ông nhận được Bát đoạn võ thuật Trung Quốc, cùng năm do những cống hiến của ông trong việc phổ cập và phát triển võ thuật Trung Quốc trên trường quốc tế, Hiệp hội Võ thuật Trung Quốc trao tặng ông "Giải thưởng Quảng bá Võ thuật".

Phó Thanh Tuyền tiên sinh (1971– ) từ 6 tuổi theo ông nội và cha luyện quyền, từ nhỏ đã tiếp nhận huấn luyện võ thuật chính quy. Thập niên 80 ông trở thành vận động viên võ thuật chuyên nghiệp, từ 1985 đến 1987 liên tiếp ba khóa giành chức vô địch Dương thức Thái Cực Quyền Thượng Hải; năm 1988 tại cuộc thi Thái Cực Quyền Kiếm toàn quốc giành chức vô địch Thái Cực Kiếm, á quân Dương thức Thái Cực Quyền; năm 1989 đại diện đội tuyển quốc gia tham dự cuộc thi Thái Cực Quyền Trung–Nhật, giành chức vô địch Dương thức Thái Cực Quyền. Cùng năm ông theo cha sang định cư tại Úc, sáng lập Phó Thanh Viễn Quốc tế Thái Cực Quyền Học viện, từ 1995 giữ chức Phó chủ tịch Thế giới Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Liên minh. Vì ông nội qua đời, Phó Thanh Tuyền tiên sinh từ năm 1997 đã từ bỏ điều kiện sống ưu việt và thù lao cao ở nước ngoài, về nước tiếp tục sự nghiệp Thái Cực Quyền mà ông nội chưa hoàn thành. Năm 1998 ông nhận được Lục đoạn võ thuật Trung Quốc. Hiện nay ông đứng chân trong nước, hướng tới các nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Nhật Bản để quảng bá Dương thức Thái Cực Quyền.

Động tác Thái Cực Quyền của Phó Thanh Tuyền tiên sinh quy phạm, nhẹ nhàng tự nhiên, hình thần kiêm bị, giàu mỹ cảm, thấu hiểu tinh túy của Thái Cực Quyền, có mỹ danh "Thái Cực thiếu soái". Ông không chỉ quyền nghệ siêu quần mà còn có một bộ phương pháp giảng dạy mang đặc sắc rõ rệt. Trong giảng dạy ông đặc biệt giỏi kết hợp lý luận và thực tiễn của Thái Cực Quyền, mạch lạc rõ ràng, hình tượng sinh động, thú vị dí dỏm, khiến người ta có thể nhập môn Thái Cực Quyền một cách nhẹ nhàng vui vẻ. Ông kế thừa gia huấn, lạc quan khoáng đạt, giải nghi giải hoặc, cơ trí luyện đạt, thể hiện phong phạm của một thế hệ Thái Cực danh gia mới. Ông đã dạy quyền nhiều năm trong nước và ở Úc, Nhật Bản và các nước khác, đều đạt thành công to lớn. Năm 1999 Đài Truyền hình Trung ương phát sóng loạt phim giảng dạy Dương thức Thái Cực Quyền, Kiếm, Đao, Thôi Thủ do ông trình bày, phản hồi nồng nhiệt. Từ con người Phó Thanh Tuyền tiên sinh, chúng ta nhìn thấy tiền cảnh tươi đẹp của sự nghiệp Thái Cực Quyền phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 21.

Nhìn lại lịch sử phát triển của Dương thức Thái Cực Quyền, tốc độ và phạm vi lưu truyền của nó là chưa từng có. Điều này cho thấy Dương thức Thái Cực Quyền quả thực là một phương pháp tốt để phòng bệnh, tăng cường sức khỏe, là hình thức thể dục được quần chúng nhân dân yêu thích và vô cùng giàu sức sống. Có thể tin rằng, với sự nỗ lực chung và không ngừng giao lưu của đông đảo người yêu thích Thái Cực Quyền, Chương Một — Lược sử Dương thức Thái Cực Quyền, trang sách 6

Dương thức Thái Cực Quyền nhất định sẽ trở thành một môn thể thao mang tính quốc tế, đóng góp to lớn hơn nữa cho văn hóa thể dục của nhân dân các nước trên thế giới.

Chương Hai — Phân tích chi tiết phương pháp dạy và luyện động tác Dương thức Thái Cực Quyền, trang sách 7

Chương Hai Phân tích chi tiết phương pháp dạy và luyện động tác Dương thức Thái Cực Quyền

Phần 49

Trang sách 325

Thuyết minh về hình ảnh trong sách

Thuyết minh về hình ảnh trong sách

1. Các ảnh động tác in trong phần yếu lĩnh động tác của Chương Hai đều dùng ảnh quyền của Phó Thanh Tuyền.

2. Để tiện cho bạn đọc xem hình đối chiếu phương hướng của tư thế, phương hướng động tác trong hình ảnh của sách này được định như sau: hướng về phía bạn đọc tức là hướng nam, lưng về phía bạn đọc tức là hướng bắc, bên tay phải của người trong hình khi hướng về bạn đọc tức là hướng tây, bên tay trái của người trong hình hướng về bạn đọc tức là hướng đông. Sau khi đã thuần thục, hoặc khi sân bãi không cho phép, có thể tùy chọn phương hướng bắt đầu, không nhất thiết phải bắt đầu bằng tư thế đứng hướng về nam.

3. Để giúp bạn đọc hiểu toàn bộ quá trình di chuyển tay chân của động tác, cũng như sự phối hợp giữa tay chân với thân mình, sách này đã tăng thêm hình ảnh, khiến đường di chuyển và sự phối hợp của tay chân ở các giai đoạn của toàn bộ động tác được rõ ràng hơn.

4. Một số hình ảnh động tác để cầu sự liên tục thường sẽ tạo thành tư thế lưng quay về hoặc nghiêng về phía bạn đọc; vì vậy sách này đã tăng thêm hình chính diện, hình nghiêng để tham khảo khi luyện quyền.

5. Một số động tác khá phức tạp, quá trình động tác không dễ nắm rõ, sách này đã tăng thêm hình ảnh để giúp hiểu.

Động tác lặp lại giúp người học hiểu được quá trình động tác khi cùng một động tác được nối kết trước sau khác nhau. Ví dụ, Lãm Tước Vĩ có sự khác nhau giữa cách nối có tả bằng và không có tả bằng; Tả Lâu Tất Ảo Bộ nối Tiến Bộ Ban Lan Chùy và Phiên Thân Phiết Thân Chùy, khi nối Tiến Bộ Ban Lan Chùy có động tác quá độ trọng tâm chuyển ra sau, tay trái chìm xuống, quyền phải duỗi ra trước, và động tác không có quá độ ấy Chương Hai, Thế thứ nhất — Dự Bị Thức, trang sách 8

— vân vân, khiến người học trong luyện tập có thể cảm nhận được rằng khi cùng một động tác (thế) được nối kết với các động tác (thế) khác nhau, thì cách nối kết cũng khác nhau.

Thế thứ nhất Dự Bị Thức
1. Quá trình động tác

Thân thể đứng tự nhiên, hai chân cách nhau bằng vai, hai mũi chân hướng về trước (song song), hai cánh tay buông tự nhiên, trầm kiên thùy trửu (vai chìm, cùi chỏ buông). Đầu phải ngay thẳng, trong ý thức phải có đỉnh kình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước (lấy tư thế đứng hướng nam làm chuẩn), tùng tĩnh tự nhiên (xem Hình 1).

2. Yếu lĩnh

1. Phải "hư linh đỉnh kình", "hàm hung bạt bối", "vĩ lư trung chính", "khí trầm đan điền", toàn thân thư giãn.

2. Hai cánh tay phải thư giãn buông tự nhiên, khớp vai thư giãn, các ngón tay tự nhiên hơi cong.

3. Trọng tâm thân thể rơi đều trên hai chân, làm được "lập thân trung chính an thư" (đứng thân ngay chính, an nhiên thoải mái).

4. Tâm phải tĩnh, tư tưởng phải tập trung.

3. Yêu cầu

1. Thân thể đoan chính tự nhiên, không được ưỡn ngực, phình bụng, cúi đầu, ngả người về trước, cong lưng, nhô mông; từ đỉnh đầu đến xương cùng phải thẳng đứng, toàn thân thư giãn tự nhiên, không có chỗ nào căng cứng.

2. Huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu nhẹ nhàng nâng lên trên (trên đỉnh đầu như có một sợi dây treo kéo lên), khiến đầu tự nhiên thẳng đứng, phòng ngừa ngả trước ngửa sau, nghiêng trái lệch phải; đỉnh kình phải như có như không, không được cứng nhắc đẩy lên trên.

3. Môi khép tự nhiên, đầu lưỡi nhẹ nhàng cuốn lên, nhẹ chạm vòm miệng trên. Hô hấp tự nhiên, dần dần yêu cầu có thể làm được hô hấp bụng. Ánh mắt nhìn thẳng xa, tâm thần chuyên nhất.

4. Thân dưới vững chắc, thân trên nhẹ nhàng linh hoạt.

4. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: ngẩng đầu, cúi đầu, nghiêng đầu, cơ cổ căng.

(Thế thứ nhất — Dự Bị Thức, trang sách 9)

— vân vân. Chủ yếu là do cổ dùng sức quá mức hoặc dùng sức không đúng, mắt nhìn lên, xuống hoặc nhìn nghiêng. Sửa: ① cổ thư giãn tự nhiên. ② mắt phải nhìn thẳng. ③ cằm hơi thu vào trong.

2. Lỗi: ưỡn ngực. Chủ yếu là do thư giãn chưa đủ, vai căng về phía sau và dùng cách thở ngực; không hàm hung thì trong kỹ kích khó hóa giải. Về mặt rèn luyện sức khỏe, ưỡn ngực khiến thân trên cứng đờ, hoạt động của cơ hô hấp bị hạn chế. Sửa: ① hai vai thư giãn hơi hướng về trước khép lại, hai cánh tay buông tự nhiên. ② tiến hành hô hấp tự nhiên.

3. Lỗi: lõm ngực. Chủ yếu là do theo đuổi hàm hung quá mức. Sửa: hai vai không được đưa về trước quá nhiều, cũng không được phình bụng.

4. Lỗi: gù lưng. Chủ yếu là do "bạt bối" không đúng. Điều này sẽ bất lợi cho "quyển kình" và "phóng kình". Sửa: vị trí cao nhất ở giữa lưng, từ đốt sống ngực thứ nhất đến thứ tư, trong ý thức thì trống lên và nâng lên, hơi kéo về phía sau trên, chứ không phải cố ý gù lưng.

5. Lỗi: đứng chân hình chữ bát (bàn chân chếch ra ngoài). Chủ yếu là do dùng cách đứng thoải mái thường ngày. Sửa: hai chân song song. Chân thẳng nhưng cơ không căng chặt, tức là không đứng "chết"; phải trong hư có thực, trong thực có hư.

6. Lỗi: hai cánh tay kẹp chặt. Chủ yếu là do cơ vai và cánh tay quá căng, vai chưa mở. Sửa: dưới nách phải mở ra, phải để một khoảng trống bằng nắm tay; như vậy có lợi cho sự thông suốt của động mạch nách, tĩnh mạch nách và các dây thần kinh giữa, trụ, quay dưới nách, có lợi cho việc cung cấp máu và chi phối thần kinh của toàn bộ chi trên.

7. Lỗi: tư tưởng phân tán hoặc chuyên chú vào một điểm. Chủ yếu là do người mới học khó tập trung chú ý hoặc phân tâm vào một động tác cục bộ nào đó. Sửa: trước coi trọng hình, sau coi trọng ý, rồi "đầu tiên ý động, kế đó hình động", cho đến khi trong ngoài hợp nhất; lâu dần công phu sâu, thì có thể dần đạt tới giai đoạn cao thâm của Thái Cực Quyền là "không ở hình thức mà ở khí thế, không ở bên ngoài mà ở bên trong" và "trọng ý bất trọng hình".

5. Cách dạy và cách luyện tập

1. Lặp lại động tác hai chân mở sang trái phải. Cảm nhận vị trí, phương hướng của bàn chân và sự tùng tĩnh của thân thể.

2. Kiểm tra từ trên xuống dưới các yêu cầu đúng của đầu, vai, tay, ngực, bụng, mông, chân. Người luyện tập tự kiểm tra từng mục, giáo viên kiểm tra từ phía trước, (Thế thứ nhất / Thế thứ hai, trang sách 10)

phía bên, phía sau các hướng để quan sát, phát hiện vấn đề thì sửa chữa.

3. Sau khi đứng thư giãn, tiến hành vài lần hô hấp tự nhiên, cảm nhận sâu, dài, nhỏ, đều, chậm; phải dần cảm nhận "dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại" (dùng khí vận hành thân thể, khiến mọi thứ thuận lợi hanh thông).

4. Giáo viên trước tiên phải giúp người luyện tập xây dựng khái niệm động tác. Giảng giải yếu lĩnh, yêu cầu của tư thế đứng, để họ hiểu Dự Bị Thức là nhằm khiến tư tưởng, tinh thần, thân thể bước vào trạng thái luyện Thái Cực Quyền, loại bỏ tạp niệm — tức là tạm thời không nghĩ đến những việc thường ngày nghĩ quá nhiều, một lòng một dạ dốc vào luyện tập, khiến vỏ não được nghỉ ngơi xen kẽ. Đứng ở vị trí thoải mái hợp lý, toàn thân thư giãn để khí huyết lưu thông.

5. Phải dùng cách dạy gợi mở, khơi dậy tính tích cực học tập của người luyện tập.

6. Hô hấp

Người học nên dùng phương pháp hô hấp tự nhiên.

7. Phân tích kỹ thuật

Dự Bị Thức như tên gọi là tư thế chuẩn bị tốt trước khi luyện quyền. Nó yêu cầu khi bắt đầu luyện quyền, trước tiên phải đứng tốt một tư thế tự nhiên, đạt được "tâm tĩnh", "dụng ý", "thể tùng", "thân chính"; phải luyện ý, thân, khí cùng nhau. Khi luyện phải tĩnh, thư giãn, khí huyết lưu thông, đồng thời chú ý hô hấp. Hô hấp của Thái Cực Quyền bắt nguồn từ thuật đạo dẫn và thuật thổ nạp có lịch sử lâu đời, khiến động tác và hô hấp phối hợp tự nhiên, làm được "thần hình hợp nhất"; còn yêu cầu tư thế các bộ phận thân thể chính xác. Vì vậy, không thể coi Dự Bị Thức là động tác đứng thông thường đơn giản; phải sâu sắc cảm nhận cách luyện trong ngoài hợp nhất, tuyệt đối không được xem nhẹ.

Phần 50

Trang sách 326

Thế thứ hai Khởi Thế

Thế thứ hai Khởi Thế
1. Cách dùng

Khởi Thế là tư thế của động tác chuẩn bị trong Thái Cực Quyền. Khi đứng, đầu phải ngay thẳng, trong ý thức phải hàm chứa đỉnh kình, mắt nhìn thẳng về phía trước, hàm hung bạt bối, không được ngả trước ngửa sau. Phải trầm kiên thùy trửu, các đầu ngón tay hướng về trước, lòng bàn tay hướng xuống, tùng yêu khóa, hai mũi chân chính hướng về phía trước đặt thẳng, song song mở (Thế thứ hai — Khởi Thế, trang sách 11)

图 2
图 2
Hai cánh tay từ trước thân từ từ nâng lên, các ngón tay tự nhiên hơi xòe, lòng bàn tay hướng xuống, khoảng cách ngang với vai.
图 3
图 3
Khi hai tay nâng đến khoảng ngang vai, trước tiên trầm kiên (chìm vai), sau đó lấy cùi chỏ dẫn cánh tay, tọa uyển (ngồi cổ tay) ấn xuống, vừa ấn xuống vừa thu vào trong.
图 4
图 4
Khi hai cánh tay sắp thẳng nhưng chưa thẳng, tọa uyển, cùi chỏ buông xuống, hai lòng bàn tay dừng ở phía trước bên cạnh hai hông, gốc bàn tay hơi trước đường trục giữa thân.

ra, rộng bằng vai. Đặc biệt phải chú ý tinh thần nội cố, khí trầm đan điền, thuận theo tự nhiên, không được gượng ép. Giữ tĩnh của ta để chờ động của người, như vậy mới có thể trong ngoài hợp nhất, thể dụng kiêm toàn. Rất nhiều người rất dễ bỏ qua Khởi Thế, không biết đây chính là gốc rễ của cách luyện và cách dùng. Mong người học trước hết phải chú trọng luyện tốt động tác này.

2. Quá trình động tác

1. Hai tay từ trước thân từ từ nâng lên, hai đầu ngón tay hướng về trước, các ngón tay tự nhiên hơi xòe, lòng bàn tay hướng xuống, khoảng cách ngang với vai (xem Hình 2).

2. Khi hai tay nâng đến khoảng ngang vai, trước tiên trầm kiên, sau đó lấy cùi chỏ dẫn cánh tay tọa uyển ấn xuống, vừa ấn xuống vừa thu vào trong (xem Hình 3).

3. Ấn xuống đến khi hai cánh tay sắp thẳng nhưng chưa thẳng (thành hình cung) thì tọa uyển, cùi chỏ buông xuống, các ngón tay vẫn hướng về trước, lòng bàn tay hơi nghiêng vào phía trong bên hông, nhưng cơ bản hướng xuống song song với mặt đất, dừng ở phía trước bên cạnh hai hông, gốc bàn tay hơi trước đường trục giữa thân (xem Hình 4).

4. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

3. Yếu lĩnh

1. Sau khi Dự Bị Thức hợp yêu cầu mới làm "Khởi Thế".

2. "Trước ở tâm, sau ở thân": khi nâng tay trước tiên phải ý thức được nâng như thế nào, rồi mới từ từ nâng lên. Trước tiên đặt sự chú ý vào việc nâng cổ tay, phải dùng ý vận hành cánh tay, dùng khí quán đến các ngón tay, phải cầu tĩnh trong động, tập trung chú ý vào động tác.

3. Tinh thần nội cố, khí trầm đan điền, động tác tự nhiên, không được gượng cứng.

4. Các đốt xương của hai cánh tay đều phải mở ra, vai phải tùng trầm, cùi chỏ phải buông xuống, phải tọa uyển, bàn tay phải hơi duỗi, các ngón tay hơi cong, lòng bàn tay tự nhiên lõm vào hơi cong; như vậy ngày tháng tích lũy, nội kình từ chân mà đến cẳng chân, mà đến eo, hình thành ở các ngón tay; theo cách luyện đúng này nội kình tự sinh.

5. Tùng yêu khóa.

6. Khi ấn xuống phải lấy vai dẫn cùi chỏ, lấy cùi chỏ dẫn tay.

4. Yêu cầu

1. Khi ấn xuống, đầu cùi chỏ (xương ưng chuỷ) luôn hướng xuống. (Thế thứ hai — Khởi Thế, trang sách 12)

2. Đường di chuyển của tay là vừa thu vào vừa chìm xuống.

3. Bàn tay không phải di chuyển lên xuống hoàn toàn theo mặt phẳng ngang, mà hai lòng bàn tay phải hơi nghiêng vào trong, mu bàn tay hơi nghiêng ra ngoài.

4. Chỗ nách phải để dư địa, không được kẹp chặt.

5. Đầu, ngực, bụng, chân giữ tự nhiên.

6. Cánh tay phải nhẹ nhàng linh hoạt tròn đầy, nhưng lại vô cùng mềm mại và nặng chìm, không được phù phiêu (bay bổng).

7. Người luyện tập thông thường thường không coi trọng "Khởi Thế" đơn giản, nhưng muốn cho bài quyền này có khởi đầu tốt, thì phải cầu luyện tốt động tác này.

5. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: khi nâng tay lên thì nâng vai. Nguyên nhân chính là vai căng. Sửa: vai phải tùng trầm, phải lấy vai dẫn cùi chỏ, lấy cùi chỏ dẫn tay.

2. Lỗi: khi ấn xuống, đầu cùi chỏ (xương ưng chuỷ) hướng ra hai bên nâng ngang. Nguyên nhân chủ yếu là gập cùi chỏ ra ngoài, hai lòng bàn tay ấn xuống hoàn toàn theo mặt phẳng ngang. Sửa: hai lòng bàn tay hơi nghiêng vào trong, cẳng tay hơi xoay ra ngoài, hai đầu cùi chỏ hướng thẳng xuống dưới.

3. Lỗi: đường di chuyển của tay không đúng. Nguyên nhân chính là khi ấn xuống không lấy cùi chỏ dẫn tay. Biểu hiện: ① cánh tay duỗi thẳng ấn xuống. ② lòng bàn tay trước tiên thu vào theo mặt phẳng ngang, rồi ấn thẳng xuống. ③ trước tiên xuống, rồi thu vào. Sửa: vừa thu vào vừa ấn xuống.

4. Lỗi: không tọa uyển. Nguyên nhân chính là kình ở lòng bàn tay chứ không ở cổ tay. Sửa: cùi chỏ vừa xuống thì lập tức tọa uyển, giữ luôn như vậy ấn xuống cho đến khi cánh tay sắp thẳng.

5. Lỗi: hai cánh tay và tay quá thư giãn, phù phiêu vô lực, gọi là "phiêu". Nguyên nhân chính là chưa nắm được nội kình từ chân mà đến cẳng chân, mà đến eo, hình thành ở các ngón tay, ý chưa nội cố. Sửa: khi nâng ra trước, cổ tay không buông lỏng rũ xuống; khi ấn xuống thì tọa uyển.

6. Lỗi: khi ấn xuống, tay chưa đặt đúng vị trí đã làm động tác tiếp theo — Lãm Tước Vĩ. Chủ yếu là do không có khái niệm động tác hoàn chỉnh. Sửa: hai tay phải từ từ chìm xuống đến khi cánh tay sắp thẳng nhưng chưa thẳng, mới tiếp làm Lãm Tước Vĩ.

6. Cách dạy và cách luyện tập

(Thế thứ hai — Khởi Thế, trang sách 13)

1. Giảng giải "nhất nhiệm tự nhiên" và "thủ ngã chi tĩnh": không được có sự cứng đờ của bất cứ cơ bắp, khớp xương nào; sự chú ý phải tập trung, và yêu cầu trong ngoài hợp nhất, lấy ý dẫn động tác.

2. Biểu diễn chính diện độ rộng và độ cao của cánh tay; biểu diễn nghiêng đường di chuyển của tay và động tác của cùi chỏ.

3. Giáo viên quan sát các chi tiết của động tác ở chính diện và nghiêng, đặc biệt chú ý "tùng" (thư giãn).

4. Sau khi luyện động tác hoàn chỉnh thì luyện phân giải. Trước tiên hai cánh tay nâng ngang ra trước, rồi ấn xuống (tập trung tinh lực cải tiến động tác cùi chỏ, cổ tay), cuối cùng làm động tác hoàn chỉnh.

5. Nếu số người luyện tập quá đông, giáo viên không thể sửa từng người một, có thể cho hàng thứ nhất luyện, hàng thứ hai xem; hàng thứ hai luyện, hàng thứ nhất xem rồi đổi cho nhau, khiến người luyện tập vừa giúp người khác, nêu kết quả quan sát của mình (những khuyết điểm tồn tại), vừa nhờ sự giúp đỡ của người khác mà hiểu rõ sai lầm khuyết điểm của mình để so sánh cải tiến.

6. Giáo viên nêu ra động tác sai điển hình, biểu diễn và giảng giải trọng điểm, sau đó mới biểu diễn và giảng giải động tác đúng.

7. Người luyện tập phải kiên nhẫn học, chú ý cải tiến chi tiết. Trước tiên chú ý cải tiến động tác nâng ra trước: không nâng vai, đầu cùi chỏ (xương ưng chuỷ) hướng xuống, lòng bàn tay nghiêng vào trong. Sau đó chú ý động tác ấn xuống: lấy cùi chỏ dẫn cổ tay, cùi chỏ chìm xuống, cổ tay dựng lên, vừa thu vào trong vừa hướng xuống. Hai tay ấn đến khi gốc bàn tay ở vị trí hơi trước đường trục giữa thân (phía ngoài bẹn).

8. Cuối cùng làm động tác chỉnh thể liên tục nâng lên ấn xuống.

7. Hô hấp

Lấy hô hấp tự nhiên là tốt nhất, đặc biệt người mới học càng phải chú ý; nếu hô hấp không thuận, hình thành nín thở, trái lại bất lợi cho sức khỏe.

8. Phân tích kỹ thuật

1. Khởi Thế tuy là động tác chuẩn bị, nhưng ngay từ đầu đã yêu cầu khác biệt với các môn quyền khác, yêu cầu làm tốt nhất nhiệm tự nhiên, không được gượng ép, tập trung tư tưởng luyện quyền.

2. Phải chú ý trong ngoài hợp nhất, thể dụng kiêm bị, khiến hệ thần kinh được điều chỉnh, phối hợp, kinh lạc, huyết quản thông suốt, cơ bắp, khớp xương được vận động, tăng cường sức khỏe, phòng trị bệnh tật. Cách dùng của nó là giữ (Thế thứ hai / Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 14)

图 5A
图 5A
Mũi chân phải xoay ra ngoài, trọng tâm chuyển sang chân phải, thân thể xoay sang phải, chân phải gập gối hơi ngồi xuống, chân trái gập gối nâng lên, hai tay phủ chưởng theo eo xoay đưa sang bên phải.
图 5B
图 5B
Tay phải nâng lên theo hình cung, qua trước bụng, sang phải, ra ngoài, rồi hướng về trước ngực mài một vòng nhỏ trở về, lòng bàn tay vẫn hướng xuống; tay trái qua trước bụng di chuyển hình cung sang phải, dần dần lật thành lập chưởng hơi ngửa.

tĩnh của ta, chờ động của người; luyện lâu ngày dần đạt được "nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân" (người không biết ta, chỉ ta biết người). "Động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy" (động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm). Vì vậy, sự thư giãn các bộ phận thân thể và tinh thần nội cố trở nên vô cùng quan trọng.

Phần 51

Trang sách 328

Thế thứ ba Lãm Tước Vĩ

Thế thứ ba Lãm Tước Vĩ

Lãm Tước Vĩ là tổng thủ của Thái Cực Quyền, thể dụng kiêm toàn. Khi thôi thủ yêu cầu triêm liên niêm tùy, vãng phục bất ly bất đoạn; dùng đuôi chim sẻ để ví cánh tay, và lấy nó làm tên gọi chung là Lãm Tước Vĩ. Phương pháp của nó có bốn loại, gọi là bằng, lữ, tễ, án (bồng, lữ, tễ, án), cũng gọi là tứ chính thủ.

(Giáp) Tả Bằng (Bồng trái)

1. Cách dùng Từ Khởi Thế.

Nếu đối phương từ đối diện dùng tay trái đánh vào ngực ta, ta mở chân phải sang bên phải và tọa thực, theo đó nâng chân trái bước tới một bước, gập gối tọa thực, chân phải duỗi thẳng, thành tả cung bộ trái thực phải hư. Đồng thời, nâng tay trái lên trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong, đầu cùi chỏ hơi buông, dùng cổ tay trái của ta dán vào giữa cùi chỏ và cổ tay của đối phương, dùng hoành kình bồng lên phía trước trên (không được cứng nhắc phẳng thẳng). Như vậy, lực của đối phương đã bị ta dẫn động, vị trí của hắn cũng tự nhiên không vững nữa.

2. Quá trình động tác

1. Mũi chân phải xoay ra ngoài khoảng 45°, đồng thời trọng tâm chuyển sang chân phải; chân phải gập gối hơi ngồi xuống, thân thể xoay sang phải khoảng 45°; chân trái gập gối nâng lên, hai tay phủ chưởng theo eo xoay đưa sang phải, tay phải nâng lên theo hình cung (tay phải cao tay trái thấp), tay phải qua trước bụng trên, sang phải, ra ngoài, rồi hướng về trước ngực mài một vòng nhỏ trở về, lòng bàn tay vẫn hướng xuống. Tay trái qua trước bụng di chuyển hình cung sang phải, dần dần lật thành lập chưởng hơi ngửa, lòng bàn tay hướng vào trong, đến trước tay phải thì hợp lại, hai cánh tay thành hình cung, cùi chỏ hơi buông thấp hơn cổ tay một chút, mắt theo thân dịch chuyển nhìn chéo về phía trước (xem Hình 5A, Hình 5B).

2. Chân phải tiếp tục hơi ngồi xuống tọa thực, chân trái bước ra phía bên trái (về hướng nam) một bước, gót chân chạm đất trước, mũi chân nghiêng vào trong khoảng 45° (mũi chân hướng tây nam, mũi chân trái và gót chân phải trên một đường thẳng), trọng tâm chuyển sang trái, thành tả cung bộ tọa thực. Khi chân trái bước ra thân trên hơi hướng (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 15)

图 6
图 6
Cẳng tay trái theo thân thể bồng ra hình cung lên trên sang trái; lòng bàn tay phải theo hình cung xuống dưới sang phải, thái đến hơi cao hơn hông; mặt hướng tây, mắt nhìn thẳng về phía trước (tây).
图 7
图 7
Trọng tâm toàn bộ chuyển sang chân trái, chân phải gập gối nâng lên; cùi chỏ trái lui về phía sau dưới một chút, lòng bàn tay trái chuyển xuống bên trái trước ngực; cánh tay phải theo hình cung móc sang trái đến trước bụng, cánh tay phải xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay lật hướng vào trong nghiêng lên trên.
图 8
图 8
Thân thể hơi xoay sang phải, chân phải bước tới, gót chân chạm đất trước, cung chân phải đạp chân trái thành hữu cung bộ, cánh tay phải đẩy ra trước lên trên, điểm lực đặt ở mu cổ tay.

sang trái; sau khi chân trái chạm đất, thân trên dần dần xoay sang phải. Đồng thời, cẳng tay trái theo thân pháp bồng ra hình cung lên trên sang trái trước, lòng bàn tay trái cao ngang vai, cổ tay hơi gập vào trong, điểm lực đặt ở mu cổ tay, lòng bàn tay hơi nghiêng lên trên. Lòng bàn tay phải theo hình cung xuống dưới sang phải thái đến hơi cao hơn hông, lòng bàn tay hướng xuống, các ngón tay hướng về trước, tọa uyển, điểm lực đặt ở phía ngoài gốc bàn tay. Lúc này, mặt hướng tây, mắt nhìn thẳng về phía trước (tây), nhưng phải quan tâm đến hai tay (xem Hình 6).

(Ất) Hữu Bằng (Bồng phải)

1. Quá trình động tác

1. Trọng tâm dần dần toàn bộ chuyển sang chân trái, lấy eo dẫn thân thể hơi xoay sang trái, chân phải gập gối nâng lên; cùng lúc với chuyển thân, cùi chỏ trái lui về phía sau dưới một chút, tự nhiên dẫn lòng bàn tay trái chuyển xuống bên trái trước ngực; theo đà chuyển xuống, cánh tay trái xoay vào trong, dựng chưởng, lòng bàn tay hướng về trước, ánh mắt hơi để ý cánh tay trái lui về sau. Đồng thời, cánh tay phải theo hình cung móc sang trái đến trước bụng; theo động tác móc, cánh tay phải xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay lật hướng vào trong nghiêng lên trên; hai cánh tay đều thành hình cung, ánh mắt dần dần chuyển về cánh tay phải, rồi nhìn thẳng về phía trước (tây nam) (xem Hình 7).

2. Thân thể hơi xoay sang phải (mặt hướng tây), chân phải bước tới (tây), gót chân chạm đất trước, tiếp đó trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải cho đến khi toàn bộ đặt vững, cung chân phải đạp chân trái thành hữu cung bộ. Cùng với chuyển thân, cánh tay phải hướng về trước (tây) lên trên, mu bàn tay phải hướng ra ngoài (lòng bàn tay hơi hướng lên trên), cao ngang vai, cùi chỏ hơi thấp hơn bàn tay; lòng bàn tay trái đặt hơi dưới khớp cổ tay, cánh tay phải đẩy ra trước, điểm lực đặt ở mu cổ tay. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải quan tâm đến cẳng tay phải bồng ra phía trước (xem Hình 8, Hình 9).

2. Yếu lĩnh

1. Hai chân phân hư thực, lên xuống như mèo đi. Khi trọng lượng chuyển sang chân trái thì trái thực phải hư; khi chuyển sang chân phải thì phải thực trái hư. Nhưng "hư" không phải "không"; động thế vẫn không nên đứt đoạn, phải để dư địa co duỗi biến hóa bất cứ lúc nào; cái gọi là "thực" không phải dùng sức quá mức. Khi cung bộ, độ cong của chân lấy mức không vượt quá đầu ngón chân làm giới hạn; vượt quá là quá kình. Người mới luyện trước tiên cầu khai triển, sau cầu khẩn thấu.

2. Khi tay trái tả bằng phải vận dụng lực lượng của eo, không được chỉ động tay mà không động eo chân: "chưởng uyển trửu hòa kiên, bối yêu khóa tất cước, thượng hạ (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 16)

图 9A
图 9A
Cánh tay phải đẩy ra trước (tây) lên trên, mu bàn tay phải hướng ra ngoài, cao ngang vai, cùi chỏ hơi thấp hơn bàn tay; lòng bàn tay trái đặt hơi dưới khớp cổ tay.
图 9B
图 9B
Chính diện tư thế định của hữu cung bộ: hai cánh tay thành hình cung, lòng bàn tay phải bồng ra trước, lòng bàn tay trái đặt hơi dưới khớp cổ tay phải.

chín tiết kình, tiết tiết từ trong eo mà phát". Sự vận chuyển của nội kình là thông qua eo lưng dẫn động tứ chi vận chuyển, cho nên quyền luận nói "chủ tể tại yêu" (chủ tể ở eo).

3. Hữu bằng hướng về trước, lòng bàn tay trái là sấn kình (kình hỗ trợ).

4. Động tác phải thành hình cung, không được thẳng tới thẳng lui, nhưng không được làm bộ, không được cố ý làm thành vòng tròn lớn. Phải "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư" (kình lấy cong mà tích trữ nên có dư).

5. Phải "nhất động vô hữu bất động" (một động thì không có gì không động): eo, chân, tay phải cùng động, không được chân động mà tay không động, tay động mà eo không động; cái gọi là trên dưới tương tùy.

6. Bằng kình của Thái Cực Quyền vô cùng quan trọng; khớp vai phải tùng trầm, phải trụy trửu trầm kiên; cánh tay phải vô cùng nhẹ nhàng linh hoạt tròn đầy, nhưng lại vô cùng mềm mại nặng chìm; hai cánh tay phải "tự tùng phi tùng" (như tùng mà phi tùng), "cương nhu nội hàm", giàu bằng kình đàn hồi và dai bền. Luyện lâu ngày sẽ dần hiểu chuyển đổi hư thực, lĩnh hội triêm niêm liên tùy, chất lượng bằng kình cũng dần nâng cao.

7. Phải coi trọng "tọa uyển". Cổ tay không được mềm nhũn vô lực; cổ tay vừa tùng thì mu bàn tay tất nhiên không có bằng kình, dễ bị đối phương bắt lấy cổ tay mà khống chế; nhưng cũng không được dùng chuyết kình (kình vụng).

3. Yêu cầu

1. Mắt chuyển động tới đâu, cổ cũng chuyển động tới đó.

2. Muốn phải trước trái, muốn trái trước phải. Khi bắt đầu làm tả bằng thân thể xoay sang phải, hai tay không nên nâng thẳng sang phải, phải chuyển tròn sang trái trước, nhưng không được cố ý vòng quanh.

3. Hư thực phải rõ. Khi tả bằng bắt đầu, gót chân phải xoay một cái, chân phải liền ngồi xuống làm thực, chân trái nâng lên làm hư. Khi biến đổi phải lưu ý eo chân hông là tiệm biến chứ không phải đột biến; xuất chân phải chậm, thu chân cũng phải chậm. Tả bằng là tả cung bộ, là chân trái thực; khi tiếp hữu bằng thì nâng chân phải lên, rồi từ từ bước ra trước; trước khi gót chân phải chạm đất, trọng tâm không được chuyển ra trước, lúc này chân trái vẫn là chân thực, mới tỏ ra hư thực rõ ràng.

4. Phải coi trọng eo làm chủ tể. Phải lấy eo dẫn động tứ chi, không được cánh tay dịch chuyển mà eo không động; ví dụ khi tả bằng tiếp hữu bằng, phải lấy eo dẫn động tay trái lui về sau.

5. Phải "nhất động vô hữu bất động". Khi tả bằng bắt đầu cánh tay phải hướng (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 17)

trước, sang phải, theo hình cung bên trong vòng đến trước bụng, thì đúng lúc tay trái từ bên trái chuyển đến trước bụng, hai tay vừa khéo hợp lại; không được một tay dừng ở đó mà tay kia vẫn đang di chuyển.

6. Tả bằng và hữu bằng khi định thế đều phải tay đến chân đến, không được chân đã cung mà tay chưa đến vị trí; phải trên dưới tương tùy.

7. Phải "vĩ lư trung chính". Khi tả bằng, thân trên không được ngả sang trái; khi hữu bằng, thân trên không được ngả về trước quá mức.

8. Hữu bằng: khi gót chân phải chạm đất, lòng bàn tay trái liền theo cánh tay phải đẩy ra trước, không được quá muộn quá nhanh, hơn nữa phải khiến gối, chân, eo của chân trái dần dần dùng sức, tiết tiết quán xuyên.

9. Phải khai đang (mở háng); hai chân không được kẹp vào trong tạo thành "tiêm đang" hình chữ nhân.

10. Phải "kiên dữ khóa hợp" (vai và hông hợp), trên dưới nhất trí, hai hông phải đối ứng với hai vai, hướng động nhất trí. Ví dụ tả bằng định thế, vai hướng tây, khớp hông cũng phải hướng tây. Hữu bằng bắt đầu, eo dẫn động tay trái lui về phía sau dưới một chút, lúc đó eo hông xoay về tây nam, vai cũng phải xoay về tây nam, phải (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 18)

Khi bằng hoàn thành, eo hông xoay về hướng tây, vai cũng phải xoay về hướng tây.

11. Hai cánh tay phải viên mãn. Khi bắt đầu tả bằng, hai tay hợp lại phải viên mãn, không được xẹp, và lấy hai cổ tay cơ bản đối nhau làm tốt; cánh tay phải thùy trửu (cùi chỏ thấp hơn cổ tay).

12. Khi cung bộ, gối của chân trước cung nên hơi vượt ra trước đường thẳng đứng, nhưng không được vượt quá đầu ngón chân. Đầu gối và đầu ngón chân phải hướng cùng một phương; lòng bàn chân và gót chân của chân sau đạp phải toàn bộ chạm đất, chân không nên duỗi quá thẳng.

4. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: khi dịch chuyển cánh tay thì cánh tay trên kẹp chặt, sát thân mà di chuyển. Nguyên nhân chính là tùng kiên chưa đủ. Sửa: ngay từ đầu khi vung tay phải mở lỏng hai vai, để khoảng trống dưới nách. Điều này có lợi cho kinh lạc, khí huyết lưu thông.

2. Lỗi: khi bắt đầu tả bằng hai tay hợp lại, cánh tay trái vận hành nhanh, đến vị trí trước và chờ cánh tay phải vòng quanh. Nguyên nhân chính là sự chú ý quá tập trung vào chuyển động của cánh tay phải, bỏ qua việc cánh tay trái chuyển động quá nhanh. Sửa: hai cánh tay di chuyển đều nhau.

3. Lỗi: khi bắt đầu tả bằng hai tay hợp lại, hai tay quá gần thân hoặc hai tay xa rời ngực bụng; quá gần thì hình thành hai cánh tay kẹp chặt chèn ép ngực, quá xa thì khiến động tác "tán". Nguyên nhân chính là hai cánh tay trên dưới không tương tùy, vai và tay không tùy nhau. Sửa: tư thế phải viên mãn, không tản mạn, không teo rút; cổ tay trái phải ở dưới cổ tay phải.

4. Lỗi: khi hai tay hợp lại thì tay động mà eo không động. Nguyên nhân chính là tay không được eo dẫn động. Sửa: tay theo eo xoay.

5. Lỗi: khi tả bằng bước chân trái ra, gót chân chạm đất rất nặng, trọng tâm chuyển ra quá sớm. Nguyên nhân chính là hư thực không rõ, chân phải chưa tọa thực. Sửa: chân phải tọa thực, chân trái khi duỗi ra thì treo lơ lửng, phải lấy chân phải ngồi xuống "tiễn" chân trái chạm đất, làm được bước đi như mèo đi.

6. Lỗi: khi tả bằng, tả cung bộ đã cung ra trước nhưng hai tay vẫn còn di chuyển. Nguyên nhân chính là chưa hiểu sâu yếu lĩnh "nhất động vô hữu bất động". Sửa: phải tay đến chân đến; cùng lúc chân trái cung đến thì cánh tay trái phải bồng ra đến vị trí, như vậy mới hợp yêu cầu. (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 19)

7. Lỗi: khi cung bộ hai chân đặt ngang ngược. Nguyên nhân chính là hai chân đứng trên một đường ngang. Sửa: như tả bằng, chân trái bước ra, phải hơi rơi xuống theo hướng ra sau thân, khiến mũi chân trái và mu bàn chân phải khoảng trên một đường thẳng; khi hữu bằng, chân phải bước ra, phải hơi dịch sang phải rồi rơi xuống, khiến hai chân có khoảng cách ngang nhất định, không đứng trên một đường thẳng.

8. Lỗi: khi tả bằng định thế vị trí hai cánh tay không đúng — tay trái quá cao hoặc quá thấp, tay phải quá sát thân. Nguyên nhân chính là dụng ý không rõ. Sửa: đối phương đánh vào ngực ta. Cổ tay ta dán giữa cổ tay và cùi chỏ của hắn, dùng hoành kình bồng lên trước trên. Vì vậy, độ cao của nó đến khoảng ngang vai là được; cao hơn nữa thì "cửa ngõ" của mình mở ra, bất tiện phòng thủ đòn tấn công tiếp theo của đối phương. Tay phải là phân, là thái; tay quá sát thân thì không có sấn kình; do đó tay phải ở khoảng 30 cm trước hông là tốt.

9. Lỗi: khi bắt đầu hữu bằng, cánh tay trái chưa lui về sau, thân trên chưa hơi xoay sang trái. Nguyên nhân chính là không lấy eo dẫn tay, cổ tay và eo thoát khớp. Sửa: tay động thì trước tiên phải xoay eo, do xoay eo dẫn động tay trái lui về sau; cùi chỏ trái buông xuống, lòng bàn tay trái vừa gạt vừa lật thành dựng chưởng.

10. Lỗi: khi bắt đầu làm hữu bằng, chân trái chưa tọa thực, hình thành trọng tâm chuyển ra trước quá sớm (chân phải chạm đất nặng và nhanh). Nguyên nhân chính là khái niệm hư thực không rõ. Sửa: phải giữ hơi cong ngồi xuống "tiễn" ra, khiến gót chân phải nhẹ nhàng chạm đất, mới tỏ ra nhẹ nhàng linh hoạt.

11. Lỗi: phương hướng lệch chéo — tả bằng không phải hướng đông nam thì cũng là hướng tây nam, hữu bằng không chính hướng tây. Nguyên nhân chính là phương hướng bước chân không chính. Sửa: ta vốn đứng hướng nam, đối phương mặt hướng bắc dùng tay trái đánh vào ngực ta, tả bằng của ta đương nhiên phải hướng nam, chứ không phải đông nam hay tây nam. Tiếp đó đối phương ở phía tây dùng tay trái đánh vào sườn ngực ta, ta bước về phía tây, bồng ra, lâu án; vì vậy phương hướng của hữu bằng phải là chính tây.

12. Lỗi: khi hữu bằng thì nâng cùi chỏ. Nguyên nhân chính là chưa hiểu kình hạ trụy của cùi chỏ. Sửa: nếu cùi chỏ xa rời thân thể, nâng lên chĩa ra ngoài, thì hai sườn lộ ra quá nhiều, trong kỹ kích có hại không lợi. Nhưng lại phải chú ý "trửu bất thiếp lặc" (cùi chỏ không dán sườn).

(Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 20)

13. Lỗi: khi hữu bằng thân trên ngả về trước quá nhiều, đầu đã vượt quá đầu gối. Nguyên nhân chính là không chú ý yêu cầu vĩ lư trung chính. Sửa: phải trên dưới cơ bản một đường thẳng, vai và hông hợp, cùng lúc cùng lui; từ đỉnh đầu, thân mình đến xương cụt, luôn phải cơ bản giữ một đường thẳng; ngả trước ngửa sau đều là khuyết điểm của thân pháp.

5. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giảng giải yếu lĩnh để xây dựng khái niệm, biểu diễn động tác hoàn chỉnh. Chú trọng giảng giải trên cơ sở thư giãn mà làm động tác và phân rõ hư thực.

2. Luyện khéo trước luyện kình, luyện kình trước luyện thuận. Vì vậy, nên dạy trước quá trình động tác, yêu cầu, trước cầu động tác chính xác, sau đó mới luyện phát kình.

3. Khi người luyện tập thử làm, giáo viên quan sát tính chính xác của động tác họ từ mọi phía.

4. Ở chỗ then chốt, giáo viên phải nhắc bằng lời; ví dụ khi một chân bước ra nhưng chưa hạ xuống đất, giáo viên phải nói: chậm — nhẹ — gót hạ xuống đất. Khi thu chân cũng phải nhắc "chậm".

5. Trong giảng dạy bộ pháp, yêu cầu trước tiên xoay chân rồi mới dẫn động hông và bàn chân, sau đó đi theo hình cung tiến lên. Bộ pháp mại hồ (bước hình cung) không được cố ý làm bộ; phải quan sát và cải tiến từng động tác; không được thẳng tới thẳng lui, thẳng lên thẳng xuống.

6. Có thể vận dụng phương pháp so sánh. Mấy chục người cùng luyện, mọi người đều ngồi thực một chân, chân kia bước tới; từ thu chân đến duỗi chân chạm đất, xem ai chậm nhất, nhưng lấy không ngừng trệ làm tốt; cũng có thể 2~3 người quây thành vòng cùng so sánh.

7. Vận dụng phương pháp phân giải để giảng dạy: ① hai tay vung sang phải đồng thời chuyển thân nghiền gót chân phải, chú ý định phương hướng. ② chân phải ngồi xuống nâng chân trái, chuẩn bị bước ra trước trái, chú ý vị trí rơi xuống của chân trái. ③ tay phải vòng vòng lớn, tay trái vòng tròn nhỏ hợp lại, chú ý vị trí tay và đường di chuyển. ④ chân trái bước ngang chạm đất, chú ý phương hướng mũi chân trái. ⑤ tay trái bồng lên, tay phải thái xuống, đồng thời cung chân trái. Dùng trình tự như vậy luyện từng động tác một, khiến người luyện tập dễ hiểu chi tiết động tác; nhưng chỉ luyện phân giải dễ tạo thành không liên tục, cho nên phải dùng phương pháp tăng dần (đệ tăng pháp), tiếp nối từng cái, cho đến hoàn chỉnh.

(Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 21)

8. Phương pháp tăng dần (đệ tăng pháp): các bước như sau: (1) trước tiên làm động tác ①, rồi làm động tác ①②, sau làm động tác ①②③; (2) ở vị trí động tác ③ làm động tác ④, rồi làm động tác ④⑤; (3) cuối cùng làm hoàn chỉnh một động tác "tả bằng".

9. Kết hợp luyện đối với cách dùng: hai người đứng đối mặt (người luyện tập là Giáp, đối thủ là Ất). Giáp — đứng hướng nam; Ất — dùng quyền trái đánh vào ngực Giáp (động tác phải chậm và không dùng sức, để phòng ngừa tai nạn thương tích). Giáp — liền xoay sang phải khoảng 45°, chân phải ngồi xuống, xuất chân trái sang trái, dùng phần cổ tay tay trái dán vào giữa cùi chỏ và cổ tay của tay Ất, dùng hoành kình bồng ra trước trên, tay phải thái xuống (tay Giáp phải dán vào bồng trên, cũng không được đánh mạnh), cảm nhận ý nghĩa kỹ kích của tả bằng. Như vậy, có thể hiểu đúng dụng ý của động tác, và tăng thêm hứng thú của người luyện tập.

10. Luyện tập bổ trợ: ① chân phải gập gối ngồi thực, đầu gối trái từ phía sau trái từ từ đều đặn nâng lên, rồi từ từ bước sang trái, và cung chân trái. Sau đó lui về chỗ cũ, làm luyện tập lặp lại. Để cảm nhận hư thực, tăng cường lực chân. ② chân trái ngồi thực, yêu cầu như trên, chân phải bước tới, cũng làm luyện tập lặp lại.

Các bài luyện tập trên tùy nhu cầu có thể dùng làm bài luyện tăng lượng vận động; số lần lặp lại phải do thể chất của người luyện tập quyết định.

11. Phương pháp trọng điểm: khi mới học, mỗi lần luyện tập theo kế hoạch phải nêu trọng điểm rõ ràng; ví dụ lấy hư thực làm chính, thì phải giảng nhiều nội dung liên quan đến hư thực và luyện nhiều bài tập liên quan đến hư thực. Các yêu cầu khác có thể tạm lướt qua, dần dần làm sâu. Sau khi nắm cơ bản động tác, thì lấy những vấn đề chung nổi cộm hơn làm trọng điểm để giảng và luyện tiếp; tuyệt đối không được vừa giảng cái này vừa làm cái kia; một buổi luyện xong, người luyện tập phần lớn không hiểu, cũng làm không tốt, ảnh hưởng tâm trạng học tập.

12. Người luyện tập phải lặp lại làm động tác xoay thân sang phải khi bắt đầu tả bằng, chân phải ngồi xuống, chân phải thực xoay ra ngoài khoảng 45° (không đến 90°); cho nên cũng phải kiểm tra góc xoay ra ngoài.

13. Lặp lại làm động tác xoay thân sang phải ngồi xuống, hai tay hợp lại, kiểm tra hai tay đến vị trí cùng lúc, vị trí hai tay, thùy trửu v.v.

14. Động tác tả bằng hữu bằng phải chú trọng luyện phân rõ hư thực. Ví dụ khi luyện tả bằng, ngồi thực chân phải, chân trái duỗi ra sang trái, không (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 22)

图 10
图 10
Trọng tâm dần dần chuyển sang chân trái, thân thể thẳng đứng dần dần xoay sang trái, cánh tay trái xoay vào trong khiến lòng bàn tay lật thành nghiêng hướng vào trong, hướng lên trên; cổ tay cánh tay phải hơi duỗi ra trước.
图 11
图 11
Lòng bàn tay phải theo đà lật mà lữ ngang sang trái; hai cùi chỏ từ từ buông xuống, hai lòng bàn tay theo đà lật mà lữ ngang sang trái.

chạm đất rồi lại thu về, lại duỗi ra, luyện tập lặp lại, cảm nhận hư thực (khi hữu bằng cũng vậy). Kết quả của luyện tập như vậy tất nhiên tăng cường lực chân, từ đó thúc đẩy sức khỏe.

15. Lặp lại làm động tác gót chân trái hạ xuống đất, xoay vào trong khoảng 45°, kiểm tra phương hướng chân trái.

16. Lặp lại luyện xuất bộ, chú ý trước tiên thu vào trong một chút gốc hông của bên đang ngồi thực, khiến bụng bên đó sung thực, trọng tâm ổn định. Sau đó, chân kia từ từ bước ra theo hình cung. Nhưng khớp gối phải hơi cong, giữ súc thế và tính linh hoạt.

(Bính) Lữ (Lữ)

1. Cách dùng Ta ở vị trí tả bằng (mặt hướng tây).

Đối phương dùng tay trái đánh vào sườn ngực ta. Ta lập tức thu chân phải bước ra phía trước bên phải (tây), gập gối đặt vững, chân trái chuyển hư, thân thể đồng thời xoay sang phải, mắt theo nhìn thẳng về phía trước; tay trái tay phải đồng thời xoay tròn, xuất động về phía trước bên phải; tay phải ở trước, lòng bàn tay nghiêng hướng vào trong; tay trái ở sau, lòng bàn tay nghiêng hướng vào trong; khi chuyển đến lòng bàn tay phải nghiêng hướng xuống, lòng bàn tay trái hướng lên, nhanh chóng lấy giữa cùi chỏ và cổ tay của cánh tay phải ta, mặt bên (bên trụ) dán vào cánh tay trên bên phải của đối phương, cổ tay trái nghiêng phủ xuống, dùng cổ tay bàn tay niêm dính vào mu cổ tay đối phương, hướng ra ngoài bên trái. Toàn thân ngồi trên chân trái, chân trái thực, chân phải hư. Nếu đối phương tấn công, ta liền hướng về trước ngực, lữ sang bên trái; như vậy, lực gốc của hắn bị nhổ lên, thân thể cũng theo đó mà nghiêng đi.

Biến chiêu: ① nếu đối phương muốn rút tay về, ta liền thừa thế ấn tới trước. ② nếu đối phương dùng kháo (kháo công), ta liền đệm chân trái, chân phải hư bộ (mũi chân chấm đất), hàm hung, dùng tay phải đánh vào vai trái đối phương, khiến hắn ngã ra bên trái.

2. Quá trình động tác

1. Trọng tâm thân thể dần dần chuyển sang chân trái, đồng thời thân thể thẳng đứng dần dần xoay sang trái; cánh tay trái xoay vào trong khiến lòng bàn tay lật thành nghiêng hướng vào trong, hướng lên trên; cổ tay cánh tay phải hơi duỗi ra trước, tức thì xoay ra ngoài, khiến lòng bàn tay phải lật thành nghiêng hướng ra ngoài, hướng xuống; hai cùi chỏ từ từ buông xuống, hai lòng bàn tay theo đà lật mà lữ ngang sang trái (xem Hình 10).

2. Eo tiếp tục hơi xoay sang trái, trọng tâm tiếp tục chuyển sang chân trái, (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 23)

chân trái ngồi thực, thành hữu hư bộ; nhưng hai cánh tay hơi trầm trửu, theo chuyển thân tiếp tục lữ sang trái; lòng bàn tay trái dừng ở trước bụng trên bên trái, lòng bàn tay phải dừng ở trước ngực phải, tay phải hơi cao, tay trái hơi thấp. Ánh mắt khi bắt đầu lữ trái trước tiên quan tâm đến cánh tay phải lữ sang trái; khi sắp kết thúc, ánh mắt hơi quan tâm đến tay trái, rồi dần chuyển nhìn thẳng ra trước (tây lệch nam) (xem Hình 11).

3. Yếu lĩnh

1. Khi lữ, khoảng cách giữa hai tay phải giống như thức lữ trong thôi thủ, tức là tay phải đặt lên cánh tay trên gần cùi chỏ của đối phương, tay trái đặt ở cổ tay đối phương để dẫn vào. Khi lữ hóa, khoảng cách hai tay không đổi, và phối hợp với động tác của chân; cái này gọi là "thượng ư lưỡng bác tương hệ" (trên hai cánh tay liên hệ nhau).

2. Khi lữ trái, thân thể luôn phải chính chính chuyển thân, không được ngả trước ngửa sau hoặc lắc lư; mấu chốt là trên dưới tương tùy, "bất tiên bất hậu" (không trước không sau). Nếu ngồi lui quá nhanh hoặc quá chậm đều tạo thành thoát khớp eo chân.

3. Trong tiến trước lùi sau, xoay trái chuyển phải, phải làm được "kiên dữ khóa hợp" (vai và hông hợp); vai và hông phải giữ trên dưới thẳng đứng tự nhiên, hợp yêu cầu "trên dưới cơ bản một đường thẳng".

4. Hai cánh tay phải theo xoay eo lữ sang trái; hai lòng bàn tay không được lệch ra quá rộng, nhưng hai cánh tay trên cũng không được kẹp chặt dán sườn. Trầm trửu có tác dụng hộ lặc (bảo vệ sườn); hai nách phải để khoảng trống rộng khoảng một nắm tay. Cùi chỏ không dán sườn, khiến cánh tay có dư địa hồi xoay, để tránh tự vây khốn thân thể mình. Về sau toàn bộ các động tác đều phải như vậy.

5. Phương hướng của lữ, nhìn từ hình dáng bên ngoài, do ngồi thực chân trái, trông hai lòng bàn tay hình như hơi có xu hướng xuống dưới; thực ra là do quan hệ ngồi chân trái, động tác đúng phải là lữ ngang sang trái; cho nên, động tác lữ xuống dưới trái hoặc lữ xuống dưới đều là sai.

6. Phải phát huy tác dụng triêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh, dẫn tiến lạc không (dẫn vào cho rơi vào chỗ không), dùng cổ tay và lòng bàn tay để dẫn động trọng tâm của đối phương.

7. Phải coi trọng tọa uyển; nói chung phải chú ý tùng nhu linh hoạt. Khi luyện quyền, nếu cổ tay mềm yếu vô lực, nội kình sẽ không dễ quán chú đến các ngón tay, ảnh hưởng đến sự tích lũy tăng trưởng bằng kình của cánh tay, và tất nhiên ảnh hưởng đến việc vận dụng hiệu quả "lữ", "bằng", "tễ", "án", "nã" và hiệu quả khi thoát khỏi thủ pháp "thái", "nã" mà đối phương thi triển. (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 24)

4. Yêu cầu

1. Hư thực phải phân rõ, hơn nữa phải trong hư có thực, trong thực có hư. "Hư" không phải hoàn toàn trống không, không phải hoàn toàn vô lực; "thực" không phải hoàn toàn đứng chết; phải "âm dương hỗ vi kỳ căn" (âm dương lấy nhau làm gốc), tức là hư thực phải thẩm thấu lẫn nhau; phải biết rằng "song trọng tắc trệ, thiên trọng tắc hoạt" (hai bên đều nặng thì trệ, lệch về một bên thì hoạt).

2. Khi lữ không được ưỡn ngực, phải hàm hung bạt bối, nhưng cũng không được "miêu yêu" (lõm ngực).

3. Phải tùng yêu khóa, phải lấy eo dẫn cánh tay, không được chỉ động tay mà không động eo.

4. Phải trên dưới tương tùy; chân trái ngồi lui và hai cánh tay lữ trái phải cùng động tác, không được trước sau thoát khớp.

5. Khi từ hữu bằng tiếp làm lữ, sự biến đổi hình tay không được lật lòng bàn tay thẳng lên thẳng xuống; mà hai tay phải vạch một hình cung nhỏ hơi ra phía ngoài bên phải rồi trở về. Phải ý thức rằng sau khi hai tay xoay tròn thì vừa khéo dùng giữa cùi chỏ và cổ tay của cánh tay phải ta niêm dính vào cánh tay trên bên trái của đối phương, cổ tay bàn tay trái ta niêm dính vào mu cổ tay đối phương.

6. Khi ngồi chân trái, hai cánh tay bắt đầu theo hình cung lữ về phía trước thân, sau đó dần dần xoay eo lữ ngang ra ngoài bên trái, chứ không được lữ thẳng về phía trước thân mình cho đến hết, nếu không thì là "dẫn tiến lạc thực" (dẫn vào cho rơi vào chỗ thực). Nhưng cũng không được ngay từ đầu đã khiến hai cánh tay lữ ra ngoài bên trái, nếu không thì mình không thể đắc lực.

7. Trong quá trình lữ, hình tay và khoảng cách hai tay không được biến đổi; ví dụ không được biến đổi trên dưới (tay trái cao hơn tay phải), biến đổi trước sau (khoảng cách hai tay rút ngắn hoặc kéo rộng) và di chuyển trái phải (tay trái hoặc tay phải sát lại hoặc kéo ra); mà phải giữ khoảng cách hai tay lữ và hình tay cho đến khi động tác kết thúc.

5. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: khi bắt đầu từ hữu bằng chuyển sang lữ, hai tay lật thẳng lên thẳng xuống. Nguyên nhân chính là không rõ vị trí hai tay niêm dính vào cánh tay đối phương. Sửa: phải lấy eo dẫn động sự xoay tròn của tay. Tay phải từ mu bàn tay hướng về trước, chuyển thành lòng bàn tay hướng trái, rồi chuyển thành phủ chưởng nghiêng, đồng thời tay duỗi ra trước phải rồi trở về; tay trái từ lòng bàn tay hướng xuống chuyển thành lòng bàn tay hướng lên, đồng thời lòng bàn tay từ trước sang phải rồi thu về.

(Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 25)

2. Lỗi: trong quá trình lữ hai tay biến hình. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng của lữ. Sửa: thông qua cách "đối luyện" để cảm nhận lý do vì sao vị trí hai tay không nên thay đổi. Vì ta lữ là cánh tay trái của đối phương, một tay ở phía ngoài khớp cùi chỏ hơi lên trên, một tay ở phía ngoài khớp cổ tay; như vậy quyết định vị trí hai tay của ta.

3. Lỗi: tay chân thoát khớp. Có khi chân trái đã ngồi thực mà hai tay vẫn đang di chuyển; có khi hai tay đã động mà chân chưa động. Nguyên nhân chính là trên dưới không tương tùy, tay chân mỗi bên tự lo. Sửa: tay động chân động, tay đến chân đến.

4. Lỗi: thân thể không chuyển động, mặt vẫn hướng tây. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Sửa: ta dùng hai tay lữ tay trái của đối phương sang trái. Nếu chỉ dùng lực lượng hai tay, thân thể không động, mất sự phối hợp của eo, kết quả sẽ là dẫn tiến lạc thực, quyền trái của đối phương đánh thẳng vào ngực ta; mà nếu lấy eo dẫn tay, ta có thể nã (bắt giữ) đối phương.

5. Lỗi: động tác làm không hoàn chỉnh — lữ chưa đến vị trí đã làm lữ, lữ chưa lữ xong đã làm tễ. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Sửa: khi đối phương tấn công, ta phải lữ đến khi nhổ được căn cơ của đối phương, khiến thân thể hắn nghiêng đi; đương nhiên ta phải lữ đến vị trí; quá và bất cập đều không tốt.

6. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giảng giải và biểu diễn cách dùng của lữ, khiến người luyện tập hiểu khái niệm động tác.

2. Làm rõ sự tiếp nối: từ hữu bằng làm tốt xoay tròn, khiến động tác chuẩn bị của lữ chính xác.

3. Giáo viên từ phía bên kiểm tra đầu gối trái chính hướng mũi chân, đầu gối phải hơi cong; rồi từ chính diện kiểm tra sự biến đổi của tay khi lữ.

4. Lặp lại luyện động tác hai tay xoay tròn, thuần thục động tác duỗi ra trước, xoay tròn, lật lòng bàn tay.

(Đinh) Tễ (Tễ)

1. Cách dùng Tiếp thế trước.

Nếu đối phương rút cánh tay về, ta lập tức cung chân gập đầu gối phải đặt vững chân phải, chân trái duỗi thẳng, vai duỗi ra trước, duỗi eo dài tới, theo hắn tiến ra trước, ánh mắt cũng nhìn về phía trước. Đồng thời nhanh chóng lật cổ tay phải (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 26)

图 12
图 12
Tư thế định của hữu cung bộ: cánh tay phải thành hình cung ngang trước ngực, lòng bàn tay trái đặt ở phía trong cẳng tay phải đẩy ra trước.
图 13
图 13
Mặt bên của thức tễ: cánh tay phải xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay phải lật hướng vào trong, cánh tay trái xoay vào trong khiến lòng bàn tay trái lật hướng ra ngoài, các ngón tay hơi nghiêng lên trên.
图 14
图 14
Một mặt bên khác của thức tễ: trầm trửu, cùi chỏ phải hơi thấp hơn cổ tay phải, gốc bàn tay trái theo đà tễ dần dần sát vào phía trong mạch môn của cổ tay phải.

ra, gốc bàn tay trái dán ở phía trong khớp cổ tay của cẳng tay phải; thừa lúc hắn rút tay, lập tức theo sát đẩy tễ ra trước, ánh mắt nhìn về phía trước.

2. Quá trình động tác Thân thể hơi xoay sang phải, đồng thời trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải; cung đầu gối phải và chân, đạp chân trái, thành hữu cung bộ (mặt hướng tây). Theo chuyển thân, cánh tay phải xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay phải lật hướng vào trong, cánh tay trái xoay vào trong khiến lòng bàn tay trái lật hướng ra ngoài, các ngón tay hơi nghiêng lên trên; cánh tay phải thành hình cung ngang trước ngực, thùy trửu (cùi chỏ phải hơi thấp hơn cổ tay phải); lòng bàn tay trái đặt ở phía trong cẳng tay phải đẩy tễ ra trước (tây), gốc bàn tay trái theo đà tễ dần dần sát vào phía trong mạch môn của cổ tay phải. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải quan tâm đến cánh tay phải (xem Hình 12, Hình 13, Hình 14).

3. Yếu lĩnh

1. Khi tễ ra trước, thân trên phải xoay sang phải, mà eo là mấu chốt của sự xoay chuyển thân trên. "Chủ tể tại yêu, hình ư thủ chỉ" (chủ tể ở eo, hình thành ở ngón tay); cho nên, động tay phải động eo trước.

2. Khi tễ ra trước, thân trên không được ngả trước ngửa sau; vai và hông phải trên dưới đối nhau.

3. Vai không được nhô lên, phải mở lỏng chìm xuống; cánh tay có thể tùng nhu linh hoạt hay không, mấu chốt là ở chỗ khớp vai có thể mở lỏng hay không.

4. Cùi chỏ không được nâng lên, đầu cùi chỏ phải hơi thấp hơn cổ tay; nâng cùi chỏ là lộ sườn, không hợp yêu cầu kỹ kích.

5. Mông không được nhô ra, phải chú ý thu vĩ lư; nhô ra quá mức tất nhiên sẽ cúi đầu gù lưng, thì không thể làm được vĩ lư chính trung thần quán đỉnh. (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 27)

6. Sau khi tễ ra, giữa lòng bàn tay trái và cổ tay phải phải "tự ai phi ai, tự tùng phi tùng" (như dính mà không dính, như tùng mà không tùng), cương nhu nội hàm.

4. Yêu cầu

1. Khi từ lữ sang tễ, tay phải không được vòng vòng lớn.

2. Khi tễ hai tay không được quá sát ngực, nếu không thì xẹp; "xẹp" rồi thì dễ "lạc thực", tạo thành bị động.

3. Tay đến chân đến, không được chân đã cung đến vị trí mà tay vẫn đang "tễ".

4. Khi chân trước cung ra, đầu gối không được vượt quá đầu ngón chân; vượt quá thì dễ mất thăng bằng, cũng gọi là "quá kình".

5. Tễ ra phải để dư địa; hai cánh tay không được duỗi thẳng cứng, yêu cầu cong mà không thẳng, "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư" (kình lấy cong mà tích trữ nên có dư).

6. Tễ phải hai tay dán vào rồi đẩy ra trước (như dán mà không dán); hai tay không được xa rời, cũng không được dán chặt.

7. Phương hướng tễ ra phải chính.

5. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: eo hông không tùng, động tác không linh hoạt. Nguyên nhân chính là chưa hiểu sâu "mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích" (nguồn của mệnh ý ở khe eo). Cho nên động tác tỏ ra chậm chạp, cánh tay phù phiêu vô lực. Sửa: phải "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian" (khắc khắc để tâm ở trong eo); eo hông phải tùng trầm trực thụ, phải hơi chuyển động. Eo hông không linh hoạt thì eo chân rất khó tương thuận tương toại.

2. Lỗi: tay động chân không động — chân đã cung đến mà tay vẫn đang tễ. Nguyên nhân chính là chưa hiểu sâu "nhất động vô hữu bất động"; phải do chân mà cẳng chân mà eo hình thành ở các ngón tay, mới có tễ kình. Tiến ra trong đó tất phải có hậu xanh (đỡ phía sau), nếu không thì không thể tăng cường lực phản xạ. Sửa: tay động chân động, tay đến chân đến.

3. Lỗi: nâng cùi chỏ. Nguyên nhân chính là không chú ý trầm kiên thùy trửu và hai cẳng tay đặt ngang dùng sức. Sửa: hai vai phải chìm xuống, cùi chỏ phải thấp hơn cổ tay, các ngón tay trái nghiêng lên trên; như vậy hai cùi chỏ mới tự nhiên buông xuống. Nếu không thì hai vai cứng ngắc, sẽ mất khinh linh kình; khinh linh cũng không phải phù phiêu, khinh linh phải kết hợp với trầm trước, phải nội hàm trầm trước.

4. Lỗi: khi tễ hai tay quá cao quá thấp. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng của "tễ". Quá cao thì sẽ hình thành tễ lực hướng lên trên, (Thế thứ ba — Lãm Tước Vĩ, trang sách 28)

图 15
图 15
Hai lòng bàn tay mạt (mài) về, theo hai cùi chỏ chìm xuống mà mài ngang về, hơi tọa uyển, hai lòng bàn tay đều hướng xuống; đồng thời trọng tâm dần dần lui về sau, ngồi thực chân trái.
图 16
图 16
Khi mạt về sắp hết, hai lòng bàn tay dần dần dựng chưởng tọa uyển hướng về trước.
图 17
图 17
Hai lòng bàn tay ấn ra trước, ấn ra ngang thẳng, độ rộng dần dần hẹp lại; đồng thời cung chân phải, đạp chân trái, thành hữu cung bộ.

dễ bị đối phương hóa mất, không đạt được mục đích của tễ, hơn nữa trước ngực trống rỗng dễ bị đối phương tấn công; quá thấp cũng dễ bị đối phương hóa mất. Sửa: từ trước ngực tễ ra, ngang thẳng hướng về trước.

5. Lỗi: khi động tác từ lữ chuyển sang tễ, vạch cung quá lớn. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Hai tay đã niêm dính không nên thoát tay phân tán. Sửa: cổ tay phải hơi xuống rồi lên, tay trái theo lên, tễ ra trước. Phải cấp lai cấp ứng, mạn khởi mạn tùy (gấp đến gấp ứng, chậm đến chậm theo).

6. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giáo viên biểu diễn.

2. Giảng giải tác dụng của tễ và quá trình động tác.

3. Chỗ tiếp nối không dễ làm rõ; phải lặp lại luyện động tác lật lòng bàn tay của hai bàn tay, làm tốt động tác chuẩn bị của tễ.

4. Luyện hoàn chỉnh.

5. Lặp lại luyện sự biến đổi hình tay từ lữ sang tễ. Làm cánh tay phải xoay ra ngoài lòng bàn tay lật vào trong, lòng bàn tay trái lật hướng ra ngoài, sát vào chỗ mạch môn của tay phải, khiến sự tiếp nối rõ ràng.

6. Xoay eo, dần dần cung chân, lật lòng bàn tay phải cùng làm một lượt, cảm nhận "nhất động vô hữu bất động", cũng khiến trên dưới tương tùy.

7. Kết hợp cách dùng luyện đối. Giáp — làm lữ, Ất — cánh tay trái ở giữa hai tay của Giáp; Ất — rút cánh tay về, Giáp gập đầu gối phải duỗi chân trái, đồng thời cổ tay phải lật ra ngoài, gốc bàn tay trái dán giữa mạch môn cổ tay phải ta, thừa thế tễ thẳng ra trước.

(Mậu) Án (Ấn)

1. Cách dùng Tiếp thế trước.

Nếu đối phương thừa thế tễ tới ta, ta liền dùng hai cổ tay từ phía trái niêm dính cánh tay đối phương, trước tiên dùng trầm kình, sau đó hơi nâng lên trên, khiến tễ lực của đối phương rơi vào chỗ không. Tức thì ta liền dựng uyển, trầm kiên thùy trửu, hàm hung, trọng tâm ở chân trái, nhanh chóng dùng lòng bàn tay hai tay tiếp lấy cùi chỏ và cổ tay của hắn, bức ấn ra trước, gập chân phải ngồi thực, duỗi chân trái, eo cũng đồng thời phối hợp tiến công về phía trước, ánh mắt cũng theo đó hướng về trước.

2. Quá trình động tác

1. Cánh tay phải hơi xoay vào trong, lòng bàn tay lật hướng xuống; cánh tay trái hơi xoay ra ngoài, lòng bàn tay trái thành phủ chưởng, qua mu bàn tay phải giao nhau xát qua, tức thì hai lòng bàn tay tách ra, (Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ (Nắm Đuôi Chim), trang 29) Khoảng cách hơi hẹp hơn vai. Hơi ngồi cổ tay, hai lòng bàn tay đều hướng xuống, hai khuỷu tay dần chìm xuống, dẫn hai bàn tay miết trở về; đồng thời trọng tâm dần dịch về sau, ngồi vững trên chân trái. Mắt nhìn thẳng phía trước, ánh mắt phải chú ý đến hai bàn tay khi miết về (xem Hình 15, Hình 16).

2. Hai bàn tay dần dựng bàn tay ngồi cổ tay hướng về trước, đến trước ngực dần ấn ra phía trước, ấn ra bằng phẳng ngay ngắn, bề rộng dần hẹp lại; đồng thời cong chân phải, đạp chân trái, thành tấn cung phải. Mắt nhìn thẳng phía trước, ánh mắt phải chú ý đến hai bàn tay ấn ra phía trước (xem Hình 17).

3. Yếu lĩnh

1. Khi trọng tâm dần dịch về sau, gốc hông phải hơi rút về sau, để thân thể hướng thẳng về phía trước (không được nghiêng về bên trái).

2. Hai bàn tay miết về cùng lúc với khi ngồi về sau trên chân trái.

3. Đồng thời hai bàn tay cũng phải miết về bằng phẳng theo hai khuỷu tay chìm xuống, phải buông lỏng vai chìm khuỷu, không được co cánh tay nhấc khuỷu.

4. Khi miết về hai bàn tay vừa thu vừa dịch về trước ngực (bàn tay trái hơi nghiêng về phải, bàn tay phải hơi nghiêng về trái); khi sắp ấn mà chưa ấn ra, hai tay dựng bàn tay, làm cho lòng bàn tay trái hơi nghiêng về phía trước bên phải, lòng bàn tay phải hơi nghiêng về phía trước bên trái. Khi hai bàn tay ấn ra, hai lòng bàn tay theo đà ấn hơi xoay về trước, nhưng không được xoay đến mức lòng bàn tay hướng thẳng chính diện.

5. Hai bàn tay phải theo trọng tâm dịch về trước mà ấn ra phía trước; khi ấn ra không được nhấc vai, không được dùng quá sức, nếu không dễ mất trọng tâm; cánh tay phải chỗ nào cũng cong mà không thẳng, giữ thế tích lực. Hai khuỷu tay không được lồi ra ngoài.

6. Hai tay miết về và ấn ra, nhìn từ hình dáng bên ngoài dường như có hình cung lên trên, xuống dưới; điều này là do quan hệ giữa ngồi về sau và cong chân về trước, kỳ thực hai tay cơ bản là đi ngang bằng, hình cung không lớn.

7. Phải "thu liễm mông", tức là phải buông lỏng eo hạ hông; điều này có lợi cho "khí trầm đan điền" và "đề đang" (nâng hội âm).

4. Yêu cầu

1. Phải buông lỏng vùng eo, phải chú ý thẳng và chìm, phải giữ vững trung thổ, trung thổ không rời khỏi vị trí; cho nên, trước hết là buông lỏng. Yêu cầu thân trên không được ngả về trước, phải đuôi lư (xương cụt) trung chính, đề đang quán đỉnh.

2. Bất luận tiến hay lui đều như quyền luận nói rằng "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông", phàm là ngả trước sau đều không phù hợp (Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ, trang 30) Yêu cầu (tiếp theo).

3. Tiến và lùi, hai hông phải ngay ngắn, cùng tiến cùng lui, toàn thân nhất trí. Khớp hông phải cùng hướng với vai, phải phù hợp yêu cầu "hông hợp với vai". Đồng thời, chân phải cong về trước và đạp về sau, hư thực phân minh.

4. Phải chìm vai buông khuỷu. Trước hết là buông lỏng vai, buông lỏng vai mới buông được khuỷu, vai buông chìm rồi mới có thể làm cánh tay buông mềm, nhanh nhẹn. Cho nên, khi hai tay miết về và ấn ra không nên nhấc vai, không nhấc khuỷu; dưới nách phải để chỗ dư, không được để hai cánh tay trên áp sát sườn.

5. Khi miết về và ấn ra, hai tay không được lên xuống quá lớn, làm cho đường đi của tay có hình cung quá lớn, như thế không hợp yêu cầu ấn ra thẳng về trước. Lên xuống quá lớn sẽ gây tán loạn, cũng không nắm được đối phương, phát kình không thể chuyên chú một hướng. Khi ấn ra, khoảng cách ngang giữa hai tay không được mở quá lớn, khoảng cách chừng một nắm tay.

5. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp uốn nắn

1. Sai lầm: hai tay chưa thành bàn tay úp, chưa giao nhau đã tách ra. Nguyên nhân chính là hiểu chưa đủ về động tác đi hình cung, làm cho khớp xoay tròn tự nhiên. Uốn nắn: thế động phải lấy tay dẫn khuỷu, lấy khuỷu dẫn vai; cho nên, khi cánh tay phải xoay vào trong thì tay phải phải thành bàn tay úp, hai tay giao nhau rồi mới tách ra. Như thế trên mặt tiếp xúc không mất không chống, tránh thực lấy hư hơi xoay một chút, tức là đã có thể phát kình, dùng kình nâng để làm rỗng lực của đối phương.

2. Sai lầm: khi ấn ra thì ngả về trước, khi miết về thì ngửa về sau. Nguyên nhân chính là hiểu "đuôi lư trung chính" chưa sâu. Ngả về trước sẽ mất trọng tâm, ngửa về sau mất linh hoạt dễ bị đánh đổ. Uốn nắn: phải trên dưới cơ bản thành một đường, vai và hông phải cùng tiến cùng lui.

3. Sai lầm: khi ấn ra lòng bàn tay phẳng thẳng đối diện chính diện phía trước. Nguyên nhân chính là các ngón tay buông duỗi chưa đủ. Uốn nắn: người mới học các ngón tay nên duỗi tự nhiên, không dùng sức khép chặt hay mở rộng, lòng bàn tay nên hơi nghiêng. Kình lấy cong mà tích, giữ chỗ dư, nếu không dễ cứng đờ, không dẫn được kình.

4. Sai lầm: khi hai tay miết về và ấn ra, đường cong tay di chuyển quá lớn (khi miết về tay chìm quá thấp). Nguyên nhân chính là hiểu chưa đủ về cách dùng. Uốn nắn: lấy đối luyện làm mẫu. Đối phương từ phía trước bên trái chen tới, ta dùng kình nâng làm rỗng chân lực của họ rồi, hai lòng bàn tay áp vào khuỷu và cổ tay của họ, (Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ, trang 31) Giai đoạn bức ấn về phía trước này không cho phép vạch cung lớn lên xuống; cánh tay chìm quá mức thì toàn bộ lồng ngực sẽ lộ ra trước đối phương. Cho nên, khi miết về gốc bàn tay phải cao hơn khuỷu, theo thế chen của đối phương mà dịch về sau bằng phẳng ngay ngắn; khi ấn về trước độ cao phải tương đương ngực sườn của đối phương, cho nên hai tay cơ bản giữ đi về bằng phẳng.

5. Sai lầm: khi miết về hoặc ấn về trước khoảng cách hai tay quá lớn hoặc quá nhỏ. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Uốn nắn: lấy khoảng cách hai lòng bàn tay ta ấn vào khuỷu, cổ tay đối phương làm chuẩn (khi ấn ra hai ngón cái cách nhau một nắm tay); cho nên, quá lớn sẽ làm động tác của mình thành vô ích, điểm kình không tập trung.

6. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải cách dùng, quá trình động tác v.v., và làm mẫu.

2. Luyện theo. (Giáo viên luyện quyền ở phía trước, người luyện tập ở phía sau luyện theo.)

3. Phương pháp tăng dần: ① Trước hết luyện hai tay giao nhau tách ra. ② Sau khi hai tay tách ra lại thêm ngồi về sau miết về. ③ Sau khi hai tay tách ra thêm ngồi về sau miết về, lại thêm cong về trước ấn ra.

Học được một phần thêm một phần, và nối liền một phần, cho đến khi học được toàn bộ động tác.

4. Giáo viên dùng khẩu lệnh gợi ý: ① Hai tay giao nhau, lòng bàn tay hướng xuống tách ra. ② Một chỗ động thì không chỗ nào không động, tay động eo chân động. ③ Trọng tâm dịch về sau, hai tay miết về, buông lỏng vai chìm khuỷu. ④ Chân trái ngồi vững, hai bàn tay đối nhau, ở trước ngực không ở trước bụng. ⑤ Trên dưới cơ bản một đường, không ngả trước ngửa sau. ⑥ Ý ở gốc bàn tay ấn ra phía trước. ⑦ Lặp lại làm động tác chỗ chen tiếp hai tay giao nhau, tách ra. ⑧ Lặp lại làm hai tay miết về. Sau đó làm bài luyện chìm vai buông khuỷu, cải tiến buông vai chìm khuỷu, ấn rồi ấn ra, sửa chữa đường di chuyển của tay và sự thay đổi hình dạng của tay. ⑨ Làm bài luyện hoàn chỉnh, cải tiến tay đến chân đến, kình phát từ chân. ⑩ Hai người một nhóm uốn nắn lẫn nhau. Giáo viên đề ra một yêu cầu, mọi người luyện theo yêu cầu chỉ định, sau khi đạt yêu cầu cơ bản lại đổi yêu cầu khác.... ⑪ Giáo viên từ các góc độ khác nhau kiểm tra ưu khuyết điểm của người luyện tập. Từ chính diện nhìn độ rộng hai tay, từ mặt bên nhìn đường di chuyển của tay khi miết về, ấn ra, xem tay động eo chân động, tay đến (Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ — Phân tích kỹ thuật, trang 32) ...chân đến.

7. Phân tích kỹ thuật

Lãm Tước Vĩ là tổng thủ của Thái Cực Quyền, gồm cả thể và dụng. Bài "Đả Thủ Ca" do tiên sư Vương Tông Nhạc tu đính nói rất rõ: "Bằng lữ tễ án phải nghiêm túc, trên dưới tương tùy người khó vào; mặc cho cự lực tới đánh ta, dắt động tứ lượng bát thiên cân; dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, triêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh." Sáu câu này phải xuyên suốt toàn bộ bài Thái Cực Quyền, mà trong phân tích kỹ thuật của Lãm Tước Vĩ lấy làm căn cứ lại càng thích dụng.

Trong toàn bộ bài Dương thức Thái Cực Quyền, Lãm Tước Vĩ xuất hiện tổng cộng sáu lần. Động tác của nó là cơ bản, tiêu biểu. Đẩy tay cũng lấy bằng (đỡ), lữ (vuốt), tễ (chen), án (ấn) làm động tác cơ bản; cho nên động tác Lãm Tước Vĩ này nhất định phải luyện cho tốt.

1. Trong Lãm Tước Vĩ có rất nhiều biến hóa về tấn cung, tấn hư, dựng bàn tay, ngửa bàn tay, úp bàn tay, tay chân.

2. Bộ pháp biến hóa nhiều, không chỉ có biến hóa hư thực khi di chuyển trước sau, mà còn có biến hóa hư thực khi trụ trên một chân, như thức khởi thế tiếp tả bằng, tả bằng tiếp hữu bằng, một chân ngồi vững, một chân từ từ thu về, một chân từ từ duỗi ra.

3. Có yêu cầu trong thân pháp, trong biến hóa hư thực phải đuôi lư trung chính.

4. Có sự vận dụng sức eo "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian". Trong Lãm Tước Vĩ người mới học rất dễ ngả trước ngửa sau, làm không tốt buông, chìm, thẳng; nếu sức eo thích đáng thì có thể tăng cường phát lực.

5. Đã có bằng lữ tễ án lại phải có triêm liên niêm tùy, đã có đánh lại có hóa, vừa không được chống, vừa không được mất. Cho nên, yêu cầu về dụng ý là rất cao.

6. Điểm kình: ① Khi tả bằng, ở chỗ gần cổ tay phía xuyên (radial) của cẳng tay trái và phía ngoài cổ tay phải (tay phải là khai kình). ② Hữu bằng ở chỗ cổ tay phía xuyên của cánh tay phải. ③ Lữ ở chỗ gần cổ tay của cẳng tay phải, tay trái là bằng kình, điểm kình ở phía ngoài cẳng tay (phía xích/ulnar). ④ Tễ chủ yếu ở gốc bàn tay trái, tay phải là lót đệm. ⑤ Án ở gốc bàn tay.

7. Vấn đề hư thực ở eo chân: bất luận trước hư sau thực, trước thực sau hư, trái hư phải thực, trái thực phải hư đều phải trong hư có thực, trong (Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ — Phân tích kỹ thuật / Thế thứ 4 Đơn Tiên (Roi Đơn), trang 33) ...trong thực có hư. Hư không phải là hoàn toàn trống rỗng, mềm yếu vô lực; thực cũng không được đứng quá chết. Hư thực phải thấm nhập lẫn nhau, chuyển biến âm thầm. Hư thực được linh hoạt tự nhiên mới có thể tiến lui tự như; cho nên, yêu cầu khi ẩn khi hiện. Chân phải "ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú" (ý và khí phải đổi cho linh, mới có thú vị tròn sống), "hữu bất đắc cơ bất đắc thế xứ, kỳ bệnh tất ư yêu thối cầu chi" (chỗ nào không được cơ không được thế, bệnh ắt phải tìm ở eo chân).

Chân gánh phần lớn trọng lượng cơ thể gọi là thực, chân kia gọi là hư. Sự chuyển đổi hư thực ở eo chân gần với bài tập đẳng trường (tĩnh lực). Một chân chống đỡ dùng sức rất lớn, cho nên người luyện Thái Cực Quyền lâu năm cơ bắp chân rất khỏe, đi bộ lên lầu nhẹ nhàng, có thể tăng cường sức khỏe rất nhiều. Người mới luyện, người già yếu khi bắt đầu học, tư thế có thể cao một chút để giảm lượng vận động, sau đó theo thể chất tăng cường, có thể dần hạ thấp để tăng lượng vận động.

图 18
图 18
Chuẩn bị xoay người: trọng tâm ở chân phải, thân thể xoay trái, hai bàn tay theo thân miết sang trái nửa hình bầu dục phẳng.
图 19
图 19
Sau khi thân thể xoay đến khoảng 135° (hướng đông nam), hai bàn tay theo thân qua trước ngực miết sang phía chéo phải thêm nửa hình bầu dục phẳng, hai bàn tay cao ngang vai.
图 20
图 20
Xoay phải khoảng 70° (hướng tây nam), hai bàn tay tiếp tục miết, mắt theo thân nhìn ngang chuyển dịch, chú ý bàn tay phải.

Phần 52

Trang sách 335

Thế thứ 4 Đơn Tiên (Roi Đơn)

Thế thứ 4 Đơn Tiên (Roi Đơn)
1. Cách dùng

Nếu đối phương đánh tới từ sau lưng ta, ta liền hơi nhấc mũi chân phải lên, xoay sang trái ngồi vững, hai tay nâng ngang vai, lòng bàn tay hướng xuống, cùng theo eo đưa qua đưa lại trái phải; khi hai tay đưa đến phía chéo phải, năm ngón tay phải khép lại làm móc thủ (câu thủ). Thân thể xoay sang trái sau, lật người về sau, chân trái nhấc lên, bước chếch sang trái, cong chân trái, gập gối ngồi vững, chân phải duỗi thẳng; đồng thời, tay trái hướng vào trong từ trước mặt đi qua, vừa xoay vừa lật, duỗi ra một bàn tay về bên trái, lòng bàn tay nghiêng hướng ra ngoài, buông lỏng eo hông, bức tới ngực đối phương, chìm vai, buông khuỷu, ngồi cổ tay. Ánh mắt theo đi về trước, phải tay đến mắt đến chân đến.

2. Quá trình động tác

1. Trọng tâm vẫn ở chân phải, thân thể xoay trái (khoảng 135°) hướng đông nam, đồng thời mũi chân phải hơi nhấc, lấy gót chân phải làm trục xoay thân, mũi chân cố gắng hết mức khép vào trong, đạp vững. Đồng thời hai khuỷu hơi chìm và hơi cong, hai bàn tay úp theo thân miết sang trái nửa hình bầu dục phẳng, hai bàn tay cao ngang vai. Ánh mắt theo thân xoay nhìn ngang chuyển dịch, tay đến mắt đến, ánh mắt phải chú ý tay phải (xem Hình 18, Hình 19).

2. Sau khi thân thể xoay đến khoảng 135° (hướng đông nam), thân thể (Thế thứ 4 Đơn Tiên, trang 34) ...tức xoay phải khoảng 70° (hướng tây nam), hai bàn tay theo thân xoay, hai cánh tay qua trước ngực miết sang phía chéo trước bên phải (tây nam) thêm nửa hình bầu dục phẳng, hai bàn tay cao ngang vai. Mắt theo thân xoay nhìn ngang chuyển dịch, ánh mắt phải chú ý bàn tay phải (xem Hình 20).

3. Trọng tâm ở chân phải, chân trái nhấc lên, bàn chân trái theo hình cung tự nhiên bước ra phía trong. Đồng thời thân thể tiếp tục từ từ xoay phải, cánh tay phải dần duỗi chéo sang phải, vừa duỗi vừa theo năm đầu ngón tay rủ xuống chụm lại thành móc thủ (câu thủ); cánh tay trái hơi duỗi về trước, lòng bàn tay trái hướng vào trong, các ngón tay gần cổ tay phải (xem Hình 21).

4. Thân thể từ từ xoay trái, móc thủ phải tiếp tục buông vai duỗi sang phải, đồng thời chân trái bước ra bên trái (hướng đông), trước hết lấy gót chân chạm đất, theo trọng tâm dịch sang trái mà đến toàn bàn chân đạp vững. Cong chân trái, đạp chân phải, thành tấn cung trái. Đồng thời, bàn tay trái qua trước mặt (cách mặt không quá 30 cm) dịch sang trái, theo cánh tay trái xoay vào trong, lật lòng bàn tay hướng về trước hơi nghiêng, từ từ đẩy ngang chéo sang trái (đông). Mắt nhìn ngang theo dịch sang trái, theo bàn tay trái đến bên trái; ánh mắt phải nhìn bàn tay trái đẩy sang trái, sau khi động tác hoàn thành hai cánh tay trái phải nên mở ra khoảng 135° (xem Hình 22, Hình 23).

图 21
图 21
Cánh tay phải dần duỗi chéo sang phải, năm đầu ngón tay rủ xuống chụm lại thành móc thủ; cánh tay trái hơi duỗi về trước, lòng bàn tay trái hướng vào trong, các ngón tay gần cổ tay phải.
图 22A
图 22A
Bàn tay trái qua trước mặt dịch sang trái, cánh tay trái xoay vào trong, lòng bàn tay lật hướng về trước hơi nghiêng.
图 22B
图 22B
Bàn tay trái đẩy ngang chéo sang trái, thành tấn cung trái, hai cánh tay trái phải mở ra khoảng 135°.
3. Yếu lĩnh

1. Xoay eo hông sang trái, chân phải lấy gót làm trục, mũi chân khép vào trong phải đầy đủ, trọng tâm vẫn ở chân phải, hai tay theo eo đưa sang trái hoặc phải; thân trên phải ngay ngắn, không để ngả trước ngửa sau. Khi tay trái đẩy ra chéo trước bên trái, móc thủ phải từ từ duỗi chéo sang phải.

2. Hai bàn tay miết vòng sang trái hoặc phải, là một hình bầu dục phẳng, (Thế thứ 4 Đơn Tiên, trang 35) Hai khuỷu rủ xuống (khuỷu thấp hơn cổ tay), hai cánh tay phải ràng buộc nhau, không được rời rạc; tay trước đi thì tay sau theo, khoảng cách bằng nhau. Tay theo eo xoay, hai cánh tay phải cong duỗi tròn sống theo sự miết của hai bàn tay; khi hai bàn tay miết ra ngoài thì cánh tay không được duỗi thẳng, khi miết vào trong thì phải hơi ngồi cổ tay đồng thời buông khuỷu, hàm ngực xoay eo.

3. Khi định thức hai tay hai chân phải có ý hút nhau ràng buộc trên dưới. Cánh tay trái và chân trái phải cùng hướng, trên dưới phải thẳng hàng, đầu gối không vượt quá mũi chân; khớp cổ tay của móc thủ phải cong, năm ngón chụm rủ xuống và đối nhau trên dưới với mũi chân phải.

4. Yêu cầu

1. Hai cánh tay miết vòng phải do eo dẫn dắt; eo là then chốt xoay chuyển của tay chân.

2. Khi cánh tay duỗi thu trong vòng phải có thể buông mềm tròn sống. Muốn làm được điều này, trước hết yêu cầu khớp vai buông chìm, mà người mới luyện đặc biệt phải bắt đầu từ "buông lỏng". Yêu cầu dưới nách để chỗ dư, không được áp cánh tay trên sát sườn, phải dần đạt "buông lỏng kình của ta đừng để cong", phải có tính đàn hồi.

3. Phải "chìm vai buông khuỷu", không được nhún vai nhấc khuỷu; cánh tay trái khi miết vòng và cánh tay phải thành móc thủ đều phải có khuỷu thấp hơn cổ tay.

4. Khi hai tay bắt đầu miết vòng, eo dẫn chân phải khép vào trong, trọng tâm phải ở chân phải là chân thực, không được để trọng tâm chuyển đổi (dịch sang chân trái rồi dịch về chân phải).

5. Khi miết vòng thân thể từ tây xoay đến đông nam, rồi xoay trở về nam hơi chếch tây, không được xoay quá lớn, nếu không sẽ "tán".

6. Sau khi miết vòng, tay trái gần cổ tay phải, lòng bàn tay hướng vào trong, hai tay vừa xoay thân vừa dịch sang trái; sau khi dịch qua chính nam, tay trái vừa dịch vừa lật lòng bàn tay ra ngoài, thành bàn tay nghiêng, đẩy ngang chéo ra phía trước (đông), tay phải đồng thời dịch ngang về phía sau 45°.

7. Sau khi miết vòng, bàn chân trái nhấc lên bước một bước về phía trước bên trái (đông); yêu cầu chân trái sau khi nhấc lên liền lập tức bước ra phía trước, không được thu về gần mắt cá trong bàn chân phải rồi mới bước ra.

8. Khi định thức, móc thủ phải phải hơi cao hơn vai, gối trái cong về trước, chân phải đạp về sau, nhưng chân phải không được đạp thẳng hoàn toàn; tay trái và (Thế thứ 4 Đơn Tiên, trang 36) ...mũi chân đối nhau trên dưới. Hướng mũi chân trái là chính đông.

9. Chân phải khép vào trong phải đầy đủ, phải vượt quá 90°.

10. Trong quá trình động tác, trọng tâm thân thể không được khi cao khi thấp; đặc biệt chú ý khi chân phải khép vào trong thì trọng tâm không được nâng lên.

5. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp uốn nắn

1. Sai lầm: chân phải khép vào trong không đủ, gây khó khăn khi chân trái bước về hướng đông. Nguyên nhân chính là không buông lỏng eo xoay hông. Uốn nắn: phải do ngón cái chân phải dẫn kình, lấy mũi chân chỉ hướng, hông buông lỏng; cho nên, lấy chân dẫn gối, lấy gối dẫn đùi, khép vào trong đầy đủ, chân trái bước ra mới thuận lợi.

2. Sai lầm: thân thể đứng dậy, trọng tâm dịch sang trái. Nguyên nhân chính là khái niệm hư thực không rõ. Uốn nắn: mũi chân phải hơi nhấc, lấy gót chân phải làm trục, bắt đầu từ thu gốc hông phải, gối phải và mũi chân phải thẳng hàng xoay sang trái. Không được đạp chân phải, phải cong chân phải, lấy xoay eo hông để dẫn chân phải khép vào trong.

3. Sai lầm: hai tay không phải miết vòng mà đi thẳng tới lui, hoặc hai tay lên xuống dao động quá lớn. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Uốn nắn: phải nâng ngang vai, đưa qua lại, để thành thế xoay chuyển; cho nên, cánh tay phải cong mà không thẳng, nếu lên xuống quá lớn thì khó đạt được thế xoay chuyển; cho nên, lên xuống là có, nhưng nên khá nhỏ.

4. Sai lầm: khi miết vòng hình dạng tay không tốt — có cái căng thẳng cứng, có cái buông sụp rủ xuống. Nguyên nhân chính là chú ý chưa đủ đến yêu cầu đối với bàn tay. Uốn nắn: hư thực của bàn tay phải thích ứng với sự biến đổi hư thực của động tác toàn thân. Quyền luận nói "kỳ căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu, hình ư thủ chỉ... tổng tu hoàn chỉnh nhất khí" (gốc ở chân, phát ở chân, chủ tể ở eo, hình ở ngón tay... tổng phải hoàn chỉnh một khí); cho nên, khi đưa qua lại trái phải ngón tay cũng phải quán kình, vì thế không thể buông sụp, nhưng cũng không thể dùng kình cứng.

5. Sai lầm: khi miết vòng nhấc khuỷu. Nguyên nhân chính là hiểu chưa sâu về kình rủ xuống của khuỷu. Nhấc khuỷu sẽ trở ngại chìm vai, ảnh hưởng hô hấp. Uốn nắn: phải buông lỏng vai buông khuỷu, làm cho khuỷu thấp hơn cổ tay.

6. Sai lầm: khi miết vòng xoay eo và xoay tay chân không nhất trí, xoay tay chân và xoay eo tách rời, có cái chỉ tay động mà eo không động. Nguyên (Thế thứ 4 Đơn Tiên, trang 37) ...nhân chính là hiểu "yêu vi chủ tể" (eo làm chủ tể) chưa sâu. Uốn nắn: eo là then chốt xoay chuyển của thân trên và dưới. Sức eo vận dụng thích đáng mới có thể làm cho lực toàn thân tập trung vào một điểm. Nếu tay động mà eo không động, tay và eo tách rời, nội kình của Thái Cực Quyền sẽ không thể chuyển vận đến tay, đưa qua lại trái phải sẽ không có thế xoay chuyển; cho nên, phải "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian" (khắc khắc để tâm ở chỗ eo).

7. Sai lầm: vị trí móc thủ phải quá mở, khi định thức hai cánh tay cách nhau gần 180°. Nguyên nhân chính là tay phải dịch về sau quá lớn, xoay eo sang phải quá nhiều, kết quả thành ưỡn ngực. Uốn nắn: phải làm cho móc thủ phải dịch nhẹ sang phải, nhưng vẫn dừng ở phía chéo tây nam.

8. Sai lầm: khi tay trái đẩy ra lật bàn tay quá đột ngột. Nguyên nhân chính là hiểu thủ pháp chưa sâu: bàn tay của Thái Cực Quyền khi duỗi về trước là duỗi xoay, dần dần mở ra, không phải lên thẳng xuống thẳng, tiến thẳng lui thẳng; lại vì kình lực là do lưng sống, vai, khuỷu mà đến lòng bàn tay đẩy ra phía trước; nếu đột ngột lật bàn tay, kình lực sẽ không thể vận chuyển. Uốn nắn: phải vừa di chuyển vừa lật bàn tay, cơ bản giữ các ngón tay nghiêng hướng lên.

9. Sai lầm: khi tay trái di chuyển đẩy ra, lòng bàn tay cách thân quá xa hoặc quá gần. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Quá xa thì tán, quá gần thì bẹp. Đối phương từ sau lưng ta đánh tới, bàn tay trái của ta bức tới ngực đối phương. Nếu tay quá xa thì tự thân ta tán trước; nếu tay quá gần, cánh tay ta đã cong và sát thân, sao có thể thi triển kình của ta? Uốn nắn: tay trái cách mặt không quá 30 cm.

10. Sai lầm: chân trái bước ra chéo trước bên trái, hai chân đứng trên một đường thẳng. Nguyên nhân chính là xoay eo chưa đủ, chân phải khép vào trong chưa đầy đủ, mở hông chưa đủ, điều này làm cho mình đứng không vững. Uốn nắn: chân phải phải khép đầy đủ, trên cơ sở thân thể xoay trái mở hông, duỗi chân trái chéo sang trái về sau; như thế mới có khoảng cách ngang hợp lý giữa hai chân. Trong toàn bộ bài Thái Cực Quyền, bất luận phương hướng, góc độ thế nào, không có trường hợp hai chân đứng trên một đường thẳng hay đường ngang.

11. Sai lầm: chân trái bước ra, trọng tâm dịch sang trái rất nhanh, gót chân trái chạm đất nhanh và nặng. Nguyên nhân chính là hư thực không rõ và sức chân không đủ. Uốn nắn: phải bước như mèo đi. Chân phải ngồi vững, chân trái từ từ nhấc lên, từ từ hạ xuống; khi gót chân trái chạm đất, trọng tâm vẫn phải ở chân phải, sau đó mới từ từ dịch ra.

(Thế thứ 4 Đơn Tiên — Phân tích kỹ thuật, trang 38)

6. Cách dạy và cách luyện

1. Giáo viên giảng giải làm mẫu (chú trọng phân minh hư thực).

2. Phương pháp phân giải: ① Do eo dẫn dắt, mũi chân phải hơi nhấc, chân phải lấy gót làm trục khép vào trong, yêu cầu chân, gối, eo cùng xoay. ② Miết vòng. Vị trí tay di chuyển và phương hướng đến vị trí. ③ Tay trái di chuyển và đẩy ra, làm rõ thời điểm lật tay. ④ Nhấc chân trái, theo thân xoay bước ra chéo trước bên trái, cố gắng làm cho chân phải ngồi vững. ⑤ Kiểm tra định thức.

3. Phương pháp tăng dần: ① Khép chân. ② Khép chân thêm miết vòng. ③ Khép chân, miết vòng thêm hai tay đến vị trí. ④ Như trên, chân trái nhấc lên, xoay thân dịch tay trái, bước chân trái. ⑤ Như trên, lật bàn tay, cong chân. ⑥ Luyện hoàn chỉnh.

4. Yếu lĩnh khẩu lệnh: ① Khép chân (chân phải phải khép vào trong nhiều một chút). ② Móc thủ chéo trước (nhắc vị trí hai tay). ③ Tấn cung, xoay eo, lật bàn tay (nhắc vị trí tay trái).

5. Tập thể làm lặp lại bài luyện chân phải khép vào trong, yêu cầu xoay eo xoay gối.

6. Tập thể làm tay trái theo xoay eo đẩy về trước, móc thủ phải dần duỗi dịch sang phải, thể hội "nhất động vô hữu bất động".

7. Tập thể làm chân phải ngồi vững, chân trái nhấc lên theo thân xoay bước sang trái, nhẹ nhàng hạ xuống, thể hội hư thực phân minh; giáo viên thấy ai hư thực khá rõ có thể biểu dương.

8. Tập thể luyện, chân trái theo thân xoay bước ra các góc độ yêu cầu khác nhau; có thể yêu cầu người mới học cố gắng duỗi chéo sang trái về sau, so sánh ai có độ xoay lớn, sau đó lại yêu cầu hạ chân đúng vị trí.

7. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác yêu cầu thay đổi phương hướng tiến, biến đổi 180° (từ tây xoay sang đông).

2. Án của Lãm Tước Vĩ, tấn cung phải thì chân phải thực, gánh phần lớn trọng lượng cơ thể; khi tiếp Đơn Tiên, quyền thức yêu cầu dùng chân thực xoay. Hư thực phân minh, cho nên, phụ tải của chân là nặng. Vì phụ tải nặng, luyện nhiều về sau tăng cường sức mạnh chân, từ đó tăng cường thể chất.

(Thế thứ 4 Đơn Tiên — Phân tích kỹ thuật / Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế (Nâng Tay Lên), trang 39) 3. Sau khi chân phải khép vào trong, chân trái nhấc lên, hình thành thế chống đỡ một chân trên chân phải co, toàn bộ trọng lượng cơ thể do chân phải gánh; khi chân trái bước và gót hạ rồi chuyển trọng tâm, do chân phải khống chế không tốt, rất dễ làm gót chân trái hạ nhanh, mà không đạt được yêu cầu bước như mèo đi, cũng tất nhiên hình thành ngắt quãng, căng thẳng.

4. Động tác "Đơn Tiên" có thay đổi phương hướng, đồng thời còn có di chuyển tay chân; người mới học rất dễ lú lẫn, cho nên, phải làm rõ phương hướng động tác, phối hợp trên dưới, mới có thể làm động tác liên miên không dứt, trên dưới tương tùy, hư thực phân minh.

5. Hai tay bắt đầu miết vòng, phải đặt bằng; chuyển đổi hư thực phải lưu ý, chỗ cần buông thì buông, chỗ cần chặt thì chặt, phải cương nhu tương tế, phải phù hợp với thế xoay chuyển.

6. Sự biến đổi của chi dưới dễ gây phá hoại động tác của thân trên. Phải chú ý khi đầu xoay phải ngay ngắn, khi miết vòng không cúi đầu, khi nhấc chân trái không ngửa mặt, khi xoay phương hướng đầu không nghiêng ngả trái phải, phải tự nhiên bằng phẳng. Cơ mặt phải buông lỏng tự nhiên, môi khẽ ngậm, hô hấp tự nhiên, tai phải lắng nghe phía sau, kiêm cố trái phải. Cho nên, luyện động tác Đơn Tiên phải chú ý các bộ phận thân thể phải hợp yêu cầu Thái Cực Quyền, sự phối hợp tay, mắt, thân, bộ pháp.

7. Người mới học Thái Cực Quyền không ít người phản ánh sau khi luyện quyền bị đau gối, đau là mấy tháng, nửa năm. Đây là do Dương thức Thái Cực Quyền là chân thực nghiền xoay; nếu khi xoay gối và chân không cùng một đường, mà là gối dùng sức khép vào trong để dẫn việc nghiền xoay của chân, như thế gối đi trước chân theo sau, lâu dài kéo dãn quá độ, gây tổn thương mãn tính gân cơ, dây chằng phía trong gối mà sinh đau. Cho nên, người mới học phải chú ý khi chân thực nghiền xoay thì gối và chân cùng xoay.

Phần 53

Trang sách 337

Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế (Nâng Tay Lên)

Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế (Nâng Tay Lên)
1. Cách dùng

Nếu đối phương đánh tới từ bên phải, ta liền xoay thân thể từ trái sang phải, chân trái khép vào trong xoay phải, chân phải nhấc lên bước về trước, gót chân chạm đất, mũi chân treo hư, toàn thân ngồi trên chân trái. Hàm ngực bạt bối, (Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế, trang 40) ...buông lỏng eo, mắt nhìn về trước, đồng thời đưa hai tay nâng vào trong với nhau, đây là một hợp kình; tay phải ở trước, tay trái ở sau, hai lòng bàn tay hướng vào nhau trái phải. Khi hai tay nâng đến chỗ nối tiếp khuỷu tay và ngực đối phương, phải hàm súc thế của mình, để chờ sự biến đổi của đối phương. Đối phương tiến thì ta lữ, hoặc lật lòng bàn tay phải hướng lên, dùng bàn tay trái áp lên cổ tay phải của ta mà chen ra cũng được; thân pháp, bộ pháp cùng tễ cũng có chỗ tương tự.

Biến chiêu: nếu đối phương bước lên, cũng có thể hóa đòn đánh tới của đối phương sang phải, khẩn cấp dùng móc thủ phải đánh hất lên cằm dưới của đối phương.

2. Quá trình động tác

1. Trọng tâm vẫn ở chân trái, mũi chân trái lấy gót làm trục khép vào trong khoảng 15°~30° đạp vững, ngồi vững trên chân trái; thân thể dần xoay phải, móc thủ phải biến thành bàn tay, hai cánh tay trái phải buông khuỷu (xem Hình 24).

图 24
图 24
Trọng tâm vẫn ở chân trái, mũi chân trái lấy gót làm trục khép vào trong khoảng 15°~30° đạp vững, ngồi vững trên chân trái, thân thể dần xoay phải, móc thủ phải biến thành bàn tay, hai cánh tay trái phải buông khuỷu.

2. Chân phải nhấc lên, hạ xuống một bước trước chân trái, lấy gót chân chạm đất, mũi chân tự nhiên hơi nhấc, gối phải hơi cong thành tấn hư phải. Đồng thời, hai bàn tay khép lại về phía trước, bàn tay phải ở trước, đầu ngón tay cao ngang lông mày, lòng bàn tay hướng trái, dựng bàn tay ngồi cổ tay; bàn tay trái ở sau, đầu ngón tay cao ngang ngực, lòng bàn tay hướng phải hơi chếch xuống, đối diện chính khớp khuỷu phải, thân trên hơi xoay trái. Ánh mắt qua bàn tay phải nhìn ngang về trước, thành thức đề thủ (xem Hình 25, Hình 26).

图 25
图 25
Bàn tay phải ở trước, đầu ngón tay cao ngang lông mày, lòng bàn tay hướng trái, dựng bàn tay ngồi cổ tay.
图 26
图 26
Bàn tay trái ở sau, đầu ngón tay cao ngang ngực, lòng bàn tay hướng phải hơi chếch xuống, đối diện chính khớp khuỷu phải, thân trên hơi xoay trái.
3. Yếu lĩnh

1. Đề Thủ Thượng Thế là một hợp kình; động tác chân và tay phải phối hợp nhất trí.

2. Móc thủ phải biến thành bàn tay, hai tay khép vào trong, khi hai cánh tay mở ra, hai vai phải buông lỏng, khuỷu phải buông.

3. Khi chân trái khép vào trong, eo hông phải buông lỏng, thân thể phải giữ ngay ngắn, mông không được lồi ra.

4. Gót chân phải là điểm hư trên mặt đất, mũi chân hơi nhấc lên, không được hất quá cao; gối phải hơi cong, không được thẳng; phải làm được hư mà không phải hoàn toàn rỗng.

5. Khi hai cánh tay khép, ngực không được đối diện chính phía trước, thân trên hơi lệch trái; như thế mới hợp yêu cầu cách dùng hàm súc thế của mình, để chờ sự biến đổi của đối phương.

6. Khi hai bàn tay bắt đầu khép vào trong, tay phải hơi chìm xuống, về phía trước (Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế, trang 41) ...thì lại hơi hướng lên. Khi định thức hổ khẩu trái đối vào khuỷu cong phải, ngón tay trái ngang với cánh tay phải, tay trái cách cánh tay phải khoảng hơn một nắm tay. Hai tay quá gần không lợi cho lữ.

7. Hai chân không được ở trên một đường thẳng.

4. Yêu cầu

1. Chân phải nhấc lên và tiến bước về trước phải nhẹ nhàng linh hoạt; điều này yêu cầu buông lỏng eo hông; khi động bộ ra chân, trước hết thu gốc hông trái vào trong, đem trọng tâm ngồi vững trên chân trái.

2. Đề Thủ Thượng Thế yêu cầu trên dưới tương tùy: mũi chân phải đối thẳng phía trước, ngón tay hai bàn tay cũng phải hướng về phía trước, đường nhìn cũng nhìn về phía trước; ngay cả ngực bụng cũng phải theo tay chân vận chuyển, làm cho hướng vận động trên dưới trái phải nhất trí, tăng cường tác dụng hợp lực đoàn tụ toàn thân, làm cho trên dưới tương tùy, nhất khí quán thông.

3. Từ Đơn Tiên tiếp Đề Thủ Thượng Thế, yêu cầu trụy khuỷu, và làm cho hai bàn tay ngồi cổ tay, vừa khép vừa hướng về trước; không được để hai cánh tay trước hết thu khép vào trong rồi mới hướng về trước, cũng không được để hai cánh tay hướng về trước quá sớm.

4. Chân phải nhấc gối bước ra phía trước, đồng thời hai cánh tay vừa khép vừa hướng về trước.

5. Phải hàm ngực, nhưng không được hình thành gù lưng.

6. Chân phải không được đến gần mắt cá trong bàn chân trái rồi mới hướng về trước, mà là sau khi nhấc chân phải về phía trước, liền theo hình cung tự nhiên bước về phía trước.

5. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp uốn nắn

1. Sai lầm: hư thực không rõ. Nguyên nhân chính: một là khi tiếp Đơn Tiên, khép chân trái vào trong, trọng tâm dễ dịch sang phải, hình thành song trọng; hai là chân trái chưa ngồi vững, đã bước chân phải về trước, do đó trọng tâm dịch về trước. Uốn nắn: "song trọng tắc trệ" (song trọng thì trệ), chuyển đổi hư thực hai chân phải rõ ràng, thượng bàn phải linh hoạt, nhất định phải làm cho hạ bàn vững chắc; cho nên, chân phải bước về trước chỉ có thể dùng gót chân nhẹ nhàng hạ xuống, mà trọng tâm nhất định phải ngồi trên chân trái. Vì thế, phải làm nhiều chân thực xoay, phải vừa xoay vừa chìm.

2. Sai lầm: động tác tay chân tách rời. Thường thường là chân phải đã hạ xuống mà hai tay còn duỗi về trước. Nguyên nhân chính là trên dưới không tương tùy. Uốn nắn: chân đến tay đến, như thế mới có thể tay chân một kình.

3. Sai lầm: hai khuỷu chống ra ngoài nhấc lên, xa rời thân thể lồi ra ngoài.

(Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế, trang 42)

...Nguyên nhân chính là không chú ý yêu cầu khuỷu không rời gối. Uốn nắn: phải khuỷu hợp với gối. Khi bắt đầu tiếp Đơn Tiên, thân trên bắt đầu xoay phải, lập tức buông lỏng vai buông khuỷu; nếu hai khuỷu lộ ra quá lớn, trong kỹ kích có hại không lợi.

4. Sai lầm: vị trí cao, thấp, trong, ngoài của hai tay không hợp yêu cầu. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa đủ. Uốn nắn: yêu cầu của Đề Thủ là làm cho hai cổ tay của mình tiếp xúc với khuỷu, cổ tay của đối phương; như thế có thể hiểu được nguyên nhân của yêu cầu tay phải ở trước, tay trái ở sau, tay phải hơi cao, tay trái hơi thấp, khoảng cách trước sau hai tay chừng một cẳng tay. Vì vậy, có thể dùng khuỷu, cổ tay của đối phương để uốn nắn vị trí hai tay của ta.

5. Sai lầm: khi định thức thân trên ngả về trước quá mức, gọi là "miêu yêu" (eo mèo). Nguyên nhân chính là mất lập thân trung chính. Uốn nắn: Đề Thủ Thượng Thế là hàm súc thế của mình để chờ sự biến đổi của đối phương; để không làm thân thể tán mạn mất trung, phải hàm ngực bạt bối, đuôi lư trung chính. Làm được lui có thể lữ, tiến có thể tễ. Nếu hai tay duỗi về trước quá mức, trọng tâm dịch về trước, sẽ gây bị động cho mình.

6. Sai lầm: khi định thức thân trên đối diện chính phía trước. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Động tác Đề Thủ là chờ sự biến đổi của người; nếu ta đối diện chính diện, đối phương đánh thẳng tới trước, ta liền không thể dẫn tiến; nếu dẫn thẳng tới trước thì dễ rơi lên chính mình. Uốn nắn: thân thể phải hơi lệch.

6. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải (trọng điểm ở hư thực), làm mẫu (trọng điểm ở chân thực xoay).

2. Khẩu quyết: xoay eo khép chân trái, trọng tâm vẫn ở trái; đề thủ là hợp kình, tay chân cùng ra. Hô hấp tự nhiên hành, súc thế đãi bỉ động.

3. Hai người một nhóm, một công một thủ, thể hội vị trí tay; mấy người một nhóm, cùng quan sát lẫn nhau, uốn nắn sai lầm.

4. Gợi ý yếu lĩnh: ① Khi xoay thân khép chân trái — trọng tâm không được biến đổi. ② Khi xoay thân hướng nam — câu thủ phải biến thành bàn tay, khuỷu chìm xuống, hai tay đi hình cung. ③ Khi chân phải bước về trước — nhẹ nhàng hạ xuống, tay chân cùng đến.

5. Phương pháp tăng dần: ① Chân trái khép vào trong, xoay thân hướng nam. ② (Thế thứ 5 Đề Thủ Thượng Thế — Phân tích kỹ thuật, trang 43) Chân trái khép vào trong, xoay thân hướng nam. Tay phải biến thành bàn tay, hai khuỷu buông xuống. ③ Chân trái khép vào trong, xoay thân hướng nam, tay phải biến thành bàn tay, hai khuỷu buông xuống, nhấc chân phải về trước, hai tay vào trong hướng trước nâng khép.

6. Để làm sâu hiểu biết về hư thực, rèn luyện sức chân, lặp lại làm chân trái khép vào trong, chân trái ngồi vững, lặp lại nhấc chân phải bước về trước thành tấn hư phải.

7. Ở vị trí tấn hư phải, lặp lại làm động tác nhấc hạ chân phải, thể hội gối hơi cong, chân nhẹ nhàng linh hoạt.

8. Để làm sâu hiểu biết đường di chuyển của tay và vị trí khi định thức, lặp lại làm bài luyện nâng khép hai cánh tay vào trong hướng trước, bắt đầu từ dựng bàn tay trái và móc thủ phải.

7. Phân tích kỹ thuật

1. Toàn bộ động tác đều chống trên chân trái, cho nên, phụ tải của chân trái là khá nặng.

2. Động tác phải eo động, tay động, chân động, ánh mắt phải theo đó mà động; có một chỗ không động sẽ tán loạn. Cho nên, khi xoay eo sang phải, xoay thân (hướng nam) đồng thời phải câu thủ phải biến thành bàn tay, khuỷu hơi chìm, nhấc gối phải, mắt nhìn phía trước, trên dưới tương tùy.

3. Động tác này khi xoay eo hướng nam dễ ưỡn ngực, khi khép vào trong duỗi về trước dễ lõm ngực. Ngực ưỡn ra thì khí dồn lên ngực, trên nặng dưới nhẹ, gót chân dễ nổi lên. Lõm ngực không lợi cho hô hấp; hàm ngực có lợi cho hóa kình. Quyền luận nói: "lưỡng bác tương hệ", "khẩn yếu toàn tại hung trung yêu gian vận hóa" (hai cánh tay ràng buộc nhau; cái khẩn yếu hoàn toàn ở sự vận hóa trong ngực và eo). Cho nên, hàm ngực là "súc thế" của ngực; có hàm ngực là có thể bạt bối, có bạt bối thì lực có thể phát từ sống lưng.

4. Chân phải bước về trước phải nhẹ nhàng linh hoạt; nhẹ nhàng linh hoạt tức là không dùng kình cứng; hễ phạm kình cứng thì xoay chuyển không nhẹ nhàng linh hoạt. Cho nên, luyện quyền phải luyện khinh trầm kết hợp, cương nhu tương tế. Chân phải bước về trước trong động tác này, trước hết phải thu gốc hông trái vào trong, chân trái ngồi vững, khi từ thực biến thành hư chú ý nhẹ nhàng linh hoạt, khi từ hư biến thành thực chú ý trầm ổn; làm cho chân phải bước về trước bao gồm toàn thân trong ngoài, phải chú ý "khinh trầm kiêm bị, cương nhu nội hàm" (nhẹ và chìm đều có, cương nhu ngậm bên trong), súc mà không phát, kỹ xảo và công lực cùng trọng.

(Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí (Hạc Trắng Xòe Cánh), trang 44)

Phần 54

Trang sách 339

Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí (Hạc Trắng Xòe Cánh)

Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí (Hạc Trắng Xòe Cánh)
1. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương từ bên trái thân thể ta dùng hai tay đánh tới, ta mau thu chân phải về, nhấc lên bước ra phía trước, mũi chân hơi chéo (hướng đông nam), hơi cong ngồi vững; thân thể cùng với chân phải đồng thời xoay sang trái (nam), chân trái dịch đến chính diện phía trước (đông) mũi chân chấm đất; lòng bàn tay trái đồng thời áp vào phía trong khuỷu tay phải, hơi chìm; tay phải liền nhấc lên mở ra trên trán phải, lòng bàn tay phải hướng lên ra ngoài, dùng tay phải của ta nhấc tay trái của đối phương lên. Tay trái mau xuống dưới, từ bên trái mở xuống đến bên hông trái, lòng bàn tay hướng xuống; như thế, lực của hai tay đối phương bị ta phân tán không chỉnh.

2. Quá trình động tác

1. Trọng tâm vẫn ở chân trái, eo thân hơi xoay trái, gốc hông trái hơi thu vào trong, chân phải nhấc lên. Đồng thời khuỷu trái rút về sau bên trái, vừa rút vừa theo cánh tay xoay vào trong làm lòng bàn tay lật hướng xuống; bàn tay phải cũng đồng thời theo thân xoay từ trước xuống dưới, theo hình cung sang phía trước bên trái dịch đến phía dưới tay trái, vừa dịch vừa theo cánh tay xoay ra ngoài làm lòng bàn tay lật hướng lên. Ánh mắt hơi chú ý khuỷu trái rút về sau, liền chuyển nhìn ngang về trước (xem Hình 27, Hình 28).

图 27
图 27
Khuỷu trái rút về sau bên trái, vừa rút vừa theo cánh tay xoay vào trong làm lòng bàn tay lật hướng xuống; bàn tay phải theo thân xoay từ trước xuống dưới, theo hình cung sang phía trước bên trái dịch đến phía dưới tay trái.
图 28
图 28
Bàn tay phải vừa dịch vừa theo cánh tay xoay ra ngoài làm lòng bàn tay lật hướng lên; ánh mắt hơi chú ý khuỷu trái rút về sau, liền chuyển nhìn ngang về trước.
图 29
图 29
Cánh tay phải nhấc lên đến trước thượng phúc, bàn tay trái áp vào phía trong cẳng tay phải (hướng đông nam), ánh mắt chú ý cánh tay phải. (Hình này cũng được tái bản ở trang sau làm biểu thị thôi thủ, hình 29.)

2. Chân phải hạ xuống tại chỗ về phía trước, trước hết lấy gót chân chạm đất, liền đó mũi chân thành khoảng 45° đạp vững. Eo dần xoay trái, trọng tâm dần toàn bộ dịch sang chân phải, chân phải cong gối ngồi vững; đồng thời với việc xoay eo bước chân, cánh tay phải nhấc lên đến trước thượng phúc, bàn tay trái áp vào phía trong cẳng tay phải (hướng (Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí, trang 45) ...hướng đông nam), mắt chú ý đến cánh tay phải (xem Hình 29).

3. Thân thể hơi xoay trái, chân trái hơi nhấc lên, dịch đến trước thân (đông), lấy mũi chân chấm đất hư, gối trái hơi cong; đồng thời, bàn tay phải nhấc lên, vừa nhấc vừa xoay cánh tay vào trong, làm lòng bàn tay lật hướng ra ngoài (ngón tay nghiêng lên trên); bàn tay trái cũng đồng thời theo hình cung hạ xuống bên hông trái, lòng bàn tay hướng xuống ngồi cổ tay, đầu ngón tay hướng về trước. Mắt hơi chú ý bàn tay phải nhấc lên, liền nhìn ngang về trước, nhưng ánh mắt phải chú ý đến hai bàn tay. (Xem Hình 30A, Hình 30B.)

图 29
图 29
Cánh tay phải nhấc lên đến trước thượng phúc, bàn tay trái áp vào phía trong cẳng tay phải (hướng đông nam), mắt chú ý đến cánh tay phải.
图 30A
图 30A
Bàn tay phải nhấc lên, vừa nhấc vừa xoay cánh tay vào trong, làm lòng bàn tay lật hướng ra ngoài (ngón tay nghiêng lên trên); chân trái hơi nhấc lên dịch đến trước thân, mũi chân chấm đất hư, gối trái hơi cong.
图 30B
图 30B
Bàn tay trái theo hình cung hạ xuống bên hông trái, lòng bàn tay hướng xuống ngồi cổ tay, đầu ngón tay hướng về trước; mắt liền nhìn ngang về trước, nhưng ánh mắt phải chú ý đến hai bàn tay.
3. Yếu lĩnh

1. Chân phải nhấc lên và khuỷu trái rút về sau, cánh tay phải chìm xuống, phải tiến hành đồng thời. Đầu không được cúi, thân thể không được ngả trước ngửa sau, gốc hông trái phải thu vào trong; như thế mới tỏ ra trên dưới nhất trí.

2. Phải có khí thế hướng lên, nhưng chân phải vẫn phải ngồi xuống bạt eo; như thế mới có cảm giác trên dưới kéo đối nhau, thân thể chi kéo dài. Nhưng phải chú ý, không được hình thành ưỡn bụng. Đỉnh kình thượng lĩnh, tinh thần liền nhấc lên được; chìm khí hạ hông, hạ bàn liền ổn trọng.

3. Khi thành định thức, hai cánh tay phải thành hình cung, nhưng không được cong khuỷu thẳng; bàn tay phải tuy ở phía trên trước trán phải, nhưng không được nhấc khuỷu gánh vai, (Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí, trang 46) ...mà phải buông lỏng vai buông khuỷu, ngồi cổ tay. Thân thể vẫn phải trung chính, không được ngả trước, ngửa sau, không được ưỡn ngực, lồi mông.

4. Yêu cầu

1. Hư thực phải rõ. Khi chân phải thu về và lại bước ra phía trước, trọng tâm toàn bộ ở chân trái; chân trái phải ngồi vững. Khi xoay thân sang trái, chân trái nhấc lên bước ra phía trước, trọng tâm toàn bộ ở chân phải; chân phải phải ngồi vững, sự trao đổi trọng tâm không được quá nhanh.

2. Eo là trục xe, dẫn dắt bốn chi xoay chuyển. Khi theo eo xoay trái, khuỷu trái rút về sau bên trái, yêu cầu lấy eo dẫn tay, không được chỉ động tay mà không động eo.

3. Chân trái hướng về trước mũi chân chấm đất, phải hư, không được gánh trọng lượng cơ thể.

4. Tay phải nhấc lên tay trái ấn xuống, phải có ý phân, không phải hai tay không liên hệ nhau; hình dáng bên ngoài không lộ, có ý là được, phải dùng ý không dùng sức.

5. Khi hai tay phân phải bạt eo, phải kéo dài đối nhau, phải đề đang quán đỉnh; không phải thân thể hướng lên, mà là có cảm giác duỗi dài.

6. Bàn tay phải tự nhiên nghiêng lên trên, không được để bàn tay ngang; bàn tay ngang thì phải nhấc khuỷu.

7. Phải làm tốt hàm ngực bạt bối, không được lõm ngực, căng thẳng thu vào trong, mà ngực phải có cảm giác rộng thoáng, cơ ngực buông lỏng, có lợi cho hoạt động của hoành cách mô. Người mới học phải chú ý không ưỡn ngực, nhưng cũng không được gù lưng.

5. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp uốn nắn

1. Sai lầm: khi tay phải từ trước hạ xuống, tay trái dừng lại không động. Nguyên nhân chính là chưa làm tay trái rút về sau. Uốn nắn: phải hai tay đều động.

2. Sai lầm: khi nhấc chân phải thân trên cong về trước. Nguyên nhân chính là muốn giảm bớt lực của chân trái đang duy trì trọng tâm cơ thể, gây lồi mông hoặc cong eo lõm ngực, cúi đầu. Uốn nắn: thân trên vẫn phải ngay ngắn, chú ý đuôi lư trung chính. Phải bộ tùy thân hoán; thân thể nghiêng lệch sẽ mất thăng bằng. Khi tiến lui chuyển đổi nếu hư thực không rõ, hạ bàn không vững, sẽ mất thăng bằng, hình thành thân thể nghiêng lệch. Cho nên, lập thân phải trung chính an thư, làm được trên dưới cơ bản một đường. (Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí, trang 47) 3. Sai lầm: chân phải bước về trước gấp gáp hạ xuống. Nguyên nhân chính là do trọng tâm dịch về trước quá sớm, mất nhẹ nhàng linh hoạt. Uốn nắn: phải chân trái hơi chìm xuống, vị trí trọng tâm trên chân trái không động, chân phải từ từ duỗi về trước, liền có thể nhẹ nhàng hạ xuống.

4. Sai lầm: khi định thức, hai chân kẹp chặt. Nguyên nhân chính là khoảng cách ngang của chân trái không đủ, nên hơi dịch sang trái. Uốn nắn: gốc hông nên buông lỏng chống tròn.

5. Sai lầm: khi định thức cúi đầu cong eo. Nguyên nhân chính là chú ý chưa đủ đến hư lĩnh đỉnh kình. Uốn nắn: huyệt bách hội trên đỉnh đầu nhẹ nhàng nhấc lên, đầu tự nhiên ngay ngắn, thân thể cũng không dễ ngả trước ngửa sau; nhưng cũng không được gồng cứng, hình thành cứng thẳng.

6. Sai lầm: cánh tay trái kẹp chặt, ngón tay không hướng về trước. Nguyên nhân chính là vai không buông lỏng. Uốn nắn: vai phải buông lỏng, dưới nách phải để một khoảng trống một nắm tay, tay trái phải ngồi cổ tay.

6. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải, làm mẫu (chú trọng sự di chuyển và vị trí của tay), xây dựng khái niệm tổng thể.

2. Tập thể luyện theo. Hai phương hướng chia làm hai đoạn luyện, không được làm tăng khó khăn cho người luyện vừa phải học động tác vừa phải đổi phương hướng.

3. Giáo viên từ các vị trí khác nhau quan sát sai lầm tồn tại, từ nam nhìn về bắc xem sự di chuyển của hai tay; từ đông nhìn về tây xem vị trí hai tay, khí thế hướng lên v.v.

4. Dùng các phương pháp khác nhau để uốn nắn, thông qua luyện tập lặp lại mà được nâng cao, đồng thời cũng tăng cường thể chất.

5. Kết hợp cách dùng đối luyện: ① Giáp — ở bên trái của Ất dùng hai bàn tay đánh tới. ② Ất — từ tư thế Đề Thủ Thượng Thế bắt đầu, thu chân phải rồi bước ra phía trước, xoay thân trái, phân hai tay, tay phải nhấc lên tay trái hạ xuống, tách hai bàn tay của Giáp ra.

Luyện tập lặp lại, hai người đổi vai, thể hội ý nghĩa kỹ kích của động tác.

6. Khẩu lệnh động tác (người mới luyện): ① Thu chân phải, khép. ② Ra chân phải giẫm tại chỗ. ③ Thân thể từ nam xoay sang đông. ④ Ra chân trái hướng đông. ⑤ Tay phải nhấc lên tay trái hạ xuống, hai tay phân. ⑥ Trên bạt dưới ngồi.

(Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí — Phân tích kỹ thuật, trang 48)

7. Lặp lại luyện chân phải thu về bước ra, chú ý thân trên không ngả trước ngửa sau, bước như mèo đi, hạ xuống phải nhẹ. Chân phải phải dùng chân trái chìm xuống để "tống". Khi hạ xuống bàn chân nghiêng vào trong khoảng 45°. Lặp lại thể hội, lặp lại luyện tập.

8. Từ Đề Thủ Thượng Thế tiếp động tác này, thân trên hơi xoay trái, khuỷu trái rút về sau bên trái, tay phải từ trước xuống dưới, đồng thời chân phải nhấc lên; lặp lại luyện tập, làm cho thế này tiếp thế kia, không để dừng lại.

9. Người mới học phải lặp lại làm: chân phải bước về trước, gót sau chạm đất trước, bàn chân nghiêng vào trong khoảng 45°, để hiểu rõ, làm tốt công tác chuẩn bị cho chân sau khi xoay thân, không để động tác về sau trái ngược.

10. Chân phải ngồi vững, chân trái làm bài luyện từ bên thân đặt đến trước thân, từ trước thân thu về bên thân. Khi đó, gốc hông phải hơi rút vào trong chìm xuống, cơ hông và chân trái buông lỏng, làm cho chân trái di chuyển linh hoạt.

11. Lặp lại đối chiếu vị trí hai tay khi mình định thức, uốn nắn lẫn nhau. Không để quá mở, quá cao, quá thấp.

7. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này là động tác phân, cho nên, người luyện khi làm hai tay phân lên xuống, dụng ý phải rõ ràng; đương nhiên phải là dùng ý không dùng sức.

2. Khi định thức là tấn hư trái, nhưng không thể hư đến mức hoàn toàn vô lực, thực đến mức đứng chết cứng.

3. Trong luyện Thái Cực Quyền, khuỷu luôn phải có kình rủ xuống; trong Bạch Hạc Lượng Sí cánh tay phải nhấc lên quá vai, nhưng nội kình của khuỷu vẫn là rủ xuống mà chìm. Cho nên, tay phải không được để bàn tay ngang; bàn tay ngang thì phải nhấc khuỷu.

4. Động tác này khi luyện rất dễ làm tư thế nâng cao. Khi luyện toàn bộ bài quyền, tư thế cao, trung, thấp đã định lúc đầu, về sau phải luôn giữ ở một độ cao, không được khi cao khi thấp.

5. Luyện động tác Bạch Hạc Lượng Sí dễ tán loạn, luyện không tốt trên dưới tương tùy. Thái Cực Quyền nói phải làm được: "thân động, yêu động, túc động, nhãn thần diệc tùy chi nhi động, như thị phương khả vị chi thượng hạ tương tùy" (thân động, eo động, chân động, ánh mắt cũng theo đó mà động, như thế mới có thể gọi là trên dưới tương tùy). Nhưng, người mới luyện thường khi từ Đề Thủ Thượng Thế tiếp Bạch Hạc Lượng Sí, chân phải thu về, tay phải thu về, hai tay trái phải khép trước thân, chân phải còn (Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí — Phân tích kỹ thuật, trang 49) ...chưa bước ra phía trước thì liền hình thành ngắt quãng. Nhìn từ cách dùng: đối phương từ bên trái ta dùng hai tay đánh tới, tay phải ta vừa chìm vừa nhấc, nhấc thu đến trên góc trán phải mở ra, tay trái mau xuống dưới, đóng vai trò triêm, liên, niêm, tùy. Khi phân lực của đối phương, vừa không đối kháng cũng không ngắt quãng, làm cho họ hoàn toàn không có lực, làm cho lực của họ phân tán không chỉnh, bị ta khống chế. Cho nên, động tác tay chân của ta phải trên dưới tương tùy, liên miên không dứt; và tay phải phải vừa khép vừa nhấc, thân cũng theo chân phải ra trước đồng thời xoay hướng đông, ánh mắt cũng đến trước tay. Như thế mới hợp yêu cầu quyền luận nói: "kỳ căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu, hình ư thủ chỉ, do cước nhi thối nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí" (gốc ở chân, phát ở chân, chủ tể ở eo, hình ở ngón tay, từ chân mà chân mà eo, tổng phải hoàn chỉnh một khí), cũng liền trên dưới tương tùy không tán loạn.

6. Khi định thức thế này, nói chung luyện không ra "khí thế"; không phải gật đầu lõm ngực thì cũng là ưỡn ngực lồi mông; chỗ khó luyện chính là luyện "ý". Động tác phải có khí thế hướng lên, phải nhấc được tinh thần, phải cảm thấy ở đỉnh đầu có một luồng kình kéo lên, ở bụng dưới có một luồng kình chìm xuống, thân thể như bị hai luồng kình kéo dài; hình dáng bên ngoài tư thế duỗi dài, tinh thần hư linh tự nhiên, động tác liền hợp yêu cầu.

7. Luyện Thái Cực Quyền phải coi trọng "tùng". Tức là phải buông lỏng tự nhiên. Miệng bụng không nín thở, hô hấp sâu, chậm, mềm, đều. Tứ chi eo chân không dùng cường kình, toàn bộ thân thể buông lỏng, tinh thần cũng theo đó buông lỏng; tùng là thư tùng tự nhiên, nhưng không phải tùng giải (lơi lỏng). Người mới học dễ dùng kình lực; luyện lâu lặp lại, dần dần tiêu trừ cương kình, động tác liền thư tùng tự nhiên, liền có thể đạt được "viên hoạt chi thú" (thú vị tròn sống). Đồng thời, khi luyện thư tùng tự nhiên, số lượng mao mạch mở ra trong cơ tăng nhiều, làm cho huyết mạch toàn thân thông suốt, đặc biệt đối với huyết tĩnh mạch, thông qua cơ căng ra lỏng vào, thúc đẩy huyết dịch hồi lưu tim; căng lỏng luân phiên cũng làm mạch máu buông lỏng, có lợi cho huyết áp giảm; cho nên, khi hai tay khép thì ngồi vững chân trái, các chi khác phải buông lỏng; khi ra chân phải ngồi vững, thì chân trái và các chi khác cũng phải buông lỏng; như thế vừa căng vừa lỏng, liền có thể đạt được thư tùng tự nhiên, hô hấp phối hợp, huyết lưu thông suốt.

8. "Thần vi chủ soái, thân vi xu sử" (thần là chủ soái, thân là kẻ bị sai khiến), luyện quyền phải coi trọng nội ngoại tương hợp, phải coi trọng khai hợp. Khai, không chỉ tay chân khai, tâm ý cũng cùng với đó (Thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí — Phân tích kỹ thuật / Thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ (Tay Trái Vuốt Đầu Gối Bước Xoay), trang 50) ...khép. Phải nội ngoại hợp thành một khí. Phải có nội động trước rồi sau đó hình dáng bên ngoài cũng động theo. Cho nên là "luyện ý", "luyện khí", "luyện thân" đồng thời tiến hành. Quyền luận: "phàm thử giai thị ý, bất tại ngoại diện" (phàm những cái đó đều là ý, không ở bên ngoài). Nói rõ đặc biệt coi trọng "ý"; do đó, luyện Bạch Hạc Lượng Sí, sự hợp và phân trong ý thức, kết hợp động tác, hô hấp và sự thu, triển trong động tác, phải nội ngoại tương hợp, coi trọng tác dụng của "ý", mới có thể luyện tốt động tác, tăng tiến sức khỏe.

Phần 55

Trang sách 342

Thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ (Tay Trái Vuốt Đầu Gối Bước Xoay)

Thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ (Tay Trái Vuốt Đầu Gối Bước Xoay)
1. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương từ bên trái ta đánh tới ở hai tầng giữa, dưới, dùng tay hoặc chân, ta đem thân chìm xuống, thực lực tạm thời đặt trên chân phải; chân trái liền nhấc lên bước ra một bước về phía trước, cong gối trái ngồi vững, chân phải theo đó duỗi thẳng; tay trái đồng thời xoay lên đến trước ngực phải, hướng ra trái xuống dưới, gạt tay hoặc chân của đối phương ra; tay phải đồng thời ngửa bàn tay rủ xuống, thẳng về phía sau bên phải xoay chuyển nhấc lên đến bên tai ngồi cổ tay, ngón tay như mở mà chưa mở, như khép mà chưa khép, lòng bàn tay hướng về trước, chìm vai buông khuỷu, buông lỏng eo hông, ấn tới ngực đối phương. Các bộ phận thân thủ phải thành một kình, ý cũng dương trường tiến về trước, như thế mới có thể đắc lực.

2. Quá trình động tác

1. Eo hơi xoay phải, gốc hông phải thu vào trong, đồng thời buông lỏng vai phải, chìm khuỷu phải, tự nhiên dẫn bàn tay phải xoay ra ngoài làm lòng bàn tay hướng vào trong, theo hình cung hạ xuống, qua bên hông cánh tay phải theo xoay ra ngoài làm lòng bàn tay dần lật nghiêng hướng lên; đồng thời, bàn tay trái cũng theo xoay eo từ dưới trái về trước mà lên, gốc bàn tay cao ngang thượng phúc, theo hình cung dịch sang phải, lòng bàn tay hướng xuống (hai tay một lên một xuống theo hình cung giao nhau di chuyển). Mắt theo xoay eo nhìn ngang về trước, ánh mắt phải chú ý bàn tay phải (xem Hình 31, Hình 32).

2. Chân trái nhấc lên, thân trên tiếp tục hơi xoay phải; theo thân xoay, bàn tay phải theo hình cung dịch lên góc chéo phải, lòng bàn tay nghiêng hướng lên. Bàn tay trái tiếp tục theo hình cung sang phải hạ xuống trước bụng (gần phải), lòng bàn tay vẫn hướng xuống. Mắt hơi chú ý bàn tay phải liền chuyển chú ý hướng bàn tay trái (xem Hình 33).

3. Chân trái hướng về trước (đông) hạ xuống, dùng gót chân nhẹ nhàng chạm đất, (Thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ, trang 51) ...theo trọng tâm dần dịch sang chân trái, từ từ toàn bàn chân đạp vững, cong chân trái, đạp chân phải, thành tấn cung trái. Đồng thời thân thể dần xoay trái, bàn tay trái theo thân xoay xuống dưới về trước theo hình cung, qua gối trái theo hình cung vuốt đến bên hông trái (phía chéo trước). Bàn tay phải cũng theo thân thể xoay trái, theo hình cung hướng lên, qua bên tai phải đẩy ra về phía trước (đông). Mắt chú ý hướng bàn tay trái vuốt qua đầu gối liền nhìn ngang về trước, chú ý bàn tay phải đẩy về trước (xem Hình 34, Hình 35).

图 34
图 34
Thân thể dần xoay trái, bàn tay trái theo thân xoay xuống dưới về trước theo hình cung, qua gối trái theo hình cung vuốt đến bên hông trái (phía chéo trước).
图 35A
图 35A
Bàn tay trái vuốt qua gối trái, cong chân trái, đạp chân phải, thành tấn cung trái.
图 35B
图 35B
Bàn tay phải qua bên tai phải đẩy ra về phía trước (đông); mắt chú ý hướng bàn tay trái vuốt qua đầu gối liền nhìn ngang về trước.
3. Yếu lĩnh

1. Khi eo từ xoay phải chuyển thành xoay trái, thân thể không được lắc lư, nếu không thân trên sẽ ngả trước ngửa sau hoặc nghiêng bên, không hợp yêu cầu "đuôi lư trung chính".

2. Khi bước về phía trước, thân trên cũng phải ngay ngắn; vì người luyện nói chung, trong quá trình bước, chỉ có một chân ngồi xổm làm chống đỡ, cho nên, thường sẽ vì chăm lo thăng bằng thân thể mà lồi mông ra, như thế không hợp yêu cầu "liễm mông" và "đuôi lư trung chính".

3. Bàn tay phải từ dưới dịch lên trên bên phải phải nhất trí với chân trái nhấc lên; thân xoay trái, biến thành tấn cung phải nhất trí với bàn tay phải đẩy ra; toàn bộ động tác Lâu Tất Ảo Bộ phải làm cho phối hợp, viên mãn, mềm mại, không được có hiện tượng trệ đốn hay góc cạnh.

4. Khi vai phải buông lỏng chìm xuống, không được hình thành vai phải thấp, vai trái cao; hai vai phải ngang bằng (trong toàn bộ động tác đều phải như thế).

5. Cánh tay vuốt gối phải thành hình cung, tránh duỗi thẳng. Đẩy ra bàn tay phải, phải hơi xoay mà đẩy ra, nhưng đến định thức, lòng bàn tay không được hoàn toàn đối diện chính phía trước, phải hơi nghiêng sang trái; lòng bàn tay trái cũng không được hoàn toàn đối diện mặt đất, phải hơi nghiêng vào trong; hai bàn tay đều phải ngồi cổ tay.

6. Khi định thức phải đồng thời đến vị trí, không được một tay đã đến vị trí (dừng lại), tay kia còn đang vận chuyển, cũng không được chân đến mà tay chưa đến. Khi bắt đầu động tác, hai tay đều phải động, không được tay ở trên đã dịch về trước mà tay ở dưới còn dừng lại không động.

7. Trên tư tưởng và hình dáng bên ngoài phải phối hợp, nội ngoại nhất trí; tiến về trước lui về sau phải có một loại khí thế, duỗi triển và khẩn thốc kết hợp, không được cứng nhắc tán loạn.

4. Yêu cầu

(Thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ — Yêu cầu / Dễ phạm sai lầm, trang 52) 1. Chìm khuỷu phải đồng thời cánh tay phải xoay ra ngoài, bàn tay phải hướng vào trong; nếu không, sẽ phạm cứng, mà trên tư tưởng phải lấy khuỷu chìm xuống.

2. Chìm khuỷu phải, bàn tay trái theo hình cung hướng lên, phải cùng động với lúc eo hơi xoay phải, phải hợp yêu cầu "nhất động vô hữu bất động". Bàn tay phải ở góc chéo phải hướng lên, bàn tay trái theo hình cung hạ xuống trước bụng (lòng bàn tay hướng xuống); đồng thời, khi chân trái nhấc lên cũng không được một tay động một tay không động.

3. Góc dịch về sau của cánh tay phải không được quá lớn, chéo hướng tây nam lệch tây là được. Xoay thân không được quá nhiều, chính diện thân thể chéo hướng đông nam lệch nam là được.

4. Chân trái hướng về trước hạ xuống, trước hết dùng gót chân nhẹ nhàng chạm đất, sau đó thân thể từ từ xoay trái; tay trái vuốt, tay phải từ từ đẩy ra, chân trái cong ra, đều phải đồng thời bắt đầu cùng nhau, kết thúc cùng nhau đến vị trí, mới có thể trên dưới tương tùy.

5. Chân trái nhấc lên, thu vào trong không được quá gần mắt cá trong bàn chân phải, mà là tự nhiên thu, sau đó hướng về trước tự nhiên duỗi ra, bước xuống, làm được bước như mèo đi.

6. Khi xoay eo thân trên không được lắc lư, chân phải vững, eo phải buông lỏng.

7. Khi vuốt phải ngồi cổ tay, phải xoay eo, lấy eo dẫn tay, khuỷu cổ tay cùng di chuyển.

8. Khi bước chân trái tiến về trước, thân trên không được ngả trước đổ sau; chân phải gánh trọng lượng thân thể phải ngồi vững; chân trái tiến về trước, phải trước hết nhấc đùi, tích kình ở gối, mang gót chân lên, mũi chân tự nhiên rủ xuống, lại từ cong mà duỗi, chầm chậm bước ra, mũi chân từ rủ xuống biến thành hơi hướng lên, gót chân nhẹ nhàng chạm đất trước, sau đó bàn chân và mũi chân chạm đất, toàn bộ đạp vững.

9. Khoảng cách ngang hai chân của tấn cung phải mở rộng một chút (hẹp hơn vai một chút), không được đứng trên một đường thẳng; khi định thức mới có thể đứng vững.

5. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp uốn nắn

1. Sai lầm: chìm khuỷu phải, nhưng cánh tay phải không xoay ra ngoài, bàn tay phải chưa hướng vào trong. Nguyên nhân chính là không hiểu tác dụng duỗi thu triền nhiễu của chìm khuỷu. Cho nên động tác đi thẳng tới lui, khuỷu dễ xa rời thân thể lồi ra ngoài, gây lộ sườn. Uốn nắn: Thái Cực là bằng kình, động tác

Phần 56

Trang sách 343

VII. Phân tích kỹ thuật (Thế thứ bảy, Tả lâu tất ảo bộ — tiếp)

VII. Phân tích kỹ thuật (Thế thứ bảy, Tả lâu tất ảo bộ — tiếp)

Đi theo đường xoắn ốc, cho nên bàn tay phải xoay ra ngoài, xoay cổ tay chuyển cánh tay, chìm khuỷu xuống dưới.

2. Lỗi: tay phải động mà tay trái không động. Nguyên nhân chính là sự chú ý dồn vào tay phải, bỏ qua nguyên tắc "nhất động vô hữu bất động" (một phần động thì mọi phần đều động). Sửa: tâm thần phải chuyên nhất mới có được "tâm tĩnh dụng ý"; khi tay phải động xuống thì tay trái phải đồng thời động lên, lưng cũng hơi động.

3. Lỗi: xoay người sang phải quá lớn, tới 90° (thân thể hướng về nam). Nguyên nhân chính là không rõ ý nghĩa sinh lý và ý nghĩa kỹ kích của biên độ xoay của lưng. Nếu trục lưng xoay quá lớn, động tác của thân thể và tứ chi sẽ vượt quá mức, khiến vai và hông trên dưới không tương xứng. Xoay lưng quá mức làm thân thể mất trung chính, lại dễ gây nín hơi; đối phương đánh từ chính diện mà mình lại hướng mặt sang bên thì làm sao quan sát được thế tiến công của đối thủ, cho nên xét về kỹ kích cũng là sai. Sửa: xoay người khoảng 75°, thân thể hướng về đông nam lệch nam, mắt không rời tay, trước phải sau trái. Phương pháp là: xoay xong rồi dừng lại, kiểm tra góc xoay.

4. Lỗi: khi xoay, tay trái áp sát ngực làm thân thể co rúm, tư thế không viên mãn. Nguyên nhân chính là không chú ý yêu cầu "tùng khai ngã kình bất sử khúc" (mở lỏng để kình của mình không bị gập). Sửa: dưới nách phải để dư địa, khoảng chứa được một nắm tay, để cánh tay có chỗ xoay chuyển, không tự trói mình.

5. Lỗi: tay phải đánh ra trước không phải thu về rồi đi ra qua bên tai, mà đẩy ngang ra xa vai. Điều này làm lộ sườn, tán loạn, không hợp yêu cầu kỹ kích, không thể hợp các phần tay và thân thành một kình. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Sửa: bàn tay phải dịch về theo đường cung, để lòng bàn tay đi qua bên tai rồi đẩy thẳng ra trước.

6. Lỗi: khi tay trái lâu tất (gạt qua đầu gối) lại buông cổ tay rủ ngón. Nguyên nhân chính là không chú ý đủ đến việc tọa uyển (ngồi cổ tay); điều này ảnh hưởng đến việc nội kình quán tới đầu ngón, làm cổ tay vô lực. Sửa: phải dùng khuỷu dẫn cổ tay, tọa uyển bằng bàn tay gạt qua đầu gối.

7. Lỗi: hai chân đứng trên một đường thẳng. Nguyên nhân chính là khớp hông chưa mở, khiến lưng và chân không đoái hoài nhau. Sửa: khi chân trái bước tới phải dịch hơi sang trái, để khoảng cách ngang giữa hai chân hơi nhỏ hơn bề rộng vai; có thể kiểm tra bề rộng khi đã định thế.

hơi nhỏ hơn bề rộng vai; có thể kiểm tra bề rộng khi đã định thế.

8. Lỗi: khi lâu tất chỉ động tay mà không động khuỷu. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Sửa: phải dùng lưng dẫn khuỷu, dùng khuỷu dẫn tay, có như vậy mới đạt yêu cầu quán kình.

9. Lỗi: tay trái lâu tất vẽ cung quá lớn hoặc quá nhỏ. Nguyên nhân chính là chưa thấu hiểu sâu yêu cầu của cách dùng. Sửa: đường di chuyển của tay phải theo hình móng ngựa, không được quá xa đầu gối, cũng không được áp sát bụng.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải quá trình động tác, cách dùng, yếu lĩnh. Làm mẫu từ các góc độ khác nhau để xây dựng khái niệm động tác.

2. Dùng phương pháp so sánh để cải thiện khoảng cách ngang giữa hai chân trong cung bộ: ① Hai chân đứng trên một đường thẳng, đẩy lực theo phương ngang làm chúng di chuyển. ② Hai chân đứng ở vị trí khoảng bằng bề rộng vai, dùng lực cùng độ lớn đẩy theo phương ngang, so sánh tính ổn định của thân thể. Từ đó rút ra kết luận: đứng trên một đường thẳng, cơ lưng và chân khó phát lực, sức chống đỡ nhỏ, thân thể dễ ngã.

3. Muốn luyện tốt "nhất động vô hữu bất động", người luyện chia thành nhóm 2–3 người, quan sát lẫn nhau xem hai tay có động cùng lúc không, hai tay có tới vị trí cùng lúc không.

4. Luyện phân rõ hư thực. Cả tập thể cùng làm: chân phải chống đỡ, chân trái nâng lên, từ từ duỗi tới trước, lại từ từ nâng lên, rồi nhẹ nhàng đặt xuống… luyện đi luyện lại; nghỉ ngơi thư giãn, rồi lặp lại, để người luyện cảm nhận đầy đủ hư thực. Cũng có thể chia nhóm 2–3 người, quan sát lẫn nhau mức độ hư thực và ưu khuyết điểm của nó.

5. Khi luyện vai và hông hợp nhất, chuyển lưng chuyển hông và cung chân, phải để hông và vai trên dưới nhất trí cùng tiến, đồng thời giữ "vĩ lư trung chính" (xương cùng ngay chính giữa).

6. Lặp lại làm tả cung bộ, tay trái lâu tất, tay phải đẩy ra, cảm nhận động tác lâu đúng và hai tay tới vị trí cùng lúc.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này trước hết phải làm tốt lâu tất thôi chưởng (gạt đầu gối đẩy bàn tay), đặc biệt là phần lâu tất. Thông thường lâu tất chỉ dùng tay; thực ra khi đối phương đánh tới bằng tay hoặc chân, nếu mình lâu không có lực thì không gạt mở được tay chân đối phương, cho nên khi lâu không chỉ dùng tay mà phải thêm lực của khuỷu, tiến thêm nữa phải thêm lực của lưng; vì vậy động tác lâu là dùng lưng dẫn khuỷu, dùng khuỷu dẫn tay.

2. Tay phải đánh ra trước được làm cùng với động tác lâu, như vậy các phần của thân thể không động riêng lẻ mà hợp thành một kình, cho nên tay chân phải tới vị trí cùng lúc.

3. Thái Cực Quyền coi trọng tĩnh, tùng, chính, viên, thư, quân, khinh, ổn (tĩnh lặng, lỏng, ngay, tròn, thoải mái, đều, nhẹ, vững), cho nên khi luyện quyền trước hết phải gạt bỏ tạp niệm, tinh thần tập trung, trong ngoài thư giãn, để khí huyết lưu thông, thân thể trung chính, động tác đều đặn. Vì thế, khi mới bắt đầu luyện quyền, giáo viên đưa dần những yêu cầu cơ bản này ra, để người luyện từng bước thuần thục và nắm vững.

Thế thứ tám: Thủ huy tỳ bà (Tay gảy đàn tỳ bà)

Phần 57

Trang sách 344

I. Cách dùng

I. Cách dùng
图 36
图 36
Tay phải thu về sau, tay trái duỗi ra trước, hai tay trước ngực thành thế ôm tỳ bà (Thế thứ tám, Thủ huy tỳ bà: minh họa cách dùng)
图 37
图 37
Thủ huy tỳ bà ở thế định: chưởng trái duỗi ra trước, chưởng phải thu về phía trong khuỷu trái, thân nghiêng hướng đông nam lệch nam

Tiếp thế trước. Giả sử đối phương dùng tay phải đánh vào ngực tôi, tôi liền hàm hung (thu ngực), gập gối phải ngồi vững. Chân trái lập tức nâng lên về phía sau, rồi gót chân chạm đất, thu súc khí thế. Tay phải đồng thời thu về khép lại và chìm xuống, vòng qua dưới cổ tay đối phương, tức dùng cổ tay mình dán vào cổ tay hắn, dùng tay phải khép bao phía trong cổ tay hắn, thái lư về phía hạ hữu. Tay trái đồng thời từ phía trước bên trái thu lên khép lại, dùng chưởng và cổ tay mình dính vào khuỷu đối phương tạo thế ôm tỳ bà, tiến hành tả liệt hữu thái. Phép này lấy việc súc thế của mình để xem sự biến của đối phương, cho nên gọi là Thủ huy tỳ bà.

II. Quá trình động tác

Trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân trái, chân phải hơi nâng lên, cơ bản vẫn đặt xuống ở chỗ cũ (hơi có tiến về trước), mũi bàn chân chạm đất trước; trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân phải, thân thể dần xoay phải khoảng 45°; chân trái hơi nâng về sau rồi tiến ra trước, vẫn cơ bản đặt xuống ở chỗ cũ, gót chân chạm đất, mũi chân hơi nâng, gối hơi cung, thành tả hư bộ. Đồng thời, chưởng trái theo thân xoay vẽ cung nâng lên phía trước, vừa nâng vừa hơi xoay cánh tay ra ngoài để lòng bàn tay hướng phải, ngón trỏ cao ngang mày; chưởng phải cũng đồng thời theo thân xoay hơi lên, rồi thu xuống về sau, cánh tay hơi xoay ra ngoài để lòng bàn tay hướng trái, thu về phía trong khuỷu trái, ngón cái tay phải cao ngang khuỷu tay trái; hai lòng bàn tay trước sau đối nhau từ xa, ngực nghiêng hướng về phía trước như thế ôm tỳ bà, mắt nhìn thẳng phía trước qua chưởng trái (xem các hình trên trang này).

图 36
图 36
Thế định ôm tỳ bà: hai chưởng trước sau đối nhau từ xa, ngực nghiêng hướng về phía trước (Thế thứ tám, Thủ huy tỳ bà)
图 37
图 37
Thủ huy tỳ bà: chưởng trái nâng lên cao ngang mày, chưởng phải thu về phía trong khuỷu trái
III. Yếu lĩnh

1. Khi từ Lâu tất ảo bộ chuyển thành Thủ huy tỳ bà, chân phải đệm bước hơi tiến về trước rồi đặt xuống; dù trọng tâm tiến trước hay ngồi về sau đều yêu cầu thân trên ngay thẳng, không được trước ngả sau ngửa, phải phù hợp yêu cầu "vĩ lư trung chính"; điều này làm tăng lực hạ thái.

2. Chân phải ngồi vững, tay trái nâng lên chéo, tay phải thu về sau, chân trái nhấc về sau đều phải tiến hành cùng lúc với xoay lưng.

3. Khi chưởng phải thu về, phải lấy lưng làm trục, phải tùng kiên (lỏng vai), thùy khuỷu (rủ khuỷu), trầm uyển (chìm cổ tay), thu về từng đốt một thông suốt như vậy, phải lấy thân dẫn tay, không được thu chưởng phải về trước mà lưng, vai, khuỷu lại không động.

4. Trước khi thu tay phải về phải hơi chìm xuống trước, thu về rồi mới khép ra trước và vào trong, bàn tay dựng thẳng hơi nghiêng ra ngoài.

5. Sau khi tay trái nâng chéo lên phải hơi thu về phía trước thân, rồi khép ra trước.

6. Chân trái duỗi tới trước đặt xuống phải tiến hành cùng lúc với hai tay khép lại.

IV. Yêu cầu

1. Hư thực phải rõ. Trọng tâm chuyển hết sang chân trái, chân phải từ từ nâng lên, hơi tiến về trước rồi đặt xuống, trọng tâm từ từ chuyển về sau, ngồi vững trên chân phải, nâng chân trái lên, nhẹ nhàng đặt xuống phía trước. Các động tác trên đều phải do một chân chống đỡ, ngồi vững ngồi ổn, chân kia mới có thể nhẹ nhàng linh hoạt, mới không bị song trọng.

2. Đáng (háng) vừa phải tròn vừa phải hư, không được kẹp lại thành đáng nhọn hình chữ nhân - chữ 'nhân' của tiếng Hán, gốc hông phải mở rộng.

3. Khuỷu không rời sườn, khuỷu không dán sườn. Cho nên khuỷu không được nâng lên, cũng không được chìm quá mức dán vào sườn; dưới nách phải để dư địa.

Phần 58

Trang sách 345

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: thân trên trước ngả sau ngửa. Nguyên nhân chính là khi trọng tâm chuyển sang chân trái và nâng chân phải, chân trái chưa ngồi vững; để duy trì thăng bằng thân thể bèn ngả thân về trước. Khi trọng tâm ngồi trên chân phải và chân trái bước tới, chân phải chưa ngồi vững và gốc hông chân phải chưa hơi rút vào trong xoay xuống, bèn làm thân thể ngã về sau. Sửa: bất luận nâng chân sau hay bước chân trước, thân thể phải đoan chính, từ đỉnh đầu qua thân mình tới hội âm, luôn luôn tạo thành một đường thẳng, đạt được "thượng hạ cơ bản nhất điều tuyến" (trên dưới cơ bản một đường thẳng).

2. Lỗi: trọng tâm lên xuống nhấp nhô quá lớn. Nguyên nhân chính là khi nâng chân phải thì chân trái duỗi thẳng, khi hạ chân trái thì chân phải ngồi quá sâu. Sửa: khi nâng chân phải, phải ngồi vững trên chân trái, từ từ nâng đùi, súc kình ở gối, mang gót chân lên, cho mũi bàn chân chạm đất trước, rồi gót chân đặt xuống. Khi bước chân trái, chân phải ngồi vững, trước nâng đùi, súc kình ở gối, gối từ gập chuyển sang duỗi, phải từ từ duỗi ra, gót chân đặt xuống. Mấu chốt là chân đang ngồi vững không được làm động tác duỗi, nếu không trọng tâm thân thể sẽ nâng lên.

3. Lỗi: hai chân trước sau đặt trên một đường thẳng, làm thân thể đứng không vững. Nguyên nhân chính là chưa hiểu sâu khái niệm hạ bàn vững chắc. Sửa: sau khi hai chân đặt xong thì kiểm tra, xem khoảng cách ngang giữa hai chân có hợp yêu cầu không. Điều này cũng làm phần đáng nới rộng tròn đầy, có lợi cho khí huyết lưu thông, chuyển đổi hư thực linh hoạt.

4. Lỗi: khi định thế thân trên hướng thẳng về phía trước. Nguyên nhân chính là không hiểu sâu cách dùng. Thế này cần tả liệt hữu thái; hướng thẳng về phía trước thì bất tiện phát kình, cũng không hợp với kình gấp của Thái Cực Quyền, lại dễ khiến khi bị đối phương tiến công thì tiến thoái bất tiện, thân thể không linh hoạt. Sửa: phải xoay người sang phải khoảng 45°, để thân thể nghiêng hướng về phía trước, cho nên khi nâng chéo tay trái và thu tay phải về sau, phải phối hợp xoay thân.

5. Lỗi: đường di chuyển của tay không hợp yêu cầu. Như có người khép quá gần rồi duỗi tới trước, có người khép mà vị trí vượt quá, chỉ có khép mà không có động tác duỗi, có người hai tay quá thấp hoặc quá cao, có người tay phải ở giữa cổ tay và khuỷu của tay trái, có người tay phải ở giữa vai và khuỷu… Nguyên nhân chính là không hiểu sâu cách dùng. Sửa: đối phương dùng tay phải đánh vào ngực tôi, cổ tay phải của tôi dán vào cổ tay phải của hắn, tay trái dán vào phần trên cánh tay hắn. Cho nên tay trái phải hơi cao hơn tay phải, khoảng cách trước sau giữa hai tay khoảng dài một cẳng tay.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải đường di chuyển và vị trí của tay, làm mẫu (chính diện, sườn diện).

2. Cả tập thể luyện theo.

3. Luyện phân đoạn: ① Từ Tả lâu tất ảo bộ tiếp Thủ huy tỳ bà: ngồi vững trên chân trái, làm động tác nâng chân phải lên rồi đạp về sau, trọng tâm chuyển về sau, cảm nhận hư thực (từ từ nâng lên, từ từ đạp xuống). ② Ngồi vững trên chân phải, nâng chân trái, bước ra, gót chân trái nhẹ nhàng chạm đất, cảm nhận hư thực. ③ Có thể luyện đi luyện lại cả đặt xuống và không đặt xuống, vừa luyện chân trái vừa luyện chân phải.

4. Khẩu quyết: trọng tâm tiến trước nâng chân phải, chân phải bước về sau nửa bước; trọng tâm lùi về sau nâng chân trái, tả liệt hữu thái huy tỳ bà.

5. Phương pháp so sánh: chia nhóm 2–3 người hoặc đứng đối hai hàng, làm động tác một chân chống đỡ ngồi vững, một chân nâng lên duỗi tới trước, không đặt xuống; so thời gian giữ lâu ngắn, so số lần thu về rồi duỗi ra nhiều ít. Với chân kia thì so việc trọng tâm tiến trước nâng chân, chân phải đạp xuống trọng tâm lùi về sau. Như vậy vừa cảm nhận được hư thực vừa tăng sức mạnh chân; nhưng phải căn cứ tuổi tác và thể chất khác nhau để định số lần, thời gian, lấy nguyên tắc là không nín hơi.

6. Phương pháp tăng dần: ① Chân phải nâng lên, đạp xuống, trọng tâm từ tiến trước chuyển lùi về sau, hai tay hơi hạ hơi nâng. ② Thêm vào động tác trên: tay trái nâng chéo, tay phải thu về sau. ③ Thêm vào động tác trên: nâng chân trái. ④ Thêm vào động tác trên: hai tay duỗi ra trước khép lại, chân trái bước tới đặt xuống. Khi luyện có thể đơn giản hóa động tác, học được chút nào củng cố chút đó, tiện cho việc luyện tập.

7. Luyện đối ứng kết hợp cách dùng: Giáp — dùng quyền phải đánh vào ngực Ất; Ất — từ Tả lâu tất ảo bộ tiếp Thủ huy tỳ bà, nhưng không liệt không thái (khi đã thuần thục có thể làm động tác liệt, thái nhẹ và chậm).

8. Luyện đi luyện lại: tay trái nâng chéo lên, tay phải thu về sau, hai tay lại khép ra trước, cảm nhận đường di chuyển của tay.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Trong động tác này việc chống đỡ bằng một chân rất quan trọng, cho nên các bài luyện phân rõ hư thực liên quan phải luyện nhiều.

2. Trong động tác này hai cổ tay của tôi dán vào khuỷu và cổ tay đối phương, súc thế của mình để xem sự biến của hắn: "bỉ bất động, kỷ bất động; bỉ vi động, kỷ tiên động" (hắn không động thì mình không động; hắn hơi động thì mình động trước). Tả liệt hữu thái phát theo mình. Cho nên khi luyện quyền phải "tâm tĩnh dụng ý", cố gắng đạt "ý động hình tùy" (ý động thì hình theo). Vì thế phải "thế thế tồn tâm quỹ dụng ý" (mỗi thế đều để tâm suy xét ý), quyết không được cho rằng động tác đơn giản mà làm qua loa.

3. Khi di chuyển tới lui phải duy trì tốt trọng tâm thân thể; tay chân phải phối hợp tốt, phải trên dưới tùy nhau không trước không sau. Khi chân phải hơi nâng lên thì tay phải tùng uyển (lỏng cổ tay) phủ chưởng (úp lòng bàn tay); phải là tay trái ở trước, như vậy dễ duy trì thăng bằng, trọng tâm vững vàng.

4. Chân trái hoặc chân phải nửa ngồi xổm, gánh toàn bộ trọng lượng thân thể; điều này đòi hỏi khá cao đối với cơ tứ đầu đùi ở phía trước đùi. Khi mới luyện sẽ có hơi run, thân trên hơi lắc, nhưng qua luyện tập nhiều lần, sức mạnh lưng và chân tăng lên thì hiện tượng này không còn, đồng thời cũng có tác dụng tăng cường thể chất.

5. Trong ngoài mọi phần không có chỗ nào không lỏng, đây là một nguyên tắc. Trước hết là cơ bắp và khớp xương: động tác này dễ khiến hai khuỷu dán vào sườn, mà phải là dưới hai nách có khoảng trống, khuỷu không dán sườn. Điều này làm kinh lạc thông suốt, khí huyết điều hòa, rồi tiến tới cả thần kinh trung ương và các cơ quan nội tạng cùng thư giãn. Phương pháp rèn luyện thư giãn toàn thân trong ngoài, trong ngoài hợp nhất này vừa có lợi cho bảo vệ sức khỏe phòng bệnh, vừa hợp yêu cầu kỹ kích.

6. Tiến lên hay lùi về đều phải để dư địa. Chân phải bước lên cơ bản đạp xuống ở chỗ cũ, không được bước quá nhiều, nếu không chân trái không thể hơi nhấc về sau, làm tổn hại việc thu súc khí thế.

7. Phải chú ý: song trọng thì trệ, thiên trọng thì hoạt (nặng đôi thì trì trệ, nghiêng về một bên thì linh hoạt). Khi định thế chân phải là thực, chân trái là hư; nếu chân trái đặt xuống gánh quá nặng, gây song trọng, thì xoay chuyển không thể nhẹ nhàng linh hoạt.

Thế thứ chín: Tả hữu lâu tất ảo bộ

Phần 59

Trang sách 346

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Xem Thế thứ bảy, Tả lâu tất ảo bộ (Hữu lâu tất ảo bộ thì phương hướng ngược lại).

II. Quá trình động tác

1. Tả lâu tất ảo bộ: lưng hơi xoay phải, gốc hông phải hơi thu vào trong, chân trái nâng lên, trọng tâm dần dần chuyển hoàn toàn sang chân phải. Theo lưng xoay, vai phải tùng xuống, khuỷu phải chìm xuống, tự nhiên dẫn chưởng phải hạ xuống theo đường cung qua bên hông phải; khi hạ xuống thì theo cánh tay xoay ra ngoài làm lòng bàn tay phải dần lật lên trên. Đồng thời, chưởng trái cũng theo lưng xoay tiến ra trước và vào trong, qua ngực phải và trước bụng dịch xuống theo đường cung; khi dịch thì theo cánh tay trái xoay vào trong làm lòng bàn tay lật xuống dưới. Mắt theo lưng xoay nhìn thẳng chuyển tới trước, ánh mắt phải chú ý tới chưởng phải (xem ba hình ở cuối trang này). Động tác trên giống Tả lâu tất ảo bộ trước (xem các hình tương ứng ở Thế thứ bảy, tr. 51–52).

2. Hữu lâu tất ảo bộ: ① Lưng dần xoay trái, chân trái lấy gót chân làm trục, mũi chân xoay ra ngoài khoảng 45°; theo thân xoay, chưởng trái dần dần vẽ cung dịch sang trái và ra sau, theo đó cánh tay xoay ra ngoài làm lòng bàn tay lật lên trên. Đồng thời, chưởng phải cũng theo thân xoay, từ trước vào trong vẽ cung dịch sang trái và xuống dưới, theo đó cánh tay xoay vào trong làm lòng bàn tay lật xuống dưới. Mắt theo thân xoay nhìn thẳng chuyển tới trước, ánh mắt phải để ý tới chưởng trái (xem hình thứ tư trên trang này). ② Trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân trái, chân phải nâng lên tiến ra trước, thân thể tiếp tục hơi xoay trái; theo lưng xoay, chưởng trái vẽ cung dịch lên phía trên chéo bên trái, chưởng phải tiếp tục vẽ cung sang trái hạ xuống.

图 38
图 38
Tả lâu tất ảo bộ: chưởng phải hạ xuống theo đường cung qua bên hông phải, lòng bàn tay lật lên trên; chưởng trái qua ngực phải dịch xuống
图 39
图 39
Tả lâu tất ảo bộ: chưởng trái dịch xuống theo đường cung, chưởng phải ở bên hông phải
图 40
图 40
Tả lâu tất ảo bộ: động tác quá độ trước khi định thế, chân trái nâng lên, trọng tâm chuyển sang chân phải
图 41
图 41
Hữu lâu tất ảo bộ: mũi chân trái xoay ra ngoài khoảng 45°, chưởng trái vẽ cung dịch sang trái và ra sau, chưởng phải dịch vào trong và sang trái xuống
图 42
图 42
Hữu lâu tất ảo bộ: trọng tâm chuyển sang chân trái, chân phải nâng lên tiến ra trước, hai chưởng cùng dịch lên chéo bên trái

trước bụng; ánh mắt hơi chú ý chưởng trái rồi chuyển sang chưởng phải (xem hình ở tr. 60). ③ Chân phải hạ xuống phía trước, trước hết gót chân chạm đất; theo trọng tâm dần chuyển sang chân phải tới khi cả bàn chân đặt vững, thân thể cũng đồng thời dần xoay phải, cung chân phải, đạp chân trái, thành hữu cung bộ. Đồng thời, chưởng phải theo thân xoay hướng xuống, qua trước gối phải thành hình móng ngựa lâu tới bên hông phải; chưởng trái cũng theo trọng tâm tiến trước và thân xoay phải tiếp tục vẽ cung lên trên, qua bên tai trái đẩy ra trước. Mắt vừa thấy chưởng phải lâu qua đầu gối liền nhìn thẳng ra trước, ánh mắt phải chú ý tới cú đánh ra trước của chưởng trái (xem hình 43 và 44).

3. Tả lâu tất ảo bộ: động tác giống Hữu lâu tất ảo bộ, chỉ là trái phải ngược nhau (hình 45–48 trên trang này; lặp lại, đảo trái phải, các động tác trong hình 33, 34 và 35 của Thế thứ bảy).

图 43
图 43
Hữu cung bộ lâu tất: chưởng phải qua trước gối phải thành hình móng ngựa lâu tới bên hông phải
图 44
图 44
Hữu lâu tất ảo bộ ở thế định: cung chân phải, đạp chân trái thành hữu cung bộ, chưởng trái qua bên tai trái đẩy ra trước
图 45
图 45
Tả lâu tất ảo bộ: động tác của 图 33 (trái phải ngược lại)
图 46
图 46
Tả lâu tất ảo bộ: động tác của 图 33 (trái phải ngược lại)
图 47
图 47
Tả lâu tất ảo bộ: động tác của 图 34 (trái phải ngược lại)
图 48
图 48
Tả lâu tất ảo bộ: động tác của 图 35 (trái phải ngược lại)

Phần 60

Trang sách 347

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Yếu lĩnh giống Tả lâu tất ảo bộ trước.

2. Khi luyện Dương thức Thái Cực Quyền, hai chân trước sau trong cung bộ không được đứng trên một đường thẳng, vì như vậy dễ sinh ra trọng tâm không vững và cảm giác gượng gạo; chân sau và chân trước nhất định phải cách nhau theo phương ngang (khoảng cách bằng bề rộng vai). Cho nên mỗi khi bước lên hay lùi về (như Đảo niêm hầu), phải chú ý vị trí đặt chân hơi mở ra một chút mới tỏ ra vững vàng — "hướng tiền thoái hậu nãi năng đắc cơ đắc thế" (tiến trước lùi sau mới có thể được cơ được thế).

3. Khi chuyển đổi giữa tả cung bộ và hữu cung bộ, yêu cầu bộ pháp là: tiến thoái chuyển đổi hư thực phân minh, tả hư tắc hữu thực, tả thực tắc hữu hư (trái hư thì phải thực, trái thực thì phải hư); khi tiến trước lùi sau, thân lưng phải chuyển theo. Khớp gối của chân thực phải tăng tính vững chắc mà không mất tính linh hoạt; trạm bộ phải cực kỳ vững chắc, mại bộ phải nhẹ nhàng linh hoạt, cố luyện tới "mại bộ tự miêu hành" (bước như mèo bước), không được song trọng trì trệ; đặt chân phải nhẹ nhàng linh hoạt vững vàng, không được lắc lư.

4. Phải dùng lưng xoay dẫn tay động. Khi hai tay sắp kết thúc việc di chuyển sang phía sau chéo trái (phải), phải xoay lưng để dẫn một tay lâu, một tay đánh ra trước, phải thể hiện "chủ tể ư lưng" (làm chủ ở lưng), "lực do tích phát" (lực phát từ sống lưng).

5. Khi từ Tả lâu tất tiếp Hữu lâu tất, tay phải động thì tay trái đồng thời phải lật, đạt được "nhất động vô hữu bất động".

6. Khi lâu phải lưng dẫn khuỷu, khuỷu dẫn cổ tay, cổ tay phải ngồi xuống.

7. Chân trước hướng thẳng theo hướng tiến (đông), chân sau thì chếch. Khi tiếp lâu tất kế tiếp, trước hết xoay lưng, mũi chân xoay ra ngoài, như vậy vị trí chân mới thuận.

IV. Yêu cầu

1. Việc biến đổi cung bộ yêu cầu phân rõ hư thực. Lấy việc từ Tả lâu tất ảo bộ tiếp Hữu lâu tất ảo bộ làm ví dụ: chân phải nhẹ nhàng nâng lên, nâng tới trước, từ từ duỗi ra trước; trước khi gót chân phải chạm đất, chân trái phải gánh toàn bộ trọng lượng thân thể, như vậy hư thực của chân mới phân rõ được.

2. Chưởng đánh ra trước phải xoay, tức là trong quá trình từ sau ra trước phải chuyển cổ tay, tiến theo hình xoắn ốc.

3. Khi thân trên xoay, hư thực ở lưng, thứ đến ở ngực, dùng khe lưng trái phải thay nhau rút lại để phân hư thực. Nếu xoay không đủ, hai cánh tay phạm vi hoạt động bị hạn chế; còn xoay quá nhiều thì sẽ sinh ra "tán".

4. Sự liên kết "trái—phải—trái" của lâu tất không được dừng lại: vừa tới thế định liền tiếp ngay sang động tác lâu tất kế tiếp một cách tròn đầy linh hoạt; nhưng cũng không được khi tay chưa tới vị trí, gối chưa cung đủ đã làm động tác lâu tất kế tiếp.

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: xoay người quá nhiều. Nguyên nhân chính là vai và hông chưa thành một đường thẳng đứng; trong khi xoay trái chuyển phải, vai và hông phải giữ trên dưới thẳng hàng theo phương thẳng đứng. Xoay người quá nhiều thì vai cũng xoay quá nhiều, phá hoại sự đoan chính của thân thể và gây cảm giác gượng gạo. Sửa: phương hướng của đường nối hai vai cũng yêu cầu phải là phương hướng của hai hông.

2. Lỗi: khi từ Tả lâu tất tiếp Hữu lâu tất ảo bộ, tay trái không lật mà chỉ là phủ chưởng (úp bàn tay) dịch chéo lên về sau. Nguyên nhân chính là khi phát động không lấy tay dẫn khuỷu, lấy khuỷu dẫn vai. Sửa: "bác tùy uyển chuyển, uyển tùy chưởng chuyển" (cánh tay theo cổ tay chuyển, cổ tay theo bàn tay chuyển), chỗ nào cũng thành vòng tròn. Cho nên khi tay phải động, tay trái phải lật chưởng lên trên, vẽ cung dịch lên phía trên chéo bên trái.

3. Lỗi: khi từ Tả lâu tất tiếp Hữu lâu tất, tay phải động mà tay trái dừng lại không động. Nguyên nhân chính là chưa cảm nhận sâu "nhất động vô hữu bất động". Sửa: đồng thời với việc xoay lưng, khi tay phải vẽ cung vào trong dịch sang trái và xuống, cánh tay trái phải xoay ra ngoài, làm lòng bàn tay lật lên trên, dịch sang trái và ra sau.

4. Lỗi: một chân chưa ngồi vững mà chân kia đã bước ra, trọng tâm tiến trước quá nhanh, tạo thành song trọng và động tác cũng không đều. Nguyên nhân chính là chân chống đỡ vô lực, gốc hông bên chân chống đỡ không hơi thu vào trong, cho nên chân chưa ngồi vững. Sửa: phải sau khi chân chống đỡ ngồi vững mới từ từ duỗi chân bước tới; trước khi chạm đất, trọng tâm không được tiến về trước.

5. Lỗi: ba lâu tất ảo bộ không có thế định "tự đình phi đình" (như dừng mà không dừng), mà hai cánh tay không ngừng vẽ cung tiến tới. Nguyên nhân chính là không hiểu sâu liên quán viên hoạt. Mỗi tư thế đều có khởi, thừa, chuyển, hợp; một thế đã thành thì phải hợp lại ở mọi chỗ. Sửa: mỗi định thức của mỗi thế đều phải có khoảnh khắc "tự đình phi đình", như vậy tinh thần đoàn tụ mới có thể tạo điều kiện cho thế tiếp theo. Cho nên, nối nối cho tròn đầy linh hoạt; cả thiếu và thừa đều không đúng.

6. Lỗi: hai mắt luôn nhìn chằm chằm thẳng về phía trước. Nguyên nhân chính là không hiểu sâu "nhãn tùy thủ chuyển, quang kiêm tứ xạ" (mắt theo tay chuyển, ánh sáng chiếu cả bốn phía). Nghĩa là tay tới mắt tới, nhìn về phía trước là đúng, nhưng không được nhìn đờ đẫn về phía trước. Sửa: mắt phải chuyển theo tay hoặc chân chính, đạt được mắt tới tay tới.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải (nhấn mạnh khoảng cách ngang giữa hai chân và nhất động vô hữu bất động), làm mẫu.

2. Mỗi khi định thế thì dừng lại kiểm tra khoảng cách ngang giữa hai chân. Chia nhóm 2–3 người kiểm tra sửa sai lẫn nhau; cũng có thể luyện tập thể, dừng lại tự kiểm tra.

3. Luyện đối ứng kết hợp cách dùng: hai người một nhóm. Giáp — từ phía trước dùng quyền hoặc chân đánh vào phần giữa và dưới của Ất; Ất — hạ thân chìm xuống, ngồi vững một chân, chân kia bước một bước tới trước, một tay gạt mở tay hoặc chân của Giáp, một tay ấn về phía ngực hắn. Trái phải trái liên tục làm ba lần.

4. Phương pháp tăng dần — từ Tả lâu tất ảo bộ tiếp Hữu lâu tất ảo bộ: ① Liên tục làm động tác mũi chân trái xoay ra ngoài. ② Đồng thời với mũi chân trái xoay ra ngoài, chưởng trái lật lên trên, tay phải thu về theo đường cung sang trái, trọng tâm tiến trước, chân phải nâng lên. ③ Như trên, hai tay tiếp tục di chuyển, chân phải từ từ duỗi ra trước, gót chân nhẹ nhàng chạm đất, đồng thời tay trái dịch lên chéo phía sau, tay phải hướng xuống. ④ Như trên, cung gối phải thành hữu cung bộ, đồng thời tay phải lâu tất, tay trái đẩy ấn ra trước.

Sửa một đoạn, thêm một đoạn, như bước lên cầu thang, ở độ cao sẵn có lại bước lên một bước, cho tới khi học tốt, luyện tốt toàn bộ động tác.

5. Luyện bổ trợ: hai tay buông tự nhiên, liên tục làm cung bộ tiến tới, nâng cao khả năng nắm vững hư thực, tăng sức mạnh chân, từ đó tăng cường sức khỏe.

6. Khi luyện phải lặp lại việc nối tiếp giữa tả và hữu lâu tất ảo bộ.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Ba lâu tất ảo bộ có cả hướng trái và hướng phải, điều này đem lại lợi ích cho sự phát triển cân bằng và vận động toàn diện của cơ thể con người.

2. Người mới học đối với động tác giống nhau mà phương hướng ngược nhau rất dễ làm lẫn lộn, cho nên phải luyện nhiều hữu lâu tất ảo bộ.

3. Ba lâu tất ảo bộ phải thể hiện điều mà 《Thái Cực Quyền Luận》 nói: "Trường quyền giả, như trường giang đại hải, thao thao bất tuyệt dã" (người luyện trường quyền như sông Trường Giang biển lớn, cuồn cuộn không dứt). Phải nối tiếp nhau, tròn đầy linh hoạt liên quán, không được dừng lại (mọi động tác trong cả bài quyền đều phải như vậy).

4. Ba lần bước tiến ra trước, chân sau từ nâng lên tới duỗi tới trước tới nhẹ nhàng đặt xuống, đều tiến hành đều đặn chậm rãi; như vậy không những cơ bắp của chân chống đỡ thẳng được rèn luyện, mà sự co duỗi của chân bước tới còn làm cho cơ bắp đùi và bắp chân cùng cơ lưng, cơ hông đều được rèn luyện.

Thế thứ mười: Thủ huy tỳ bà Minh họa động tác giống Thế thứ tám; xem hình 49 và 50 ở cột bên trái (giống hình 36 và 37 của Thế thứ tám).

图 49
图 49
Thủ huy tỳ bà: tay phải thu về sau, tay trái duỗi ra trước thành thế ôm tỳ bà (động tác giống 图 36)
图 50
图 50
Thủ huy tỳ bà ở thế định (động tác giống 图 37)
图 51
图 51
Tả lâu tất ảo bộ: tay phải qua bên tai đẩy ra trước, tay trái lâu qua đầu gối trái
图 52
图 52
Tả lâu tất ảo bộ: thế định, chưởng trái đẩy ra trước, chưởng phải ở bên hông phải
图 53
图 53
Tả lâu tất ảo bộ: động tác giống 图 33–图 35

(Trang này còn có một ảnh đặc tả bàn tay không đánh số: lòng bàn tay xoay ra ngoài, bốn ngón xòe rộng, ngón cái thu vào — dạng bàn tay tọa uyển. Ảnh này không có số hình in, nên không đặt chú thích hình.)

Thế thứ mười một: Tả lâu tất ảo bộ Minh họa động tác giống Thế thứ bảy; xem hình 51–53 ở đầu trang này (giống hình 33–35 của Thế thứ bảy).

Thế thứ mười hai: Tiến bộ ban lan chùy

Phần 61

Trang sách 348

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương dùng tay phải đánh tới, tôi liền đưa chân trái hơi mở ra sang bên trái, lưng bèn xoay sang trái, tay trái liền lật ngược ra sau tới bên ngực trái, lòng bàn tay nghiêng xuống dưới. Tay phải phủ uyển (úp cổ tay), theo thân xoay dịch tới trước sườn trái nắm thành quyền; lật cổ tay, xoay lưng sang phải, quyền phải theo đó xoay tới dưới sườn phải, gọi là "ban" (gạt). Đồng thời, nâng chân phải lên đặt vững sang bên phải, tùng yêu khóa (lỏng lưng hông) chìm xuống, dùng tay trái của tôi gạt cánh tay phải của đối phương sang bên trái tôi, tay trái liền dùng cạnh chưởng đánh ngang thẳng ra trước, gọi là "lan" (chặn). Chân trái đồng thời nâng lên, bước ra một bước, thành tả cung bộ, quyền phải theo động tác lưng chân nhất trí đánh ra trước, gọi là "chùy" (đấm). Diệu dụng của quyền này hoàn toàn ở việc hóa cú quyền phải đánh tới của đối phương: trước hết dùng cổ tay phải của tôi dính vào cổ tay phải của hắn, ban từ trên sườn trái xuống dưới sườn phải; lúc này e rằng đối phương rút tay đổi bước, tôi liền đưa tay trái thẳng tới trước theo bước đuổi theo, hàm chứa khai kình. Khi lan tay phải của hắn, lập tức đưa quyền phải của tôi đánh về phía ngực đối phương, như vậy đối phương không kịp tránh né, ắt bị tôi đánh trúng; cho nên diệu dụng của quyền này hoàn toàn ở phương pháp đúng của "ban" và "lan".

Thiên trước (biến thể chếch): nếu chưởng phải của đối phương đánh tới với lực đặc biệt lớn, tôi liền nhân thế kình của hắn, thính kình của hắn (cao, thấp, trái, phải) mà tùy cơ: cánh tay phải của tôi ban sang phải, tay trái lan cẳng tay phải của đối phương sang trái, rồi dùng quyền phải của tôi đánh mạnh vào đối phương.

Phần 62

Trang sách 349

II. Quá trình động tác

II. Quá trình động tác

1. Thân thể dần xoay trái, mũi chân trái xoay ra ngoài 45°; trọng tâm lập tức dần tiến về trước sang chân trái, gót chân phải rời đất bắt đầu bước lên. Đồng thời với xoay lưng, chưởng phải tự nhiên vẽ cung dịch sang trái và xuống, thấp ngang sườn, vừa dịch vừa biến thành quyền, đồng thời làm cánh tay phải xoay vào trong để lòng quyền hướng xuống; chưởng trái cũng theo lưng xoay hơi dịch về sau. Ánh mắt chú ý tay phải dịch xuống, nhưng không được cúi đầu (xem hình thứ nhất ở cột bên trái).

2. Trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân trái, chân phải nâng lên tiến ra trước; đồng thời quyền phải vẽ cung sang trái qua trước sườn trái rồi vòng ra trước và lên trên, chưởng trái vẽ cung lên trên (cao không quá ngực), theo đường cung thì cánh tay hơi xoay vào trong dựng chưởng, làm lòng bàn tay nghiêng hướng phải. Ánh mắt hơi chú ý quyền phải, rồi chuyển nhìn thẳng ra trước (xem hình thứ hai ở cột bên trái).

图 54
图 54
Tiến bộ ban lan chùy: thân thể xoay trái, chưởng phải vẽ cung dịch sang trái và xuống thấp ngang sườn, vừa dịch vừa biến thành quyền
图 55
图 55
Tiến bộ ban lan chùy: quyền phải vẽ cung sang trái lên trên, qua trước sườn trái tiến ra trước; chưởng trái vẽ cung lên trên dựng chưởng
图 56A
图 56A
Tiến bộ ban lan chùy: chân phải bước ra một bước về phía trước bên phải, trước hết gót chân chạm đất, mũi chân xoay ra ngoài
图 56B
图 56B
Tiến bộ ban lan chùy: quyền phải qua trước ngực ban ra trước và sang phải, theo đà ban thì cánh tay xoay ra ngoài làm mắt quyền hướng lên
图 57
图 57
Tiến bộ ban lan chùy: tay phải khép lại gần tay trái, gốc chưởng trái áp vào phía trong cổ tay phải; khi ban ra hai tay khoảng cao ngang vai
图 58
图 58
Tiến bộ ban lan chùy: trọng tâm chuyển sang chân phải, chân trái nâng lên; quyền phải dần thu về theo cung sang phải, tâm quyền dần hướng lên, chưởng trái qua phía trong bên phải lan ra trước
图 59
图 59
Tiến bộ ban lan chùy: tả cung bộ, quyền phải đánh ra trước, mắt quyền hướng lên, chưởng trái thu về ở khoảng gần cổ tay phía trong cẳng tay phải

3. Thân thể dần xoay phải (hướng đông), chân phải bước ra một bước về phía trước bên phải (hơi lệch đông nam), trước hết gót chân chạm đất, mũi chân xoay ra ngoài, Đồng thời quyền phải qua trước ngực ban ra trước và sang phải; theo đà ban thì cánh tay xoay ra ngoài làm tâm quyền dần lật, để mắt quyền hướng lên. Chưởng trái khép lại gần tay phải, gốc chưởng áp vào phía trong cổ tay phải; khi ban ra hai tay khoảng cao ngang vai. Ngay sau đó mũi bàn chân phải đặt vững, trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân phải, chân trái nâng lên tiến ra trước, lưng đồng thời dần xoay phải; theo lưng xoay, quyền phải dần dần rút về theo cung sang phải, cánh tay phải xoay ra ngoài làm tâm quyền dần hướng lên; chưởng trái cũng đồng thời theo lưng xoay qua phía trong bên phải lan ra trước (xem hình thứ nhất và thứ hai ở cột bên trái).

4. Chân trái bước lên một bước, trước hết gót chân chạm đất; đồng thời thân thể tiếp tục xoay phải, theo thân xoay chưởng trái tiếp tục đánh ngang thẳng ra trước (cạnh (Trang này còn có một ảnh ngang không đánh số: Phó Chung Văn mặc đồ luyện tập màu nhạt, làm mẫu chính diện thế ban lan với tay trái ấn cổ tay phải. Ảnh này không có số hình in, nên không đặt chú thích hình.)

dựng chưởng), quyền phải thu về theo cung ở bên hông, tâm quyền hướng lên (hai tay kéo đối nhau, một trước một sau) (xem hình thứ nhất trên trang này).

5. Trọng tâm lập tức dần chuyển sang chân trái, dần tới cả bàn chân đặt vững, cung chân trái, đạp chân phải, thành tả cung bộ; đồng thời, thân thể dần xoay trái, theo lưng xoay quyền phải đánh ra trước, mắt quyền dần chuyển hướng lên; chưởng trái hơi thu về phía ngực, tọa uyển, đầu ngón chếch lên trên, lòng bàn tay hướng phải, dịch tới ở giữa cẳng tay phải gần phía cổ tay, như dán mà không dán (xem hình thứ hai trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khi liên tục tiến bộ, yêu cầu "mại bộ như miêu hành" (bước như mèo bước), đồng thời yêu cầu tốc độ đều đặn, trên dưới tùy nhau. Thân phải ngay thẳng, không được nghiêng lệch và trước ngả sau ngửa.

2. Chân phải bước một bước về phía trước bên phải, yêu cầu mở rộng hơn bước thông thường một chút, nhưng phải tránh thân trên nghiêng sang phải theo bước chân phải.

3. Động tác tứ chi phải chuyển theo lưng: chưởng phải vẽ cung sang trái và xuống chính là lúc xoay thân sang trái. Quyền phải vẽ cung ban ra trước chính là lúc thân trên xoay phải; quyền phải đánh ra trước chính là lúc thân trên xoay trái, cung chân trái đạp chân phải.

4. Khi quyền phải ban ra không được cách thân thể quá xa, và phải chú ý không được nâng khuỷu.

5. Khi xuất quyền phải "quyền tòng tâm phát" (quyền phát từ tâm), nghĩa là không được tùy tiện duỗi ra, mà phải có suy nghĩ rồi mới đánh ra, phải trong ngoài nhất trí.

6. Khi lan phải tay tới chân tới, phải trên dưới tùy nhau.

7. Quyền phải nắm thực tự nhiên, không được dùng sức nắm chặt (cả bài quyền đều phải như vậy), nhưng cũng không được là quyền rỗng.

IV. Yêu cầu

1. Khi quyền đánh tới điểm rơi (khi định thế), muỗng quyền phải thành một đường thẳng với cẳng tay, không được bẻ vào trong hoặc lật ra ngoài, nếu không khi bị lực cản đánh vào, cổ tay rất dễ bị thương.

2. Hư thực phải phân rõ. Phải để chân trái xoay ra ngoài ngồi vững, rồi mới dần nâng chân phải lên tiến ra trước; khi gót chân phải chạm đất, trọng tâm vẫn còn ở chân trái, phải từ từ chuyển trọng tâm về trước, như vậy bước tới mới không mang theo trọng lượng.

3. Đầu phải ngay thẳng, phải có đỉnh kình, tức là thần quán ư đỉnh (tinh thần xuyên tới đỉnh đầu), nhưng đầu và cổ không dùng sức lắm, không phải cứng nhắc đẩy lên trên; gò cổ thì khí huyết không lưu thông, cho nên phải tự nhiên "hư lĩnh đỉnh kình".

4. Khi lan, tay trái ở trước, quyền phải ở sau, phương hướng ngược nhau, nhưng hỗ trợ lẫn nhau; phải làm tốt "đối lạp bạt trường, khúc trung cầu trực" (kéo đối nhau làm dài ra, trong cong tìm thẳng).

5. Ban là động tác vòng theo đường cung, "diệu thủ nhất trước nhất Thái Cực" (một tay khéo làm ra một Thái Cực). Trong vòng tròn này phải có nhu có cang, có hư có thực, cương nhu tương tế, hư thực thẩm thấu, mà không phải ở giữa bỗng nhiên vạch một vòng tròn.

Phần 63

Trang sách 350

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: khi ban, quyền phải vòng xuống theo vòng tròn quá lớn. Nguyên nhân chính là không hiểu đủ yêu cầu kỹ kích của "ban". Sửa: động tác phải là dùng cổ tay phải của tôi đưa cổ tay phải của đối phương từ sườn trái ban sang sườn phải; cho nên phải lấy khuỷu phải làm trục, quyền đi xuống bên trái từ giữa sườn trái, theo lưng xoay sang phải, lật cổ tay chuyển tới dưới sườn phải.

2. Lỗi: quyền và lưng thoát rời nhau; khi "ban" chỉ động tay mà không động lưng, khi xuất quyền cũng không dùng lưng để dẫn. Nguyên nhân chính là không chú ý đủ "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian" (từng khắc để tâm ở nơi thắt lưng). Sửa: phải cẩn thận cảm nhận "chưởng uyển khuỷu hòa kiên, bối yêu khóa tất thối, thượng hạ cửu tiết kình, tiết tiết yêu trung phát" (chưởng cổ tay khuỷu và vai, lưng hông háng gối chân, chín đốt trên dưới, từng đốt đều phát từ trong lưng); cho nên nâng tay bước chân đều phải do lưng dẫn, chỉ có động tác tay thì không hóa nổi cú đấm tới.

3. Lỗi: động tác "ban" quyền phải đi từ trái xuống ra trước, động tác chưa làm xong đã thu cánh tay phải về. Nguyên nhân chính là không hiểu đủ cách dùng. Quyền phải của đối phương đánh thẳng tới; nếu động tác ban của tôi đi từ trái xuống ra trước, thì quyền phải của đối phương vẫn ở trước thân tôi, tôi vẫn bị tiến công; nếu ban tiếp sang phải, thì quyền phải của đối phương ở bên thân tôi, và cú đấm thẳng tới sau khi bị tôi ban trái ban phải, kình của nó đã bị tôi hóa, tạo điều kiện cho tôi tiến công. Sửa: động tác "ban" phải đi từ giữa sườn trái ban tới dưới sườn phải.

4. Lỗi: động tác "ban" quá thấp. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Vì cú đấm của đối phương tới ở khoảng ngực sườn, nếu tôi vòng tròn ở trước bụng thì không hợp thực tế của việc hóa. Sửa: quyền phải và tay trái phải khoảng cao ngang ngực.

5. Lỗi: tay và chân thoát rời nhau; khi "ban", "lan", "chùy" không có chân chống đỡ. Nguyên nhân chính là không chú ý động tác hạ bàn không chú ý. Sửa: trong khi tiến ra trước, ắt phải có chống đỡ phía sau. Chân như cắm rễ xuống đất, đế bàn vững chắc, quyền mới có lực, hạ bộ mới đắc cơ đắc thế.

6. Lỗi: xuất quyền xuất chưởng cách thân quá xa. Nguyên nhân chính là không chú ý đủ việc súc thế. Sửa: quyền, chưởng quá xa đầu gối thì dễ mất ổn định trọng tâm, kình cũng sẽ cứng nhắc đứt đoạn. Cho nên phải chú ý "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư" (kình nhờ co lại mà súc, nên có dư), xuất quyền xuất chưởng không được duỗi thẳng cánh tay ra xa.

7. Lỗi: trọng tâm nhấp nhô quá lớn. Nguyên nhân chính là nắm hư thực của hai chân không tốt. Sửa: bước chân ra, thu chân về đều phải tiến hành khi một chân đang ngồi vững, như vậy hư thực rõ ràng, nhấp nhô nhỏ.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải, làm mẫu. Sau khi làm mẫu toàn bộ rồi mới làm mẫu phân giải ban, lan, chùy, để khái niệm toàn bộ động tác được rõ ràng.

2. Khẩu quyết động tác: phiết cước ác quyền khởi hữu cước, chuyển thể hợp thủ hồ hình ban; tọa thực hữu thối đối lạp lan, tả cung hữu chùy nhất khởi đáo (xoay mũi chân nắm quyền nâng chân phải, xoay thân hợp tay ban theo hình cung; ngồi vững chân phải kéo đối nhau lan, cung trái quyền phải cùng tới).

3. Cả tập thể luyện động tác toàn bộ.

4. Ba động tác ban, lan, chùy tách riêng ra, học từng động tác một.

5. Phương pháp tăng dần: ① Mũi chân trái xoay ra ngoài, tay trái ra sau, tay phải xuống bên trái. ② Như trên, nâng chân phải, ngồi vững chân trái. ③ Như trên, chân phải nâng tới trước, quyền phải vẽ cung ra trước lên trên ban sang phải, tay trái dịch lên bên phải tới gần cổ tay quyền phải, chân phải bước ra trước, gót chân phải chạm đất. ④ Như trên, tiếp tục xoay thân sang phải, tay trái lan ra, quyền phải thu về tới ngang lưng, chân trái bước ra rồi gót chân chạm đất. ⑤ Như trên, cung chân trái, thân thể hơi xoay trái, tay trái hơi thu về, quyền phải đánh ra trước, tay trái áp ở chỗ khuỷu cổ tay tay phải.

Sau khi nắm cơ bản được một phần của động tác trước, mới thêm luyện phần sau, luyện hai phần cùng nhau, cứ như vậy, cuối cùng luyện động tác hoàn chỉnh.

6. Luyện đối ứng kết hợp cách dùng: ① Giáp — đứng thẳng dùng quyền phải đánh ra trước; Ất — ở vị trí Tả lâu tất, ra chân phải, dùng phép ban đưa quyền phải của Giáp từ trái ban sang phải. ② Giáp — lùi một bước; Ất — bước ra chân trái, dùng chưởng trái đánh thẳng ra trước. ③ Giáp — lùi một bước; Ất — cung chân trái, quyền phải đánh thẳng ra. Làm cho động tác ban, lan, chùy trở nên cụ thể sinh động.

7. Quan sát từ các góc độ khác nhau để phát hiện và sửa lỗi: ① Từ chính diện xem việc xoay mũi chân nắm quyền. ② Từ mặt bên trái xem độ cao thấp, xa gần của động tác ban, cùng vị trí tay trái. ③ Từ chính diện xem khoảng cách ngang của chân phải. ④ Từ mặt bên phải xem độ cao thấp của hai chưởng kéo đối nhau khi lan, quyền phải thu về không lộ khuỷu. ⑤ Từ mặt bên xem việc cung chân và xuất quyền tới cùng lúc.

8. Học viên giúp đỡ lẫn nhau.

9. Phải luyện nhiều: ngồi vững trên chân trái, từ từ nâng chân phải lên, bước ra phía trước bên phải (đông hơi lệch nam), hơi rộng hơn bước thông thường.

Phần 64

Trang sách 351

VII. Phân tích kỹ thuật

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này phải bước ra trước hai bước, đồng thời tay không ngừng làm động tác, cho nên đặt ra yêu cầu khá cao về phân rõ hư thực và hạ bàn vững chắc. Vì vậy phải chú ý nhiều tới việc một chân ngồi vững, chân kia di chuyển nhẹ nhàng linh hoạt.

2. Động tác ban, lan, chùy phải phối hợp chặt chẽ với việc xoay lưng hông, dụng ý bất dụng lực (dùng ý không dùng sức), nhưng ý phải dùng tới.

3. Động tác phải liên quán. Chớ để có chỗ khuyết hãm, chớ để có chỗ lồi lõm, chớ để có chỗ đứt đoạn; ba động tác hoàn thành trong một hơi.

Thế thứ mười ba: Như phong tự bế

I. Cách dùng
图 60
图 60
Tiến bộ ban lan chùy: cung chân trái, quyền phải đánh thẳng ra (minh họa phần phân tích kỹ thuật)
图 61A
图 61A
Như phong tự bế: ngẩng tay trái luồn dưới khuỷu phải, lấy lòng bàn tay áp khuỷu che cánh tay, gạt về phía cổ tay trái đối phương
图 61B
图 61B
Như phong tự bế: quyền phải mở ra rút gập vào ngực, hai lòng bàn tay hướng vào trong giao chéo thành thanh chắn chữ thập chéo

Tiếp thế trước. Nếu đối phương dùng tay trái nắm quyền phải của tôi, tôi liền ngẩng tay trái luồn qua dưới khuỷu phải, lấy lòng bàn tay áp vào khuỷu che cánh tay, gạt về phía cổ tay trái của đối phương. Nếu đối phương muốn đổi tay ấn tới, tôi liền mở quyền phải ra, rút gập vào trong ngực, tới khi hai lòng bàn tay hướng vào trong giao nhau chéo, thành một thanh chắn hình chữ thập chéo, làm đối phương không vào được, như đóng cửa lại, gọi là như phong. Đồng thời, hàm hung tọa khóa, hai tay liền tách ra, chuyển thành hai lòng bàn tay ấn giữ khuỷu cổ tay đối phương, khiến hắn không thoát hóa được, cũng không tách ra được, như thể cửa của hắn bị đóng lại không mở được, gọi là tự bế. Sau đó lập tức dùng trường kình, dùng thức ấn ấn ra, mắt nhìn ra trước, lực lưng cũng phối hợp tiến công, Chân trái gập gối ngồi vững, chân phải theo háng duỗi thẳng, hợp thành một kình, đánh về phía đối phương, đây cũng là một hợp pháp. Biến thể chếch: nếu quyền phải của tôi bị nắm, liền hạ tay phải chìm xuống, rồi dùng bộ kháo (tựa vai) bước tới.

II. Quá trình động tác

1. Chân phải gập lại, trọng tâm dần lùi về sau sang chân phải; đồng thời, chưởng trái qua khuỷu phải duỗi tới trước theo dưới cẳng tay, theo đà duỗi thì cánh tay xoay ra ngoài thành ngưỡng chưởng (lòng bàn tay ngửa), rồi xoay vào trong làm bàn tay chuyển hướng vào trong. Quyền phải biến thành chưởng, chìm khuỷu rút vào trong theo hướng vào; theo đà rút thì cánh tay xoay ra ngoài làm lòng bàn tay cũng lật hướng vào trong. Hai cánh tay giao nhau, cánh tay phải ở trong, đầu ngón chếch lên trên, hai chưởng và ngón cao ngang vai, thành hình chữ thập chéo. Ánh mắt chú ý cả hai chưởng (xem hai hình trên trang này).

2. Trọng tâm tiếp tục lùi về sau, ngồi vững chân phải (chân trái không được duỗi thẳng hoàn toàn); hai chưởng tách sang trái phải, hơi rộng hơn vai; theo đà tách thì hai cánh tay xoay vào trong, dần làm hai lòng bàn tay lật lại đối nhau (xem hình thứ nhất ở cột bên trái).

3. Trọng tâm dần tiến ra trước, cung chân trái đạp chân phải, thành tả cung bộ; đồng thời hai chưởng ấn ra trước, theo đà ấn thì hai cánh tay tiếp tục xoay vào trong làm lòng bàn tay lật tới chếch hướng ra trước, cổ tay hơi thấp hơn vai. Ánh mắt phải chú ý tới việc hai chưởng ấn ra trước (xem hình thứ hai ở cột bên trái).

III. Yếu lĩnh

1. Hai cánh tay phải thu về theo thân thể ngồi lui; khi hai cánh tay giao nhau phải tránh hai vai co lại hoặc nhô lên, phải trầm kiên thùy khuỷu (chìm vai rủ khuỷu), dưới nách phải để dư địa, khoảng chứa được một nắm tay. Nhưng khuỷu không được lồi ra ngoài hoặc nâng lên, hai khuỷu cũng không được rút về phía sau thân thể, kẻo tự trói mình.

2. Khi trọng tâm lùi về sau phải tùng yêu khóa (lỏng lưng hông), ngồi vững chân phải; không được khi trọng tâm chưa lùi về sau mà chỉ thu tay ngửa thân, hoặc cúi thân ấn ra trước. Dù ngồi lui hay cung tới trước vẫn phải giữ thân trên ngay thẳng, phải vĩ lư trung chính. Khi trọng tâm tiến trước lùi sau, phải chú ý ngực bụng cùng tiến cùng lùi, không trước không sau, thì thân pháp mới giữ được trung chính, mới không tạo thành thân trên trước ngả sau ngửa.

3. Hai tay thu về và ấn ra, cơ bản là ngang theo hướng sau và trước; khuỷu có động tác chìm, nhưng tay không chìm xuống.

IV. Yêu cầu

1. Phải làm được cánh tay khi duỗi co và xoay vòng đều tùng nhu viên nhuận (lỏng mềm tròn đầy).

图 62A
图 62A
Như phong tự bế: hai chưởng tách sang trái phải hơi rộng hơn vai, hai cánh tay xoay vào trong làm lòng bàn tay dần hướng vào nhau
图 62B
图 62B
Như phong tự bế: hai chưởng đã tách, lòng bàn tay dần đối nhau
图 63
图 63
Như phong tự bế: ở tả cung bộ hai chưởng ấn ra trước, lòng bàn tay chếch hướng trước, cổ tay hơi thấp hơn vai

Mấu chốt ở chỗ khớp vai có thể mở lỏng được hay không, cho nên yêu cầu "trầm kiên thùy khuỷu" (chìm vai rủ khuỷu) phải nghĩ theo chữ "tùng" (lỏng).

2. Trầm kiên thùy khuỷu, nhưng cũng phải chú ý "khuỷu bất thiếp lặc" (khuỷu không dán sườn), để cánh tay có dư địa xoay chuyển; phải chú ý "tùng khai ngã kình vật sử khúc" (mở lỏng để kình của mình không bị gập).

3. Khi tiến trước lùi sau, vai và hông phải giữ trên dưới thẳng hàng, cùng tiến cùng lùi, như vậy mới không xuất hiện tình trạng như chèo thuyền: mông ngồi yên không động mà chỉ thân thể trước ngả sau ngửa.

4. Động tác phải làm hoàn chỉnh; không được khi chưa thành hình chữ thập chéo mà hai tay đã tách ra.

5. Tay động thì chân đồng thời phải từ từ ngồi lui. Tay ấn tới thì chân cũng yêu cầu cung tới.

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: chân động mà tay không động, hoặc tay động mà chân không động. Như khi bắt đầu tay trái luồn xuống dưới sườn phải và quyền phải biến thành chưởng, nhưng chân không động chút nào. Nguyên nhân chính là không chú ý đủ "nhất động vô hữu bất động". Sửa: hai tay ở trên bắt đầu động tác thì trọng tâm ở dưới phải dịch chuyển.

2. Lỗi: hai tay giao nhau quá lâu, hai tay áp sát ngực, gây ra "dẫn tiến lạc thực" (dẫn đối phương vào và để nó đặt thực). Nguyên nhân chính là không hiểu sâu cách dùng. Vốn dĩ việc thành hình chữ thập chéo là để tay địch không vào được, tôi có ý phong bế; nay tự mình để hai tay áp sát ngực, tất nhiên tay ấn của hắn cũng đặt thực lên thân tôi. Sửa: hai tay phải cách ngực một khoảng nhất định, để dù đối phương ấn tới tôi vẫn còn dư địa xoay chuyển.

3. Lỗi: khi hai tay thu về thì lõm ngực, hai vai căng co vào trong. Nguyên nhân chính là không phân biệt được lõm ngực và hàm hung. Hàm hung là để ngực có cảm giác rộng thoải mái, có lợi cho hô hấp, là hai vai hơi khép về trước. Lõm ngực là căng thẳng co vào trong, điều này bất lợi cho hóa kình của hai tay. Sửa: khớp vai phải thư giãn, hai vai hơi khép về trước, ngực rộng thoáng, nhưng cũng không được ưỡn ngực.

4. Lỗi: hai tay di chuyển trước sau mà cao thấp nhấp nhô lớn. Nguyên nhân chính là theo đuổi "viên hoạt" bề ngoài mà bỏ qua yêu cầu của cách dùng. Sửa: hai tay phải cơ bản di chuyển ngang thẳng. Do bộ hình thay đổi, về hình thức bên ngoài hai tay có cảm giác di chuyển lên xuống; như vậy mới có lợi cho việc bế kín khuỷu cổ tay đối phương, không cho hắn thoát hóa, và có lợi cho việc ấn ra của tôi.

5. Lỗi: khi ấn ra trước, ngón tay cứng nhắc, hoặc mềm nhũn sụp xuống. Nguyên nhân chính là không chú ý đủ yêu cầu về thụ uyển (dựng cổ tay) và ngón tay thư giãn thoải mái. Sửa: xuất chưởng và thu chưởng đều phải chủ yếu tự nhiên thoải mái; không được khép chặt hoặc dùng sức mở rộng; khớp cổ tay phải tròn linh hoạt, khi đẩy ra trước thì gốc chưởng hơi dùng lực.

6. Lỗi: khi cung tới trước, gối trái vượt quá mũi chân, gọi là quá kình. Nguyên nhân chính là chủ quan cho rằng như vậy động tác mới đầy đủ, nhưng điều này làm chuyển đổi không linh. Sửa: khớp gối hơi vượt ra trước đường thẳng đứng của cẳng chân là được, nhưng lấy mức không vượt quá mũi chân làm giới hạn.

7. Lỗi: chân trái cung tới trước, hai chưởng vẫn còn từ từ ấn ra trước, tay chưa tới cùng chân. Nguyên nhân chính là không hiểu sâu cách dùng. "Phát kình tu thượng hạ tương tùy, nãi nhất vãng vô địch" (phát kình phải trên dưới tùy nhau, mới một đi không địch thủ); chân tới mà tay chưa tới, đó là trên dưới không tùy nhau, cú ấn ra như vậy chỉ có lực của tay, không thể phát kình từ gót chân. Sửa: phải tay tới chân tới, tay ấn phải có sự phối hợp cung tới trước và đạp về sau. Cho nên, trong khi tiến ra trước ắt phải có chống đỡ phía sau.

Phần 65

Trang sách 352

VI. Cách dạy và cách luyện

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải, làm mẫu.

2. Cả tập thể luyện theo.

3. Từ chính diện kiểm tra khoảng cách hai tay tách ra; từ bên trái xem vị trí tay trái luồn qua khuỷu phải; từ bên phải xem biên độ lên xuống của hai tay khi di chuyển trước sau.

4. Khẩu quyết động tác: ① sáp (luồn), giao xoa (giao chéo), phiên (lật), ấn; ② cách (gạt), phong (bế), bế (đóng), ấn.

5. Các vị trí từng đoạn khi hai tay di chuyển phải luyện theo đoạn, để học viên hiểu rõ yêu cầu của động tác.

6. Luyện đối ứng kết hợp cách dùng: Giáp — làm xong định thế Tiến bộ ban lan chùy; Ất — đứng thẳng, dùng tay trái nắm tay phải của Giáp. Giáp — dùng tay trái từ dưới khuỷu phải gạt ra trước; Ất — bước lên chân trái, đổi tay dùng hai chưởng ấn ra trước. Giáp — hai tay giao chéo, lập tức hai tay tách ra, ấn giữ khuỷu cổ tay của Ất, dùng trường kình ấn ra.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này tuy không di bộ, nhưng ngồi lui và cung tới trước đặt yêu cầu cao đối với người mới học về vĩ lư trung chính. Cho nên phải nghiêm túc luyện tốt việc vai và hông cùng tiến cùng lùi.

2. Động tác phong bế di chuyển quãng ngắn, biến đổi nhanh; ý thức hơi không chú ý là động tác dễ làm qua loa. Cho nên yêu cầu về tùng kiên (lỏng vai), hàm hung (thu ngực), thụ uyển (dựng cổ tay) rất cao.

3. Luyện Thái Cực Quyền yêu cầu tĩnh, phải loại bỏ tạp niệm, tâm bình khí hòa. Khi mới luyện chỉ nghĩ tới phương pháp động tác, phương hướng, góc độ v.v., mà còn dễ chú ý chỗ này mất chỗ kia; luyện lâu rồi, động tác thuần thục, tâm ý cũng dần tĩnh lại. Điều này có tác dụng điều tiết rất tốt đối với vỏ đại não, có hiệu quả tốt trong phòng trị các bệnh mạn tính và tăng cường thể chất.

Thế thứ mười bốn: Thập tự thủ

I. Cách dùng
图 64
图 64
Thập tự thủ: hai tay từ trên tách ra, rồi từ dưới hợp lại, kết thành hình chữ thập trước trán

Tiếp thế trước. Nếu đối phương từ bên phải tôi đánh từ trên xuống dưới, tôi liền mở rộng cánh tay phải từ bên phải lên trên, thân thể cũng đồng thời xoay sang phải, chân trái khấu vào trong sang phải. Hai tay từ trên tách ra, rồi từ dưới hợp lại, kết thành một hình chữ thập. Toàn thân ngồi trên chân trái, chân phải lập tức nhấc lên, thu về nửa bước sang trái, hai chân đạp thẳng như thế Khởi thế. Đây là một khai kình, một hợp kình. Khi tôi dùng khai kình để tách tay đối phương, phòng bị đối phương nhân hư đánh vào ngực tôi trước, cho nên tôi lập tức đưa hai tay thành một hợp kình. Lúc này lòng bàn tay hướng vào trong, đè giữ cánh tay đối phương. Nếu đối phương dùng hai tay ấn tới, tôi liền dùng hai tay tách cánh tay đối phương từ trong ra hai bên trái phải, lòng bàn tay hướng lên hay hướng xuống đều được. Nhưng khi kết thành thập tự thủ, đồng thời phải hơi lỏng đầu gối và lưng eo, chìm xuống một chút, thì lực đối phương tới tự nhiên tán loạn bất chỉnh.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể xoay phải, đồng thời mũi chân trái khấu vào trong (hướng nam), ngồi vững trên chân trái. Theo chuyển eo gập khuỷu, hai tay di chuyển sang phải (về nam), dời tới trước trán (xem hình thứ nhất trên trang này). Cách trán khoảng hai nắm đấm của người luyện. Theo đà di chuyển hai cánh tay hơi xoay vào trong, khiến lòng bàn tay hướng ra trước, hai cánh tay thành hình vòng. Theo chuyển eo, qua hai bàn tay nhìn thẳng về phía trước.

2. Trọng tâm dần dần chuyển toàn bộ sang chân trái, gót chân phải rời đất trước rồi cả bàn chân nhấc lên, sát vào phía trái, chạm đất bằng mũi chân hướng nam trước (rộng bằng vai), dần dần cả bàn chân đạp vững, lập tức trọng tâm chuyển phải, hai chân dần đứng thẳng, đồng thời mũi chân trái hơi vểnh, hai đầu gối hơi gập, thành thế đứng hai chân mở. Đồng thời hai bàn tay tách ra, lần lượt từ trái phải đi xuống, qua trước bụng; bàn tay phải ở ngoài hợp ôm giao nhau vẽ cung lên tới trước xương quai xanh, cổ tay trái cách ngực khoảng ba nắm đấm. Khi hai bàn tay hạ xuống thấp hơn vai, theo đà di chuyển hai cánh tay xoay ra ngoài, khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng vào trong. Mắt trước theo hai bàn tay vẽ cung, khi hai cánh tay sắp giao nhau thì nhìn thẳng về phía trước (xem hình thứ hai và thứ ba trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khi mũi chân trái khấu vào trong và dần đạp vững, hai tay theo thân chuyển động (về nam), vừa di vừa vẽ cung lên trên.

2. Chân phải dần dần nhấc khỏi đất rồi đạp xuống, trọng tâm dần chuyển sang chân phải, phải như bập bênh, cái này lên cái kia xuống, không được để hai chân chia đều trọng lượng thân thể (song trọng).

3. Khi hai tay di chuyển lên, tư tưởng phải chú ý điểm kình — một bên xương trụ của hai cổ tay.

图 65
图 65
Thập tự thủ: thân thể xoay phải, hai tay dời tới trước trán, hai cánh tay thành hình vòng
图 66
图 66
Thập tự thủ: chân phải sát vào trái và đạp vững, hai bàn tay từ trái phải đi xuống qua trước bụng
图 67
图 67
Thập tự thủ: hai bàn tay giao nhau vẽ cung lên ôm trước xương quai xanh, nhìn thẳng phía trước

4. Khi hai tay đi xuống, chân trái phải chìm xuống, đồng thời "đưa xuống" chân phải.

5. Khi hai tay giao nhau tới trước ngực, phải hơi hướng lên trên và ra ngoài, tới khi gốc hai bàn tay ngang vai, khiến động tác viên mãn, có kình bồng (đỡ).

6. Toàn bộ động tác Thập tự thủ phải trên dưới tương tùy, động tác tay và chân phải bắt đầu cùng lúc, kết thúc cùng lúc, phải phối hợp nhịp nhàng.

7. Khi hai chân đứng dậy, thân phải ngay ngắn, các bộ vị đều phải thư giãn.

Phần 66

Trang sách 353

IV. Yêu cầu

IV. Yêu cầu

1. Khi mũi chân trái khấu vào trong và ngồi vững trên chân trái, eo và háng phải lỏng hoạt, khớp háng mở ra, thì eo và chân mới theo nhau được.

2. Ngồi vững trên chân trái, gốc háng hơi rút vào trong xoay và chìm xuống, chân phải chầm chậm nhấc lên; khi chân phải gần sát chân trái, hơi lỏng eo gối trái, khiến thân thể hơi chìm xuống, chân trái không được ngồi chết cứng hoàn toàn.

3. Khi hai tay đi lên, ngón tay khoảng ngang đầu.

4. Khi hai tay đi xuống, hai khuỷu không được treo ở trên mà phải thành vòng cung viên mãn; gốc hai bàn tay không được thấp hơn eo.

5. Khi kết thành thập tự thủ, hai cánh tay phải thành hình vòng, phải tùng kiên (lỏng vai) trầm khuỷu (chìm khuỷu), không được so vai nhấc khuỷu.

V. Sai sót dễ mắc, nguyên nhân, cách sửa

1. Sai: hai bàn tay nâng lên quá cao. Nguyên nhân chính là chưa rõ cách dùng của "phân". Tôi dùng khai kình tách tay địch, hai tay quá cao sẽ khiến ngực mình rỗng không. Sửa: độ cao hai tay không vượt quá đầu quá nhiều.

2. Sai: chân phải đạp xuống, nhưng không phải do gập chân trái "đưa" xuống. Nguyên nhân chính là gốc háng căng. Sửa: sau khi chân phải nhấc lên thì lỏng gốc háng trái. Trước hết ngồi xổm xuống chân trái, đồng thời chân phải chầm chậm hạ xuống. Đây là cách luyện tốn sức; luyện lâu có thể khiến cơ eo chân phát triển, bước đi nhẹ nhanh.

3. Sai: tay chân rời rạc, chỉ tay động mà chân không động, động tác đứt đoạn. Nguyên nhân chính là không hợp với yêu cầu trên dưới tương tùy. Sửa: hai tay đi lên thì chân phải nhấc lên; hai tay đi xuống thì chân phải đạp xuống; hai chân đứng dậy thì hai tay đi lên.

4. Sai: khi Thập tự thủ định thế, hai chân song trọng. Nguyên nhân Nguyên nhân chính là phần lớn cho rằng một đoạn đã kết thúc — đây là một động tác nghỉ. Sửa: phải như bập bênh, khi chân phải đạp vững thì chân trái phải chuyển hư, chỉ một chân dùng lực, không phải hai chân chia trọng lượng, như vậy mới không song trọng. Nếu không, hai chân đứng chết, bất lợi cho việc linh hoạt tiếp động tác sau.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải (nhấn mạnh song trọng) và làm mẫu.

2. Cả tập thể luyện theo, nhấn mạnh sự phối hợp động tác tay chân.

3. Học viên quan sát và sửa cho nhau, ví dụ độ cao của tay, việc "đưa" chân phải xuống.

4. Cá nhân thể hội hư thực của hai chân, so sánh và thể hội song trọng.

5. Luyện đối ứng theo cách dùng: Giáp — làm tốt định thế Như phong tự bế; Ất — từ bên phải Giáp đánh từ trên xuống. Giáp — lập tức khấu mũi chân trái vào trong, hai tay vẽ cung lên trên tách ra; Ất — từ phía trước dùng tay phải ấn vào ngực Giáp. Giáp — hai tay đi xuống hợp thành chữ thập di lên, đè giữ cánh tay đối phương. Hai người đổi nhau luyện.

6. Luyện nối tiếp: ① khi động tác ấn của Như phong tự bế sắp kết thúc, trong lúc dường như dừng mà chưa dừng, lập tức nối xoay thân sang phải, khấu mũi chân trái, hai cánh tay dời sang phải. ② khi Thập tự thủ kết thúc, trong lúc hai tay dường như dừng mà chưa dừng, lập tức nối khấu mũi chân trái vào trong, không để dừng lại, khiến việc nối tiếp viên hoạt.

图 68
图 68
Thập tự thủ nối Bão hổ quy sơn: hai tay vẽ cung lên trên tách ra, khấu mũi chân trái, thân xoay phải
图 69
图 69
Thập tự thủ nối Bão hổ quy sơn: hai tay đi xuống hợp thành chữ thập di lên

Thế thứ mười lăm: Bão hổ quy sơn

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương áp sát đánh vào bên phải hay phía sau lưng tôi, không kịp phân biệt hắn dùng tay hay dùng chân, tôi vội xoay eo sang phải, tách hai tay ra, bước chân phải ra, gập gối ngồi vững, chân trái duỗi thẳng; tay phải theo xoay eo chặn tới eo đối phương rồi ôm trở về, tay trái cũng vội theo tới trước ấn. Cho nên tay phải trước dùng eo chặn tới, tiếp đó dùng bàn tay ngửa thu về, như làm thế Ôm hổ. Nếu tay chân đối phương rất nhanh, tôi ôm không được, mà chỉ gạt ra hay ấn ra, và hắn lại đổi tay trái đánh tới, tôi liền dùng thế "bàn" bồng trở về; cho nên dưới đây kèm thêm các động tác bàn, tễ, án của Lãm tước vĩ.

II. Quá trình động tác
(1) Ôm hổ

1. Mũi chân trái khấu vào trong khoảng 90° đạp vững, chân trái dần gập gối ngồi xổm xuống; theo trọng tâm chuyển sang chân trái, chân phải dần nhấc lên (gót rời đất trước), đồng thời thân thể xoay phải khoảng 135°. Theo xoay eo, bàn tay trái từ trước ngực rút xuống, cánh tay xoay vào trong vẽ cung sang trái, nâng lên ngang vai trái, lòng bàn tay hướng tây nam; khuỷu phải chìm xuống tự nhiên dẫn bàn tay phải hạ xuống, theo đà xoay cánh tay vào trong khiến lòng bàn tay lật hướng xuống. Mắt trước chú ý bàn tay trái nâng lên bên trái, rồi chuyển sang nhìn thẳng phía trước (xem hai hình đầu trên trang này).

2. Chân phải bước ra chếch về phía trước bên phải (tây bắc), chạm đất bằng gót trước; theo trọng tâm dần chuyển sang chân phải mà cả bàn chân đạp vững, cung chân phải, đạp chân trái, thành cung bộ phải; thân thể tiếp tục xoay phải. Theo xoay eo, bàn tay phải tiếp tục đi xuống, qua trước eo chặn tới bên phải thân thể, bàn tay trái từ trái lên qua bên tai trái, theo xoay eo đánh ra trước. Mắt hơi chú ý bàn tay phải ôm sang phải rồi nhìn thẳng phía trước, tiếp đó chú ý bàn tay trái đánh ra trước (xem hình thứ ba, thứ tư và thứ năm trên trang này).

图 70
图 70
Bão hổ quy sơn: chân phải bước ra chếch về phía trước bên phải, tay phải qua trước eo ôm vào
图 71A
图 71A
Bão hổ quy sơn: cung chân phải, đạp chân trái thành cung bộ phải, bàn tay trái đánh ra trước
图 71B
图 71B
Bão hổ quy sơn: định thế bàn tay trái đánh ra trước
(2) Thế bàn

1. Trọng tâm dần chuyển sang chân trái, eo dần xoay trái; đồng thời khuỷu trái chìm xuống, cánh tay trái xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay hướng vào trong và chếch lên trên; bàn tay phải từ bên phải thân thể vẽ cung tới trước, qua phía trong bàn tay trái nâng lên trước bàn tay trái, lòng bàn tay chếch xuống dưới.

2. Động tác giống như thế bàn của Lãm tước vĩ, chỉ khác phương hướng, Động tác này đi từ phương chếch tây bắc về phía đông nam, còn Lãm tước vĩ trước đây bàn từ tây sang đông (xem hai hình đầu trên trang này).

3. Thế tễ (xem hình thứ ba và thứ tư trên trang này).

4. Thế án (xem hình thứ năm và thứ sáu trên trang này).

Phần 67

Trang sách 354

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Động tác Bão hổ từ Thập tự thủ hướng nam chuyển sang hướng tây bắc phía sau bên phải; cho nên mũi chân trái phải khấu vào trong đầy đủ, xoay eo và bước chân phải phải tới vị trí, đạt tới phương chếch chuẩn.

2. Phương chuyển động của chân phải khoảng 135°; cho nên chân trái phải ngồi vững, eo háng phải lỏng ra đầy đủ, khiến chân phải theo xoay eo di chuyển đầy đủ.

3. Tay phải ôm về phía sau bên phải, cho nên độ cao của nó cao hơn động tác Lâu tất, khoảng ngang eo.

4. Thập tự thủ kết thúc nối Bão hổ quy sơn, hai chân không được song trọng. Gót chân phải đạp xuống, mũi chân trái hơi nhấc lên, khấu vào trong trước, đồng thời bàn chân trái đạp vững, gót chân phải lập tức nhấc lên.

5. Sau khi chân phải bước ra đạp vững, nếu cảm thấy xoay chưa đủ, khó chịu, có thể để bàn chân trái chạm đất, xoay gót ra ngoài.

IV. Yêu cầu

1. Khi mũi chân trái khấu vào trong, phải phối hợp với ngồi xổm xoay eo và động tác hai cánh tay, trên dưới cùng di chuyển; nếu không thì không hợp với nguyên tắc "nhất động vô hữu bất động".

2. Sau khi xoay eo sang phải, vị trí bước ra chếch của chân phải phải chuẩn xác, khiến bàn tay trái xuất thủ theo hướng tây bắc.

3. Mũi chân phải khấu tốt. Vì việc mũi chân vểnh ra ngoài hay khấu vào trong liên quan tới tính chuẩn xác của toàn bộ động tác. Với Bão hổ quy sơn mà nói, nếu mũi chân trái khấu không đủ thì hướng xuất thủ lệch về tây, hoặc chân phải cố bước ra lệch về bắc, sẽ khiến khai háng quá lớn, hai chân thành thế khó chịu đứng không vững. Cho nên động tác mũi chân và toàn bộ động tác của thân thể liên quan lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, hơi không chú ý là toàn bộ động tác sai.

4. Hư thực phải rõ. Sau khi xoay eo sang phải, khi chân phải bước ra, phải chạm đất từ từ, phải nhẹ linh.

5. Thế bàn của Bão hổ thức, phải đồng thời tiến hành việc tay phải duỗi tới trước và tay trái đón bàn tay rút về, cùng lúc với trọng tâm chầm chậm lùi về sau; nếu không thì chân động mà tay không động, hoặc tay động mà chân không động, chứ không phải nhất động vô hữu bất động.

V. Sai sót dễ mắc, nguyên nhân, cách sửa

1. Sai: ngay khi động tác bắt đầu, lúc khấu mũi chân trái xoay thân thì "song trọng". Nguyên nhân chính là khái niệm động tác chưa rõ. Sửa: khi khấu mũi chân trái, phải đặt phần lớn trọng tâm trên chân trái, mũi chân trái khấu vào trong đạp vững, gót chân phải lập tức nhấc khỏi đất. Như vậy vừa nhẹ linh, vừa không song trọng.

2. Sai: xoay eo và động tác hai tay rời rạc — thường dễ mắc — sai sót tay động mà eo không xoay. Nguyên nhân chính là chưa thể hội sâu nguyên tắc "chủ tể ở eo, hình ra ở ngón tay… tổng tu hoàn chỉnh nhất khí". Sửa: phải hiểu eo là then chốt cho việc xoay chuyển của thân trên và thân dưới, cho nên động tay ắt phải xoay eo, tức là lấy eo dẫn dắt tay. Cho nên khi Bão hổ không phải thân thể xoay sang hướng tây bắc trước rồi mới di chuyển tay, mà phải động tay đồng thời với xoay eo, và tay tới thì eo cũng tới vị trí.

3. Sai: hướng chạm đất khi chân phải bước ra phía sau bên phải không đúng, phần nhiều là do góc di chuyển không đủ. Như vậy hướng ấn ra của tay sẽ lệch về tây. Nguyên nhân chính là mũi chân trái khấu không đủ và khai háng không đủ. Sửa: mũi chân trái phải khấu hết mức có thể. Nhưng thường vì khi làm Thập tự thủ hai chân để quá sát nhau, khiến chân trái không thể khấu vào trong đầy đủ. Cho nên phải sửa hai chân của Thập tự thủ: khoảng cách ngang phải khoảng rộng bằng vai.

4. Sai: khi bàn thì tay chân phối hợp không tốt. Một là chân không động chỉ tay động — tay phải ra trước, tay trái ra sau, hai tay di chuyển mà chân không động. Hai là trọng tâm lùi về sau nhanh và ngồi hẳn trên chân trái, như vậy khi bàn chỉ có động tác tay mà không có động tác chân. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng của bàn chưa sâu. Sửa: khi tay phải tiến ra trước và tay trái thu về, hai chân phải cùng di chuyển nhẹ, trọng tâm dần lùi về sau.

Phần 68

Trang sách 355

VI. Cách dạy và cách luyện

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải quá trình động tác, yếu lĩnh, cách dùng.

2. Làm mẫu: ① làm mẫu tổng thể. ② làm mẫu phân giải, nhấn mạnh động tác chuẩn bị của Bão hổ và thế bàn.

3. Dùng cách đối chiếu, so sánh độ cao khác nhau của tay khi Bão hổ và khi Lâu tất ảo bộ.

4. Lấy quá trình từ Bão hổ tiếp sang thế bàn để học trọng điểm: trước hết làm mẫu và so sánh động tác động tay không động chân và động chân không động tay, để học viên quan sát kết quả của hai loại động tác sai, sau đó làm mẫu và học động tác đúng.

5. Sau thế Bão hổ tay phải duỗi tới trước, thường mỗi người mỗi khác; giáo viên phải luyện phân giải — khi tay phải duỗi tới trước phải "thụ chưởng" tức là hơi — có chưởng xéo ốc xoáy duỗi tới trước.

Thế thứ mười sáu: Trửu để khán chùy

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Phát hiện đối phương đánh tới từ phía sau, động tác giống như Đan tiên chuyển thân đã học trước đây, có thể tham khảo để vận dụng. Khi thân thể sắp lật trở về chính diện, chân trái đạp vững thẳng về chính diện (đông); chân phải lệch về phía trước bên phải, bước ra nửa bước. Khi chân phải ngồi vững thì chân trái nhấc lên, chạm đất bằng gót, mũi chân vểnh lên. Hai tay ngang vai, đồng thời theo thân xoay trái; lúc này liền dùng cổ tay trái đón phẳng cổ tay phải của đối phương từ phía ngoài, đẩy sang trái. Khi hắn mất trung định, tôi liền hạ ngón tay trái xuống, tới gần cổ tay hắn, quấn vào trong một vòng nhỏ; tay phải đồng thời sang trái, tiếp xúc với tay trái hắn, dính hợp từ trên xuống; như vậy tay trái tay phải hắn đều ở thế bất lợi và mất hướng cần dùng lực. Tôi liền lấy cổ tay trái, đè cổ tay phải hắn, tay phải vội nắm quyền, chuyển tới dưới khuỷu trái, hổ khẩu hướng lên, tích lũy lực lượng, đánh phát ra nơi có cơ hội.

Biến chiêu: khi ở Trửu để chùy, nếu đối phương dùng tay phải ấn xéo vào tay trái tôi từ bên phải, tôi liền nhân thế mở chân phải, dùng tay phải thái cổ tay phải đối phương.

II. Quá trình động tác

1. Eo xoay trái, đồng thời mũi chân phải khấu vào trong hết mức và đạp vững, chân trái hư, hai khuỷu hơi chìm và hơi gập, hai bàn tay hơi đi xuống, cao ngang vai, theo xoay eo mài xoay sang trái nửa hình bầu dục phẳng (thân thể từ bắc chuyển sang tây nam); ánh mắt theo chuyển thân nhìn thẳng về trước, hơi tới bên trái trước khi bàn tay trái tới đó, nhưng ánh mắt cũng phải chú ý tay phải (xem hình thứ nhất trên trang này).

图 78
图 78
Trửu để khán chùy: mũi chân phải khấu vào trong đạp vững, hai bàn tay theo xoay eo mài xoay sang trái nửa hình bầu dục phẳng

2. Thân thể chầm chậm xoay phải, hai bàn tay hơi hướng ra ngoài, theo chuyển thân hướng vào trong gần trước ngực rồi vẽ cung sang phải mài xoay thêm nửa hình bầu dục phẳng (thân thể và hai cánh tay từ đông nam chuyển sang tây nam); ánh mắt theo chuyển thân chuyển ngang, và phải chú ý cả hai bàn tay (xem hình thứ hai trên trang này).

图 79
图 79
Trửu để khán chùy: hai bàn tay hướng vào trong gần trước ngực rồi vẽ cung sang phải mài xoay thêm nửa hình bầu dục phẳng
图 80
图 80
Chu đỉnh khán chùy: cánh tay trái xoay ra ngoài dịch sang trái theo hình cung, tay phải dựng chưởng, lòng bàn tay xoay hướng trái; hai khuỷu hơi chìm hơi cong, hai tay xa nhau đối diện. (Hình này cũng được tái bản ở trang sau, trước hình 81.)

3. Trọng tâm vẫn toàn bộ trên chân phải, thân thể chầm chậm xoay trái, chân trái nhấc lên, bước ra về phía sau bên trái (chính đông). Theo chuyển thân, cánh tay trái xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay lật hướng vào trong, dịch ngang theo vòng cung sang trái; bàn tay phải theo sát cũng dịch ngang theo vòng cung sang trái, theo đà khiến tay phải dựng chưởng, lòng bàn tay lật hướng trái. Hai khuỷu hơi chìm và hơi gập, khiến hai tay đối diện từ xa. Ánh mắt chú ý bàn tay trái dịch sang trái (xem hai hình đầu trên trang này).

图 81
图 81
Trửu để khán chùy: hai tay đối diện từ xa, ánh mắt chú ý bàn tay trái dịch sang trái
图 82
图 82
Trửu để khán chùy: chân trái hạ xuống sang trái (đông), gót chạm đất trước rồi đạp vững
图 83
图 83
Trửu để khán chùy: hai bàn tay dịch ngang theo vòng cung sang trái, lòng bàn tay lật hướng xuống
图 84
图 84
Trửu để khán chùy: chân phải nhấc lên hơi dịch tới trước rồi hạ xuống, trọng tâm chuyển sang chân phải
图 85
图 85
Trửu để khán chùy: theo chuyển thân bàn tay trái dời tới hơi lệch trái trước thân, vẽ cung xuống sang trái
图 86
图 86
Trửu để khán chùy: định thế bàn tay trái theo chuyển thân dời tới hơi lệch trái trước thân

4. Chân trái hạ xuống sang trái (đông), gót chạm đất trước, trọng tâm dần chuyển toàn bộ sang chân trái. Theo chuyển thân hai bàn tay dịch ngang theo vòng cung sang trái, cánh tay trái theo đà xoay vào trong, khiến hai lòng bàn tay lật hướng xuống. Chân phải nhấc lên, hơi dịch tới trước rồi hạ xuống, trọng tâm lập tức chuyển sang chân phải. Theo chuyển thân, khi bàn tay trái dời tới hơi lệch trái trước thân thì vẽ cung xuống sang trái. Ánh mắt trước chú ý bàn tay trái dịch sang trái, khi bàn tay phải sắp dời tới trước ngực thì chú ý bàn tay phải (xem hình thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy trên trang này).

图 87
图 87
Trửu để khán chùy: bàn tay trái từ trái đi xuống hướng vào trong, qua phía trong cẳng tay phải xuyên ra trước lên trên; bàn tay phải ở ngoài bàn tay trái úp nắm thành quyền đặt dưới khuỷu trái

5. Trọng tâm chuyển toàn bộ sang chân phải, chân trái hơi nhấc, hơi dịch tới trước rồi hạ xuống, chạm đất bằng gót, mũi chân hơi vểnh; thân thể tiếp tục hơi xoay trái. Bàn tay trái từ trái đi xuống hướng vào trong, qua phía trong cẳng tay phải, xoay tròn xuyên ra trước lên trên, lòng bàn tay hướng phải, ngón trỏ cao ngang lông mày, thẳng với đầu mũi; bàn tay phải sang trái qua phía ngoài bàn tay trái úp nắm, theo đà nắm thành quyền, đặt dưới khuỷu trái, mắt quyền hướng lên, thân trên hơi xoay phải. Mắt hơi chú ý bàn tay trái vòng xuống sang trái; khi bàn tay trái qua phía trong cánh tay phải sắp xuyên ra thì nhìn thẳng phía trước, nhưng ánh mắt vẫn phải chú ý bàn tay trái xuyên ra (xem hình thứ tám trên trang này).

Phần 69

Trang sách 356

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Hư thực phải rõ. Mũi chân phải khấu đầy đủ, chân phải gánh trọng lượng toàn thân, chân trái mới nhấc lên nhẹ linh được.

2. Cánh tay theo eo xoay. Phải thông qua xoay eo chuyển tích, khiến động lực từ xoay cổ tay chuyển cánh tay mà tới đầu ngón tay. Cho nên việc di chuyển cánh tay phải như quyền luận nói "chủ tể ở eo", không được chỉ động cánh tay mà không động eo.

3. Phải tiến hành theo "nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" và hợp với yêu cầu miên miên bất đoạn, không được có góc cạnh, không được có chỗ dừng, phải làm viên mãn, phối hợp. Khi nhấc chân phải và hơi nhấc rồi đặt chân trái xuống, hai động tác này phải tay động chân động. Khi định thế Trửu để tàng chùy vừa hoàn thành, cơ thế chống đối trái phải sinh ra ngay trong lúc dường như dừng mà chưa dừng này, chứ không phải có nối có đoạn; vì lực cũ đã hết, lực mới chưa sinh, lúc này dễ bị đối phương nhân hư xâm nhập nhất.

4. Hai chân không được song trọng, phải cái này nhấc cái kia hạ, như bập bênh. Khi nhấc chân phải hay nhấc chân trái phải lấy một chân gánh trọng lượng thân thể.

5. Khi hai bàn tay dịch ngang sang trái, bàn tay phải không được đặt phẳng hay đưa xuống, phải tọa uyển dựng đứng; và phải tay trái tới trước, tay phải theo sau, khoảng cách phải đều nhau.

6. Khi định thế, gối trái phải tự nhiên hơi cung, hai vai không được nhô lên. Hai cánh tay thành vòng cung, không được duỗi thẳng. Eo háng phải lỏng, ngực không được đối thẳng phía trước mà phải quay chếch sang phương chếch trước bên phải, nhưng hai cánh tay vẫn đối thẳng phía trước (đông), bàn tay trái phải tọa uyển.

7. Khi hai tay dịch ngang về đông, mu bàn tay trái hướng ra ngoài, lòng bàn tay phải hướng trái ra ngoài; khi thân thể xoay về chính diện (đông), tay trái đi xuống trước, tay phải tiến ra trước sau, không phải cùng đi xuống một lúc, vì lúc này là dùng cổ tay trái tôi đón phẳng cổ tay phải đối phương từ ngoài, đẩy sang trái, tay phải sang tay trái tiếp tay trái hắn, mỗi bên có dụng ý riêng.

IV. Yêu cầu

1. Đặc biệt phải chú ý bộ pháp: tiến lùi chuyển đổi, hư thực phải rõ ràng. Khi hai cánh tay bắt đầu dịch ngang sang trái, chân phải là thực, chân trái phải hư. Khi thân thể xoay về chính diện, chân trái thực, chân phải nhấc lên nhẹ nhàng; khi trọng tâm chuyển sang chân phải, chân trái hư và bước hạ xuống phải vững vàng; hư thực biến đổi là dần dần, không phải đột ngột.

2. Phải "thủ tùy túc vận, túc tùy thủ vận", "thượng hạ tương tùy".

3. Phải lấy eo làm trục tâm, lực eo phải vận dụng thích đáng mới giúp cho thăng bằng thân thể; eo không được lắc lư mất trung, cho nên thân thể không được nghiêng trước ngả sau.

4. Khi mũi chân phải khấu vào trong, là phải thực trái hư, trọng tâm không nên dịch sang trái.

5. Động tác tay phải rõ ràng; khi hai tay đưa ngang, khoảng cách khoảng 20 xentimét, quá lớn hay quá nhỏ đều không đúng.

6. Ngón tay phải hơi cong mà không được cứng. Ngón tay quá cong thì khó làm cho ý xuyên tới đầu ngón; ngón tay quá thẳng là phạm cứng. Ý phải xuyên tới đầu ngón, đầu ngón tay hơi dùng sức, luyện lâu ngày thì khí huyết ở ngón tay sẽ thịnh vượng.

Phần 70

Trang sách 357

V. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh và cách sửa

V. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh và cách sửa

1. Sai: bàn chân phải không khấu vào đầy đủ, khiến khi xoay eo hông sang trái không đủ. Nguyên nhân chính: gốc hông thu vào không đủ, đầu gối vặn quá nhiều mà khấu chân quá ít. Sửa: phải hơi nhấc bàn chân phải lên, chân theo gối, gối theo eo mà chuyển, làm cho bàn chân phải khấu vào trong không ít hơn 90°.

2. Sai: khi khấu chân xoay eo, trọng tâm dịch sang trái, hình thành song trọng. Nguyên nhân chính: vì bên phải thực nên bên trái không hư. Như vậy động tác không thể xoay chuyển tự nhiên, cũng không thể đắc lực, không thể ổn định trọng tâm. Sửa: trọng lượng thân thể phải đặt chắc trên chân phải, khi xoay người trọng tâm không dịch chuyển, lấy chân phải thực mà xoay. Eo phải thẳng, trục giữa không lắc lư, thì thân trên mới không nghiêng về một bên. Khe eo quản hai chân: bên nào của khe eo thực thì chân phía dưới cũng thực. Cho nên, khe eo trái phải hư.

3. Sai: khi eo xoay sang trái, chân trái nhấc lên lui về sau sang trái thì trọng tâm dịch sang trái rất nhanh, phá vỡ nguyên tắc "thức thức quân vân" (mỗi thức đều đều). Nguyên nhân chính: chân phải chưa khấu đủ và gốc hông chưa mở ra, thêm nữa khi mũi chân phải khấu vào trong đã lầm lẫn dịch trọng tâm sang trái, nên chân phải không thể phát huy năng lực chống đỡ bình thường; vì thế đành phải để chân trái rất nhanh đặt xuống để có chỗ tựa. Sửa: khấu chân phải vào trong đầy đủ, đầu gối phải vẫn ở dưới trọng tâm không đổi, gốc hông phải mở, để chân trái từ từ bước.

4. Sai: khi hai tay dịch sang trái thì quá cao hoặc quá thấp. Nguyên nhân chính: chưa chú ý đủ đến phép dùng. Vì tay trái là để bắt ngang tay trái của đối phương, tay phải nối với tay trái của họ; nếu tay ta quá cao hay quá thấp đều không hợp với yêu cầu "bắt nối". Sửa: lấy hai tay ngang với vai làm mức thích hợp.

5. Sai: sau khi thân thể xoay thẳng (sang đông), hai tay đồng thời ấn xuống. Nguyên nhân chính: chưa chú ý đủ đến phép dùng. Đúng ra tay trái phải đẩy mở sang trái trước, rồi vẽ vòng nhỏ xuống dưới; tay phải đi sang trái rồi ra sau, tức thì nắm quyền nhẹ tới dưới cùi chỏ trái. Sửa: tay trái đi xuống trước, tay phải còn đang đi tới trước; không nên hai tay đồng thời ấn xuống.

6. Sai: động tay mà không động eo, trên dưới rời rạc. Nguyên nhân chính: không có sự suy tính tổng thể lấy eo làm chủ tể, là cây không gốc. Sửa: khi tay đi tới trước phải có sự trầm xuống, lòng bàn chân dồn sức, theo eo và chân đi tới, hai tay cùng một hướng.

7. Sai: khi định thức, thân trên đối thẳng ra trước. Nguyên nhân chính: hiểu chưa sâu về súc thế (tích lực). Sửa: thân thể phải nghiêng về bên. Nếu thân đối thẳng ra trước, quyền phải khi đã chuyển tới dưới cùi chỏ trái sẽ mất đi sức xung kích chờ thời mà phát, đồng thời cũng làm ngực bị ép chặt, không lợi cho khí huyết lưu thông.

VI. Phép dạy và phép luyện

1. Giảng giải (chú trọng khấu chân và động tác hai tay).

2. Làm mẫu toàn bộ động tác.

3. Phép tăng dần:

  • ① Bắt đầu từ định thức của Bão hổ quy sơn, làm tốt sự tiếp nối, liền khấu chân phải, đồng thời hai cánh tay dịch ngang sang trái rồi sang phải, tới phía trước chéo bên phải.
  • ② Như trên, rồi tiếp: mu bàn tay trái hướng ra ngoài, tay phải dựng chưởng, chân trái nhấc lên, thân trên xoay sang trái, chân trái bước ra trước, gót chân chạm đất trước, hai cánh tay theo eo chuyển tới trước thân. Sau khi nắm được động tác ② ở mức sơ bộ thì nối với động tác ①.
  • ③ Trọng tâm dịch tới trước, hai tay theo eo dịch tới trước, trọng tâm dần dần chuyển tới chân trái, chân phải hơi nhấc, tay trái chuyển phủ chưởng xuống dưới. Sau khi nắm sơ bộ thì nối động tác ①②.
  • ④ Trọng tâm dịch ra sau, chân phải dịch nhẹ sang phải rồi đặt xuống, ngồi chắc chân phải, tay trái vẽ một vòng tròn nhỏ ở phía trong cánh tay phải rồi xuyên ra, tay phải nắm quyền đặt dưới cùi chỏ trái, chân trái nhấc lên hơi đặt xuống phía trước bên trái, gót chân chạm đất. Sau khi nắm sơ bộ thì nối động tác ①②③.
  • ⑤ Động tác hoàn chỉnh. Lưu ý: khi luyện theo phép tăng dần, đặc biệt phải chú ý động tác liên miên không dứt, không được có chỗ dừng lại.

4. Đối luyện kết hợp phép dùng:

  • ① Giáp — làm tốt định thức Bão hổ quy sơn (hướng tây bắc); Ất — từ phía sau lưng Giáp (phía đông) đi ra; Giáp — xoay người sang trái, ngồi chắc chân phải, hai tay dịch ngang sang trái sang phải, xoay người sang trái, chân trái bước ra chính diện (đông), dùng cổ tay trái bắt ngang cổ tay phải của Ất, đẩy mở về phía phải của Ất, tức thì buông xuống, dán vào cổ tay Ất mà vẽ vòng nhỏ vào phía trong; tay phải bắt tay trái của Ất, từ trên dính hợp. ② Cổ tay trái của Giáp lũ (vuốt) cổ tay phải của Ất, tay phải của Giáp biến

…quyền chuyển tới phía dưới cùi chỏ trái, ở nguyên chỗ chờ thời, hoặc liền đánh ra trước.

5. Khẩu quyết: xoay trái khấu chân phải; hai tay dịch ngang theo chuyển; trái hoành hữu thụ chưởng; xoay trái bước chân trái; chân sau đặt lại; chân trước nhấc rồi hạ; cánh tay trái vẽ vòng nhỏ; quyền phải tàng dưới cùi chỏ.

6. Người luyện trước tiên phải chú trọng luyện hư thực: bàn chân phải khấu đầy đủ, ngồi chắc chân phải, trọng tâm không được dịch sang trái. Nhấc chân trái về phía sau bên trái (đông), chân phải phải vững, hông phải mở, thân thể xoay thẳng hướng, đầu gối phải phải theo hướng mũi bàn chân, không được để đầu gối vặn vào trong. Thân thể xoay khoảng 45° + 180°, cho nên nếu chân phải không khấu đủ, hạ bàn không vững thì xoay thẳng thân thể rất khó khăn; vì thế phải luyện hư thực nhiều lần.

7. Xoay eo, chuyển đổi trọng tâm, động tác tay — ba thứ "thượng hạ tương tùy", có thể luyện tách rời (có thể chỉ luyện xoay eo, chỉ luyện chuyển đổi trọng tâm, chỉ luyện động tác tay). Điều này giúp người mới học tiếp thu động tác nhanh hơn; nhưng phải chú ý: tách là để hợp, cuối cùng vẫn phải thượng hạ tương tùy. May thay, ở giai đoạn sau của động tác này, thân thể hơi xoay sang phải, chân trái hơi nhấc lên đặt lại xuống, đồng thời chưởng trái xuyên ra, chưởng phải biến thành quyền, làm được thượng hạ tương tùy, chứ không phải mỗi thứ một nơi.

Phần 71

Trang sách 358

VII. Phân tích kỹ thuật

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này trước tiên phải làm rõ sự biến đổi phương hướng. Thân thể từ định thức Bão hổ quy sơn hướng tây bắc, khi bắt đầu hai cánh tay dịch ngang về đông nam rồi về tây nam, cuối cùng dịch về đông, thêm vào đó là sự đổi bước của hai chân, động tác khác nhau của hai tay…, động tác khá phức tạp. Vì thế, phải chú trọng học theo phép tăng dần, làm rõ phương hướng, làm rõ động tác, giống như lên cầu thang, từng bậc từng bậc đi lên, học được chút nào thì củng cố chút đó, rồi mới thêm một chút nữa.

2. Động tác này luân phiên lấy một chân chống đỡ trọng lượng thân thể; nhìn qua thì tưởng là luân phiên, nhưng vì động tác chậm rãi, một chân chống đỡ, một chân nhấc lên không trong thời gian dài, thực tế thời gian tĩnh lực không ít. Điều này đòi hỏi rất cao về sức mạnh của cơ eo, hông, chân. Chính vì thế mà các cơ có liên quan ấy mới được rèn luyện rất tốt.

3. Sau khi mũi chân phải khấu vào trong, chân phải ngồi chắc, thì chân trái hư, hông trái lỏng. Eo xoay sang trái dẫn hai cánh tay dịch ngang sang trái, lúc này yêu cầu khớp vai của hai cánh tay ngang hàng với hai vai, cố gắng làm được "kiên dữ hông hợp" (vai và hông hợp nhau), cho nên …yêu cầu về sự mở lỏng khớp hông rất cao, nếu không thì với góc xoay lớn như vậy, làm sao có thể hoàn thành thuận lợi được?

4. Mức gánh vác của chân phải thực là rất lớn, giống như sự dịch chuyển của thân cành cây lớn; nhưng vì rễ cành vững như rễ lớn, rễ sâu, vững vàng không động, nên đây là một sự rèn luyện rất tốn sức.

Thế thứ mười bảy: Tả hữu đảo niễn hầu (Đảo niễn hầu trái phải)

I. Phép dùng

Tiếp thế trước, nếu đối phương dùng tay phải nắm chặt cổ tay hoặc cẳng tay trái của ta, lại dùng tay trái đỡ quyền dưới cùi chỏ của ta, thì ta trước tiên bị hắn khống chế mà không thể thi triển động tác của mình. Lúc này, ta liền lật ngửa quyền trái, dùng trầm kình lỏng eo hông, co về phía sau bên trái, chân trái cũng lui về sau một bước, khuất gối ngồi chắc, chân phải chuyển hư — như vậy lực nắm của đối phương sẽ mất ngay. Đồng thời, tay phải tách ra về phía sau; khi hắn mất lực nắm, ta liền ấn nhanh ra trước. Thế này tuy lùi một bước nhưng vẫn có thể niễn (đuổi) đi kình của đối phương, cho nên gọi nó là Đảo niễn hầu. Động tác này phải chú ý lỏng vai trầm cùi chỏ.

II. Quá trình động tác
(Giáp) Đảo niễn hầu trái

1. Gốc hông phải hơi thu vào trong, ngồi vững chân phải, chân trái hơi nhấc, mũi bàn chân tự nhiên buông xuống, thân thể hơi xoay sang phải. Đồng thời chưởng trái hơi hạ xuống và duỗi nhẹ ra trước; quyền phải biến thành chưởng, từ dưới cùi chỏ trái qua trước bụng, theo hình cung vẽ xuống dưới tới bên hông phải; vừa rút vừa xoay ngoài cánh tay phải cho lòng bàn tay dần dần lật lên trên. Mắt chú ý theo chưởng trái duỗi ra trước (xem các hình trên trang này).

2. Trọng tâm dần dần toàn bộ chuyển sang chân phải, thân thể tiếp tục hơi xoay sang phải; chân trái từ từ nhấc lên, thu qua phía trong mắt cá chân phải. Đồng thời, chưởng phải tiếp tục theo hình cung hướng về sau lệch phải nâng lên ngang vai, lòng bàn tay xéo hướng lên. Cánh tay trái dần dần xoay ngoài, làm lòng bàn tay xéo hướng xuống. Ánh mắt theo chưởng phải nâng ra sau (xem hình trên trang này).

图 86
图 86
Đảo niễn hầu phải, định thức: chưởng trái duỗi ra trước, chưởng phải nâng ra sau, hai cánh tay kéo nhau trước sau

3. Thân thể dần dần xoay sang trái, chân trái lui về sau một bước, trước tiên lấy mũi bàn chân chạm đất; theo trọng tâm dần dần chuyển sang chân trái, tới khi cả bàn chân đạp vững (chân đặt xéo, mũi chân hướng đông bắc), mũi bàn chân phải liền xoay về phía trước (đông). Đồng thời theo chuyển thân, chưởng phải theo hình cung hơi nâng lên, thu qua bên tai phải rồi đẩy ra trước; chưởng trái lật cho lòng bàn tay hướng lên, theo hình cung rút về sau tới bên hông trái. Thân trên xoay khoảng 90°, hướng đông bắc, mặt vẫn hướng ra trước (đông). Ánh mắt theo chuyển thân nhìn thẳng ra trước; ánh mắt phải chú ý tới chưởng phải đẩy ra trước (xem các hình trên trang này).

(Ất) Đảo niễn hầu phải

Động tác giống nhau, phương hướng ngược lại (xem các hình trên trang này).

(Bính) Đảo niễn hầu trái

Động tác giống nhau; các hình tương ứng cũng như trường hợp bên trái đã trình bày ở trên.

III. Yếu lĩnh

1. Đặc điểm của động tác này là bước lui về sau. Để giữ thăng bằng thân thể, hạ bàn phải vững vàng, cho nên khi lui bước phải có một khoảng cách ngang nhất định. Vì thế, hai chân không được giẫm trên một đường thẳng.

2. Khi một chân nhấc lên chuẩn bị lui bước, chân kia phải chống đỡ, không được đứng thẳng lên hay nâng lên, vẫn phải giữ đúng độ cao trọng tâm thân thể như lúc ở hư bộ ban đầu; nghĩa là trọng tâm thân thể trong quá trình luyện quyền không được lên xuống quá nhiều.

3. Phải hàm hung bạt bối, vĩ lư trung chính (xương cụt ngay ngắn), không được nghiêng trước ngả sau. Khi lui bước, để hạ xuống chậm rãi, thường dễ đưa…

图 89
图 89
Đảo niễn hầu trái: chân trái lui bước, chưởng phải theo hình cung nâng ra sau lệch phải ngang vai
图 90
图 90
Đảo niễn hầu: chưởng phải thu qua bên tai phải rồi đẩy ra trước, chưởng trái rút về bên hông trái
图 91
图 91
Đảo niễn hầu: hai cánh tay kéo nhau trước sau, chân trái đạp vững phía sau, mũi chân phải xoay thẳng
图 92
图 92
Đảo niễn hầu phải: tay trái duỗi ra trước, tay phải nâng ra sau, lui chân phải
图 93
图 93
Đảo niễn hầu phải: tay phải đẩy ra trước, tay trái rút về sau, ánh mắt chú ý chưởng trước

…nghiêng thân ra trước để cầu thăng bằng. Sau khi trọng tâm ngồi lui về sau, khi hai tay đổi nhau trước thân, trước sau, rất dễ làm thân thể ngả ra trước. Cho nên phải chú ý thân pháp: hai vai và hai hông phải cùng tiến cùng lui, không trước không sau, làm cho từ đỉnh đầu, thân mình tới huyệt hội âm luôn thành một đường thẳng. 《Quyền luận》 nói: "Bách hội, trung cực nhất khí quán thông".

4. Hai tay phải đổi nhau trước thân, làm được một tay về sau, một tay ra trước, dịch chuyển không ngừng nghỉ, không được để một tay dừng lại bên hông. Người mới học vì chú ý quá nhiều tới tay duỗi ra sau và các động tác khác, cho nên tay ở phía trước rất dễ dừng lại bất động. Vì thế, hai tay đều phải dịch chuyển đều đặn liên miên không dứt, phải làm được nhất động vô hữu bất động.

5. Khi một chưởng rút về sau phải đi qua bên hông; người mới học thường để vị trí tay quá cao, cần sửa lại là đi qua bên sườn. Như vậy cánh tay và cùi chỏ trở thành nhỏ hơn góc vuông, không còn thành hình cung nữa, trông vụng về mà không rộng rãi, và vai cũng bị nâng lên.

6. Chân ở phía trước muốn lui về sau, trước tiên phải nhấc đùi, súc kình ở đầu gối, mang gót chân lên, mũi bàn chân tự nhiên buông xuống, rồi từ từ duỗi ra sau, trước tiên nhẹ nhàng đặt mũi bàn chân, nửa trước bàn chân, sau đó gót chân đặt xuống đạp vững — như vậy mới thể hiện được yêu cầu "mại bộ như miêu hành" (bước như mèo đi). Ngoài ra, vì thời gian một chân chống đỡ kéo dài, làm tăng mức gánh vác của chân chống đỡ, điều này rèn luyện sức mạnh chân tốt hơn.

图 94
图 94
Đảo niễn hầu phải: chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái rút về sau, hai cánh tay kéo nhau trước sau
图 95
图 95
Đảo niễn hầu trái: chân trái đạp vững phía sau, cánh tay phải nâng ra sau ngang vai
图 96
图 96
Đảo niễn hầu: lui bước nhẹ nhàng linh hoạt, thân thể trung chính không lắc lư
图 97
图 97
Đảo niễn hầu phải: khi lui bước, gót chân chạm đất trước, bàn chân sau đó đạp vững
图 98
图 98
Đảo niễn hầu trái định thức: hàm hung bạt bối, lỏng vai trầm cùi chỏ

7. Tả hữu đảo niễn hầu mỗi lần có thể làm ba lần (trong một bài quyền …mà đảo niễn hầu xuất hiện hai lần), cũng có thể mỗi lần làm năm lần, bảy lần, nhưng nhất định phải là số lẻ (thông thường làm năm lần là thích hợp). Ngoài ra, Vân thủ cũng phải làm tương ứng ba lần, năm lần, bảy lần; nếu không thì khi thu thế không thể trở về chỗ cũ.

8. Ánh mắt luân phiên chú ý sự dịch chuyển của tay.

Phần 72

Trang sách 359

IV. Yêu cầu

IV. Yêu cầu

1. Phải trầm kiên thùy trửu (chìm vai buông cùi chỏ). Thái Cực Quyền trên tiền đề lỏng vai, yêu cầu "trầm kiên"; có "trầm kiên" mới có thể khinh linh. Nếu lỏng được vai, toàn bộ sự co duỗi quấn quấn của cánh tay đều có thể tự nhiên, hoạt bát, không chút trì độn; luyện lâu ngày sẽ đạt tới cương nhu tương tế.

2. Hai vai phải ngang bằng, không được để vai của cánh tay thu về thấp mà vai của tay ấn ra trước cao, ngược lại cũng không được, vì như thế phá vỡ sự đoan chính của thân pháp.

3. Khi lui về sau, một chân chống đỡ, thân thể phải ổn định, không được lắc lư, vững chắc như cây lớn không thể lay động.

4. Eo xoay không được quá lớn, cũng không được quá nhỏ, lấy việc xoay tới hai góc xéo làm mức thích hợp. Thân thể đối thẳng ra trước mà chỉ động cánh tay, không xoay eo thì cố nhiên là sai; nhưng khi cánh tay duỗi ra sau xéo mà thân thể lại xoay qua khoảng 90°, hai cánh tay gần như duỗi thẳng trước sau khoảng 180° — như thế là quá lớn, không hợp với yêu cầu của phép dùng.

5. Phải "thức thức quân vân", "tương liên bất đoạn"; bàn chân lùi về sau không được chạm đất quá nhanh, chân trước nhấc lên cũng không được quá nhanh, phải đều đặn, phải chậm nhấc chậm hạ, phải dùng ý không dùng lực, từ đầu tới cuối liên miên không dứt, tuần hoàn vô cùng.

6. Người mới học, tay ở phía trước thường lật quá nhanh, hình thành hiện tượng một tay dừng lại, một tay còn đang dịch chuyển. Vì yêu cầu nhất động vô hữu bất động, nên cả hai tay đều phải đang động.

V. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh và cách sửa

1. Sai: thân thể lắc lư khi lui về sau. Nguyên nhân chính: đầu gối của chân thực không vững, sự dịch chuyển của chân duỗi ra sau kéo theo chân thực gây nên lắc lư. Sửa: phải lỏng trầm eo hông, mông hơi thu vào, cơ chân dùng sức để ổn định, khớp gối sẽ mạnh hơn, lòng bàn chân cũng đạp đất bằng phẳng hơn, hạ bàn sẽ vững vàng. Ngoài ra, nếu vai không lỏng, sự dịch chuyển của cánh tay kéo theo thân trên, ảnh hưởng tới trung chính, cũng sẽ gây lắc lư.

2. Sai: khi lui về sau, hai chân đặt trên một đường thẳng. Nguyên nhân chính: không hiểu phép dùng. Hai chân trên một đường thẳng thì diện chống đỡ nhỏ, chỉ hơi dịch chuyển là hai chân vốn đã vụng về khó ổn định trọng tâm — làm sao còn có thể hóa và tấn công cho tốt? Sửa: khi lui bước, khoảng cách ngang giữa hai chân nên khoảng bằng bề rộng vai.

3. Sai: hai cánh tay mở ra quá lớn, hình thành một tay ở trước (đông), một tay ở sau (tây), góc giữa hai cánh tay lớn tới 180°, trông rời rạc. Nguyên nhân chính: hiểu chưa đủ về vận động tròn của Thái Cực Quyền. Cánh tay mở ra quá lớn thì thành thẳng tới thẳng lui, sẽ không có "diệu thủ nhất chiêu nhất thái cực". Hai cánh tay mở quá lớn còn dẫn trục eo xoay quá nhiều; trong kỹ kích là trao sơ hở cho người, nghĩa là cho đối phương một khoảng trống để tấn công.

4. Sai: tay trước dừng, tay sau động. Nguyên nhân chính: chú ý chưa đủ tới nhất động vô hữu bất động. Sửa: (lấy Đảo niễn hầu phải làm ví dụ) chưởng trái duỗi nhẹ ra trước, đồng thời từ từ xoay ngoài cánh tay cho lòng bàn tay xéo hướng xuống, rồi lại từ từ rút về… Lúc này chưởng phải theo hình cung nâng lên tới phía sau xéo bên phải, bên tai phải, cánh tay trái gần như xoay "tại chỗ", hình dáng bên ngoài thay đổi không nhiều. Thực ra, lúc này các khớp vai, cùi chỏ, cổ tay và các phần khác của thân thể đều đang hoạt động; và khi cánh tay phải dịch từ dưới ra sau lên trên, hai tay vừa vặn làm xong động tác chuẩn bị là tay trái rút về sau, tay phải ấn ra trước — như vậy thì không phải một cánh tay động, một cánh tay dừng.

(Ảnh ở dưới trang này là ảnh Phó Chung Văn biểu diễn thôi thủ, không có số hình.)

…rồi. Động tác của chân cũng như vậy, cũng phải nhất động vô hữu bất động: eo động, tay động thì bàn chân phía dưới phải đồng thời từ từ nhấc lên; khi tay phải ấn tới, tay trái thu về, đồng thời chân trái vừa vặn ngồi chắc, mũi bàn chân phải vừa vặn khấu vào đúng vị trí (đối thẳng ra trước).

Phần 73

Trang sách 360

VI. Phép dạy và phép luyện

VI. Phép dạy và phép luyện

1. Giảng giải, làm mẫu (chú trọng hư thực).

2. Phép chia nhỏ (lấy Đảo niễn hầu phải làm ví dụ):

  • ① Trước tiên làm động tác lui bước. Chân phải chống đỡ vững vàng, chân trái từ từ nhấc lên; yêu cầu lỏng trầm eo hông, làm cho khi chân trái đi từ trước ra sau động tác đều đặn, không kéo thân thể gây lắc lư; phải dẫn dắt người luyện giữ cho eo "thẳng" và nâng lên. Giáo viên kiểm tra và học viên kiểm tra lẫn nhau về sự nhẹ nhàng linh hoạt và khoảng cách ngang khi chân trái nhấc lên và lui bước.
  • ② Vị trí đổi nhau trước sau của hai tay: tay trái ở trước, tay phải bên tai phải; đồng thời khi thân thể ngồi lui về sau thì tay trái thu về, tay phải ấn ra trước; và trong khi tay động, mũi bàn chân phải từ từ khấu vào trong xoay thẳng. Giáo viên kiểm tra và học viên kiểm tra lẫn nhau, luyện sự phối hợp động tác tay chân.
  • ③ Định thức. Chân trái thực (đầu gối không vượt quá mũi bàn chân), chân phải hư (đầu gối phải hơi khuất), thân thể hơi xoay sang trái, tay trái ngửa chưởng bên hông, tay phải theo hình cung ấn ra trước (thụ chưởng), lỏng vai trầm cùi chỏ, hàm hung bạt bối, vĩ lư trung chính. Định thức tuy chỉ là một quá trình ngắn ngủi, nhưng nhất định phải có quá trình ấy, không được lơ mơ cho qua; ở giữa có thể dừng lại để kiểm tra.

3. Bài tập phụ trợ: chân phải thực, từ từ nhấc chân trái — duỗi ra sau, nửa trước bàn chân nhẹ nhàng chạm đất — gót chân nhẹ nhàng hạ xuống cho tới khi cả bàn chân đạp vững. Có thể luyện đi luyện lại, cũng có thể đổi chân trái phải để luyện. Số lần và tốc độ có thể tự định theo sức từng người; sau khi làm xong phải làm bài thư giãn.

4. Khẩu quyết động tác: tả toàn hữu cử đề tả túc, thể chuyển thủ động thối vi động; tả thối hậu lạc yếu khinh linh, tả thu hữu án hậu tọa ổn; thủ túc viên mãn yếu khinh tùng, trọng tâm thượng hạ bất khởi phục;

5. Học viên phải coi trọng luyện chân, cũng phải coi trọng luyện tay, quan sát lẫn nhau về sự trầm kiên thùy trửu trong quá trình tay dịch chuyển.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này là bước lui về sau, cho nên nó rèn luyện những cơ khác với khi bước chân ra trước, có tác dụng tốt hơn cho việc rèn luyện thân thể.

2. Khi lui bước mà phải "mại bộ như miêu hành" (bước như mèo đi) thì khá khó khăn. Một chân duỗi ra sau, trước khi bàn chân chạm đất, phải làm cho chân kia đang chống đỡ vững vàng, thân thể không lắc lư, chạm đất phải nhẹ phải chậm — điều này đòi hỏi rất cao với các phần của thân thể. Và càng yêu cầu chân duỗi ra sau phải chậm, phải nhẹ nhàng linh hoạt thì yêu cầu càng cao; tư thế càng thấp, bước càng lớn thì việc nhấc chân trước càng khó khăn; chân duỗi ra sau càng xa thì thời gian vận động càng kéo dài, mức gánh vác của cơ chân chống đỡ và chân duỗi ra sau càng lớn. Cho nên, tư thế khá thấp mà luyện lâu dài sẽ có tác dụng rất tốt cho việc tăng cường lực eo chân và cho sức khỏe.

Thế thứ mười tám: Tà phi thức (Xiên bay)

I. Phép dùng

Tiếp thế trước, nếu đối phương từ bên phải của ta đánh tới phần trên của ta, hoặc dùng sức ép vào giữa cánh tay và cổ tay phải của ta. Ta liền thừa thế trầm xuống khép lại súc kình, đồng thời bước ra chân phải, khuất gối ngồi chắc, đem tay phải mở ra về góc trên bên phải, dùng khai kình đánh xiên, giống như bay ra theo hướng xiên. Ý dụng của việc xuất chưởng cũng phải hợp với yêu cầu của động tác này.

Thiên trước (biến thể lệch): nếu đối phương ấn cánh tay trên bên phải của ta, ta liền hàm hung lỏng hông, trước tiên hóa đi kình ấn của đối phương, chân trái nhấc lên, nhanh chóng đạp xuống, chân phải nhấc lên, tức thì đặt xuống, hai tay trước tiên bằng rồi sau ấn.

II. Quá trình động tác

1. Trọng tâm dần dần toàn bộ chuyển sang chân trái, chân phải nhấc lên, đồng thời eo hơi xoay sang phải; cánh tay trái từ từ xoay nội, tay trái ngửa chưởng khi vẽ theo hình cung lên trên, sang phải thì lật thành phủ chưởng, khuất cánh tay đặt trước ngực trái, tay cao khoảng ngang vai, cánh tay thành hình cung, cùi chỏ hơi trầm; chưởng phải từ trước đi xuống, qua trước bụng vẽ hình cung xuống trái, theo đà dịch chuyển cánh tay phải xoay ngoài cho lòng bàn tay hướng lên, hợp với chưởng trái trên dưới. Ánh mắt chú ý theo chưởng trái vẽ hình cung (xem các hình trên trang này).

图 99A
图 99A
Tà phi thức: chưởng phải mở ra về góc trên bên phải, dùng khai kình đánh xiên, chưởng trái ở trước ngực trái
图 99B
图 99B
Tà phi thức: cung chân phải đạp chân trái, chưởng phải bằng ra về phía sau trên bên phải, lòng bàn tay xéo hướng lên

2. Thân thể tiếp tục xoay sang phải, chân trái ngồi chắc, mở hông, đồng thời chân phải bước ra một bước về phía sau bên phải (nam). Trước tiên dùng gót chân chạm đất; theo trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải, cả bàn chân đạp vững. Cung chân phải đạp chân trái, thành hữu cung bộ (thế cung bên phải). Theo chuyển thân, chưởng phải dùng mặt bằng, bằng ra về phía sau trên bên phải, lòng bàn tay xéo hướng lên, cao ngang trán; chưởng trái theo hình cung xuống trái …thái xuống, cao ngang hông, lòng bàn tay hướng xuống; chân trái lấy gót chân làm trục, theo chuyển thân xoay mũi bàn chân vào trong. Ánh mắt theo chuyển thân nhìn ngang mà xoay chuyển; ánh mắt phải chú ý tới chưởng phải liệt ra (xem các hình trên trang này).

Phần 74

Trang sách 361

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Chân phải từ từ nhấc lên, theo eo xoay sang phải, thân thể trung chính, đặt nền tảng tốt cho việc bước ra sau bên phải.

2. Bước chân phải ra sau bên phải, thăng bằng thân thể khá khó nắm giữ. Người mới học thường nghiêng thân ra trước, xiêu vẹo, chạm đất nặng nề (quyền ngạn nói: cúi đầu mèo lưng, quyền nghệ chẳng cao). Eo vừa phải xoay chuyển linh hoạt, vừa phải "thẳng"; chỉ có trục giữa không cong mới chống đỡ được tám hướng. Cho nên, phải ngồi chắc chân trái, lỏng eo hông, chân phải theo xoay eo dần dần bước ra sau bên phải thì mới trông nhẹ nhàng linh hoạt.

3. Khi chưởng phải liệt ra về phía sau trên bên phải, kình phải khởi từ chân, phát từ đùi, chủ tể ở eo, thông qua sống lưng, từ vai tới cùi chỏ, từ cùi chỏ tới tay, hiện thành ở ngón tay. Đánh ra với từng đốt xuyên suốt, thân, tay, bước phối hợp, nói tới là cùng tới, không trước không sau; tay và các phần khác của thân thể không được rời rạc. Phải đạt tới yêu cầu thượng hạ tương tùy và đường đi của kình; đồng thời cánh tay phải không được duỗi thẳng hoàn toàn.

4. Vì người mới học chân chống đỡ không dễ vững vàng, thân thể không dễ "thẳng", eo hông không dễ lỏng, cho nên động tác không dễ khống chế, sẽ sinh ra động tác eo, chân dừng lại hoặc quá nhanh. Vì thế, động tác phải biến đổi dần dần, không được đột ngột; khớp gối của chân chống đỡ phải ổn định.

5. Vì bộ pháp bao giờ cũng lấy tiến lui thuận tiện, đứng vững vàng, gốc hông mở ra làm thích hợp, cho nên khi xoay eo, tay phải đánh ra về phía trên bên phải, chân trái phải đạp đất, nửa trước bàn chân khấu vào trong.

IV. Yêu cầu

1. Động tác phải làm một mạch hoàn thành, không được đứt quãng.

2. Eo phải lỏng trầm thẳng đứng, không ngả ra trước hay nghiêng, không lắc lư.

3. Vị trí chân phải chạm đất phải đúng, không được quá nhỏ; quá nhỏ thì eo sẽ vụng về.

4. Chân phải chạm đất phải nhẹ nhàng linh hoạt.

5. Tay liệt ra về phía trên bên phải phải theo eo xoay chuyển.

图 100
图 100
Tà phi thức: chưởng phải liệt ra về phía sau trên bên phải, lòng bàn tay xéo hướng lên, cao ngang trán
图 101A
图 101A
Tà phi thức: chân phải nhấc lên theo xoay eo bước ra sau bên phải, thân thể trung chính
图 101B
图 101B
Tà phi thức: hữu cung bộ định thức, tay phải liệt ra, chưởng trái bên hông trái
V. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh và cách sửa

1. Sai: sau khi chân phải nhấc lên, trong quá trình bước ra sau bên phải, chân dịch chuyển không theo hình cung. Nguyên nhân chính: hiểu chưa đủ về yêu cầu động tác ốc xoáy hình cung. Sửa: trong Thái Cực Quyền, mỗi động tác khởi lạc xoay chuyển, khai hợp hư thực đều do hình cung cấu thành: phía trên là xoay cổ tay chuyển cánh tay, hiện thành ở ngón tay; phía dưới là xoay mắt cá chân chuyển chân, đạt tới đầu ngón chân. Phải hông thúc gối, gối thúc chân; chân phải nhấc lên rồi theo xoay mà bước ra trước, không được cứng nhắc kê sát vào phía trong mắt cá chân trái rồi mới bước, mà phải theo xoay thân vẽ hình cung bước ra trước bên phải. Đương nhiên, rút chân thẳng ngang cũng không tốt.

2. Sai: chân phải sau khi nhấc lên thì dừng lại bất động, tới sau khi xoay thân mới bước ra sau bên phải. Nguyên nhân chính: hiểu chưa đủ về yêu cầu "nhất động vô hữu bất động". Sửa: phải nhấc chân phải đồng thời eo hông dần dần xoay sang phải, theo xoay, chân phải vừa nhấc vừa duỗi theo hình cung ra sau bên phải. Eo đang xoay, tay đang động, chân phải cũng không ngừng biến đổi, đạt tới sự chuyển biến dần dần từ khai tới hợp, từ hợp tới khai, từ thực biến hư, từ hư biến thực.

(Ảnh ở dưới trang này là ảnh Phó Chung Văn biểu diễn thôi thủ, không có số hình.)

3. Sai: khi bước chân phải, thân trên ngả ra trước nghiêng đổ. Nguyên nhân chính: để giảm nhẹ khi bước chân phải mà chân trái chống đỡ không có lực, phải mượn sự ngả nghiêng ra trước để duy trì thăng bằng. Sửa: trước tiên phải làm cho eo thẳng, tức trục giữa không cong, làm cho trọng lượng thân thể phía trên eo đều do eo chân gánh vác. Ngoài ra, phải làm cho sức chân mạnh hơn, làm cho chân chống đỡ vững vàng.

4. Sai: tay phải liệt ra về phía trên bên phải chỉ động tay, không phối hợp với xoay eo hông và duỗi đạp chân trái, gây nên trên dưới rời rạc. Nguyên nhân chính: hiểu chưa sâu về "thượng hạ tương tùy". Sửa: khi thân, tay, chân đi tới trước, phải để đang kình trầm xuống, lòng bàn chân dồn sức, nội kình từ trong đang lật lên trên, xuyên qua sống lưng tới bàn tay ngón tay bắn thẳng ra. Trong lúc đi tới trước nhất định phải có sự chống đỡ phía sau; như vậy tay phải mới không phải là mò khoảng không.

5. Sai: chân trái ngồi chết bất động. Nguyên nhân chính: động tác không viên mãn, cứng nhắc. Sửa: khi xoay eo, chân trái phải có ý trầm, eo hông phải lỏng.

Phần 75

Trang sách 362

VI. Phép dạy và phép luyện

VI. Phép dạy và phép luyện

1. Giảng giải, làm mẫu, xây dựng khái niệm.

2. Giảng dạy có trọng điểm. Điểm khó của Tà phi thức là khi chân phải nhấc lên, theo xoay thân bước chân phải ra sau bên phải: hoặc là thân thể không ngay ngắn, hoặc là chạm đất rất nặng. Cho nên phải lấy nó làm trọng điểm, công phá cửa ải này:

  • ① Giảng rõ yêu cầu động tác đúng, và làm mẫu lặp đi lặp lại.
  • ② Phá vỡ theo từng đoạn.

Giáp — chân phải nhấc lên hơi thu về, theo xoay thân tay trái chuyển sang trên phải, tay phải chuyển sang dưới trái; đồng thời khi hai tay hợp trên dưới, chân phải duỗi nhẹ ra sau bên phải. Lúc này giữ đúng các yêu cầu như thân trên thẳng đứng, làm nền tảng cho động tác phía sau; điểm này nói chung còn có thể làm được. Ất — thân thể tiếp tục xoay sang phải, chân phải tiếp tục duỗi ra sau bên phải. Theo đà chân phải treo nhấc không ngừng duỗi ra, trọng lượng rời xa điểm chống đỡ này không ngừng tăng lên, cũng không ngừng tăng yêu cầu đối với cơ eo, lưng, hông, gối. Cho nên, người mới luyện muốn giữ yêu cầu chậm và nhẹ nhàng linh hoạt, nhưng khi lực không đủ thì đành phải nhanh chóng và nặng nề bị buộc đạp gót chân phải xuống. Vì thế, không đạt được yêu cầu "mại bộ như miêu hành". Muốn khắc phục điểm khó này, chỉ có …tăng cường rèn luyện sức mạnh cơ eo chân; lâu ngày, sức cơ tăng mạnh thì bước chân cũng nhẹ nhàng linh hoạt. Vì thế trong khi luyện quyền, phải lặp đi lặp lại động tác nhấc chân, bước chân theo xoay thân.

3. Giáo viên kiểm tra, người học 2–3 người một nhóm kiểm tra lẫn nhau: ① thân thể có ngả trước, ngả sau, nghiêng đổ không; ② xoay eo hông có đầy đủ không; ③ khi chân phải bước ra sau bên phải chạm đất, là nặng hay nhẹ.

4. Trên cơ sở luyện tốt các yêu cầu trên, rồi dần dần giải quyết các chi tiết.

5. Đối luyện kết hợp phép dùng: Giáp — làm tốt định thức Đảo niễn hầu. Ất — ở bên phải của Giáp, dùng tay phải đánh xuống từ phía trên, hoặc ép vào giữa cánh tay và cổ tay phải. Giáp — thừa thế trầm xuống, hai tay hợp trên dưới, ngồi chắc chân trái, chân phải đạp ra sau bên phải; đồng thời, tay phải mở ra về góc trên bên phải và liệt ra. Hai người đổi nhau luyện tập.

6. Phải coi trọng sự vững vàng của hạ bàn, phải luyện tốt chân trái ngồi chắc, lặp đi lặp lại luyện sự vững vàng của chân trái khi xoay eo hông, nhấc chân, bước chân.

7. Chân phải chạm đất, bắt đầu hai bên chia đều. Phải luyện tốt kình khởi từ chân, qua eo lưng đạt tới cùi chỏ và tay. Lặp đi lặp lại thể hội, làm được "thượng hạ tương tùy".

8. Giáo viên phải quan sát sự biến đổi các phần thân thể của người luyện ở từng giai đoạn.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Thân thể từ vị trí hướng đông bắc xoay sang nam, dịch khoảng 135°. Vì chân trái cố định, đầu gối trái hơi lệch về đông bắc, mà chân phải bước về phía tây lệch nam, cho nên hai chân mở ra, thực tế gần 180°. Như vậy, không những đòi hỏi cực cao về sự chống đỡ của chân trái, mà việc chân phải nhấc lên dịch chuyển cũng cực khó luyện tốt sự trung chính của vĩ lư ở thân trên. Nó đòi hỏi hông trái thu vào ngồi chắc, hạ bàn vững vàng, eo phải lỏng, trầm, trục giữa nhất định không được cong — có vậy mới làm cho nội kình chống đỡ tám hướng, mới không nghiêng trái lệch phải và ngả trước ngửa sau.

2. Tà phi thức về hình dáng bên ngoài là chưởng phải liệt ra về phía sau trên bên phải; nhìn qua thì chỉ là động tác của một tay, nhưng nếu không phải kình khởi từ chân, phát từ đùi, chủ tể ở eo, thông qua sống lưng, từ vai tới cùi chỏ, từ cùi chỏ tới tay, từng đốt xuyên suốt, thì không đạt được yêu cầu của phép dùng và không thể tốt hơn …yêu cầu rèn luyện thân thể. Cho nên, sau khi chân phải chạm đất, phải làm tốt việc khởi phát từ chân, dần dần lên tới cổ tay, ngón tay.

Thế thứ mười chín: Đề thủ thượng thế (Nâng tay lên)

I. Phép dùng

Giống như thế thứ năm Đề thủ thượng thế ở trước.

II. Quá trình động tác

Eo hông hơi trầm, trọng tâm dịch tới trước đặt toàn bộ lên chân phải; chân trái hơi nhấc, hơi hạ xuống ra trước (về cơ bản ở chỗ cũ); trọng tâm dần dần dịch ra sau tới khi ngồi hoàn toàn trên chân trái; thân thể hơi xoay sang trái, chân phải hơi nhấc lên, về cơ bản hạ xuống ở chỗ cũ, lấy gót chân chạm đất, mũi bàn chân hơi nhấc, hướng ra trước, đầu gối hơi cung, thành hữu hư bộ. Đồng thời, cánh tay phải xoay nội; trong lúc trầm cùi chỏ thu vào, chưởng phải dần dần phủ chưởng xéo hướng xuống; chưởng trái theo hình cung dịch ra trước lên trên; hai chưởng hợp về trước ngực. Chưởng phải ở trước, ngón tay cao ngang giữa hai chân mày, lòng bàn tay hướng trái, lập chưởng; chưởng trái ngón tay cao ngang ngực, lòng bàn tay hướng phải (hơi phủ chưởng) đối thẳng vào khớp cùi chỏ phải. Eo hơi xoay sang trái, ánh mắt qua chưởng phải nhìn thẳng ra trước. Xem các hình trên trang này (hình cuối là cùng một tư thế như đã trình bày ở thế thứ năm).

III. Yếu lĩnh

1. Trọng tâm dịch trước sau, nhưng thân thể không được lên xuống quá nhiều, phải vững vàng.

2. Toàn bộ động tác từ lúc bắt đầu tới lúc kết thúc đều yêu cầu eo hông và các động tác chi trên chi dưới đồng thời bắt đầu, đồng thời hoàn thành.

IV. Phép dạy và phép luyện

Phải làm cho người luyện hiểu rằng, thế thứ mười chín và thế thứ năm tuy cùng là Đề thủ thượng thế, nhưng sự tiếp nối khác nhau. Trong khi dạy và học phải làm rõ quá trình tiếp nối.

Các điểm còn lại giống như thế thứ năm Đề thủ thượng thế.

图 102
图 102
Đề thủ thượng thế: chưởng phải lập chưởng ở trước, ngón tay cao ngang giữa hai chân mày; chưởng trái hơi phủ chưởng đối thẳng vào khớp cùi chỏ phải
图 103
图 103
Đề thủ thượng thế: hữu hư bộ, lấy gót chân chạm đất, mũi bàn chân hơi nhấc hướng ra trước, đầu gối hơi cung
图 104
图 104
Đề thủ thượng thế: ánh mắt qua chưởng phải nhìn thẳng ra trước, hai chưởng hợp về trước ngực

Thế thứ hai mươi: Bạch hạc lượng sí (Hạc trắng xòe cánh)

Phép dùng, quá trình động tác, yếu lĩnh và các điểm khác đều giống như thế thứ sáu Bạch hạc lượng sí. Xem các hình trên trang này (tương ứng với các hình của thế thứ sáu).

图 105
图 105
Bạch hạc lượng sí: cánh tay phải nâng lên, tay trái thái xuống, thành hữu hư bộ
图 106
图 106
Bạch hạc lượng sí: tay phải nâng lên phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng trái
图 107
图 107
Bạch hạc lượng sí: tay trái ấn xuống bên hông trái, tay phải nâng lên trước trán
图 108A
图 108A
Bạch hạc lượng sí: tư thế chính diện, hai cánh tay mở trên dưới, ánh mắt nhìn thẳng ra trước
图 108B
图 108B
Bạch hạc lượng sí: tư thế nghiêng, hàm hung bạt bối, hữu hư bộ đứng vững

Thế thứ hai mươi mốt: Tả lâu tất ảo bộ (Tay trái vén gối bước xéo)

Phép dùng, quá trình động tác, yếu lĩnh và các điểm khác đều giống như thế thứ bảy Tả lâu tất ảo bộ. Xem các hình trên trang này (tương ứng với các hình của thế thứ bảy).

图 109
图 109
Tả lâu tất ảo bộ: tay trái vén qua gối trái, tay phải đẩy ra trước
图 110
图 110
Tả lâu tất ảo bộ: tay phải lập chưởng đẩy ra trước, tay trái ấn bên hông trái
图 111
图 111
Tả lâu tất ảo bộ: cung chân trái đạp chân phải, thành tả cung bộ
图 112
图 112
Tả lâu tất ảo bộ: thủ pháp vén gối, tay trái vén mở từ trước gối
图 113A
图 113A
Tả lâu tất ảo bộ: định thức, tay trái sau khi vén gối thì ấn xuống, tay phải đẩy ra trước

Thế thứ hai mươi hai: Hải để châm (Kim đáy biển)

Phần 76

Trang sách 364

I. Phép dùng

I. Phép dùng

Tiếp thế trước, nếu đối phương dùng tay phải kéo cổ tay phải của ta, ta liền khuất cùi chỏ phải, ngồi chân phải, xoay eo, nâng tay phải kéo về. Đồng thời, tay trái đi sang trái, chân trái cũng theo đó thu về, dùng mũi bàn chân điểm đất. Nếu đối phương vẫn chưa buông tay, trái lại muốn tiến thêm một bước thừa thế tập kích ta, ta liền để cổ tay phải thuận theo mà lỏng kình, gấp eo trầm xuống, ánh mắt nhìn ra trước, đầu ngón tay buông xuống, như đang dò kim dưới đáy biển. Lúc này, tuy đối phương muốn thái (ngắt) hoặc muốn công ta, nhưng lực hắn tới đi là một lực thẳng, không ngờ bị ta một cái tỏa, căn lực của hắn tự đứt, ta liền thừa hư tiến kích hắn.

II. Quá trình động tác

Nếu đối phương dùng tay phải kéo cổ tay phải của ta, ta lập tức ngồi chân phải, khuất cùi chỏ phải, xoay eo sang phải, đem tay phải nâng kéo về; chân trái lập tức thu về, dùng mũi bàn chân điểm đất. Mục đích là thoát khỏi tay phải bị nắm: lấy việc ngồi chân phải làm căn cơ, lấy chuyển eo để thay đổi phương hướng hắn kéo ta, lấy cánh tay phải xoay ngoài và chưởng chuyển sang trái để thay đổi lực nắm của đối phương, lấy việc chân trái thu về để tăng khoảng cách kéo về và tiện cho công thủ.

1. Trọng tâm dần dần toàn bộ chuyển sang chân trái, chân phải nhấc lên hơi hạ xuống ra trước (khoảng hơn một bàn chân một chút); đồng thời cánh tay phải xoay ngoài, làm cho lòng bàn tay hướng sang trái, và từ thụ chưởng tọa uyển chuyển thành để bằng; tay phải hơi trầm xuống, tay trái hơi dịch ra trước và trầm xuống (xem các hình trên trang này).

图 113B
图 113B
Hải để châm: sau khi tiếp tay, tay phải khuất cùi chỏ nâng kéo về, tay trái duỗi ra trước che phía trong cùi chỏ phải
图 114
图 114
Hải để châm: trọng tâm dịch sang chân trái, cánh tay phải xoay ngoài, lòng bàn tay chuyển sang trái
图 115
图 115
Hải để châm: tay phải từ thụ chưởng tọa uyển chuyển thành để bằng, tay trái hơi dịch ra trước trầm xuống
图 116
图 116
Hải để châm: hai tay theo trọng tâm dịch chuyển hơi nâng lên, ánh mắt chú ý cổ tay phải nâng kéo về

2. Theo trọng tâm dần dần dịch ra sau, toàn bộ chuyển lên chân phải, chân trái nhấc lên, eo hơi xoay sang phải, khuất cùi chỏ phải, cổ tay phải nâng thu về phía trong, hai tay theo trọng tâm dịch chuyển hơi nâng lên. Ánh mắt chú ý theo cổ tay phải nâng kéo về (xem hình trên trang này).

3. Nếu lúc này đối phương vẫn chưa buông tay, trái lại còn muốn thừa thế đánh tới ta, ta liền gấp eo trầm xuống, thay đổi phương hướng dùng lực của hắn. Cho nên, chân trái hơi thu vào trong rồi hạ xuống, lấy mũi bàn chân điểm đất, thành tả hư bộ; eo hơi xoay sang trái, ngồi chắc chân phải, gốc hông trái thu vào trong, gấp eo trầm xuống; đồng thời, chưởng phải theo xoay eo, gấp eo đâm xuống trước dưới, chưởng trái theo hình cung hạ xuống bên hông trái. Mắt nhìn ra trước, ánh mắt phải chú ý theo chưởng phải đâm xuống (xem các hình trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Trọng tâm dịch trước sau, hai tay theo đó hơi trầm và hơi khởi, nhưng thân trên vẫn giữ "vĩ lư trung chính".

2. Khi chân trái nhấc lên, hơi thu vào trong rồi hạ xuống, thân trên gấp eo trầm xuống, chân phải phải dần dần ngồi xổm xuống, mũi bàn chân trái chỉ là điểm hư trên mặt đất, trọng tâm phải hoàn toàn do chân phải chống đỡ.

3. Khi cổ tay phải thu về phía trong, phải đề phòng nhún vai nâng cùi chỏ.

4. Khi chưởng phải nâng kéo về, rồi hướng lên, ra trước, đâm xuống, đi theo hình cung phải cùng với việc chân phải ngồi xổm và gấp eo, và phải lấy vai thúc cùi chỏ, cùi chỏ thúc tay, từng đốt xuyên suốt mà đâm xuống.

5. Gấp eo, phải làm cho cổ, eo lưng giữ thành một đường thẳng, không được cúi đầu, khom lưng. Phải chú ý đỉnh kình và trầm khí, trên dưới một khí quán thông.

6. Khi đâm xuống, mắt nhìn phía trước chưởng phải, nhưng không được ngẩng đầu lên.

7. Phải luyện tốt "nhất động vô hữu bất động": nếu chưởng phải có động tác nâng kéo về, chưởng trái cũng nhất định phải theo trọng tâm dịch trước sau, và cùng hành động với xoay eo, không thể chỉ động tay phải mà không động tay trái. Hai cánh tay không được duỗi thẳng hoàn toàn, phải hơi khuất.

8. Khi cánh tay phải nâng kéo về, hơi xoay eo sang phải; khi gấp eo đâm xuống, phải hơi xoay sang trái; không được chỉ động tay mà không động eo, phải hợp với yêu cầu "chủ tể ở eo".

IV. Yêu cầu
图 117A
图 117A
Hải để châm: chưởng phải nâng kéo về, khuất cùi chỏ phải, cổ tay phải hướng vào trong, hai tay hơi nâng lên
图 117B
图 117B
Hải để châm: gấp eo trầm xuống, chưởng phải đâm xuống trước dưới, chưởng trái theo hình cung hạ xuống bên hông trái
图 117C
图 117C
Hải để châm: tả hư bộ, mũi bàn chân điểm đất, ngồi chắc chân phải, ánh mắt chú ý chưởng phải đâm xuống

1. Khi gấp eo trầm xuống, cổ và eo lưng phải giữ một đường thẳng, không được để mông nhô ra; mông nhô ra dễ vặn cánh tay, làm ảnh hưởng tới "vĩ lư trung chính".

2. Sau khi lòng bàn chân phải nhấc lên, phải đạp xuống bằng chưởng xéo; như vậy hạ bàn dễ vững.

3. Khi gấp eo trầm xuống, phải hữu thực tả hư; nếu không thì tự mình đứng không vững, còn dễ bị đối phương kéo động.

4. Tay phải đâm xuống phải tọa uyển, không được mềm nhũn vô lực.

5. Khi gấp eo, đầu phải thuận theo, không ngẩng không cúi; nếu không sẽ gây khí huyết không thông.

V. Dễ phạm sai lầm, nguyên nhân phát sinh và cách sửa

1. Sai: tay phải khi nâng kéo về không khuất cánh tay. Nguyên nhân chính: ① chú ý chân mà bỏ qua tay. ② hiểu chưa đủ về phép dùng. Trong động tác khuất cánh tay có động tác trầm, xoay, và làm tăng khoảng cách dịch chuyển của điểm bị nắm, dễ làm đứt căn lực của hắn. Sửa: yêu cầu khi tay phải nâng kéo về, vừa chuyển trọng tâm ra sau, vừa xoay eo sang phải, vừa khuất cánh tay.

2. Sai: khi chân trái hạ xuống, không phải chân phải ngồi xổm "đưa xuống", mà là chân phải ngồi yên bất động, chân trái tự hạ xuống một mình. Nguyên nhân chính: hiểu chưa đủ về phép dùng. Nếu chân phải không ngồi xổm, mà muốn trầm xuống thoát khỏi cổ tay bị đối phương nắm, tất nhiên chỉ dựa vào lực của tay, nhiều nhất là lực của eo bụng, nhưng không thể vận dụng lực toàn thân.

(Ảnh ở dưới trang này là ảnh Phó Chung Văn và Phó Thanh Nguyên biểu diễn thôi thủ, không có số hình.)

Sửa: chân phải chìm xuống "đưa" chân trái hạ xuống, đồng thời chân phải gánh trọng lượng toàn thân để ngồi xổm xuống.

3. Sai: cúi đầu gù lưng. Nguyên nhân chính là: ① chân phải không đủ lực ngồi xổm. ② hiểu "vĩ lư trung chính" chưa sâu. ③ hiểu cách dùng chưa sâu. Cúi đầu gù lưng thì không nhìn thấy động thái của đối phương, không thể tri bỉ, sao có thể công thủ? Chỉ luyện quyền với vĩ lư trung chính mới an thư; gù lưng hõm ngực là một tư thế bệnh hoạn, bất lợi cho hô hấp. Sửa: phải khiến đỉnh đầu, thân mình tới hội âm thành một đường thẳng.

4. Sai: khi xoay eo sang phải để rút tay phải về, biên độ xoay eo quá lớn, khi xoay phải gần tới 90°. Nguyên nhân chính là chủ quan theo đuổi khai triển, kết quả gây tán loạn. Sửa: phải là hơi xoay.

Phần 77

Trang sách 365

VI. Cách dạy và cách luyện

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải, làm mẫu (do một học viên làm trợ thủ, làm mẫu đề sau, chìm xuống).

2. Khẩu quyết: tiến trước hơi hạ rồi nâng lên; xoay eo trở cánh tay chìm xuống; chân phải là thực chân trái hư; gập eo liễm mông mắt nhìn trước.

3. Luyện tập thể: ① trong lúc trọng tâm tiến trước, lùi sau, quan sát sự biến đổi hư thực của hai chân, có thể một chân chống đỡ, một chân nhấc lên tạm chưa chạm đất, rồi từ từ hạ xuống, để hiểu sâu hư thực. ② ở tả hư bộ, làm chân phải hơi ngồi xổm, chân trái nhấc hư không chạm đất, để tăng cường rèn luyện chân phải thực và hiểu sâu hư thực.

4. Người thể chất kém thì chân phải ngồi xổm không được sâu, tư thế có thể cao hơn một chút, để giảm lượng vận động.

5. Trọng điểm dạy có thể đặt ở gập eo chìm xuống, cải thiện hư thực của chân, liễm mông; sửa các khuyết điểm cúi đầu, gù eo, co lưng.

6. Trong quá trình luyện quyền, phải khiến học viên hiểu cách dùng. Hải để châm không chỉ là cách dùng chọc xuống của cánh tay phải, trước đó còn có động tác rút cánh tay phải về, như vậy mới hiểu được toàn bộ quá trình.

7. Luyện toàn thể, cải thiện động tác hai tay. Trọng tâm tiến trước, thân thể hơi nâng, hai tay theo đà hơi nâng lên, thành tả hư bộ. Chân phải ngồi xổm, tay phải chọc xuống, tay trái ấn xuống. Luyện đi luyện lại, thể hội yêu cầu "nhất động vô hữu bất động".

8. Luyện đối ứng theo cách dùng: Giáp — Lâu tất ảo bộ bên trái, cổ tay phải cho người cùng luyện "Ất" nắm giữ. Giáp — trọng tâm lùi về sau, hơi xoay thân sang phải, rút cánh tay phải về, thể hội lực đề sau, tiếp đó chọc cánh tay phải xuống, trọng tâm hạ xuống v.v., để thể hội cách dùng của Hải để châm và thể hội việc bẻ gãy căn lực của Ất. Luyện đi luyện lại và Giáp Ất đổi nhau luyện.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Hải để châm trước hết khó ở việc ngồi xổm của tả hư bộ. Vì nó không chỉ đặt yêu cầu rất cao đối với cơ tứ đầu đùi v.v. ở phía trước đùi, mà còn vì thân trên gập tới trước, chân trái hư treo, trọng tâm thân thể tiến về trước, cho nên cũng đặt yêu cầu đối với cơ eo, cơ lưng và cơ mông; do đó cơ vận động khá nhiều, nhờ vậy nâng cao hiệu quả rèn luyện. Đồng thời vì thân trên cong tới trước, nó có tác dụng chen ép, xoa bóp đối với nội tạng vùng ngực bụng, rất có ích cho việc tăng cường thể chất.

2. Đặc điểm của Hải để châm là gập thân về trước; trong toàn bộ Dương thức Thái Cực Quyền, nó khá nổi bật. Cúi tới trước, cúi đầu, gù eo, co lưng — điều này sẽ mất hư linh đỉnh kình, mất hàm hung. Nhưng trong việc gập thân chìm xuống đúng đắn, tuy độ cong eo lớn, vẫn giữ "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông", vì tuy là lệch trong trung chính, nhưng nội kình vẫn trung chính không lệch. Cho nên đầu phải thuận theo, không được cúi đầu, không được nhô mông, phải liễm mông.

Thế thứ hai mươi ba: Phiến thông bối

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương lại dùng tay phải đánh tới, tôi vội nâng tay phải từ trước lên trên, tới bên thái dương phải, lập tức lật lòng bàn tay ra ngoài, dùng để đỡ lực tay phải đối phương; tay trái đồng thời nâng lên trước ngực, dùng lòng bàn tay xông mở, kình thẳng xông tới sườn đối phương, phải trầm kiên thùy khuỷu, tọa uyển, tùng yêu. Đồng thời chân trái bước ra trước, gập gối ngồi vững, mũi chân hướng trước. Ánh mắt theo tay trái nhìn về trước, hông eo chân phải duỗi kình đưa ra. Kình của nó phát từ lưng, hai cánh tay triển khai, phải phiến thông lưng nó.

II. Quá trình động tác

1. Ngồi vững chân phải, eo vừa xoay phải vừa đứng thẳng lên, chân trái nhấc lên dời về; đồng thời bàn tay phải từ trước thân nâng lên, theo đà nâng cánh tay xoay vào trong khiến lòng bàn tay hướng phải, ngón tay chếch xuống; bàn tay trái từ bên hông trái nâng lên trước ngực, lòng bàn tay cũng hướng phải, ngón tay chếch lên. Khi cánh tay phải nâng tới ngang ngực, ánh mắt phải chú ý bàn tay phải nâng lên (xem hai hình đầu bên phải trang này).

图 118A
图 118A
Phiến thông bối: ngồi vững chân phải, eo vừa xoay phải vừa đứng thẳng, bàn tay phải từ trước thân nâng lên
图 118B
图 118B
Phiến thông bối: bàn tay phải nâng tới ngang ngực, lòng bàn tay hướng phải, ánh mắt chú ý bàn tay phải nâng lên

2. Chân trái nhấc lên, bước ra trước một bước, chạm đất bằng gót trước, mũi chân hướng trước; theo trọng tâm dần chuyển sang chân trái, cả bàn chân đạp vững, cung chân trái, đạp chân phải, thành tả cung bộ; đồng thời cánh tay phải tiếp tục hơi xoay vào trong, gập khuỷu, bàn tay phải vẽ cung đỡ ra ngoài, bàn tay trái tiến sang phải tới gần cẳng tay phải; tay phải thu về bên thái dương phải, cao không quá đỉnh đầu, tay trái đánh ra trước, ngón tay cao không quá lông mày. Mắt nhìn thẳng về trước, ánh mắt chú ý bàn tay trái đẩy ra trước (xem hình thứ ba bên phải trang này).

图 119A
图 119A
Phiến thông bối: chân trái bước ra trước thành tả cung bộ, bàn tay trái đánh ra trước, tay phải thu về bên thái dương phải

Phần 78

Trang sách 366

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Việc nối tiếp động tác rất quan trọng: khi cánh tay phải của Hải để châm chọc xuống tới vị trí, phải nâng thân trên lên, chân trái rút về, đồng thời hai cánh tay cũng nâng lên, không được có chỗ dừng. Trong ngoài, trên dưới, trái phải, trước sau phải phối hợp nhất trí, trên dưới tương tùy, nhất khí a thành, mới đắc cơ đắc thế.

2. Điểm khó của Phiến thông bối là ở chỗ chỉ một chân phải chống đỡ mà làm tốt việc chân trái chầm chậm tiến ra trước, lại yêu cầu tốc độ đều nhau, hư thực phân minh. Phải gốc háng phải thu vào trong, bụng phải đầy, ngồi vững chân phải, rồi chân trái chầm chậm tiến ra. Cho nên người mới học khó làm tốt động tác này: trọng tâm của họ thường không khống chế tốt, khiến chân trái nhanh chóng chạm đất, hoặc chân phải đứng thẳng, như vậy không đạt yêu cầu miên miên bất đoạn và mại bộ như miêu hành, còn gây sai sót trọng tâm lên xuống quá lớn. Vì thế, coi trọng ổn định của chân phải là rất quan trọng.

3. Khi từ hữu hư bộ biến thành tả cung bộ, chân trái cung tới trước, chân phải đạp ra sau, bàn tay trái đẩy ra trước và bàn tay phải đỡ lên trên — bốn động tác này phải nhất trí; như vậy, đồng thời với việc thượng giá, bàn tay trái xông thẳng vào đối phương, mới đạt hiệu quả thừa hư tiến công.

4. Bàn tay phải đỡ lên phải trầm kiên thùy khuỷu, không được so vai nhấc khuỷu, nhấc khuỷu sẽ lộ sườn. Bàn tay trái đẩy ra phải tọa uyển, lòng bàn tay không được đối thẳng về phía trước.

5. Trong quá trình động tác thường dễ duỗi thẳng cánh tay, điều này không hợp với yêu cầu "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư": động tác phải để lại chỗ dư cho việc duỗi ra, phải làm được khắp nơi là súc thế, khắp nơi có thể phóng kình. Vì thế, trong toàn bộ các động tác của Thái Cực Quyền, hai cánh tay và hai chân đều không được duỗi thẳng hay cứng thẳng.

6. Khi động tác, không được ưỡn ngực; ưỡn ngực không hợp với yêu cầu "hàm hung bạt bối". Vì việc tay phải đỡ và cánh tay trái đẩy ngang đều yêu cầu kình phát từ cột sống. Tác dụng của hàm hung là để có lợi cho việc hóa kình, tác dụng của bạt bối là để có lợi cho việc quyển kình và phóng kình; trong kỹ kích chúng quan hệ với nhau như súc và phát.

7. Phải "vĩ lư trung chính, chi trì bát diện", khắp nơi không để các bộ vị thân thể tán mạn mất trung; động tác tứ chi dù chuyển đổi thế nào, từ đỉnh đầu đến hội âm vẫn luôn là một đường thẳng. Khi chân trái mại bộ, thân thể không được nghiêng trước ngả sau, lệch trái xiêu phải; phải làm được vừa trên dưới tương tùy, vừa trên dưới cơ bản là một đường thẳng.

IV. Yêu cầu

1. Thân thể đứng thẳng lên, khi chân trái rút về, yêu cầu chân phải ngồi vững, không cúi đầu khom lưng, thân thể không lắc lư qua lại.

2. Phải đồng thời với việc thân trên đứng thẳng, chân trái, tay trái, tay phải, thêm việc hơi xoay eo sang phải, đều phải cùng động.

3. Bàn tay phải phải vừa nâng vừa lật; khi nâng tới ngang vai thì khớp khuỷu đã phải hạ xuống. Bàn tay trái nâng tới bên cẳng tay phải, cao không quá vai; nếu không thì bàn tay trái không phải xông thẳng về trước nữa.

4. Chân trái tiến ra trước, chạm đất bằng gót trước, yêu cầu nhẹ, chậm.

5. Khi mại bộ, thân trên không được ngã trước ngửa sau, phải "vĩ lư trung chính".

6. Eo là then chốt cho việc xoay chuyển của thượng hạ chi; khi xuất bàn tay trái, eo hơi xoay phải, cung chân, đạp chân, vặn eo, cuối cùng tới xuất chưởng. Nếu vận dụng lực eo thích đáng thì tăng cường phát lực, khiến lực toàn thân tập trung tại một điểm.

7. Chân trái tiến ra trước, sau khi gót chân chạm đất thì tay trái mới đẩy ra trước.

V. Sai sót dễ mắc, nguyên nhân, cách sửa
图 119B
图 119B
Phiến thông bối: thân trên đứng thẳng, chân trái rút về, bàn tay phải vừa nâng vừa lật, bàn tay trái đẩy ra trước

1. Sai: chân trái bước ra trước, chạm đất vừa nhanh vừa nặng. Nguyên nhân chính là thân trên chưa nâng lên, thân — trọng tâm thân thể xa điểm chống đỡ của chân phải, chân trái vừa nhấc hư thì thân thể đã muốn xông về trước, cho nên chân trái đành phải chạm đất vụng nặng và gấp gáp. Sửa: thân trên phải nâng lên, giữ thân mình ngay thẳng, "hàm hung bạt bối", trọng lượng thân thể đặt hoàn toàn trên chân phải, trước hết khiến hạ bàn vững chắc. Sau đó, chầm chậm bước chân trái ra, như vậy mới làm được nhẹ linh.

2. Sai: khi động tác bắt đầu, chỉ động tay chân, không xoay eo. Nguyên nhân chính là người luyện quyền chưa thể hội sâu rằng "eo là then chốt cho việc xoay chuyển của thượng hạ chi", chưa thể hội sâu sự biến hóa của động tác toàn thân và việc thúc đẩy kình lực tới các bộ vị chi thể. Sửa: ngay từ khi động tác bắt đầu, phải lấy eo dẫn dắt động tác tay chân. Cho nên "hư thực chuyển hoán tu lưu ý".

3. Sai: chân trái đã cung tới vị trí, nhưng hai tay vẫn còn di chuyển. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa đủ. "Tiền khứ chi trung, tất hữu hậu xanh". Khi thân, tay, chân tiến ra trước, đang kình chìm xuống, đáy chân dồn lực, khiến lực qua cột sống lưng thấu đạt tới chưởng chỉ xạ thẳng. Cho nên có trước ắt có sau; đây là điều nhất định phải làm tốt để tăng cường phản xạ lực. Sửa: phải tay tới chân tới mắt tới.

4. Sai: khuỷu tay nhấc khi tay phải nâng lên. Có người nhấc khuỷu quá vai, có người khuỷu xa thân thể lồi ra. Nguyên nhân chính là hiểu yêu cầu "trầm kiên thùy khuỷu" chưa sâu. Đầu khuỷu nhấc lên là nhấc kình, vừa ngăn trở việc chìm vai, vừa ảnh hưởng việc chìm khí, hai sườn lộ ra quá nhiều. Sửa: khuỷu luôn phải hơi cong và có kình chìm xuống, khuỷu phải phải thấp hơn bàn tay phải.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Khi luyện tập thể, nêu ra các sai sót và khuyết điểm chung.

2. Khẩu quyết: ngồi vững chân phải gốc không động; hai tay dần nâng thân đứng thẳng; nhẹ bước chân trái mắt nhìn trước; trái xung phải thác phiến thông bối.

3. Luyện đối ứng theo cách dùng: Giáp — làm thế "Hải để châm". Ất — từ chính diện dùng tay phải đánh thẳng vào Giáp. Giáp — lập tức thân trên đứng thẳng, đồng thời với việc chân trái bước ra trước, tay phải nâng lên đỡ tay Ất tới bên thái dương phải, lập tức dùng tay trái từ trước ngực xung kích sườn trái. Hai người đổi nhau luyện.

4. Trọng điểm của động tác này phải đặt ở chân chống đỡ (chân phải). Chân phải ngồi vững, thân thể vừa xoay phải vừa đứng thẳng, chân trái nhấc lên dời về. Lúc này chân phải không được đứng thẳng, tức là phải gập chân phải mà làm động tác; như vậy chân phải gần như là luyện tập tĩnh lực. Dần dần nắm được phương pháp quán kình vào hạ chi: xương cùng phải chìm xuống mạnh, đới mạch cực kỳ sung thực, lực của mông phải quán tới gót chân, kình của chân phải như quấn vào lòng đất. Như vậy, phải thực mới có thể trái hư, chân trái mới bước nhẹ linh, thân thể tự nhiên không lắc lư.

Thế thứ hai mươi bốn: Chuyển thân phiết thân chùy

Phần 79

Trang sách 367

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương từ sau lưng tôi, hoặc từ khe sườn dùng tay đánh tới, tôi lập tức hơi dời chân trái và ngồi vững, chân phải chuyển hư, xoay eo, khiến thân thể chuyển về chính diện (từ đông về nam); tay phải đồng thời nắm quyền tạm đặt ở khe sườn trái, lòng bàn tay trái chếch lên, phối hợp bảo vệ góc trán trái; thân thể tiếp tục xoay phải (về tây), đồng thời quyền phải vòng lên phiết ra, giao với tay đối phương, ở bên sườn phải dùng trầm kình ngồi giữ, đồng thời tay trái từ bên trái gấp đánh vào mặt đối phương. Như vậy đối phương sẽ mất các biện pháp công thủ cần có.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể chầm chậm xoay phải (về nam), đồng thời mũi chân trái khấu vào trong, chân trái ngồi vững, chân phải chuyển hư. Theo chuyển thân bàn tay phải vẽ cung hạ xuống. Nắm quyền, tạm đặt trước sườn trái, gập khuỷu ngang cánh tay, tâm quyền hướng xuống; bàn tay trái thu về, vẽ cung nâng lên, đặt trên phía trước góc trán trái. Ánh mắt hơi chú ý tay phải vẽ cung, rồi nhìn thẳng về trước (xem hình bên trái trang này).

图 120
图 120
Chuyển thân phiết thân chùy: thân thể xoay phải, mũi chân trái khấu vào trong, tay phải nắm quyền tạm đặt trước sườn trái, bàn tay trái vẽ cung nâng lên đặt trên phía trước góc trán trái

2. Thân thể tiếp tục xoay phải (về tây), trọng tâm chuyển toàn bộ sang chân trái, chân phải nhấc lên; bàn tay trái theo chuyển thân đồng thời vẽ cung từ phải đi xuống, qua phía ngoài cẳng tay phải hạ xuống ngang khuỷu phải, quyền phải vòng lên trên (hơi cao hơn khuỷu trái). Mắt theo chuyển thân nhìn thẳng về trước và chú ý động tác hai tay (xem hình thứ nhất bên phải trang này).

图 121
图 121
Chuyển thân phiết thân chùy: thân thể tiếp tục xoay phải, quyền phải vòng lên trên, bàn tay trái qua phía ngoài cẳng tay phải hạ xuống ngang khuỷu phải

3. Chân phải hạ xuống tới trước (hơi lệch phải), mũi chân hướng trước, chạm đất bằng gót trước, đồng thời quyền phải phiết ra trước. Theo trọng tâm chuyển sang chân phải, dần dần tới toàn bộ đạp vững, cung chân phải, đạp chân trái, gót chân trái nghiền đất, thành hữu cung bộ. Đồng thời thân thể tiếp tục xoay phải, quyền phải tiếp tục theo chuyển thân vẽ cung phiết xuống, thu về bên eo, tâm quyền hướng lên; bàn tay trái tiếp tục vòng qua bên trái ngực, ở phía trên bên trong cẳng tay phải đẩy ra trước. Mắt nhìn thẳng về trước, ánh mắt phải chú ý quyền phải phiết ra trước, rồi chú ý bàn tay trái đẩy ra trước (xem hình thứ hai và thứ ba bên phải trang này).

图 122A
图 122A
Chuyển thân phiết thân chùy: chân phải hạ xuống tới trước, quyền phải phiết ra trước
图 122B
图 122B
Chuyển thân phiết thân chùy: cung chân phải, đạp chân trái thành hữu cung bộ, bàn tay trái ở phía trên bên trong cẳng tay phải đẩy ra trước
III. Yếu lĩnh

1. "Thiên biến vạn hóa do ngã vận, hạ thể lưỡng túc định căn cơ" — căn cơ không vững thì không thể duy trì thăng bằng. Cho nên chân phải bước ra phải hơi lệch phải, tuyệt đối không được để hai chân trước sau đứng trên một đường thẳng, gây lắc lư thân thể. Vì thế phải khiến hạ bàn vững chắc, để cầu được thượng bàn linh hoạt.

2. Mũi chân phải phải hướng thẳng về trước, không được vểnh ra ngoài hay khấu vào trong, vì hướng của mũi chân liên quan tới việc gốc háng mở ra và lượng vận động lớn nhỏ. Nếu mũi chân phải khấu vào trong thì việc mở gốc háng bị ảnh hưởng, hai gốc háng sẽ thành hình chữ nhân kẹp chặt, thân thể cũng lệch trái mà không đối thẳng về trước nữa.

3. Phải theo việc xoay chuyển của eo háng mà khấu mũi chân trái vào trong, cho nên vừa chuyển thân vừa khấu chân. Quyền luận nói "chủ tể ở eo", lại nói "yêu vi xa trục, khí như xa luân"; cho nên eo là then chốt cho việc xoay chuyển của thượng hạ thể; khi chuyển thân khấu chân, trục giữa không cong thì thân thể không lắc lư.

4. Khi xoay eo, mông không được nhô ra, phải thu vào trong, tức là "liễm mông". Eo không thu liễm, không ngay thẳng thì mông dễ nhô ra, điều này gây ảnh hưởng không tốt cho "thần quán đỉnh" và "lực do tích phát".

5. Động tác hai tay phải "rõ ràng". Tay phải dùng quyền, tay trái dùng chưởng, tay phải ở trước sườn trái là tạm trú (tạm đặt một lúc). Phiết ra ngay trong lúc dường như dừng mà chưa dừng; sau khi phiết ra còn có một trầm kình, là ám dụng thái kình. Tay trái hợp hộ trước trán trái rồi vẽ cung hạ xuống, từ trước ngực trái đánh ra; khi hai tay vòng xoay thì tay trái ở ngoài, quyền phải ở trong; các động tác này đều phải nắm rõ từ cách dùng, không được hàm hồ.

6. Chân phải nhấc lên là tiến ra trước ngay, không được thu về gần mắt cá chân trái rồi mới bước ra.

Phần 80

Trang sách 368

IV. Yêu cầu

IV. Yêu cầu

1. Khi khấu mũi chân trái và chuyển thân, thân phải thẳng, thể phải vững, chân trái thực, chân phải hư; nếu không thì bản thân không vững, không làm được động tác công thủ.

2. Động tác phải liên miên không đứt; mỗi động tác dường như dừng mà chưa dừng, khí dần vận hành, nội kình mới quán chú sung túc. Cơ thế của hạ thế tự nhiên sinh ra. Cho nên tuy phương hướng thân thể đang biến đổi, nhưng động tác tay chân phải miên miên bất đoạn.

3. Chân trái phải khấu đầy đủ (phải vượt quá 90°); nếu không thì khi bước chân phải tiến ra trước (về tây) khai đang quá lớn, sẽ khiến chân trái chống đỡ không vững, hướng chân phải hạ xuống khó khống chế, không chỉ khó chịu mà còn mất lực hậu xanh.

4. Khi chuyển thân không được căng thẳng dùng lực, phải là "dụng ý bất dụng lực". Cách luyện Thái Cực Quyền phải từ tùng nhập nhu, phải chú ý thả lỏng eo, không được ấn cứng xuống, để khỏi ảnh hưởng sự linh hoạt xoay chuyển của eo.

5. Quyền phiết ra, biên độ không nên quá lớn hay quá nhỏ. Quá lớn dễ nhấc vai, và khiến động tác tản mạn; quá nhỏ không hợp yêu cầu cách dùng.

V. Sai sót dễ mắc, nguyên nhân, cách sửa

1. Sai: sau khi xoay thân sang phải thì động tác dừng lại. Nguyên nhân chính là: ① khấu mũi chân trái không do eo dẫn dắt, cho nên khấu chân khó chịu, sức chú ý đặt ở chân, gây dừng động tác thân trên. ② việc quyền phải tạm trú ở khe sườn trái — trong lúc dường như dừng mà chưa dừng, quyền phải lập tức vòng lên phiết ra — hiểu chưa sâu. Thường sau khi hai tay tới vị trí thì dừng lại không động, chỉ có động tác thu về của chân phải. ③ hiểu quy luật liên quán viên hoạt, đối xứng phối hợp chưa sâu. Sửa: phải ở lúc chuyển thân khấu chân, tay trái thượng hộ, tay phải tạm trú khe sườn trái, thân thể không ngừng xoay phải, hai tay vòng xoay đồng thời chân phải nhấc lên, làm được miên miên bất đoạn.

图 123A
图 123A
Chuyển thân phiết thân chùy: khấu mũi chân trái, chuyển thân, quyền phải tạm trú ở khe sườn trái, tay trái thượng hộ trước trán
图 123B
图 123B
Chuyển thân phiết thân chùy: thân thể không ngừng xoay phải, chân phải nhấc lên đồng thời hai tay vòng xoay

2. Sai: hai tay nhấc khuỷu. Nguyên nhân chính là vai trái dùng lực, khuỷu phải rời khỏi sườn. Sửa: khuỷu luôn phải hơi cong và có kình chìm xuống. Tay trái nâng lên tới trước góc trán trái khiến khuỷu cao hơn vai, nhưng nội kình của khuỷu vẫn là rơi xuống và chìm. Nếu đầu khuỷu nhấc lên, đây là nhấc kình, không hợp với "trầm kiên thùy khuỷu" của Thái Cực Quyền. Khuỷu phải nhấc lên khiến sườn lộ ra, dễ bị đối phương công kích. Kết quả của nhấc khuỷu ắt ngăn trở trầm kiên, cũng ảnh hưởng trầm khí.

3. Sai: sau khi chuyển thân, chân phải thu về rồi bước ra với biên độ quá lớn. Nguyên nhân chính là thể hội cách dùng chưa sâu. Sửa: phải là hơi nhấc lên tức bước ra trước; như vậy, khi quyền phải phiết ra và giao với cánh tay đối phương, dùng trầm kình thì có chống đỡ vững chắc.

4. Sai: khi tay trái đánh ra trước không phải tay tới chân tới; thường là chân phải đã thành cung bộ mà bàn tay trái vẫn còn duỗi tới trước. Nguyên nhân chính là hiểu "nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" và "tiền khứ chi trung, tất hữu hậu xanh" chưa sâu. Sửa: khi tay quyền đánh ra trước và đang dùng lực, phải có chân trái chống đỡ vững chắc. Khi bàn tay trái đánh tới, chính là lúc cung bộ hoàn thành, tay tới chân tới, như vậy mới hợp yêu cầu kỹ kích. Khi thân, tay, chân tiến ra trước, nội kình từ trong đang lật lên, qua lưng cột sống thấu tới chưởng chỉ mà xạ thẳng, eo lưng mệnh môn phải hậu xanh; bàn tay ấn tới trước, ý xa kình dài, mà mu bàn tay còn có ý nội hấp hậu xanh. Nếu chân tới mà tay còn động thì không hợp nguyên tắc trên dưới tương tùy; vì thế nhất định phải tay tới chân tới.

5. Sai: nhô mông khi chuyển thân khấu chân. Nguyên nhân chính là không chú ý thu mông vào trong, eo không tùng trầm trực thụ. Sửa: phải "liễm mông", tức là không được vểnh mông lên mà thu vào tự nhiên. Điều này cố định đoạn dưới của cột sống, có lợi cho việc tăng cường tính linh hoạt của cột sống và độ đàn hồi của cơ lưng, cũng không còn gù eo cong lưng nữa.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Luyện phân giải trọng điểm: ① sau khi chuyển thân (về nam), kiểm tra mức độ khấu chân, có nhô mông hay không, vị trí hai tay. ② sau khi tiếp tục chuyển thân (về tây), vị trí chân phải chạm đất, động tác vòng xoay hai tay. ③ sự phối hợp giữa bàn tay trái đánh ra trước và cung bộ.

2. Làm mẫu còn phải có làm mẫu gương chính diện, vì lưng quay — người học không nhìn thấy động tác hai cánh tay của giáo viên, đặc biệt là cánh tay phải; khi hai cánh tay vòng xoay, còn phải làm mẫu tách ra từng cánh tay một, cuối cùng mới phối hợp hai tay vòng xoay; như vậy giúp người học dễ hiểu.

3. Khẩu quyết: khấu chân trước tùng háng; quyền phải chưởng trái hợp; mặt nam rồi chuyển tây; phải phiết trái chưởng xuất.

4. Trước hết luyện phương hướng và vị trí động tác của tay chân, sau đó mới học "tùng", "quân", khiến động tác không có nhanh chậm dừng lại.

5. Luyện đối ứng theo cách dùng: Giáp — làm định thế "Phiến thông bối". Ất — từ phía sau Giáp đánh thẳng. Giáp — chuyển thân khấu chân, chân phải nhấc lên tiến ra trước (về tây), quyền phải phiết ra, giao tay Ất, ở bên sườn phải dùng trầm kình ngồi giữ, dùng bàn tay trái gấp đánh vào mặt Ất. Hai người đổi nhau, thể hội phiết, trầm, kích.

6. Phải luyện đi luyện lại việc chuyển thân khấu chân, nâng cao chất lượng động tác trực thể "liễm mông".

7. Phải luyện đi luyện lại việc chân trái chống đỡ, chân phải nhẹ nhàng nhấc lên và chầm chậm bước ra, để nâng cao khả năng gánh trọng lượng thân thể của chân trái, từ đó tăng cường thể lực.

8. Luyện đi luyện lại động tác cánh tay; quyền phải phiết ra phải chú ý lấy khuỷu làm trục, không phải lấy vai làm trục. Lấy vai làm trục vẽ cung quá lớn sẽ thành "tán". Khi hai cánh tay vòng xoay phải nắm rõ tay trái ở ngoài, quyền phải ở trong.

Phần 81

Trang sách 369

VII. Phân tích kỹ thuật

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Phiết thân chùy là phép công thủ đối với đòn đánh từ phía sau: chuyển thân phiết quyền là hóa, phòng, xuất chưởng dùng để tiến công.

2. Chân trái chuyển động là thực cước, đặt yêu cầu cao đối với việc thả lỏng eo háng. Nếu không làm được việc lấy eo dẫn dắt động tác tay chân, sẽ gây vểnh mông, cúi đầu gù eo; vì thế yêu cầu đối với việc xoay chuyển của chân trái thực là rất cao.

3. Dưới sự dẫn dắt của ý thức, yêu cầu động tác nhẹ nhàng chậm rãi, không chậm không gấp, và trong quá trình động tác khắp nơi giữ tư thế đoan chính, khiến động tác chính xác; trên thì hai cánh tay tương hệ, dưới thì hai chân tương tùy, mới khiến việc xoay chuyển không cứng nhắc, không tản mạn.

4. Sau khi xoay thân về sau, quyền phải đặt ở khe sườn trái, tay trái hợp hộ góc trán trái, phải có hợp kình, phải có ý thức phòng phạm. Ở thế trước Phiến thông bối, sườn phải là lộ ra; đối phương từ phía sau tập kích, không đánh sườn thì đánh đầu. Cho nên khi không biết ý tới mà gấp xoay thân, một tay hộ trán, một tay quyền trú ở khe sườn (thực ra là khuỷu phải hộ sườn), là hợp với yêu cầu kỹ kích, cũng hợp với yêu cầu khai hợp, súc thế. Vì thế tuyệt đối không được tùy tiện buông hai tay xuống. Đã động rồi thì phải toàn tâm quán chú, không ngừng dùng ý để dẫn dắt tính chính xác, tính liên quán và tính viên hoạt của từng động tác. Trong quá trình động tác, khai hợp hư thực của nội bộ và ngoại vi cùng sự xoay chuyển biến đổi, cần cầu trên dưới tương tùy, trong ngoài hợp nhất, ý đáo kình đáo, động tất hợp pháp.

5. Khi quyền phải phiết ra, chân phải nên ở vị trí nào mới hợp lý? Thường có hai loại: một là chân phải nâng lên chưa bước ra mà quyền phải đã phiết ra — đây là một hình thức, là rỗng, vì dưới một chân chống đỡ thì phiết và trầm đều không đắc lực; hai là đầu gối phải đã cung ra mà quyền phải chưa phiết xong — lúc này đã áp sát đối phương, bất lợi cho việc trầm, không thể dùng lực toàn thân, khiến bàn tay trái xuất kích vô lực. Cho nên đúng đắn phải là: khi phiết quyền phải thì chân phải đã bước ra, khi xuất bàn tay trái thì vừa đúng lúc đầu gối phải cung tới, tay tới chân tới, hợp yêu cầu cách dùng.

6. "Tùng". Nếu động tác luyện không tốt, đặc biệt khi chuyển thân khấu chân nhấc chân bước ra, rất dễ căng thẳng. Luyện Thái Cực Quyền phải toàn thân tùng khai, không để có mảy may chuyết kình lưu trệ ở cân cốt huyết mạch giữa mà tự trói buộc mình, sau đó mới có thể khinh linh biến hóa, viên chuyển tự như, khí huyết lưu chú, ngày ngày quán thâu, chu lưu toàn thân; điều này rất có lợi cho việc tăng tiến sức khỏe.

Thế thứ hai mươi lăm: Tiến bộ bàn lan chùy

I. Cách dùng

Giống như thế thứ mười hai trước đây "Tiến bộ bàn lan chùy".

II. Quá trình động tác

1. Trọng tâm dần lùi về sau sang chân trái, đồng thời thân thể hơi xoay trái (từ đông chuyển sang đông nam); khuỷu trái theo chuyển thân chìm xuống, cánh tay trái theo đà chìm xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay dần lật hướng lên; cánh tay phải dần xoay vào trong, quyền phải duỗi tới trước lên trên qua phía trên bàn tay trái, tâm quyền hướng xuống. Ánh mắt chú ý quyền phải duỗi tới trước (xem hai hình đầu bên trái trang này).

图 124A
图 124A
Tiến bộ bàn lan chùy: trọng tâm lùi về sau sang chân trái, khuỷu trái theo chuyển thân chìm xuống, cánh tay trái xoay ra ngoài lòng bàn tay lật hướng lên
图 124B
图 124B
Tiến bộ bàn lan chùy: cánh tay phải xoay vào trong, quyền phải duỗi tới trước lên trên qua phía trên bàn tay trái, tâm quyền hướng xuống

2. Trọng tâm tiếp tục lùi về sau, ngồi vững chân trái, đồng thời thân thể tiếp tục xoay trái, hai tay theo chuyển thân bồng sang trái, tay phải vẽ cung hơi xuống, tay trái vẽ cung hơi lên (xem hình thứ ba bên trái trang này).

图 125
图 125
Tiến bộ bàn lan chùy: hai tay theo chuyển thân bồng sang trái, tay phải vẽ cung hơi xuống, tay trái vẽ cung hơi lên

3. Chân phải rút về, đồng thời thân thể xoay phải, quyền phải từ phía trước bên phải vẽ cung xuống qua trước bụng vòng sang trái, tâm quyền chuyển hướng xuống; tay trái từ trái vẽ cung lên trên (cao không quá vai), theo đà vẽ cánh tay xoay vào trong khiến lòng bàn tay lật thành chếch hướng xuống phải. Mắt hơi chú ý hai tay vẽ vòng, rồi nhìn thẳng về trước (xem hình thứ tư và thứ năm ở chân trang này).

图 126
图 126
Tiến bộ bàn lan chùy: chân phải rút về, quyền phải vẽ cung xuống qua trước bụng vòng sang trái
图 127
图 127
Tiến bộ bàn lan chùy: tay trái từ trái vẽ cung lên trên, lòng bàn tay lật thành chếch hướng xuống phải

4. Các động tác sau giống như thế thứ mười hai "Tiến bộ bàn lan chùy", chỉ là phương hướng ngược lại: thế trước hướng đông, thế này hướng tây (xem ba hình đầu ở chân trang này).

图 128
图 128
Tiến bộ bàn lan chùy: bàn (phương hướng ngược lại, thế này hướng tây)
图 129
图 129
Tiến bộ bàn lan chùy: lan
图 130
图 130
Tiến bộ bàn lan chùy: chùy (quyền phải đánh ra trước)

Phần 82

Trang sách 370

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

Giống như thế thứ mười hai "Tiến bộ bàn lan chùy".

Thế thứ hai mươi sáu: Thượng bộ lãm tước vĩ

I. Cách dùng

Giống như thế thứ ba Lãm tước vĩ trước đây.

II. Quá trình động tác

Thân thể dần xoay trái, mũi chân trái vểnh ra ngoài đạp vững, trọng tâm dần chuyển toàn bộ sang chân trái, chân phải nhấc lên tiến ra trước; đồng thời khuỷu trái phiết về sau bên trái chìm xuống, tự nhiên dẫn bàn tay trái vẽ cung dời tới trước ngực trái; quyền phải biến chưởng từ trước đi xuống, vẽ cung sang trái vớt tới trước bụng, theo đà vớt xoay cánh tay ra ngoài khiến lòng bàn tay lật thành hơi chếch hướng lên trái, hợp với tay trái, hai cánh tay đều thành vòng cung. Mắt hơi chú ý cẳng tay trái, rồi chuyển sang nhìn thẳng phía trước cánh tay phải (xem các hình ở trang này và hai trang sau — giống như các hình của thế thứ ba).

Các động tác còn lại giống như thế thứ ba Lãm tước vĩ (trừ tả bồng).

(Trang này là một tờ bản đồ hình toàn trang, không có chính văn. Chín bức ảnh dưới đây là minh họa liên tục cho các động tác của Thượng bộ lãm tước vĩ.)

图 131
图 131
Thượng bộ lãm tước vĩ: thân thể xoay trái, mũi chân trái vểnh ra ngoài đạp vững, chân phải nhấc lên tiến ra trước
图 132
图 132
Thượng bộ lãm tước vĩ: khuỷu trái phiết về sau bên trái chìm xuống, bàn tay trái vẽ cung dời tới trước ngực trái
图 133
图 133
Thượng bộ lãm tước vĩ: quyền phải biến chưởng từ trước đi xuống, vẽ cung sang trái vớt tới trước bụng
图 134A
图 134A
Thượng bộ lãm tước vĩ: bàn tay phải hợp với tay trái, hai cánh tay đều thành vòng cung
图 134B
图 134B
Thượng bộ lãm tước vĩ: chính diện hai tay hợp nhau
图 135
图 135
Thượng bộ lãm tước vĩ: cánh tay phải xoay ra ngoài khiến lòng bàn tay lật thành hơi chếch hướng lên trái
图 136
图 136
Thượng bộ lãm tước vĩ: tư thế quá độ khi chân phải bước ra trước
图 137
图 137
Thượng bộ lãm tước vĩ: trọng tâm chuyển sang chân phải, hai cánh tay theo chuyển thân bồng ra
图 138
图 138
Thượng bộ lãm tước vĩ: tư thế hoàn thành của bồng thế
图 139
图 139
Thượng bộ lãm tước vĩ: chân phải bước ra trước, trọng tâm dần chuyển sang chân phải
图 140
图 140
Thượng bộ lãm tước vĩ: cung chân phải, đạp chân trái thành hữu cung bộ, hai cánh tay bồng ra
图 141
图 141
Thượng bộ lãm tước vĩ: tư thế quá độ hai cánh tay theo chuyển thân bồng ra phía trước bên phải

(Trang này còn có một bức ảnh cách dùng thôi thủ, không có số hình.)

图 142
图 142
Thượng bộ lãm tước vĩ: tư thế hoàn thành của Lãm tước vĩ ở hữu cung bộ

Thế thứ hai mươi bảy: Đan tiên Giống như thế thứ tư Đan tiên trước đây.

Xem các hình ở trang này và trang sau (giống như các hình của thế thứ tư).

图 143
图 143
Đan tiên: hai bàn tay tách ra trái phải, tư thế bắt đầu của hữu cung bộ

(Phần thân trang này tiếp sau thế thứ hai mươi bảy, Đan tiên; nửa trên là sáu hình tiếp theo của Đan tiên — ba hình ở hàng trên và ba hình ở hàng dưới, đều tiếp diễn trình tự Đan tiên.)

图 144
图 144
Đan tiên: hai bàn tay tách ra trái phải, tư thế quá độ của hữu cung bộ
图 145
图 145
Đan tiên: bàn tay trái đẩy ra trước, tay phải thành điếu thủ
图 146
图 146
Đan tiên: hai bàn tay tách trên dưới, bàn tay trái đẩy ra trước, điếu thủ phải về sau bên phải
图 147A
图 147A
Đan tiên: chân phải nhấc lên sát vào chân trái, hai bàn tay thu về giao nhau hợp ôm
图 147B
图 147B
Đan tiên: hai bàn tay ấn ra phía trước bên trái, tư thế quá độ của tả cung bộ
图 148
图 148
Đan tiên: bàn tay trái đẩy ra trước, điếu thủ phải về sau bên phải, tư thế hoàn thành của Đan tiên

Thế thứ hai mươi tám: Vân thủ

Phần 83

Trang sách 371

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương từ phía trước bên phải dùng tay phải đánh vào ngực hay sườn tôi, tôi liền hạ tay phải xuống, lòng bàn tay hướng vào trong, dùng phía trên cổ tay tôi (phía quay) tiếp với phía dưới cổ tay đối phương (phía trụ), từ trái lên trên bồng sang phải xoay chuyển, rồi lại lật xuống dưới dời sang trái, vạch một vòng tròn lớn, như mây trắng bay giữa trời, liên miên bất đoạn; tay trái đồng thời hạ xuống, lòng bàn tay hướng xuống, cùng dụng ý với tay phải. Thân cũng theo cổ tay phải xoay chuyển, ánh mắt theo cổ tay nhìn tới, theo đà xoay chuyển mà chiếu ứng.

bàn tay và ngực xoay chuyển, ánh mắt theo cổ tay nhìn tới, theo đà xoay chuyển mà chiếu ứng.

Chân phải từ phía sau bên phải dời sang trái nửa bước ngồi vững, chân trái cũng tức thì bước ra một bước về bên trái, trọng tâm dời sang trái, thành một thế cưỡi ngựa (trong khoảnh khắc). Lúc này hai tay vừa vặn vận hành đến ngang ngực rốn, rồi chân phải lại biến hư, chân phải lại dời vào nửa bước về bên trái, tiếp tục tiến hành động tác thứ hai. Nhưng khi biến đổi hư thực xoay chuyển qua lại, muôn phần không được có ý tứ lồi lõm đứt đoạn. Diệu dụng của tư thế này hoàn toàn ở chỗ chuyển eo hông: do chuyển động có thể kéo theo căn lực của đối phương, mà lật tay ra theo thế. Người học nên tỉ mỉ thể hội lĩnh ngộ.

Thiên trước: đối phương dùng bàn tay phải hay nắm đấm phải đánh thẳng tới trước, tôi dùng tay phải bồng, đồng thời lập tức hàm hung tọa thối, chuyển eo chìm xuống một cái, hóa cái lực tới của đối phương, rồi sau đó dùng kháo, trửu, hoặc dùng án công ra đều được.

II. Quá trình động tác

1. Eo hơi chuyển sang phải, trọng tâm không đổi, mũi chân trái khấu vào trong đạp vững, mũi chân hướng ra trước. Đồng thời, bàn tay trái theo thể chuyển hơi co cánh tay trầm trửu, lòng bàn tay hướng xuống, tự nhiên hơi hơi dời sang phải. Điếu thủ phải biến thành chưởng, từ bên phải mà xuống vạch cung, theo đường cung từ dưới chuyển ngang đến trước bụng phải. Ánh mắt quan chiếu đến bàn tay phải dời xuống (xem hình thứ nhất bên phải trang này, hình thứ hai bên phải trang này).

2. Trọng tâm dần dần dời hết sang chân trái, chân phải nhấc lên sát về bên trái (gót chân rời đất trước), thân thể hơi chuyển sang trái, bàn tay trái theo eo xoay chuyển. Đồng thời, vận ra phía trái (hơi có đường cung), theo cánh tay nội toàn, dựng cổ tay, khiến bàn tay xiên xuống dưới, dần dần bàn tay lật hướng xuống. Bàn tay phải theo thể chuyển từ dưới bên phải qua trước bụng vận chuyển theo đường cung sang trái, theo đà vận chuyển theo cánh tay ngoại toàn khiến lòng bàn tay hướng vào trong, dần dần vận lên trên bên trái đến gần cổ tay trái. Ánh mắt theo thể chuyển nhìn ngang chuyển dời, ánh mắt phải quan chiếu đến bàn tay phải vận sang trái (xem hình thứ ba bên phải trang này).

图 149
图 149
Vân thủ: tay phải từ điếu thủ biến thành chưởng, từ bên phải mà xuống vạch cung đến trước bụng phải
图 150
图 150
Vân thủ: bàn tay trái theo thể chuyển co cánh tay trầm trửu, lòng bàn tay hướng xuống hơi dời sang phải
图 151
图 151
Vân thủ: bàn tay phải qua trước bụng vận chuyển theo cung sang trái đến gần cổ tay trái

3. Chân trái tiếp tục ngồi xổm xuống, "đưa" chân phải hạ xuống (chân phải sát vào trái nửa bước), trước tiên lấy mũi chân chạm đất, theo trọng tâm dần dần dời sang phải đến toàn bàn chân đạp vững, hai chân cách nhau ước chừng bằng vai, hướng ra trước song song, chân trái tức thì biến hư. Đồng thời thân thể hơi chuyển sang phải. Bàn tay phải theo eo chuyển từ bên trái mà lên vạch cung chuyển sang phải (ngón tay cao ngang vai), lòng bàn tay vẫn hướng vào trong. Đây là dùng phía trên cổ tay phải của tôi tiếp với phía dưới cổ tay đối phương, từ trái mà xuống rồi lại lên trên xoay chuyển, vận dụng lực lượng chuyển eo hông, lật ra sang phải, để kéo theo căn lực của đối phương. Bàn tay trái cũng đồng thời từ bên trái vạch cung xuống dưới vận chuyển sang phải, theo đà vận chuyển theo cánh tay hơi ngoại toàn, khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng vào trong (hơi xiên hướng lên). Hai tay trên dưới vừa vặn vận đến ngang ngực rốn. Tay phải ở trên, tay trái ở dưới. Ánh mắt theo thể chuyển quan chiếu đến bàn tay phải vận sang phải (xem hình thứ nhất bên trái trang này).

4. Trọng tâm dần dần dời hết sang chân phải, chân trái nhấc lên (gót chân rời đất trước), thân thể tiếp tục hơi chuyển sang phải, đồng thời bàn tay phải theo thể chuyển hướng sang phải mà xuống vận chuyển theo đường cung, theo đà vận chuyển theo cánh tay nội toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng xuống. Bàn tay trái qua trước bụng tiếp tục vận lên trên bên phải, sang phải đến gần cổ tay phải. Ánh mắt quan chiếu đến bàn tay phải vận sang phải (xem hình thứ hai bên trái trang này).

5. Lặp lại động tác hai từ đầu. Chân trái bước ngang nửa bước sang trái, trước tiên lấy mũi chân chạm đất, theo trọng tâm dần dần dời sang trái đến toàn bàn chân đạp vững, mũi chân hướng ra trước; thân thể đồng thời dần dần chuyển sang trái, bàn tay trái theo thể chuyển tiếp tục từ bên phải mà lên qua trước mặt (ngón tay cao ngang mày) vận sang trái. Đây là dùng phía trên cổ tay trái của tôi tiếp với phía dưới cổ tay đối phương, từ trái mà xuống rồi lại lên trên xoay chuyển, vận dụng lực lượng chuyển eo hông, lật ra sang trái, để kéo theo căn lực của đối phương (cách dùng giống tay phải). Bàn tay phải tiếp tục từ bên phải hướng xuống vạch cung vận sang trái, theo đà vận chuyển theo cánh tay hơi ngoại toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng vào trong (hơi xiên hướng lên) vận đến trước bụng. Hai tay trên dưới vừa vặn vận đến ngang ngực rốn, tay trái ở trên, tay phải ở dưới. Ánh mắt theo thể chuyển nhìn ngang chuyển dời, phải quan chiếu đến bàn tay trái vận sang trái (xem hình thứ ba bên trái trang này, hình thứ tư bên trái trang này).

图 152
图 152
Vân thủ: hai tay trên dưới vận đến ngang ngực rốn, tay phải ở trên, tay trái ở dưới
图 153
图 153
Vân thủ: bàn tay phải vạch cung sang phải và xuống, bàn tay trái qua trước bụng vận lên trên sang phải
图 154
图 154
Vân thủ: bàn tay trái từ bên phải mà lên qua trước mặt vận ra sang trái, ngón tay cao ngang mày
图 155
图 155
Vân thủ: hai tay vận đến ngang ngực rốn, tay trái ở trên, tay phải ở dưới

6. Trọng tâm dần dần dời hết vào chân trái, chân phải nhấc lên hướng sang phải và sang trái sát vào (gót chân rời đất trước), đồng thời thân thể tiếp tục chuyển sang trái, bàn tay trái tiếp tục từ trên hướng sang trái vạch cung vận xuống dưới. Theo đà vận chuyển theo cánh tay nội toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng xuống. Bàn tay phải theo thể chuyển tiếp tục qua trước bụng hướng sang trái, từ dưới lên trên vạch cung vận lên gần cổ tay trái. Ánh mắt quan chiếu bàn tay trái vận sang trái (xem hình thứ nhất trong sáu hình ở chân trang sau).

7. Lặp lại động tác: ba hình ở chân trang sau lần lượt lặp lại hình thứ ba, thứ nhất và thứ hai ở hai bên trang này.

8. Lặp lại động tác ba: ba hình ở chân trang sau lần lượt lặp lại hình thứ ba và thứ tư bên trái trang này cùng hình thứ nhất của lần lặp trước; và ba hình ở đầu trang kế tiếp cùng hình bên trái trang đó lại lần lượt lặp lại các hình trước. Để tăng thêm lượng vận động, "Vân thủ" cũng có thể làm ba, năm hoặc bảy động tác.

Nhưng nhất định phải là số lẻ, và "Đảo niện hầu" cũng phải tương ứng làm ba, năm hoặc bảy lần. Nếu không, khi kết thúc thu thế, sẽ không thể trở về chỗ cũ.

Phần 84

Trang sách 372

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. "Vân thủ" yêu cầu liên miên bất đoạn, dụng ý bất dụng lực. Phải một "Vân thủ" tiếp một "Vân thủ" liên miên bất đoạn, chu nhi phục thủy, tuần hoàn vô cùng. Như trong quyền luận đã nói: "như Trường Giang đại hải, thao thao bất tuyệt, yếu quán xuyến nhất khí" — tức là ở giữa động tác không được có chỗ đình đốn.

2. Hai chân không thể song trọng (tức là không thể hai chân đồng thời chạm đất, cùng nhau gánh vác trọng lượng thân thể). Khi gót chân bước xuống vừa đạp vững, gót chân của chân kia tức phải rời đất, cái này lên cái kia xuống như bập bênh, khiến hai chân thay phiên vận chuyển, không chút dừng lại.

3. Sự vận chuyển của tay phải lấy chuyển eo hông làm cơ bản, eo như trục, tứ chi như bánh xe. Eo là then chốt chuyển động của thân trên dưới, đối với sự biến hóa động tác toàn thân, điều chỉnh trọng tâm và ổn định, cùng với việc thúc đẩy kình lực đạt đến các bộ phận chi thể, đều giữ vai trò chủ yếu. Cho nên, chuyển động phải lấy eo tích làm trục, chuyển động chậm rãi, không được tùy tiện dao động, thân trên không được xiên vẹo, không được cúi trước ngửa sau, phải giữ "vĩ lư trung chính".

图 156
图 156
Vân thủ: bàn tay trái từ trên hướng sang trái vạch cung vận xuống, lòng bàn tay dần dần lật hướng xuống; bàn tay phải qua trước bụng vận lên sang trái đến gần cổ tay trái
图 157
图 157
Vân thủ: bàn tay phải qua trước bụng vạch cung vận sang trái đến gần cổ tay trái (giống hình 151).
图 158
图 158
Vân thủ: hai bàn tay vận lên xuống đến ngang ngực rốn, tay phải ở trên, tay trái ở dưới (giống hình 152).
图 159
图 159
Vân thủ: bàn tay phải hướng sang phải vạch cung xuống, bàn tay trái qua trước bụng vận lên sang phải (giống hình 153).
图 160
图 160
Vân thủ: bàn tay trái từ phải vận lên qua trước mặt vận ra sang trái, các ngón tay cao ngang chân mày (giống hình 154).
图 161
图 161
Vân thủ: hai bàn tay vận đến ngang ngực rốn, tay trái ở trên, tay phải ở dưới (giống hình 155).

4. Hai cánh tay phải theo eo vận chuyển, chuyển trái thì tay trái thượng sao làm chủ, chuyển phải thì tay phải thượng sao làm chủ, tay trái làm chủ thì tay phải theo, tay phải làm chủ thì tay trái theo, một lên một xuống, một trái một phải, phối hợp chặt chẽ được càng tốt.

图 162
图 162
Vân thủ: hai tay vận đến ngang ngực rốn, tay trái ở trên, tay phải ở dưới, là tư thế của động tác lặp lại
图 163
图 163
Vân thủ: bàn tay phải qua trước bụng vận chuyển theo cung sang trái đến gần cổ tay trái
图 164
图 164
Vân thủ: bàn tay trái từ bên phải mà lên qua trước mặt vận ra sang trái, ngón tay cao ngang mày
图 165
图 165
Vân thủ: tay phải từ điếu thủ biến thành chưởng, từ bên phải mà xuống vạch cung đến trước bụng phải, là tư thế thu thế của "Vân thủ"

Thế thứ hai mươi chín: Đan tiên (Tiếp thế thứ hai mươi bảy, Đan tiên; cách dùng và quá trình động tác đều giống nhau.) (Xem các hình ở những trang sau.)

vận chuyển, không tán loạn, không trệ trệ; khi chuyển lên trên, khuỷu tay không được nhấc lên, cẳng tay phải bồng lỏng mà vận chuyển. Hai cánh tay phải giữ hình cung.

5. Phải "thức thức quân quân" — đều đặn từng thế. Khi chân trái bước ra ngoài phải động tác chậm rãi, nhẹ nhàng đặt xuống. Khi chân phải nhấc lên phải chậm rãi nâng lên, sát vào bên trái, rộng bằng vai, không được khi nhanh khi chậm.

6. Mỗi động tác của Dương thức Thái Cực Quyền đều do một vòng tròn cấu thành, cái gọi là "diệu thủ nhất trước nhất Thái Cực". Trong vòng tròn này bao hàm hai loại lực lượng âm dương, phải có nhu có cương, có hư có thực, cương nhu tương tế, hư thực thẩm thấu. Động tác tiến hành đều có hình tượng vạch vòng tròn đi đường cung, không có thẳng tới thẳng lui, đây cũng là một đặc điểm của Thái Cực Quyền. "Vân thủ" là một động tác điển hình, có tác dụng trọng yếu đối với việc nâng cao kỹ thuật "triền miên triêm tùy", "dẫn tiến lạc không".

Phần 85

Trang sách 373

IV. Yêu cầu

IV. Yêu cầu

1. Sự vận chuyển của tay phải do eo dẫn động, mà không được để eo và tay thoát tiết. Đối phương dùng tay phải từ phía trước bên phải đánh vào ngực sườn tôi, cổ tay phải tôi tiếp lấy cổ tay đối phương, từ dưới sang trái rồi lên trên lật sang phải, nhất định phải phối hợp chuyển eo hông mới có thể đắc lực.

2. Hai chân đứng song song, rộng ước bằng vai, không được quá rộng quá hẹp, hai chân không được thành nội bát tự hay ngoại bát tự. Chân là căn cơ của bộ hình, bộ pháp; căn cơ không vững thì chỉ hơi lệch lạc là bộ hình, bộ pháp ắt loạn.

(Chân trang này có một bức ảnh thôi thủ không đánh số, không có số hình và không có chú thích.)

3. Không được song trọng, song trọng ắt trệ. Chân trái chống đỡ, chân phải nhấc lên sát sang trái; khi chân phải ngồi xổm xuống và gót chân phải hạ xuống, gót chân trái phải theo đó nhấc lên, nếu không tức là song trọng.

4. Khi hai cánh tay vận chuyển không được duỗi thẳng, phải thành hình cung, và khoảng cách rời khỏi thân thể phải thích đáng. Cánh tay rời thân thể quá xa sẽ căng thẳng, rời quá gần sẽ "bẹp".

5. Hai tay phải có bồng kình, không được lỏng tuột, nhưng cũng không được dùng cương kình.

6. Động tác phải liên quán, đây là yêu cầu khá nổi bật của "Vân thủ". Sự vận chuyển của tay phải như mây trắng đi giữa trời, liên miên bất đoạn.

7. Vai phải lỏng, nhưng cũng không được lỏng quá mức mà biến thành "không", thành "tán".

8. Tay vận chuyển ở phía dưới phải thể hiện yêu cầu động tác "sao".

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, cách sửa chữa

1. Lỗi: "song trọng", tức hai chân đồng thời gánh vác trọng lượng. Nguyên nhân chủ yếu là hiểu chưa sâu về phân rõ hư thực. "Thiên trầm tắc tùy, song trọng tắc trệ; mỗi khi thấy người luyện công mấy năm thuần thục mà không thể vận hóa, phần nhiều đều tự chuốc lấy việc bị người chế, là do bệnh song trọng chưa ngộ ra vậy." Cho nên, nhất định phải một chân chạm đất, gánh vác trọng lượng toàn thân, như vậy một chân hư mới có thể nhẹ nhàng linh hoạt. Sửa chữa: gót chân phải hạ xuống đất thì gót chân trái tức phải đồng thời rời đất.

2. Lỗi: chân bước ngang, hai tay di động lên xuống, người mới luyện dễ để thân thể cứ hướng thẳng ra trước (nam) mà eo hông không xoay chuyển. Nguyên nhân chủ yếu là động tác tứ chi không lấy eo làm cương, làm trục tâm. Nếu vận dụng eo thích đáng, vừa giúp giữ thăng bằng toàn thân, vừa giúp nội kình vận chuyển đầy đủ và tập trung. Nếu không, động tác động tay mà không động eo là cây không có gốc, nội kình không thể từ eo tích đạt đến tứ chi, mà diệu dụng của "Vân thủ" hoàn toàn ở chỗ chuyển eo hông. Nếu không, cổ tay tôi tiếp cổ tay địch mà lật lên trên, sẽ tỏ ra bất lực. Nhưng chuyển eo cũng không được quá lớn: có người xoay eo hông quá lớn, đến 90°, gần chuyển về chính đông hoặc chính tây, như vậy thân thể và tứ chi động tác liền thất chi thái quá, trái lại cho người ta cơ hội tiến công. Sửa chữa: hai tay theo eo hông xoay chuyển, thân thể lấy hướng lệch về đông hoặc chếch về tây nam là tốt.

3. Lỗi: hai chân thành nội bát tự hoặc ngoại bát tự. Nguyên nhân chủ yếu: nội bát tự của hai chân là do khi chân trái bước ra nghiêng, gót chân chống ra ngoài quá mức; ngoại bát tự là do chân trái bước ra sang trái mà gót chân không hơi chống ra ngoài, lại thêm khi chân phải sát sang trái không chú ý đặt cho ngay. Hướng mũi bàn chân chỉ vào liên quan đến việc mở khớp háng và lượng vận động lớn nhỏ, cho nên việc mũi bàn chân vểnh ra ngoài, khấu vào trong và gót chân xoay trái xoay phải, đều phải hư thực chủ thứ phân minh rõ ràng. Sửa chữa: trong "Vân thủ", mũi bàn chân của hai chân đều phải hướng thẳng ra trước; đặc biệt chú ý khi chân trái bước ra sang trái, sau khi nửa trước bàn chân chạm đất, phải để gót chân trái dần dần chống ra sang trái, vừa chống vừa hạ xuống đến toàn bàn chân đạp vững; như vậy mũi bàn chân sẽ hướng thẳng ra trước và đạt yêu cầu hai chân song song.

4. Lỗi: động tác không đều, khi nhanh khi chậm, đặc biệt rõ khi chân trái bước ra sang trái sắp chạm đất và khi chân phải vừa nhấc lên. Nguyên nhân chủ yếu là lực chân, lực eo hông không đủ thì sẽ đột nhiên nâng cao tốc độ, như vậy toàn bộ động tác gây ra nhanh chậm không đều. Động tác phải trong động tác hình cung liên quán quán xuyến mà viên mãn, không mau không chậm, không lõm không lồi, không có khuyết hãm, không dựng góc cạnh. Biến hóa phải nhẹ nhàng linh hoạt, mới có thể biến hóa hư thực giao hỗ xoay chuyển. Sửa chữa: phải luyện nhiều để từng bước tăng cường lực chân, và chú ý khi chân trái bước ra thì chân phải ngồi vững, khi chân phải nhấc lên thì chân trái ngồi vững; hư thực phân minh thì động tác mới nhẹ nhàng linh hoạt.

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giảng giải yếu lĩnh. 2. Làm mẫu động tác, làm mẫu cách dùng. 3. Trước tiên luyện phân giải, kế đó luyện chỉnh thể, cách luyện nhanh và cách luyện chậm thay phiên nhau. 4. Hai tay buông lỏng. Hai chân đứng mở rộng bằng vai, nửa ngồi xổm. Chân trái nhấc lên bước sang trái, trọng tâm dần dần dời sang chân trái. Chân phải nhấc lên, sát sang trái, hạ xuống ở chỗ rộng bằng vai, trọng tâm dần dần dời sang chân phải, chân trái nhấc lên bước sang trái … luyện tập liên tục như vậy, luyện cho tốt động tác chân, như hư thực, hai chân song song hướng ra trước, trọng tâm không lên xuống, v.v.

5. Hai chân đứng mở rộng bằng vai, hơi ngồi xổm, tay phải ở trên, tay trái ở dưới. Bàn tay trái vạch cung từ dưới sang phải, lên trên, sang trái, đồng thời bàn tay phải lật chưởng ra ngoài, từ bên phải xuống dưới, lật chưởng vào trong qua trước bụng dời sang trái (lòng bàn tay hướng vào trong). Kế tiếp bàn tay trái lật chưởng ra ngoài, từ bên trái xuống dưới lật chưởng vào trong, qua trước bụng dời sang phải, đồng thời tay phải lên trên sang phải. Lúc này, hai tay lại đồng thời ở trước thân một trên một dưới, trở về tư thế bắt đầu, tức là một động tác "Vân thủ" hoàn thành. Luyện tập liên tục như vậy, luyện cho tốt động tác tay, như đường đi của tay, hướng của lòng bàn tay, độ cao thấp của tay, khi nào lật chưởng, v.v.

6. Luyện tập chỉnh thể phải tiếp liền luyện tập, nếu không sẽ tạo thành cắt rời; phải từng động tác một theo tốc độ chậm hơn bắt chước động tác của giáo viên mà học.

7. Việc cải tiến hư thực có thể tiến hành sau khi luyện tập chỉnh thể đã cơ bản nắm được. Chân trái ngồi vững, chân phải nhấc lên; khi chân phải sát sang trái hạ xuống sắp chạm đất, chân trái phải "đưa" chân phải hạ xuống. Khi chân trái bước sang trái, chân phải phải vững vàng ngồi vững, trước khi gót chân trái chạm đất không được di động trọng tâm.

Phần 86

Trang sách 374

VII. Phân tích kỹ thuật

VII. Phân tích kỹ thuật

1. "Vân thủ" phải liên tục làm 3–5 động tác. Đặc điểm của nó chính là "tương liên bất đoạn", từng động tác quán xuyến, khiến vào lúc tựa dừng mà không dừng, cơ hội chuyển thế tiếp theo tự sinh ra; cho nên không được có chỗ đình đốn, phải trong ngoài, trên dưới, trái phải, trước sau hiệp điều nhất trí, khiến trên dưới tương tùy, làm được "nhất khí quán xuyến". Vì vậy, động tác "Vân thủ" nhất định phải liên quán viên hoạt.

2. "Vân thủ" đòi hỏi rất cao đối với hai tay: nó yêu cầu "toàn bằng hai tay chuyển mà không lìa trung tuyến", tay trái quản nửa thân thể bên trái, tay phải quản nửa thân thể bên phải, ở giữa lấy mũi và rốn làm trung tuyến, khiến động tác trong vòng xoay chuyển không lìa trung tuyến. Cánh tay phải lỏng mềm viên hoạt, cương nhu tương tế, phải xoay chuyển theo hình cung; ngang dọc thuận nghịch, nổi lên hạ xuống co duỗi đều phải đi đường cung, hơn nữa còn phải theo eo hông xoay chuyển, không được để hai tay lỏng tán.

3. Động tác này phải làm 3–5 lần, mà trong 3–5 động tác đó, giá thế không được khi cao khi thấp, tức là trọng tâm không được lên xuống dao động. Bước chân bước ra và chân phải nhấc lên đều phải nhẹ nhàng linh hoạt, điều này đòi hỏi trong suốt quá trình động tác, trọng tâm luôn ở trên một mặt phẳng nằm ngang, không lên xuống. Nếu trọng tâm lên xuống dao động thì sẽ dẫn đến động tác nhanh chậm không đều.

khi hư thực biến đổi phải chú ý dần dần biến chuyển.

4. Nhãn thần trong "Vân thủ": người mới học dễ nhìn theo bàn tay xoay chuyển, điều này đương nhiên không đúng. Nhưng có người chỉ nhìn thẳng ra trước, điều này cũng không đúng; nhãn pháp phải theo động tác của bàn tay chủ yếu mà nhìn ngang ra trước. Ánh mắt phải trước tiên nhìn về phương hướng dự định đi tới, sau đó thân pháp, thủ pháp, bộ pháp theo lên.

Thế thứ hai mươi chín: Đan tiên

I. Cách dùng

Giống thế thứ tư, Đan tiên.

II. Quá trình động tác

Thân thể tiếp tục hơi chuyển sang phải, trọng tâm dần dần dời hết vào chân phải, chân trái nhấc lên; đồng thời, bàn tay phải theo thể chuyển hơi duỗi ra phía chéo bên phải, theo đà duỗi theo cánh tay nội toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng xuống, và theo năm ngón tay rủ xuống chụm lại thành điếu thủ; bàn tay trái tiếp tục vận lên trên bên phải, đến gần cổ tay phải. Ánh mắt quan chiếu đến bàn tay phải vận sang phải, tức quan chiếu đến bàn tay trái vận sang trái (xem hình bên phải trang này).

Các động tác sau đều giống động tác bốn của thế thứ tư, "Đan tiên"; xem ba hình ở hàng chân trang này (đồng với các hình của thế thứ tư).

Yếu lĩnh v.v. đều giống thế thứ tư.

(Trang này có tất cả bốn hình: một hình ở bên phải phần thân trang, và một hàng ba hình ở chân trang.)

图 166
图 166
Đan tiên: bàn tay phải theo thể chuyển hơi duỗi ra phía chéo bên phải, năm ngón tay rủ xuống chụm lại thành điếu thủ, bàn tay trái vận lên sang phải đến gần cổ tay phải
图 167
图 167
Đan tiên: bàn tay trái qua trước mặt vận ra sang trái, cánh tay nội toàn, lòng bàn tay hướng ra trước
图 168
图 168
Đan tiên: bàn tay trái ấn ra phía chéo trước bên trái, thành tả cung bộ, hai cánh tay khoảng 135°
图 169
图 169
Đan tiên: chính diện định thế Đan tiên

(Cột bên trái trang này có ba hình, xếp từ trên xuống, thể hiện diễn tiến của thế này.)

Thế thứ ba mươi: Cao thám mã

Phần 87

Trang sách 375

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Tiếp thế trước, Đan tiên. Nếu tay trái của đối phương vòng qua trên cổ tay trái tôi, tôi liền nới lỏng cổ tay trái một chút, lòng bàn tay hướng lên, đè gấp cổ tay đối phương mà thu về trong lòng. Chân trái đồng thời thu về, mũi chân chạm đất, lỏng eo hàm hung, đầu gối phải hơi cong ngồi vững; đồng thời lập tức đưa tay phải từ phía sau lên trên vòng chuyển ra trước, dùng chưởng thám về phía mặt đối phương. Mắt nhìn ra trước, sống lưng hơi nhướng, có ý thám bạt tiến tới.

II. Quá trình động tác

1. Trọng tâm dần dần dời sang chân phải, mũi chân trái theo trọng tâm dời sau tự nhiên nhấc lên, hàm hung bạt bối; đồng thời điếu thủ phải biến thành chưởng, co khuỷu phải, theo hình cung dời đến trước vai phải; cánh tay trái ngoại toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật xoay xiên hướng lên. Ánh mắt quan chiếu đến bàn tay trái lật chuyển (xem hình thứ nhất ở cột trái trang này).

2. Trọng tâm dời hết vào chân phải, chân trái thu về, hạ xuống nửa bước vào trong, dùng mũi chân điểm đất, chân phải đồng thời dần dần đứng thẳng lên (đầu gối vẫn hơi cong), thành cao thức tả hư bộ; thân thể theo đó dần dần hơi chuyển sang trái (hướng về đông), theo thể chuyển bàn tay phải vạch cung hơi sang trái qua phía trên cổ tay trái vạch cung thám ra trước. Ngón tay xiên hướng ra trước bên trái, lòng bàn tay hướng xuống, cao ngang mày; bàn tay trái vạch cung qua phía dưới cổ tay phải thu xuống trước bụng trên bên trái, ngón tay hơi xiên hướng ra trước bên phải, lòng bàn tay hướng lên. Mắt nhìn ngang ra trước, ánh mắt phải quan chiếu đến bàn tay phải thám ra trước (xem hình thứ hai và thứ ba ở cột trái trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Trọng tâm dần dần dời sang chân phải, phải ngồi vững, dùng khớp háng trái dần dần thu vào trong để dẫn động chân trái nhấc lên. Lúc này thân trên không được cúi trước ngửa sau.

2. Chân trái vừa rời đất thu về, chân phải liền dần dần đứng thẳng lên; lúc này cột sống lỏng trầm thẳng đứng, khí trầm tiểu phúc, đang kình hạ trầm, kình dưới lòng bàn chân tựa như rễ cắm xuống đất, mà huyệt bách hội trên đỉnh đầu phải tự nhiên thượng đỉnh, có ý xung tiêu. Đây là cách luyện "hư lĩnh đỉnh kình khí trầm đan điền", "đề đang quán đỉnh".

3. Khớp đầu gối chân phải cong mà không thẳng, lòng bàn chân đạp đất phẳng vững, kình tựa như rễ cắm đất mà lại kình khởi từ gót chân, ý hướng lên trên lật.

图 170
图 170
Cao thám mã: điếu thủ phải biến thành chưởng co khuỷu vạch cung dời đến trước vai phải, cánh tay trái ngoại toàn lòng bàn tay lật chuyển
图 171
图 171
Cao thám mã: bàn tay phải vạch cung hơi sang trái qua phía trên cổ tay trái thám ra trước, bàn tay trái qua phía dưới cổ tay phải thu xuống
图 172
图 172
Cao thám mã: bàn tay trái thu về trước bụng trên bên trái, bàn tay phải thám ra trước cao ngang mày, thành cao thức tả hư bộ

4. Cánh tay phải duỗi ra trước, ý xa kình dài, khớp khuỷu cong mà không thẳng, dùng để tăng cường cái kình trầm ổn của cánh tay; kình chân đạp xuống, kình tay phát ra trước — đây có ý hai tay và hai chân đối vị kéo dài, cầu thẳng trong cong.

5. Khi cánh tay phải thám ra trước không được nhún vai, vai phải lỏng mà hạ trầm. Như vậy, cánh tay co duỗi triền nhiễu đều có thể tùy tâm sở dục.

6. Tay phải thám ra trước, ngón tay không được chúc ra trước, nếu không sẽ mất ý tọa uyển.

7. Phải bạt yêu, nhưng không được gắng gượng bạt lên trên, nếu không sẽ ảnh hưởng đến tính linh hoạt xoay chuyển của eo, hơn nữa cũng không được ưỡn ngực hoặc còng lưng.

IV. Yêu cầu

1. Chân trái thu về nhất định phải ngồi vững chân phải, không được để lòng bàn chân trái cọ đất khi thu về.

2. Sau khi chân trái thu về, không được duỗi thẳng hoàn toàn, đầu gối phải cũng không được thẳng hoàn toàn. Đầu gối phải hơi cong, chân phải ngồi vững.

3. Tay phải thám ra trước, phải hàm hung bạt bối có ý tiến tới, nhưng không phải nhún vai.

4. "Nguyên động yêu tích, kình quán tứ sao" — chi trên dưới đều phải quán kình; tay trái thu về trong lòng, tay phải tọa uyển thám ra trước, đối lạp bạt trường, đều cố gắng từ sống lưng phát ra, đạt đến ngón tay. Vai hạ lỏng, khuỷu hạ trụy, khớp khuỷu cong mà không thẳng.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, cách sửa chữa

1. Lỗi: chân trái không phải thu về mà là cọ đất kéo về. Nguyên nhân chủ yếu là trọng tâm thân thể dời sau không đủ, tức là chân phải chưa ngồi vững, trọng tâm ở giữa hai chân. Sửa chữa: trọng tâm dời sau đầy đủ, chân phải hơi cong ngồi vững, trước tiên nhấc đùi, súc kình ở đầu gối, chậm rãi thu chân trái về, như vậy sẽ không cọ đất.

2. Lỗi: tay trái quá cao hoặc quá thấp. Nguyên nhân chủ yếu là tay phải thám ra trước tiến kích đối phương, dễ được mọi người hiểu; còn tay trái lòng bàn tay hướng lên, thu lên bên bụng trên, thì không được chú ý lắm, do đó độ cao thấp, trước sau của tay không có căn cứ mà đặt tùy tiện. Trước tiên phải biết nó là thu về trong lòng, "trong lòng" không phải bên hông, cũng không phải trước ngực, thì vị trí bàn tay trái không nói cũng tự hiểu.

3. Lỗi: động tác đình đốn. Khi Đan tiên tiếp Cao thám mã, điếu thủ phải đã biến thành chưởng, lòng bàn tay trái đã hướng lên, trọng tâm cũng dời sau; để chuẩn bị sức nhấc chân trái, lúc này thường đình đốn một cái. Nguyên nhân chủ yếu là kình đứt thì ý cũng đứt, lực eo hông và chân không đủ. Sửa chữa: ý thức trước tiên phải liên miên bất đoạn chỉ huy động tác, như vậy sẽ không đình đốn mà có thể "âm cực sinh dương, dương cực sinh âm", "âm dương hỗ vi kỳ căn". Ngoài ra, phải ngồi vững chân phải, chú ý nhấc chân mà không kéo chân.

4. Lỗi: khi tay phải thám ra trước, thân trên cúi ra trước quá mức. Nguyên nhân chủ yếu là quá chú ý động tác thám ra trước của tay phải, quên rằng còn có động tác thái của tay trái; như thân trên cúi trước quá mức, tay phải thì ra rồi, mà cái thái của tay trái bị giảm bớt tác dụng, đây là không hợp cách dùng. Cho nên, phải "vĩ lư trung chính". Quyền ngạn nói: thân hình yêu đỉnh khởi khả vô. Sửa chữa: có thám ra trước nhưng không cúi trước nhô mông.

5. Lỗi: xuất chưởng phải lỏng mềm vô lực. Nguyên nhân chủ yếu là do hiểu chưa sâu về chưởng pháp của Thái Cực Quyền. Sửa chữa: đặc điểm chưởng pháp của Dương thức Thái Cực Quyền là ngón tay lỏng duỗi, ngón cái hơi cong tách khỏi ngón trỏ, bốn ngón còn lại tựa lỏng mà không lỏng, từng đốt hơi cong, tọa uyển. "Hành khí vận kình tu vô vi bất đáo" — kình phải quán đến năm ngón tay. Đương nhiên dùng sức quá mức, căng chặt bàn tay và ngón tay thành cương kình, cũng là không đúng.

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Khẩu quyết: hậu tọa đề thối tiền túc hư, tả thái hữu thám nhãn tiền khán.

2. Điểm khó của động tác này là ở chỗ bộ cung của Đan tiên bước lớn, (Chân trang này có một bức ảnh thôi thủ không đánh số, không có số hình và không có chú thích.)

Phải khiến trọng tâm từ chân trái dời sang chân phải, chân trái biến hư nhẹ nhàng chậm rãi thu về, là rất không dễ; cho nên, luyện tập động tác này, trọng điểm phải đặt ở then chốt chuyển bộ cung thành hư.

3. Độ cao thấp của cánh tay phải thám ra phải theo cách dùng mà dạy. Bàn tay phải thám về phía mặt đối phương, cho nên độ cao của chưởng phải hơi cao hơn vai; ngang vai hoặc thấp hơn vai đều không hợp yêu cầu của cách dùng.

4. Trong giảng dạy thân pháp phải có sống lưng hơi nhướng, có ý thám bạt tiến tới, nhưng không được quá mức; quá mức sẽ hình thành thân trên cúi trước, mất lập thân trung chính. Trong giảng dạy phải theo đặc điểm thân pháp của Thái Cực Quyền, coi trọng trung chính an thư, khinh linh viên hoạt và trầm trước ổn trọng, đương nhiên cũng phải phòng ngừa ưỡn ngực.

5. Trong giảng dạy phải chú ý trên dưới tương tùy: như chân động trước tay động sau, thì tay trái đối phương công tới, không phải công trước thì là chạy sau; như tay động trước chân động sau, không những khoảng cách di chuyển nhỏ, mà lực eo cũng vận dụng không đúng, lực lượng không dễ tập trung. Như vậy, sẽ không phát huy được hiệu quả của thái. Cho nên, trong giảng dạy phải chú trọng trên dưới tương tùy, phải khiến tay trái, tay phải và chân trái thu về cùng động.

6. So sánh động tác đúng và không đúng, khiến người học thông qua giảng dạy hình tượng hóa mà lĩnh hội sâu sắc cách dùng, hiểu ý nghĩa của động tác.

7. Đối luyện kết hợp cách dùng: A — làm định thế Đan tiên. B — dùng tay trái vòng qua dưới cổ tay trái của A, từ trong sang phải khiêu bát. A — liền nới lỏng cổ tay trái một chút, lòng bàn tay hướng lên, đè gấp cổ tay thu về trong lòng, đồng thời đầu gối phải hơi cong ngồi vững, chân trái thu về, tay phải thám ra trước. Luyện tập lặp lại, sau đó A, B đổi vị trí luyện tập, thể hội cách dùng của động tác.

Phần 88

Trang sách 376

VII. Phân tích kỹ thuật

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này khoảng cách di chuyển trọng tâm khá lớn, mà chân trái xa điểm chống đỡ của chân phải; phải dưới sự chống đỡ của một chân (chân phải) mà nhấc chân trái lên, thì cơ bắp phía trước bàn chân v.v. cần lực lượng rất lớn. Luyện tập lặp lại như vậy, vừa rèn luyện lực lượng gánh vác trọng lượng thân thể và khống chế thăng bằng trọng tâm của chân phải, cũng vừa rèn luyện lực lượng cơ bắp liên quan đến việc nhấc chân trái.

2. Khi làm động tác Đan tiên trước Cao thám mã, nếu trọng tâm thấp, bước chân lớn, thì làm Cao thám mã sẽ khiến lực chân càng nặng nề hơn, lượng vận động càng lớn hơn, điều này sẽ tăng thêm gánh nặng quá mức cho người già yếu; cho nên, một số người luyện tập xuất hiện tình trạng chân trái nhấc không lên mà biến thành kéo về. Vì vậy, người già yếu luyện quyền có thể để giá thế cao hơn một chút.

3. Lúc định thế chân phải không được đứng thẳng; đứng thẳng là đứng sát, đứng sát sẽ mất cơ.

Thế thứ ba mươi mốt: Tả hữu phân cước

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương dùng tay trái tiếp cổ tay phải tôi thám ra, tôi liền dùng cổ tay phải đè lên khuỷu trái đối phương, trụy khuỷu trầm kiên, liền bồng cánh tay trái đối phương trở về bên trái; đồng thời tay trái dính chặt cổ tay trái địch, lòng bàn tay hướng xuống, ngầm dùng thái kình. Chân trái đồng thời bước ra nửa bước về phía trước bên trái, ngồi vững, eo xiên tựa sang trái, liền nhấc chân phải lên, dùng mũi chân và mu bàn chân tôi, đá thẳng ngang vào sườn trái đối phương; đồng thời hai bàn tay dựng đứng, tách ngang ra trái phải ngang vai, khiến xứng với động tác phân cước, mắt cũng theo tay phải nhìn tới, hàm hung bạt bối, định lực tự đủ, thì quyền thế của đối phương không thể do hắn tự chi phối được nữa.

Động tác tả phân cước cách dùng giống nhau, phương hướng ngược lại.

II. Quá trình động tác
(Giáp) Hữu phân cước

1. Trọng tâm dần dần dời hết sang chân phải, chân phải dần dần ngồi xổm xuống, trọng tâm hạ giáng, chân trái nhấc lên, thân thể theo đó hơi chuyển sang trái (hướng về đông bắc). Đồng thời, bàn tay phải theo thể chuyển hướng sang phải vạch cung mạt chuyển vào trong, bàn tay trái hướng sang trái vạch cung mạt ra trước, ánh mắt quan chiếu bàn tay phải mạt sang phải (xem hai hình đầu ở cột trái trang này).

2. Chân trái bước ra trước (đông bắc), trước tiên dùng gót chân chạm đất, kế đó trọng tâm dần dần dời sang chân trái, cung chân trái đặng chân phải thành tả cung bộ. Thân thể chuyển sang phải (về đông nam) đồng thời, bàn tay trái từ bên trái ra trước sang phải qua phía dưới cánh tay phải mạt vào trong một vòng tròn, cánh tay trái thành hình cung hoành khuất. Chân trái (Cột bên trái trang này có ba hình, xếp từ trên xuống, thể hiện diễn tiến của thế này.)

图 173A
图 173A
Tả hữu phân cước: trọng tâm dời sang chân phải ngồi xổm, bàn tay phải hướng sang phải vạch cung mạt chuyển vào trong
图 173B
图 173B
Tả hữu phân cước: bàn tay trái hướng sang trái vạch cung mạt ra trước, thân thể hơi chuyển sang trái
图 174
图 174
Tả hữu phân cước: chân trái bước ra trước thành tả cung bộ, bàn tay trái qua phía dưới cánh tay phải mạt vào trong một vòng tròn

Chưởng hoành trí trước ngực (bên khuỷu phải), lòng bàn tay xiên hướng vào trong lên trên; bàn tay phải từ bên phải vào trong sang trái qua phía trên cánh tay trái mạt một vòng tròn phẳng, tức thám ra phía trước bên phải, lập chưởng, lòng bàn tay xiên hướng về trước bên trái, đầu ngón tay xiên hướng lên. Ánh mắt quan chiếu bàn tay phải mạt chuyển thám ra (xem hình thứ nhất ở cột phải trang này).

3. Trọng tâm dần dần dời hết sang chân trái, thân thể theo đó chuyển sang trái (hướng về đông bắc), chân phải nhấc lên ra trước; đồng thời bàn tay trái vạch cung dời ra trước lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong, bàn tay phải từ bên phải mà xuống vạch cung sao đến ngoài bàn tay trái, theo đà sao theo cánh tay ngoại toàn khiến lòng bàn tay lật hướng vào trong. Hai tay giao nhau, bàn tay trái ở trong. Ánh mắt quan chiếu hai bàn tay giao nhau (xem hình thứ hai và thứ ba ở cột phải trang này).

4. Chân trái dần dần đứng lên (đầu gối vẫn hơi cong), thân thể chuyển sang phải (hướng về đông nam), chân phải phân ra phía chéo trước bên phải (đông nam), mu bàn chân tự nhiên căng phẳng, cao ngang hông; đồng thời, hai bàn tay tách sang trái, lòng bàn tay đều xiên hướng ra ngoài, đầu ngón tay hướng lên, hai bàn tay khoảng cao ngang vai. Ánh mắt quan chiếu bàn tay phải phân ra, và qua bàn tay phải nhìn ngang sang phải (xem hình thứ nhất ở cột trái trang sau).

(Ất) Tả phân cước

1. Chân trái dần dần ngồi xổm xuống, chân phải hạ xuống (trọng lượng vẫn hoàn toàn ở chân trái), thân thể hơi chuyển sang phải; đồng thời, bàn tay trái co khuỷu gần ngực từ trong mạt sang phải, theo đà mạt theo cánh tay nội toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng xuống; bàn tay phải từ phía trước bên phải mạt sang trái, theo đà mạt theo cánh tay ngoại toàn khiến lòng bàn tay dần dần lật hướng lên (xem hình thứ hai ở cột phải trang sau).

图 175A
图 175A
Tả hữu phân cước: chân phải nhấc lên ra trước, bàn tay trái vạch cung dời ra trước lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong
图 175B
图 175B
Tả hữu phân cước: bàn tay phải từ bên phải mà xuống vạch cung sao đến ngoài bàn tay trái, hai tay giao nhau, bàn tay trái ở trong
图 176
图 176
Tả hữu phân cước: chân trái đứng lên, chân phải phân ra phía chéo trước bên phải, hai bàn tay tách sang trái
图 177
图 177
Tả hữu phân cước: định thế chân phải phân ra, mu bàn chân căng phẳng cao ngang hông, hai bàn tay xiên hướng ra ngoài đầu ngón tay hướng lên

2. Chân phải bước ra trước (đông nam), trước tiên dùng nửa bàn chân chạm đất, kế đó trọng tâm dần dần dời sang chân phải, cung chân phải đặng chân trái, thành hữu cung bộ. Thân thể chuyển sang trái (hướng về đông bắc); đồng thời, bàn tay phải từ bên phải ra trước sang trái qua phía dưới cánh tay trái mạt chuyển gần một vòng tròn, cánh tay phải thành hình cung hoành khuất, bàn tay phải hoành trí trước ngực trái (bên khuỷu trái), lòng bàn tay xiên hướng vào trong lên trên; bàn tay trái từ bên trái vào trong sang phải qua phía trên cánh tay phải mạt một vòng tròn phẳng, tức thám ra phía trước bên trái, lập chưởng, lòng bàn tay xiên hướng về trước bên trái, đầu ngón tay xiên hướng lên. Ánh mắt quan chiếu bàn tay trái mạt chuyển thám ra (xem hai hình đầu ở cột trái trang này).

3. Trọng tâm dần dần dời hết sang chân phải, thân thể theo đó chuyển sang phải (hướng về đông nam), chân trái nhấc lên ra trước; đồng thời, bàn tay phải vạch cung dời ra trước lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong, bàn tay trái từ bên trái mà xuống vạch cung sao đến ngoài bàn tay phải, theo đà sao theo cánh tay ngoại toàn khiến lòng bàn tay lật hướng vào trong. Hai tay giao nhau, tay phải ở trong. Ánh mắt quan chiếu hai bàn tay giao nhau (xem hình thứ ba ở cột trái trang này và hình thứ nhất ở cột phải trang sau).

4. Chân phải dần dần đứng lên (đầu gối vẫn hơi cong), thân thể chuyển sang trái (hướng về đông bắc), chân trái phân ra phía chéo trước bên trái (đông bắc), mu bàn chân tự nhiên căng phẳng, cao ngang hông. Đồng thời, hai bàn tay tách sang trái, lòng bàn tay đều xiên hướng ra ngoài, đầu ngón tay hướng lên, hai bàn tay khoảng cao ngang vai. Ánh mắt quan chiếu bàn tay trái phân ra, và nhìn ngang sang trái (xem hình thứ hai ở cột phải trang sau).

Phần 89

Trang sách 377

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Lần thứ nhất phân cước thân thể phải chuyển bốn lần phương hướng, mặt cũng phải chuyển bốn lần phương hướng, mắt cũng phải theo thể chuyển nhìn bốn phương hướng.

(Chân trang này có hai bức ảnh không đánh số, không có số hình và không có chú thích.)

图 177
图 177
Tả hữu phân cước: chân phải nhấc lên ra trước, bàn tay trái vạch cung dời ra trước lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong
图 178A
图 178A
Tả hữu phân cước: bàn tay phải từ bên phải mà xuống vạch cung sao đến ngoài bàn tay trái, hai tay giao nhau, bàn tay trái ở trong
图 178B
图 178B
Tả hữu phân cước: chân trái đứng lên, chân phải phân ra phía chéo trước bên phải, hai bàn tay tách sang trái

2. Lần thứ hai phân cước, hữu phân cước hướng đông nam, tả phân cước hướng đông bắc.

3. Khi hai bàn tay mài chuyển, tay trước phải quán kình ở cổ tay và khuỷu: tay vòng tròn, khuỷu cũng vòng tròn, cánh tay phải hình cung, khuỷu hơi trầm, vòng phải đều; cánh tay phải sau khi mạt chuyển thám ra cũng không được duỗi thẳng, và lấy eo chuyển dẫn động tay di động.

4. Chân trái bước lên, hướng về đông bắc, eo chuyển hướng đông bắc, rồi sau đó mới đứng lên.

5. Phân cước phải nhấc đầu gối rồi mới ra chân.

6. Hai bàn tay tách ra, cánh tay phải hình cung, khuỷu hơi trầm (khuỷu thấp hơn cổ tay), bàn tay cao hơn vai (nhưng vai không được nhún lên).

7. Hai bàn tay hợp ôm giao nhau, phải theo chân chống đỡ đứng lên mà nhu hòa dời lên trên ra ngoài một chút, mới tỏ ra nhẹ nhàng, trầm ổn; như khi chân trái đứng lên mà hai bàn tay đã giao nhau bất động, sẽ sinh ra hiện tượng ngây trệ; khi hợp ôm, phần cổ tay hai bàn tay không được lỏng buông cong xuống, và phải hai cánh tay đồng thời đạt đến, hợp thành giao nhau, chuẩn bị phân cước.

8. Khi hai tay mài chuyển phải trầm khuỷu tọa uyển (toàn bộ quyền lộ, mỗi động tác đều yêu cầu "tọa uyển"), không được uyển lực mềm yếu, lỏng mềm sụp xuống, nếu không sẽ ảnh hưởng nội kình quán chú đến ngón tay, ảnh hưởng đến vận dụng bồng, lữ, tễ, án v.v.

9. Tay phải thám ra là để án áp khuỷu trái đối phương (lấy hữu phân cước làm ví dụ). Tay phải từ bên phải mà xuống bồng, tay trái là thái kình ngầm thi triển xuống dưới, phải phối hợp chuyển eo hông và trầm kình, không được lỏng tán.

10. Khi phân cước thân thể phải ổn định, không được cúi, ngửa, nghiêng, lệch, phải có "hư lĩnh đỉnh kình", "khí trầm đan điền", mới có thể khiến thân thể dễ giữ thăng bằng.

11. Lúc định thế hữu phân cước, chân trái (chân chống đỡ) không được duỗi thẳng, không được hoàn toàn đứng sát, nếu không, không thể điều tiết và chống đỡ sự ổn định trọng tâm thân thể, cũng không thể đắc cơ đắc thế.

12. Hữu phân cước tiếp tả phân cước, trước tiên khiến chân trái khuất ngồi trọng tâm hạ giáng, trong quá trình ngồi chân, chân phải trước hạ xuống rồi bước về phía chéo (hướng đông nam). Lúc đó tay đã không thể đình đốn, chân cũng không thể đình đốn, phải "túc tùy thủ vận, viên chuyển như thần".

图 179
图 179
Tả hữu phân cước: bàn tay trái co khuỷu gần ngực từ trong mạt sang phải, bàn tay phải từ phía trước bên phải mạt sang trái, lòng bàn tay lật chuyển
图 180
图 180
Tả hữu phân cước: chân phải bước ra trước thành hữu cung bộ, bàn tay phải qua phía dưới cánh tay trái mạt chuyển vào trong
图 181A
图 181A
Tả hữu phân cước: bàn tay trái qua phía trên cánh tay phải mạt ra trước một vòng tròn phẳng, thám ra phía trước bên trái lập chưởng

Phần 90

Trang sách 378

IV. Yêu cầu

IV. Yêu cầu

1. Phương hướng tả hữu phân cước phải chính xác: hữu phân cước hướng đông nam, tả phân cước hướng đông bắc.

2. Khi hữu phân cước, phương hướng của chân phải và tay phải phải nhất trí, hơn nữa phải đồng thời đáo vị; tả phân cước yêu cầu giống hữu phân cước.

3. Sự mài chuyển của tay phải rõ ràng, không được hàm hồ, ý thức động tác phải mạnh.

4. Cao thám mã tiếp hữu phân cước bắt đầu, trước tiên phải trọng tâm hạ giáng, khuất chân phải ngồi vững, rồi sau đó mới bước chân trái về phía chéo bên trái (đông bắc). Hữu phân cước kết thúc, tiếp tả phân cước, yêu cầu bước chân nhẹ nhàng linh hoạt, cho nên trước tiên phải khuất chân trái, trọng tâm thân thể hạ giáng, sau khi ngồi vững chân trái mới bước chân phải về phía chéo bên phải (đông nam), không để trọng trệ.

5. Phải "nhất động vô hữu bất động" — khi hữu phân cước, đồng thời với việc khuất chân phải ngồi xổm trọng tâm hạ giáng, tay phải từ trước hướng sang phải vào trong, tay trái hướng sang trái ra ngoài mài chuyển, chân trái nhấc lên biến hư, đều phải cùng động, không được tay động chân không động hoặc chân động tay không động.

6. Hữu phân cước tiếp tả phân cước không được đình đốn, phải "thế thế tương thừa, trước trước quán xuyến", "kình đoạn ý bất đoạn", nội kình vẫn còn vận chuyển.

7. Phân chân nào thì ánh mắt phải chú thị phương hướng đó.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, cách sửa chữa

1. Lỗi: phương hướng động tác không chính. Nguyên nhân chủ yếu là do không quen cách dùng. Đối phương từ phía trước dùng tay trái tiếp cổ tay phải tôi thám ra, tôi đem cánh tay trái đối phương bồng về bên trái, đồng thời tôi dùng chân trái bước ra nửa bước về phía trước bên trái; lúc đó đối phương ở phía trước bên phải tôi, như vậy phương hướng phân cước của tôi trở thành phía chéo đông nam, mà không phải phương hướng khác. Sửa chữa: phương hướng mũi chân của chân chống đỡ phải hợp lý, phải thuận, phải chỉ về đông bắc, rồi trên cơ sở chuyển eo hông, hữu phân cước sẽ thuận lợi hướng về đông nam.

图 181B
图 181B
Tả hữu phân cước: bàn tay phải hoành trí trước ngực trái, bàn tay trái thám ra phía trước bên trái lập chưởng
图 182
图 182
Tả hữu phân cước: tay phải giao nhau ở trong, hai bàn tay hợp ôm, chuẩn bị phân cước
图 183
图 183
Tả hữu phân cước: chân trái phân ra phía chéo trước bên trái, hai bàn tay tách sang trái, đầu ngón tay hướng lên

2. Lỗi: phân cước quá cao hoặc quá thấp. Nguyên nhân chủ yếu là không hiểu cách dùng. Tôi bồng cánh tay trái đối phương, đồng thời tay trái thái xuống dưới cổ tay trái đối phương, bộ vị tiến công để lại cho tôi chỉ có phần giữa và phần dưới, cho nên, đá ngang thẳng về sườn trái đối phương là thích đáng hơn. Sửa chữa: đã là đá vào bộ vị sườn, cho nên cao hơn thắt lưng và thấp hơn cao của đầu gối đều là không hợp lý. Đương nhiên người già yếu, chóng mặt đứng không vững, có thể hạ thấp yêu cầu, như chân nhấc lên một chút là được.

3. Lỗi: ánh mắt chỉ hướng một phương, không theo động tác chuyển dời. Nguyên nhân chủ yếu là lĩnh hội nhãn pháp chưa đủ. Sửa chữa: ánh mắt phải theo động tác của bàn tay chủ yếu mà nhìn ngang ra trước, khiến luyện quyền phải mắt đến, thân đến, tay đến, bộ đến, cùng đều đến, "thần hình hợp nhất". Ý muốn đến chỗ nào, ánh mắt phải cùng đi, ánh mắt phải theo bàn tay chủ yếu xoay chuyển mà nhìn tới trước, đương nhiên cũng phải quan chiếu trên dưới hai bên. Cổ phải theo ánh mắt xoay chuyển, như vậy sẽ "kỳ cơ tại mục, địch tình vu hiểu", về kỹ kích mà nói có thể nhìn thấu động hướng đối phương. Sự xoay chuyển của ánh mắt, sự triển khai và nhìn xa của ánh mắt, cũng có lợi cho việc khôi phục và tăng cường thị lực, cho nên một lần phân cước, ánh mắt phải xoay chuyển bốn phương hướng, ngày tích tháng lũy phản phục đoạn luyện, điều này đối với sức khỏe của mắt là rất có lợi.

4. Lỗi: hai tay mài chuyển không phải cương ngạnh thì là lỏng sụp. Nguyên nhân chủ yếu là đối với dụng ý không rõ. Thủ pháp của Thái Cực Quyền kỵ cương kỵ trệ, yêu cầu cương nhu tương tế. Sửa chữa: khi động thế phải lấy tay lĩnh khuỷu, lấy khuỷu lĩnh kiên, cánh tay phải linh hoạt viên chuyển, vai phải lỏng trầm; để phòng ngừa cổ tay lỏng sụp, phải chú ý "tọa uyển". Nếu phần cổ tay lỏng giải vô lực, tay ắt nhiên không có bồng kình; cho nên, khi mài chuyển tay trước phải dùng cổ tay khuỷu quán kình, khuỷu cũng phải vòng tròn, điều này khiến bồng kình không mất, làm được không cương ngạnh không lỏng sụp.

5. Lỗi: khi phân cước, eo bộ nữu khúc, hình thành thân trên xiên lệch, cúi ngửa. Nguyên nhân chủ yếu là nhận thức chưa đủ về việc eo là then chốt chuyển động trên dưới. Sửa chữa: 《Quyền luận》 nói "yêu vi đạo", ví eo phải thẳng đứng như đại đạo của trung quân; cho nên, khi làm hữu phân cước, chân trái bước lên, hướng về đông bắc thì eo hông phải chuyển hướng đông bắc, làm được kiên dữ khóa hợp; khi phân cước hướng đông nam, eo hông theo động tác xoay chuyển, như vậy sẽ không có eo bộ nữu khúc, thân trên cũng không xiên lệch.

图 184
图 184
Tả hữu phân cước: định thế chân trái phân ra, mu bàn chân căng phẳng cao ngang hông, hai bàn tay xiên hướng ra ngoài đầu ngón tay hướng lên

6. Lỗi: khi phân cước duỗi thẳng chân đá ra. Nguyên nhân chủ yếu là hiểu cách dùng chưa sâu. Sửa chữa: đá chân trước tiên phải nhấc chân (đầu gối), trước tiên tập trung lực ở khớp đầu gối, rồi sau đó khiến động lực từng đốt quán xuyến đạt đến đầu ngón chân, để tăng cường phát lực.

7. Lỗi: khi phân cước hai tay tách trái phải, quá thấp hoặc quá cao. Nguyên nhân chủ yếu là hiểu cách dùng chưa đủ. Sửa chữa: đồng thời với phân cước, hai bàn tay dựng nghiêng, vạch cung tách ngang ra trái phải ngang vai, chủ yếu là thừa thế phân cước, không phải án kích tiến công. Cánh tay phải hình cung, bàn tay cao hơn vai, vai không được nhấc lên, khiến định lực của mình đủ, khiến đối phương không thể tự chống đỡ.

Phần 91

Trang sách 379

VI. Cách dạy và cách luyện tập

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Khẩu quyết (lấy hữu phân cước làm ví dụ): (1) Tay — tay phải ngoài vào trong; tay trái trong ra ngoài; hai tay mở rồi lại hợp; tay phải xiên trước áp; hình cung ngang vai ra. (2) Chân — phải ngồi xổm trái hư; chân trái xiên ra trước; gót sau chạm đất trước; trọng tâm dời sang trái; chân phải chậm rãi nhấc lên; phương hướng phải ghi nhớ.

2. Điểm khó (lấy hữu phân cước làm ví dụ): (1) Động tác mài chuyển của hai tay không rõ — có thể dùng cách phân giải: hai chân không động, phương hướng không đổi, tay phải luyện riêng, từ ngoài sang phải vào trong vòng tròn, rồi đổi tay trái sang trái ra ngoài sang phải, rồi hai tay phối hợp luyện, cuối cùng sau khi mài chuyển hướng đông nam xuất chưởng phải. Sau khi cơ bản thuần thục, mới phối hợp động tác chân, biến đổi phương hướng. (2) Phương hướng mặt không rõ — bước chân trái mặt hướng đông bắc, xuất chưởng phải mặt hướng đông nam, luyện tập lặp lại trước tiên nắm được mài chuyển hai tay và biến đổi hai phương hướng, đây là điểm khó, phải làm rõ. Sau đó, học lâu tất ảo bộ về phía trái mặt hướng đông bắc, khi phân cước mặt hướng đông nam, như vậy, chuyển động và biến đổi phương hướng sẽ dễ làm rõ.

3. Nối tiếp: Cao thám mã tiếp hữu phân cước, trước tiên phải chân phải ngồi xổm thân thể hạ trầm; hữu phân cước làm xong tiếp tả phân cước, cũng phải chân trái ngồi xổm trước, "đưa" chân phải hạ xuống, bước ra phía chéo đông nam, đồng thời phối hợp động tác tay. Nối tiếp không tốt, chất lượng ắt nhiên không cao; cho nên, trong giảng dạy phải đặc biệt nêu ra luyện tập nối tiếp, thông qua luyện tập lặp lại để đạt được liên quán viên hoạt.

4. Phương hướng đặt chân phải luyện tập lặp lại, chỉ rõ ràng. Hữu phân cước thì chân trái bước ra phía chéo bên trái là hướng đông bắc; tả phân cước thì chân phải bước ra phía chéo bên phải là hướng đông nam; quá và bất cập đều sẽ khiến phân cước biệt nữu hoặc đứng không vững.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này khá phức tạp: nó bao gồm hai tay mỗi bên di động theo phương hướng khác nhau, đồng thời còn có di động của chân, trọng tâm lên xuống, phương hướng biến đổi nhiều lần, chống đỡ một chân … những điều này đều biến động cùng lúc; cho nên, học khá khó, nhưng khó lại càng khơi dậy hứng thú đậm đà của người luyện tập.

2. Khi phân cước, động tác tay không phải phân đặt tùy tiện; ngoài việc thừa thế phân cước, còn có tác dụng làm rối loạn thị tuyến đối phương, phân tán lực chú ý của đối phương. Vì tay phải và chân phải xuất kích cùng lúc, cùng một phương hướng, ánh mắt đối phương trước tiên tiếp xúc với bàn tay gần mặt hơn, cho nên động tác tay sẽ mê hoặc công thủ của đối phương, mà có lợi cho tiến công thật sự của chân tôi ở dưới; điều này thể hiện diệu dụng của hốt hiện hốt tàng, hư thực chuyển hoán.

3. Sau khi cơ bản học được động tác này, trình độ kỹ thuật chủ yếu quyết định ở chỗ chống đỡ một chân có vững chắc hay không; về kỹ thuật phải chú ý hai phương diện sau: (1) Chân chống đỡ phải đạp vững đứng vững, làm được khuất mà không thẳng, khiến hạ bàn vững chắc. (2) Chân phân ra nhấc lên không được quá nhanh, nhanh thì thân thể dễ bị dẫn động; phải nhấc đầu gối trước, rồi sau đó với tốc độ chậm rãi như vậy tiếp tục phân cẳng chân ra, để tránh mất thăng bằng.

4. Tốc độ tách hai bàn tay phải nhất trí với chân phân ra, động tác phải hiệp điều.

5. Thân thể phải "trung chính an thư", không được lấy cách ngửa sau v.v. dùng sai để duy trì thăng bằng thân thể.

Ngoài mấy điểm trên ra, then chốt nhất là kiên trì đoạn luyện lâu năm tháng, để tăng cường lực lượng cơ bắp của chân và toàn thân, không ngừng nâng cao kỹ thuật, khiến chống đỡ một chân đạt được vững chắc.

Thế thứ ba mươi hai: Chuyển thân đặng cước

I. Cách dùng

Tiếp tả phân cước. Nếu đối phương từ phía sau lưng dùng tay phải đánh tới, tôi liền chuyển thân thể sang phía trái, hàm hung, bạt bối, lỏng eo, đặc biệt phải làm tốt hư lĩnh đỉnh kình; chân trái huyền nhấc, trong khi theo eo xoay chuyển, mũi chân tự nhiên rủ xuống. Sau khi chuyển, chân phải đứng định, chân trái liền đặng về phía bụng đối phương bằng gót chân, mũi chân vểnh lên. Hai bàn tay theo eo xoay chuyển từ ngoài vào trong hợp, theo đà chân trái đặng ra, hai chưởng liền dựng nghiêng sang trái phải, tách ngang vai; ánh mắt theo hướng đầu ngón tay trái nhìn tới, đứng định căn lực, như vậy, đối phương ắt nhiên ứng theo chân mà tự ngã ngửa.

II. Quá trình động tác

1. Chân trái hạ xuống, đầu gối trái giữ huyền nhấc, lấy gót chân phải làm trục, thân thể liền chuyển sang sau bên trái khoảng 180°; khi chuyển hai chưởng hướng vào trong ngực trước hợp ôm giao nhau (bàn tay trái ở ngoài), mắt theo thể chuyển nhìn ngang ra trước (xem hình thứ nhất ở cột trái trang này).

2. Chân trái lấy gót chân chậm rãi đặng sang trái (tây), mũi chân hướng lên; đồng thời hai chưởng tách sang trái phải. Chân phải theo chân trái đặng ra dần dần đứng lên, nhưng đầu gối phải vẫn hơi cong. Ánh mắt quan chiếu bàn tay trái tách ra, và qua bàn tay trái nhìn ngang ra trước (xem hình thứ hai ở cột trái trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khi xoay chuyển thân thể phải luôn giữ "trên dưới cơ bản một đường thẳng", trọng tâm thân thể không lệch khỏi điểm chống đỡ.

2. Khi xoay sang trái phải toàn thân động tác hiệp điều nhất trí: ánh mắt nhìn trái, cánh tay phải bày sang trái, cánh tay trái thu về bày sang trái, chân trái thu về bày sang trái, đầu bộ chuyển động cùng lúc với chuyển eo hông; eo là then chốt chuyển động trên dưới, nhưng không được coi nhẹ sự phối hợp các phương diện khác.

3. Khi xoay chuyển chân phải hơi chìm xuống, khiến trọng tâm hạ giáng, khiến hạ chi vững chắc. Khi đặng chân phải duỗi lên, nhưng vẫn không duỗi thẳng hoàn toàn.

4. Khi đặng chân thân thể phải ổn định, không được cúi, ngửa, nghiêng, cong; chân phải chậm rãi đặng ra, lấy gót chân làm điểm trước lực, không được đột biến, không được dùng động tác nhanh.

IV. Yêu cầu

1. Khi xoay chuyển thân trên không được cúi trước ngửa sau, xiên lệch trái phải.

2. Khi xoay chuyển chân trái không được chạm đất.

3. Sau khi chuyển phương hướng phải chính xác.

4. Sau khi chuyển không được đặng chân sau khi động tác đình đốn.

5. Động tác phải đều, không được khi nhanh khi chậm.

图 185
图 185
Chuyển thân đặng cước: lấy gót chân phải làm trục chuyển thể sang sau bên trái khoảng 180°, hai chưởng hướng vào trong hợp ôm giao nhau trước ngực
图 186
图 186
Chuyển thân đặng cước: chân trái lấy gót chân đặng sang trái mũi chân hướng lên, hai chưởng tách sang trái phải ngang vai

6. Khi hai tay giao nhau phải đầy đặn, không được bẹp, cũng không được nhấc khuỷu lộ sườn.

7. Khi định thế phải tam hợp (tay hợp với chân, khuỷu hợp với đầu gối, vai hợp với hông).

Phần 92

Trang sách 380

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, cách sửa chữa

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, cách sửa chữa

1. Lỗi: khi chuyển thân thân thể đứng không vững, khiến thân thể xiên lệch thậm chí chân trái chạm đất. Nguyên nhân chủ yếu là không nắm được vị trí chính xác của trọng tâm thân thể và khống chế lực lượng xoay chuyển không tốt. Sửa chữa: eo hông và tứ chi phối hợp sinh ra một lực lượng xoay sang trái, phải xoay vừa đúng chỗ; ngoài dùng lực thích đáng còn phải có một động tác chế động. Cho nên, sau khi xoay chuyển chân phải hạ trầm, chân trái hơi vào trong hợp, bàn chân phải hạ đất cố định và căn bản nhất là eo hông xoay chuyển khống chế; như vậy, không những được góc xoay lý tưởng (phương hướng cần thiết), mà còn khiến xoay chuyển nhẹ nhàng linh hoạt.

2. Lỗi: phương hướng chuyển thân không chính xác. Nguyên nhân chủ yếu là không chú ý đến cách dùng. Đối phương từ sau lưng tôi dùng tay phải đánh tới, phương hướng công thủ của tôi phải là sau lưng của "tả hữu phân cước" (tây) mới hợp yêu cầu. Sửa chữa: sau tả phân cước di động là (45°+90°) khoảng 135° cả thảy, tức là từ đông bắc chuyển sang tây (phương hướng đặng cước).

3. Lỗi: chân trái duỗi thẳng bày động. Nguyên nhân chủ yếu là muốn lợi dụng lực bày chân để chuyển động thân thể, điều này làm mất ý nghĩa cách dùng của đặng cước, hơn nữa xoay chuyển cũng không dễ khống chế phương hướng. Sửa chữa: phải (Chân trang này có một bức ảnh thôi thủ không đánh số, không có số hình và không có chú thích.)

chân trái huyền nhấc xoay chuyển.

4. Lỗi: khi đặng chân vị trí hai tay không tốt. Nguyên nhân chủ yếu là người mới học quá muốn xoay chuyển động tác và duy trì thăng bằng. Sửa chữa: cánh tay tách ngang, tay trái ra trước (tây) tay phải xiên (đông bắc); như hai tay tách 180° thì sẽ tán, ắt nhiên hình thành ưỡn ngực, hơn nữa trước ngực quá trống, dễ bị tiến công.

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Động tác chuyển thân chính xác, là then chốt của động tác này, cho nên phải luyện tập lặp lại, thể hội. Trên cơ sở phân giải luyện tập từng chi tiết, rồi luyện tập chỉnh thể lặp lại.

2. Giáo viên giảng giải trọng điểm và làm mẫu về xoay chuyển.

3. Phải làm rõ hai phương hướng: một là khi hai tay giao nhau thân thể hướng tây bắc; hai là đặng chân hướng tây.

VII. Phân tích kỹ thuật

Đặc điểm của động tác này là xoay chuyển, trọng điểm và điểm khó của kỹ thuật cũng là xoay chuyển. Xoay chuyển tiến hành dưới sự chống đỡ một chân, cho nên then chốt ở trọng tâm. Thân người vừa làm động tác, trọng tâm liền phải phát sinh biến hóa; phương hướng di động của vị trí trọng tâm luôn nhất trí với phương hướng di động của thân người; trọng lượng thân thể và khoảng cách di động càng lớn (như chân trái của động tác này), thì khoảng cách di động của trọng tâm cũng càng lớn. Chân trái đặng ra khi thân thể đã xoay chuyển, chân phải là chống đỡ một chân, chân trái huyền nhấc ở bên trái, trọng tâm ắt nhiên dời trái, người mới học rất dễ đứng không vững mà chân trái hạ đất, hoặc dùng thân trên nghiêng phải để thăng bằng, điều này không hợp với quyền luận nói: "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông". Nói chung, then chốt kỹ thuật của tả đặng cước ở xoay chuyển; xoay chuyển tốt tức là vận dụng tốt chuyển eo hông và sự phối hợp di động thích đáng của tay chân.

Thế thứ ba mươi ba: Tả hữu lâu tất áo bộ

I. Cách dùng

Giống thế thứ chín ở trước, Tả hữu lâu tất áo bộ.

II. Quá trình động tác

Khi nối tiếp từ tả đặng cước sang tả lâu tất áo bộ, phải làm tốt Toàn bộ trang này là các ảnh tư thế, xếp thành ba hàng ngang trên trang. Trang này không có văn bản chạy.

图 187A
图 187A
tả lâu tất ảo bộ: thân xoay sang trái, chân trái nhấc lên và bước ra, tay trái quét xuống qua đầu gối trái.
图 187B
图 187B
tả lâu tất ảo bộ: tay trái đã quét qua đầu gối, chưởng phải đẩy ra trước, thế cung bộ trái đã thành.
图 188
图 188
hữu lâu tất ảo bộ: thân xoay sang phải, chân phải nhấc lên, tay phải quét xuống.
图 189
图 189
hữu lâu tất ảo bộ: tay phải quét qua đầu gối phải, tay trái nâng bên hông.
图 190
图 190
hữu lâu tất ảo bộ: hai tay đang chuyển tiếp, trọng tâm dời, bước chân xoay.
图 191
图 191
hữu lâu tất ảo bộ: chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái thu về bên hông, thế cung bộ phải đã thành.
图 192
图 192
tả lâu tất ảo bộ lần nữa: tay trái quét xuống, tay phải nâng trước ngực, nhìn chính diện.
图 193
图 193
tả lâu tất ảo bộ lần nữa: thế cung bộ trái với chưởng phải đẩy ra trước, nhìn nghiêng.

Động tác của hình trước: chân phải tiếp tục chìm xuống, chưởng phải vạch cung dời đến bên tai phải, cánh tay trái vạch cung thu về trước bụng, rồi tiếp tục đi xuống và sang trái (xem hình thứ hai trên trang này). Các động tác khác giống thế thứ chín, "Tả hữu lâu tất ảo bộ", chỉ khác là phương hướng ngược lại (xem các hình còn lại trên trang này và trang sau).

Các điều như yếu lĩnh đều giống nhau, chỉ khác phương hướng.

Thế thứ ba mươi tư: Tiến bộ tài chùy

Phần 93

Trang sách 381

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu đối phương lại dùng chân trái đá tới, ta liền dùng tay trái thuận theo thế chân của đối phương mà gạt từ bên trái đi, thế thì đối phương ắt phải chúi sang trái, ta liền đưa chân trái đồng thời tiến lên một bước đuổi theo, khuất đầu gối trái ngồi vững, tay phải liền nắm quyền, đấm xuống bên hông hoặc ống chân đối phương đều được, đấy gọi là tài chùy. Lúc đó chân phải duỗi thẳng, lưng hông chìm xuống thành hình cong bằng, ngực hàm, mắt nhìn tới trước, đặc biệt phải chú ý giữ vững trung thổ của mình.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể dần xoay sang phải, mũi chân phải xoay ra ngoài đạp vững, trọng tâm theo đó dần dời sang chân phải, chân trái nhấc lên tiến về trước; đồng thời, chưởng phải đi xuống, song song với mặt đất hướng sang bên người sang phải ra sau lật chưởng nắm quyền, dời đến bên hông phải, chưởng trái theo thân xoay từ trước sang phải, qua trước ngực phải vạch cung gạt xuống, ánh mắt chăm nom chưởng trái gạt xuống (xem hai hình đầu trên trang này).

2. Thân thể tiếp tục hơi xoay sang phải, chân trái bước lên phía trước một bước, trước tiên lấy gót chân chạm đất, trong khi trọng tâm dần dời về trước, cả bàn chân trái đạp vững, cung chân trái, đạp chân phải thành thế cung bộ trái, đồng thời thân thể dần xoay sang trái, chìm lưng hông, theo thân xoay chưởng trái tiếp tục vạch cung đi xuống, qua trước đầu gối trái gạt lên đến bên đầu gối trái; quyền phải đồng thời đấm về phía trước dưới, hơi thấp hơn đầu gối, mắt nhìn tới trước, ánh mắt phải chăm nom quyền phải đấm ra (xem các hình tiếp theo trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Gạt đầu gối nên gạt vào lúc gót chân trái đã chạm đất, trong khi trọng tâm dời về trước và cung đầu gối trái; không gạt trước khi chân trái chạm đất, cũng không được gạt sau khi đã cung xong chân trái. Phải cung tới, gạt tới, quyền tới, ba cái cùng tới một lượt.

图 194
图 194
thân xoay sang phải, chưởng phải lật lại nắm thành quyền tại hông phải, chưởng trái quét xuống qua trước ngực phải.
图 195A
图 195A
chân trái bước lên phía trước, gót chân chạm đất trước, trọng tâm bắt đầu dời về trước, hai tay vẫn đang chuyển tiếp.

2. Trước khi quyền phải đấm về phía trước dưới, phải chú ý giữ thân thể ngay thẳng; khi quyền phải đấm xuống thì thượng thể theo đó gập lưng chúi về trước, và chìm lưng hông, nhưng khi gập lưng, đầu cổ và lưng vẫn phải giữ thành một đường thẳng (đốt sống cổ, đốt sống ngực, đốt sống thắt lưng cơ bản thành một đường thẳng), không được cúi đầu gù lưng, phải giữ "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông".

3. Mắt nhìn phía trước quyền phải, không được ngẩng đầu, cũng không được cúi đầu.

4. Hai khuỷu tay phải hơi khuất, không được duỗi thẳng, chưởng trái phải ngồi cổ tay.

IV. Yêu cầu

1. Chân trái nhấc lên bước tới trước, động tác phải đều, không được lúc nhanh lúc chậm.

2. Từ lúc thân bắt đầu xoay sang phải, tay trái tay phải đều phải động cùng nhau, đặc biệt phải chú ý tay trái không được dừng lại.

3. Thân xoay sang phải không được quá nhiều (không được mặt hướng bắc).

4. Sau khi cả bộ động tác đã khá thuần thục, thì nên dần nâng cao lượng vận động; một cách là hạ thấp độ cao của gốc hông, khiến đầu gối gần ngang với hông, làm tăng gánh nặng cơ bắp của lưng và chân.

Trọng tâm phải giữ ở một mặt phẳng, thân thể không lúc cao lúc thấp, không lấy khéo mượn sức. Khi chuyển động tác, gốc hông thu vào hạ thấp, thân thể giữ trung chính, như vậy sức chân sẽ tăng cường, lượng vận động nâng cao thì càng tăng cường thể chất. Đương nhiên, người luyện tập mà điều kiện sức khỏe tạm thời chưa cho phép thì không thể hạ thấp ngay một lúc quá nhiều, để tránh quá mệt.

5. Nắm quyền không nên quá chặt, cũng không được hoàn toàn lỏng mà nắm thành quyền rỗng.

6. Không được cúi đầu gù lưng.

图 195B
图 195B
thế cung bộ trái đã thành, quyền phải tài xuống và ra trước, chưởng trái bên đầu gối trái.
图 196
图 196
thế cung bộ trái nhìn nghiêng, quyền phải đấm xuống hơi thấp hơn đầu gối.
图 197A
图 197A
thế cung bộ trái nhìn chính diện, cánh tay phải hạ xuống cùng quyền, tay trái ấn tại đầu gối.

Phần 94

Trang sách 382

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

1. Lỗi: xuất quyền quá cao, quyền từ trước ngực, bên vai đấm xuống. Nguyên nhân chủ yếu là vạch hão một vòng tròn. Sửa chữa: xuất quyền nên từ bên hông, đấm về phía trước dưới.

2. Lỗi: mắt nhìn xuống dưới. Nguyên nhân chủ yếu là chưa coi trọng cách dùng, lầm tưởng rằng mắt nên nhìn điểm quyền đánh trúng. Sửa chữa: ánh mắt phải chăm nom chưởng phải, nhưng chủ yếu là mắt phải quan sát biến hóa của đối phương, cho nên không nên nhìn xuống.

3. Lỗi: tay phải đã nắm quyền từ khi mới dời đến bên hông. Nguyên nhân là chưa hiểu cách dùng. Sửa chữa: quyền ngạn nói: "Khứ thì tán thủ, trước nhân thành quyền." Cho nên, tay phải phải đến khi sắp tới vị trí mới nắm quyền.

4. Lỗi: thượng thể cong về trước, cúi đầu. Nguyên nhân chủ yếu là bỏ qua yêu cầu "trên dưới cơ bản một đường thẳng". Sửa chữa: thân pháp phải trung chính; tuy biên độ cong lưng lớn, nhưng vẫn phải "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông", tránh cong lưng gù lưng.

VI. Phân tích kỹ thuật

Trong toàn bộ Dương thức Thái Cực Quyền, động tác thượng thể cong về trước không nhiều; Tiến bộ tài chùy là một trong số đó. Đặc điểm của nó là hình thức thượng thể chúi về trước. Hiểu thế nào về vận dụng "vĩ lư trung chính" trong động tác này — đó là hiểu về trung chính bất thiên và trung chính chi thiên. Luyện quyền không thể không có co duỗi; có khi biên độ cong lưng rất lớn, nhưng chỉ cần vẫn giữ nguyên tắc "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông" thì vẫn được phép; đấy gọi là "trung chính chi thiên", nội kình vẫn trung chính bất thiên. Cho nên không được cong lưng gù lưng, không được cúi đầu cong lưng.

Thế thứ ba mươi lăm: Phiên thân phiết thân chùy

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu lại có đối phương từ sau thân dùng quyền đánh tới, ta liền xoay thân từ phải ra sau, chân trái ngồi vững, chân phải nhấc lên tiến về trước, bước ra nửa bước, quyền phải đồng thời nhấc lên phiết ra sau và ra chính diện, mu bàn quyền chìm xuống, hoặc giữ lấy khuỷu tay đối phương, hoặc ngầm dùng thái kình, đều được.

图 197B
图 197B
thế cung bộ trái ở thời điểm đấm, nhìn từ phải trước, quyền phải tài xuống dưới đầu gối.
图 198A
图 198A
đứng dậy khỏi thế cung bộ, thân bắt đầu xoay, hai tay động theo khi trọng tâm nâng lên.
图 198B
图 198B
thân đã xoay qua, cánh tay phải nâng lên, tay trái bắt chéo trước ngực.

Tay trái đồng thời theo quyền phải, đấm ra bằng quyền vào mặt đối phương để trợ thế phiết của quyền phải; thân thể phải tiến theo động tác, như vậy sẽ đắc thế.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể đứng thẳng lên, xoay sang phải; đồng thời mũi bàn chân trái khấu vào trong đạp vững, theo thân xoay quyền phải nhấc lên khuất khuỷu vắt ngang cánh tay dời đến trước sườn trái, tâm quyền hướng xuống; chưởng trái từ bên trái vạch cung nâng lên đến phía trên trước trán trái, mặt hướng bắc. Mắt theo thân xoay nhìn ngang chuyển dời, ánh mắt phải chăm nom hai tay di động (xem hình đầu trên trang này).

2. Các động tác về sau giống thế thứ hai mươi tư, "Phiết thân chùy", chỉ là phương hướng đường đi của bài quyền ngược lại (động tác này hướng đông) (xem các hình tiếp theo trên trang này).

图 199
图 199
thân đứng thẳng và xoay sang phải, cánh tay phải khuất khuỷu vắt ngang về trước sườn trái, chưởng trái nâng lên trên trán trái.
图 200
图 200
thân đã xoay mặt hướng bắc, cẳng tay phải nằm ngang trước ngực, chưởng trái ở trên đầu.
图 201
图 201
thời điểm xoay qua, quyền phải bắt đầu phiết ra, tay trái giữ mặt.
图 202A
图 202A
quyền phải phiết ra trước, tay trái bên hông, bước chân đã đặt xuống, nhìn chính diện.
图 202B
图 202B
cùng thời điểm đó nhìn nghiêng, mu bàn quyền phải hướng xuống, chưởng trái thu về.

(Ở góc dưới bên trái trang này còn có một ảnh đẩy tay, không đánh số, không có đề hình.)

…các hình trên trang trước).

Thế thứ ba mươi sáu: Tiến bộ ban lan chùy Giống thế thứ hai mươi lăm ở trước, "Tiến bộ ban lan chùy", nhưng phương hướng đường đi của bài quyền ngược lại. Xem các hình trên trang này (giống bộ năm hình trước).

图 203
图 203
bước lên phía trước, quyền phải thu về bên hông, chưởng trái trước ngực.
图 204A
图 204A
chưởng trái ban ra bên trái, quyền phải tại hông, thân xoay.
图 204B
图 204B
cùng thời điểm nhìn chính diện, cẳng tay trái nằm ngang, quyền phải đã nắm.
图 205
图 205
quyền phải bắt đầu đấm ra trước, chưởng trái thu về phía trong cẳng tay phải.
图 206
图 206
quyền phải đấm ra trước, chưởng trái ấn phía trong khuỷu tay phải, thế cung bộ trái đã thành.
图 207
图 207
đòn đấm phải đã hoàn thành, nhìn nghiêng, thế cung bộ trái, hai tay duỗi ra trước.

Thế thứ ba mươi bảy: Hữu đăng cước

Phần 95

Trang sách 383

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu đối phương dùng tay trái đẩy cánh tay phải của ta sang trái, lúc đó ta liền thuận thế quấn cổ tay phải của mình từ dưới cổ tay đối phương, dùng tay phải từ phải sang trái ban ra; đồng thời, mũi chân trái xoay ra ngoài đạp vững, thân thể cũng hơi xoay sang trái, dùng chân phải đăng ra chính diện (hướng đông), thân cũng từ trái xoay về chính diện, hai tay tách ra tương xứng với chân, lưng hông chìm xuống.

Một cách dùng khác: khi chưởng trái của đối phương bị ta dính chặt, hắn dùng tay phải đánh thẳng tới, ta gấp dùng tay trái ban sang trái, rồi dùng chân phải đăng ra.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể dần xoay sang trái, mũi bàn chân trái xoay ra ngoài đạp vững, đầu gối trái hơi khuất, ngồi vững chân trái, trọng tâm dần dời hết sang chân trái, chân phải nhấc lên tiến về trước. Đồng thời, chưởng trái theo thân xoay dời sang trái trước lên trên. Theo đà dời, cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm chưởng chuyển hướng vào trong; chưởng phải từ phải trước đi xuống sang trái vạch cung hất lên, theo đà hất, cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm chưởng chuyển hướng vào trong và hợp ôm cùng chưởng trái, bắt chéo trước ngực, chưởng phải ở ngoài. Mắt nhìn ngang về phía phải trước, ánh mắt phải chăm nom hai chưởng hợp ôm (xem hai hình đầu trên trang này).

2. Chân phải tiếp tục nhấc lên, dùng gót chân chậm rãi đăng ra chính diện (hướng đông), mũi chân hướng lên; chân trái theo đà chân phải đăng ra dần đứng thẳng lên, đầu gối vẫn hơi khuất; đồng thời, hai chưởng tách ra trái phải. Mắt chăm nom chưởng phải tách ra, và qua chưởng phải nhìn ngang sang phải (xem hình thứ ba trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Hữu đăng cước phải lấy gót chân làm điểm phát lực.

2. Khi đăng cước thân thể phải ổn định, không được chúi, ngửa, nghiêng lệch; phải toàn thân buông lỏng, ổn định trọng tâm, động tác hòa thuận nhịp nhàng, ngực rộng thoáng, bụng sung mãn, trọng tâm hạ xuống, khiến chi dưới vững chắc, chi trên nhanh nhẹn, thân thể phải đạt trên dưới cơ bản một đường thẳng.

IV. Yêu cầu

1. Lưng xoay sang trái, phiết chân trái, hai tay di động, chân phải nhấc lên trước đều phải tiến hành đồng thời. Bởi vì ta ban tay trái của đối phương sang trái, ắt phải được sức lưng chống đỡ, mới có thể khiến kình lực đạt đến các phần của chi thể.

图 208
图 208
chân trái ngồi vững, chân phải nhấc lên, hai chưởng bắt chéo hợp ôm trước ngực, chưởng phải ở ngoài.
图 209
图 209
hai chưởng hợp ôm bắt chéo trước ngực, đầu gối phải nhấc lên, mắt nhìn tới trước.
图 210
图 210
chân phải đăng ra bằng gót chân, gót dẫn trước, hai chưởng tách trái phải ngang vai.

2. Khi chân phải đăng ra, chân trái chống đỡ toàn bộ trọng lượng thân thể không được duỗi thẳng hoàn toàn, hai cánh tay tách ra cũng không được duỗi thẳng hoàn toàn. "Kình dĩ khúc súc nhi hữu dư". Cho nên, các khớp của tứ chi yêu cầu phải khuất mà không thẳng.

3. Phương hướng đăng chân phải chuẩn, phải đăng về phía bên phải (đông), bởi vì đối phương ở phía phải trước của ta.

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

1. Lỗi: phương hướng đăng chân không chuẩn, không lệch trái thì lệch phải. Nguyên nhân chủ yếu là chân trái rút sang trái quá nhiều hoặc quá ít. Sửa chữa: chân trái rút sang trái nên khoảng 45°, khi mới luyện phải kiểm tra sửa lại nhiều lần.

2. Lỗi: hai tay tách ra không tương xứng với chân, có các lỗi khác nhau về cao, thấp, rộng, hẹp, tốc độ. Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu đủ cách dùng hai tay tách ra tương xứng với chân. Sửa chữa: ngón tay cao khoảng ngang mày, tay phải cùng phương hướng với chân phải, tay trái ở phía chéo sau bên trái, phải đạt chân tới tay tới.

3. Lỗi: khi hai tay bắt chéo hợp ôm thì quá gần ngực gọi là "biệt", có người hai tay lỏng mềm vô lực. Nguyên nhân chủ yếu là chưa chú ý đủ đến thủ pháp. Sửa chữa: phải ngồi cổ tay giãn chưởng, hai cánh tay sung mãn, như vậy vừa thuận lợi cho hô hấp, mà sau khi luyện lâu còn có thể dùng thân dẫn tay, dùng tay dẫn thân, thuận thế xoay vòng, có lợi cho kiện thân và tác dụng kỹ kích.

4. Lỗi: phương hướng xoay chuyển của thân thể không đúng, khi chân trái phiết sang trái thì thượng thể không xoay mà vẫn hướng tới trước (đông). Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu cách dùng. Ta dùng cổ tay phải thuận thế ban cổ tay trái của đối phương sang trái; nếu vận dụng sức lưng thích đáng thì có thể khiến kình lực toàn thân tập trung vào một điểm; nếu tay và lưng thoát rời, chỉ dùng sức của tay mà ban cứng thì không hợp yêu cầu kỹ kích. Từ góc độ kiện thân mà nói, nếu lưng hông cứng đờ không động thì không thể rèn luyện cơ bắp lưng, thiếu tác dụng nội ma sát đối với nội tạng. Vì thế quyền luận nhấn mạnh "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian". Sửa chữa: lưng là then chốt xoay chuyển của thượng hạ thể, khi ban sang trái thì lưng phải đồng thời xoay sang trái.

(Ở phần dưới trang này còn có một ảnh đẩy tay, không đánh số, không có đề hình.)

…tập trung vào một điểm. Nếu tay và lưng thoát rời, chỉ dùng sức của tay mà ban cứng thì không hợp yêu cầu kỹ kích. Từ góc độ kiện thân mà nói, nếu lưng hông cứng đờ không động thì không thể rèn luyện cơ bắp lưng, thiếu tác dụng nội ma sát đối với nội tạng. Vì thế quyền luận nhấn mạnh "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian". Sửa chữa: lưng là then chốt xoay chuyển của thượng hạ thể, khi ban sang trái thì lưng phải đồng thời xoay sang trái.

Phần 96

Trang sách 384

VI. Cách dạy và cách luyện tập

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giáo viên phải quan sát động tác các phần thân thể từ chính diện và bên hông.

2. Trọng điểm phải đặt vào sự ổn định của đăng cước, phải luyện tập lặp lại nhiều lần.

3. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: Giáp — làm tốt Tiến bộ ban lan chùy; Ất — từ phía trước dùng tay trái đẩy cánh tay phải của Giáp sang trái; Giáp — liền dùng cổ tay phải thuận thế vòng từ dưới cổ tay Ất, dùng tay phải ban cổ tay trái của Ất sang trái, chân phải đăng ra chính diện, hai tay tách ra. Hai người đổi vị trí rồi luyện lại.

4. Phương pháp tăng dần: (1) Tay trái dời ngang sang trái, tay phải hơi vạch cung xuống sang trái, hai tay hợp (bắt chéo) trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong. (2) Như trên, thêm phiết chân trái sang trái, nhấc chân phải lên, mặt hướng đông bắc. (3) Như trên, thêm chân phải đăng ra chính diện (đông), hai tay tách ra.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Đặc điểm của động tác này là một chân độc lập, một chân nhấc lên đăng ra; điểm khó là làm sao đứng vững. Cho nên, chân đứng phải có khớp đầu gối khuất mà không thẳng, lòng bàn chân đạp phẳng thật xuống đất, kình của nó như quấn vào lòng đất, khiến kình khởi từ gót chân, ý hướng lên trên, mà cột sống buông lỏng chìm thẳng đứng, xương cùng ổn định có lực, khí chìm xuống tiểu phúc, kình đũng chìm xuống, còn huyệt bách hội trên đỉnh đầu luôn luôn hư lĩnh đỉnh lên trên. Đấy là "hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền", cách luyện nâng đũng quán đỉnh, có tác dụng đối lạp bạt trường trên dưới. Hạ bàn phải luyện theo cách giữ vững ổn định trong khi biến đổi, vững chắc như rễ cây lớn không thể lay động. Vì thế phải không ngừng điều chỉnh trọng tâm trong nhiều lần luyện tập, từ đó dần nắm được vị trí đúng của trọng tâm, đạt tới đứng vững trên một chân.

2. Hữu đăng cước là hóa rồi tức công, cho nên, trong ý thức không được lờ mờ động tác của tay, mà phải có mục đích di động rõ ràng, như vậy động tác của tay sẽ không tán loạn, vô lực.

3. Khi đăng chân, nói chung dễ dùng lực, đăng ra nhanh chóng. Theo yêu cầu của "Thái Cực Quyền thuyết thập yếu", toàn bộ các thế quyền đều nên dụng ý bất dụng lực. Cho nên khi hữu đăng cước phải trước tiên nhấc chân tập trung lực vào khớp đầu gối, dây chằng vùng hông kéo mở, nhẹ nhàng chậm rãi đăng chân ra. Luyện Thái Cực Quyền phải toàn thân buông lỏng, không để chút nào chuyết kình lưu trệ giữa gân cốt huyết mạch mà tự trói buộc mình, sau đó mới có thể khinh linh biến hóa, viên chuyển tự như. Nếu không dùng lực mà dùng ý, ý đến đâu khí đến đó, như vậy, khí huyết lưu chú, ngày ngày quán thâu, chu lưu toàn thân, không lúc nào đình trệ. Luyện lâu ngày, thì đắc chân chính nội kình.

Thế thứ ba mươi tám: Tả đả hổ thức

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu đối phương từ phía trước bên trái của ta dùng tay trái đánh tới, ta liền hạ chân phải xuống, đạp ngang bằng với chân trái, hai tay trái phải theo đó xoay sang bên trái, chân trái bước chéo ra bên trái, khuất đầu gối ngồi vững, chân phải biến thành hư, thành thế cung bộ trái, mặt hướng chính bên, hai tay đồng thời đãng quyền theo đà hạ xuống rồi hợp sang trái; liền dùng chưởng phải nắm giữ cổ tay trái của đối phương, hái xuống phía trái dưới, dời đến đối diện vùng tâm, quyền trái từ ngoài trái lật lên, chuyển đến bên góc trán trái, tâm quyền hướng ra ngoài, gấp đánh vào đầu đối phương, hoặc dùng quyền phải đánh vào lưng đối phương. Thế này dĩ thoái vi tiến, chợt mở ôm hợp ý ngậm hung mãnh, cho nên gọi là đả hổ thức.

II. Quá trình động tác

1. Chân trái dần ngồi xổm xuống, chân phải hạ xuống. Đồng thời, chưởng trái từ bên trái qua trước trán, vạch cung dời ngang sang phải, theo đà dời cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm chưởng dần lật hướng vào trong; chưởng phải đồng thời hơi dời xuống dưới, theo đà dời cánh tay xoay vào trong khiến tâm chưởng dần hướng xuống, ánh mắt chăm nom chưởng phải (xem hình đầu trên trang này).

2. Chân trái tiếp tục ngồi xổm xuống, chân phải hạ xuống bên cạnh chân trái, khoảng cách hai chân hơi hẹp hơn vai, trước tiên dùng mũi chân chạm đất, trọng tâm dần dời sang chân phải, chân phải cả bàn chân đạp vững, chân trái liền nhấc lên. Hai chưởng theo trọng tâm dời sang chân phải, đồng thời tiếp tục dời sang phải dưới, chưởng trái qua phải…

图 211
图 211
chân trái chìm xuống, chân phải hạ xuống, chưởng trái vạch cung sang phải qua trước trán, chưởng phải dần lật úp xuống.
图 212
图 212
chân phải đặt xuống bên cạnh chân trái, trọng tâm dời lên chân phải, hai chưởng tiếp tục dời sang phải dưới.

…bên cánh tay trên, theo đà dời cánh tay trái tiếp tục xoay ra ngoài khiến tâm chưởng lật hướng lên, hai tay hơi thấp hơn vai, mắt nhìn ngang tới trước, ánh mắt phải chăm nom hai chưởng (xem hình thứ hai trên trang này).

3. Chân phải tiếp tục ngồi xổm xuống, thân thể xoay sang trái (hướng bắc lệch tây), chân trái bước ra phía chéo sau bên trái, trước tiên dùng gót chân chạm đất; theo trọng tâm dời sang chân trái đến cả bàn chân đạp vững, cung chân trái, đạp chân phải, thành thế cung bộ trái. Theo trọng tâm di động và thân xoay, chưởng trái từ ngực phải, trước bụng qua trước đầu gối trái vạch cung từ phải dưới lên trên (phản lâu tất), dừng ở trên trước trán trái (khi sắp tới thì nắm quyền). Khi quyền trái từ trái vạch cung lên, cánh tay trái theo thân xoay, cánh tay phải hơi khuất, chưởng phải từ phải dời ngang qua trước ngực sang trái, cánh tay phải khuất khuỷu đặt ngang trước bụng trên, theo đà dời cánh tay phải dần hơi xoay ra ngoài khiến tâm chưởng dần lật hướng chéo xuống; khi chưởng phải tới trước ngực thì theo đà từ chưởng biến thành quyền, mắt quyền hướng chéo sang trái, tâm quyền hướng chéo xuống, mắt quyền trái phải cơ bản đối nhau trên dưới. Đồng thời, thượng thể hơi xoay sang phải; ánh mắt trước tiên chăm nom tay trái, khi quyền trái sắp tới trên trước trán trái thì nhìn ngang tới trước (xem các hình tiếp theo trên trang này và trang sau).

Phần 97

Trang sách 385

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Sau hữu đăng cước khi chân phải hạ xuống, chân trái phải "đưa", tức là phải do chân trái chậm rãi khuất đầu gối ngồi xổm xuống để khống chế chân phải nhẹ nhàng chậm rãi chạm đất, như vậy mới hợp yêu cầu khinh linh, trầm ổn. Đồng thời, trọng tâm hạ xuống là hợp với yêu cầu cách dùng tay phải hái quyền trái của đối phương xuống phía trái.

2. Chân trái bước ra sau bên trái thì thượng thể phải ngay thẳng, thân pháp phải "trung chính bất thiên"; khi luyện quyền bất luận tiến, thoái, xoay trái, chuyển phải, động tác tứ chi bất luận chuyển hoán thế nào, từ đỉnh đầu đến thân mình đến huyệt hội âm, luôn luôn phải thành một đường thẳng.

3. Chân trái bước ra phải chú ý chuyển hoán hư thực của hai chân: chân phải ngồi vững rồi mới chậm rãi bước chân trái, khiến động tác bình ổn thư triển trung chính bất thiên, không có chỗ nào lắc lư không vững.

图 213A
图 213A
chân trái bước ra phía chéo sau bên trái, chưởng trái vạch cung từ phải dưới lên trên trán trái.
图 213B
图 213B
thế cung bộ trái đang thành, quyền trái tại trán trái, cánh tay phải khuất ngang trước bụng trên.
图 214A
图 214A
thế Tả đả hổ đã thành, nhìn chính diện, hai quyền đối nhau trên dưới.

4. Hai tay di động phải đi theo hình cung, không được có góc cạnh. Động tác hình cung của Thái Cực Quyền là ngoại hình tất yếu có khi nội kình xoay chuyển vận hành, là kỹ thuật "triêm liên niêm tùy", "dẫn tiến lạc không", đây …là hợp yêu cầu cách dùng hai tay đãng quyền theo đà hạ xuống rồi hợp sang trái, hái xuống phía trái dưới.

5. Khi thành định thế đả hổ thức, hai cánh tay phải vạch cung sung mãn; như Tả đả hổ, quyền phải phải rời thân thể một chút.

IV. Yêu cầu

1. Hai chưởng đến khi sắp tới vị trí mới nắm quyền.

2. Chân trái của Tả đả hổ chạm đất, chân phải của Hữu đả hổ chạm đất là hai góc chéo, cái trước hướng tây bắc, cái sau hướng đông nam, phương hướng phải đúng.

3. Phải đầu gối tới quyền tới, không được đầu gối đã cung tới mà tay còn đang vạch cung; phải trên dưới tương tùy.

4. Ánh mắt nhìn ngang đều từ đông nam dời sang tây bắc (khi Hữu đả hổ thì từ tây bắc dời sang đông nam).

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

1. Lỗi: khi nối hữu đăng cước, chân phải hạ xuống đạp đất, chân trái không chìm xuống. Nguyên nhân chủ yếu là thể hội cách dùng chưa sâu. Sửa chữa: phải là khi chân phải hạ xuống, chân trái khuất đầu gối ngồi xổm, chân phải cọ đất, chân trái bước ra sau bên trái, như vậy mới hợp yêu cầu dĩ thoái vi tiến; hơn nữa nhấc chân phải khuất chân trái thì gánh nặng cơ bắp của chân trái khá lớn, nếu chân phải hạ xuống mà chân trái không chìm thì hiệu quả rèn luyện kém đi rất nhiều.

2. Lỗi: không dùng lưng để dẫn dắt tay, tay động mà lưng không động. Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu sâu nội kình thông qua trục lưng xoay chuyển mà đẩy dẫn quán…

图 214B
图 214B
thế Tả đả hổ nhìn từ trái trước, quyền trái tại trán, quyền phải trước bụng trên.
图 215A
图 215A
Tả đả hổ nhìn từ sau, cánh tay trái nâng lên, quyền phải tại bụng, trọng tâm trên chân trái.
图 215B
图 215B
Tả đả hổ nhìn nghiêng, thế cung bộ trái, quyền trái trên trán, quyền phải giữ bụng.

…chú đến đầu ngọn tứ chi, và đối với vận dụng kình lưng thích đáng có thể tăng cường phát lực, thể hội chưa sâu. Sửa chữa: phải hiểu then chốt xoay chuyển của thượng hạ chi nằm ở lưng, nên dùng lưng dẫn dắt tay.

3. Lỗi: khi định thế phương hướng mắt quyền của hai quyền không đúng, vị trí cao thấp không đúng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu đủ yêu cầu nắm quyền. Sửa chữa: điểm rơi của xuất quyền, quyền và cẳng tay thành đường thẳng, khi gặp lực cản thì cổ tay không dễ bị thương. Cho nên, Tả đả hổ quyền phải ở dưới hơi chéo, mắt quyền hướng chéo vào trong, mắt quyền trái hướng chéo sang phải, tâm quyền hướng chéo ra ngoài. Quyền trái ở trước trán trái phải cao hơn đầu, quyền phải ở dưới nên ở trước bụng trên.

4. Lỗi: phương hướng di động của bước chân không đúng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu đủ cách dùng. Sửa chữa: phương hướng mũi chân khi chạm đất liên quan đến gốc hông căng hay mở, từ đó ảnh hưởng thân pháp. Khi hữu đăng cước nối Tả đả hổ, chân trái đưa chân phải hạ xuống, mũi chân phải chéo (hướng bắc lệch đông), chân trái nhấc lên bước sang trái phải thì mũi chân chéo hướng tây bắc.

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Giáo viên quan sát động tác của người luyện từ mọi phương hướng, như từ chính diện xem cao thấp, khoảng cách của hai quyền, từ góc chéo xem phương hướng bước ra.

2. Giúp người luyện nhanh chóng định phương hướng chân và hướng mặt của thân thể. Có thể không đặt yêu cầu cho hai tay, luyện lặp lại phương hướng xuất cước, sau đó luyện bước tiến phối hợp tay chân. Khi Tả đả hổ định thế, chân trái góc chéo hướng tây bắc, thân thể mặt hướng bắc lệch tây, chân phải chéo.

(Ở phần dưới trang này còn có một ảnh đẩy tay, không đánh số, không có đề hình.)

…khi đó chân phải chéo hướng đông nam, thân thể mặt hướng đông nam lệch nam.

3. Luyện lặp lại động tác chân trái "đưa" chân phải hạ xuống, để tăng sâu thể hội hư thực, và tăng cường sức chân.

4. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: Giáp — làm định thế hữu đăng cước. Ất — từ phía trước bên trái của Giáp dùng tay trái đánh Giáp. Giáp — chân phải hạ xuống chân trái ngồi xổm, đổi chân đứng vững, chân trái bước ra sau bên trái, dùng chân phải nắm giữ cổ tay trái của Ất, hái xuống phía trái, chưởng trái từ ngoài trái lật lên biến thành quyền, đánh vào đầu Ất. Thể hội cách dùng động tác hai tay, và đổi vị trí luyện tập.

5. Phương pháp tăng dần: (1) Chân trái ngồi xổm "đưa" chân phải hạ xuống. (2) Như trên, bước chân trái. (3) Như trên, hai cánh tay di động. (4) Định thế (Tả đả hổ). (5) Khấu mũi chân trái vào trong, nhấc chân phải, hai quyền biến chưởng. (6) Như trên, bước chân phải. (7) Như trên, hai cánh tay di động. (8) Định thế (Hữu đả hổ).

6. Gợi mở: như vì sao phải bước sang trái phải, khiến người học hiểu cách dùng dĩ thoái vi tiến.

Thế thứ ba mươi chín: Hữu đả hổ thức

Phần 98

Trang sách 386

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Nối thế trước: nếu đối phương từ phía sau bên phải dùng tay phải đánh tới, ta liền nhấc chân phải lên, lưng theo đó xoay về phía trước bên phải, chân phải bước ra bên phải, khuất đầu gối ngồi vững, chân trái biến hư thành thế cung bộ phải, hai tay đồng thời theo đà xoay vòng sang phải, rồi nắm quyền, thành thế Hữu đả hổ. Cách dùng giống Tả đả hổ thức.

II. Quá trình động tác

1. Mũi bàn chân trái khấu vào trong ngồi vững chân trái, chân phải dần nhấc lên, gót chân rời đất trước, thân thể dần xoay sang phải. Đồng thời, hai quyền biến chưởng, chưởng trái hơi chìm, tâm chưởng hướng xuống; cánh tay phải xoay ra ngoài, khiến tâm chưởng lật hướng lên, dời đến trước cánh tay trên trái. Ánh mắt trước tiên chăm nom chưởng trái, liền theo thân xoay nhìn ngang chuyển dời (xem hình đầu trên trang này).

2. Sau khi chân phải nhấc lên, thân thể tiếp tục xoay sang phải, rồi tiến về trước (đông nam) bước ra, trước tiên dùng gót chân chạm đất, theo trọng tâm dần dời…

图 216A
图 216A
mũi chân trái khấu vào trong, chân phải nhấc lên, hai quyền biến chưởng, chưởng phải lật hướng lên trước cánh tay trên trái.
图 216B
图 216B
chân phải bước tới trước hướng đông nam, trọng tâm dời, hai chưởng đang chuyển tiếp.

…sang chân phải đến cả bàn chân đạp vững, cung chân phải đạp chân trái thành thế cung bộ phải. Theo thân xoay và trọng tâm dời về trước, chưởng phải từ trước cánh tay trên trái đi xuống qua trên đầu gối phải (phản lâu tất) vạch cung lên phải; theo đà dời cánh tay phải xoay vào trong, khiến tâm chưởng dần lật hướng ra ngoài, dừng ở trên trước trán phải (biến quyền). Mắt quyền hướng chéo sang trái, tâm quyền hướng chéo ra ngoài; chưởng trái đồng thời theo thân xoay dời ngang (thấp hơn vai), khuất khuỷu vắt ngang trước bụng trên, tâm chưởng hướng chéo xuống, mắt quyền hướng chéo vào trong. Mắt nhìn ngang tới trước (xem hai hình đầu trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khấu chân trái, hai quyền biến chưởng, xoay lưng nhấc chân phải, đều phải bắt đầu cùng nhau, phải nhất động vô hữu bất động.

2. Chân trái phải khấu cho đủ.

Thế thứ bốn mươi: Hồi thân hữu đăng cước

I. Cách dùng

Giống thế thứ ba mươi bảy Hữu đăng cước, nhưng phương hướng nối tiếp hơi khác.

II. Quá trình động tác

1. Chân trái lấy mũi bàn chân làm trục, gót chân mài vào trong đạp vững, thân thể dần xoay sang trái, trọng tâm theo đó dời sang chân trái. Đồng thời, hai quyền biến chưởng, theo thân xoay dời ngang sang trái; chưởng phải vạch cung xuống sang phải, mắt theo thân xoay nhìn ngang chuyển dời (xem hình cuối trên trang này).

图 217A
图 217A
chân phải bước ra hướng đông nam, chưởng phải chìm xuống và bắt đầu vạch cung qua đầu gối phải.
图 217B
图 217B
thế cung bộ phải đang thành, chưởng phải vạch cung lên trên trán phải, chưởng trái ngang trước bụng trên.
图 218
图 218
thế Hữu đả hổ đã thành, hai quyền đối nhau trên dưới, nhìn chính diện.
图 219
图 219
xoay thân về bên trái, chưởng phải vạch cung xuống sang phải, ánh mắt dời ngang theo đà xoay.

2. Trọng tâm dần dời hết sang chân trái, thân thể tiếp tục xoay sang trái, chân phải nhấc thu về. Đồng thời, chưởng trái duỗi sang trái trước hơi lên trên, chưởng phải đi xuống qua trước bụng sang trái hợp ôm bắt chéo cùng chưởng trái trước ngực (mặt hướng bắc), chưởng trái ở trong, chưởng phải ở ngoài, tâm hai chưởng đều hướng vào trong. Mắt hơi chăm chưởng trái duỗi lên rồi chuyển nhìn ngang tới trước, như hình thứ nhất trên trang này (giống một hình trước).

3. Giống Hữu đăng cước, như hình thứ hai trên trang này (giống một hình trước).

Phần 99

Trang sách 387

III. Yếu lĩnh

III. Yếu lĩnh

1. Gót chân trái mài vào trong, phải khiến mũi chân trái hướng bắc hơi lệch đông, mới không ảnh hưởng đăng cước.

2. Sự di động của hai cánh tay phải do xoay lưng dẫn dắt; quyền luận nói "chủ tể tại yêu", cho nên, phải do xoay lưng dần dẫn dắt xoay chuyển của tứ chi.

IV. Yêu cầu

1. Khi trọng tâm dời sang chân trái, thân pháp phải trung chính, thượng thể không được chúi trước ngửa sau.

2. Phương hướng động tác phải chuẩn; khi hai chưởng hợp ôm bắt chéo, thân thể phải xoay hướng bắc, khi đăng cước mới xoay hướng đông.

Các điểm khác giống Hữu đăng cước.

图 220
图 220
trọng tâm dời lên chân trái, hai chưởng hợp ôm bắt chéo trước ngực, mặt hướng bắc.
图 221
图 221
tả đăng cước, chân đăng ra hướng đông gót dẫn trước, hai chưởng tách ra.

(Ở giữa phía bên phải trang này còn có một ảnh đặc tả bàn chân, không đánh số, không có đề hình.)

Thế thứ bốn mươi mốt: Song phong quán nhĩ

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu đối phương từ bên phải dùng hai tay đánh tới, ta liền dời mũi chân trái hơi sang phải, đứng vững. Chân phải đồng thời xoay treo về bên phải, đầu gối nhấc lên, mũi chân rủ xuống. Thân thể đồng thời theo đà xoay đến góc chính vuông bên phải (hướng đông nam). Mau chóng đưa mu hai bàn tay từ trên xuống dưới, tách hai cổ tay đối phương sang trái phải chặn giữ, liền đó hai tay nắm quyền từ dưới lên trên, dùng hổ khẩu đối nhau quán vào hai tai đối phương. Chân phải đồng thời hạ xuống phía trước biến thành thực, thân thể cũng nên có ý tiến công đôi chút.

II. Quá trình động tác

1. Chân phải hạ xuống, đầu gối phải nhấc lên, mũi chân buông lỏng rủ xuống, lấy mũi bàn chân trái làm trục, thân thể xoay phải 45° (hướng đông nam). Đồng thời, hai chưởng theo thân xoay từ trái sang phải vạch cung dời đến trước ngực, theo đà dời khuất khuỷu và hai cánh tay xoay ra ngoài, khiến tâm chưởng hướng chéo vào trong lên trên, hai khuỷu rủ xuống, hai cánh tay thành hình cung, hai chưởng cách nhau bằng vai. Mắt theo thân xoay nhìn ngang, ánh mắt phải chăm nom hai chưởng đi xuống (xem hình đầu trên trang này).

2. Chân trái dần ngồi xổm xuống, chân phải tiến về trước một bước (đông nam), trước tiên dùng gót chân chạm đất, theo trọng tâm dần dời sang chân phải đến cả bàn chân đạp vững, cung chân phải đạp chân trái, thành thế cung bộ phải; đồng thời, hai chưởng từ trước đi xuống, qua hai bên đầu gối phải tách sang trái phải, rồi hai chưởng từ dưới lên trên hội tụ, theo đà dời hai cánh tay xoay vào trong; khi đánh đến trên trước thì hai chưởng biến thành quyền, cánh tay thành hình kìm, hai quyền hơi cao hơn đầu, hai hổ khẩu hướng chéo xuống đối nhau. Mắt nhìn ngang tới trước, ánh mắt phải chăm nom hai quyền (xem các hình tiếp theo trên trang này và trang sau).

III. Yếu lĩnh

1. Khi thân thể xoay chuyển phải trung chính, không được chúi trước ngửa sau.

2. Sau khi xoay thân chân trái ngồi xổm xuống, chân phải có ý hơi nhấc lên trên, như vậy dễ thu hông, và phải buông lỏng vai, chìm khuỷu, nhấc chân, thu hông làm cùng một lượt.

3. Khi bước chân phải phải ngồi vững chân trái, thu gốc hông phải, sau đó chân trái dần ngồi xổm xuống, hai tay đi xuống đồng thời cùng duỗi đầu gối, chân phải có khống chế bước tới trước, thượng thể vẫn giữ ngay thẳng, tốc độ bước phải đều.

图 222
图 222
chân phải hạ xuống và đầu gối phải nhấc lên, mũi chân rủ buông lỏng, hai chưởng vạch cung từ trái sang phải trước ngực, hai khuỷu rủ xuống.
图 223
图 223
chân phải bước tới trước hướng đông nam, hai chưởng tách qua hai bên đầu gối phải.
图 224
图 224
thế cung bộ phải đang thành, hai chưởng hội tụ lên trên, sắp nắm thành quyền.

4. Hai chưởng phải ở lúc khuỷu rủ xuống, từ dưới lật lên trên rồi mới nắm hai quyền. Hai quyền hổ khẩu đối nhau quán đi phải nhịp nhàng thống nhất với thế cung bộ phải; độ rộng hai quyền khoảng một hổ khẩu (khoảng 20 cm).

5. Hạ hông, chìm khí, buông lỏng vai; khi hai chưởng đi xuống ngang đầu gối, lại lấy hai khuỷu chìm xuống dẫn dắt hai chưởng hạ xuống, không được chỉ để hai chưởng hạ xuống. Phải dùng kình của toàn thể, khiến mu bàn tay trầm ổn buông lỏng thanh tịnh hạ xuống.

IV. Yêu cầu

1. Khi xoay thân sang phải phải vững.

2. Sau khi xoay thân sang phải, chân trái phải ngồi vững, chân phải bước ra phải khinh linh, không được đột ngột xông tới chạm đất.

3. Nắm quyền không nên quá chặt, nhưng cũng không được hoàn toàn lỏng vô lực; phải khiến tách không mở, đánh không tán.

4. Cả động tác không được đình trệ mà phải liên quán; yêu cầu sau khi xoay thân hướng đông nam, chân trái tức ngồi xổm xuống, hai chưởng thu về dời xuống, không được vì duy trì ổn định trọng tâm mà khiến các động tác khác đình trệ. Về kỹ kích mà nói, sau khi xoay thân liền phải tách hai cổ tay đối phương đánh tới từ bên phải sang trái phải; nếu lúc đó động tác đình trệ, thì sẽ bị quyền của đối phương đánh trúng người.

5. Khi hai quyền hổ khẩu đối nhau quán đi, cánh tay không được duỗi thẳng, vẫn phải giữ hình cung, thân thể cũng chớ chúi trước thò ra.

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

1. Lỗi: phương hướng xoay thân sang phải không chuẩn (không ở đông nam). Một trong các nguyên nhân chủ yếu là khống chế không tốt, tạo thành góc xoay quá nhỏ hoặc quá lớn. Hai là chưa hiểu sâu cách dùng. Đối phương đánh tới từ bên phải, cho nên sau khi xoay phải mặt hướng về bên phải (đông nam). Sửa chữa: phải làm xoay thân lặp lại, sau khi xoay kiểm tra phương hướng có đúng không, đặc biệt chú ý góc nghiền xoay của chân trái, qua nhiều lần luyện tập, dần đạt tới xoay chuyển có khống chế.

2. Lỗi: sau khi xoay đầu gối trái không khuất, thân thể không chìm. Nguyên nhân chủ yếu là chưa hiểu cách dùng. Nếu chỉ dùng mu hai bàn tay để tách hai cổ tay đối phương sang trái phải chặn giữ, lực của nó ắt có hạn; nếu lấy kình chìm xuống của thân thể và hai khuỷu gia thêm vào hai bàn tay, như vậy lực lượng…

图 225A
图 225A
hai quyền quán lên tại tai, hổ khẩu đối nhau, nhìn chính diện.
图 225B
图 225B
thế Song phong quán nhĩ đã thành, hai quyền cao ngang đầu, cánh tay hình kìm, nhìn chính diện.

…sẽ lớn hơn. Sửa chữa: phải ở sau khi xoay thân chân trái ngồi xổm xuống, hai khuỷu chìm xuống dẫn dắt hai chưởng hạ xuống.

3. Lỗi: chân phải bước chậm nặng. Nguyên nhân chủ yếu ở chỗ gốc hông trái chưa thu vào trong, chân trái chưa ngồi vững. Sửa chữa: "Nguyên động yêu tích, kình quán tứ sao"; cho nên, khe lưng quản hai chân. Bước chân muốn khinh linh, thì phải ở hai khe lưng trái phải thay phiên rút đổi để phân hư thực; hư thực rõ thì chân trái dường như có thể bàn căn nhập địa. Như vậy, chân phải bước tới trước liền khinh linh.

Phần 100

Trang sách 388

VI. Cách dạy và cách luyện tập

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Trọng điểm dạy học phải đặt vào sự xoay chuyển trên một chân chống đỡ, mò mẫm sự phối hợp giữa xoay lưng hông, nhấc đầu gối, nghiền xoay chân trái, khiến xoay chuyển vững vàng.

2. Khẩu quyết cách dạy: chuyển, chìm, duỗi, kích.

3. Điểm khó của phép này ở chỗ chân trái khuất đầu gối chìm xuống, cái này cần sức chân, phải luyện lâu, trong khi tăng cường sức chân cũng nắm được kỹ xảo, từ đó cũng tăng cường thể chất. Trong khi luyện tập giáo viên phải nhắc người luyện: thượng thể phải thẳng, trục giữa không được cong.

4. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: Giáp — làm hữu đăng cước; Ất — dùng hai tay từ bên phải của Giáp đánh Giáp; Giáp — xoay thân sang phải, chân phải xoay chuyển, hai tay từ trên xuống dưới, tách hai cổ tay Ất sang trái phải chặn giữ, liền đó hai quyền câu kích vào hai tai Ất. Sau đó, hai người đổi nhau làm.

5. Phương pháp tăng dần: (1) Trước luyện xoay thân, yêu cầu phương hướng đúng, nhấc chân, hai tay dời đến trước thân. (2) Như trên, chân trái ngồi xổm xuống, chân phải bước tới trước gót hạ xuống đất, hai tay tách trái phải ở vị trí trước đầu gối. (3) Như trên, trọng tâm dời về trước, hai tay câu kích lên trên phía trước.

6. Đối với người mới học yêu cầu động tác đúng là được. Đối với người luyện lâu yêu cầu khinh linh; quyền luận nói: "Nhất cử động, chu thân câu yếu khinh linh", "Mỗi đả nhất thế, khinh khinh vận hành, mặc mặc đình chỉ, duy dĩ ý tư vận hành"; chỉ có cách luyện dùng ít lực, "khinh", động tác mới càng luyện càng linh hoạt, dần đạt tới "nhất vũ bất năng gia", "linh" nhạy cảm cao độ.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Động tác này là dùng một chân chống đỡ để xoay thân, lấy mũi bàn chân trái làm trục xoay chuyển. Vì góc xoay không lớn, hơn nữa hai cánh tay và chân phải đều có thể khởi tác dụng dẫn dắt và hãm lại, cho nên nói chung có thể hoàn thành khá tốt.

2. Chân trái ngồi xổm xuống, chân phải bước tới trước, động tác này không dễ làm tốt. Bởi vì một chân chống đỡ ngồi xổm xuống, cơ tứ đầu đùi v.v. gánh nặng khá lớn; tuy nhiên hai tay chỉ hạ xuống, tách ra, ảnh hưởng đến ổn định trọng tâm không lớn, nhưng muốn khinh linh bước chân phải ra thì phải buông lỏng hông phải, cái này không dễ làm tốt. Luyện lâu có thể khiến gốc hông buông mở, xoay chuyển của lưng chân liền linh hoạt, bước chân cũng khinh linh khai khoát.

Thế thứ bốn mươi hai: Tả đăng cước

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu có đối phương từ phía sườn trái đánh tới, ta gấp dùng tay trái dính chặt cánh tay phải của đối phương, từ trong ra ngoài ban ra. Chân phải tại chỗ hơi di động sang phải, chân trái đồng thời nhấc lên tiến về trước, đăng vào bụng đối phương. Các điểm khác giống thế thứ ba mươi hai, Chuyển thân đăng cước.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể hơi xoay sang phải, mũi chân phải xoay ra ngoài đạp vững, trọng tâm dần dời hết sang chân phải, chân trái nhấc lên tiến về trước. Đồng thời, hai quyền biến chưởng vạch cung tách sang trái phải, đi xuống qua trước bụng tiến lên trên hợp ôm bắt chéo trước ngực, chưởng trái ở ngoài; theo đà dời hai cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm chưởng dần lật hướng vào trong. Mắt trước tiên chăm chú hai chưởng vạch cung, khi hai cánh tay sắp bắt chéo thì chuyển nhìn ngang sang trái (xem hai hình đầu trên trang này).

2. Chân trái dùng gót chân chậm rãi đăng ra sang trái (đông). Đồng thời, hai chưởng tách ra trái phải, chân phải theo đà chân trái đăng ra dần đứng thẳng lên, nhưng đầu gối vẫn hơi khuất. Ánh mắt chăm nom chưởng trái tách ra, và qua chưởng trái nhìn ngang tới trước (xem hình thứ ba trên trang này).

3. Các điểm khác giống Hữu đăng cước, chỉ là phương hướng ngược lại.

图 226
图 226
thân thể hơi xoay sang phải, hai quyền biến chưởng vạch cung tách sang trái phải.
图 227
图 227
hai chưởng hợp ôm bắt chéo trước ngực, chưởng trái ở ngoài, đầu gối trái nhấc lên.
图 228
图 228
tả đăng cước, chân đăng ra hướng đông, hai chưởng tách trái phải.

Thế thứ bốn mươi ba: Chuyển thân hữu đăng cước

Phần 101

Trang sách 389

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Nối thế trước. Nếu có đối phương từ sau lưng bên trái đánh tới, ta liền lấy mũi bàn chân phải làm trục, xoay thân thể sang phải ra sau; chân trái đồng thời theo thân xoay thu về treo sang phải, hạ xuống ngồi vững, mũi chân hướng tới trước (bắc). Lúc này mũi bàn chân phải là trục xoay chuyển của cả thân. Hai tay theo thân hợp thu trước người, gấp dùng cổ tay phải dính chặt khuỷu cổ tay đối phương, từ trên xuống dưới, cắt ra phía bên trái. Đồng thời, chân phải nhấc lên, đăng vào sườn, bụng đối phương; tay trái phải theo đà tách sang trái phải.

II. Quá trình động tác

1. Gót chân phải rời đất, lấy mũi bàn chân phải làm trục, thân thể nhanh chóng xoay sang phải ra sau. Đồng thời, chân trái theo thân xoay từ trái qua trước sang phải sau vung ra; sau khi xoay thân hạ xuống bên mắt cá trong chân phải, trước tiên dùng mũi chân chạm đất, theo trọng tâm dần dời đến cả bàn chân đạp vững, liền đó chân trái hơi ngồi xổm xuống, chân phải nhấc lên. Đồng thời, hai chưởng theo thân xoay từ trái phải vạch cung hợp ôm bắt chéo trước ngực, chưởng phải ở ngoài, tâm hai chưởng đều hướng vào trong, mặt hướng bắc. Mắt theo thân xoay nhìn ngang chuyển dời, ánh mắt phải chăm nom hai chưởng hợp ôm (xem các hình trên trang này và trang sau).

2. Các điểm khác giống Hữu đăng cước.

III. Yếu lĩnh

1. Xoay phải vừa đúng mức; quá và không đủ thì phương hướng đều không đúng. Cho nên phải có khống chế. Vì thế chân trái và hai cánh tay bắt chéo phải phối hợp với lưng làm tốt động tác xoay chuyển.

2. Trong khoảnh khắc ổn định sau khi xoay thân, chân phải ngồi xổm xuống "đưa" chân trái hạ xuống đạp vững, sau đó làm hữu đăng cước.

3. Khi xoay chuyển phải lấy gót chân phải hạ đúng để định phương hướng.

4. Hai tay hợp ôm bắt chéo phải bắt đầu cùng lúc với động tác xoay thân, và cùng lúc hoàn thành.

5. Các điểm khác giống Hữu đăng cước.

IV. Yêu cầu

1. Xoay chuyển của lưng phải buông lỏng chìm thẳng đứng, không lắc lư. Dùng chân vung là tán thoát.

图 229
图 229
thân thể xoay sang phải sau, chân trái vung qua, hai chưởng bắt đầu hợp lại trước ngực.
图 230A
图 230A
chân trái hạ xuống bên mắt cá chân phải, mũi chân chạm đất trước, hai chưởng bắt chéo trước ngực.
图 230B
图 230B
hai chưởng hợp ôm bắt chéo trước ngực, thân thể mặt hướng bắc, chân phải sắp nhấc lên.

2. Sau khi xoay góc phải đúng, thân thể hướng bắc. Phương hướng đăng chân chính đông.

3. Xoay chuyển phải khinh linh tự nhiên, động tác phải không chậm không nhanh.

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân và cách sửa

1. Lỗi: sau khi xoay thì lắc lư hoặc đứng không vững. Nguyên nhân chủ yếu là chưa chú ý buông lỏng mà dùng cương kình. Khi xoay có người không buông lỏng lưng hông, có người vung chân trái biên độ quá lớn, có người khống chế treo xoay chân trái không tốt. Sửa chữa: phải vĩ lư trung chính, buông lỏng lưng hông, vị trí gót chân phải hạ xuống và đầu gối trái phải có khống chế.

2. Lỗi: chân trái hạ xuống quá nhanh, phá hoại đều đặn viên hoạt. Nguyên nhân chủ yếu là chưa nắm tốt trọng tâm, để duy trì cân bằng, không cho ngã thấp, liền khiến chân trái hạ xuống quá sớm. Sửa chữa: phải ở sau khi xoay gót chân phải chậm rãi hạ xuống, sau đó chân trái treo nhấc, chân phải hơi ngồi xổm xuống, chân trái mới dần hạ xuống đất.

VI. Cách dạy và cách luyện tập

1. Người già yếu yêu cầu xoay chuyển có thể hạ thấp, chân trái đặt thấp hơn một chút.

2. Điểm khó của động tác này ở chỗ xoay chuyển, cho nên, trọng điểm luyện tập nên đặt vào xoay chuyển. Hai tay không đặt yêu cầu; trên cơ sở động tác trên, khi xoay nhấc đầu gối trái, sau khi xoay vẫn nhấc đầu gối trái, chân phải chìm xuống, chân trái mới chậm rãi hạ xuống đất.

3. Khẩu quyết: phóng — chân trái hạ xuống treo nhấc; lạc — chân trái hạ xuống đạp vững; chuyển — xoay lưng hông khiến thân thể xoay chuyển; khởi — chân trái hơi nhấc lên; trầm — chân trái ngồi xổm xuống; đăng — chân phải đăng ra; hợp — hai tay bắt chéo trước ngực.

VII. Phân tích kỹ thuật

Chuyển thân đăng cước, thân thể xoay gần 360°; tả đăng cước phía trước hướng đông, còn chuyển thân đăng cước là sau khi thân xoay dùng chân phải hướng đông; như vậy phương hướng đăng chân đều là hướng đông, chỉ là đổi một phương hướng, đổi một chân; then chốt của nó ở chỗ xoay sang phải sau. Yêu cầu của xoay chuyển một là vững, hai là chuẩn (tức là sau khi xoay phương hướng phải chuẩn). Cho nên, kỹ thuật chuyển thân đăng cước, trước tiên phải phân tích ở xoay chuyển. Nhất thiết vật…

图 231A
图 231A
gót chân phải chậm rãi hạ xuống sau khi xoay, đầu gối trái vẫn nhấc, hai chưởng bắt chéo trước ngực.
图 231B
图 231B
chân trái treo nhấc, chân phải hơi ngồi xổm, thân thể ổn định trước khi đăng.
图 232
图 232
hữu đăng cước đăng ra hướng đông, gót dẫn trước, hai chưởng tách ra.

…thể chỉ khi chịu tác dụng của hướng tâm lực mới có thể làm vận động tròn; cho nên vung cánh tay vung chân không được đi thẳng tới thẳng lui; động lực xoay chuyển phải đến từ lưng hông. Xoay chuyển làm tốt, phía dưới khuất chân phải "đưa" chân trái hạ xuống, rồi hữu đăng cước sẽ không khó làm.

Thế thứ bốn mươi bốn: Tiến bộ ban lan chùy

I. Cách dùng

Giống thế thứ mười hai Tiến bộ ban lan chùy.

II. Quá trình động tác

Chân trái dần ngồi xổm xuống, chân phải hạ xuống nhấc đầu gối, lưng hơi xoay sang phải; đồng thời, chưởng phải biến quyền từ phải đi xuống qua trước bụng vạch cung vòng sang trái, tâm quyền hướng xuống; chưởng trái theo đà chân trái ngồi xổm xuống hơi chìm xuống, liền từ bên trái vạch cung hơi lên trên (ngón tay cao không quá vai), theo đà vạch cung khiến tâm chưởng hướng chéo xuống phải. Ánh mắt chăm nom quyền phải vòng sang trái rồi dần nhìn ngang sang phải (xem hai hình đầu trên trang này).

Các điều còn lại giống thế thứ mười hai Tiến bộ ban lan chùy. Xem các hình tiếp theo trên trang này và trang sau (giống bộ năm hình trước).

图 233A
图 233A
chân trái ngồi xổm xuống, đầu gối phải nhấc lên, chưởng phải biến quyền vạch cung xuống sang trái trước bụng.
图 233B
图 233B
quyền tiếp tục vạch cung sang trái, chưởng trái hơi nâng lên bên trái, ánh mắt theo đà.
图 234
图 234
chân trái bước tới trước, quyền phải thu về hông, chưởng trái bắt chéo trước ngực.
图 235A
图 235A
chưởng trái ban sang trái, quyền phải tại hông, thân thể xoay.
图 235B
图 235B
cùng thời điểm nhìn chính diện, cẳng tay trái nằm ngang, quyền phải tại hông.
图 236
图 236
quyền phải bắt đầu đấm ra trước, chưởng trái thu về phía trong cẳng tay phải.
图 237
图 237
quyền phải đấm ra trước, chưởng trái ấn phía trong khuỷu tay phải.
图 238
图 238
đòn đấm phải đã hoàn thành, thế cung bộ trái đã thành, nhìn nghiêng.
图 239
图 239
cùng tư thế hoàn thành nhìn từ trái trước, hai tay duỗi ra trước.

(Ở giữa phía bên phải trang này còn có một ảnh đẩy tay, không đánh số, không có đề hình.)

Thế thứ bốn mươi lăm: Như phong tự bế Các điều giống thế thứ mười ba Như phong tự bế.

Xem các hình trên trang này và trang sau (giống bộ bốn hình trước).

图 240A
图 240A
hai chưởng thu về sau, khuỷu tay khuất, thân thể đứng thẳng lên, nhìn nghiêng.
图 240B
图 240B
hai chưởng lật lại thu về trước ngực, nhìn chính diện.
图 241A
图 241A
hai chưởng sắp ấn ra trước, khuỷu chìm, thân thể bắt đầu tiến.
图 241B
图 241B
hai chưởng ấn ra trước ngang ngực, nhìn chính diện, các ngón hai tay hướng tới trước.
图 242
图 242
đòn ấn đã hoàn thành, thế cung bộ trái đã thành, nhìn nghiêng.

(Ở phía dưới bên trái trang này còn có một ảnh đẩy tay, không đánh số, không có đề hình.)

图 243
图 243
hai tay nâng lên bắt chéo trên đầu, hai cổ tay bắt chéo, nhìn chính diện.
图 244
图 244
hai tay tách ra ngang vai, chân trái bắt đầu bước sang trái.
图 245
图 245
hai cánh tay thu vào, tay phải hợp trong cẳng tay trái, nhìn chính diện.
图 246
图 246
hai cánh tay bắt chéo trước ngực, chân trái bước ra, nhìn chính diện.
图 247
图 247
chân trái đặt xuống, trọng tâm dời, hai tay bắt đầu tách ra.
图 248
图 248
thế Thập tự thủ đã thành, nhìn nghiêng, thế cung bộ trái, một tay trước một tay sau.

Thế thứ bốn mươi sáu: Thập tự thủ Các điều giống thế thứ mười bốn Thập tự thủ.

Xem bốn hình đầu trên trang này (giống bộ bốn hình trước).

Thế thứ bốn mươi bảy: Bão hổ quy sơn Các điều giống thế thứ mười lăm Bão hổ quy sơn.

Xem các hình còn lại trên trang này và trang sau (giống bộ mười hình trước). Toàn bộ trang này là chín ảnh tư thế, xếp thành ba hàng ba ngang trên trang. Trang này không có văn bản chạy.

图 249
图 249
xoay thân, tay phải nâng trước mặt, tay trái hạ xuống, bước chân bắt đầu khép lại.
图 250A
图 250A
chân trái thu về bên cạnh chân phải, chưởng trái nâng ngang vai, tay phải tại bụng.
图 250B
图 250B
cùng thời điểm nhìn từ sau, hai cánh tay nâng lên, bước chân khép lại.
图 251
图 251
thân đã xoay, chưởng trái nâng ngang vai, tay phải trước ngực.
图 252
图 252
trọng tâm dời, tay phải chìm xuống, chưởng trái nâng lên, nhìn nghiêng.
图 253
图 253
tay phải nâng trước ngực, tay trái bên hông, nhìn từ sau.
图 254
图 254
bắt đầu tiến, chân trái bước ra bên phải, hai tay nâng lên.
图 255
图 255
tay phải đẩy ra, tay trái tại khuỷu, nhìn từ sau trái.
图 256
图 256
tư thế đã hoàn thành, thế cung bộ phải, chưởng phải đẩy ra trước, tay trái tại hông.

Thế thứ bốn mươi tám: Tà đơn tiên Các điều đều giống thế thứ tư Đơn tiên; trong đó những chỗ khác nhau như sau:

1. Phương hướng định thế của đơn tiên này là chéo sang trái trước (đông nam), còn đơn tiên của thế thứ tư là hướng đông.

2. Phương hướng bắt đầu của Tà đơn tiên là ở tây bắc, di động 180° đến đông nam. Đơn tiên của thế thứ tư phương hướng bắt đầu là tây, di động 180° biến đến đông.

3. Các điều khác đều giống thế thứ tư Đơn tiên (xem các hình trên trang này).

图 257
图 257
bắt đầu Tà đơn tiên, thân thể xoay hướng tây bắc, hai tay nâng lên.
图 258
图 258
hai tay bắt đầu vạch cung tách ra, trọng tâm dời, thân thể xoay.
图 259
图 259
tay phải nâng lên thành câu thủ, chưởng trái thu về trước ngực.
图 260
图 260
chân trái bước ra hướng đông nam, câu thủ duỗi ra phía sau.
图 261
图 261
thế cung bộ trái đang thành, chưởng trái đẩy ra trước, câu thủ phía sau.
图 262
图 262
thế Tà đơn tiên đã thành, nhìn chính diện, hai tay duỗi ra, mặt hướng đông nam.

Thế thứ bốn mươi chín: Tả hữu dã mã phân tông

Phần 102

Trang sách 392

I. Cách dùng

I. Cách dùng

Nối thế trước: nếu đối phương từ bên phải dùng án thức án cánh tay phải của ta, ta liền xoay thân thể sang phải, chân trái cũng dời sang phải, gót chân phải thu về lỏng thành hư bộ. Liền đó dùng tay phải dính chặt cổ tay trái của đối phương, lỏng về phía trái một chút, dùng tay trái bưng cổ tay phải của hắn. Đồng thời, gấp bước chân phải lên, khuất đầu gối ngồi vững, chân trái duỗi thẳng, liền đó dùng cẳng tay phải phân vào nách đối phương; như vậy, căn lực của hắn liền bị ta nhổ lên, thân thể hắn sẽ ngửa ra sau. Lúc này, tay trái cũng phải hơi tách ra sau, dùng trầm kình để trợ lực cho tay phải (để trợ thế của tay phải).

Một cách dùng khác: nếu đối phương dùng quyền phải đánh vào ngực phải của ta, ta dùng tả dã mã phân tông bưng tay trái ra, tiếp đó dùng án xuất kích.

II. Quá trình động tác
(Giáp) Hữu dã mã phân tông

1. Thân thể hơi xoay sang phải, mũi chân trái khấu vào trong đạp vững, trọng tâm dần dời hết lên chân trái, ngồi vững chân trái, chân phải nhấc lên thu về (mặt hướng tây). Đồng thời, chưởng trái khuất khuỷu vạch cung dời đến trước ngực trái, lòng bàn tay hướng chéo xuống; hữu điếu thủ biến chưởng từ phải đi xuống sang trái vạch cung hất đến trước bụng, theo đà hất cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm chưởng lật hướng chéo lên, hợp cùng tay trái, hai cánh tay đều phải thành hình cung. Ánh mắt chăm nom chưởng trái (xem hình đầu trên trang này).

2. Thân thể tiếp tục xoay sang phải, mặt hướng tây, chân phải chậm rãi bước ra trước, gót chân chạm đất trước, trọng tâm dần dời sang chân phải, đến chân phải cả bàn chân đạp vững, cung chân phải đạp chân trái, thành thế cung bộ phải. Đồng thời, tâm chưởng phải hướng chéo lên, theo thân xoay tiến lên phải trên lấy một bên xương quay vạch cung tách ra, ngón tay cao ngang mày; chưởng trái vạch cung sang trái hái xuống đến bên hông trái. Ánh mắt chăm nom chưởng phải tách ra, và hơi tới trước chưởng phải đến phía trước bên phải, mặt hướng tây nam (xem hình thứ hai trên trang này).

(Ất) Tả dã mã phân tông

1. Thân thể hơi xoay sang phải (mặt hướng tây bắc), mũi chân phải xoay ra ngoài đạp vững, trọng tâm dần dời hết sang chân phải, chân phải ngồi vững, chân trái nhấc lên tiến về trước. Đồng thời, chưởng phải theo thân xoay khuất khuỷu vạch cung dời đến trước ngực phải…

图 263
图 263
mũi chân trái khấu vào trong đạp vững, chân phải thu về, chưởng trái tại ngực trái, chưởng phải hất đến trước bụng.
图 264
图 264
chân phải bước tới trước, chưởng phải vạch cung tách ra phải trên, chưởng trái hái xuống bên hông trái.
图 265
图 265
thế cung bộ phải đã thành, nhìn nghiêng, cẳng tay phải tách ra ngoài, tay trái tại hông trái.

…và trong khi di chuyển thì cánh tay xoay vào trong khiến tâm bàn tay dần dần lật úp xuống; bàn tay trái múc theo cung tròn sang phải tới trước bụng, trong khi múc thì cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm bàn tay lật chếch lên trên và nhập với bàn tay phải, hai cánh tay đều thành hình cung. Mắt theo thân chuyển mà nhìn ngang, ánh mắt chú ý tới bàn tay phải (xem hai hình đầu trang này).

2. Thân tiếp tục dần dần chuyển sang trái (hướng về tây), chân trái bước tới trước, trước hết chạm đất bằng gót chân; khi trọng tâm dần dần chuyển sang chân trái và cả bàn chân đặt vững, chân trái co lại và chân phải duỗi ra, thành thế cung bộ trái. Đồng thời, bàn tay trái, tâm bàn tay hướng chếch lên trên, theo thân chuyển mà tách ra theo cung tròn về phía trên bên trái bằng một bên ngón cái, các ngón tay cao ngang mày; bàn tay phải hái xuống theo cung tròn tới bên hông phải. Ánh mắt chú ý theo bàn tay trái khi nó tách ra, và tới phía trước bên trái hơi sớm hơn bàn tay trái, mặt hướng về tây nam (xem các hình còn lại trên trang này).

3. Về sau, động tác Dã mã phân tông trái và phải hoàn toàn giống nhau, chỉ có phương hướng không ngừng thay đổi (một lần sang trái, một lần sang phải), như các hình tiếp theo trên trang này và trang sau (giống các hình trước).

III. Yếu lĩnh

1. Dù tay phải hay tay trái tách ra, lực phát ra ở eo. 《Quyền luận》nhấn mạnh: "Khắc khắc lưu tâm tại yêu gian" (từng giây từng phút giữ tâm ý ở nơi eo), "Thượng hạ cửu tiết kình, tiết tiết yêu trung phát" (chín khớp trên dưới, mỗi khớp đều phát lực từ trong eo). Vận dụng lực eo cho đúng thì có thể tập trung sức lực toàn thân vào một điểm, hơn nữa phải từ vai tới khuỷu, tới tay, từng khớp từng khớp xuyên suốt mà phát ra ngoài. Tay tách ra cùng với chuyển eo và cung bộ cũng phải phối hợp nhịp nhàng. Kình lực phải từ chân mà tới cẳng chân, mà tới eo, hiện ra nơi ngón tay; gốc của nó ở chân, chủ tể ở eo. Ta tách vào nách đối phương, phải nhổ bật được căn lực của hắn; nếu chỉ dùng sức của tay thì rất không đủ.

2. Cung bộ của Dã mã phân tông hơi rộng hơn cung bộ thông thường một chút, nhưng chưa tới góc chéo 45°. Nếu khoảng cách ngang của bàn chân cung ra nhỏ thì tự đứng không vững, làm sao có thể khiến tay tách ra có lực.

3. Mũi chân của chân cung ra phải cùng phương hướng với đầu gối.

4. Khi hợp hay khi tách đều phải trầm vai buông khuỷu.

5. Lộ tuyến của bàn tay tách ra là trước hết hướng tới trước rồi mới ra ngoài (tay phải hướng về phải, tay trái hướng về trái).

6. Nhiều lần tách tông trái phải (ba, năm lần v.v.), động tác tuy trái phải nhưng phải liên tục, cho nên phải thế thế tương thừa, không thể chia cắt dừng lại.

图 266
图 266
thân chuyển sang phải, bàn tay phải vòng cung tới trước ngực phải, bàn tay trái từ bụng tụ lại hướng lên trên.
图 267
图 267
chân trái bước tới trước, bàn tay trái tách ra theo cung tròn lên phía trên bên trái, bàn tay phải hái xuống tới hông phải.
图 268
图 268
cung bộ trái đã thành, nhìn nghiêng, cẳng tay trái tách ra ngoài ở độ cao ngang mày.
IV. Yêu cầu

1. Hư thực phải rõ. Yêu cầu thân, tay, bộ đều phân minh, còn yêu cầu sự chuyển hóa hư thực bên trong và bên ngoài phải nhất trí. Cho nên yêu cầu trong ngoài, trên dưới, trái phải, trước sau đều phải phân rõ hư thực. Chi dưới là then chốt để ổn định trọng tâm; vì vậy, trước hết phải chú ý sự chuyển hóa hư thực của hai chân. Hai chân hư thực càng luyện càng tinh tế, lượng vận động cũng theo đó mà nâng cao dần. Người mới học phải làm được bàn chân thực mài chuyển, một chân ngồi vững, rồi chân kia mới từ từ nhấc lên và chậm rãi bước ra; trước khi gót chân chưa chạm đất, trọng tâm không được thay đổi.

2. Dã mã phân tông trái phải, giữa các thế không được dừng lại, phải xuyên suốt từng chiêu từng chiêu, phải thế này tiếp thế kia liên tục viên hoạt. Nhưng cũng phải tránh tay, chân chưa tới vị trí (tức là động tác chưa làm xong hẳn) đã vội làm động tác tiếp theo.

3. Trong khi tiến, hai chân không được đứng trên một đường thẳng, mũi bàn chân trước phải hướng thẳng về phía trước.

4. Khai triển và khẩn thấu phải kết hợp cho tốt.

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: hai tay vẽ thành vòng tròn lớn, phương hướng không đúng, khi định thế phương hướng không rõ. Nguyên nhân chính là do không hiểu rõ cách dùng. Lấy Dã mã phân tông bên phải làm ví dụ: đối phương từ bên phải ta tiến đánh, ta bước chân phải lên một bước, dùng tay phải tách vào nách địch. Nếu tay phải của ta là một vòng tròn lớn thì khi tay tới vị trí nó không ở dưới nách đối phương mà ở trước đầu đối phương, như vậy là mất khả năng "phân". Sửa: phải hướng tới trước rồi mới ra ngoài, các ngón tay không cao quá mày, như vậy mới có thể tách vào nách hắn mà nhổ bật căn lực của hắn.

2. Lỗi: xoay thân quá lớn, có hiện tượng tán địch. Lấy Dã mã phân tông bên trái làm ví dụ: nếu chân phải sai lầm mà mở ra tới 90°, khiến mũi bàn chân phải hướng về phía bắc, thì khi bước chân trái lên sẽ cảm thấy chân phải bị kéo căng, rất khó chịu, và ảnh hưởng đến việc chân trái bước đúng cách. Nguyên nhân chính là không hiểu đầy đủ về cách dùng. Sửa: chân phải mở ra ngoài khoảng 45°.

3. Lỗi: hai tay không đi theo cung tròn mà đi thẳng tới thẳng lui. Nguyên nhân chính là do chưa hiểu đặc điểm của Thái Cực Quyền — vận động theo hình tròn…

图 269
图 269
Dã mã phân tông bên phải, nhìn nghiêng từ bên trái, cẳng tay phải tách ra ngoài, tay trái ở hông trái.
图 270
图 270
cung bộ phải đã thành, bàn tay phải tách ra lên phía trước trên, bàn tay trái hái xuống ở bên trái.

…sâu. Thái Cực Quyền hễ có động tác thì chính là một vòng tròn, "diệu thủ nhất trước nhất Thái Cực". Nó bao hàm hai loại lực âm dương đang xoay chuyển biến hóa. Sửa: phải "khúc trung hữu trực" (trong cong có thẳng), chỗ nào cũng là đường cong, chỗ nào cũng là đường thẳng, là sự thống nhất của cong và thẳng; phải làm được tùy thời lấy đường cung chuyển hóa thành đường thẳng để phản kích.

4. Lỗi: trong động tác, bàn chân bước ra chạm đất rất nặng, hư thực không rõ. Nguyên nhân chính là chân trụ chưa ngồi vững. Sửa: ngoài sự chuyển hóa hư thực của bộ pháp, còn phải phối hợp nhịp nhàng với sự biến đổi của eo và hông, làm cho bước chân nhẹ nhàng linh hoạt.

Phần 103

Trang sách 393

VI. Cách dạy và cách luyện

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Khẩu quyết (lấy Dã mã phân tông bên phải làm ví dụ): hữu thái tả liệt hóa tức đả; tả thực hữu hư hoãn mại bộ; hạ thái tiền phân hướng dịch hạ; bỉ thụ ngã lực căn tự bạt.

2. Người học phải không ngừng nâng cao cung bộ tiến tới, ngoài việc phân rõ hư thực của bước chân đã học, còn phải đồng thời luyện tốt "thức thức quân vân" (thế thế đều đặn) và "miên miên bất đoạn" (liên tục không dứt).

3. Dùng cách thảo luận để sửa chi tiết, như: ① Thân thể xoay chuyển thế nào, khi hợp có xoay không? ② Vì sao cánh tay phải hướng tới trước rồi mới ra ngoài?

VII. Phân tích kỹ thuật
图 271
图 271
cách dùng đẩy tay của Dã mã phân tông bên phải, ngoài trời: bên công dùng cẳng tay phải đẩy tới, bên thủ tách nó ra ngoài.

Khi dùng phải gấp bước chân phải lên, co gối ngồi vững, chân trái duỗi thẳng, theo đó dùng cẳng tay phải tách xuống dưới nách đối phương. Vì sao phải "gấp"? Ý nghĩa quan trọng ở đây là thắng ở chỗ tiến bộ chiếm thế. Nếu không gấp bước lên, thì hoặc là đối phương bước lên phía ta, hoặc là từng bước lỡ thế; không gấp thì sẽ mất thời cơ. Nhưng khi luyện quyền vẫn phải bước chậm rãi về phía trước.

Thế thứ 50 — Lãm Tước Vĩ
I. Cách dùng

Giống với thế thứ 3, Lãm Tước Vĩ.

II. Quá trình động tác

Thân thể hơi chuyển sang phải, trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân phải, chân trái nhấc khỏi mặt đất và nâng lên trước. Đồng thời, khuỷu tay phải thu về, vừa thu vừa khiến cánh tay phải xoay vào trong làm tâm bàn tay lật úp xuống, vòng cung chuyển tới trước ngực, khuỷu tay phải hơi trầm, thấp hơn cổ tay một chút; bàn tay trái cũng đồng thời vòng cung chuyển về trước bụng, vừa chuyển vừa khiến cánh tay xoay ra ngoài, làm tâm bàn tay lật ngửa lên. Hai bàn tay hợp lại, chân trái bước về phía bên trái, trước hết chạm đất bằng gót chân, bàn chân đặt chếch, mũi bàn chân quay về phía tây nam, cung chân trái và duỗi chân phải thành cung bộ trái (chân trái hơi ở sau chân phải). Khi chân trái bước sang trái, thân thể hơi chuyển sang trái; khi gót chân trái vừa chạm đất, thân thể lập tức dần dần chuyển sang phải. Đồng thời, khuỷu tay trái hơi trầm, cánh tay trái vòng cung đỡ (bằng) ra phía trên bên trái, bàn tay trái cao ngang vai, cổ tay hơi cong vào, tâm bàn tay hướng chếch lên trên…

图 271
图 271
khuỷu tay phải thu về, hai bàn tay hợp trước ngực, chân trái bước ra phía bên trái.
图 272
图 272
hai bàn tay hợp trước ngực, chân trái bước sang trái, mũi chân quay ra ngoài.
图 273
图 273
cánh tay trái vòng cung đỡ ra phía trên bên trái, bàn tay trái cao ngang vai.
图 274
图 274
cung bộ trái đã thành, hai tay hợp ở trước ngực.

Trang này toàn bộ là ảnh tư thế của động tác Lãm Tước Vĩ, xếp thành ba hàng ba cột, không có văn bản. Các hình tiếp nối động tác của trang trước và kéo dài sang trang sau.

图 275A
图 275A
cung bộ trái, bàn tay phải đẩy tới trước, bàn tay trái ở phía trong cẳng tay phải.
图 275B
图 275B
thân thể quay thẳng về trước, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 276
图 276
cung bộ phải, cẳng tay phải đỡ ra phía trước bên phải.
图 277
图 277
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải đẩy tới trước, bàn tay trái hộ ở khuỷu tay phải.
图 278
图 278
thân thể chuyển sang phải, hai tay khép lại ở trước ngực.
图 279
图 279
cung bộ trái, cẳng tay phải đỡ ra ngoài.
图 280
图 280
thân thể chuyển sang trái, bàn tay phải lũi (lùi vuốt) về sau, tay trái đỡ cẳng tay phải.
图 281
图 281
bàn tay phải ấn tới trước, bàn tay trái theo ở cổ tay phải.
图 282
图 282
cung bộ trái đã định, bàn tay phải ấn ra trước ở độ cao ngang ngực.

…bên, bàn tay phải hơi vòng cung ra trước ngoài miết xuống tới hơi cao hơn hông, tâm bàn tay hướng xuống, các ngón tay hướng về trước, ngồi cổ tay, các đốt ngón tay hơi lật lên trên. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải chú ý tới hai bàn tay tách ra trái phải (xem hình thứ nhất trang này).

Các điều khác đều giống với thế thứ 3, Lãm Tước Vĩ, xem các hình còn lại trên trang này và trang sau (giống hình thứ hai tới hình thứ mười bảy).

III. Yếu lĩnh

1. Tay phải thu về, tay trái chuyển tới trước và nhấc chân trái lên, đều phải nhất trí với việc chuyển eo.

2. Bước chân trái thì phải ngồi vững chân phải, và dùng chân phải hơi ngồi xổm xuống để "đưa" chân trái hạ xuống.

Phần 104

Trang sách 394

Thế thứ 51 — Đơn Tiên

Thế thứ 51 — Đơn Tiên

Các điều đều giống với thế thứ 4, Đơn Tiên, xem các hình trên trang này và trang sau (giống hình thứ mười tám tới hình thứ hai mươi ba).

图 283
图 283
cung bộ phải, bàn tay phải miết ra ngoài xuống dưới tới phía trên hông, các ngón tay hướng về trước.
图 284
图 284
hai cẳng tay bắt chéo trước ngực, chân trái khép vào.
图 285
图 285
bàn tay trái ở trước ngực, cẳng tay phải duỗi ra ngoài.
图 286
图 286
cung bộ phải, bàn tay phải tiếp tục đẩy tới trước.
图 287
图 287
tay phải thành câu thủ (móc tay), bàn tay trái đẩy tới trước, cung bộ trái đã thành.
图 288A
图 288A
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải thu về trước vai phải, tay trái khép ở dưới nách phải.
图 288B
图 288B
cẳng tay phải đỡ (bằng) ra phía trên bên phải, hai tâm bàn tay lật lại.
图 289
图 289
cung bộ phải, bàn tay phải tách ra ngoài, bàn tay trái ở dưới khuỷu tay phải.
Thế thứ 52 — Ngọc Nữ Xuyên Thoa
I. Cách dùng

(A) Xuyên thoa bên trái Tiếp thế Đơn Tiên.

Nếu đối phương từ phía sau bên phải ta dùng tay phải đánh xuống từ trên, ta lập tức chuyển thân theo chân trái khép vào đồng thời xoay sang bên phải, chân phải theo đó nhấc về, đặt xuống trước chân trái, mũi bàn chân quay ngang sang phải tách ra ngồi vững. Tay trái thu về, khép ở dưới cánh tay phải, theo đó hộ vòng quanh cẳng tay phải, xuyên qua khuỷu tay phải, tức dùng kình bằng lật lên ra góc trước bên trái, nhấc cổ tay đối phương lên, chân trái đồng thời tiến lên, co gối ngồi vững, chân phải duỗi thẳng…

图 290
图 290
cẳng tay trái đỡ ra phía trên bên trái, bàn tay phải hộ ở phía trong khuỷu tay trái.
图 291
图 291
thân thể chuyển sang trái, bàn tay trái lật lại và nâng lên, tay phải khép ở dưới nách trái.
图 292
图 292
cung bộ trái đã thành, cẳng tay trái đỡ lên ra góc trước bên trái.
图 293
图 293
cẳng tay trái đỡ ra phía trên bên trái, tay phải khép ở dưới nách trái.
图 294
图 294
cung bộ trái, bàn tay trái lật lại đẩy tới trước.
图 295
图 295
bàn tay trái lật lên đỡ ra góc trước bên trái, bàn tay phải hộ ở dưới khuỷu tay trái.
图 296
图 296
thân thể chuyển sang phải, cẳng tay phải bắt chéo trước ngực.
图 297A
图 297A
cung bộ phải, cẳng tay phải đỡ ra ngoài.
图 297B
图 297B
thân thể lại chuyển sang phải, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 298
图 298
bàn tay phải đẩy tới trước, bàn tay trái theo ở phía trong cẳng tay phải.

Tay phải tức thì biến thành chưởng, gấp gáp xuyên ra từ dưới khuỷu tay trái, xông vào đánh vào ngực sườn đối phương, như vậy đối phương không ai không ngã. Thế này hai tay trái phải xuyên qua nhau, khi ẩn khi hiện, khó lường, thừa lúc hư của hắn mà tập kích, cho nên gọi là Ngọc Nữ xuyên thoa, dùng để ví von động tác này linh xảo, nhanh nhẹn (xem sáu hình đầu trang này).

(B) Xuyên thoa bên phải Tiếp thế trước, nếu đối phương từ phía sau bên phải, dùng đầu cánh tay phải đánh tới. Ta lập tức khép chân trái vào, chân phải đồng thời bước ra một bước về phía sau bên phải, co gối ngồi vững, thân theo đó chuyển sang phải, chân trái biến thành hư; gấp gáp dùng cổ tay phải của ta dính vào bên ngoài cánh tay phải của đối phương, đỡ lên phía trên bên phải…

图 299
图 299
cẳng tay phải đỡ ra phía trên bên phải, tay trái ở khuỷu tay phải.
图 300
图 300
chân trái bước ra góc trước bên trái, bàn tay trái lật lại.
图 301
图 301
cung bộ trái đã thành, cẳng tay trái đỡ lên ra góc trước bên trái.

Theo đó đem bàn tay trái ấn về phía sườn phải đối phương, còn lại giống thế trên (xem các hình đầu trang này).

(C) Xuyên thoa bên trái Tiếp thế trước.

Nếu đối phương từ bên trái dùng tay trái đánh tới, ta lập tức quay mũi bàn chân phải sang phải tách ra ngồi vững, chân trái nhấc lên bước ra góc trái ngồi vững, thủ pháp giống với Xuyên thoa bên trái trước (xem các hình ở cuối trang này và trang sau).

(D) Xuyên thoa bên phải Thế này giống với Xuyên thoa bên phải trước (xem các hình ở trang sau). Phải chú ý phương hướng chính của Ngọc Nữ xuyên thoa là ở bốn góc; điểm này muôn vàn không được lẫn lộn.

II. Quá trình động tác

(A) Xuyên thoa bên trái 1. Thượng thể hơi chuyển sang phải, mũi bàn chân trái khép vào đặt vững; đồng thời tay phải treo biến thành chưởng, từ phải ra trước vẽ cung xuống, bàn tay trái cũng dần dần theo cung tròn hạ xuống và chuyển ngang, ánh mắt dịch ngang chú ý tới phương hướng hai tay.

2. Thân thể tiếp tục dần dần chuyển sang phải, trọng tâm chuyển hết sang chân trái, chân phải nhấc lên. Đồng thời, bàn tay phải theo thân chuyển từ dưới qua bên trái, qua trước ngực vẽ cung lên phía phải, tay trái tiếp tục vẽ cung xuống trước. Ánh mắt chú ý theo bàn tay phải đỡ lên phía phải.

3. Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải bước ra phía trước bên phải (tây bắc), trước hết chạm đất bằng gót chân, theo trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân phải mà cả bàn chân đặt vững; chân trái nhấc lên phía trước, theo thân chuyển bàn tay trái qua trước bụng vẽ cung sang phía dưới cẳng tay phải, tâm bàn tay trái hướng xuống, mu bàn hai tay hướng chếch vào nhau, bàn tay phải cũng theo thân chuyển tiếp tục hơi đỡ sang phải, tức trầm khuỷu tay phải, tự nhiên dẫn dắt bàn tay phải chuyển xuống trở về.

4. Chân trái bước ra một bước về phía chéo trước bên trái (tây nam), trước hết chạm đất bằng gót chân, eo hơi chuyển sang trái; đồng thời, cẳng tay trái từ phía dưới cẳng tay phải đỡ lên phía trước; bàn tay phải (trầm khuỷu) xuyên trở về qua phía trên cẳng tay trái, vừa xuyên vừa theo cánh tay xoay vào trong, khiến tâm bàn tay lật về phía trước dưới. Mắt nhìn ngang về phía trước bên trái, ánh mắt phải chú ý tới cánh tay trái đỡ tới trước.

5. Thân thể dần dần chuyển sang trái, trọng tâm dần dần chuyển sang chân trái, chân trái đặt vững hoàn toàn, cung chân trái duỗi chân phải thành cung bộ trái; đồng thời, cẳng tay trái qua trước mặt lật lên trên. Vừa lật vừa theo cánh tay xoay vào trong, khiến tâm bàn tay lật về…

图 302
图 302
cung bộ phải, cẳng tay phải đỡ ra bên phải.
图 303
图 303
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải đẩy tới trước, bàn tay trái hộ ở khuỷu tay phải.
图 304
图 304
cung bộ trái, cẳng tay trái lật lên đỡ ra ngoài, bàn tay phải ở dưới khuỷu tay trái.

…phía trước trên, bàn tay trái dừng ở phía trên trước trán; đồng thời, bàn tay phải xuyên ra phía trước. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải chú ý tới bàn tay phải xuyên tới trước (xem hình thứ ba trang này).

(B) Xuyên thoa bên phải 1. Eo dần dần chuyển sang phải, mũi bàn chân phải khép vào đặt vững. Đồng thời, bàn tay phải theo thân chuyển, co khuỷu ngang cánh tay (cánh tay thành hình cung) chuyển tới trước ngực, vừa chuyển vừa theo cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm bàn tay dần dần lật hướng vào trong; cánh tay trái xoay ra ngoài, trầm khuỷu tay trái tự nhiên dẫn dắt bàn tay trái hạ xuống, và khiến tâm bàn tay lật hướng vào trong, tay trái ở trong tay phải ở ngoài dần dần thành hai thế đỡ gần như hình chữ thập. Ánh mắt chú ý theo bàn tay trái chuyển về.

2. Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, trọng tâm dần dần chuyển hết sang chân trái, chân phải nhấc lên. Theo eo chuyển sang phải, đồng thời, cánh tay trái theo thân chuyển trầm khuỷu, qua phía trên cẳng tay phải chuyển xuống về, cánh tay phải dần dần đỡ sang phải, ánh mắt trước chú ý theo bàn tay trái hạ xuống, rồi lập tức chuyển nhìn về phía trước cánh tay phải.

3. Eo tiếp tục chuyển sang phải, chân phải bước ra một bước về phía chéo trước bên phải (đông nam), trước hết chạm đất bằng gót chân; đồng thời, cẳng tay phải từ phía dưới cẳng tay trái đỡ lên phía trước; bàn tay trái trầm khuỷu, qua phía trên cẳng tay phải xuyên trở về, vừa xuyên vừa theo cánh tay xoay vào trong khiến tâm bàn tay dần dần lật về phía trước dưới. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải chú ý tới cẳng tay phải đỡ tới trước.

4. Trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải, chân phải đặt vững hoàn toàn, thân thể dần dần chuyển sang phải, cung chân phải duỗi chân trái thành cung bộ phải. Đồng thời, cẳng tay phải qua trước mặt lật lên trên, vừa lật vừa theo cánh tay xoay vào trong khiến tâm bàn tay lật hướng về phía trước trên, bàn tay phải dừng ở phía trên trước trán; bàn tay trái đồng thời xuyên ra phía trước, mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt phải chú ý tới bàn tay trái đẩy tới trước (xem ba hình đầu trang này).

(C) Xuyên thoa bên trái 1. Eo hơi chuyển sang trái, trọng tâm thân thể dần dần chuyển hết sang chân phải, chân trái nhấc lên phía trước; đồng thời, cánh tay trái theo thân chuyển co khuỷu ngang cánh tay (cánh tay thành hình cung) chuyển tới trước ngực, vừa chuyển vừa theo cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm bàn tay dần dần lật hướng vào trong; cánh tay phải xoay ra ngoài, trầm khuỷu tay phải tự nhiên dẫn dắt bàn tay phải hạ xuống, và khiến tâm bàn tay lật hướng vào trong, tay trái ở ngoài tay phải ở trong, dần dần thành hai thế đỡ gần như hình chữ thập. Ánh mắt chú ý theo bàn tay phải hạ xuống, rồi lập tức chuyển nhìn về phía trước cánh tay trái (xem hình thứ bảy trang này).

2. 2 và 3. Động tác giống với động tác 4 và 5 của Xuyên thoa bên trái trước.

图 305
图 305
cung bộ trái, cẳng tay trái lật lên đỡ ra ngoài, bàn tay phải hộ ở dưới khuỷu tay trái.
图 306
图 306
thân thể chuyển sang phải, cẳng tay phải bắt chéo trước ngực, bàn tay trái ở dưới nách phải.
图 307
图 307
cung bộ phải đã thành, cẳng tay phải đỡ ra ngoài, cánh tay trái duỗi sang trái.

…giống nhau; điều khác là hướng của Xuyên thoa bên trái trước là về tây nam, còn hướng của Xuyên thoa bên trái này là phía chéo đông bắc (xem ba hình đầu trang này).

(D) Xuyên thoa bên phải Động tác giống với Xuyên thoa bên phải trước; điều khác là hướng của Xuyên thoa bên phải trước là đông nam, còn hướng của Xuyên thoa bên phải này là tây bắc (xem ba hình trên trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Ngọc Nữ xuyên thoa có tất cả bốn lần xuyên chưởng, phương hướng là hướng về bốn góc chéo (tây nam, đông nam, đông bắc, tây bắc).

2. Trong bốn lần xuyên thoa, hai tay đều có một lần tạo thành quá trình gần như bắt chéo hình chữ thập; lần thứ nhất tay trái ở ngoài, lần thứ hai tay phải ở ngoài, lần thứ ba tay trái ở ngoài, lần thứ tư tay phải ở ngoài.

3. Mỗi lần chuyển thân hoặc bước lên đều không được đứng dậy, khiến trọng tâm không có dao động lớn. Trong khi chuyển thân bước lên, do sự biến đổi phương hướng, góc độ và sự không nhất trí trong phối hợp trên dưới trái phải, người mới học khó tránh khỏi không ổn định, lắc lư, lên xuống, đến mức ảnh hưởng động tác. Cho nên, trước hết phải lưu tâm ở sự chuyển hóa hư thực của bộ pháp, làm tốt bộ tùy chuyển.

4. Trong động tác thân thể phải giữ ngay ngắn, phải hàm hung bạt bối (ngậm ngực nhổng lưng), không được cúi đầu cong eo.

5. Một tay đỡ lên trên phải đề phòng so vai hoặc nâng khuỷu; cánh tay đẩy ra không được thẳng cứng, phải hơi cong — cong mà không thẳng là có thể giữ được súc thế.

6. Khi biến thành cung bộ, một chưởng đẩy tới trước, mũi bàn chân, đầu gối, thân thể cùng mặt, ánh mắt và hướng đẩy ra phải nhất trí cùng hướng về góc chéo.

IV. Yêu cầu

1. Động tác nối tiếp từ Đơn Tiên sang Ngọc Nữ xuyên thoa dễ bị bỏ qua nhất và cũng dễ lẫn lộn nhất, yêu cầu phải hiểu rõ ràng. Ta ở động tác Đơn Tiên, mặt hướng đông; nay đối phương từ phía sau bên phải đánh xuống từ trên, cho nên, động tác quá độ của lần xuyên thoa thứ nhất là: thượng thể chuyển sang phải, chân phải nhấc về, đặt xuống trước chân trái, chân trái bước ra ở góc chéo tây nam, thực hiện động tác xuyên thoa thứ nhất (hướng về tây nam). Như vậy là phù hợp yêu cầu của cách dùng, và cũng phân chia rõ ràng động tác quá độ.

2. Trên dưới trái phải phải hút vào và ràng buộc nhau. Một tay dùng kình bằng hướng lên…

…lật đi, một tay đồng thời xuyên ra phía trước, một chân tiến lên co gối ngồi vững, một chân duỗi thẳng; như vậy giữa hai tay, giữa hai chân, trên dưới trái phải hỗ trợ lẫn nhau và có ý hút vào ràng buộc nhau, khiến động tác thư triển mà không tản mạn, tinh thần đoàn tụ, trong khai triển không mất súc thế. Không được có trên mà không có dưới, có dưới mà không có trên.

3. Chân phải trong động tác quá độ phải theo thân thể lật sang phải mà nhấc về; nếu không sẽ không được thế.

4. Động tác phải trung chính an thư. Thân thể phải ngay giữa không lệch; hễ động tác hướng về đâu thì xương sống phải thẳng hướng về đó, đặc biệt khi từ lần xuyên thoa thứ nhất tiếp lần thứ hai, lần thứ ba tiếp lần thứ tư, khi phương hướng thân thể biến đổi tới (180° + 90°) = 270°, nếu khép chân không đủ thì trụ bộ không vững, thượng thể sẽ ngả trước ngả sau và khó chịu, như vậy là không đạt yêu cầu trung chính an thư.

5. Hai tay xoay chuyển không được rời đường trung tuyến, không được "tán" — tức là hai tay không được rời xa thân thể.

6. Khi hai tay bắt chéo hình chữ thập, hai tay phải theo chuyển mà đi theo (theo chuyển mà hợp).

7. Động tác phải liên tục, đều đặn.

Phần 105

Trang sách 396

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: phương hướng không đúng. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng, và khép chân không đủ. Đối phương của lần xuyên thoa thứ 1 và thứ 2 ở phía sau ta, lần thứ 3 ở bên trái, lần thứ 4 ở phía sau bên phải — tới đều là góc chéo (phía bên), cho nên phương hướng xuyên thoa đều phải là góc chéo. Sửa: then chốt là ở khép chân; khép chân phải đầy đủ, muốn khép chân tốt thì phải chuyển eo hông cho tốt.

2. Lỗi: mông nhô ra. Nguyên nhân chính, một là dùng mông dịch về sau để dẫn dắt xoay thân, chứ không phải chuyển eo hông để dẫn dắt xoay thân; hai là để dễ giữ thăng bằng, khiến mông nhô ra sau, thượng thể ngả tới trước. Sửa: trước hết phải thu vĩ lư (xương cụt), sau đó phải chú ý khép chân đầy đủ.

3. Lỗi: động tác dừng lại. Nguyên nhân chính là người mới học vì vừa nghĩ vừa luyện làm động tác, cho nên thường nghĩ tay nghĩ chân, được cái này mất cái kia mà thành dừng lại; thứ nữa là chân trụ không vững. Động tác nếu có gián đoạn thì lực cũ đã hết, lực mới chưa sinh, lúc này…

…là dễ bị người ta thừa cơ nhất. Cho nên, động tác không được dừng lại, phải liên tục không dứt, chu nhi phục thủy tuần hoàn vô cùng, 《Quyền luận》nói: "Như trường giang đại hải, thao thao bất tuyệt". Sửa: thế này tiếp thế kia, liên tục viên hoạt, khởi, thừa, chuyển, hợp, từng chiêu xuyên suốt, nhất khí a thành, nội kình dần đủ, tinh thần đoàn tụ, cơ thế của thế dưới tự sinh. Cho nên, không được có chỗ dừng lại.

4. Lỗi: động tác khó chịu, đặc biệt khi một tay đỡ lên, một tay xuyên tới trước. Nguyên nhân chính là chi dưới không thuận. Sửa: sau khi bước ra góc chéo, phải vừa chuyển vừa nghiền bàn chân sau, như vậy thân thuận chân cũng thuận.

5. Lỗi: động tác quá độ từ Đơn Tiên tiếp xuyên thoa không rõ, thường cảm thấy tay chân không có chỗ đặt. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Động tác quá độ, kết nối chủ yếu là để chuẩn bị và tạo điều kiện cho động tác chính. Ta ở vị trí Đơn Tiên, đối phương từ phía sau bên phải đánh xuống từ trên; nếu ta khi chuyển thân lấy chân phải làm thực, tất nhiên tạo thành cục diện bị động, muốn chuyển muốn tiến đều gặp khó khăn. Ta phải nhấc chân phải về…

Ở cuối trang này là một ảnh đẩy tay, ngoài trời, trong đó tay trên nâng cánh tay đối phương từ dưới lên; không có số và không có chú thích.

…rơi xuống trước mặt chân trái, chân trái lại tiến về góc chéo, chi dưới liền hoạt. "Thủ tùy túc vận, túc tùy thủ vận", trên dưới theo nhau; cho nên tay trái vẽ vòng nhỏ là do eo chuyển sang phải, sang trái mà dẫn dắt; tay phải hạ xuống là để chuẩn bị xuyên ra từ dưới khuỷu tay trái, vì vậy lúc này động tác hai tay chỉ có tác dụng chuẩn bị. Sửa: chân trái khép vào thân hơi chuyển sang phải, mà dẫn dắt sang phải; tay phải hạ xuống, chân phải nhấc về, tay trái lại dẫn dắt sang trái, thành một vòng tròn nhỏ. Đặt chân phải xuống, tay phải hướng lên, tay trái hướng xuống, thân thể chuyển sang phải, nhấc chân trái chuẩn bị xuyên thoa.

6. Lỗi: chưởng xuyên ra mà không trầm khuỷu rút về. Nguyên nhân chính là không rõ cách dùng. Thu tức là phóng; không thu thì không có gì để phóng. Sửa: sau khi hợp (sau khi bắt chéo) phải trầm khuỷu rút về, rồi mới xuyên ra. Và tay xuyên ra không được xuyên ngang rời xa khuỷu tay của tay đỡ.

Phần 106

Trang sách 397

VI. Cách dạy và cách luyện

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Trước hết phải làm rõ phương hướng, xác định bốn góc chéo của bốn lần xuyên thoa. Phải sửa từng cái một; giáo viên có thể đứng ở góc chéo để dẫn dắt phương hướng.

2. Động tác quá độ lúc đầu dễ khiến người mới học lẫn lộn nhất; vì vậy, giáo viên phải phân chia rõ ràng phần động tác này, tức là lấy động tác 1–3 trong quá trình động tác của Xuyên thoa bên trái thứ nhất làm động tác quá độ.

3. Phương pháp theo bậc: trước học động tác quá độ, tiếp đó trên cơ sở này củng cố và học từng cái một, cho đến khi học xong bốn lần xuyên thoa.

4. Luyện đối luyện theo cách dùng: Giáp — định thế ở động tác Đơn Tiên bên trái, mặt hướng đông. Ất — đứng ở phía sau bên phải của Giáp (tây nam) dùng tay phải đánh xuống từ trên. Giáp — khép chân trái, lật thân, chân phải nhấc về đặt xuống, chân trái bước ra góc chéo tây nam, tay trái đỡ lên, tay phải xuyên ra xông vào ngực sườn của Ất. Bính — đứng ở phía sau bên phải của Giáp (đông nam) tiếp tục luyện như trên; nếu chỉ có hai người thì Ất có thể chạy đổi vị trí để thực hiện.

5. Sau khi động tác cơ bản thuần thục, người luyện tập phải tinh tế thể hội được ý đến, mắt đến, thân đến, tay đến, bộ đến; nói động thì cùng động, nói đến thì cùng đến, và nỗ lực làm được thần hình hợp nhất.

VII. Phân tích kỹ thuật
图 308
图 308
khởi đầu thế Lãm Tước Vĩ: khuỷu tay phải trầm xuống, hai bàn tay khép trước ngực, chân trái nhấc lên.

1. Ngọc Nữ xuyên thoa phương hướng không ngừng biến đổi, liên tiếp nhiều lần bước ngang trên một chân, điều này rất có lợi cho sự tăng trưởng lực chân; và liên tiếp nhiều lần xoay chuyển biến đổi phương hướng khiến cơ quan cảm nhận vị giác của thân thể được rèn luyện tốt.

2. Mỗi thế đều có khởi, thừa, chuyển, hợp của nó. Phát thế là khởi, tiếp thế là thừa, biến đổi là chuyển, thành thế là hợp. Trong động tác Ngọc Nữ xuyên thoa này lấy bốn lần xuyên thoa làm một tổng thế, các lần xuyên thoa phải từng chiêu xuyên suốt, chỗ nào cũng khép lại, khép phải khép toàn thần của nó; bốn chi trên dưới, trái phải, trước sau đều phải tự nhiên khép lại. Cho nên, giữa các động tác không được có chỗ dừng lại, phải "nhất khí xuyên suốt".

3. Người luyện Thái Cực Quyền lâu năm phải coi trọng sự kết hợp trong ngoài. Cách luyện truyền thống là "thủy nhi ý động, kế nhi nội động, nhiên hậu hình động", tức là nội động dẫn ngoại hình, ngoại hình hợp nội động, từ trong ra ngoài, lấy ngoài dẫn trong, cuối cùng làm được nội ngoại hợp nhất (nội ngoại tương hợp). Cho nên người luyện lâu năm không được dừng ở chỗ chỉ nói ngoại động. Phải điều hòa khí huyết, khai thông kinh lạc, phải làm được "tâm tĩnh vi ý", "thân chính thể tùng". Cho nên, khi luyện "Ngọc Nữ xuyên thoa", trước hết phải ý tưởng đến quyền tới, vị trí, động tác của đối phương. Tiến thêm nữa là làm sâu cách luyện: theo sự mở khép của động tác, khiến nội tạng có những chuyển động nhu động và xoa bóp nhẹ nhàng lên xuống, trái phải, to nhỏ không đều, làm cho khí huyết theo kinh lạc và hệ mạch máu lưu thông sinh động, như vậy tốt hơn là chỉ luyện ngoại hình.

Phần 107

Trang sách 398

Thế thứ 53 — Lãm Tước Vĩ

Thế thứ 53 — Lãm Tước Vĩ
I. Cách dùng

Giống với thế thứ 3, Lãm Tước Vĩ.

II. Quá trình động tác

Trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải, chân trái nhấc lên phía trước. Đồng thời, bàn tay phải co khuỷu trầm xuống, theo cung tròn từ ngoài vào trong thu về trước ngực; vừa thu vừa theo cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm bàn tay lật úp xuống, khuỷu tay phải hơi trầm, thấp hơn cổ tay một chút; bàn tay trái đồng thời vòng cung sang phải xuống dưới múc tới trước bụng, vừa múc vừa theo cánh tay xoay ra ngoài khiến tâm bàn tay lật ngửa lên. Hai bàn tay hợp lại, hai cánh tay thành hình cung. Ánh mắt chú ý theo cánh tay phải, xem hình ở cuối trang này (giống hình thứ nhất của thế thứ ba).

Trang này toàn bộ là ảnh tư thế của động tác Lãm Tước Vĩ, xếp thành ba hàng ba cột, không có văn bản. Các hình tiếp nối động tác bắt đầu ở trang trước và kéo dài sang trang sau.

图 309
图 309
hai bàn tay khép trước ngực, chân trái nhấc lên, khuỷu tay phải trầm xuống.
图 310
图 310
chân trái bước ra, bàn tay trái đặt ngang ở phía trong cẳng tay phải.
图 311
图 311
cung bộ trái, bàn tay phải ấn tới trước, bàn tay trái ở cổ tay phải.
图 312A
图 312A
thân thể chuyển sang trái, bàn tay phải lũi về sau, tay trái đỡ cẳng tay phải.
图 312B
图 312B
thân thể quay thẳng về trước, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 313
图 313
cung bộ phải, cẳng tay phải đỡ ra phía trước bên phải.
图 314
图 314
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải đẩy tới trước, bàn tay trái hộ ở khuỷu tay phải.
图 315
图 315
thân thể chuyển sang phải, hai tay khép lại ở trước ngực.
图 316
图 316
cung bộ trái, hai bàn tay ấn tới trước.
图 317
图 317
cung bộ trái, bàn tay phải ấn tới trước, bàn tay trái ở cổ tay phải.
图 318A
图 318A
thân thể chuyển sang trái, bàn tay phải lũi về sau, tay trái đỡ cẳng tay phải.
图 318B
图 318B
thân thể quay thẳng về trước, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 319
图 319
cung bộ phải, cẳng tay phải đỡ ra phía trước bên phải.
图 320
图 320
ngoài trời, ảnh đẩy tay: hai người nối nhau ở cẳng tay, tay trên ấn tới trước.

Động tác về sau giống với thế thứ 3, Lãm Tước Vĩ, xem năm hình đầu trang này (giống hình thứ hai tới hình thứ mười bảy).

Phần 108

Trang sách 399

Thế thứ 54 — Đơn Tiên

Thế thứ 54 — Đơn Tiên

Các điều đều giống với thế thứ 4, Đơn Tiên, xem bảy hình trên trang này (giống hình thứ mười tám tới hình thứ hai mươi ba).

图 321
图 321
cung bộ phải, cẳng tay phải duỗi ra ngoài, bàn tay trái ở trước ngực.
图 322
图 322
bàn tay trái ở trước ngực, cẳng tay phải thu về.
图 323
图 323
cung bộ phải, bàn tay phải đẩy tới trước.
图 324
图 324
tay phải thành câu thủ, bàn tay trái đặt ngang trước ngực.
图 325
图 325
cung bộ trái, bàn tay trái đẩy tới trước, câu thủ phải ở bên phải.
图 326
图 326
thân thể chuyển sang trái, hai bàn tay bắt chéo trước ngực.
图 327
图 327
cung bộ trái định thế, bàn tay trái đẩy tới trước, câu thủ phải chống về sau.
Thế thứ 55 — Vân Thủ

Các điều đều giống với thế thứ 28, Vân Thủ, xem tám hình đầu trên trang này và các hình ở trang sau (giống hình thứ một trăm bốn mươi chín tới hình thứ một trăm năm mươi sáu).

图 328
图 328
đứng hướng về trước, hai bàn tay ở bên ngực, hai cánh tay thành hình cung.
图 329
图 329
cung bộ trái, bàn tay trái theo cung lên phía trên bên trái, bàn tay phải ở dưới trước bụng.
图 330
图 330
thân thể chuyển sang trái, bàn tay trái ở trên bên trái, bàn tay phải đặt ngang trước bụng.
图 331
图 331
trọng tâm chuyển sang chân trái, bàn tay phải theo cung lên phía trên bên phải, bàn tay trái ở dưới.
图 332
图 332
bàn tay phải ở trên bên phải, hộ trước mặt, bàn tay trái ở trước bụng.
图 333
图 333
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải theo cung sang phải, bàn tay trái chuyển ngang lên trên.
图 334
图 334
cung bộ trái, bàn tay trái đẩy tới trước, bàn tay phải ở dưới.

Trang này toàn bộ là ảnh tư thế của động tác Vân Thủ, xếp thành ba hàng ba cột, không có văn bản. Các hình tiếp nối động tác của trang trước.

图 335
图 335
cung bộ trái, bàn tay phải hộ trước mặt, bàn tay trái ở trước bụng.
图 336
图 336
thân thể chuyển sang phải, bàn tay phải theo cung sang phải, bàn tay trái ở dưới.
图 337
图 337
trọng tâm ở chân phải, bàn tay phải duỗi sang phải, bàn tay trái đặt ngang trước bụng.
图 338
图 338
bàn tay phải hộ trước mặt, bàn tay trái ở trước bụng.
图 339
图 339
thân thể chuyển sang trái, bàn tay trái theo cung lên phía trên bên trái, bàn tay phải ở dưới.
图 340
图 340
cung bộ trái, bàn tay trái duỗi ra phía trước bên trái, bàn tay phải ở bên phải.
图 341
图 341
trọng tâm chuyển sang chân trái, bàn tay phải hộ trước mặt.
图 342
图 342
thân thể chuyển sang trái, bàn tay trái theo cung lên trên, bàn tay phải đặt ngang trước bụng.
图 343
图 343
cung bộ trái, bàn tay trái duỗi ra phía trước bên trái, bàn tay phải ở dưới.
图 344
图 344
bàn tay phải hộ trước mặt, bàn tay trái ở trước bụng, hai chân song song.
图 345
图 345
tay phải thành câu thủ, bàn tay trái ở trước ngực, chân trái nhấc lên.

Phần 109

Trang sách 400

Thế thứ 56 — Đơn Tiên

Thế thứ 56 — Đơn Tiên

Các điều đều giống với thế thứ 29, Đơn Tiên, xem các hình còn lại trên trang này (giống hình thứ hai mươi mốt tới hình thứ hai mươi ba).

Ở giữa trang này, bên phải các hình, là một ảnh đẩy tay ngoài trời, trong đó tay trên được nâng lên; không có số và không có chú thích.

图 346
图 346
cung bộ trái, bàn tay trái đẩy tới trước, câu thủ phải ở bên phải.
图 347
图 347
thân thể hơi chuyển sang trái, bàn tay trái ở trước ngực, cẳng tay phải duỗi ra ngoài.
图 348
图 348
cung bộ trái định thế, bàn tay trái đẩy tới trước, câu thủ phải chống về sau.
Thế thứ 57 — Hạ Thế
I. Cách dùng

1. Tiếp thế trước. Nếu đối phương dùng tay phải đẩy tay trái ta ra ngoài hoặc nắm chặt, ta lập tức tách chân phải hơi sang phải, ngồi xuống về sau, tay trái đồng thời dùng động tác vòng tròn sinh động thu về trước ngực, chờ cơ hội tiến công lại.

2. Tiếp thế trước. Nếu đối phương dùng tay trái đánh tới, ta gấp dùng tay trái bắt cổ tay địch, hái xuống sang trái, chân phải cùng eo hông đồng thời ngồi xuống, để kéo lực của đối phương và tích khí của ta.

II. Quá trình động tác

1. Eo hông hơi chuyển sang phải, mũi bàn chân phải mở ra ngoài đặt vững, trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải, chân phải từ từ co gối, trọng tâm dịch về sau, chân trái từ từ duỗi thẳng (có co gối). Đồng thời, tay trái thu vào trong hơi cong, các ngón tay hướng về trước (xem hình thứ nhất trang này).

2. Chân phải tiếp tục ngồi xổm xuống thành phó bộ trái; đồng thời, bàn tay trái theo trọng tâm lùi về sau và dịch xuống dưới, co khuỷu theo cung qua bên ngực rồi xuống, tay trái xuyên tới trước từ phía trong chân trái, chân phải đồng thời hơi nhấc lên. Ánh mắt chú ý theo tay trái (xem hình thứ hai trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khi bàn tay trái theo cung thu vào trong và dịch xuống, phải theo sự dịch về sau của trọng tâm thân thể, thả lỏng eo hông, lỏng vai buông khuỷu, như vậy mới có thể xuyên suốt từng khớp, dẫn dắt bàn tay trái thu vào dịch xuống.

2. Bàn tay trái từ thu vào dịch xuống tới xuyên tới trước phải viên hoạt. Các ngón tay phải hướng về trước (đông), tâm bàn tay hướng về nam, ngồi cổ tay.

3. Phải đề phòng thân thể ngả tới trước, cúi đầu, mông nhô ra; phải giữ thượng thể ngay thẳng, nhưng cần chú ý không được ưỡn ngực.

4. Ánh mắt tuy theo bàn tay trái, nhưng khi bàn tay trái từ dưới xuyên tới trước thì không được cúi đầu, mắt phải nhìn ngang.

IV. Yêu cầu

1. Chân phải ngồi xổm xuống phải chậm rãi.

2. Thượng thể phải thẳng, không được cong. Quyền luận nói: "Bách hội, trung cực, nhất khí quán thông". Phàm những chỗ thân ngả tới trước, ngả về sau, nghiêng lệch đều không hợp yêu cầu.

图 349
图 349
chân phải ngồi xổm, eo chuyển sang phải, bàn tay trái ở bên trái, bàn tay phải nâng lên ở bên phải.
图 350
图 350
phó bộ trái đã thành, bàn tay trái xuyên tới trước từ phía trong chân trái, bàn tay phải ở bên phải.

3. Khi ngồi xổm xuống, cánh tay trái thu về phải lớn hơn 90° và không được cong quá; hơn nữa yêu cầu việc thu tay về phải do eo dẫn dắt.

Phần 110

Trang sách 401

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

V. Lỗi dễ mắc, nguyên nhân phát sinh, cách sửa

1. Lỗi: hai chân đứng trên một đường thẳng, người đứng không vững. Nguyên nhân chính là ở động tác Đơn Tiên trước đó, chân trái dịch về sau sang trái không đủ, khoảng cách ngang quá gần. Sửa: phải chú ý vị trí đúng của hai chân trong động tác Đơn Tiên trước đó.

2. Lỗi: cánh tay trái quá thẳng hoặc quá cong. Nguyên nhân chính là không trầm khuỷu hoặc bàn tay vẽ vòng quá lớn. Sửa: cánh tay phải lỏng mềm viên hoạt, và phải cương nhu tương tế; lên xuống duỗi co đều phải đi theo đường cung. Cánh tay vừa kỵ cứng nhắc tạo thành cánh tay thẳng, vừa kỵ lỏng lẻo tán mạn với những lên xuống lớn; nói chung cánh tay cong không quá khoảng 100°.

3. Lỗi: thượng thể ngả tới trước. Nguyên nhân chính là chưa hiểu đầy đủ về cách dùng. Bởi vì bất luận là hái xuống hay tay trái ta bị nắm mà dùng động tác vòng tròn sinh động thu về trước ngực, điều dùng đến là sự ngồi xuống về sau của chân phải cùng eo hông, để kéo lực của đối phương; mà thượng thể ngả tới trước thì không những chỉ có thể dùng lực của cánh tay, bất lợi cho việc hái xuống và thoát khỏi, mà còn ảnh hưởng ánh mắt không thể quan sát đối phương cho tốt. Sửa: yêu cầu eo phải lỏng, trầm, thẳng; chỉ khi trục giữa không cong mới có thể chống đỡ tám phương.

4. Lỗi: phó bộ không đúng — có người hông thấp hơn đầu gối, trông như tư thế rất thấp, nhưng thực tế cơ phía trước đùi đều ở trạng thái thả lỏng, thêm bắp chân nâng đùi, là động tác tiết kiệm sức, tạo thành quá kình, không hoạt. Nguyên nhân chính là không hiểu yêu cầu động tác của phó bộ. Sửa: phó bộ yêu cầu chân trụ (chân phải) có hông cao hơn đầu gối hoặc ngang đầu gối, bàn chân trước hư chưởng dán đất, thân ngang, phần lớn trọng lượng rơi trên chân phải. Thân thẳng.

5. Lỗi: khi ngồi xổm xuống mông nhô ra sau. Nguyên nhân chính là không làm tốt "liễm đồn" (hoặc gọi là thu đồn); mông nhô ra thì dễ bị vặn mông. Sửa: eo phải lỏng trầm thẳng đứng, mông phải tự nhiên thu vào trong.

6. Lỗi: nâng vai, khiến cánh tay phải cứng nhắc, cánh tay trái không viên hoạt. Nguyên nhân chính là người mới học thường dùng cơ quanh vai để phát lực làm động tác cánh tay; có người chỉ nghĩ đến thả lỏng, không…

…từ "trầm trước". Cho nên có người nâng vai, có người lỏng mà không trầm. Sửa: vai phải mở ra mới có thể duỗi cơ và dây chằng quanh vai, như vậy sự duỗi co quấn quấn của cánh tay mới có thể tùy tâm sở dục.

7. Lỗi: sau khi trọng tâm dịch về sau thành phó bộ thì động tác dừng lại. Nguyên nhân chính là chưa lĩnh hội đủ về liên tục viên hoạt. Sửa: trong động tác phải không lõm không lồi, không có khuyết điểm, không có góc nhọn; phải hiểu rằng lực cũ đã hết, lực mới chưa sinh, lúc này là lúc dễ bị người ta thừa cơ nhất. Vì vậy, Thái Cực Quyền yêu cầu liên tục viên hoạt, liên miên bất đoạn, chu nhi phục thủy, tuần hoàn vô cùng, không được dừng lại.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Trọng điểm của cách dạy phải đặt ở chỗ sau khi trọng tâm chuyển sang chân phải, ngồi thẳng xuống không ưỡn ngực.

2. Dùng phương pháp so sánh: Giáp — làm thế Đơn Tiên. Ất — dùng tay phải nắm tay trái của Giáp. Giáp — ① trước hết dùng tay trái giằng xuống dưới (trọng tâm không động). ② dùng trọng tâm dịch về sau ngồi thẳng xuống. Hai người so sánh, thể hội cách nào có lực hơn, dễ hái đối phương hoặc thoát khỏi đối phương hơn; đương nhiên trọng tâm dịch về sau ngồi thẳng xuống là có lực hơn.

3. Giáo viên quan sát động tác của người luyện từ các góc độ khác nhau, như từ chính diện xem thượng thể của người luyện có nghiêng về hướng đông không, từ bên cạnh xem lộ tuyến di chuyển của tay, xem thượng thể có thẳng ngay không, v.v., kiểm tra và sửa từng cái một.

4. Người luyện nếu yếu sức, lớn tuổi thì có thể ngồi xổm ít hơn, giá thức cao hơn.

VII. Phân tích kỹ thuật

Hạ Thế là động tác từ cung bộ trái biến thành phó bộ, yêu cầu trọng tâm dịch về sau, co chân phải ngồi thẳng về sau. Then chốt ở chỗ ngồi về sau; ngồi tốt hay không quan hệ đến toàn bộ động tác có đúng hay không. Khi ngồi xuống nếu gốc hông thấp hơn đầu gối thì sẽ hình thành "đãng đang", làm nền tảng của chân phù phiếm không vững, chuyển hóa hư thực của hai chân trở nên không linh (làm khởi động không linh hoạt); nếu gốc hông cao hơn đầu gối thì lượng vận động rất nhỏ, không đạt hiệu quả rèn luyện thân thể tốt. Khi luyện Hạ Thế, trước hết phải từ từ dịch trọng tâm về sau, đồng thời mở mũi bàn chân phải ra ngoài khoảng 45°; lúc này mũi bàn chân trái phải tạo thành hình chữ bát mở ra ngoài. Trong quá trình trọng tâm dịch về sau…

图 351
图 351
phó bộ trái, bàn tay trái xuyên tới trước ở bên trái, bàn tay phải nâng lên ở phía sau bên phải.
图 352
图 352
cung bộ trái, bàn tay trái đẩy tới trước, tay phải hái xuống.
图 353
图 353
độc lập thức trái, bàn tay trái nâng trước mặt, tay phải ở bên đầu gối phải.

…trong đó, phải "đề đỉnh quán hạng", trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải, từ từ ngồi xuống buông hông; lúc này eo lỏng trầm thẳng đứng, không phải mềm nhũn mà thành "hạ thế".

Phần 111

Trang sách 402

Thế thứ 58 — Kim Kê Độc Lập

Thế thứ 58 — Kim Kê Độc Lập
I. Cách dùng

(A) Kim kê độc lập thức trái Tiếp thế trên.

Nếu đối phương dùng lực vớt lên về phía sau, ta theo thế nâng thân lên tới trước, chân phải đồng thời nhấc lên theo, dùng mũi bàn chân đá vào bụng đối phương. Tay phải theo đó tiến vào, co khuỷu, đầu ngón tay hướng lên, để bịt tay trái của đối phương; lúc này chân trái biến thành thực, đứng vững. Tay phải theo tiến vào có thể khiên chế tay trái đối phương, cũng có thể khiên chế tay phải đối phương, không cần cứng nhắc.

Một cách dùng khác là sau khi chân phải nhấc lên thì lập tức đặt xuống đất, chân trái bước lên phía trước, hai tay phân hai tay đối phương, tức dùng hai chưởng ấn tới trước.

(B) Kim kê độc lập thức phải Từ thức trái.

Nếu đối phương dùng quyền phải đánh tới, tay phải ta trầm xuống, mau dùng tay trái đỡ khuỷu tay đối phương, nhấc đầu gối trái; còn lại giống với thức phải.

II. Quá trình động tác

(A) Kim kê độc lập thức trái 1. Thân thể dần dần chuyển sang trái, mũi bàn chân trái mở ra ngoài, trọng tâm dần dần chuyển sang chân trái, chân trái co gối cung tới trước, đạp chân sau, thượng thể dần dần nâng lên; đồng thời theo trọng tâm dịch tới trước, bàn tay trái xuyên lên phía trước trên, tay phải hơi dịch xuống dưới (vẫn là điếu thủ). Ánh mắt chú ý bàn tay trái (xem hai hình đầu trang này).

2. Thân thể tiếp tục chuyển sang trái, trọng tâm tiếp tục dịch tới trước sang chân trái, gót chân phải rời đất trước và nhấc đầu gối lên tới trước, chân trái dần dần đứng lên. Đồng thời, bàn tay trái theo cung ôm xuống tới bên hông trái (tâm bàn tay hướng xuống); điếu thủ phải biến thành chưởng, từ sau mà xuống; theo chân phải nhấc đầu gối tới trước, tay phải qua bên chân phải, phía trên trước chân phải dùng cẳng tay phải theo cung đỡ lên, co khuỷu đặt ở phía trên trước đầu gối phải, các ngón tay hướng lên, cao ngang mày, tâm bàn tay hướng sang trái, thành độc lập thức trái. Ánh mắt trước chú ý bàn tay trái dịch tới trước; khi bàn tay trái ôm tới đầu gối thì chuyển nhìn bàn tay phải đỡ lên…

图 354
图 354
độc lập thức phải sắp thành, bàn tay phải ở bên đầu gối phải, đầu gối trái nhấc lên.
图 355
图 355
độc lập thức phải định thế, bàn tay trái nâng trước mặt, bàn tay phải ở phía dưới bên đầu gối phải.

…và tới hơi sớm hơn bàn tay phải. Sau đó, nhìn ngang về phía trước qua bàn tay phải (xem hình thứ nhất trang này).

(B) Kim kê độc lập thức phải 1. Thân thể dần dần chuyển sang phải, chân trái dần dần co gối ngồi xổm xuống, "đưa" chân phải hạ xuống rơi ở phía sau bên phải gót chân trái, mũi bàn chân chạm đất trước, theo trọng tâm dần dần chuyển sang chân phải tới cả bàn chân đặt vững. Co gối, chân trái biến thành hư và nhấc lên. Đồng thời, bàn tay phải theo chân phải theo cung hạ xuống ở phía trên trước đầu gối, bàn tay hướng chếch xuống; bàn tay trái trước theo chân trái co gối ngồi xổm mà trầm xuống, lại từ dưới lên trước trên theo đầu gối trái nhấc lên. Ánh mắt chú ý bàn tay phải hạ xuống, rồi chuyển nhìn bàn tay trái nâng lên (xem hình thứ hai trang này).

2. Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải tiếp tục dần dần đứng lên, đầu gối trái tiếp tục nhấc lên. Đồng thời, bàn tay phải theo cung hạ xuống ở bên hông, tâm bàn tay hướng xuống; bàn tay trái từ dưới hướng tới trước, lên trên; theo chân trái nhấc đầu gối tới trước, tay trái qua bên chân trái, phía trên trước chân trái theo cung nâng lên, co khuỷu đặt trước mặt, khuỷu đặt ở phía trên trước đầu gối trái, các ngón tay hướng lên, cao ngang mày, tâm bàn tay hướng sang phải. Ánh mắt trước chú ý bàn tay phải hạ xuống, rồi lập tức chuyển nhìn bàn tay trái nâng lên, tới hơi sớm hơn bàn tay trái, và qua bàn tay trái nhìn ngang về phía trước (xem hình thứ hai trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Từ Hạ Thế, sau khi chân trái phục trên đất, tiếp độc lập: trước hết mũi bàn chân trái mở ra ngoài, sau đó trọng tâm từ từ dịch tới trước: đầu gối trái cung tới trước thành cung bộ trái; sau đó chân phải hơi đạp nhấc đầu gối tới trước, không được đứng lên trong tình trạng hai chân duỗi thẳng.

2. Khi đứng lên, trước hết chân trái phải co gối ngồi vững (lấy độc lập trái làm ví dụ), hạ bàn vững chắc; sau đó chân phải do đầu gối phải dẫn dắt nhấc lên tới trước trên, đồng thời chân trái dần dần đứng lên. Phải đề phòng mượn sức ngả tới trước của thượng thể để đứng lên cho dễ; yêu cầu thượng thể vẫn phải giữ ngay thẳng.

3. Khi độc lập trái, chân phải từ sau nhấc đầu gối tới trước, tay phải phải dựa gần bên đùi phải nâng lên cùng.

4. Từ độc lập trái tiếp độc lập phải, phải chú ý khi chân phải hạ xuống thì chân trái phải đồng thời ngồi xổm "đưa" xuống; không được chỉ chân phải hạ xuống mà chân trái vẫn còn đứng thẳng. Khi chân trái nhấc đầu gối, chân phải cũng phải theo đó dần dần đứng lên.

5. Khi độc lập, phải "trầm kiên thùy trửu" (hạ vai buông khuỷu), "tọa uyển" (ngồi cổ tay), "hư linh đỉnh kình" (hư không cổ, nâng đỉnh đầu), phải "trửu dữ tất hợp" (khuỷu hợp với gối), phương hướng hướng tới phải nhất trí; chân chống đỡ trọng lượng thân người, không được dùng sức ưỡn thẳng.

6. Mọi chữ "thác" (nâng đỡ) trong phần giải thích hai thế độc lập tả hữu đều bắt nguồn từ tác dụng kích kỹ của động tác ấy; nhưng khi luyện tập, không được vì chữ "thác" mà xoay lòng bàn tay hướng lên — mà phải để các ngón tay hướng lên.

IV. Yêu cầu

1. Từ bộc bộ đứng dậy phải viên hoạt khinh linh, không được có ngừng trệ, đứt đoạn; thân người không được dao động.

2. Định thế độc lập, trọng tâm phải ổn định, không được dao động bất định.

3. Phải kiên dữ khố hợp (vai hợp với hông), trửu dữ tất hợp (khuỷu hợp với gối).

4. Khi đứng dậy, bàn chân sau không được cọ đất nhấc về trước, cũng không được giậm mạnh xuống đất.

5. Động tác thu chân không được đột ngột thay đổi, phải phù hợp với động tác của thân người, từ từ thu ra.

6. Khi độc lập tả hữu tiếp nối nhau, hai tay một lên một xuống đều không được ngừng trệ.

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân phát sinh, cách uốn nắn

图 356
图 356
Định thế độc lập bên trái: hữu chưởng nâng đỡ phía trên trước trán phải, tả chưởng ấn xuống bên cạnh hông trái, đầu gối trái nâng cao, chân phải độc lập chống đỡ.

1. Lỗi: không ngồi xổm xuống được, hoặc ngồi xổm xuống rồi không đứng dậy nổi. Nguyên nhân chính là chân không có sức, cho nên phải khổ luyện. Nguyên nhân khác là trọng tâm chưa chuyển đủ về trước nên đứng dậy khó khăn. Uốn nắn: đưa hông về trước, trọng tâm dời về trước, chân trái ngồi chắc, chân phải từ từ nhấc về trước, thì đứng dậy sẽ dễ dàng.

2. Lỗi: đứng không vững, thân người dao động. Nguyên nhân chính cũng ở chỗ cơ bắp chân, lưng và hông không có sức, cho nên cũng phải khổ luyện. Nguyên nhân khác là trên dưới chưa phối hợp tốt, trọng tâm chưa nắm vững. Uốn nắn: ngoài việc kiên trì luyện tập, còn phải trên dưới tương tùy (trên dưới theo nhau).

3. Lỗi: khuỷu và gối rời khớp — gối nhấc về trước lên trên, nhưng tay nâng đỡ co khuỷu quá nhiều, khiến khuỷu áp sát ngực. Nguyên nhân chính là chưa hiểu đủ về cách dùng: tay quá gần ngực sẽ mất tác dụng bịt tay trái đối phương hoặc đỡ khuỷu đối phương. Uốn nắn: chuyển khuỷu lên phía trên gối.

4. Lỗi: chân chống đỡ đứng thẳng căng. Nguyên nhân chính là hiểu biết về cách dùng chưa đủ. Uốn nắn: hai chân phải phân hư thực, "hư không phải hoàn toàn vô lực, thực không phải hoàn toàn đứng chết"; nếu chân chống đỡ đứng chết, tự mình dao động không vững, thì làm sao có thể dùng mũi chân đã nhấc lên đá về trước, và làm sao có thể vừa tiến công vừa thoái thủ? Cho nên chân chống đỡ phải hơi co.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Trọng điểm phải đặt ở việc từ bộc bộ đứng dậy, phải luyện đi luyện lại; về mặt tăng cường sức chân thì phải luyện nhiều động tác từ bộc bộ đứng dậy, về mặt cải tiến kỹ xảo thì phải chú ý chuyển trọng tâm về trước. Cho nên, trong nhiều lần luyện tập, trọng điểm phải là cải tiến việc từ bộc bộ đứng dậy.

2. Trong dạy học phải coi trọng trung trục không cong, lưng phải thẳng đứng. Trên cơ sở đó từ từ từ bộc bộ đứng dậy, nắm chắc yêu cầu "thẳng".

3. Trong việc tiếp nối độc lập tả hữu, phải luyện cho tốt động tác "tống" (đưa tiễn). Chân chống đỡ ngồi xổm xuống, giáo viên phải nhắc chân đang hạ xuống không nên vội chạm đất.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Mấu chốt của thế độc lập có hai: một là từ bộc bộ đứng dậy, hai là khi một chân chống đỡ có thể ổn định trọng tâm. Đó là "lập như bình chuẩn, hoạt tự xa luân" (đứng như chuẩn mực, động như bánh xe).

…hoạt tự xa luân" (động như bánh xe).

2. Cách dùng của thế độc lập là dùng đầu gối đã nhấc lên để lấy mũi chân đá vào bụng địch, tay nâng đỡ bịt tay đối phương. Khi luyện bài quyền, tuy chân không đá ra, nhưng về ý phải có. Cách dùng của gối và chân thiên biến vạn hóa; có khi trong kích kỹ không dùng chân mà dùng gối. Quyền luận nói: "túc lai đề tất" (chân tới thì nhấc gối), "cận tiện gia tất" (gần thì thêm gối) — đó là cách dùng của gối. Cho nên, động tác nhấc gối của thế độc lập, cách dùng rất đa dạng.

Phần 112

Trang sách 403

Thế thứ 59 — Tả Hữu Đảo Niễn Hầu

Thế thứ 59 — Tả Hữu Đảo Niễn Hầu

I. Cách dùng

Giống với thế thứ 17 Tả Hữu Đảo Niễn Hầu ở trước.

II. Quá trình động tác

(Giáp) Đảo Niễn Hầu bên trái

Chân phải dần dần co gối ngồi xổm xuống, lưng dần dần chuyển sang phải. Đồng thời, chân trái từ từ hạ xuống. Tay phải xoay ngoài, vòng cung ra sau rồi dời lên trên xiên tới khoảng ngang vai; tả chưởng duỗi cánh tay dời về trước, hơi chìm xuống. Mắt chú ý hữu chưởng dời sang phải ra sau lên trên. Xem hình thứ nhất trang này, hình thứ hai trang này, hình thứ ba đến hình thứ tám trang này (cùng với các hình thứ 89 đến 94), và hình thứ chín đến hình thứ mười hai trang này (cùng với các hình thứ 88 đến 91).

Các điều còn lại đều giống với thế thứ 17 Tả Hữu Đảo Niễn Hầu.

图 356
图 356
Định thế độc lập bên trái: hữu chưởng nâng đỡ phía trên trước trán phải, tả chưởng ấn xuống bên cạnh hông trái, đầu gối trái nâng cao, chân phải độc lập chống đỡ.
图 357
图 357
Từ độc lập trái tiếp sang độc lập phải: chân phải dần co gối ngồi xổm, chân trái từ từ hạ xuống, tay phải xoay ngoài vạch cung ra sau lên trên.
图 358
图 358
Khởi thế Đảo Niễn Hầu: tay phải xoay ngoài nâng ra sau khoảng ngang vai, tả chưởng duỗi cánh tay dời về trước hơi chìm xuống, lưng chuyển sang phải.
图 359
图 359
Chân trái nhấc lên bước thoái về sau, hữu chưởng đồng thời xoay trong ấn về trước.
图 360
图 360
Định thế thoái bộ: hữu chưởng ấn về trước, tả chưởng thu về bên hông trái, bộ hình là tọa bộ.

Trang này là một bản đồ hình động tác toàn trang, không có chính văn. Các hình 361 đến 367 là đồ giải chuỗi động tác liên tục của thế thứ 59 Tả Hữu Đảo Niễn Hầu, tiếp nối các hình 358 đến 360 ở trang trước.

图 361
图 361
Khởi thế Đảo Niễn Hầu bên phải: tay phải xoay ngoài nâng ra sau khoảng ngang vai, tả chưởng duỗi về trước, lưng chuyển sang trái, mắt nhìn hữu chưởng.
图 362
图 362
Tả chưởng ấn về trước, tay phải thu về bên hông phải, đồng thời chân phải nhấc lên bước thoái về sau.
图 363
图 363
Định thế thoái bộ: tay trái ấn về trước, tay phải thu về bên hông lưng phải, trọng tâm ngồi ở chân sau.
图 364
图 364
Đảo Niễn Hầu bên trái làm tiếp: chân phải lại co gối ngồi xổm, chân trái hạ xuống, tay phải xoay ngoài vạch cung ra sau lên trên.
图 365
图 365
Chân trái bước thoái xuống, hữu chưởng đồng thời xoay trong ấn về trước, tả chưởng thu về bên hông trái.
图 366
图 366
Định thế thoái bộ nhìn nghiêng: hữu chưởng ấn về trước, tả chưởng thu về sau, thân người trung chính.
图 367
图 367
Định thế nhìn chính diện: hữu chưởng ấn về trước ngang vai, tả chưởng thu về bên hông lưng trái, mắt nhìn theo hướng hữu chưởng.

(Ở phía dưới bên trái hình 361 còn có một tấm ảnh đẩy tay không đánh số: hai người dựng tay, một bên dùng hữu chưởng ấn về trước, một bên dùng tả thủ tiếp nhận và thoái bộ.)

Phần 113

Trang sách 404

Thế thứ 60 — Tà Phi Thế

Thế thứ 60 — Tà Phi Thế

Các điều đều giống với thế thứ 18 Đề Thủ Thượng Thế. Xem hình thứ nhất đến hình thứ ba trang này (cùng với các hình thứ 99 đến 101).

Thế thứ 61 — Đề Thủ Thượng Thế

Các điều đều giống với thế thứ 19 Đề Thủ Thượng Thế. Xem hình thứ tư đến hình thứ sáu trang này (cùng với các hình thứ 24 đến 26).

图 368A
图 368A
Khởi thế Tà Phi Thế: trọng tâm ngồi sau trên chân trái, tay phải xoay ngoài nâng lên trước trán phải, tay trái ấn xuống bên cạnh hông trái.
图 368B
图 368B
Tà Phi Thế chuyển tiếp: chân phải bước tới, tay phải xoay trong thái xuống tới bên hông lưng phải, tay trái theo đó xoay ngoài dời lên trên.
图 369
图 369
Định thế Tà Phi Thế: chân phải cung bộ về trước, hữu chưởng triển khai lên trên xiên về phía phải, tả chưởng ấn bên cạnh hông trái.
图 370A
图 370A
Khởi thế Đề Thủ Thượng Thế: hai chưởng cùng nâng lên trước ngực, chân phải bước tới nửa bước.
图 370B
图 370B
Định thế Đề Thủ Thượng Thế: tay phải nâng lên phía trên trước trán phải, tay trái ấn bên cạnh hông trái, chân phải ở trước trong hư bộ.

(Phía trên hình 368B còn có một tấm ảnh đẩy tay không đánh số: hai người dựng tay, một bên dùng hai chưởng nâng cánh tay phải của đối phương.)

Nửa trên trang này là trang hình tiếp theo của thế thứ 61 Đề Thủ Thượng Thế (hình 371 đến 373); nửa dưới mở đầu bản hình của thế thứ 62 Bạch Hạc Lượng Sí.

Thế thứ 62 — Bạch Hạc Lượng Sí

Các điều đều giống với thế thứ 6 Bạch Hạc Lượng Sí. Xem hình thứ tư đến hình thứ bảy trang này (cùng với các hình thứ 27 đến 30).

图 371
图 371
Định thế Đề Thủ Thượng Thế nhìn nghiêng: tay phải nâng lên trước trán phải, tay trái ấn xuống bên cạnh hông trái, chân phải ở trước thành hư bộ.
图 372
图 372
Đề Thủ Thượng Thế từ góc khác: hai cánh tay tách ra trên dưới, tay phải cao tay trái thấp, thân người trung chính.
图 373
图 373
Định thế hợp thủ của Đề Thủ Thượng Thế: tay phải xoay trong thu về hộ trước ngực, tay trái ấn bên cạnh hông lưng trái.
图 374
图 374
Khởi thế Bạch Hạc Lượng Sí: tay phải xoay trong lũa xuống tới trước bụng phải, tay trái xoay ngoài nâng lên trước ngực trái, trọng tâm ngồi sau.
图 375
图 375
Bạch Hạc Lượng Sí chuyển tiếp: tay phải nâng lên phía trên trước trán phải, tay trái ấn xuống, chân phải hơi thu vào.
图 376
图 376
Định thế Bạch Hạc Lượng Sí nhìn nghiêng: hữu chưởng nâng lên phía trên trước trán phải, tả chưởng ấn bên cạnh hông trái, chân phải ở trước điểm đất trong hư bộ.
图 377A
图 377A
Định thế Bạch Hạc Lượng Sí nhìn chính diện: hữu chưởng nâng lên trước trán phải, tả chưởng ấn bên cạnh hông trái, mắt nhìn thẳng phía trước.
图 377B
图 377B
Định thế Bạch Hạc Lượng Sí: hữu chưởng nâng lên, tả chưởng ấn xuống, bộ hình là hữu hư bộ, thân người trung chính an thư.

Phần 114

Trang sách 405

Thế thứ 63 — Tả Lâu Tất Ảo Bộ

Thế thứ 63 — Tả Lâu Tất Ảo Bộ

Các điều đều giống với thế thứ 7 Tả Lâu Tất Ảo Bộ. Xem hình thứ nhất đến hình thứ năm trang này (cùng với các hình thứ 31 đến 35).

图 378
图 378
Khởi thế Tả Lâu Tất Ảo Bộ: trọng tâm ngồi sau trên chân phải, hữu chưởng thu về bên tai phải, tả chưởng duỗi về trước, mắt nhìn thẳng phía trước.
图 379
图 379
Chuyển tiếp: tay phải xoay ngoài lũa xuống trước bụng, tả chưởng xoay ngoài nâng lên, lưng chuyển sang phải.
图 380
图 380
Động tác chuyển tiếp tả chưởng lâu tất, hữu chưởng tiền thôi: tay trái lâu qua phía trên đầu gối trái, tay phải từ bên tai đẩy về trước.
图 381
图 381
Lâu tất cung bộ: chân trái cung về trước, tay trái lâu qua đầu gối trái rồi ấn bên cạnh hông trái, hữu chưởng đẩy về trước.
图 382A
图 382A
Định thế Lâu Tất Ảo Bộ nhìn nghiêng: tả cung bộ, tả chưởng ấn bên cạnh hông trái, hữu chưởng trầm kiên trụy trửu đẩy về trước, mắt nhìn hữu chưởng.
图 382B
图 382B
Định thế Lâu Tất Ảo Bộ nhìn chính diện: tả cung bộ không đổi, hữu chưởng đẩy về trước ngang vai, tả chưởng thu về bên cạnh hông trái.

(Ở phần giữa dưới trang này còn có một tấm ảnh đặc tả bàn tay không đánh số: hữu chưởng đẩy về trước, các ngón tay hướng lên, hổ khẩu mở ra; không có số hình.)

Thế thứ 64 — Hải Để Châm

Các điều đều giống với thế thứ 22 Hải Để Châm. Xem hình thứ nhất đến hình thứ tư trang này (cùng với các hình thứ 114 đến 117).

图 383
图 383
Khởi thế Hải Để Châm: hữu chưởng xoay trong duỗi về trước, tả chưởng xoay ngoài thu về bên cạnh hông trái, trọng tâm ngồi sau.
图 384
图 384
Chuyển tiếp: hữu chưởng theo lưng chuyển sang phải ấn xuống, tả chưởng nâng lên trước ngực trái, chân phải thu nửa bước.
图 385
图 385
Chuyển tiếp trước khi hữu chưởng thọc xuống: hữu chưởng xoay ngoài nâng lên, tả chưởng ấn xuống phía trên đầu gối trái, thân người ngồi sau.
图 386A
图 386A
Định thế Hải Để Châm nhìn nghiêng: hữu chưởng thọc xuống xiên về phía dưới trước đầu gối phải, tả chưởng ấn phía trên đầu gối trái, chân phải ngồi chắc.
图 386B
图 386B
Định thế Hải Để Châm nhìn chính diện: hữu chưởng thọc xuống, tả chưởng nâng lên, thân người trung chính hơi ngả về trước, mắt nhìn xuống phía trước.

(Ở phần trên giữa trang này còn có một tấm ảnh đặc tả bàn tay không đánh số: hữu chưởng thọc xuống, các ngón tay hướng xuống, hổ khẩu mở ra; không có số hình.)

Phần 115

Trang sách 406

Thế thứ 65 — Phiến Thông Bối

Thế thứ 65 — Phiến Thông Bối

Các điều đều giống với thế thứ 23 Phiến Thông Bối. Xem hình thứ nhất và hình thứ hai trang này (cùng với các hình thứ 118 và 119).

Thế thứ 66 — Chuyển Thân Bạch Xà Thổ Tín

I. Cách dùng

Chuyển thân bạch xà thổ tín (rắn trắng thè lưỡi), cơ bản giống với Phiết Thân Chủy, chỉ là đổi quyền thành dùng chưởng, và còn ở chỗ bàn tay phải thêm kình trầm.

图 387A
图 387A
Khởi thế Phiến Thông Bối: hữu chưởng xoay ngoài nâng lên phía trên trước trán phải, tả chưởng duỗi về trước thành lập chưởng, thân người ngồi sau.
图 387B
图 387B
Phiến Thông Bối chuyển tiếp: trọng tâm dời về trước, hữu chưởng chống lên trước trán phải, tả chưởng theo đó đẩy về trước.
图 388A
图 388A
Định thế Phiến Thông Bối: chân trái cung về trước, tả chưởng đẩy về trước ngang vai, hữu chưởng đỡ lên phía trên trước trán phải, mắt nhìn tả chưởng.
图 388B
图 388B
Định thế Phiến Thông Bối nhìn chính diện: tả cung bộ, tả chưởng đẩy về trước, hữu chưởng đỡ lên trên, hai cánh tay trên dưới tách mở, mắt nhìn thẳng phía trước.

II. Quá trình động tác

1. Thân người từ từ chuyển sang phải (về hướng nam), đồng thời mũi chân trái khấu vào trong, chân trái ngồi chắc, chân phải chuyển hư; theo đà chuyển thân, hữu chưởng hạ xuống theo vòng cung rồi nắm quyền, tạm đặt trước sườn trái, co khuỷu ngang cánh tay, tâm quyền hướng xuống. Tả chưởng thu về, vòng cung nâng lên, đặt phía trên trước trán trái. Ánh mắt hơi chú ý tay phải vạch cung, rồi nhìn ngang về trước. Xem hình thứ nhất trang này (cùng với hình thứ 120).

2. Thân người tiếp tục chuyển sang phải (về hướng tây). Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nhấc lên; tả chưởng theo đà chuyển thân đồng thời vòng cung từ phải xuống dưới, qua mặt ngoài cánh tay phải rồi rơi tới mặt ngoài khuỷu phải; hữu quyền xoay vòng lên trên (hơi cao hơn khuỷu trái). Theo đà chuyển thân nhìn ngang về trước, đồng thời chú ý động tác hai tay. Xem hình thứ hai trang này (cùng với hình thứ 121).

3. Chân phải bước xuống về trước (hơi lệch phải), trước tiên để gót chân chạm đất, thân người tiếp tục chuyển sang phải. Đồng thời, hữu quyền theo đà chuyển thân tiếp tục về trước, đến điểm xa nhất thì biến thành chưởng, dùng kình trầm. Mắt nhìn ngang về trước, đồng thời chú ý hữu quyền (xem hình thứ ba trang này).

4. Thân người tiếp tục chuyển sang phải, hữu chưởng tiếp tục phiết xuống tới trước lưng, tâm chưởng hướng lên; tả chưởng vòng cung thu về trước ngực, qua phía trên mặt trong cánh tay phải rồi đẩy về trước. Đồng thời trọng tâm dần dần dời sang chân phải, cung chân phải đạp chân trái thành hữu cung bộ. Mắt nhìn ngang về trước, đồng thời phải chú ý tả chưởng đẩy về trước (xem hình thứ tư trang này).

Thế này, ngoài việc hữu quyền đổi thành chưởng dùng kình trầm phiết về trước xuống dưới, các điều khác đều giống với thế thứ 24 Phiết Thân Chủy.

图 389
图 389
Khởi thế Chuyển Thân Bạch Xà Thổ Tín: thân người chuyển sang phải, hữu chưởng nắm quyền ngang trước sườn trái, tả chưởng nâng lên phía trên trước trán trái.
图 390
图 390
Chân phải nhấc lên, tả chưởng vòng cung rơi xuống tới mặt ngoài khuỷu phải, hữu quyền xoay vòng lên trên.
图 391
图 391
Chân phải bước xuống về trước lấy gót chân chạm đất, hữu quyền duỗi về trước tới điểm xa nhất thì biến thành chưởng, dùng kình trầm.
图 392
图 392
Định thế: hữu cung bộ, tả chưởng qua phía trên cánh tay phải đẩy về trước, hữu chưởng phiết xuống trước lưng, mắt nhìn thẳng phía trước.
Thế thứ 67 — Tiến Bộ Ban Lan Chủy

I. Cách dùng

Giống với thế thứ 25 Tiến Bộ Ban Lan Chủy ở trước.

II. Quá trình động tác

Thân người dần dần chuyển sang trái, trọng tâm từ từ dời sang chân trái. Đồng thời, hữu chưởng theo đà chuyển thân chìm xuống, tả tý xoay ngoài khiến tâm chưởng dần dần lật hướng lên, thu về bên cạnh khuỷu phải trước ngực; hữu chưởng biến thành quyền duỗi về trước lên trên tới phía trên tả chưởng, vừa duỗi cánh tay phải vừa xoay trong khiến tâm quyền hướng xuống; ánh mắt chú ý hữu quyền duỗi về trước.

图 393
图 393
Khởi thế Tiến Bộ Ban Lan Chủy nhìn nghiêng: thân người chuyển sang trái, hữu chưởng chìm xuống, tả tý xoay ngoài lật chưởng trước ngực.
图 394
图 394
Hữu chưởng biến thành quyền duỗi về trước lên trên, tả chưởng tâm lật hướng lên thu về bên cạnh khuỷu phải trước ngực.
图 395
图 395
Chuyển tiếp: hữu quyền xoay trong khiến tâm quyền hướng xuống, hai cánh tay giao nhau trước ngực.
图 396
图 396
Hữu quyền duỗi về trước, tả chưởng xoay ngoài, thân người trung chính, mắt nhìn hữu quyền.
图 397
图 397
Cung bộ ban quyền: chân phải cung về trước, hữu quyền phiết vào trong, tả chưởng theo đó xoay ngoài đón về trước.
图 398
图 398
Thế lan: tả chưởng đón về trước, hữu quyền thu về bên hông lưng phải, trọng tâm dời về trước thành cung bộ.
图 399
图 399
Định thế chủy thế: hữu cung bộ, hữu quyền từ bên hông lưng đánh ra về trước ngang vai, tả chưởng thu về phía trong khuỷu phải.

Các điều còn lại đều giống với thế thứ 25 Ban Lan Chủy. Xem hình thứ nhất đến hình thứ bảy trang này (cùng với các hình thứ 124 đến 130).

Phần 116

Trang sách 407

Thế thứ 68 — Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ

Thế thứ 68 — Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ

Các điều đều giống với thế thứ 26 Lãm Tước Vĩ. Xem hình thứ tám trang này (cùng với hình thứ 131) và hình thứ chín đến hình thứ mười bốn trang này (cùng với các hình thứ 8 đến 13); chuỗi hình tiếp theo ở trang sau.

图 400
图 400
Khởi thế Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ: hữu thủ xoay ngoài bằng lên trước ngực phải, tả thủ ấn xuống trước bụng trái, trọng tâm ở chân trái.
图 401
图 401
Bằng thế: tả cung bộ, tả tý bằng về trước ngang vai, hữu chưởng đặt phía trong cổ tay trái.
图 402
图 402
Bằng thế chuyển tiếp: trọng tâm dời về trước, tả chưởng bằng về trước, hữu chưởng theo đó mà động.
图 403
图 403
Khởi lũa thế: hai tay đồng thời xoay trong, hữu chưởng duỗi về trước, tả chưởng dẫn về sau.
图 404
图 404
Lũa thế: trọng tâm ngồi sau trên chân phải, hai tay lũa về phía sau bên phải, tới bên phải thân người.
图 405
图 405
Tễ thế: tả chưởng tễ về trước, hữu chưởng theo đó về trước áp vào phía trong cổ tay trái.
图 406
图 406
Định thế tễ thế: tả cung bộ không đổi, hai chưởng hợp nhau tễ về trước, mắt nhìn thẳng phía trước.
Thế thứ 69 — Đơn Tiên

Các điều đều giống với thế thứ 27 Đơn Tiên. Xem hình thứ năm đến hình thứ mười trang này (cùng với các hình thứ 18 đến 23); chuỗi hình tiếp theo ở trang sau.

图 407
图 407
Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ tiếp: tả cung bộ, chuyển tiếp sau khi hai chưởng hợp nhau tễ về trước.
图 408
图 408
Án thế: hai chưởng đồng thời ấn xuống trước bụng, trọng tâm dời về trước.
图 409
图 409
Định thế án thế: hai chưởng ấn xuống, thân người ngồi sau, bộ hình là tọa bộ.
图 410
图 410
Lãm Tước Vĩ thu thế: trọng tâm ngồi sau trên chân phải, hai chưởng ấn xuống trước bụng, mắt nhìn thẳng phía trước.
图 411
图 411
Khởi thế Đơn Tiên: hữu chưởng biến thành câu thủ duỗi ra phía sau bên phải, tả chưởng thu về trước ngực, lưng chuyển sang phải.
图 412
图 412
Đơn Tiên chuyển tiếp: trọng tâm dời sang chân phải, mũi chân trái khấu vào trong, câu thủ duỗi về trước.
图 413
图 413
Định thế Đơn Tiên: tả cung bộ, tả chưởng đẩy về trước, hữu thủ câu ở phía sau bên phải.
Thế thứ 70 — Vân Thủ

Các điều đều giống với thế thứ 28 Vân Thủ. Xem hình thứ tư đến hình thứ mười một trang này (cùng với các hình thứ 149 đến 156), hình thứ mười hai đến hình thứ mười bảy trang này (cùng với các hình thứ 151 đến 156), và hình thứ mười tám đến hình thứ hai mươi trang này (cùng với các hình thứ 151 đến 153).

图 414
图 414
Đơn Tiên tiếp: câu thủ duỗi về trước, tả chưởng đẩy về trước, trọng tâm dời về trước thành tả cung bộ.
图 415
图 415
Đơn Tiên từ góc khác: định thế tả cung bộ, tả chưởng đẩy về trước ngang vai, câu thủ triển ra sau.
图 416
图 416
Định thế Đơn Tiên nhìn chính diện: tả chưởng đẩy về trước, hữu thủ câu ở phía sau bên phải, hai cánh tay trước sau tách mở, mắt nhìn tả chưởng.
图 417
图 417
Khởi thế Vân Thủ: hữu thủ từ câu thủ biến thành chưởng, vạch cung từ phải lên trên sang trái, tả thủ ấn xuống trước bụng trái.
图 418
图 418
Vân Thủ chuyển tiếp: hữu thủ xoay trong ấn xuống trước bụng phải, tả thủ xoay ngoài nâng lên trước ngực trái, lưng chuyển sang trái.
图 419
图 419
Vân Thủ (thức trái): tả thủ vạch cung từ trái lên trên sang phải, hữu thủ ấn xuống trước bụng phải.
图 420
图 420
Vân Thủ chuyển tiếp: hai tay trên dưới thay phiên nhau, lưng chuyển sang phải, trọng tâm di chuyển theo bước.

Trang này là một bản đồ hình động tác toàn trang, không có chính văn. Các hình 421 đến 429 là đồ giải chuỗi động tác liên tục của thế thứ 70 Vân Thủ, tiếp nối các hình 417 đến 420 ở trang trước.

图 421
图 421
Vân Thủ: hữu thủ nâng lên trước trán phải, tả thủ ấn xuống trước bụng trái, lưng chuyển sang trái.
图 422
图 422
Vân Thủ chuyển tiếp: hữu thủ vạch cung từ phải lên trên sang trái, tả thủ theo đó hạ xuống, trọng tâm dời sang chân trái.
图 423
图 423
Vân Thủ (thức phải): hữu thủ vạch tới trước vai trái, tả thủ ấn xuống trước bụng phải, lưng chuyển sang trái.
图 424
图 424
Vân Thủ (thức trái): tả thủ nâng lên trước trán trái, hữu thủ ấn xuống trước bụng phải, chân trái bước ngang sang trái một bước.
图 425
图 425
Vân Thủ chuyển tiếp: tả thủ vạch cung từ trái lên trên sang phải, hữu thủ theo đó hạ xuống, lưng chuyển sang phải.
图 426
图 426
Vân Thủ (thức phải): tả thủ vạch tới trước vai phải, hữu thủ ấn xuống trước bụng trái, lưng chuyển sang phải.
图 427
图 427
Khởi Vân Thủ: hữu thủ nâng lên trước trán phải, tả thủ ấn xuống trước bụng trái, lưng chuyển sang trái.
图 428
图 428
Vân Thủ chuyển tiếp: hữu thủ vạch cung từ phải lên trên sang trái, tả thủ theo đó hạ xuống.
图 429
图 429
Vân Thủ (thức phải): hữu thủ vạch tới trước vai trái, tả thủ ấn xuống trước bụng phải, bộ hình là tả cung bộ.

Phần 117

Trang sách 408

Thế thứ 71 — Đơn Tiên

Thế thứ 71 — Đơn Tiên

Các điều đều giống với thế thứ 29 Đơn Tiên. Xem hình thứ năm trang này (cùng với hình thứ 166) và hình thứ sáu đến hình thứ tám trang này (cùng với các hình thứ 21 đến 23).

图 430
图 430
Vân Thủ thu thế: hữu thủ nâng lên trước trán phải, tả thủ ấn xuống trước bụng trái, lưng chuyển sang trái.
图 431
图 431
Vân Thủ chuyển tiếp: hữu thủ vạch cung từ phải lên trên sang trái, tả thủ theo đó hạ xuống, trọng tâm dời sang chân trái.
图 432
图 432
Vân Thủ (thức phải): hữu thủ vạch tới trước vai trái, tả thủ ấn xuống trước bụng phải, lưng chuyển sang trái.
图 433
图 433
Vân Thủ thu thế: sau khi hai tay trên dưới thay phiên nhau thì thu về hai bên thân, chân trái thu sát chân phải.
图 434
图 434
Khởi thế Đơn Tiên: hữu chưởng biến thành câu thủ duỗi ra phía sau bên phải, tả chưởng thu về trước ngực, lưng chuyển sang phải.
图 435
图 435
Đơn Tiên chuyển tiếp: trọng tâm dời sang chân phải, mũi chân trái khấu vào trong, câu thủ duỗi về trước.
图 436
图 436
Định thế Đơn Tiên: tả cung bộ, tả chưởng đẩy về trước ngang vai, hữu thủ câu ở phía sau bên phải.

Phần 118

Trang sách 409

Thế thứ 72 — Cao Thám Mã Đái Xuyên Chưởng

Thế thứ 72 — Cao Thám Mã Đái Xuyên Chưởng

I. Cách dùng

Cách dùng phần thứ nhất giống với Cao Thám Mã. Phần thứ hai: khi tay phải ta thám ra bị tay trái đối phương nắm giữ, ta lập tức thu tay phải về, tâm bàn tay hướng xuống, tay trái hơi nhấc lên xuyên chưởng xông về phía cổ họng đối phương, tay phải vẫn giấu dưới khuỷu trái, để ứng biến.

II. Quá trình động tác

(Giáp) Động tác Cao Thám Mã giống với thế thứ 30 Cao Thám Mã, xem hình thứ hai đến hình thứ tư trang này (cùng với các hình thứ 170 đến 172).

(Ất) Tả Xuyên Chưởng

1. Chân phải dần dần ngồi xổm xuống, chân trái nhấc lên thu về. Đồng thời, cánh tay phải dần dần co khuỷu ngang cánh tay, cánh tay thành hình vòng cung, vòng cung về phía dưới trái thu vào trong, vừa thu vừa xoay ngoài cánh tay khiến tâm chưởng lật hướng lên; tả chưởng dần dần ngửa chưởng xuyên lên trên hữu chưởng. Mắt nhìn ngang về trước (xem hình thứ năm trang này).

2. Chân trái bước tới một bước, trước tiên lấy gót chân chạm đất, theo trọng tâm dần dần dời sang chân trái mà tới toàn bàn chân đạp chắc, cung chân trái đạp chân phải thành tả cung bộ. Đồng thời, tả thủ tiếp tục xuyên về trước lên trên; khi tả tiểu tý xuyên qua phía trên hữu chưởng, hữu tý lập tức xoay trong khiến tâm chưởng lật hướng xuống, hữu chưởng rơi xuống phía dưới thượng tý trái, tả chưởng xuyên ra trên hữu chưởng, tâm chưởng vẫn hướng lên, cao ngang cằm. Ánh mắt chú ý hữu chưởng thu vào trong, rồi chú ý tả chưởng xuyên về trước (xem hình thứ sáu trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Khi chân trái bước tới, chân phải phải ngồi xổm xuống, khiến bước chân trái bước ra lớn hơn một chút. Như vậy vừa đạt hiệu quả kích kỹ, vừa tăng lượng vận động.

2. Khi tả chưởng xuyên tới lúc sắp thành cung bộ, thân người hơi chuyển sang phải cho nhịp nhàng nhất trí.

3. Khi bước, thượng thể phải trung chính, không được ngả về trước. Thân pháp Thái Cực Quyền phải khinh linh tùng tĩnh, nhưng không cho phép cúi đầu về trước, cong thân về trước.

4. Bước chân phải khinh linh, cố gắng làm được "mại bộ như miêu hành" (bước như mèo đi), cho nên chân trái bước tới phải làm tốt động tác "trầm" và "tống" của chân phải đưa chân trái về trước; nếu không, bước chân rất dễ căng cứng.

图 437
图 437
Khởi thế Cao Thám Mã Đái Xuyên Chưởng: hai tay trước sau tách mở, hữu thủ duỗi về trước, tả thủ thu về bên hông lưng trái, trọng tâm ngồi sau.
图 438
图 438
Động tác Cao Thám Mã: hữu thủ duỗi về trước tới trước ngực, tả thủ thu về bên hông lưng trái, thân người trung chính.
图 439
图 439
Định thế Cao Thám Mã: hữu chưởng thám về trước ngang vai, tả chưởng thu về bên hông lưng trái, chân trái ở trước trong hư bộ.

…về trước; nếu không, bước chân rất dễ căng cứng.

5. Khi tả chưởng xuyên ra, hữu tý phải thành hình vòng cung, nách phải phải để có khe hở, không được kẹp chặt. Nếu không, một mặt về tư thế sẽ tỏ ra gượng gạo, không đạt được yêu cầu viên mãn mọi nơi; mặt khác, hữu thủ ở dưới nách là để chuẩn bị ứng biến, nếu bị kẹp chặt sẽ mất viên hoạt và giảm hiệu quả ứng biến.

IV. Yêu cầu

1. Hạ chi đổi bước, nhưng "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông" vẫn phải làm được, không được ngả trước ngửa sau.

2. Động tác phải liên quán không ngừng. Cao Thám Mã tới vị trí thì lập tức làm động tác xuyên chưởng, hai động tác không được tách rời, phải "miên miên bất đoạn" (liên tục như sợi chỉ).

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân phát sinh, cách uốn nắn

1. Lỗi: cánh tay xuyên ra duỗi thẳng hoàn toàn. Duỗi thẳng sẽ khiến cơ bắp căng cứng, thành ra quá kình, và động tác chậm chạp. Nguyên nhân chính thường ở chỗ xuất thủ dùng sức quá nhiều, hoặc chủ quan muốn tay duỗi ra xa một chút, tưởng rằng xuất kích ắt trúng. Quyền luận nói: vốn là "xả kỷ tòng nhân" (bỏ mình theo người), nhiều người lại lầm thành "xả cận cầu viễn" (bỏ gần cầu xa). Cái gọi là sai một ly, đi một dặm. Cho nên, duỗi quá mức là bất lợi. Uốn nắn: xuất thủ để dư địa, khi xuyên chưởng cánh tay hơi thành hình vòng cung.

2. Lỗi: khi bước chân trái, chân phải không ngồi xổm xuống, hoặc ngồi xổm rất ít, chỉ là trọng tâm thân người dời về trước rồi chân trái bước tới. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Vì hữu thủ ta thám ra bị nắm giữ, nếu có ngồi xổm thì cánh tay phải thu về có một kình trầm, có thể dẫn động đối phương, ta liền dùng tả chưởng xuyên thẳng vào cổ họng đối phương. Hơn nữa, trong luyện bài quyền, Cao Thám Mã là một trong số ít động tác khiến thân người đứng lên. Vì vậy, khi xuyên chưởng phải trở lại luyện quyền ở trạng thái nửa ngồi xổm, để tăng cường luyện sức chân. Uốn nắn: ngay từ khi bắt đầu xuyên chưởng, phải khiến chân phải ngồi xổm xuống.

3. Lỗi: trên dưới rời khớp, khi xuyên chưởng hoặc tay tới trước hoặc chân tới trước. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Phát kình phải có căn nguyên: kình khởi từ gót chân, chủ tể ở lưng, phát ra ở chân, thành hình ở ngón tay; nếu tay và chân rời khớp thì kình từ đâu khởi, kình làm sao đạt được. Uốn nắn: tay xuất kích ắt phải có sự phối hợp chống đỡ của lưng và chân; luyện tập cố gắng làm được tay tới chân tới, đặc biệt chú ý chân cung không nên quá nhanh.

图 440
图 440
Xuyên chưởng chuyển tiếp: hữu tý xoay ngoài khiến tâm chưởng lật hướng lên, tả chưởng ngửa chưởng xuyên lên trên hữu chưởng.
图 441
图 441
Chân trái bước tới về trước, tả chưởng tiếp tục xuyên về trước, hữu chưởng rơi xuống phía dưới thượng tý trái.
图 442A
图 442A
Định thế xuyên chưởng: tả cung bộ, tả chưởng xuyên về trước ngang cằm, hữu chưởng rơi dưới thượng tý trái, mắt nhìn thẳng phía trước.

…của lưng và chân; luyện tập cố gắng làm được tay tới chân tới, đặc biệt chú ý chân cung không nên quá nhanh.

4. Lỗi: xuyên và đả không phân biệt rõ, cho nên tay trái là trước lên trên rồi xuống dưới. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Xuyên chưởng là xông về phía cổ họng đối phương; nếu đánh xuống dưới thì chỉ có thể kích vào ngực. Uốn nắn: bàn tay phải xuyên lên theo đường xiên từ dưới lên, không được vòng cung đánh xuống.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Khẩu quyết: Cao Thám Mã thủ bị nắm giữ; khuất hữu thối hữu chưởng thu hồi; mại tả thối khinh linh hướng tiền; tả xuyên chưởng trực bôn hầu phương.

2. Không ngừng nâng cao phân biệt hư thực. Nửa đoạn đầu, khi Đơn Tiên tiếp Cao Thám Mã, chân trái thu về phải ngồi chắc trên chân phải, nhấc nhẹ chân trái, phải chú ý trọng tâm dời về sau, không được thượng thể ngả trước, không được thu chân trái cọ đất. Khi xuyên chưởng phải chú ý ngồi chắc chân phải, khiến chân trái bước tới khinh linh. Khi dạy phải quan sát và uốn nắn nhiều lần để trọng tâm dời lên điểm chống đỡ, khiến hư thực phân minh.

3. Người học phải thường xuyên luyện đi luyện lại tư thế nửa ngồi xổm của chân phải, làm động tác bước tới và thu về của chân trái, cũng có thể đổi chân trái phải làm, để thể hội hư thực và tăng cường sức chân.

4. Kết hợp cách dùng để đối luyện: Giáp — làm định thế Cao Thám Mã; Ất — dùng tay trái dẫn giữ tay phải của Giáp; Giáp — chân phải ngồi xổm xuống, tay phải thu về, chân trái bước tới, tả chưởng xuyên ra; Ất — hơi thoái lui. Trong luyện tập giáo viên phải giảng ý nghĩa và yêu cầu động tác của từng chi tiết, khiến việc học trở nên hình tượng.

5. Để người mới học được đơn giản hóa động tác khi học, có thể học tay không động chân động, hoặc học chân không động tay động, để dễ xem, dễ bắt chước; nhưng sau khi đã làm rõ từng bộ phận riêng lẻ của tay và chân thì phải tiếp ngay luyện động tác tay chân cùng nhau; như vậy vừa học nhanh lại không gây rời khớp và phá hoại động tác.

VII. Phân tích kỹ thuật

Cao Thám Mã Đái Xuyên Chưởng phải chú ý khinh linh; thân người trì trệ thì tiến thoái không được tự nhiên. Cho nên thân phải linh; sức của đối phương vừa chạm da lông ta, ý ta đã vào tận xương cốt đối phương.

图 442B
图 442B
Định thế xuyên chưởng từ góc khác: tả cung bộ, tả chưởng xuyên về trước, hữu chưởng rơi dưới thượng tý trái, thân người trung chính, mắt nhìn thẳng phía trước.

Phần 119

Trang sách 410

Thế thứ 73 — Thập Tự Thối

Thế thứ 73 — Thập Tự Thối

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu có đối phương từ phía sau bên phải ta dùng tay phải đánh ngang tới, ta gấp chuyển thân về phía sau bên tay phải mà lũa chuyển; tả tý đồng thời lật lên co về, khi cùng hữu tý trên dưới ôm nhau, gấp tách hai tay ra trước sau để chặn tay địch. Đồng thời, gấp nhấc chân phải lên, dùng gót chân đạp về phía sườn phải đối phương; như vậy, đối phương ắt theo chân mà ngã ra.

Chú: Trong 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》 tập thứ nhất (bản 1933) của Tổ sư Dương Trừng Phủ, ở đây chỉ dùng một hình động tác định thế Thập Tự Thối, các hình quá trình không liệt kê; cách luyện vốn là Bả Đan Bãi Liên Thối (đá vòng đơn). Cách luyện trong sách này là cách Dương Trừng Phủ tu đính định hình cuối cùng, đã phổ biến rộng rãi từ lâu, cho nên lấy làm động tác định hình cuối cùng hiện nay. Để bạn đọc hiểu đôi phần về cách luyện vốn có, đặc biệt giới thiệu như sau:

Từ sau Tả Xuyên Chưởng, mũi chân trái khấu vào trong đạp chắc, thân người dần dần chuyển sang phải, trọng tâm dần dần toàn bộ dời sang chân trái. Đồng thời tả chưởng co khuỷu theo đà chuyển thân qua trước mặt vòng cung dời sang phải, hữu chưởng vẫn ở dưới thượng tý trái; thân người tiếp tục chuyển sang phải, chân phải nhấc lên từ trái vòng cung ra phía trên bên phải bãi ra ngoài, đầu gối tự nhiên hơi co, chân cao không quá vai, mu bàn chân hơi nghiêng hướng sang mặt phải. Đồng thời, tả chưởng từ trên sang phải rồi sang trái đón đánh mặt chân phải.

Cách dùng khác (phá pháp):

1. Phá Thập Tự Thối, có thể trước dùng lâu tất, rồi dùng cách khác tiến công.

2. Phá Thập Tự Thối, cũng có thể dùng tả thủ thượng bằng, bước chân phải lên, dùng hữu tài chủy phá Thập Tự Thối.

II. Quá trình động tác

1. Thân người dần dần chuyển sang phải, mũi chân trái khấu vào trong đạp chắc, trọng tâm dần dần toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nhấc lên (gót chân rời đất trước). Đồng thời, tả tý co khuỷu dời sang phải, tâm chưởng hướng vào trong; hữu chưởng qua mặt ngoài tả tý theo thân người chuyển sang phải mà hợp, vừa hợp vừa xoay ngoài cánh tay khiến tâm chưởng lật hướng vào trong, khiến hai chưởng trước ngực thành hình chữ thập giao nhau. Mắt theo đà chuyển thân nhìn ngang sang phải, ánh mắt phải chú ý hai chưởng hợp ôm (xem hình thứ nhất và hình thứ hai trang này).

2. Hai chưởng tách ra sang trái phải. Đồng thời, chân phải lấy gót chân từ từ…

图 443
图 443
Khởi thế Thập Tự Thối: thân người chuyển sang phải, hai chưởng trước ngực thành hình chữ thập giao nhau, chân phải nhấc lên gót chân rời đất trước.
图 444
图 444
Thập Tự Thối chuyển tiếp: hai chưởng tách ra sang trái phải, chân phải nhấc lên từ trái vòng cung ra phía trên bên phải bãi ra ngoài.
图 445A
图 445A
Thập Tự Thối đạp ra: chân phải lấy gót chân đạp ra phía trước bên phải, hai chưởng trái phải tách mở, thân người trung chính, mắt nhìn sang phải.

…từ từ đạp ra sang phải, mũi chân hướng lên; chân trái theo chân phải đạp ra đồng thời dần dần đứng lên, nhưng tới định thế đầu gối vẫn hơi co. Mắt chú ý hữu chưởng tách ra, và qua hữu chưởng nhìn ngang sang phải (xem hình thứ nhất trang này, và tham khảo hình mặt sau của hình 210).

III. Yếu lĩnh

1. Lưng hông chuyển sang phải, gót chân trái khấu vào, thượng thể không được ngả trước ngửa sau; phải làm được vĩ lư trung chính (xương cụt trung chính), trung trục không cong, chuyển động không lắc lư, mới có thể khiến nội kình đạt tới sự vận dụng linh hoạt chống đỡ tám mặt.

2. Tả thủ theo lưng hông chuyển sang phải mà phối hợp từ trái sang phải, hữu thủ từ dưới vòng cung lên trên; hai tay trước ngực giao nhau hợp ôm, phải đầy đặn, không tản mạn, không teo rút.

3. Chân phải đạp ra, phải trước tiên nhấc chân tập trung lực lượng ở khớp đầu gối, dây chằng phần hông kéo mở (độ cao nhấc gối thường không nên thấp hơn ngang hông); như vậy chân có thể đạp tới sườn, phù hợp yêu cầu cách dùng.

4. Khi đạp chân xong, một chân chống đỡ, thân phải chính, trên dưới cơ bản thành một đường. Trần Hâm nói: "Thân pháp chính giả, thân tráng đoan chính, vô sở thiên ỷ, hư linh nội hàm" (thân pháp chính là thân trụ đoan chính, không nghiêng lệch, hư linh hàm chứa bên trong), cho nên lúc đó từ đỉnh đầu tới hội âm, luôn phải thành một đường thẳng đứng; ngả trước ngửa sau, nghiêng trái lệch phải đều không phù hợp yêu cầu thân pháp. Điều này đòi hỏi toàn thân thư giãn, khiến động tác và sự chuyển đổi của lưng chân hòa thuận nhịp nhàng.

IV. Yêu cầu

1. Phương hướng phải chính. Từ Cao Thám Mã Đái Xuyên Chưởng hướng mặt về đông, chuyển lưng hông dùng chân phải đạp ra. Hướng đạp là chính tây, mặt cũng hướng tây.

2. Tráng bộ phải vững, khi đạp chân không được lôi động thân người khiến thân nghiêng lệch.

3. Phải chân tới, tay tới.

4. Hư thực phải rõ. Từ khi mũi chân trái khấu vào trong, trọng tâm liền dời sang chân trái, khiến chân phải nhấc gối khinh linh.

V. Lỗi thường mắc, nguyên nhân phát sinh, cách uốn nắn

1. Lỗi: khi khấu chân trái vào trong thì trọng tâm dời sang phải. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Đối phương từ phía sau bên phải ta đánh ngang tới, nếu ta chuyển động trọng tâm sang phải, thân người nghiêng phải, như vậy là tự đưa mình vào chỗ bị đánh. Đồng thời cũng ảnh hưởng tới việc nhanh chóng chuyển thân, từ đó làm tăng…

图 445B
图 445B
Định thế một chân chống đỡ nhìn nghiêng: sau khi chân phải đạp ra thì một chân chống đỡ, trên dưới một đường, hai chưởng trái phải tách mở, lưng hông chuyển sang phải.

…làm tăng khó khăn trong việc quan sát động tác đối phương, như vậy bất lợi cho việc nhanh chóng nghênh địch. Hơn nữa, trọng tâm dời sang phải, hai chân song trọng, bất lợi cho công thủ; đồng thời vì giảm bớt gánh nặng của chân, cũng giảm hiệu quả luyện tập. Uốn nắn: chân trái khấu vào trong, trọng tâm vẫn ở chân trái, chuyển lưng hông, thượng thể chuyển hướng tây nam; như vậy là đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạp chân về sau.

2. Lỗi: hai tay trước ngực giao nhau hình chữ thập quá chặt, quá bẹp. Nguyên nhân chính: một là chỉ chú trọng chuyển động vòng cung của tay trái mà bỏ qua chuyển động của tay phải; hai là hiểu cách dùng chưa đủ. Kết quả của chặt và bẹp đều khiến phạm vi phòng vệ của hai tay bị thu hẹp, dễ bị công kích. Uốn nắn: phải chú ý đầy đặn, hữu thủ phải hướng ra ngoài, lên trên.

3. Lỗi: phương hướng đạp chân không chính. Nguyên nhân chính thường là chân trái khấu vào trong không đủ, khiến hướng đạp chân lệch về tây nam; thứ hai là không hiểu cách dùng. Đối phương từ phía sau bên phải ta tiến công tới, hướng chính của việc đạp chân ta phải là phía sau thân, tức chính tây. Uốn nắn: mấu chốt ở chỗ chân trái khấu vào trong phải vượt quá 90°, thì chân phải đạp ra không những dễ chính hướng mà còn không gượng gạo.

4. Lỗi: động tác không đều, lúc nhanh lúc chậm. Nguyên nhân chính là chân không đủ sức. Như khấu chân nhanh hơn, nhấc gối chậm hơn, đạp chân nhanh hơn. Thái Cực Quyền là một loại nội công quyền, nó yêu cầu "do nội cập ngoại" và "dĩ ngoại dẫn nội" để nâng cao hiệu quả luyện tập; dưới sự dẫn dắt của ý thức, yêu cầu cử động khinh hoãn, bất từ bất tật (không chậm không gấp), cho nên phải "ý động hình tùy", cố gắng làm được nội ngoại tương hợp, ý khí tương liên, không để có chỗ đứt đoạn nhanh chậm. Uốn nắn: khấu chân phải theo lưng chuyển, ngồi chắc chân trái, nhấc chân khinh hoãn, theo chân trái dần dần nâng lên mà chầm chậm đạp chân phải.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giáo viên từ mặt nam quan sát độ số khấu chân trái, từ mặt tây quan sát hướng đạp chân.

2. Trọng điểm dạy học phải đặt ở đạp chân; phải luyện nhiều, lặp lại động tác chân trái một chân chống đỡ, nhấc chân phải đạp chân, để tăng cường sức chân, đạt yêu cầu vững và khinh linh.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Trong Thập Tự Thối, phòng thủ là tay, tiến công là chân; tay chỉ là chặn, cách dùng chủ yếu ở chân.

2. Đạp chân luyện không tốt dễ bị nín thở. Hô hấp của Dương Thức Thái Cực Quyền yêu cầu hoàn toàn tự nhiên, phải dùng phương pháp hô hấp tự nhiên: du, quân, tế, hoãn (dài, đều, nhỏ, chậm), bất từ bất tật.

Phần 120

Trang sách 411

Thế thứ 74 — Tiến Bộ Chỉ Đang Chủy

Thế thứ 74 — Tiến Bộ Chỉ Đang Chủy

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối phương thu tay về, ta lập tức hạ chân phải xuống, đồng thời chân trái tiến lên, co gối ngồi chắc. Lúc này, nếu đối phương lại dùng chân phải từ dưới đá tới, ta gấp dùng tay trái gạt chân phải đối phương ra ngoài đầu gối trái ta, tay phải tiếp ngay nắm quyền đánh (chỉ) vào bộ phận sinh dục đối phương, thân người hơi ngả về trước.

II. Quá trình động tác

1. Chân trái dần dần ngồi xổm xuống, chân phải hạ xuống treo nhấc, thân người dần dần chuyển sang phải. Đồng thời, hữu chưởng từ phải vòng cung xuống dưới qua trước thượng phúc vòng sang trái, vừa vòng vừa xoay trong cánh tay khiến tâm chưởng chuyển hướng xuống; tả chưởng cũng theo chân trái ngồi xổm và thân người chuyển sang phải mà chìm xuống, vòng cung dời về trước lên trên sang phải (xem hình thứ nhất trang này).

2. Thân người tiếp tục chuyển sang phải, chân phải bước tới lệch phải (tây lệch bắc), trước tiên lấy gót chân chạm đất, sau đó mũi chân phải bãi ra ngoài 45°, theo trọng tâm dần dần dời sang chân phải mà tới toàn chân đạp chắc. Theo đà chuyển thân, hữu chưởng từ trái lên trên qua trước ngực dời sang phải; vừa dời vừa xoay ngoài cánh tay, khiến tâm chưởng dần dần lật hướng xuống. Tả chưởng vòng cung dời sang trước ngực trái (xem hình thứ hai trang này).

3. Trọng tâm dần dần toàn bộ dời sang chân phải, chân trái bước về trước từ phía trong mắt cá phải, trước tiên lấy gót chân chạm đất, thân người tiếp tục hơi chuyển sang phải. Đồng thời, hữu chưởng theo đà chuyển thân tiếp tục sang phải, ra sau, về trước vòng một vòng cung thu về bên hông lưng phải nắm quyền; tả chưởng từ trước mà sang phải rồi sang trái vòng cung lâu xuống. Mắt nhìn ngang về trước, ánh mắt phải chú ý tả chưởng (xem hình thứ ba và hình thứ tư trang này).

4. Thân người tiếp tục dần dần chuyển sang trái, trọng tâm dần dần dời sang chân trái, dần dần tới toàn chân đạp chắc, cung chân trái đạp chân phải thành tả cung bộ. Đồng thời, tả chưởng vòng cung lâu về trước đầu gối trái tới bên cạnh đầu gối trái, hữu quyền đánh ra về trước xuống dưới, cao ngang bụng, thân người hơi gập lưng. Mắt nhìn ngang về trước, ánh mắt phải chú…

图 446
图 446
Khởi thế Tiến Bộ Chỉ Đang Chủy: thân người chuyển sang phải, hữu chưởng từ phải vòng cung xuống dưới qua trước thượng phúc vòng sang trái, tả chưởng theo đó vòng cung dời về trước.
图 447
图 447
Chân phải bước tới lệch phải; hữu chưởng qua trước ngực dời sang phải, tâm chưởng lật hướng xuống, tả chưởng vòng cung dời sang trước ngực trái.
图 448
图 448
Chân trái bước về trước từ phía trong mắt cá phải; hữu chưởng vòng cung thu về bên hông lưng phải nắm quyền, tả chưởng vòng cung lâu xuống.

Và tay trái gạt về bên trái, quyền phải đánh ra (xem hình 450).

III. Yếu lĩnh

1. Đồng thời với việc chân phải hạ xuống, phải có động tác chân trái "đưa" xuống (gập chân trái), phải chú ý thân trên ngay thẳng.

2. Chân trái tiến về trước, khi hông khớp háng chuyển sang trái, tay trái gạt gối và quyền phải đánh ra phía trước phải tiến hành đồng thời, phải trên dưới trái phải, tương hấp tương hệ, khiến động tác không tản mạn. Nếu chuyển thân quá lớn thì sẽ mất đi sự vừa độ.

3. Quyền phải đánh ra phía trước phải phối hợp với chân trái cung, chân phải đạp và thân thể hơi ngả về trước, phải làm được thân đến, tay đến, bộ đến.

IV. Yêu cầu

1. Hư thực phải rõ, khi chân phải hạ xuống, chân trái phải chìm xuống ngồi vững.

2. Khi ra quyền, lộ tuyến di động phải chính xác, nên hơi mang hình cung, từ bên hông đánh ra phía trước hơi chếch xuống.

3. Khi gạt thì trọng tâm ở chân phải.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp sửa chữa

1. Lỗi: nắm quyền quá sớm. Nguyên nhân chính là chưa hiểu đầy đủ về cách dùng. Sửa chữa: ra quyền là tiến hành ngay sau động tác gạt, cho nên, nắm quyền phải ở lúc tay trái đã gạt và tay phải theo hình cung dời đến bên hông; trước đó không nên nắm quyền.

2. Lỗi: thân trên không phải hơi ngả về trước mà là cúi đầu khom lưng về phía trước. Nguyên nhân chính là không chú ý vĩ lư trung chính, đây là khuyết điểm về thân pháp. Sửa chữa: thân thể tuy có hơi ngả về trước, nhưng phải "bách hội, trung cực, nhất khí quán thông", từ đỉnh đầu đến hội âm hình thành một đường thẳng.

3. Lỗi: hai tay dừng lại trong động tác. Đặc biệt là khi chân phải hạ xuống. Nguyên nhân chính là chân trái không chìm xuống ngồi vững, để duy trì thăng bằng thân thể, do đó dừng lại động tác của tay, tạo thành trên dưới thoát tiết. Sửa chữa: chân trái ngồi vững, hai tay theo chuyển hông di động theo hình cung.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Động tác này trước tiên phải làm tốt động tác chuyển tiếp, luyện đi luyện lại chân phải hạ xuống và chân trái chìm xuống hơi gập, đặt nền tảng tốt cho động tác phía sau.

图 449A
图 449A
Tiến Bộ Chỉ Đang Chùy quá độ: chưởng phải hướng phải, ra sau, ra trước vòng cung thu về bên hông phải nắm quyền, chưởng trái từ trước sang phải, sang trái gạt xuống theo hình cung.
图 449B
图 449B
Chưởng trái gạt đến bên gối trái, quyền phải từ bên hông đánh ra phía trước chếch xuống, thân thể hơi bẻ lưng.
图 450
图 450
Chỉ Đang Chùy định thế: cung bộ trái, chưởng trái gạt đến bên gối trái, quyền phải đánh ra phía trước chếch xuống cao ngang bụng, mắt nhìn phía trước.

2. Phải giảng rõ từ thân trên giữ ngay thẳng, đến khi theo quyền phải Đánh ra phía trước, khi thân biến thành hơi ngả về trước thì không được cúi đầu gù lưng, khiến người tập hiểu rằng gù lưng sẽ làm khí huyết không thông; phải giảng giải và làm mẫu nhiều lần.

3. Giáo viên phải không ngừng sửa chữa khoảng cách ngang của bước tiến và hướng chỉ của bàn chân trong khi luyện, khiến gốc hông và tứ chi có sự tương liên tốt, từ đó động tác trung bình vững chắc.

VII. Phân tích kỹ thuật

Tiến Bộ Chỉ Đang Chùy có hai động tác: một là động tác gạt của tay trái, hai là động tác đánh ra phía trước của tay phải, và phải tiến hai bước. Điều này đòi hỏi động tác phải liên tục, trên dưới tương tùy. Còn đặc biệt phải luyện tốt "tâm tĩnh dụng ý": khi chưa động thì gạt bỏ tạp niệm, tai như không nghe, mắt như không thấy, phải ở trong trạng thái vô tư vô lo. Sau khi đã động, toàn thần quán chú dùng ý để dẫn dắt việc tiến hành từng động tác. Cho nên, luyện quyền phải trước ở tâm, sau ở thân, và phải dụng ý bất dụng lực, nội ngoại hợp nhất.

Phần 121

Trang sách 412

Thế thứ 75 — Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ

Thế thứ 75 — Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ

I. Cách dùng

Giống với Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ: xem hình thứ nhất trang này (đồng với hình 131), và ba hình tiếp theo (đồng với hình 8 đến hình 17); chuỗi hình tiếp theo ở trang sau.

II. Quá trình động tác

图 451
图 451
Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ khởi thế: thân đứng thẳng chuyển sang trái, mũi bàn chân trái mở ra ngoài đạp vững, hai chưởng theo chuyển thân khép nhẹ sang phải.
图 452
图 452
Trọng tâm dời sang chân trái, chân phải nhấc lên bước về trước, hai tay theo chuyển thân bằng ra phía trái.
图 453
图 453
Chân phải bước lên đạp vững, hai tay hợp trước ngực.
图 454
图 454
Hai tay theo hông bằng ra phía trái, thành thế bằng tay trái.

Thân đứng thẳng chuyển sang trái, mũi bàn chân trái mở ra ngoài 45° đạp vững, trọng tâm Dần dần dời toàn bộ sang chân trái, chân phải nhấc lên về phía trước. Đồng thời, chưởng trái gập khuỷu từ bên trái lên trên theo hình cung dời đến trước ngực trái, lòng bàn tay hướng sang phải; quyền phải biến thành chưởng từ phía trước theo hình cung móc sang bên trái đến dưới cẳng tay trái, vừa móc vừa theo cánh tay xoay ngoài khiến lòng bàn tay lật chếch lên trái, hợp với chưởng trái, hai cánh tay thành hình cung. Mắt hơi nhìn chưởng phải rồi chuyển sang chưởng trái nhìn thẳng về phía trước — xem hình thứ nhất ở trang trước (đồng với hình 131).

Các điều khác đều giống với Thế thứ 3 Lãm Tước Vĩ.

图 455
图 455
Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ: trọng tâm dần dời sang chân trái, chân phải nhấc lên, chưởng trái gập khuỷu dời lên trước ngực trái, chưởng phải móc sang trái đến dưới cẳng tay trái.
图 456
图 456
Chưởng phải móc đến dưới cẳng tay trái, hai chưởng hợp nhau, hai cánh tay thành hình cung.
图 457
图 457
Hai chưởng theo cánh tay xoay ngoài lật bàn tay, chưởng trái ở trước, chưởng phải áp vào trong cổ tay trái.
图 458
图 458
Chuyển hông sang trái, hai chưởng theo đó bằng ra phía trước, thành thế bằng tay trái.
图 459
图 459
Trọng tâm dời về trước, hai chưởng bằng ra phía trước trái, ngồi cổ tay duỗi chưởng.
图 460
图 460
Hai tay lũ: hai chưởng theo hông chuyển sang phải, tay trái duỗi ra trước, tay phải dẫn về.
图 461
图 461
Lãm Tước Vĩ định thế: thành cung bộ trái, hai chưởng ấn ra phía trước, mắt nhìn phía trước.

Phần 122

Trang sách 413

Thế thứ 76 — Đơn Tiên

Thế thứ 76 — Đơn Tiên

Cách dùng, quá trình động tác và các điều khác đều giống với Thế thứ 4 Đơn Tiên: xem hình thứ nhất đến hình thứ bảy trang này (đồng với hình 18 đến hình 23).

图 462
图 462
Đơn Tiên khởi thế: tiếp nhận từ định thế Lãm Tước Vĩ, hai tay hợp trước ngực.
图 463
图 463
Hai tay theo hông chuyển sang phải, chưởng phải biến thành câu thủ duỗi ra phía trước phải.
图 464
图 464
Chân trái bước ra phía trước trái, chưởng trái theo chuyển thân đẩy ra phía trước trái.
图 465
图 465
Chưởng trái đẩy ra phía trước trái, câu thủ phải ở phía sau phải, mắt nhìn chưởng trái.
图 466A
图 466A
Đơn Tiên quá độ: câu thủ phải chống ra sau, chưởng trái đẩy ra trước, hai cánh tay kéo đối nhau trước sau.
图 466B
图 466B
Chưởng trái ngồi cổ tay đẩy ra, lòng bàn tay hướng trước, câu thủ phải ở phía sau phải hơi cao.
图 467
图 467
Đơn Tiên định thế: cung bộ trái, chưởng trái đẩy ra trước, câu thủ phải chống ra sau, mắt nhìn qua chưởng trái.
Thế thứ 77 — Hạ Thế

Cách dùng, quá trình động tác và các điều khác đều giống với Thế thứ 57 Hạ Thế: xem hình thứ nhất trang này (đồng với hình 349) và hình thứ hai trang này (đồng với hình 350).

Thế thứ 78 — Thượng Bộ Thất Tinh

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối thủ dùng tay phải chém xuống từ trên, tôi lập tức đứng dậy, thân chuyển nhẹ sang trái, tiến bước về phía trước, hai tay biến thành quyền, đồng thời tập hợp giao nhau làm thành hình chữ thất, mắt quyền chếch vào trong để bằng. Đánh thẳng vào ngực đối thủ bằng quyền cũng được.

Cách dùng khác là:

Đối thủ dùng tay phải đánh từ trên xuống, tôi làm Thượng Bộ Thất Tinh, dùng hai tay đỡ lại. Đối thủ lại dùng quyền trái đánh thẳng vào ngực bụng tôi, tôi lập tức đổi bước, hai tay tách ra (tay trái lên trên, tay phải xuống dưới), tiếp ngay dùng thức án đánh thẳng ra trước.

II. Quá trình động tác

1. Hông khớp háng dần chuyển sang trái, trọng tâm dời về trước, thân thể dần đứng lên về trước chuyển sang trái, mũi bàn chân trái mở ra ngoài, chân trái gập gối cung về trước, đạp chân phải, trọng tâm dần dời về trước sang chân trái. Chưởng trái bằng chỉ hướng lên dần móc lên, tay phải hơi hạ xuống (xem hình thứ ba trang này).

2. Trọng tâm tiếp tục dời về trước, chân trái gập gối, toàn bộ trọng lượng do chân trái chống đỡ, thân trên tiếp tục dần chuyển sang trái, gót chân phải rời đất trước, nhấc lên về phía trước qua phía trong mắt cá chân trái, đồng thời chưởng trái móc lên đến trước ngực, tay phải theo chân phải nhấc về trước, từ sau ra trước dời đến trước hông (xem hình thứ tư trang này).

3. Chân phải bước ra trước nửa bước, dùng nửa bàn chân trước chấm đất, thành hư bộ phải; đồng thời, chưởng trái tiếp tục dời về trước, đến khi hai quyền sắp giao nhau thì nắm quyền. Quyền phải giao về phía trước ở dưới quyền trái, cùng với quyền trái đồng thời bằng ra phía trước lên trên. Hai quyền thành hình chữ thất, cao ngang trán, mắt quyền chếch lên. Mắt nhìn thẳng về phía trước, ánh mắt chú ý đến việc hai quyền giao nhau bằng ra trước (xem hình thứ năm trang này).

III. Yếu lĩnh

图 468
图 468
Hạ Thế: từ định thế Đơn Tiên ngồi xuống, chân phải gập gối ngồi xuống, chân trái duỗi thẳng thành bộ phác, chưởng trái duỗi ra trước ấn xuống.
图 469
图 469
Hạ Thế quá độ: trọng tâm hạ xuống, chưởng trái theo phía trong chân trái duỗi ra trước luồn ra, mắt nhìn tay trước.
图 470
图 470
Thượng Bộ Thất Tinh khởi thế: trọng tâm dần dời sang chân trái, chưởng trái bằng chỉ móc lên, tay phải hơi hạ xuống.

1. Khi đứng dậy từ bộ phác chân trái, phải lấy hông khớp háng dẫn dắt: mũi bàn chân trái mở ra ngoài, chân trái dần gập, chân phải dần đạp, hông khớp háng thả lỏng, thân trên di chuyển ngang bằng, hình thành cung bộ — không được đứng dậy bằng cách duỗi thẳng hai chân.

2. Khi chuyển từ Hạ Thế sang hư bộ phải, thân thể không được lắc lư, ngả về trước; thân trên phải giữ ngay thẳng, hông khớp háng phải thả lỏng — không được vì giữ thăng bằng mà làm cứng hông.

3. Khi hai quyền bằng ra phía trước lên trên, chú ý không được làm thành động tác hất lên phía trước. Lưng quyền thuận theo cẳng tay, không phải toàn bộ mu bàn tay hướng ra ngoài.

4. Khi hai quyền bằng ra trước, hai vai không được vì hai quyền giao nhau mà nhô lên hoặc khóa lại. Hai cánh tay phải thành hình cung, đạt được cong tích mà viên mãn.

5. Phải làm được tĩnh thì đều tĩnh, động thì đều động, và phải chuyển hóa nội kình dưới yêu cầu trong mở có chứa hợp, trong hợp có lìa; như vậy mới luyện đến "chạm vào thì xoay chuyển tự nhiên, không chỗ nào không đắc lực". Các danh gia Thái Cực Quyền thời trước đạt đến cảnh giới kỹ thuật "hễ tựa vào đâu thì lấy đó mà đánh".

IV. Yêu cầu

1. Khi từ Hạ Thế tiếp sang hư bộ phải của thế này, phải thế nọ tiếp thế kia xuyên suốt. Khi Hạ Thế tiếp Thượng Bộ Thất Tinh, Hạ Thế không được ngồi chết, phải "kình đứt ý không đứt", "đứt mà lại liền" — tức là Hạ Thế dường như dừng lại, nhưng thực ra ý thức vẫn quán chú, nội kình vẫn đang vận chuyển; cho nên yêu cầu việc chuyển tiếp phải linh hoạt.

2. Từ Hạ Thế đứng dậy thành hư bộ phải của Thượng Bộ Thất Tinh, phải phân rõ hư thực, bước chân không được lê, thân thể không được lắc lư.

3. Khi thành hư bộ phải, hông đang phải chìm xuống đầy đủ, phải tròn mà lại hư, không được kẹp thành đang nhọn hình chữ nhân.

4. Hai tay biến thành quyền yêu cầu vừa biến vừa hợp.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp sửa chữa

图 471
图 471
Thượng Bộ Thất Tinh quá độ: trọng tâm dời sang chân trái, chân phải qua phía trong mắt cá chân trái nhấc lên, chưởng trái móc lên đến trước ngực, tay phải dời về trước.
图 472
图 472
Thượng Bộ Thất Tinh định thế: hư bộ phải, hai quyền giao nhau thành hình chữ thất, cao ngang trán, mắt nhìn phía trước.

1. Lỗi: hai quyền giao nhau tựa ngực quá gần, quá xa, quá cao, quá thấp. Nguyên nhân chính là chưa đủ rõ về cách dùng. Phải biết đối thủ dùng tay phải chém xuống từ trên; nếu tôi hợp quyền quá gần thì đầu dễ bị công kích. Vì tay công kích của đối thủ đã đến đầu tôi, nếu quá xa thì hai cánh tay duỗi thẳng, kình không đủ. Nếu quá cao thì ngực bụng tôi quá "không", lộ ra cho địch dễ bị công kích. Sửa chữa: kiểm tra và luyện tập nhiều lần, phải quyền hơi cao hơn vai, hai cánh tay thành hình cung.

2. Lỗi: ở hư bộ phải, chân phải đạp vững, hình thành song trọng. Nguyên nhân chính là hai chân vô lực, chân phải chia sẻ trọng lượng thân thể, hòng giảm bớt gánh nặng cho chân trái. Thêm nữa là không hiểu ý nghĩa kỹ kích. Nếu hai chân đứng vững, tiến lùi đều phải làm hai động tác — tức là trước dời trọng tâm, sau đó chân phải mới có thể tiến hoặc lùi — như vậy sẽ mất thời cơ, sẽ bị động chịu đòn. Sửa chữa: chân trái gánh toàn bộ trọng lượng thân thể, lặp lại động tác chân phải dời ra trước ra sau, để tăng cường lực chân và thể hội hư thực.

3. Lỗi: khi đứng dậy thân trên ngả về trước. Nguyên nhân chính là chân trái vô lực, muốn mượn thân trên ngả về trước để nhấc chân phải ở phía sau lên. Sửa chữa: khi đứng dậy, chân trái cung về trước, khiến trọng tâm dời về trước đặt trên chân trái. Nhưng phương pháp căn bản vẫn ở việc rèn luyện sức mạnh cơ bắp của chân: phải luyện nhiều động tác đứng dậy từ Hạ Thế tiếp Thượng Bộ Thất Tinh. Nếu người già yếu, có thể lấy tư thế cao hơn một chút — tức là góc gập gối của chân trái lớn hơn một chút — như vậy hạ thấp độ khó và dễ hoàn thành động tác.

4. Lỗi: khi hai quyền tập hợp giao nhau làm thành hình chữ thất, vị trí của quyền không đúng. Có cái mắt quyền hướng vào trong, có cái mắt quyền hướng lên. Nguyên nhân chính là thể hội về cách dùng chưa sâu. Đối thủ dùng tay phải chém xuống từ trên, tôi dùng hai quyền bằng ra phía trước lên trên để chặn; do đó phải khiến lưng quyền thuận theo cẳng tay, hai mắt quyền hơi chếch lên. Nếu mắt quyền hướng lên hoặc lòng quyền hướng vào trong thì cái trước không có kình bằng, cái sau sẽ gây nhấc khuỷu, không thể thả lỏng vai rũ khuỷu. Sửa chữa: mắt quyền nên hơi chếch lên.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giáo viên quan sát từ các góc độ khác nhau khoảng cách ngang của hai chân, vị trí và hướng của hai quyền khi ở định thế.

2. Trọng điểm nên đặt ở việc đứng dậy từ "Hạ Thế" tiếp "Thượng Bộ Thất Tinh", vì lúc này cơ bắp chân chịu gánh nặng nhất. Trước tiên phải rèn luyện việc dời trọng tâm về phía trước.

3. Phải tiến hành giảng dạy động tác cho đều. Đặc biệt khi đứng dậy dễ đột nhiên nhanh hơn. Động tác hai cánh tay đưa ra trước cũng dễ nhanh hơn; phải không chậm không gấp, trong một động tác việc di chuyển tay chân phải đều, trong cả bài Thái Cực Quyền phải thế nào cũng đều.

4. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: A — làm định thế "Hạ Thế". B — ở ngay phía trước, dùng tay phải chém xuống từ trên. A — cung chân trái, làm hư bộ phải, hai tay đưa ra trước lên trên biến thành quyền tập hợp giao nhau, làm hình chữ thất bằng ra ngoài. Hai người đổi nhau, làm lại.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Trong toàn bộ bài Dương Thức Thái Cực Quyền, có hai lần "Hạ Thế": một là tiếp "Kim Kê Độc Lập", một là tiếp động tác này "Thượng Bộ Thất Tinh". Khi trọng tâm dời về trước, yêu cầu "vĩ lư trung chính"; điều này đòi hỏi hai khớp hông dựng thẳng, cùng tiến cùng lùi, hoặc rút đổi đều nhau, nỗ lực làm được không lệch không nghiêng, ở trên đối với hai khớp vai, hướng động nhất trí, phù hợp yêu cầu "vai với hông hợp".

2. Từ "Hạ Thế" tiếp "Thượng Bộ Thất Tinh", khi trọng tâm dời về trước, cung gối trái nhấc chân phải đứng dậy, trọng tâm thân thể rời xa điểm chống đỡ; nếu tư thế thấp thì càng làm lượng vận động tăng lớn. Cho nên, người mới tập có thể lấy tư thế cao hơn một chút, khiến trọng tâm gần hơn một chút, cũng làm gánh nặng của chân nhẹ hơn một chút, thì dễ đứng dậy.

Phần 123

Trang sách 414

Thế thứ 79 — Thoái Bộ Khóa Hổ

Thế thứ 79 — Thoái Bộ Khóa Hổ

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối thủ dùng hai tay ấn tới, tôi lập tức dán hai cổ tay mình vào phía trong hai cổ tay đối thủ, tay trái mở ra phía dưới trái của tôi, tay phải qua phía trên phải của tôi dán lên, hai lòng bàn tay tôi theo đó lật ra ngoài; chân phải lập tức lui về sau một bước, hạ xuống ngồi vững, hông chìm kình xuống dưới, chân trái theo đó nhấc lên, mũi bàn chân chấm đất, thành hình khóa hổ, khiến toàn bộ lực của đối thủ đều rơi vào hư không. Lúc này, đối thủ tuy mãnh liệt như hổ, nhưng chỉ hơi xoay chuyển là sẽ bị tôi khống chế.

II. Quá trình động tác

1. Hông chuyển sang phải khoảng 70° trở lên, chân phải lui về phía sau phải một bước, trọng tâm dần dời sang chân phải; đồng thời, hai quyền biến thành chưởng tách ra, hai chưởng cùng xuống, chưởng phải theo chuyển thân hình cung hơi xuống dưới, theo mu bàn tay hướng ra ngoài hơi dời lên đến trước ngực phải, chưởng trái theo chuyển thân hình cung dời đến gần chỗ khuỷu tay phải (xem hình thứ nhất trang này).

图 473
图 473
Thoái Bộ Khóa Hổ khởi thế: hông chuyển sang phải, chân phải lui về sau phải một bước, hai quyền biến thành chưởng tách ra, chưởng phải hình cung dời lên trước ngực phải, chưởng trái dời đến chỗ khuỷu tay phải.

2. Hông quay lại sang trái, thân thể vẫn hướng về trước (đông); chân trái hơi nhấc lên, cơ bản vẫn hạ xuống tại chỗ cũ, dùng mũi bàn chân chấm đất, thành hư bộ trái. Đồng thời, hai tay tiếp tục tách ra trái phải: chưởng phải theo thân chuyển sang phải từ trước xuống dưới, rồi theo thân xoay hướng về trước mà nhấc lên mở ra phía trên phải; theo đà nhấc, cánh tay phải xoay vào trong khiến lòng bàn tay hướng phía trước phải, ngón tay chếch lên, hơi cao hơn đầu, dời đến phía trên bên phải thân thể; chưởng trái theo hình cung xuống phía dưới trái rơi xuống bên cạnh hông trái, lòng bàn tay hướng xuống, ngón tay hướng trước. Ánh mắt trước chú ý vào chưởng phải, nhìn qua khớp khuỷu tay phải về phía trước phải, sau đó chú ý đến hai chưởng nhấc lên, liệt xuống, rồi nhìn về phía trước (xem hình thứ hai và thứ ba trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Chuyển thân rút bước và hai tay tách ra phải tiến hành đồng thời. Đây là một quá trình hóa: đối thủ ấn tới, tôi chuyển hông rút bước khiến lực ấn đánh thẳng tới rơi vào hư không. Hông đang là mấu chốt điều tiết độ động và tăng cường lực bộc phát; cho nên, yêu cầu sự xoay chuyển của hông phải thả lỏng chìm, thẳng đứng, không lắc lư đung đưa, nếu không sẽ khiến dính, liệt vô lực.

2. Hai tay tách ra đừng quá nhanh; lúc đầu biên độ tách ra khá nhỏ. Khi chuyển hông rút bước, tay trái vẫn còn ở chỗ khuỷu tay phải; đợi khi lực ấn của đối thủ dao động, tôi mới tách hai tay ra thêm — tay trái liệt xuống, tay phải dính lên nhấc lên (cánh tay trên phải cơ bản ngang vai, cẳng tay phải chếch). Phải chú ý tay phải nhấc lên thì hông phải hạ xuống.

3. Khi lùi bước về sau phải chú ý điểm rơi của chân phải, không được đạp trên cùng một đường. Chân là gốc của bộ hình bộ pháp; gốc nếu không vững thì chỉ hơi lệch là bộ hình, bộ pháp ắt loạn. Thắng ở việc tiến bước chiếm thế, không bại ở việc thoái bộ tránh mũi nhọn; cho nên khi rút bước, việc chân hạ đúng chỗ vô cùng quan trọng.

4. Chân phải thoái bộ ngồi vững, hông khớp háng phải chìm xuống, như vậy mới đắc cơ đắc thế, hạ bàn vững chắc. Phải trên cơ sở thả lỏng mà chú ý thẳng và chìm, không được cứng nhắc ấn xuống hoặc cứng nhắc nhấc lên, để khỏi ảnh hưởng tính linh hoạt của việc xoay hông. Vận dụng lực hông đúng đắn có thể khiến lực toàn thân tập trung tại một điểm.

IV. Yêu cầu

1. Phải "nhất động vô hữu bất động": chuyển hông, rút bước, tách tay cùng động, phải trên dưới tương tùy, không trước không sau.

图 474A
图 474A
Thoái Bộ Khóa Hổ quá độ: hông quay lại sang trái, chân trái hạ xuống tại chỗ thành hư bộ trái, hai tay tách ra trái phải, tay phải nhấc lên đến phía trên bên phải, lòng bàn tay hướng trước.
图 474B
图 474B
Thoái Bộ Khóa Hổ định thế: hư bộ trái, chưởng phải nhấc lên hơi cao hơn đầu, lòng bàn tay hướng trước phải, chưởng trái liệt xuống ấn bên cạnh hông trái, mắt nhìn phía trước.

2. Ngực kỵ nhô ra, phải hàm hung bạt bối; nhô ngực sẽ khiến khí ủng nơi ngực, trên nặng dưới nhẹ, gót chân dễ nổi lên.

3. Khi rút bước và thành hư bộ trái, trọng tâm không được dao động lên xuống.

4. Chân hư trái ở phía trước và bên ngực phải có xu hướng tương hấp tương hệ, khiến chân hư không đến nỗi lệch phù, khiến trên dưới trái phải đối xứng điều hòa.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp sửa chữa

1. Lỗi: khi thoái bộ hư thực không rõ, trọng tâm không vững. Nguyên nhân chính là do hông khớp háng căng thẳng và chân trái chưa ngồi vững. Sửa chữa: phải là bộ tùy thân hoán. Việc chuyển đổi hư thực của bộ pháp phải theo sự chuyển đổi của thân pháp khiến hông lúc động tác hai bên hông luân phiên rút đổi để phân hư thực; phải "dưới ở hai chân tương tùy". Cho nên, khi chân phải theo chuyển hông đạp xuống phía sau phải, khe hông phải phải hư, phải thả lỏng, hông khớp háng hơi thả lỏng chìm, thì có lợi cho việc ổn định trọng tâm; và phải sau khi chân trái ngồi vững thì chân phải mới từ từ thoái bộ.

2. Lỗi: sau khi thoái bộ hai chân đứng trên một đường, tạo thành thân thể lắc lư không vững. Nguyên nhân chính là do chân phải sai lầm lui về sau và sang trái, khiến hai chân đứng trên một đường; cơ sở nhỏ thì thân thể sẽ lắc lư. Điều này trong cách dùng là không hợp lý: đối thủ dùng án, cái tới là lực thẳng trước; tôi đạp ra phía sau phải chuyển hông mới có thể dùng phương pháp hóa để đổi hướng lực của đối thủ. Nếu tôi lui thẳng về sau sẽ hình thành va chạm, không những đứng không vững mà còn không thể đổi lực án thẳng trước của đối thủ, khiến mình ở thế bị động và thất bại. Sửa chữa: chân phải thoái bộ phải hơi lệch về phía sau phải.

3. Lỗi: hai tay tách ra quá sớm. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Lực án thẳng trước của đối thủ nếu tôi chỉ dùng hai tay cứng nhắc tách lên xuống thì có khó khăn. Nên trước tiên chuyển hông thoái bộ, sau khi lực của hắn chuyển dịch phân tán tôi mới liệt xuống và dính nhấc lên, mới có thể khiến toàn lực của đối thủ rơi vào hư không. Sửa chữa: khi thoái bộ trước tiên đưa tay trái đến gần chỗ khuỷu tay phải, khiến hai cổ tay trước dán vào phía trong hai cổ tay của đối thủ, sau đó mới tách ra.

4. Lỗi: lộ tuyến di động của hai tay không đúng, chỉ là vẽ một vòng tròn lớn lên xuống. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa đủ, tạo thành "tán". Sửa chữa: trong tư tưởng phải dùng hai cổ tay tôi Dán vào hai cổ tay của đối thủ; theo việc chuyển hông sang phải và thoái bộ về sau, hai tay tôi trước hơi chìm xuống, rồi theo chuyển hông dời sang phải; sau đó lòng bàn tay trái hướng xuống, liệt sang phía dưới trái, mu bàn tay phải hướng ra ngoài dán nhấc lên phía trên phải. Như vậy vừa có vòng lên xuống, vừa có vòng trái phải, tức không phải là vẽ vòng tùy tiện vô ý thức.

5. Lỗi: hai tay rời thân thể khá gần, khoảng cách cơ bản giống như Bạch Hạc Lượng Sí. Nguyên nhân chính là hiểu cách dùng chưa sâu. Đối thủ dùng án; nếu hai tay tôi khoảng cách lên xuống nhỏ, gần thân thể, thì không những không thể khiến toàn lực của đối phương rơi vào hư không, mà còn rất dễ để đối phương mượn thế của tôi mà tùy cơ tiến công.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Luyện phân giải: (1) động tác của tay, trước phải rồi tách lên xuống. (2) động tác của chân, ngồi vững chân trái, chân phải lui về phía sau phải. (3) động tác hoàn chỉnh.

2. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: A — dùng hai tay ấn B. B — thoái bộ chuyển hông, hai tay dán vào phía trong hai cổ tay của A, dẫn về sau về phải (hóa), tiếp đó hai tay tách lên xuống, trái liệt phải nhấc, khiến lực ấn hai tay của A rơi vào hư không. Trong đối luyện hai người đổi nhau luyện tập, phải thể hội ý nghĩa của việc chuyển thân thoái bộ.

Phần 124

Trang sách 415

Thế thứ 80 — Chuyển Thân Bãi Liên

Thế thứ 80 — Chuyển Thân Bãi Liên

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu phía trước có đối thủ, mà lại có đối thủ từ sau lưng tôi dùng tay phải đánh tới, trong tình huống cấp bách phải giữ cả trước lẫn sau, tôi lập tức xoay chân phải tại chỗ, chân trái treo lên về phía sau xoay theo thân, đồng thời dùng hai tay và chân trái theo thế gió xoáy, dùng tay chân cùng quét vào phần trên và dưới của đối thủ. Xoay một vòng, vẫn trở về vị trí ban đầu, tiếp ngay dán vào khuỷu cổ tay phải của đối thủ phía trước, tức thì vòng đến cổ tay đang của đối thủ, dùng bằng dẫn liệt rút về phía trái, đồng thời gấp dùng mu bàn chân phải đá ngang bằng kình vào phần ngực sườn của đối thủ. Nơi chân đá qua giống như gió mạnh lay lá sen — cái gọi là thắt lưng mềm trăm lần gập như không xương, quét đi khắp thân đều là tay. Sự ảo diệu của công phu này không phải người mới tập có thể lĩnh hội ngay được. II. Quá trình động tác 1. Động tác bắt đầu: chân phải hơi chìm xuống, hông hơi chuyển sang phải, chưởng phải từ trên hơi theo hình cung sang phải rồi xuống, qua trước ngực đẩy ra, lòng bàn tay chếch về trước, ngón tay chếch; đồng thời hông hơi chuyển sang trái hướng về chính diện, chưởng trái từ bên hông trái hơi theo hình cung sang trái lên che đến trước trán trái, ngón tay hơi vượt qua đầu, lòng bàn tay hướng trước, ngón tay chếch lên. Mắt chú ý đến việc di chuyển của hai tay, rồi nhìn thẳng về phía trước (xem hình thứ nhất trang này).

2. Lấy nửa bàn chân phải làm trục, bắt đầu xoay về phía sau phải; thân thể trước phải chìm xuống, hông khớp háng thả lỏng, chân phải chìm xuống, sau đó chuyển hông khớp háng về phía sau phải, chân trái theo đó hơi đạp đất nhấc lên, chân trái mở ra, theo chuyển thân bãi về phía sau phải; khi chuyển hai lòng bàn tay hướng xuống, hai cánh tay thành hình cung, tay trái cao tay phải thấp; theo đà chuyển đến khi chưởng phải cao ngang mũi, chưởng trái cao ngang ngực, chưởng trái hơi thấp hơn khuỷu phải, lòng chưởng trái vẫn hướng xuống, lòng chưởng phải chếch về trước. Vì "quét" là dùng hai tay và chân trái đồng thời tiến hành, cho nên tay chân là theo chuyển thân cùng xoay bãi (xem hình thứ hai trang này).

3. Chuyển hông bãi chân đến khi chân trái bãi về hướng chếch phía sau trái (tây bắc); mũi bàn chân khép vào chấm đất, mũi bàn chân trái hướng đông bắc lệch đông, mũi bàn chân trái ở sau gót chân phải một chút, mũi bàn chân phải hướng đông lệch nam. Hông khớp háng chìm xuống, trọng tâm dần dời sang chân trái đến toàn bàn chân đạp vững, chân trái gập gối ngồi vững. Chân phải tức thì từ từ nhấc lên, thân thể tiếp tục chuyển sang phải, hai chưởng theo chuyển thân dời ngang sang phải, mặt hướng đông, hai tay hướng góc chếch đông nam; chưởng phải dời đến hướng chếch trước phải của thân thể; chưởng trái dời đến bên trái khuỷu phải, hơi thấp hơn khuỷu phải. Ánh mắt theo hướng di chuyển của tay mà chuyển dịch (xem hình thứ ba, thứ tư trang này).

4. Hông hơi chuyển sang trái, chân trái hơi nhấc lên, chân phải nhấc lên hướng sang trái, tức thì chuyển hông, chân phải từ trái sang phải lên trên theo hình cung bãi ra ngoài, đầu gối tự nhiên hơi gập, độ cao chân không cần vượt qua vai (vì mu bàn chân là đá ngang vào ngực sườn đối thủ), mu bàn chân hơi hướng sang phải. Đồng thời tay chân tương ứng, tay đón chân, chân đón tay, hai chưởng từ phải sang trái đón đánh vào mu bàn chân phải, tay trái hơi trước, tay phải hơi sau. Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, hai tay theo đà bãi đến hướng chếch trước trái, hướng bắc lệch tây. Ánh mắt chú ý việc đón tiếp của hai chưởng và mu bàn chân rồi nhìn thẳng về phía trước (xem hình thứ năm, thứ sáu trang này).

III. Yếu lĩnh

1. Tay trái che trán là chếch, không được ngang, nếu không

sẽ hình thành khuân vai nhấc khuỷu. Bàn tay phải đẩy ra trước cũng phải hơi chếch, không được ngang hoặc thẳng, ngón tay ở trên đường giữa của thân thể, ngón tay của hai tay trên dưới hơi có một chút "giao nhau".

2. Động tác xoay chuyển của Chuyển Thân Bãi Liên tương đối khó: phải "lập như xứng chuẩn, hoạt tự xa luân" — khi xoay chuyển, hông phải thẳng đứng như lá cờ lớn, và vuông góc, ổn định, xoay tròn như quả cân — không lắc lư, không mềm sụp. Việc xoay chuyển phải lấy nửa bàn chân phải làm trục, chân trái hơi đạp đất, trước tiên xoay hông khớp háng, sau đó chân trái theo đà bãi về phía sau phải; như vậy mới xoay được tròn linh hoạt. Cho nên, trọng tâm khi xoay chuyển phải luôn ở trên nửa bàn chân trước của chân phải, không được lệch. Hông cũng không được cứng nhắc ưỡn, cũng không được "tán".

3. Sau khi xoay chuyển, mũi bàn chân trái khép vào chấm đất, chân phải tức thì biến hư nhấc lên; như vậy mới làm được phân rõ hư thực.

4. Sau khi xoay chuyển, hai tay dời đến hướng đông nam thì không nên dừng lại, mà là liên tục không ngừng phối hợp với động tác chân phải, dần dần dời sang trái.

5. "Thân hình yêu đỉnh khởi khả vô" — cho nên khi chân trái chấm đất phải dần ngồi xuống, sau đó theo việc hông từ trái chuyển sang phải và chân phải nhấc lên từ trái bãi lên phải, lúc đó thân thể không những không được ngả trước ngửa sau, mà còn phải có ý hướng lên đỉnh và kéo dài.

6. Sau khi xoay chuyển, chân phải dời sang trái rồi bãi đá sang phải; vòng tròn này không nên quá lớn, lớn thì động tác sẽ "tán", hơn nữa tốc độ di chuyển chậm, thời gian dài, cơ hội đá trúng đối thủ sẽ giảm, không phù hợp yêu cầu cách dùng.

7. Tay chân đón đánh phải vỗ nhẹ, không cần tiếng vỗ rất to, phải thả lỏng tĩnh tự nhiên, vì thực chất của động tác là hai tay liệt xuống trái và chân phải bãi đá ngang từ trái sang phải; vỗ chỉ là một hình thức, hơn nữa vỗ mạnh ngược lại làm động tác đứt đoạn.

8. Chân phải bãi là kình ngang, phải dùng sự xoay chuyển của hông để dẫn dắt chân phải bãi động; đồng thời hướng của tay và chân ngược nhau, nhưng hỗ trợ lẫn nhau, khiến động tác của chân càng thêm mạnh mẽ.

图 478
图 478
Chuyển Thân Bãi Liên: hông hơi chuyển sang trái, chân trái hơi nhấc lên, chân phải nhấc lên hướng sang trái, hai chưởng từ phải sang trái đón đánh.
图 479
图 479
Chuyển Thân Bãi Liên: chân phải từ trái sang phải lên trên theo hình cung bãi ra ngoài, mu bàn chân hơi hướng sang phải.
图 480
图 480
Chuyển Thân Bãi Liên định thế: hai chưởng từ phải sang trái đón đánh vào mu bàn chân phải, tay trái hơi trước tay phải hơi sau, mắt nhìn phía trước.

9. Khi xoay chuyển, hai tay ở trước ngực, chân trái mở ra theo hông xoay chuyển bãi động; lúc này dùng tay và chân quét vào phần trên dưới của địch, cho nên phải có thế gió xoáy, phải nhanh. Chân phải dùng kình ngang đá ra, nơi chân qua giống như gió mạnh lay lá sen — cũng phải nhanh. Quyền luận nói: "Động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", "dĩ tĩnh chế động, hậu phát tiên chí". Có thể thấy, cách dùng Thái Cực Quyền không phải chỉ đơn thuần yêu cầu chậm rãi, mà là yêu cầu vừa có thể chậm vừa có thể nhanh. Trần Hâm nói: "Chậm thì phải chậm đến mức người khác không theo kịp tôi; nhanh cũng phải nhanh đến mức người khác không theo kịp tôi." Cho nên Thái Cực Quyền luyện khinh linh chính là để cầu được nặng và nhanh về sau, là để "vận động phải không chút nào không đến"; phải nhấn mạnh thả lỏng tĩnh lặng. Vì vậy khi luyện Thái Cực Quyền, trừ một số động tác cá biệt, không nên nhanh, mà phải chậm, phải khinh linh đều đặn, đặc biệt là người mới luyện.

IV. Yêu cầu

1. Chuyển Thân Bãi Liên. Một là chuyển thân, hai là bãi đá. Chuyển phải chuyển cho vững, thân thể không lắc lư; đá phải đá cho tròn chuyển có lực.

2. Chuyển thân phải lấy hông dẫn dắt, bãi đá cũng phải lấy hông dẫn dắt, không được chỉ động chân mà không động hông; phải thể hiện "chủ tể tại hông".

3. Sau khi chân phải bãi đá, chân trái vẫn phải đứng vững, hai tay bãi sang trái, chân phải treo lơ lửng chưa xuống đất ngay, mà treo lơ lửng khinh linh vững chắc.

4. Vị trí hai chân phải đứng cho chính xác.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp sửa chữa

1. Lỗi: lúc động tác bắt đầu chỉ chú ý tay động (tay trái đỡ lên, tay phải đẩy ra trước) mà không chú ý chuyển hông và chìm xuống; sau khi thân thể xoay chuyển, chân trái chấm đất cũng không chú ý chìm xuống và lấy việc xoay chuyển của hông khớp háng. Nguyên nhân chính là xem nhẹ "trên dưới tương tùy". Sách 《Thái Cực Quyền Thuyết Thập Yếu》 do Tổ sư Dương Trừng Phủ khẩu thuật nói: "Tay động, hông động, chân động, ánh mắt cũng theo đó mà động; như vậy mới có thể gọi là trên dưới tương tùy. Có một cái không động thì tức là tán loạn." Về mặt rèn luyện thân thể, tay, hông, chân đều động có thể khiến khí huyết toàn thân lưu thông, có nhiều cơ bắp và tổ chức cơ thể hơn tham gia hoạt động; đây là một cách luyện coi trọng chỉnh thể. Về sự chìm xuống của thân thể: nói theo cách dùng thì trọng tâm hạ thấp có thể khiến xoay chuyển vững hơn, khiến động tác của tay như liệt có nền tảng vững chắc. Sửa chữa: phải lấy hông làm mấu chốt cho việc xoay chuyển của chi trên và chi dưới, phải dùng sự chìm xuống để phát huy kình của đang khớp háng, khiến phát kình không phù mà vô lực, khiến động tác linh hoạt.

2. Lỗi: khi thân thể xoay chuyển, hai tay đột nhiên thay đổi cao thấp, tạo thành đứt đoạn. Nguyên nhân chính là sự chú ý tập trung vào cục bộ: ở tay thì động tay, ở chân thì động chân. Đây là lỗi mà người mới tập dễ phạm nhất một trong những lỗi. Nếu khi xoay chuyển hai tay không động, chỉ làm xoay chuyển, và khi xoay chuyển xong mới đột nhiên điều chỉnh cao thấp của tay. Sửa chữa: ngay từ khi bắt đầu xoay chuyển đã có sự biến động cao thấp của hai tay, từ tay trái cao tay phải thấp dần dần biến thành tay phải cao tay trái thấp. Như vậy sẽ không đột biến mà là dần biến, cũng phù hợp nguyên tắc "nhất động vô hữu bất động".

3. Lỗi: sau khi xoay chuyển phương hướng của thân thể không đúng. Bãi trái quá nhiều, chấm đất vượt qua hướng đông bắc, khiến khi bãi đá phương hướng vượt qua đông nam. Nói theo cách dùng, chân trái chấm đất đã gần sát đối thủ, việc bãi đá của chân phải đã mất tác dụng. Có cái xoay chuyển không đủ, điểm chấm đất của chân trái ở đông nam, khiến hướng bãi đá của chân phải là đông bắc; lúc đó chân phải bãi không thể chạm đến đối thủ. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Chuyển Thân Bãi Liên là trước sau đều bị địch, một đối thủ ở trước, một đối thủ ở sau; sau khi xoay chuyển vẫn phải đối diện phía trước (đông) để đối phó kẻ địch tới. Sửa chữa: khi xoay chuyển phải có khống chế, chân trái chấm đất theo hướng tây bắc, chân phải ở trước, chân trái ở sau.

4. Lỗi: xoay chuyển không tốt, lắc lư không vững. Nguyên nhân chính là phương pháp chưa nắm tốt. Sửa chữa: khi bắt đầu xoay chuyển, trọng tâm dời trên chân phải, mũi bàn chân trái giúp duy trì thăng bằng, cho đến khi ở hông xoay chuyển mặt sắp hướng về phía tây, mới nhẹ nhấc mũi bàn chân trái, nhấc chân trái lên, theo hông xoay chuyển bãi động; như vậy hông xoay thêm một chút là chân trái có thể theo đà bãi chuyển hạ xuống, thời gian đứng trên một chân không dài, thân cũng sẽ không nghiêng đông ngã tây. Ngoài ra, nói theo cách dùng, lộ tuyến tác dụng của lực bãi phải dài, lực quét cũng sẽ lớn hơn.

5. Lỗi: trong động tác có dừng lại, như khi bắt đầu tay trái đỡ lên, tay phải đẩy ra trước; khi chuẩn bị xoay chuyển; khi chân trái chấm đất sau xoay chuyển — đều sẽ tạo thành dừng lại trong khoảnh khắc ngắn. Nguyên nhân chính là thể hội về sự liên tục không đứt chưa sâu. Các danh gia Thái Cực Quyền kỵ nhất việc có khởi có chỉ, có đứt có nối, vì lực cũ đã hết mà lực mới chưa sinh, lúc này dễ bị người ta thừa cơ nhất. Sửa chữa: Thái Cực Quyền phải dụng ý bất dụng lực, từ đầu đến cuối liên miên không đứt, tuần hoàn vô cùng. Mỗi tư thế đều phải chú ý khởi, thừa, chuyển, hợp; đồng thời cũng phải chú ý mỗi động tác đều xuyên suốt; trong lúc đổi hướng xoay chuyển, phải tinh thần đoàn tụ, cơ thế của thế tiếp theo mới sinh ra được; giữa các động tác tuyệt đối không được có chỗ dừng lại.

Còn phải chú ý nội ngoại, trên dưới, trái phải, trước sau phải điều hòa nhất trí, phải làm được "nội ngoại hợp nhất", "nhất khí quán xuyên", "nhất khí a thành". Ví dụ: chân trái vừa chấm đất, chân phải phải theo việc hông chuyển sang trái mà nhấc lên; như vậy mới làm được không có chỗ dừng lại.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Giảng giải cách dùng, phương hướng động tác, yếu lĩnh và v.v.

2. Thị phạm toàn bộ và phân đoạn (kê trái đẩy trước, xoay chuyển, bãi đá).

3. Khẩu quyết: kê trái đẩy phải thân hơi chìm; chân phải làm trục hông chuyển phải; hai tay chân trái quét sau thân; quét đi khắp thân đều là tay. Trái hạ phải khởi hai tay chếch; dán cổ tay bàn liệt rút về; kình ngang bãi đá vận kình hông; đi như gió mạnh lay lá sen.

4. Điểm khó ở việc xoay chuyển; cách dạy xoay chuyển nằm ở việc duy trì trọng tâm, đạt được động lực của việc xoay, và khống chế phương hướng: (1) phải luyện tốt việc duy trì trọng tâm; trước tiên cho người luyện thử làm xoay chuyển chống đỡ trên một chân, cùng xem nhau. Người thường sau khi chân trái bãi ra sẽ dời trọng tâm về trước, khiến chân trái nhanh chóng hạ (Trang này còn có một ảnh thị phạm đẩy tay chưa đánh số.)

xuống, mà không hoàn thành được xoay thân một vòng. Cho nên dùng phương pháp tăng dần góc xoay chuyển để người học dễ nắm bắt. Bắt đầu xoay trước 90°, sau khi xoay chân trái từ đông bãi đến nam; bước thứ hai tăng lên từ đông chuyển đến tây; sau đó tăng lên từ đông bãi đến bắc (mặt vẫn hướng đông) hoàn thành toàn bộ động tác. (2) Động lực của việc xoay chuyển: chuyển hông khớp háng phối hợp với chân trái đạp đất và bãi động, tự nhiên dẫn dắt chân trái nhanh chóng bãi về phía sau. Nếu chỉ dựa vào việc bãi của chân thì không những thân thể không vững mà còn lắc lư vô lực, không thể thỏa mãn yêu cầu kỹ kích. (3) Khống chế phương hướng còn phải luyện tập lặp lại nhiều lần để nâng cao tính ổn định cơ năng của cơ quan cảm thụ vị giác, dần dần tăng cường như vị trí và tư thế của thân thể trong không gian cùng tình hình vận động của các bộ vị thân thể.

5. Phương pháp tăng dần: (1) kê trái đẩy phải. (2) như trên, thêm xoay chuyển. (3) như trên, thêm chân trái hạ xuống, chân phải nhấc lên hướng sang trái, hai tay hướng sang phải. (4) như trên, thêm tay chân đón đánh. (5) động tác hoàn chỉnh.

Học thuộc một phần động tác, rồi học một phần mới, lại thêm vào phần cũ; dần dần tăng thêm, củng cố một đoạn, tăng thêm một đoạn, cho đến khi học được toàn bộ động tác.

6. Luyện đối luyện kết hợp cách dùng: A — (người luyện chính) làm tốt định thế của động tác Thoái Bộ Khóa Hổ. B — (người phối hợp) đứng trước A dùng quyền trái đánh tới. C — (người phối hợp) đứng sau A, dùng tay phải đánh A. A — lập tức xoay chuyển, dùng hai tay và chân trái quét đánh C ở sau thân, tiếp ngay dùng hai tay bàn liệt cổ tay trái của B về phía dưới trái của tôi, đồng thời dùng mu bàn chân phải đá vào phần ngực sườn của B.

Chủ yếu thể hội cách dùng, hiểu ý nghĩa động tác; tuyệt đối không được đá hoặc đánh thật, phải phòng ngừa làm tổn thương người khác; ba người có thể luyện tập thay phiên.

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Đặc điểm cách dùng là trước sau đều bị địch. Đặc điểm động tác là toàn bộ động tác bao gồm sự tổng hợp của hai động tác chi tiết.

2. Khi xoay chuyển điểm chống đỡ ở chân phải, sau khi xoay chuyển ở chân trái; việc chuyển đổi phải khinh linh.

3. Chân phải dùng kình ngang đá ra phải có khống chế, nếu không sẽ sinh ra việc xoay chuyển thân thể mất khống chế. Để duy trì thăng bằng của việc chống đỡ trên chân trái, hai tay nên dời sang trái.

4. Sau khi xoay chuyển, chân trái ngồi vững là để tự đứng vững. Hai tay dời đến hướng chếch trước phải là sự chuẩn bị tốt cho việc bãi liệt.

5. Tay chân đón đánh: nếu dùng tay vỗ chân, chân chờ bị vỗ, thì cho thấy lấy tay làm chủ, cũng mất đi ý nghĩa của Bãi Liên Cước. Nếu dùng chân đánh tay, tay chờ bị đánh, thì cho thấy lấy chân làm chủ, cũng mất đi ý nghĩa hai tay bãi liệt. Cho nên nên là chân đánh tay, tay vỗ chân, nhưng lấy chân làm chủ.

6. Khi luyện động tác này dễ lộ kình cứng ra ngoài: khi xoay chuyển lắc lư không vững, hạ chân nặng nề, chân phải cứng nhắc đá vỗ nghe tiếng. Động tác Thái Cực Quyền vừa phải khinh linh vừa phải trầm tĩnh; từ thả lỏng vào nhu, sau đó luyện trầm tĩnh. Tiền bối Dương Thức Thái Cực Quyền Trần Hâm nói: "Công phu vận động lâu dài thì hóa cương thành nhu, luyện nhu thành cương; cương nhu đắc trung mới thấy âm dương. Cho nên quyền này không thể lấy cương để gọi tên, cũng không thể lấy nhu để gọi tên, chỉ lấy Thái Cực làm cái tên vô danh mà gọi." "Thái Cực là cương nhu kiêm chí, mà hòa lẫn đến không dấu vết. Công phu của nó nhiều, cho nên thành tựu của nó khó." Tổ sư Dương Trừng Phủ nói: "Thái Cực Quyền là nghệ thuật nhu trung ngụ cương, miên lý tàng châm." Nhiều người đã bỏ rất nhiều công phu, nhưng thành công của họ vẫn cảm thấy khó. Khí hình lộ ra ngoài, động tác mãnh liệt là thiên về cương; vẻ ngoài quá khinh hòa là thiên về nhu; nên đạt đến "âm dương sở tồn, vô tích khả tầm".

Phần 125

Trang sách 418

Thế thứ 81 — Loan Cung Xạ Hổ

Thế thứ 81 — Loan Cung Xạ Hổ

I. Cách dùng

Tiếp thế trước. Nếu đối thủ rút thân trở về, tôi lập tức theo tay của đối thủ mà dán hai tay trái phải tới, và vòng quanh cổ tay của đối thủ, xoay về phía phải, hai tay nắm quyền đánh từ góc trái; tay trái đồng thời chìm ở phần khuỷu tay phải của đối thủ, rồi đánh tới trước; tay phải rút về rồi đánh tới ngực đối thủ; đồng thời chân phải theo đó hạ xuống phía trước phải ngồi vững, đều tích sẵn thế của nó, hông phải có kình chìm xuống, hơi giống tư thế đang ngựa, chân trái biến hư, như thể thành thế cung cong bắn hổ.

II. Quá trình động tác

图 481A
图 481A
Chuyển Thân Bãi Liên điều chỉnh: chân trái ngồi vững đứng vững, hai tay dời đến hướng chếch trước phải, chuẩn bị tốt cho việc bãi liệt.
图 481B
图 481B
Chuyển Thân Bãi Liên: chân đánh tay, tay vỗ chân, lấy chân làm chủ, hai chưởng đón đánh vào mu bàn chân phải.
图 482
图 482
Loan Cung Xạ Hổ khởi thế: thân thể hơi chuyển sang trái, chân trái dần ngồi xuống ngồi vững, chân phải hạ xuống tại chỗ, mũi bàn chân chếch hướng đông nam.

1. Thân thể theo thế bãi hơi chuyển sang trái, chân trái dần ngồi xuống ngồi vững, chân phải hạ xuống tại chỗ, mũi bàn chân chếch hướng đông nam trước tiên lấy gót chân chấm đất, theo trọng tâm dần dời sang chân phải đến toàn bàn chân đạp vững; đồng thời thân trên hơi chuyển sang phải, hai chưởng theo chuyển thân hình cung dời sang phải, chưởng phải theo việc xoay ngoài khiến lòng bàn tay lật hướng lên (lòng tay trái vẫn hướng xuống). Ánh mắt chú ý hai chưởng dời sang phải (xem hình thứ ba trang trước).

2. Thân thể tiếp tục chuyển sang phải (hướng đông nam lệch nam), cung chân phải, đạp chân trái, thành cung bộ phải. Hai chưởng theo chuyển thân từ trái xuống dưới, qua trước bụng theo hình cung lên phải vòng; chưởng trái từ trước ngực theo hình cung sang phải lên trên, chưởng phải từ vai phải theo hình cung lên trên, theo đà vòng theo cánh tay xoay vào trong khiến chưởng phải chếch xuống dưới. Thân thể chuyển sang trái hướng đông bắc, quyền phải qua bên tai phải, quyền trái qua trước ngực phải; hai quyền đồng thời đánh ra hướng chếch trước trái (đông bắc), quyền phải đặt bên trán phải, cánh tay phải thành hình cung, quyền trái cao ngang ngực. Ánh mắt trước chú ý hai tay vòng lên phải; khi thân thể chuyển sang trái, hai quyền sắp đánh ra hướng chếch trước trái, thì chuyển hướng chếch trước trái, nhìn thẳng, và chú ý việc quyền trái đánh ra (xem hình thứ tư, thứ năm trang trước).

III. Yếu lĩnh

1. Động tác nối tiếp phải làm tốt. Mỗi thế đều có khởi, thừa, chuyển, hợp của nó. Lúc bắt đầu "Loan Cung Xạ Hổ", sau khi "Chuyển Thân Bãi Liên" kết thúc (vỗ chân) không được dừng lại, phải liên miên không đứt, chìm xuống chuyển hông, tiếp ngay làm "Loan Cung Xạ Hổ".

2. Hai tay phải theo hông xoay chuyển: "chưởng uyển trửu hòa kiên, bối yêu đang tất cước, thượng hạ cửu tiết kình, tiết tiết yêu trung phát" — cho nên sự biến động của tay phải dựa vào hông; hông chuyển sang phải, hai tay từ trên xuống dưới qua trước bụng sang phải lên trên; khi chưởng phải dời đến bên tai phải (biến quyền) và chưởng trái dời đến trước ngực phải, thân thể biến thành chuyển sang trái, hai quyền cũng theo kình hông đánh ra hướng chếch trước trái.

3. Hai tay di chuyển phải phù hợp yêu cầu của cách dùng: khi dời sang phải, tay phải hướng lên không được rời thân quá xa mà tạo thành "tán"; tay trái nên ở trước ngực; khi đánh ra, quyền phải cao không quá đầu, quyền trái cao không quá vai.

4. Trong khoảnh khắc thành định thế, phải phòng ngừa khuỷu phải nhấc lên, vai nhô lên, thân thể ngả về trước.

5. Hai chân trước sau không ở trên một đường, chân phải hơi ở trước.

6. Ánh mắt phải theo quyền chuyển đổi, từ tây nam đến đông bắc.

IV. Yêu cầu

图 483A
图 483A
Loan Cung Xạ Hổ quá độ: thân thể chuyển sang phải thành cung bộ phải, hai chưởng từ trái xuống dưới qua trước bụng vòng lên phải, chưởng phải nắm quyền dời bên tai phải.
图 483B
图 483B
Loan Cung Xạ Hổ định thế: hai quyền đánh ra hướng chếch trước trái (đông bắc), quyền phải đặt bên trán phải, quyền trái cao ngang ngực, mắt nhìn quyền trái.

1. Chi trên và chi dưới đều phải quán kình: "nguyên chi yêu tích, kình quán tứ tiêu" — chi trên lấy ý quán kình, phải phủ đầy toàn bộ cánh tay, phải có cả trầm tĩnh và thả lỏng tĩnh lặng, còn yêu cầu động tác của cánh tay linh hoạt không trệ.

2. Yêu cầu ý đến, mắt đến, thân đến, tay đến, bộ đến; động thì cùng động, đến thì cùng đến. Cho nên khi cuối cùng hai quyền cùng đánh ra, phải gối phải cung đến, hai quyền đánh đến.

3. Phương hướng động tác phải chính xác: hông chuyển sang phải mặt hướng tây nam, hông chuyển sang trái mặt hướng đông bắc.

4. Luyện Thái Cực Quyền từ đầu đến cuối phải "thả lỏng tĩnh lặng", sức chú ý phải tập trung, động tác phải lấy ý dẫn dắt. Động tác phải thả lỏng nhu, không được dùng lực vụng. Luyện ý cộng với luyện thân, thì có thể nội ngoại hợp nhất; cho nên luyện Thái Cực Quyền có thể phòng trị bệnh mãn tính, có thể tăng cường thể chất.

V. Lỗi dễ phạm, nguyên nhân phát sinh, phương pháp sửa chữa

1. Lỗi: phương hướng không đúng — chân phải không bước về phía trước thân (đông nam) mà bước về phía bên phải. Nguyên nhân chính là không hiểu cách dùng. Vì sau "Chuyển Thân Bãi Liên", đối thủ rút thân trở về, tôi lập tức theo tay của địch dán hai tay trái phải tới; nếu tôi bước sang phải, thì (Trang này còn có một ảnh thị phạm đẩy tay chưa đánh số.)

không thể nói "tùy". Nếu tôi bước về trước phải, tiến có thể đạt yêu cầu tùy, lui có thể bàn trái; nếu tiến thêm một bước tôi tức thì có thể nắm quyền đánh từ góc phải, tay trái đánh phần khuỷu tay phải của hắn, tay phải đánh ngực hắn. Sửa chữa: trên cơ sở hiểu cách dùng, chú ý vị trí hạ chân phải sau Bãi Liên, nên đặt ở phía trước phải.

2. Lỗi: khi ra quyền khuân vai. Nguyên nhân chính là không chú ý chìm vai rũ khuỷu, do đó sinh ra nhấc khuỷu; từ nhấc khuỷu mà dẫn đến khuân vai; khuân vai sẽ dẫn đến một loạt vấn đề, như ảnh hưởng "hàm hung bạt bối", bất lợi cho "khí trầm đan điền" v.v. Sửa chữa: trước tiên bắt tay từ chữ "tùng"; thông qua việc thể hội chuyển đổi hư thực mà làm được chìm vai.

3. Lỗi: không chuyển hông khớp háng mà chỉ là thân thể lắc lư trái phải, vi phạm nguyên tắc "chủ tể tại hông". Nguyên nhân chính là hông khớp háng chưa thả lỏng. Hông là mấu chốt cho việc xoay chuyển trên dưới; trục giữa không cong, không lắc lư mới có thể linh hoạt; vận động dùng lực hông mới có thể khiến kình lực đạt đến tứ chi. Sửa chữa: hông phải thả lỏng, chìm, thẳng, khiến việc xoay hông linh hoạt, đạt được vận dụng lực hông, khiến lực toàn thân tập trung tại một điểm; ra quyền mới có lực.

4. Lỗi: sau khi ra quyền thân thể ngả về trước. 《Quyền Luận》 nói: "Lập như xứng chuẩn, hoạt tự xa luân". Nếu tôi thân thể ngả về trước, trọng tâm ắt dời về trước, hơi bị người ta gạt là tự thân ắt ngã. Hơn nữa, tiến tuy tiến được nhưng lui thì khó, cho nên "xả cận cầu viễn" là không đúng. Nguyên nhân chính là không vận dụng lực hông để đánh quyền, mà dùng phương pháp dùng lực sai lầm là cong hông ngả về trước. Sửa chữa: nhấn mạnh khi ra quyền lực do sống lưng dẫn dắt tứ chi vận chuyển; cho nên, chỉ có thể có sự xoay chuyển của hông, không thể có sự ngả về trước của thân thể.

5. Lỗi: chân phải hạ xuống quá nhanh, tạo thành lượng vận động giảm nhỏ. Nguyên nhân chính là chân trái vô lực, hơi ngồi xuống đã cảm thấy một chân chống không nổi, đành phải hạ chân phải xuống nhanh một chút; một nguyên nhân khác là khi Bãi Liên chân phải bãi sang phải mất khống chế, tạo thành thân thể xoay chuyển mà kéo theo chân trái là nền móng, phát sinh thân thể lắc lư, tạo thành chân phải hạ xuống quá nhanh v.v. Sửa chữa: (1) tăng cường lực chân, làm nhiều bài tập ngồi xuống chống đỡ trên một chân; việc ngồi xuống có thể từ nông đến sâu dần dần nâng cao yêu cầu. (2) Tay chân đón đánh phải có khống chế, không được thiên về một phía, đặc biệt phải chú ý biên độ bãi của chân phải; trọng tâm ổn định thì có thể làm được chân trái từ từ ngồi xuống "đưa" chân phải nhẹ nhàng hạ xuống và bước ra.

6. Lỗi: phương pháp nắm quyền không tốt — có cái nắm quyền quá chặt, có cái phương hướng không đúng. Nguyên nhân chính của cái trước là không hiểu hình thức của việc nắm quyền. Thái Cực Quyền phải nhu trung ngụ cương, nhưng phải bắt đầu từ thả lỏng nhu; cho nên nắm quyền không nên quá chặt, nhưng phải có ý niệm đoàn tụ khí của nó, phải tách không thể mở, đánh không thể tán. Còn phải chú ý câu của Trần Hâm: "Khứ thời tán thủ, trước nhân thành quyền". Cái sau là phương hướng của quyền không đúng: có hai quyền mắt quyền hướng lên, có hai quyền lòng quyền hướng xuống — đều không đúng. Nguyên nhân ở việc không hiểu cách dùng. Quyền trái là đánh thẳng ra trước, dùng chính quyền, cho nên mắt quyền hướng lên (hơi chếch); tay phải ở trước đầu, lấy mắt quyền chếch xuống dưới làm thuận, đây gọi là "phản quyền". Sửa chữa: nắm quyền phải chặt lỏng thích hợp; quyền trái ở trước, quyền phải ở sau, trái thấp phải cao, hai mắt quyền đối nhau từ xa.

VI. Cách dạy và cách luyện

1. Khẩu quyết: ngồi xuống nhẹ nhàng hạ chân phải; theo dán theo chuyển xoay sang phải; hông chìm kình chân phải vững; mắt quyền đối nhau hướng chếch ra.

2. Điểm khó ở việc nối tiếp: sau Bãi Liên phải làm tốt việc chân trái ngồi xuống "đưa" chân phải ra chếch; nói chung không dễ làm được nhẹ nhàng tròn hoạt, cho nên phải lấy làm điểm khó để công phá, phải luyện nhiều nghĩ nhiều. Trước tiên luyện khống chế, khiến trọng tâm ổn định, sau đó khiến chân trái ngồi xuống.

3. Làm rõ phương hướng: (1) chân phải đặt ở góc chếch đông nam. (2) mặt trước hướng tây bắc, rồi hướng tây nam, cuối cùng hướng đông bắc.

4. Phương pháp tăng dần: (1) chân trái ngồi xuống, chân phải treo lơ lửng. (2) như trên, duỗi chân phải về hướng đông nam. (3) như trên, hai tay hình cung dời sang phải. (4) như trên, hai tay tiếp tục dời sang phải, cung chân phải. (5) như trên, hai quyền đánh ra.

Luyện một chi tiết, lại thêm một chi tiết, dần dần học được toàn bộ động tác.

5. Dương Thức Thái Cực Quyền với vai trò phòng trị bệnh dùng hô hấp tự nhiên. Khi dạy không đặt yêu cầu về hô hấp; người luyện không cần câu nệ về hô hấp, để nó tự nhiên là tốt, dần dần luyện đến "phúc tùng khí liễm, tâm tĩnh thần thư".

VII. Phân tích kỹ thuật

1. Tôi thuận người nghịch gọi là dính. Loan Cung Xạ Hổ là dính trước đánh sau; lấy mình dính người, ắt phải biết người, mới có thể không sau không trước; cho nên nửa đoạn trước của động tác phải chú trọng dính — dính để hai quyền mỗi cái có chỗ đánh của nó — rồi mới chú trọng đánh. Dính vào thì tiện nghe kình.

2. Khi chân trái ngồi xuống sau Bãi Liên, thường ảnh hưởng đến hô hấp bình thường; cho nên yêu cầu bụng thả lỏng tĩnh lặng — trong bụng thả lỏng tĩnh lặng thì khí tự bốc lên — cũng khiến hạ bàn vững chắc.

3. Hai động tác bốn góc: Chuyển Thân Bãi Liên trước đến góc đông nam sau đến góc tây bắc; Loan Cung Xạ Hổ trước đến góc tây nam sau đến góc đông bắc.

4. Luyện Thái Cực Quyền phải "động trung cầu tĩnh", "dĩ tĩnh ngự động, tuy động do tĩnh"; cho nên "luyện giá tử càng chậm càng tốt, chậm thì hô hấp sâu dài, khí trầm đan điền, tự nhiên không có tệ nạn huyết mạch phẫn trương". Cho nên, khi luyện Thái Cực Quyền phải tư tưởng tập trung, tâm thần chuyên nhất, hô hấp tự nhiên, ý tồn đan điền, gạt bỏ tạp niệm, nghe mà không nghe, nhìn mà không thấy, ở trong trạng thái vô tư vô lo. Luyện quyền, toàn thần quán chú lấy ý để dẫn dắt từng động tác, "dĩ ý hành khí, dĩ khí vận thân". Tất nhiên, người mới luyện nhớ được động tác này thì quên động tác kia, chú ý động tác của tay thì quên động tác của chân, tay chân luống cuống, sẽ không thể ở trong trạng thái cao cấp vô tư vô lo. Nhưng sau khi luyện lâu, bài quen rồi, thì có thể dần dần luyện đến "ý động hình tùy", còn có thể luyện thành "tĩnh trung xúc động động do tĩnh". Như vậy, đối với việc tăng tiến sức khỏe, phòng trị bệnh tật, kéo dài tuổi thọ nhất định có thể phát huy tác dụng tốt.

Phần 126

Trang sách 420

Thế thứ 82 — Tiến Bộ Ban Lan Chùy

Thế thứ 82 — Tiến Bộ Ban Lan Chùy

I. Cách dùng

Giống với Thế thứ 12 Tiến Bộ Ban Lan Chùy ở trước.

II. Quá trình động tác

1. Thân thể dần dời sang trái, trọng tâm dần dời sang chân trái; đồng thời quyền trái biến thành chưởng theo chuyển thân sang trái sau theo hình cung dời xuống dưới, lòng bàn tay chếch hướng lên; quyền phải như trước theo hình cung hạ xuống ở phía trên trước phải của chưởng trái, theo đà hạ xuống theo cánh tay xoay ngoài khiến lòng quyền chếch hướng xuống (quyền phải cao ngang vai)

图 484
图 484
Tiến Bộ Ban Lan Chùy khởi thế: thân thể dần dời sang trái, quyền trái biến thành chưởng theo hình cung dời xuống phía sau trái, quyền phải theo hình cung hạ xuống ở phía trên trước phải của chưởng trái.

(xem hình thứ ba trang trước).

2. Trọng tâm tiếp tục dời sang trái, tay trái dời lên, tay phải hạ xuống (xem hình thứ nhất trang này).

3. Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nhấc về; đồng thời, quyền phải đi xuống qua trước bụng vòng sang trái, lòng quyền chuyển hướng xuống; chưởng trái sang trái và lên trên (cao không vượt qua tai) theo hình cung di động, theo đà di động theo cánh tay xoay vào trong khiến lòng bàn tay lật hướng xuống phải. Ánh mắt chú ý hai tay vạch vòng, rồi dần chuyển hướng nhìn thẳng về phía trước (hình thứ hai trang này, đồng với hình 55; hình thứ ba, thứ tư trang này, đồng với hình 56; hình thứ năm trang này, đồng với hình 57; hình thứ sáu trang này, đồng với hình 58; hình thứ bảy trang này, đồng với hình 59).

Các điều khác đều giống với Thế thứ 12 Tiến Bộ Ban Lan Chùy.

图 485
图 485
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: trọng tâm tiếp tục dời sang trái, tay trái dời lên, tay phải hạ xuống.
图 486
图 486
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: quyền phải qua trước bụng vòng sang trái, lòng quyền chuyển hướng xuống, chưởng trái theo hình cung dời lên (đồng với hình 55).
图 487A
图 487A
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: quyền phải vòng sang trái đến dưới cổ tay trái, chưởng trái xoay vào trong lật chưởng (đồng với hình 56).
图 487B
图 487B
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: tay phải nhấc lên, tay trái ấn xuống, hai tay trên dưới giao nhau (đồng với hình 56).
图 488
图 488
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: chân phải nhấc về, hai tay vạch vòng, mắt nhìn phía trước (đồng với hình 57).
图 489
图 489
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: quyền phải vòng xuống dưới cổ tay trái, chưởng trái lật chưởng hướng xuống phải (đồng với hình 58).
图 490
图 490
Tiến Bộ Ban Lan Chùy: chân phải bước tới, quyền phải bàn ra, chưởng trái chặn trước (đồng với hình 59).

Phần 127

Trang sách 421

Thế thứ 83 — Như Phong Tự Bế

Thế thứ 83 — Như Phong Tự Bế

Các điều giống với Thế thứ 13 Như Phong Tự Bế: xem hình thứ nhất đến hình thứ sáu trang này (đồng với hình 60 đến hình 63).

图 491
图 491
Như Phong Tự Bế khởi thế: hai chưởng giao nhau trước ngực, chưởng phải ở ngoài, chưởng trái ở trong.
图 492A
图 492A
Như Phong Tự Bế: hai chưởng theo chuyển thân tách ra, chưởng phải xoay ngoài lật chưởng.
图 492B
图 492B
Như Phong Tự Bế: hai chưởng tách ra đến trước hai vai, lòng bàn tay hướng trước.
图 493A
图 493A
Như Phong Tự Bế: hai tay theo hông ngồi sau rút về, lòng bàn tay chếch hướng lên.
图 493B
图 493B
Như Phong Tự Bế: trọng tâm ngồi sau, hai chưởng rút về trước ngực, rồi lật chưởng ấn ra trước.
图 494
图 494
Như Phong Tự Bế định thế: thành cung bộ phải, hai chưởng ấn ra trước, mắt nhìn phía trước.
Thế thứ 84 — Thập Tự Thủ

Các điều đều giống với Thế thứ 14 Thập Tự Thủ: xem hình thứ nhất đến hình thứ tư trang này (đồng với hình 64 đến hình 67).

Thế thứ 85 — Thu Thế

I. Quá trình động tác

1. Hai cánh tay duỗi ra phía trước; theo đà duỗi, hai cánh tay xoay vào trong khiến hai lòng bàn tay chuyển hướng xuống, hình thành tay phải ở dưới, tay trái ở trên, hơi thành hình chữ thập, xem hình thứ năm trang này.

图 495
图 495
Thập Tự Thủ: hai tay nâng quá đầu, hai cánh tay tách ra, lòng bàn tay hướng trước.
图 496
图 496
Thập Tự Thủ: hai chưởng tách sang trái phải hạ xuống, lòng bàn tay hướng ngoài, đầu ngón tay chếch lên.
图 497
图 497
Thập Tự Thủ: hai tay trước ngực giao nhau, tay phải ở ngoài, tay trái ở trong, thành Thập Tự Thủ.
图 498
图 498
Thập Tự Thủ định thế: hai tay giao nhau ôm trước ngực, hai chân gập gối hơi ngồi, mắt nhìn phía trước (đồng với hình 64 đến hình 67).

2. Hai cánh tay tiếp tục tách ra, khoảng cách hai tay cùng độ rộng vai. Tức thì hai khuỷu chìm xuống, tự nhiên dẫn dắt hai chưởng dần hướng xuống, ấn đến bên cạnh hông, ngón tay hướng trước, lòng bàn tay vẫn hướng xuống. Mắt nhìn thẳng về phía trước, xem hình thứ sáu trang này đến hình thứ sáu trang này (đồng với hình 2 đến hình 4, và hình 1).

3. Cuối cùng ngón tay hai tay rũ xuống tự nhiên.

II. Phân tích kỹ thuật

Thu Thế còn gọi là Hợp Thái Cực Quyền. Đây là thế kết thúc của một bài quyền, người luyện không được xem nhẹ. Hợp Thái Cực Quyền — hợp lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, lục thập tứ quái, mà vẫn trở về Thái Cực. Tức là thu tâm ý, hơi thở của mình lại, hoàn toàn trở về đan điền, ngưng thần tĩnh tức, biết dừng có định, không được tán thất, không được làm qua loa.

Một bài quyền luyện xong, khi Thu Thế vẫn phải trở về chỗ cũ (tức là lúc bắt đầu khởi thế ở đâu thì khi kết thúc Thu Thế vẫn ở đó); phương hướng chính, vị trí đứng phải đúng.

图 499
图 499
Thu Thế: hai cánh tay duỗi ra trước, hai cánh tay xoay vào trong khiến lòng bàn tay chuyển hướng xuống, tay phải ở dưới tay trái ở trên hơi thành hình chữ thập.
图 500
图 500
Thu Thế: hai cánh tay tách ra cùng độ rộng vai, hai khuỷu chìm xuống dẫn dắt hai chưởng dần ấn xuống bên cạnh hông.
图 501
图 501
Thu Thế: hai chưởng ấn đến bên cạnh hông, ngón tay rũ xuống tự nhiên, lòng bàn tay hướng xuống.
图 502
图 502
Thu Thế định thế: hai tay rũ bên thân, thân thể đứng thẳng, mắt nhìn phía trước.
图 503
图 503
Thu Thế thu công: toàn bài kết thúc, trở về chỗ cũ của khởi thế, phương hướng chính, vị trí đứng chính xác.

Phần 128

Trang sách 422

Sơ Đồ Lộ Tuyến Vận Động Của Dương Thức Thái Cực Quyền

Sơ Đồ Lộ Tuyến Vận Động Của Dương Thức Thái Cực Quyền

(Toàn trang là sơ đồ lộ tuyến vận động, không có văn bản. Sơ đồ dùng các ô vuông đánh dấu vị trí và hướng của Thế thứ 1 đến Thế thứ 85, phía dưới bên phải có la bàn định vị: trên là bắc, dưới là nam, trái là tây, phải là đông. Sơ đồ này thuộc về tiết này như một hình minh họa độc lập, không phải tranh minh họa có số của chính văn, cho nên không đánh số hình.)

Chương Ba — Đẩy Tay Dương Thức Thái Cực Quyền đẩy tay có ba cách đẩy truyền thống; ở đây giới thiệu sơ lược kèm theo (bổ sung thêm Ngũ Thức Đẩy Tay).

Phần 129

Trang sách 423

Tiết thứ nhất — Định Bộ Đẩy Tay

Tiết thứ nhất — Định Bộ Đẩy Tay

Định thủ đẩy tay còn gọi là tứ chính đẩy tay, là hai người dùng bốn thủ pháp bằng, lũ, tễ, án đối với nhau, tiến hành tại chỗ; động tác của nó như sau:

1. A và B đối diện nhau, mỗi người bước ra chân phải (để tiện trình bày, nên giả định mỗi người ra chân phải. Trong luyện tập có thể để chân trái phải luân phiên ở trước mà luyện tập); hai người cùng nâng tay trái gác vào nhau (mu bàn tay đối nhau, cổ tay giao nhau), mỗi người ngậm kình bằng; rồi mỗi người nâng tay phải đặt ở khuỷu tay trái của đối phương, thành thế song đáp thủ cổ tay trái giao nhau. B gập chân phải cung về trước, A gập chân trái ngồi sau; đồng thời chuyển sang trái dùng hai tay ấn về phía A; A dùng cánh tay trái bằng đỡ thế án của đối phương, đồng thời A theo đà thân trên bắt đầu chuyển sang trái (hình đẩy tay 504: người áo đen là A, người áo trắng là B; A là bằng, B là án).

2. A theo thế án của đối phương thân thể chuyển sang trái, và theo đà ngồi sau, cổ tay trái vẫn bằng chặn kình án của chưởng trái đối phương, lấy cổ tay phải dán vào khuỷu trái đối phương, bằng ra phía trái; khi bằng, cánh tay phải xoay ngoài; B tức thì đưa tay phải rời khuỷu trái đối phương dời đến phía trong khuỷu trái của mình (hình đẩy tay 505: A là thế bằng).

图 504
图 504
Tứ chính đẩy tay: B dùng hai tay ấn về phía A, A dùng cánh tay trái bằng đỡ, hai cổ tay phải của hai người giao nhau.
图 505
图 505
Tứ chính đẩy tay: A chuyển trái ngồi sau, cổ tay trái bằng chặn kình án của B, bằng ra phía phải.

3. B theo thế bằng của đối phương lấy chưởng phải áp vào phía trong khuỷu trái của mình, chen ra phía ngực A, đồng thời cung chân phải; A theo thế tễ, hông chuyển sang phải, hai cánh tay xoay vào trong (hình đẩy tay 506: B là thế tễ).

4. A theo thế tễ của đối phương, hông tiếp tục chuyển sang phải, thân thể chuyển đến chính diện với B; đồng thời hai cánh tay tiếp tục xoay vào trong, và dùng tay phải ấn giữ tay phải của B, tay trái chìm xuống rơi ở chỗ cẳng tay gần khuỷu của đối phương; hai tay đồng thời ấn tới trước, và gập chân phải cung về trước; B tức thì dùng cánh tay phải bằng đỡ thế án của đối phương (hình đẩy tay 507: A án, B bằng).

Sau đó, B thân trên chuyển sang phải, dùng tay trái dán khuỷu phải của A bằng sang phải; A lại lấy tay trái áp vào phía trong khuỷu phải của mình tễ tới trước; B tức thì chuyển thành thế án, A lại dùng cánh tay trái bằng đỡ, cứ như vậy tuần hoàn đẩy nhau. Nếu chi trên xoay theo phương hướng ngược lại (đẩy nhau), động tác như trước, chỉ có phương hướng trái phải ngược nhau.

Định bộ đẩy tay yêu cầu hai bên mỗi khi tễ đủ thì đúng lúc bước đã cung đủ, khi bằng đủ thì đúng lúc đã ngồi sau đến điểm (nếu tễ mà ngồi sau và bằng mà cung về trước thì đều là sai). Bằng và án ở giữa cung và ngồi.

Người mới luyện đẩy tay tuyệt đối không được động tác thô bạo, để phòng ngừa tai nạn thương tích; đồng thời phải hô hấp thông suốt, động tác thư giãn khai triển.

Tiết thứ hai — Hoạt Bộ Đẩy Tay

Hoạt bộ đẩy tay là hai người dùng bốn thủ pháp bằng lũ tễ án, phối hợp với bộ pháp tiến lùi mà luyện tập tuần hoàn. Bộ pháp có hai loại: hợp bộ và sáo bộ.

1. Bộ pháp hợp bộ: giả định A và B hai người đều chân trái ở trước làm song đáp thủ để bắt đầu (hình đẩy tay hoạt bộ 508, điểm khởi đầu của A).

图 506
图 506
Tứ chính đẩy tay: A hông chuyển sang phải, hai cánh tay xoay vào trong, cánh tay phải tễ tới trước; B là thế tễ.
图 507
图 507
Tứ chính đẩy tay: A hai tay đồng thời ấn tới trước, gập chân phải cung về trước; B dùng cánh tay phải bằng đỡ thế án của A.

Giả định A lui B tiến. A hơi nâng chân phải về trước rồi vẫn hạ xuống ở chỗ cũ; B đồng thời hơi nâng về sau rút chân trái về trước vẫn hạ xuống tại chỗ cũ. Tiếp theo A lui chân trái, B tiến chân phải; A lại lui chân phải, B tiến chân trái (bộ pháp hình 508 A). Nhìn qua dường như A lui ba bước, B tiến ba bước, nhưng thực ra bước đầu chỉ là hơi nâng chân rồi vẫn hạ xuống tại chỗ cũ.

Sau đó, chuyển thành B lui A tiến (điểm khởi đầu trong bộ pháp hình 508 B, tức là điểm hạ chân cuối cùng của A và B trong hình 508 A). Khi A lui ba bước tức thì rút chân trái về trước vẫn hạ xuống tại chỗ cũ (chuyển thành tiến bộ); B tiến ba bước, tức thì nâng chân phải về trước rồi hạ về sau vẫn tại chỗ cũ (chuyển thành thoái bộ). Tiếp theo A tiến B lui mỗi người hai bước (bộ pháp hình 508 B).

Sau đó lại chuyển thành A lui B tiến, cứ như vậy tiến một lui một luyện tập tuần hoàn.

2. Bộ pháp sáo bộ: A và B hai người cách nhau một bước đối diện (điểm khởi đầu trong bộ pháp hình 509 A).

Giả định A lui B tiến. B chân trái bước tới trước, cài vào phía trong chân phải của A; đồng thời A chân trái lui về sau một bước; tiếp theo B bước chân phải tới trước rơi ở phía ngoài chân trái của A, đồng thời A chân phải lui về sau một bước; tiếp theo B lại bước chân trái vẫn cài vào phía trong chân phải của A, đồng thời A chân trái lui về sau một bước (bộ pháp hình 509 A).

Sau đó chuyển thành B lui A tiến (điểm khởi đầu trong bộ pháp hình 509 B, tức là điểm hạ chân cuối cùng của A và B trong bộ pháp hình 509 A). Khi A lui ba bước, chân phải tức thì từ phía ngoài chân trái của B sáo vào phía trong (chuyển thành tiến bộ); B đồng thời nâng chân phải về trước rồi hạ về sau tại chỗ cũ (chuyển thành thoái bộ). Tiếp theo lại A tiến B lui mỗi người hai bước (bộ pháp hình 509 B).

Sau đó lại chuyển thành A lui B tiến, cứ như vậy tiến một lui một luyện tập tuần hoàn.

Hoạt bộ đẩy tay, bất luận là hợp bộ hay sáo bộ, chi trên vẫn dùng bốn thủ pháp bằng lũ tễ án; nhưng khi bắt đầu động bộ, người lui ắt là lũ, người tiến là án. Sau đó người lui theo đà lui chuyển thành bằng; khi bằng đến chỗ tận cùng thì bước chân cũng vừa lui đủ ba bước; người tiến cũng theo đà tiến chuyển thành tễ; khi tễ đủ thì cũng đúng lúc tiến bộ tiến đủ. Sau đó khi người lui chuyển thành tiến bộ, chi trên cũng từ bằng chuyển thành án; khi người tiến chuyển thành thoái bộ, chi trên cũng từ tễ chuyển thành bằng.

Như vậy phối hợp bộ pháp tiến hành luyện tập tuần hoàn.

Phần 130

Trang sách 424

Sơ Đồ Bộ Pháp Của Hoạt Bộ Đẩy Tay

Sơ Đồ Bộ Pháp Của Hoạt Bộ Đẩy Tay

(Toàn trang là sơ đồ bộ pháp, không có văn bản. Sơ đồ chia làm bốn nhóm: hình 508 A, hình 508 B, hình 509 A, hình 509 B; dùng dấu chân màu đen biểu thị bên A, dấu chân màu trắng biểu thị bên B; dấu "0" trên dấu chân biểu thị điểm khởi đầu, "1, 2, 3" biểu thị thứ tự của bước tiến và bước lùi; mũi tên biểu thị việc nâng chân đó về trước rồi hạ xuống tại chỗ cũ. Sơ đồ này thuộc về tiết này như một hình minh họa độc lập, không phải tranh minh họa có số của chính văn, cho nên không đánh số hình.)

Tiết thứ ba — Ngũ Thức Đẩy Tay

1. Nguyên địa động bộ đẩy tay (đẩy tay động bộ tại chỗ)

A và B hai người theo cách thức định bộ đẩy tay mà đứng và tiếp tay; động tác của tay cũng theo bốn thức bằng lũ tễ án mà vận động, tuần hoàn lặp lại không ngừng. Chỉ có điều khi A bằng B, chân sau hơi nâng lên rồi tức thì hạ xuống tại chỗ cũ. Ngược lại, nếu B bằng A, B cũng động chân sau; khi A án B cũng động chân trước trước. Nói chung, A và B khi chuyển đổi thủ pháp phải theo thế mà nâng động hư bộ, hỗ trợ lẫn nhau. Cũng có thể đổi tay đổi bước mà đẩy. Nhưng khi đổi bước ắt phải hợp bộ trước, không hợp bộ thì không thể làm được việc đẩy luân phiên trái phải.

2. Tả hữu bộ luân hoán đẩy tay (đẩy tay luân hoán bộ trái phải)

Động tác chi trên vận động như thức trên; chỉ có điều nếu A bước chân phải (chân) lên trước, chân sau (chân trái) hơi nâng rồi hạ xuống tại chỗ cũ, bước phải tức thì lui về đứng cùng với chân trái, tức thì đổi sang bước chân trái (chân) lên; lúc này chân phải của A (tức chân sau) cũng hơi nâng động rồi hạ xuống tại chỗ cũ, rồi đưa bước trái lui về đứng cùng với chân phải, tiếp đó lại bước chân phải (chân) lên, cứ như vậy luân hoán lặp lại mà đẩy. B phối hợp với A cũng theo thức thứ nhất; chỉ có điều khi A bước chân phải lên thì B lui chân phải; khi A rút bước phải đứng cùng chân trái thì B thu chân phải đứng cùng chân trái. Nếu A bước chân trái lên, B tức thì lui chân trái; A rút bước trái, B cũng thu bước trái đứng cùng chân phải. Nói chung, A và B hai người phải hợp tác mật thiết; khi bước lên đổi bước chỉ cần tham chiếu thức trước. Điều khác biệt là động tác của thức trước tăng thêm động tác hợp bộ khiến bước trái phải có thể luân hoán điều đổi lẫn nhau. Lại phải chú ý: khi bước lên, chân bước lên phải cài vào giữa đang của đối phương. Như khi A bước chân phải lên, chân phải của A cài vào trong đang của B, phải đứng cùng với chân phải của B. Như khi bước chân trái lên, bước trái của A phải đứng cùng với chân trái của B.

3. Tiến thoái nhất bộ đẩy tay (đẩy tay tiến một bước lui một bước)

Động tác chi trên giống nhau. Động tác chi dưới tham chiếu thức thứ nhất: khi bước chân phải lên, nâng chân trái rồi tức thì hạ xuống tại chỗ cũ, rồi bước phải tức thì thu về lui một bước; sau khi đạp vững thì nâng chân trái, nhấc chân trái hạ xuống tại chỗ cũ, rồi lại tiến bước phải, cứ như vậy tiếp tục tiến hành, tiến lui đều chỉ một bước. Chỉ phải chú ý: khi A bước chân phải lên, B phải lui bước trái; khi A lui bước phải, B phải bước chân trái lên. Nếu thêm hợp bộ thì có thể đổi tay đổi chân (bước) mà đẩy. Như Như vậy chi trái phải của hai bên có thể được vận động thăng bằng.

4. Thượng bộ sáp đang đẩy tay (đẩy tay bước lên cài đang)

Động tác tham chiếu phần trước; điều khác là A bước chân phải lên, B phải lui chân phải, rồi tức thì A rút lui bước phải, B phải bước chân phải lên. Đồng thời, khi B bước lên, chân phải cài vào trong đang của đối phương, như thức thứ hai, cứ như vậy liên tiếp đẩy. Cũng có thể thêm hợp đổi tay đổi bước mà đẩy nhau.

5. Tả hữu kháo thức đẩy tay (đẩy tay thức kháo trái phải)

Bộ pháp giống thức thứ hai. Chỉ có điều khi A bước chân phải lên cài đang, thân phía phải nghiêng về phía ngực B mà kháo tới, chưởng trái mân ở chỗ lõm khuỷu phải, còn B lui chân phải mân đủ. Sau khi A rút bước phải rồi đổi sang cài bước trái vào đang của B, lấy thân phía trái nghiêng về phía ngực B mà kháo tới, chưởng phải mân ở chỗ lõm khuỷu trái, còn B lui chân trái mân đủ. Cứ như vậy liên tục đẩy rất cảm thấy sinh động có thần. A và B cũng có thể đổi nhau luyện tập, nhưng phải hợp bộ đổi tay là được.

Phần 131

Trang sách 425

Tiết thứ tư — Đại Lũ

Tiết thứ tư — Đại Lũ

Đại lũ vì có sự phối hợp của bộ pháp, biên độ lũ lớn hơn lũ trong định bộ đẩy tay, cho nên gọi là đại lũ; lại vì phương hướng bộ pháp của đại lũ là hướng về bốn góc chếch của bốn phương (tham khảo toàn bộ xu hướng của Sơ Đồ Phương Hướng Bộ Pháp Đại Lũ), do đó còn gọi là tứ ngung đẩy tay pháp; lại vì động tác chính của nó là lũ và kháo, trong mỗi tuần hoàn, hai người cộng lại có bốn động tác lũ và bốn động tác kháo, cho nên cũng gọi là tứ lũ tứ kháo. Do phương hướng biến đổi nhiều, biên độ động tác lớn, rất được người học quyền ưa thích.

1. Hai người nam bắc đối lập: giả định A hướng nam, B hướng bắc, hai người thành thế song đáp thủ cổ tay phải giao nhau; và giả định A lũ B kháo, A lui B tiến. B chuyển thành hai tay ấn cẳng tay phải của A, A dùng cẳng tay phải lũ đỡ (đại lũ hình 510; trong phần thuyết minh động tác là thế phải, trong hình là thế trái). A chân phải lui bước theo hướng chếch tây bắc, thân thể chuyển sang phải; đồng thời lật tay phải thái (nắm hờ) cổ tay phải của B, và dùng cẳng tay trái (phía xương trụ gần cổ tay) dán vào cánh tay trên phải của B (chỗ gần khớp khuỷu) lũ sang phải. Trong khi A thoái bộ, B bước ngang chân trái sang tây (hơi lệch bắc), theo thế thái lũ của A, bước chân phải cài vào giữa đang của A; đồng thời chưởng trái dời áp vào phía trong khuỷu phải, lấy vai hướng về trước ngực A mà kháo tới. (Bộ pháp xem Sơ Đồ Phương Hướng Bộ Pháp Đại Lũ 510 A, tư thế xem đại lũ hình 513. Trong hình Dương Trừng Phủ là B.) Hình tham khảo tư thế đại lũ có tất cả năm bức, đều được vẽ theo ảnh gốc của Tổ sư Dương Trừng Phủ; vì không có ảnh của động tác quá độ nên khó liên tục, nhưng tư thế lũ kháo trái phải đều có, cho nên phụ vào làm tham khảo.

2. A cẳng tay trái theo hông chìm xuống, để hóa mở kình kháo của B, và dùng tay phải lóe về phía mặt B. (Đại lũ hình 512; Dương Dịch là A. Trong hình này tư thế của B chưa kháo đủ, bộ hình nên giống với Dương Trừng Phủ trong đại lũ hình 513.)

3. B tức thì lấy cổ tay phải tiếp cổ tay phải của A, tay trái đồng thời dời dán lên khuỷu phải của A, hai người A và B lại trở về thành thức song đáp thủ cổ tay phải giao nhau ban đầu. B trong khi tiếp cổ tay phải của A, bước chân trái lên, tức thì lấy nửa bàn chân trái làm trục xoay thân sang phải, lui chân phải, đứng song song với chân trái, chuyển thành mặt hướng đông. A cũng đồng thời hơi rút chân trái về tức thì khép mũi bàn chân về nam chấm bước, thân chuyển sang phải, và hợp bộ phải, chuyển thành mặt hướng tây. (Bộ pháp đại lũ hình 510 B.)

Mỗi tuần hoàn của đại lũ cần đi bốn góc chếch. Ở trên là A lui B tiến, A lũ B kháo đi hết một góc chếch, hoàn thành động tác kháo lần thứ nhất; tiếp theo lần lũ kháo thứ hai là B lui A tiến, B lũ A kháo (động tác như trên, chỉ có A và B đổi nhau; hướng thoái bộ của B là tây nam. Bộ pháp đại lũ hình 511 A); B chuyển thành hướng nam, A hướng bắc (bộ pháp đại lũ hình 511 B); lần thứ ba lại là A lui B tiến, A lũ B kháo, lại chuyển hướng đông (động tác như lần thứ nhất, chỉ phương hướng khác — bộ pháp đại lũ hình 512 A, B); lần thứ tư lại là B lui A tiến, B lũ A kháo, vẫn phục hồi thành A hướng nam, B hướng bắc (động tác như lần thứ hai — bộ pháp đại lũ hình 513 A, B). Cứ như vậy lặp lại luyện tập tuần hoàn.

Động tác trên bắt đầu từ song đáp thủ cổ tay phải giao nhau, cho nên bất luận A hay B, lũ và kháo đi đều là hữu lũ hữu kháo. Nếu muốn đi tả lũ tả kháo, có thể đổi thành bắt đầu từ song đáp thủ cổ tay trái giao nhau, theo động tác đã nói trên mà đảo ngược trái phải là được (đại lũ hình 511 và 514). Luyện tập có thể luân hoán trái phải.

图 510
图 510
Đại Lũ: A thoái bộ phiết thân, B thượng bộ cài đang, lấy vai hướng về trước ngực A mà kháo tới.
图 511
图 511
Đại Lũ: lần lũ kháo thứ hai — B lui A tiến, B lũ A kháo, phương hướng chuyển thành tây nam.
图 512
图 512
Đại Lũ: A cẳng tay trái theo hông chìm xuống hóa mở kình kháo của B, tay phải lóe về phía mặt B (Dương Dịch là A).

Thủ pháp của đại lũ có bốn loại: thái, lũ, trửu, kháo. Trong luyện tập động tác thái (đồng thời lũ) và kháo biểu hiện rất rõ ràng; lũ và trửu không biểu hiện ra, chỉ có trong lúc biến hóa mới vận dụng ra.

Lũ pháp — Theo sách 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》 của Tổ sư Dương Trừng Phủ, trong phần giải thích đại lũ tứ ngung đẩy tay, "lũ" được giải thích như sau: "…nắm cổ tay trái của B là thái. Tay phải không động tức là thiết tiệt. Vừa biến liền thành lũ. Lũ là gạt mở khuỷu trái của B, hướng về cổ của B lấy chưởng đánh chếch tới." Đây là giải thích theo động tác A tả lũ, B tả kháo. A lấy tay trái thái cổ tay trái của B, đồng thời lấy cẳng tay phải (phía xương trụ gần cổ tay) dán vào cánh tay trên trái của B (chỗ hơi trên khớp khuỷu) tả lũ; nếu "tay phải không động" thì lấy phía xương trụ "thiết tiệt" khớp khuỷu trái của B; nếu "vừa biến liền thành lũ" thì tay phải "gạt mở khuỷu trái của B", lấy mu bàn tay phía ngón cái "hướng về cổ của B đánh chếch tới". Do đó, động tác lũ trong luyện tập không biểu hiện ra, chỉ có trong ý niệm hoặc trong biến hóa mới có động tác lũ. Như vậy, lấy việc dùng mu bàn tay đánh chếch làm "lũ". Ngoài ra, còn có hai cách nói khác: một là lấy lóe làm lũ chưởng; hai là, ngay sau tả lũ, tiếp theo khuỷu phải chìm xuống, tay phải dẫn hóa mở kình kháo của B, lấy đó làm lũ.

Trửu pháp — cũng là trong ý niệm hoặc trong biến hóa mới có động tác trửu; tức là khi A tả lũ lấy cẳng tay phải thiết tiệt khuỷu trái của B, B tức thì đem khuỷu trái liệt điệp lên phía trên cẳng tay phải của A, dùng đầu khuỷu hướng về đỉnh ngực A mà đỉnh tới, lấy đó làm động tác trửu. Theo sách 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》 câu "Thái thế. A tả thái mà biến thành lóe. Phải vẫn là thiết tiệt. B lấy khuỷu trái chặn lại" (Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân, bản thứ nhất tháng 7 năm 1957, trang 42) mà xem, thì đây cũng là người bị lũ dùng trửu để sử dụng trửu pháp. Nhưng còn có một thuyết khác nói người lũ sử dụng trửu pháp — tức là khi A tả lũ, B tả kháo, A dùng khuỷu phải chìm xuống hóa mở kình kháo của B, lấy động tác này làm động tác trửu. Đại lũ tuy nói là thái lũ trửu kháo bốn thủ pháp, kỳ thực gồm cả thủ pháp lũ tễ án. Về lũ và án, xem chi tiết phần thuyết minh động tác đại lũ ở trước. Tễ ở trước khi người bị lũ sử dụng kháo pháp, hàm chứa ý tễ. Ngoài ra trong biến hóa, người tễ cũng sử dụng tễ pháp: tức là sau khi A tả lũ vẫn lấy cẳng tay phải dán vào cánh tay trên trái của B, buông tay trái thái xuống dời áp vào chỗ cổ tay phải, liền thành thế tễ.

图 513
图 513
Đại Lũ: A tả lũ, B lấy khuỷu trái liệt điệp lên phía trên cẳng tay phải của A, dùng đầu khuỷu đỉnh về phía ngực A.
图 514
图 514
Đại Lũ: tư thế tả lũ tả kháo (như ảnh gốc của Dương Trừng Phủ).

Phần 132

Trang sách 426

Sơ Đồ Phương Hướng Bộ Pháp Đại Lũ

Sơ Đồ Phương Hướng Bộ Pháp Đại Lũ

(Toàn trang là sơ đồ phương hướng bộ pháp, không có văn bản. Sơ đồ chia làm tám ô, đều dùng dấu chân đen trắng biểu thị phương hướng vị trí bước đi; ở giữa có la bàn định vị: trên là bắc, dưới là nam, trái là tây, phải là đông. Thứ tự hình từ cột trái trên xuống là 510 A, 511 A, 512 A, 513 A; từ cột phải trên xuống là 510 B, 511 B, 512 B, 513 B. Sơ đồ này thuộc về tiết này như một hình minh họa độc lập, không phải tranh minh họa có số của chính văn, cho nên không đánh số hình.)

Ảnh Chụp Đẩy Tay Và Đại Lũ

Người thị phạm: Phó Chung Văn, Phó Thanh Viễn

Đơn đẩy tay

(ảnh 1 đến ảnh 3)

Tứ chính đẩy tay

(ảnh 4 đến ảnh 7)

(Trang này là trang ảnh, không có văn bản. Ảnh được đánh số bằng "chiếu" (ảnh chụp), không phải bằng số "đồ" (hình) của tranh minh họa chính văn, cho nên không lập chú thích hình riêng.)

Đại Lũ

(ảnh 8 đến ảnh 16)

(Trang này là trang ảnh, không có văn bản. Ảnh được đánh số bằng "chiếu" (ảnh chụp), không phải bằng số "đồ" (hình) của tranh minh họa chính văn, cho nên không lập chú thích hình riêng.)

(ảnh 17 đến ảnh 20, tiếp ảnh đại lũ của trang trước. Trang này ngoài bốn bức ảnh còn có một hình trang trí Thái Cực âm dương; đây không phải tranh minh họa chính văn, không đánh số hình.)

(Trang này là trang ảnh, không có văn bản. Đến đây Chương Ba Đẩy Tay kết thúc toàn bộ.)

Chương Bốn — Những Trước Tác Quan Trọng Của Các Danh Gia Thái Cực Quyền

Phần 133

Trang sách 427

I. Bàn Về Việc Luyện Tập Thái Cực Quyền

I. Bàn Về Việc Luyện Tập Thái Cực Quyền

Dương Trừng Phủ khẩu thuật

Trương Hồng Quỳ bút lục

Quyền thuật của Trung Quốc tuy phái biệt phồn đa, nhưng phải biết đều là kỹ thuật ngụ chứa triết lý; xưa nay người xưa dốc hết tinh lực cả đời mà vẫn không thể tận cùng sự huyền diệu của nó — như vậy thì đâu đâu cũng có. Người học nếu bỏ một ngày công sức thì được một ngày thành hiệu; ngày tích tháng lũy, nước đến ắt thành rãnh.

Thái Cực Quyền là nghệ thuật nhu trung ngụ cương, miên lý tàng châm; về kỹ thuật, về sinh lý, về lực học đều có triết lý tương đương tồn tại. Cho nên người nghiên cứu đạo này phải trải qua một trình tự nhất định và một thời gian tương đương. Tuy sự chỉ dẫn của thầy giỏi, sự cắt gọt của bạn tốt vốn không thể thiếu, nhưng điều cốt yếu nhất là việc rèn luyện bản thân từng ngày. Bằng không, bàn luận cả ngày, tưởng nhớ suốt năm, một sớm giao thủ thì trống rỗng không có gì, vẫn là kẻ ngoài cửa, — chỉ vì chỉ có công phu hằng ngày. Người xưa nói: suy nghĩ trọn đời không ích gì, chi bằng học. Nếu có thể sớm tối không ngừng, nóng lạnh không đổi, vừa động niệm là nâng lên tập luyện, thì bất luận già trẻ nam nữ, thành công của họ đều như nhau.

Gần đây những người nghiên cứu Thái Cực Quyền từ bắc đến nam, đồng chí tăng thêm từng ngày, không khỏi mừng cho tiền đồ võ thuật. Nhưng trong các đồng chí, người chuyên tâm khổ luyện, thành tâm hướng học, tiền đồ sau này không thể hạn lượng thì vốn không thiếu; nhưng người thường không tránh khỏi rơi vào hai đường. Một là thiên tài đã có, tuổi sức lại mạnh, nâng một biết ba, thông tuệ xuất quần, tiếc thay hơi có chút thành tựu là thỏa mãn, tức thì bỏ dở giữa chừng, không thể thọ nhận được lớn lao. Hai là cầu hiệu quả nhanh, xem nhẹ mà thành, chưa qua một năm, quyền, kiếm, đao, thương đều đã học xong — tuy vẽ hồ lô theo mẫu, nhưng thực tế chưa đạt được chân vị của nó; một khi khảo cứu phương hướng động tác, trên dưới trong ngoài đều chưa hợp độ; nếu muốn sửa chữa thì thức nào cũng phải sửa, và sửa buổi sáng thì buổi tối đã quên. Cho nên thường nghe người ta nói: "Tập quyền thì dễ, sửa quyền thì khó". Câu nói này ra đời đều do tốc thành mà dẫn đến. Hạng người như vậy lấy sai truyền sai, đến nỗi tự lầm mình lầm người, là điều lo nhất cho tiền đồ kỹ thuật.

Thái Cực Quyền bắt đầu thì trước luyện quyền giá. Cái gọi là quyền giá, tức là theo các tên thức trong quyền phổ, từng thức từng thức do thầy chỉ dạy; người học dụng tâm tĩnh khí, mặc nhớ sủy mô mà làm theo, gọi là luyện giá tử. Lúc này người học phải chú ý nội ngoại trên dưới: thuộc về nội là cái gọi là dụng ý bất dụng lực — dưới thì khí trầm đan điền, trên thì hư linh đỉnh kình; thuộc về

Phần 134

Trang sách 428

Bàn Về Việc Luyện Tập Thái Cực Quyền (tiếp theo)

Bàn Về Việc Luyện Tập Thái Cực Quyền (tiếp theo)

Về cái biểu hiện ra bên ngoài: toàn thân nhẹ nhàng linh hoạt, từng đốt đều thông suốt, từ chân mà tới đầy, tới eo, trầm vai cong cùi chỏ — ấy là vậy. Khi mới học, trước hết hãy lấy mấy câu này mà ngày đêm suy ngẫm, mà thể hội; mỗi thức mỗi thế, đều phải tường tận suy cầu. Khi động tác luyện tập, cốt sao cho chính xác. Luyện tập đã thuần rồi, lại cầu thức thứ hai, cứ thế dần dần mà luyện đến hết, làm như vậy thì không còn phải sửa lại, lâu ngày cũng không đến nỗi quên mất yếu lĩnh.

Khi luyện tập vận động, các đốt xương trong toàn thân đều phải mở ra tự nhiên. Một là miệng và bụng không được nín hơi; hai là tứ chi, eo, đầy không được phát kình mạnh. Hai câu này, kẻ học nội gia quyền ai cũng nói được, nhưng hễ động tác một cái, xoay người một cái, hoặc đá chân vặn eo, thì hơi đã gấp, thân đã lắc, bệnh ấy đều do nín hơi và phát kình mạnh mà ra.

1. Khi mô phỏng luyện tập, đầu không được nghiêng lệch hay cúi ngửa, đó gọi là phải "huyền đỉnh đầu" (treo đỉnh đầu), như có vật gì đội trên đầu vậy; rất kỵ cứng thẳng, ấy là ý nghĩa chữ "huyền" (treo). Ánh mắt tuy trước tiên nhìn ngang, có lúc phải theo thân pháp mà chuyển dời; tuyến nhìn tuy thuộc hư không, cũng là một động tác trọng yếu trong lúc biến hóa, bổ sung cho chỗ thiếu của thân pháp và thủ pháp. Miệng như mở mà không mở, như ngậm mà không ngậm, miệng thở ra mũi hít vào, mặc cho tự nhiên. Như dưới lưỡi sinh tân dịch, thì theo thân mà nuốt vào, chớ nhổ bỏ đi.

2. Thân mình nên trung chính mà không nghiêng, xương sống cùng vĩ lư (cùng xương) nên thẳng đứng mà không lệch; nhưng gặp khi khai hợp biến hóa, có động tác hàm hung bạt bối (ngực ngậm lưng tròn), trầm vai chuyển eo, lúc mới học phải chú ý, bằng không lâu ngày khó đổi, ắt chảy thành bản trệ, công phu tuy sâu cũng khó được ích mà dùng.

3. Các đốt xương hai cánh tay đều phải mở ra, vai nên trầm xuống, cùi chỏ nên cong xuống, bàn tay nên duỗi hơi, đầu ngón tay hơi cong, lấy ý vận cánh tay, lấy khí quán tới ngón tay, ngày tháng tích lũy, nội kình thông linh, huyền diệu ấy tự sinh vậy.

4. Hai chân nên phân hư thực, lên xuống tựa như mèo đi. Trọng lượng chuyển sang trái, thì trái thực, mà chân phải gọi là hư; chuyển sang phải, thì phải thực, mà trái gọi là hư. Cái gọi là hư, không phải không, thế của nó vẫn chưa đứt, mà còn lưu lại ý dư để co duỗi biến hóa. Cái gọi là thực, chỉ là xác thực mà thôi, không phải nói dùng kình quá mức, dùng sức quá mạnh. Cho nên chân cong tới mức thẳng đứng là chuẩn; vượt quá đó gọi là quá kình, thân mình chúi tới, liền mất thế trung chính.

5. Bàn chân nên phân biệt hai thức đá chân (trên phổ là tả hữu phân cước hoặc tả hữu khởi cước) và đăng thối (đạp gót); khi đá chân thì chú ý mũi chân, khi đạp gót thì chú ý toàn bàn chân, ý đến thì khí đến, khí đến thì kình tự đến, nhưng các đốt chân đều phải mở ra vững vàng mà phát ra. Lúc này dễ phát kình mạnh nhất, thân mình sóng lượn không định, phát chân cũng không có lực.

Trình tự của Thái Cực Quyền: trước luyện quyền giá (thuộc đồ thủ), như Thái Cực Quyền, Thái Cực Trường Quyền; kế đó là đơn thủ thôi vãn, nguyên địa thôi thủ, hoạt bộ thôi thủ, đại chấp (đại trảo), tán thủ; lại sau đó là khí giới, như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương (Thập Tam Thương) v.v. là vậy.

Thời gian luyện tập: mỗi ngày sau khi ngủ dậy hai lượt, nếu buổi sáng không rảnh, thì trước khi ngủ hai lượt. Trong một ngày, nên luyện bảy tám lần, ít nhất là sớm tối mỗi lúc một lượt. Nhưng sau khi say, sau khi ăn no, đều nên tránh.

Địa điểm luyện tập: lấy sân vườn và nhà giữa làm thích hợp, miễn là thông được không khí, nhiều ánh sáng. Kỵ gió mạnh thổi thẳng và nơi có khí ẩm thấp mốc meo, vì thân mình một khi đã vận động, hô hấp ắt trở nên sâu dài, cho nên gió mạnh và khí mốc nếu vào sâu trong bụng, có hại cho tạng phủ, dễ sinh bệnh vậy. Y phục luyện tập: lấy áo ngắn Trung phục rộng rãi và giày vải đầu rộng làm thích hợp. Khi luyện tập lâu, nếu gặp ra mồ hôi, rất kỵ lấy nước lạnh lau chùi, bằng không thì chưa có ai mà không mắc bệnh vậy.

II. Thái Cực Quyền Thập Yếu (Mười Điều Cốt Yếu)

Dương Trừng Phủ khẩu thuật

Trần Vi Minh bút lục

1. Hư linh đỉnh kình (treo rỗng đỉnh đầu, kình nâng lên đỉnh) — "Đỉnh kình" nghĩa là đầu giữ ngay thẳng, thần quán lên đỉnh đầu. Không được dùng sức, dùng sức thì cổ cứng, khí huyết không lưu thông, phải có ý hư linh tự nhiên. Nếu không có hư linh đỉnh kình, thì tinh thần không thể nâng lên được.

2. Hàm hung bạt bối (ngực ngậm lưng tròn) — "Hàm hung" nghĩa là ngực hơi thu vào trong, khiến khí trầm xuống đan điền. Ngực rất kỵ ưỡn ra, ưỡn ra thì khí dồn nơi ngực, trên nặng dưới nhẹ, gót chân dễ bị nổi lên. "Bạt bối" nghĩa là khí dán vào lưng: có thể hàm hung thì tự nhiên có thể bạt bối, có thể bạt bối thì kình có thể phát từ sống lưng, đi tới đâu cũng không địch nổi.

3. Tùng yêu (lỏng eo) — Eo là chủ tể của toàn thân, có thể tùng yêu thì hai chân mới có sức, hạ bàn mới vững chắc; các biến hóa hư thực đều do eo chuyển động, cho nên nói: "Nguồn mệnh ý ở nơi khe eo"; hễ không được lực thì phải cầu nơi eo và chân.

4. Phân hư thực — Thái Cực Quyền lấy phân hư thực làm nghĩa cốt yếu thứ nhất. Nếu toàn thân đều ngồi trên chân phải, thì chân phải là thực, chân trái là hư; toàn thân đều ngồi trên chân trái, thì chân trái là thực, chân phải là hư. Hư thực phân được rồi, sau đó chuyển động mới nhẹ nhàng linh hoạt, không chút tốn sức; nếu không phân được, thì bước chân nặng nề trì trệ, tự đứng không vững, và dễ bị người ta dắt kéo.

5. Trầm kiên trụy trửu (chìm vai rũ cùi chỏ) — "Trầm kiên" nghĩa là vai mở ra buông xuống. Nếu không thể buông lỏng rũ xuống, hai vai nhô lên, thì khí cũng theo đó mà lên, toàn thân đều mất lực. "Trụy trửu" nghĩa là cùi chỏ có ý buông lỏng rũ xuống; cùi chỏ nếu treo lên, thì vai không thể chìm, phát người không xa, gần với đoạn kình của ngoại gia vậy.

6. Dụng ý bất dụng lực (dùng ý không dùng sức) — 《Thái Cực Quyền Luận》 nói: đây hoàn toàn là dùng ý không dùng sức. Luyện Thái Cực Quyền, toàn thân buông lỏng, không để có mảy may kình vụng nào lưu trệ giữa gân cốt huyết mạch mà tự trói buộc mình, sau đó mới có thể nhẹ nhàng linh hoạt biến hóa, xoay chuyển tự nhiên. Hoặc có người nghi: không dùng sức thì làm sao dài được sức? Vì rằng thân người có kinh lạc, như đất có ngòi rãnh; ngòi rãnh không lấp thì nước chảy, kinh lạc không bế thì khí thông. Nếu khắp thân đầy kình cứng rải khắp kinh lạc, thì khí huyết đình trệ, xoay chuyển không linh, giật một sợi tóc mà toàn thân động. Nếu không dùng sức mà dùng ý, ý đến đâu thì khí đến đó, như vậy khí huyết lưu chuyển, ngày ngày tưới rót, chu lưu toàn thân, không lúc nào đình trệ. Luyện lâu luyện mãi, thì được chân chính nội kình, tức là điều mà Thái Cực Quyền Luận gọi là: "Cực nhu nhuyễn, sau đó cực kiên cang" vậy. Người công phu Thái Cực Quyền đã thuần thục, cánh tay như bông gói sắt, phân lượng cực nặng; kẻ luyện ngoại gia quyền, dùng sức thì tỏ ra có sức, không dùng sức thì rất nhẹ bồng, có thể thấy lực ấy là kình ngoại phù phiếm bên ngoài vậy. Không dùng ý mà dùng sức, dễ bị dẫn động nhất, không đáng chuộng vậy.

7. Thượng hạ tương tùy (trên dưới theo nhau) — Tức là điều 《Thái Cực Quyền Luận》 nói: "Gốc của nó ở bàn chân, phát ra ở đùi, chủ tể ở eo, hiện hình ở ngón tay; từ chân mà đùi mà eo, cốt sao hoàn chỉnh một khí" vậy. Tay động, chân động, cẳng động, thần sắc thị tuyến cũng theo đó mà động; như thế mới gọi là trên dưới theo nhau. Nếu có một thứ không động, tức là tán loạn vậy.

8. Nội ngoại tương hợp (trong ngoài hợp nhau) — Thái Cực Quyền luyện ở thần, cho nên nói: "Thần là chủ tướng, thân là kẻ sai khiến". Tinh thần có thể nâng lên, tự nhiên cử động nhẹ nhàng linh hoạt. Giá thức không ngoài hư thực khai hợp. Cái gọi là khai, không những tay chân mở, tâm ý cũng mở cùng với chúng; cái gọi là hợp, không những tay chân hợp, tâm ý cũng hợp cùng với chúng. Có thể trong ngoài hợp thành một khí, thì hoàn nhiên không còn khe hở vậy.

II. Thái Cực Quyền Thập Yếu (tiếp theo)

9. Tương liên bất đoạn (liền nhau không đứt) — Quyền thuật ngoại gia, kình của nó là kình vụng hậu thiên, cho nên có khởi có chỉ, có tiếp có đoạn; kình cũ đã hết, kình mới chưa sinh, lúc ấy dễ bị người ta thừa cơ nhất. Thái Cực Quyền dùng ý không dùng sức, từ đầu đến cuối, miên miên bất tuyệt, hết rồi lại bắt đầu, tuần hoàn vô tận. Nguyên luận nói "như Trường Giang đại hải, cuồn cuộn không dứt", lại nói: "vận động như rút tơ", đều nói cái xuyên suốt một khí vậy.

10. Động trung cầu tĩnh (tìm tĩnh trong động) — Quyền thuật ngoại gia, lấy nhảy nhót làm tài, dùng hết khí lực, cho nên sau khi luyện tập, chưa ai là không thở dốc. Thái Cực Quyền lấy tâm tĩnh ngự động, tuy động mà như tĩnh, cho nên luyện giá thức càng chậm càng tốt. Chậm thì hô hấp sâu dài, khí trầm đan điền, tự nhiên không có tệ hại huyết mạch sôi căng; người học tận tâm thể hội, may ra nắm được ý ấy.

III. Thái Cực Quyền Luận

Vương Tông Nhạc

Thái Cực Quyền do vô cực mà sinh, là mẹ của âm dương vậy. Động thì phân, tĩnh thì hợp, không thái quá không bất cập, tùy cong mà duỗi. Người cứng ta nhu gọi là tẩu (chạy), ta thuận người nghịch gọi là niêm (dính); động gấp thì ứng gấp, động chậm thì tùy chậm. Tuy biến hóa muôn mối, mà lý là một mạch xuyên suốt. Từ thuần thục chiêu thức mà dần ngộ được đổng kình, từ đổng kình mà lên tới thần minh. Nhưng nếu không phải công phu lâu dài, thì không thể hoát nhiên quán thông vậy. Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền, không lệch không nghiêng, khi ẩn khi hiện. Trái nặng thì trái hư, phải nặng thì phải diệt; ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu, tiến vào thì càng dài, lùi lại thì càng gấp. Một sợi lông cũng không thêm được, ruồi muỗi cũng không đậu được. Người không biết ta, ta riêng biết người — anh hùng đi tới đâu không địch nổi, đều do từ đó mà tới vậy. Nghề này có rất nhiều bàng môn. Tuy thế có khác biệt, nhưng không ngoài mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh, có lực đánh không lực, tay chậm nhường tay nhanh — ấy đều là năng lực tự nhiên tiên thiên, không liên quan đến học lực mà làm được vậy. Xét câu "bốn lạng bạt ngàn cân", rõ ràng không phải thắng bằng lực. Xem hình người già tám chín mươi tuổi có thể chống được đám đông, nhanh thì làm được gì? Đứng như cái cân bằng, sống động như bánh xe, lệch chìm thì tùy, song trọng thì trệ. Thường thấy kẻ mấy năm thuần công mà không thể vận hóa, đều tự bị người ta khống chế, là chưa ngộ được cái bệnh song trọng vậy. Muốn tránh bệnh ấy, phải biết âm dương. Niêm tức là tẩu, tẩu tức là niêm. Dương không lìa âm, âm không lìa dương. Âm dương tương tế, mới gọi là đổng kình. Đổng kình rồi, càng luyện càng tinh. Lặng lẽ suy ngẫm, dần tới chỗ tòng tâm sở dục. Vốn là xả kỷ tòng nhân, nhiều người lầm mà xả cận cầu viễn. Cái gọi là sai một ly, đi một dặm. Người học không thể không phân biệt tường tận, ấy là luận vậy.

Trường Quyền: như Trường Giang đại hải, cuồn cuộn không dứt vậy. Bằng (bồi), lữ, tễ (chen), án, thái, liệt, trửu (cùi chỏ), kháo — ấy là bát quái vậy. Tiến bộ, thoái bộ, tả cố, hữu phán, trung định — ấy là ngũ hành vậy. Bằng, lữ, tễ, án, tức càn khôn khảm ly tứ chính phương vậy. Thái, liệt, trửu, kháo, tức tốn chấn đoài cấn, tứ tà giác vậy. Tiến thoái cố phán định, tức kim mộc thủy hỏa thổ vậy. Hợp lại thì thành thập tam thế vậy.

Phần 135

Trang sách 429

IV. Thập Tam Thế Ca

IV. Thập Tam Thế Ca

(Khuyết danh)

Thập tam tổng thế chớ coi nhẹ, mệnh ý nguồn cội ở khe eo, biến chuyển hư thực phải lưu ý, khí khắp thân mình không chút trệ. Tĩnh trung xúc động, động mà như tĩnh, nhân địch biến hóa mà hiện thần kỳ; thế thế để tâm suy xét ý, đạt được mà không thấy tốn công phu. Khắc khắc lưu tâm nơi eo lưng, trong bụng tùng tĩnh khí bốc lên, vĩ lư chính trung thần quán đỉnh, khắp thân nhẹ nhõm đỉnh đầu treo. Tỉ mỉ lưu tâm mà suy cầu, co duỗi khai hợp mặc cho tự do; nhập môn dẫn lộ phải khẩu thụ, công phu không nghỉ pháp tự tu. Nếu nói thể dụng lấy gì làm chuẩn, ý khí là vua, cốt nhục là tôi; nghĩ xem suy ý cuối cùng ở đâu — ích thọ diên niên, xuân không già. Ca hề ca hề trăm bốn chữ, từng chữ chân thiết, nghĩa không sót; nếu không theo đó mà suy cầu, uổng phí công phu để lại thở than.

V. Thập Tam Thế Hành Công Tâm Giới

Vũ Vũ Tương

Lấy tâm hành khí, cốt khiến trầm trước. Mới có thể thu liễm nhập cốt, lấy khí vận thân. Cốt khiến thuận toại, mới có thể tiện lợi tòng tâm. Tinh thần có thể nâng lên, thì không có cái lo trì trọng — ấy gọi là đỉnh đầu huyền vậy. Ý khí phải đổi cho linh, mới có thú vị viên hoạt — ấy gọi là biến chuyển hư thực vậy. Phát kình phải trầm trước tùng tĩnh, chuyên chủ một phương. Lập thân phải trung chính an thư, chống đỡ tám mặt. Hành khí như hạt châu chín khúc, đi đâu cũng lợi (ấy là nói khí khắp thân mình). Vận động như thép trăm luyện, không gì cứng không chặt. Hình như chim cắt vồ thỏ, thần như mèo bắt chuột. Tĩnh như núi cao, động như sông biển. Súc kình như giương cung, phát kình như buông tên. Trong cong tìm thẳng, súc mà hậu phát. Lực phát từ sống lưng, bước theo thân mà đổi. Thu tức là phát, đứt mà lại liền. Vãng phục phải có chiết điệp, tiến thoái phải có chuyển hoán. Cực nhu nhuyễn, sau đó cực kiên cang. Có thể hô hấp, sau đó có thể linh hoạt. Khí lấy thẳng nuôi mà không hại, kình lấy cong súc mà có dư. Tâm là lệnh, khí là cờ; eo là đạo lớn (đại đạo). Trước cầu khai triển, sau cầu khẩn thốc, mới có thể đạt tới chỗ chu mật vậy.

Lại nói: người không động, mình không động. Người hơi động, mình động trước. Kình như lỏng mà không lỏng, sắp triển mà chưa triển. Kình đứt mà ý không đứt. Lại nói: trước ở tâm, sau ở thân. Bụng lỏng khí liễm nhập cốt, thần thư thân tĩnh. Khắc khắc ở tâm. Nhớ kỹ: hễ một động thì không gì không động, một tĩnh thì không gì không tĩnh. Dẫn động vãng lai, khí dán vào lưng mà liễm nhập xương sống. Trong cố tinh thần, ngoài tỏ an dật. Bước như mèo đi, vận kình như rút tơ. Toàn thân ý ở tinh thần, không ở khí — ở khí thì trệ. Có khí thì không lực, không khí thì thuần cang. Khí như bánh xe, eo như trục xe.

VI. Thái Cực Quyền Luận

Vũ Vũ Tương

Mỗi một cử động, toàn thân đều phải nhẹ nhàng linh hoạt, càng phải xuyên suốt. Khí nên cổ đãng (khua động), thần nên nội liễm. Chớ để có chỗ khuyết hãm, chớ để có chỗ lồi lõm, chớ để có chỗ đứt nối. Gốc của nó ở bàn chân, phát ra ở đùi; chủ tể ở eo, hiện hình ở ngón tay. Từ chân mà đùi mà eo, cốt sao hoàn chỉnh một khí. Tiến về trước, lui về sau, mới có thể được cơ được thế. Có chỗ không được cơ được thế, thân liền tán loạn, bệnh ấy ắt phải cầu nơi eo và chân; trên dưới trước sau trái phải đều vậy — phàm những điều ấy đều là ý, không ở bên ngoài. Có trên tức có dưới, có trước tức có sau, có trái tức có phải. Nếu ý muốn lên trên, tức ngụ ý xuống dưới. Nếu nâng vật lên mà thêm lực đè xuống, thì gốc của nó tự đứt, phá nó nhanh chóng mà không nghi ngờ gì. Hư thực nên phân cho rõ ràng, mỗi chỗ có hư thực của mỗi chỗ. Khắp nơi đều là một hư thực ấy, toàn thân từng đốt xuyên suốt. Chớ để mảy may gián đoạn vậy.

VII. Đả Thủ Ca

Vương Tông Nhạc tu đính

Bằng lữ tễ án phải nghiêm túc, trên dưới tùy nhau, người khó vào. Mặc cho người sức lớn đánh ta, dắt động bốn lạng bạt ngàn cân. Dẫn vào rơi hụt, hợp tức phát, triêm liên niêm tùy không mất đỉnh.

VIII. Sơ Lược Bàn Về Luyện Thái Cực Quyền

Phó Chung Văn

Những năm gần đây Thái Cực Quyền đã trở thành môn vận động được đông đảo quần chúng nhân dân yêu thích. Lý luận về Thái Cực Quyền cũng từ quan điểm thuần kỹ thuật phát triển tới việc tìm tòi căn cứ khoa học. Đó là điều đáng mừng.

Tôi từ lúc thiếu niên đã yêu thích Thái Cực Quyền, được thầy Dương Trừng Phủ khải địch và dạy bảo, không dám nói mình có bao nhiêu tâm đắc, chỉ là bảy mươi năm qua chưa từng gián đoạn. Chính vì kiên trì không lơi, nghiêm túc luyện tập Thái Cực Quyền, mà thể chất tôi được tăng cường.

Thái Cực Quyền có tính nghệ thuật cao và nội dung khoa học: tinh áo tỉ mỉ, lý luận thâm thiết. Nếu có thể căn cứ theo lý luận

Phần 136

Trang sách 430

VIII. Sơ Lược Bàn Về Luyện Thái Cực Quyền (tiếp theo)

VIII. Sơ Lược Bàn Về Luyện Thái Cực Quyền (tiếp theo)

…mà luyện tập, có được thực công phu, thì càng có thể lĩnh hội được thú vị bên trong của Thái Cực Quyền. Muốn luyện Thái Cực Quyền cho tốt, ngoài việc tuân theo sự chỉ đạo lý luận và gợi ý yếu lĩnh của các bậc tiên triết, tôi cho rằng phải chú ý mấy phương diện.

Trước hết, phải lĩnh hội hàm nghĩa của "kình". Thái Cực Quyền luyện tập nghiêm túc đến giai đoạn thích hợp, thì sẽ luyện ra kình. Cỗ kình này là một loại "hỗn kình" (kình hỗn hậu), cũng tức là cơ sở nhập môn Thái Cực Quyền. Cái gọi là "đổng kình rồi càng luyện càng tinh". Theo thể hội cá nhân tôi, cỗ kình này giống như cả dải lau mùa thu trên hồ bị gió lớn thổi gập rồi lại dựng lên, dai bền không gãy, mềm mà có đàn tính. Lại giống như sóng cuồn cuộn giữa biển khơi: chất nước tuy mềm mà hàm chứa sức mạnh vô cùng hùng hậu. Sau khi luyện ra hỗn kình, tiếp tục tiến thêm một bước, từ hỗn kình mà luyện ra "khinh linh kình" (kình nhẹ nhàng linh hoạt). Hỗn kình là thực lực hỗn hậu giấu mà không lộ, nhờ đó đạt tới nhu trung hữu cang (mềm trong có cứng). Khinh linh kình là vừa có cảm giác nhẹ nhàng linh hoạt, lại vừa có thể chuyển động viên hoạt. Kết hợp chặt chẽ hai loại kình ấy với nhau, hỗ tương vi dụng, mới có thể cương nhu tương tế, miên lý khỏa châm (bọc kim trong bông); lại có thể biến hóa phân giải thành bằng, lữ, tễ, án, các kình ấy đắc dụng linh hoạt, mới có thể đạt tới mục đích dung hội quán thông, đắc tâm ứng thủ, mới có thể tiến vào cảnh giới nghệ thuật cao độ.

Thái Cực Quyền muốn luyện ra kình, chỉ dựa vào dũng khí thông thường mà luyện bừa, không thể hội hàm nghĩa của nó, không nghiền ngẫm giá thức của nó, thì không làm được. Phải tự mình khổ luyện, ngoài ra lại phải luyện cho mọi chỗ hợp với nguyên tắc và yêu cầu, thiết thực. Như vậy đòi hỏi khi luyện tập hằng ngày phải chú ý bốn điểm dưới đây.

Một: thị tuyến nhìn ngang, phải quán chú mà hoạt bát; mỗi khi thức biến hóa, tuyến nhìn phải theo thân pháp mà chuyển dời. Rất kỵ ánh mắt đờ đẫn hoặc nhìn ngó lung tung.

Hai: eo là chủ tể của một thân, khi luyện quyền phải đỉnh yêu (nâng eo), ca quyết có câu: "Thân hình yêu đỉnh khởi khả vô". Như Vân Thủ, Lâu Tất Ảo Bộ, Tà Phi Thế, Hải Để Châm, Cao Thám Mã v.v., đều phải để eo thẳng vươn, như trục xoay vận chuyển, khi vận chuyển không bao giờ lìa trục tâm. Lại ví như kim la bàn: kim động mà trục kim không lìa vị trí cũ. Vũ thuật gia gọi là "thủ trung thổ" (giữ đất giữa), tức là ý nói trung thổ không lìa vị trí cũ. Dẫn chứng theo lực học, thì đó là tác dụng của trọng tâm. Cho nên luyện quyền phải nghiên cứu "vĩ lư trung chính" (cùng xương chính giữa). Thần quán đỉnh, vĩ lư trung chính mới giữ được trọng tâm, mà không có bệnh tư thế nghiêng lệch, giá thức thái quá hay bất cập. Luyện quyền nếu cúi đầu so vai, eo không vươn, mất trọng tâm, thì gọi là "mạo yêu" (eo lúp). Tục ngữ nói "cúi đầu mạo yêu, thức không cao". Vì mạo yêu thì hô hấp không thông, khí không thể trầm xuống, đỉnh đầu không thể hư hư, hư thực không rõ, trên dưới không thể một khí quán thông, rốt cuộc luyện không tới mức cao minh.

Ba: tứ chi. Thái Cực Quyền luyện tập đối với vận động của tứ chi, có một câu gọi là: "như ý cánh tay, lạp quyển thối" (tay như ý, chân vòng sàng). Tức là nói cánh tay và chân đều phải hơi có ý cong gập hàm súc mà không thể duỗi quá thẳng. "Kình lấy hàm súc mà có dư", tức chỉ điều này. Như Đơn Tiên, Dã Mã Phân Tông v.v., chân sau hơi cong sấp ra ngoài, thì có thể làm được cung trước đạp sau, lực phát từ gót chân, như cây bén rễ nơi đất mà toàn thân vững vàng, chứ không phải ưỡn về sau quá thẳng. Nói chung, tứ chi phải viên nhuận, linh hoạt, vững thực, rất kỵ cương trực.

Nay lại phân thuật từng khớp dưới đây:

(1) Phải tọa uyển thụ chưởng (ngồi cổ tay dựng bàn tay), nhưng lòng bàn tay phải hơi lõm mà không được phẳng — đây là điều cốt yếu.

(2) Ngón tay không nên quá thẳng, giữa các ngón tay không nên khép chặt, phải như mở mà không mở, luyện lâu kình tự sinh.

(3) Vai phải tùng hoạt trầm xuống, không được dùng kình mạnh hoặc có ý nhô lên.

VIII. Sơ Lược Bàn Về Luyện Thái Cực Quyền (tiếp theo)

(4) Cùi chỏ phải rũ xuống, như thức Bạch Hạc Lượng Sí, cánh tay tuy nâng lên, mà mũi cùi chỏ phải có ý hướng xuống.

(5) Phải lấy vai dẫn cùi chỏ, lấy cùi chỏ dẫn cổ tay, lại phải lấy ngón tay dẫn bàn tay, lấy bàn tay dẫn cánh tay mà trầm trửu tùng kiên (chìm cùi chỏ, lỏng vai); lại phải lấy ý của eo và chân phối hợp với tay, cùi chỏ, vai, trên dưới liên quán, tuy hơi có trước sau mà động tác điều hòa, từng đốt xuyên suốt, không được quá kình, quá kình thì cương ngạnh.

(6) Khi bước, gót chân phải chạm đất trước, rồi từ từ đạp cho vững, tức cái gọi là "bước như mèo đi". Hình tượng mèo đi rất hay: bước chân vừa nhẹ nhàng linh hoạt vừa vững vàng, mà thân mình lại hoạt bát. Đồng thời đầu gối theo đó mà tiến về trước, nhưng cung bộ không được quá kình (ý nói đầu gối không vượt quá mũi chân), tiến thoái mới có thể linh hoạt. Chân sau phải bằng kình, nhất định không được nghiêng ngả.

(7) Sự lên xuống của bàn chân, như thức Vân Thủ, khi bước ngang phải nâng gót chân lên trước, rồi mới nâng mũi chân lên. Sau khi bước ngang, khi chân hạ xuống thì phải để mũi chân chạm đất trước, rồi sau từ từ đạp cho vững. Làm được như vậy, tả hữu hư thực tự nhiên phân rõ.

(8) Phải hàm hung (ngực ngậm). Hàm hung khác với mạo yêu (eo lúp) và hãm hung (ngực lõm xuống). Mà là các đốt xương hai cánh tay đều phải mở ra, cùi chỏ rũ xuống, hô hấp tự nhiên.

(9) Khai đang (mở háng). Khai đang không phải chỉ bước rộng, thực ra là tùng khóa (lỏng háng); háng lỏng thì đang tự mở.

(10) Đang phải bằng, đang bằng thì hạ bàn vững chắc. Đồng thời trên cơ sở đang bằng, ý còn phải nâng lên: đề đang quán đỉnh (nâng háng tới đỉnh). Phải làm cho tự nhiên, thì đầu tự trung chính, hô hấp thư sướng, khí độ an thích, từ đó có thể trên dưới tùy nhau, thức thức đều đặn, tự có thể lĩnh hội thú vị toàn thân nhẹ nhàng linh hoạt viên hoạt.

IV. Ý Cảnh

(1) Tâm phải tĩnh mà tinh thần phải chấn tác, kỵ cúi mày rủ mắt, ủy mị bất chấn, thiếu sinh khí. Nhưng cũng kỵ trợn mắt cau mày, ưỡn ngực lộ răng. Toàn thân phải từng đốt quán thông, chớ để có mảy may gián đoạn.

(2) Coi trọng kinh nghiệm tích lũy của tiền bối, noi theo giá thức điển hình mà luyện tập nghiêm túc. Nhưng phải luyện cho tự nhiên tùng tĩnh, khiến cử động toàn thân nhẹ nhàng linh hoạt. Phải "y quy củ, thục quy củ, hóa quy củ, bất ly quy củ" (theo quy củ, thuần quy củ, hóa quy củ, không lìa quy củ). Nắm lấy tinh thần kiên nghị này, mới có thể luyện tới chỗ đắc cơ đắc thế.

Nói chung, mỗi một giá thức của Thái Cực Quyền đều có tinh nghĩa của nó, phải tận tâm suy ngẫm, tỉ mỉ lĩnh hội. Giơ tay đặt chân, không được quá vụng; quá vụng thì eo chân không tùy, toàn thân dễ cương ngạnh. Phải bộ tùy thân hoán (bước theo thân đổi), tiến thoái phải có chiết điệp. Tư thế phải trước cầu khai triển, sau cầu khẩn thốc. Tùy thời lưu ý, mỗi chiêu dụng công, thức thức rõ ràng, không được hàm hồ, phải liên quán, nhất khí a thành; ngày tháng tích lũy, công đến tự thành.

IX. Nghiên Cứu Lý Luận Thái Cực Quyền Là Một Đề Tài Quan Trọng

Phó Chung Văn

Vũ thuật nước ta khởi nguồn rất sớm, khảo cứu lịch sử một chút, thật là nguồn xa dòng dài; từ các tài liệu liên quan mà xem, danh sư vũ công thâm sâu, nghệ thuật siêu quần cũng rất nhiều, kể không xuể. Chỉ nói riêng Dương Thức Thái Cực Quyền,

IX. Nghiên Cứu Lý Luận Thái Cực Quyền Là Một Đề Tài Quan Trọng (tiếp theo)

Tình hình chi tiết nhất thời cũng nói không hết, chỉ xin bàn thể hội của những gì tôi biết.

Tôi sinh ra ở quê nhà tại phố Nam trong thành Vĩnh Niên, nơi yêu thích Thái Cực Quyền; từ nhỏ tai nghe mắt thấy, rất tự nhiên cũng yêu mến nghệ thuật quyền này.

Tổ sư Dương Lộc Thiền công là người Nam Quan Vĩnh Niên; vì huyện tôi khi ấy Thái Cực Quyền đang thịnh hành, người theo Lộc Thiền công học nghệ khá nhiều, được người học tôn làm khai sơn tổ sư của Dương Thức Thái Cực Quyền.

Dương Thức Thái Cực Quyền, nhìn từ hình thức bên ngoài, khi luyện giá thức thì mềm mại như bông, cho nên ở phương Bắc cũng gọi là "Miên Quyền" (quyền bông). Thực tế công lực hàm chứa bên trong thì khác thường: vừa phải vận động như rút tơ, miên miên bất đoạn, lại vừa phải đạt tới yêu cầu "miên lý khỏa châm" (bọc kim trong bông); khi phát "kình" lên, thật là khí thế bàng bạc, uy mãnh lắm vậy.

Tôi cho rằng muốn luyện tốt môn nghệ thuật Thái Cực Quyền này, ắt phải chịu khổ công; công phu là do luyện đứng đắn vững vàng mà ra. Vừa phải học nghiêm túc, lại phải luyện khắc khổ; các bậc tiền bối tiên sư đều đã trải qua năm tháng dài và nghị lực kiên nhẫn tuyệt luân mà khổ luyện ra. Công phu sâu rồi, tạo nghệ cao rồi, tới một cảnh giới nhất định, thăng hoa thành lý luận; thế là các bậc tiên triết cũng đã tổng kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Như 《Thái Cực Quyền Luận》 của Vương Tông Nhạc và 《Thái Cực Quyền Luyện Tập Đàm》 của Dương Công Trừng Phủ v.v., đều là những văn hiến nổi tiếng, đã nêu gương mẫu cho đời sau, khiến người học sau có chỗ tuân theo, bớt đi đường vòng.

Trước đây cũng có không ít trước tác liên quan đến Thái Cực Quyền; có tác giả viết rất có đầu có đuôi, nhưng nói qua nói lại, phần lớn là chép qua chép lại trên sách vở, thực công phu không sâu, thật có chút khoa trương. Bản thân tôi cũng luyện chưa đủ khổ, cho nên chỉ có thể bàn thể hội.

Tôi cho rằng công phu Thái Cực Quyền không phải có lý luận trước, mà là tiền nhân thực tiễn lâu dài, trải qua nhiều thời gian, nhiều danh gia, dần dần tích lũy kinh nghiệm, rồi thêm sâu hiểu biết, đem ra thực tiễn, dần dần sản sinh ra một bộ trước tác phong phú. Đó là sự thăng hoa của công phu, cũng là chỉ nam của công phu. Ví như thư pháp: ban đầu chỉ luyện chữ, rất ít có văn tự viết ra giảng cách viết. Về sau các danh gia như Vương Hy Chi tổng kết cách cầm bút và yêu cầu viết chữ, sau đó mới xuất hiện nhiều danh gia thư pháp, đồng thời lại làm phong phú nội dung nghệ thuật thư pháp. Luyện Thái Cực Quyền cũng giống nghệ thuật thư pháp: giá thức phải luyện cho nhẹ nhàng linh hoạt viên hoạt, tiêu sái tự nhiên mà đoan trang đại phương; tinh thần vừa phải sung mãn mà hàm súc bên trong, khí thế cũng phải đĩnh bạt mà kỵ ủy mị bất chấn. Sự liên kết mỗi giá thức, trong quá trình vận hành vừa phải như "tàng đầu hộ vĩ" của thư pháp, vận chuyển viên nhuận mà có hàm súc, lại vừa phải thức thức rõ ràng không được hàm hồ. Tuy có định thức, mà cũng không thể khắc bản đờ đẫn, phải thức thức liên quán, nhẹ nhàng linh hoạt vận chuyển. Yêu cầu khai triển kết hợp với khẩn thốc, phòng ngừa tán loạn, phòng ngừa cương ngạnh. Phải biết "khinh linh" không phải phù phiêu, trầm trước không phải đờ đẫn; cốt sao khi luyện một bộ quyền giá, có thể vận chuyển tự như, thức thức viên mãn, nhất khí a thành. Người luyện có cái khái niệm "tâm lĩnh thần hội", người xem cũng cảm thấy tâm tình an hòa thư sướng; cho nên Thái Cực Quyền quả thực là phương pháp vận động có thể khiến người ta khỏe mạnh trường thọ.

Hiện nay, nhìn từ tình thế phát triển của Thái Cực Quyền, tiền đồ quả thực sáng sủa. Nhưng để phát dương quang đại môn vũ nghệ này, nhất định phải khai quật kinh nghiệm của tiền bối, phải đem những tinh nghĩa thâm áo, chỗ thực chất trong đó, thông qua thực tiễn, lại thực tiễn, nâng cao tiến bộ kỹ thuật, khiến nghệ thuật "miên lý khỏa châm" nở ra hoa tươi rực rỡ hơn, kết ra nhiều quả ngọt hơn. Vì thế, làm thế nào đem lý luận của tiền nhân lại phục vụ cho hậu nhân, nghiên cứu tinh thần thực…

Phần 137

Trang sách 431

IX. Nghiên Cứu Lý Luận Thái Cực Quyền Là Một Đề Tài Quan Trọng (tiếp theo)

IX. Nghiên Cứu Lý Luận Thái Cực Quyền Là Một Đề Tài Quan Trọng (tiếp theo)

…tinh thần thực chất, đẩy mạnh công phu Thái Cực Quyền, nâng cao trình độ nghệ thuật Thái Cực Quyền, thực là một đề tài cực kỳ quan trọng.

X. Yếu Lĩnh Và Kiêng Kỵ Khi Luyện Thái Cực Quyền

Phó Chung Văn

Thái Cực Quyền là di sản vũ thuật quý báu của nước ta; vì nó có tác dụng to lớn trong việc xúc tiến sức khỏe con người, trừ bệnh diên niên, nên rất được nhân dân yêu thích.

Tôi từ nhỏ yêu thích Thái Cực Quyền; chín tuổi thờ thầy là Dương Trừng Phủ của Thái Cực Quyền môn mà học nghệ. Bảy mươi năm qua, tôi kiên trì luyện quyền chưa từng gián đoạn; tuy đã tuổi cao, mà vẫn thân thể cường tráng, tai thính mắt sáng, răng đầy đủ. Luyện quyền thế nào mới đạt hiệu quả tốt nhất, lại nên chú ý những vấn đề gì? Dưới đây xin lấy thể hội của bản thân mà bàn với bằng hữu võ lâm.

Thái Cực Quyền phân hư thực (tức âm dương) hai hạng. Luyện Thái Cực Quyền có hư có thực, cương nhu tương tế, cho nên phép luyện Thái Cực Quyền đòi hỏi phải hợp với biện chứng pháp. Trong luyện quyền, trước hết phải tâm tĩnh, tức là tư tưởng tập trung, bài trừ tạp niệm. Thái Cực Quyền yêu cầu động trung cầu tĩnh; tâm phải tĩnh mà tinh thần phải chấn tác, thiết kỵ cúi mày rủ mắt, ủy mị bất chấn, thiếu sinh khí. Nhưng cũng phải kỵ trợn mắt giận dữ, ưỡn ngực lộ răng.

Thứ hai, mấu chốt của luyện quyền ở chỗ tư thế chính xác, yêu cầu thức thức đều đặn. Luyện quyền đúng hay không, nhìn eo thân người luyện là có thể thấy được, vì eo là chủ tể của một thân. Luyện quyền phải đỉnh yêu, như Vân Thủ, Lâu Tất Ảo Bộ, Tà Phi Thế, Hải Để Châm, Cao Thám Mã v.v., đều phải để eo thẳng vươn, như trục xoay vận chuyển, khi chuyển không bao giờ lìa trục tâm. Lại ví như kim la bàn: kim động mà trục kim không lìa vị trí cũ. Luyện quyền nếu eo không vươn, mất trọng tâm, thì gọi là "mạo yêu". Tục ngữ nói: "Cúi đầu mạo yêu, thức không cao". Vì mạo yêu thì hô hấp không thông, khí không thể trầm xuống, đỉnh đầu không thể hư hư, hư thực không rõ, trên dưới không thể một khí quán thông, rốt cuộc khó tới mức cao minh. Nhiều người mới luyện dễ phạm bệnh cấp táo, hy vọng trong thời gian ngắn học hết cả bộ quyền lộ. Thực ra, "dục tốc tắc bất đạt" (muốn nhanh thì không đạt). Nếu khi mới học không cầu tư thế chính xác, sau này sửa giá sẽ khó khăn. Tư thế không chính xác, sẽ ảnh hưởng hiệu quả luyện quyền. Nói chung, phải "y quy củ, hóa quy củ, bất ly quy củ".

Lại nữa, khi luyện quyền thị tuyến phải nhìn ngang, phải quán chú mà hoạt bát. Mỗi thức Thái Cực biến hóa, tuyến nhìn phải theo thân pháp mà chuyển dời, thiết kỵ ánh mắt đờ đẫn. Khi luyện quyền, đối với vận động của tứ chi có yêu cầu nhất định. Có một câu gọi là "như ý cánh tay, lạp quyển thối". Tức là nói cánh tay và chân phải hơi có cong gập mà không thể duỗi quá thẳng, quá hay bất cập đều không thỏa đáng. "Kình dĩ khuất súc nhi hữu dư" (kình lấy cong súc mà có dư) tức chỉ điều này. Như Đơn Tiên, Dã Mã Phân Tông v.v., chân phải hơi cong hướng ra ngoài, thì có thể làm được cung trước hữu đạp, lực phát từ gót chân. Nói chung tứ chi phải viên nhuận, linh hoạt, vững thực, thiết kỵ cương trực.

Ngoài ra, khi luyện quyền vai phải tùng hoạt trầm xuống, không được dùng kình mạnh hay có ý so vai, cùi chỏ phải rũ xuống. Như Bạch Hạc…

X. Yếu Lĩnh Và Kiêng Kỵ Khi Luyện Thái Cực Quyền (tiếp theo)

…Lượng Sí, cánh tay tuy nâng lên, mà mũi cùi chỏ phải có ý hướng xuống. Đồng thời chú ý hàm hung, các đốt xương hai cánh tay đều phải tách mở, hô hấp tự nhiên.

Người luyện quyền còn phải chú trọng đạo dưỡng sinh, nên làm được "cần, hằng, lễ, thành". Cần, tức cần kiệm. Trong đời sống vật chất phải điềm đạm, chớ đắm mê hưởng lạc; hằng, tức hằng tâm: luyện võ luyện quyền không phải công của một ngày, cần phải trì chi dĩ hằng, thiết kỵ nhất bạo thập hàn, nếm chút đã dừng; lễ, tức lễ phép. Đối nhân tiếp vật đều phải khoát nhiên đại độ, khoan dung nhẫn nhượng, không so đo từng tí chuyện nhỏ; thành, tức chân thành. Bất luận luyện quyền hay làm người, đều phải khâm hoài thản bạch, thực tâm thực ý, khiêm tốn cẩn trọng. Tục ngữ nói: "Tâm thành tắc linh" (lòng thành thì thiêng). Lòng thành là nền tảng thành công của mọi sự nghiệp.

XI. Về Công Hiệu Y Liệu Của Thái Cực Quyền

Phó Chung Văn

Người cao tuổi rèn luyện thân thể có nhiều phương thức vận động đa dạng, như tản bộ, đá chân, cúi eo, nhưng phương thức rèn luyện tương đối chính xác, tương đối có hệ thống vẫn là môn vận động Thái Cực Quyền.

Tôi dạy Thái Cực Quyền Dương Thức ở Đại học Đồng Tế đã hơn mười năm. Nhiều đồng chí bệnh yếu nhờ luyện Dương Thức Thái Cực Quyền mà thân thể dần hồi phục sức khỏe. Có một thầy giáo, bị bệnh dạ dày nhiều năm, trong ba năm xuất huyết ổ bụng hơn mười lần, đến cháo cũng không ăn được. Sau một năm luyện quyền, bệnh tình liền được cải thiện, dẫn học sinh ra ngoài thực tập. Đồng chí Lý Quốc Hào, danh dự hiệu trưởng Đại học Đồng Tế, chủ tịch Chính hiệp thành phố, cũng kiên trì mỗi ngày luyện quyền, và nhiều lần dẫn đội Thái Cực Quyền giáo công tham gia hội thao toàn trường, còn đoạt được quán quân đồng đội.

Theo sự đo lường khoa học nhiều năm của Đại học Đồng Tế, môn vận động Thái Cực Quyền cải thiện hữu hiệu chức năng hệ tim mạch, có thể làm hạ cholesterol, triglycerid và acid béo tự do, tăng cường hoạt tính hệ kháng đông trong máu, hạ mức acid uric trong máu, nhờ đó giúp chống ngưng tụ tiểu cầu, phòng ngừa hình thành huyết khối; điều này có lợi ích rất lớn đối với việc phòng và trị bệnh tim mạch của người cao tuổi. Cơ năng sinh lý của người cao tuổi theo tuổi tác tăng lên mà dần suy thoái, lượng máu tim bơm ra theo tuổi tác tăng lên mà giảm xuống, thêm vào mạch máu động mạch dễ xơ cứng, cho nên lượng máu cung cấp cho nội tạng không đủ, đặc biệt là tim, não, thận v.v. các khí quan trọng, dễ phát bệnh. Nhưng kiên trì luyện Thái Cực Quyền, có thể tăng tuần hoàn máu của tim, khiến lượng máu và lượng oxy cung cấp cho các khí quan toàn thân tăng lên. Đo được rằng: huyết áp tâm thu và tâm trương của cơ thể người sau khi luyện quyền đều có thể hạ xuống khoảng mười milimét thủy ngân. Ngoài ra đối với hệ hô hấp, xương cốt, khớp, cơ nhục, sự trao đổi chất trong cơ thể v.v. đều có tác dụng tốt.

Sau giải phóng, môn vận động Thái Cực Quyền được phổ biến rộng rãi, trong bệnh viện và viện dưỡng bệnh đã được xếp vào nội dung quan trọng của liệu pháp tổng hợp. Tác dụng phòng bệnh, trị bệnh, diên niên ích thọ của Thái Cực Quyền đã được mọi người công nhận.

Phần 138

Trang sách 432

XII. Bàn Về Phép Luyện Dương Thức Thái Cực Quyền

XII. Bàn Về Phép Luyện Dương Thức Thái Cực Quyền

Phó Thanh Viễn

Động tác của Thái Cực Quyền là vận động của toàn thân, không phải vận động của một bộ phận; là vận động nhu hòa, không phải vận động kịch liệt. Vận động toàn thân và vận động nhu hòa ấy, tức là vận động Thái Cực liên miên bất đoạn, cương nhu tương tế: là xu thế tự nhiên nhi nhiên, không phải huyền diệu; mà lấy động tác tự nhiên của thân thể, không chút gượng gạo tạo tác ở trong đó. Thế nào là Thái Cực: lấy lý của động tác Thái Cực Quyền để giải thích nghĩa đặt tên Thái Cực Quyền, không chút khiên cưỡng phụ hội những lời huyền diệu; cũng không dùng thuật ngữ hay khẩu quyết lưu hành trên quyền thuật để bàn mơ hồ.

Khảo hai chữ "Thái Cực" xuất hiện trong 《Chu Dịch · Hệ Từ》. 《Hệ Từ》 nói: "Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái." Chúng tôi lấy lời nông cạn giải thích câu này: lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái đều do Thái Cực mà sinh. Thái Cực là động lực nguyên thủy của tất cả. Sự động của lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái đều là sự động của Thái Cực. Vũ trụ là một Thái Cực, thân người cũng là một Thái Cực. Bụng của thân người (tức đan điền) là Thái Cực, hai eo lưng là lưỡng nghi, hai tay hai chân là tứ tượng, hai tay hai chân mỗi bên có hai đốt là bát quái.

Động lực nguyên thủy của vũ trụ ở nơi Thái Cực; động lực nguyên thủy của thân người cũng ở nơi Thái Cực. Động tác của Thái Cực Quyền lấy bụng làm chủ. Bụng là chỗ ở giữa nhất của thân người; chỗ này động một cái thì toàn thân không gì không động. Vận động Thái Cực Quyền, không động thì thôi, động thì toàn thân đều động. Cho nên động mà không phải toàn thân đều động thì đều không phải Thái Cực vậy. Bụng tức là chỗ ở giữa nhất của toàn thân người; bụng động một cái, hai eo lưng, hai tay, hai chân đều không gấp mà mau. Động tác của Thái Cực Quyền lấy bụng (tức đan điền) làm chủ mà phát động, không dùng lực kịch liệt, động tác toàn thân không chỗ nào không tới; bên ngoài cực kỳ nhu hòa, bên trong lực liên miên bất đoạn, tức tức tăng trưởng.

Học Thái Cực Quyền phải hiểu tầm quan trọng của ba chữ "tùng" (lỏng), "cố" (vững), "ngưng" (ngưng tụ). Thế nào là "tùng"? Thân phải tùng. Thế nào là "cố"? Khí phải cố. Thế nào là "ngưng"? Thần phải ngưng. Thân tùng, khí cố, thần ngưng, dần dần có thể đạt tới cảnh giới Thái Cực! Nhưng cái cớ sở dĩ như vậy, ắt người học quyền học tới một mức độ nào đó mới có thể tự mình thể hội.

(Một) Thân phải tùng: lời giải thích nông cạn của chữ "tùng" chính là không dùng lực (không dùng cường lực), vì hễ dùng lực một cái, động tác liền không thể tự nhiên. Chú ý dùng lực ở bộ phận nào, thì các bộ phận khác ắt không quân bình. Không dùng cường lực, động tác tự nhiên, truyền khắp toàn thân, động tác không chỗ nào không tới, mà quân bình như một — và tùng không đồng nghĩa với không. Cố gắng dùng lực là cứng, tức cái gọi là chuyết lực; chuyết lực tuy lớn, là lực của một bộ phận, mà không đắc kỳ trung; không dùng lực là nhu, tức cái gọi là trầm kình; trầm kình tuy nhẹ mà nhỏ, là lực của toàn bộ, có thể đắc kỳ trung.

(Hai) Khí phải cố: lời giải thích nông cạn của chữ "cố" chính là không tán mạn, thân tùng mà khí cố. Thân tuy không dùng lực mà khí lại không tán mạn; khí không tán mạn, động tác mới có thể không tán mạn; động tác không tán mạn, toàn thân mới có thể nhất thể. Làm thế nào khiến khí cố? Chính là đem khí trầm xuống bụng, chớ để nổi lên trên. Nhưng điều đó khác với việc hít thở sâu cố gắng mở rộng phổi, ép hoành cách mạc xuống. Khi luyện quyền, vai phải rũ, cùi chỏ phải buông, eo phải sụp, lâu ngày, khí tự nhiên trầm xuống, tức cái gọi là tâm hư, phúc thực vậy. Phúc thực thì khí cố, thân thể liền có trọng tâm; bất luận tay chân động tác thế nào, trọng tâm luôn ở bụng; được trọng tâm ấy, động tác tự như vậy — cho nên nói khí cố thì thân tự vững vậy.

XII. Bàn Về Phép Luyện Dương Thức Thái Cực Quyền (tiếp theo)

(Ba) Thần phải ngưng: lời giải thích nông cạn của chữ "ngưng" chính là trong ngoài hợp nhau, mà có thể ngưng định vậy. Thân tùng, khí cố rồi, mà trong ngoài không hợp nhau, thì quyết không thể tâm đến đâu là thân đến đó. Chỉ khi trong ngoài hợp nhau, sau đó thân tâm mới một khí. Vai hợp với háng, cùi chỏ hợp với đầu gối, tay hợp với chân — ấy gọi là ngoại tam hợp; tâm hợp với ý, ý hợp với khí, khí hợp với lực — ấy gọi là nội tam hợp; sáu hợp ấy gọi là trong ngoài hợp nhau. Sáu hợp thì thân thể trung chính; thân thể trung chính, thần liền nâng lên được.

XIII. Yếu Điểm Luyện Tập Dương Thức Thái Cực Quyền

Phó Thanh Viễn

Hiện nay người luyện Thái Cực Quyền rất nhiều, người luyện Dương Thức Thái Cực Quyền cũng không ít, nhưng điều khiến người ta lấy làm tiếc là: không ít người khi luyện quyền vì các nguyên nhân khác nhau mà khiến chiêu thức biến dạng.

Có người nói chiêu thức biến dạng có lẽ còn là một sự sáng tạo. Tôi cho rằng vấn đề này trong phần lệ ngôn của 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》 do Thái Cực Quyền tông sư thái ngoại công Dương Trừng Phủ tiên sinh trước tác đã nói rất rõ ràng. Ông nói: "Thái Cực Quyền chỉ có một phái, không có pháp môn thứ hai, không được tự huyễn thông minh mà vọng thêm bớt. Thành pháp của tiền hiền, nếu có chỗ nào nên dời đổi — từ Nguyên Minh đến nay đã mấy trăm năm, nếu có chỗ có thể sửa được, người xưa cũng đã làm trước ta rồi, đâu đợi đến bọn ta? Mong người học sau chớ chỉ đuổi theo cái ngoài, mà chỉ cầu cái trong; muốn tiến tới tinh thuần, ngày tháng có thể đợi. Cốt yếu là các mục nhỏ trong quyền thức: không lấy hình thức, mà ắt cầu ý hợp; chỉ sợ tư tâm vọng cải, lấy sai truyền sai, dễ mất chân truyền thể dụng, đến nỗi mai một bản ý của tiền hiền." Vì thế, tôi cho rằng nếu chưa đạt tới chỗ Thái Cực Quyền không biến dạng và khi luyện công có tạo nghệ rất sâu, thì tốt hơn hết chớ đi sáng tạo chiêu thức. Dù muốn sáng tạo chiêu thức, cũng chớ gọi là Dương Thức Thái Cực Quyền, mà nên gọi là Thái Cực Quyền kiểu mẫu khác, để khỏi lầm lạc người học, ảnh hưởng thị thính.

Ngoài ra, tôi cho rằng học quyền và luyện quyền đều không thể nóng lòng; muốn nhanh e rằng dục tốc bất đạt, học trước quên sau là vô ích. Lấy Dương Thức Thái Cực Quyền mà nói, mỗi bộ quyền phải luyện khoảng 20 phút, mỗi ngày luyện công ít nhất phải luyện ba bộ, mà lại còn phải luyện theo yêu cầu. Quyền giá đã học, phải thường xuyên uốn nắn để nâng cao trình độ của mình; càng học yêu cầu càng cao, càng luyện càng cảm thấy không dễ mới có thể có tiến bộ.

Khi luyện quyền phải tụ tinh hội thần, không thể hồ tư loạn tưởng; phải nghĩ đến động tác, phải giả tưởng có địch nhân ngay bên cạnh, như vậy mới có thể khiến chiêu thức vận dụng tự như, không tỏ ra tạo tác — ấy gọi là dụng ý bất dụng lực.

Đồng thời, khi luyện Thái Cực Quyền, giữa một cái giơ tay một cái đặt chân đều phải có tinh thần; Thái Cực Quyền là tùng mà không phải không, không thể đánh cho mềm nhũn từ tùng tới không.

Dương Thức Thái Cực Quyền giảng cứu tọa uyển (ngồi cổ tay): tay phải ngồi cổ tay, cổ tay phải có kình, giống như nước máy chảy ra từ ống cao su, hơi có chút áp lực, lực xung của nước càng mạnh, xung càng xa; nhưng ngón tay, vai chỏ và cánh tay đều phải lỏng, không thể cương ngạnh.

XIII. Yếu Điểm Luyện Tập Dương Thức Thái Cực Quyền (tiếp theo)

Về hô hấp, tức nhất định phải tự nhiên; tôi cho rằng hô hấp của con người nên giống như tủ lạnh, phải tự động điều tiết.

Người ta thường nói: "Vì sao quyền giá của Dương Thức Thái Cực Quyền đều lấy thực cước chuyển căn?" Tôi cho rằng câu hỏi này hỏi hay lắm, vì Dương Thức Thái Cực Quyền lấy thực cước chuyển căn là để dùng cho luyện công, rất giàu tính kỹ kích. Trước đây không nói rõ điểm này, cho nên trong luyện quyền thường dùng hư cước chuyển gót để di động trung tâm, như vậy khiến luyện Thái Cực Quyền chỉ biến thành vận động thông thường, giảm thấp tính năng kỹ kích của Thái Cực Quyền. Nếu muốn khôi phục tính năng kỹ kích của Thái Cực Quyền, khi luyện quyền phải nhất định chú ý dùng thực cước chuyển căn để di động trung tâm. Vì quyền giá dùng hư cước để chuyển hoán trọng tâm là chân vừa đạp vững đã biến động trung tâm, chân vừa ăn lực đã buông ra, hiệu quả luyện công không tốt bằng thực cước chuyển căn. Còn đặc điểm của thực cước chuyển căn là kình lực không đứt, kình lực có thể giữ liên miên bất đoạn mà tiếp xuống.

Còn có người lo thực cước chuyển căn liệu có đứt kình? Tôi cho rằng, chỉ cần hư thực phân rõ, căn liền không dễ đứt, vì thực cước chuyển căn là cái cột sống động, chứ không phải cái cột chết.

Ngoài ra, còn phải chú ý là: chuyển căn phải phối hợp tùng khóa, khi chuyển phải hơi nhấc mũi chân lên, dùng gót chân để chuyển. Và trong luyện quyền từ khởi thế tới thu thế, toàn thân đều phải trầm, không được phù; có thể tùng mới có thể trầm, căn phải chuyển xuống như vặn con ốc.

Tất nhiên, dùng thực cước chuyển căn là theo giáo pháp cũ truyền xuống, độ khó cao hơn một chút; cả bộ quyền lộ là một vòng khóa một vòng. Số lần luyện tập phải căn cứ vào thể lực của mình mà luyện; người sức khỏe tốt phải luyện vượt lượng vận động, mới có thể luyện ra công phu.

Tôi từ chín tuổi theo cha là Phó Chung Văn luyện quyền; những điều bàn trên đây chỉ là một vài thể hội của bản thân qua nhiều năm, chưa chắc đã đúng, ném gạch dẫn ngọc, mong các bằng hữu quyền rộng rãi chớ tiếc lời chỉ giáo.

Phần 139

Trang sách 433

Bạt Nhất (Lời Bạt Thứ Nhất)

Bạt Nhất (Lời Bạt Thứ Nhất)

Hơn 20 năm qua, đọc kỹ các trước tác liên quan tới Dương Thức Thái Cực Quyền xuất bản trong và ngoài nước, tôi phát hiện ảnh định thức của các gia đại đồng tiểu dị, mà quá trình động tác thì khác nhau khá lớn; trong thời gian đi xa (Thành Đô, Cáp Nhĩ Tân, Thâm Quyến…), thấy Thái Cực Quyền Dương Thức ở các nơi đánh cũng không giống nhau lắm; tại hội liên hoan Thái Cực Quyền quốc tế, Thái Cực Quyền Dương Thức do các danh gia và đại biểu các khu vực diễn luyện lại cũng không hoàn toàn nhất trí. Vậy thì, rốt cuộc nên lấy quyền giá nào làm chuẩn? Phép luyện nào là thích hợp?

Thành thật mà nói, Dương Thức Thái Cực Quyền hiện nay lưu hành nhất là do đại biểu nhân vật truyền nhân đời thứ ba là Dương Trừng Phủ tông sư định hình. Nhưng chúng ta còn phải nhìn xa hơn: Thái Cực Quyền của Dương sư có thể chia thành hai thời kỳ trước sau (nên lấy khoảng năm 1928 làm giới hạn). Điều này có thể biết được từ hai cuốn sách Dương sư lần lượt xuất bản, tức 《Thái Cực Quyền Thuật》 do đệ tử Dương sư là Trần Vi Minh tiên sinh chấp bút năm 1925 và 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》 do Trịnh Mạn Thanh tiên sinh chấp bút năm 1934; ảnh quyền của Dương sư trước và sau có chút khác nhau.

Ngoài ra, phân tích kỹ hơn đối với rất nhiều sách báo, băng hình và diễn luyện Dương Thức Thái Cực Quyền, lại có thể phát hiện một tình huống như thế này: đệ tử thời kỳ đầu của Dương sư hoặc tái truyền đệ tử phần lớn đánh giống nhau, mà đệ tử thời kỳ sau lại cơ bản giống nhau. Cách đánh trước sau tuy có khác biệt, nhưng họ đều do Dương sư trực tiếp hoặc gián tiếp truyền thụ, đều là Dương Thức Thái Cực Quyền, không thể cũng không nên nói ai đúng ai sai — đây là vì Thái Cực Quyền của Dương sư không ngừng cải tiến (như định thức tả bằng thời kỳ đầu là hướng chính nam, mà thời kỳ sau đổi thành chính tây, v.v.). Thái Cực Quyền của Dương sư trước sau khác nhau, người học học được tự nhiên cũng khác, thêm vào tính cách mỗi người khác nhau, lĩnh ngộ khác nhau, cho nên tạo thành cục diện cách đánh không đồng nhất như hiện nay.

Vậy thì, chúng ta luyện Dương Thức Thái Cực Quyền nên lấy thời kỳ đầu hay thời kỳ sau của Người làm chuẩn? Nghiên cứu ảnh quyền trước sau của Dương sư cho thấy: thời kỳ sau về thân hình, bộ hình v.v. quy phạm và hợp lý hơn thời kỳ đầu. Đúng như Dương sư chỉ ra trong 《Thái Cực Quyền Thể Dụng Toàn Thư》: "Lật xem công giá của mười mấy năm, lại còn không bằng những ngày gần đây". Đối với một quyền sư, không ngừng nâng cao quyền nghệ, cải tiến quyền kỹ là hiện tượng rất bình thường và hợp với quy luật phát triển của sự vật. Cho nên, Dương Thức Thái Cực Quyền nên lấy quyền giá những năm cuối của Dương sư làm chuẩn.

Định thức các thế của Dương Thức Thái Cực Quyền truyền thống lấy ảnh quyền những năm cuối của Dương Trừng Phủ công làm chuẩn, điều này không có gì dị nghị; nhưng quá trình động tác của nó rốt cuộc lấy cách đánh nào là thích hợp?

Có so sánh mới có thể phân biệt. Xem khắp ảnh quyền của các gia Dương Thức Thái Cực Quyền đã xuất bản, cũng không khó phát hiện: người giống nhất với ảnh quyền thời kỳ sau của Dương sư, trước hết phải kể Phó Chung Văn tiên sư — đúng như Thái Cực danh gia Trần Vi Minh sư bá nói: "Phó

Bạt Nhất (tiếp theo)

Chung Văn, là người thân muộn của Dương Trừng Phủ tông sư ở Vĩnh Niên, được thầy truyền thụ, quy củ chuẩn thằng (mực thước), mảy may không sai, cho nên người ta gọi ông là chính tông của Thái Cực Quyền." Lại như tiền bối Dương Chấn Cơ, nhân vật truyền nhân đích truyền đời thứ tư của Dương Thức Thái Cực Quyền, nói: "Phó Chung Văn từ nhỏ thích võ thuật, theo cha anh tôi học quyền; dưới sự dạy dỗ tận tình của cha anh tôi, trải qua nhiều năm tôi luyện và mài giũa, cuối cùng nắm được tinh hoa áo chỉ của Dương Thức Thái Cực Quyền, trở thành chuyên gia Dương Thức Thái Cực Quyền nổi danh trong ngoài nước." "Sách 《Dương Thức Thái Cực Quyền》 do Phó Chung Văn tiên sinh biên trước, từng chiêu từng thức trong sách đều biên theo giá thức lão gia tử dạy trước đây, định thức của mỗi thức không có sửa đổi." Quả nhiên, Phó lão sư từ nhỏ đã theo Dương sư học quyền; và khi Dương sư năm 1928 từ Bắc Kinh tới phương Nam (Thượng Hải, Nam Kinh, Vu Hồ, Quảng Châu v.v.) truyền dạy quyền thuật, cho tới năm 1936 Dương sư bệnh mất ở Thượng Hải (hưởng thọ 53 tuổi), trong thời gian ấy, Phó lão sư luôn theo bên cạnh, sớm tối gần gũi, được Dương sư nghiêm khắc tận tình chỉ điểm, cùng với bản thân mình cần học khổ luyện. Phó lão sư thuần thục giá thức những năm cuối của Dương sư, rất được trọng dụng, thường thay Dương sư phát biểu tại chỗ, dạy quyền làm mẫu và ra sân tỷ thí, thu được chân truyền của Dương sư. Đúng như Phó lão sư tự khiêm mà nói: "Công phu của tôi tuy chưa đạt tới mức lò lửa thuần xanh, nhưng nói tới Thái Cực Quyền của nhà họ Dương, tôi dám quả quyết rằng trong nước chưa có người thứ hai hiểu rõ như tôi." "Mỗi một chiêu thức của tôi đều là học theo Dương sư, mảy may không sửa đổi." Lại phân tích từ quyền lý, cách đánh của Phó lão sư khá khoa học, hợp lý — như thực cước chuyển thân, tọa thối chuyển yêu và tọa uyển mà Phó lão sư nhấn mạnh; vì như vậy không những nâng cao hiệu quả kiện thân, mà còn khiến hạ bàn vững chắc, kình lực không đứt, thân pháp nhanh nhạy, giàu tính kỹ kích và lợi cho việc xuất công phu.

Nói tóm lại, tôi cho rằng quyền giá (định thức) của Dương Thức Thái Cực Quyền truyền thống phải lấy ảnh quyền thời kỳ sau (xuất bản năm 1934) của Dương Trừng Phủ tổ sư làm chuẩn, mà quá trình động tác của nó nên theo phép luyện của Phó Chung Văn tiên sư.

Kính cẩn lấy đoản văn này thay cho lời bạt.

Hề Quế Trung bái bạt tại Thượng Hải

Phần 140

Trang sách 434

Bạt Nhị (Lời Bạt Thứ Hai)

Bạt Nhị (Lời Bạt Thứ Hai)

Sách 《Dương Thức Thái Cực Quyền Giáo Pháp Luyện Pháp》 do Phó Chung Văn thái lão sư và Phó Thanh Viễn sư phụ biên trước, sau khi được Nhà xuất bản Đại học Đồng Tế xuất bản vào cuối năm 1989 liền khan hiếm như giấy Lạc Dương, bị tranh mua hết sạch. Người yêu thích Thái Cực Quyền không ai là không phụng sách ấy làm điển phạm.

Điều duy nhất chưa đẹp trong sách ấy là: do chất giấy và in ấn, ảnh quyền của Phó Chung Văn lão sư trong sách không được rõ, mà hình lại rất nhỏ, khiến người yêu thích Thái Cực Quyền ai cũng cho là một điều đáng tiếc. Mọi người đều muốn tranh nhau chiêm ngưỡng phong thái ảnh quyền của Phó công, để làm quy phạm chính tông.

Nay 《Đích Truyền Dương Thức Thái Cực Quyền Giáo Luyện Pháp》 sau khi được tu đính tỉ mỉ lại sắp tái xuất bản — thật là một việc vô cùng có ý nghĩa. Ảnh quyền đổi sang dùng ảnh của ái tôn Phó Thanh Tuyền sư huynh của Phó Chung Văn thái sư. Thanh Tuyền sư huynh từng đoạt quán quân Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm trong nước Trung Quốc, và lâu dài nhận được sự dạy dỗ của ông nội và cha, thâm ngộ tinh túy của Dương Thức Thái Cực Quyền.

Phó Chung Văn thái sư, Phó Thanh Viễn sư phụ và Thanh Tuyền sư huynh ba đời người, cả đời đều tận tâm tận lực vì việc quảng bá Dương Thức Thái Cực Quyền, giành được sự khâm phục và kính trọng của người đời.

Năm 1987 tôi cùng các sư huynh đệ tỷ muội khác may mắn được ở Singapore học với Phó Thanh Viễn sư phụ môn Dương Thức Thái Cực Quyền truyền thống 85 thức, và cùng các sư huynh đệ sáng lập Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Học Hội tại Johor Bahru Malaysia, thúc đẩy bộ Dương Thức Thái Cực Quyền 85 thức do Thái Cực Quyền danh sư Dương Trừng Phủ định hình này.

Tổ sư Dương Lộc Thiền, người được mệnh danh "Dương Vô Địch", vũ công tuyệt diệu vô cùng, dật sự lưu truyền lại rất nhiều, khiến chúng ta kinh ngạc và khâm phục; nhưng đáng tiếc là, năm ấy máy ảnh chưa được phát minh, chúng ta không có duyên được thấy giá thức và thần thái luyện quyền của Người.

Dương Trừng Phủ tiên sư được tôn là người định hình Dương Thức Thái Cực Quyền. Người định vị Dương Thức Thái Cực Quyền, và để lại ảnh quyền thời kỳ sau của mình làm điển phạm: trầm trước khai triển, thư triển đại phương, khí phái lớn, hình tượng đẹp, làm khuôn mẫu cho hậu nhân.

Phó Chung Văn thái sư đã khuất, người theo bên cạnh Dương Trừng Phủ tiên sư, hoàn toàn kế thừa quyền giá định hình những năm cuối của Dương Trừng Phủ tiên sư; năm tháng dài lâu, nhất ty bất cẩu (mảy may không cẩu thả) mà rèn luyện, và năm 1944 sáng lập Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Xã ở Thượng Hải. Khi ấy, Trần Vi Minh tông sư ca ngợi quyền giá của Phó thái sư là chính tông của Thái Cực Quyền. Cái "chính tông" ấy là chỉ giá thức do Dương Trừng Phủ tiên sư định hình. Phó Chung Văn thái sư là cháu rể của cháu gái bên ngoại của Dương Trừng Phủ Thái Cực tiên sư, là một trong những nhân vật đại biểu của Dương Thức Thái Cực Quyền đương đại Trung Quốc. Từ thuở nhỏ, ông đã theo bên cạnh Dương Trừng Phủ tiên sư, thâm toản khổ luyện Thái Cực Quyền. Khi ấy, nếu có người mộ danh Dương công mà dâng lời xin tỷ thí đôi chút, Dương tiên sư đều sai Phó thái sư xuống sân, không ai là không chịu phục. Vì thế, Phó thái sư hưởng thanh dự cao cả trong võ lâm, đức cao vọng trọng.

Bạt Nhị (tiếp theo)

Phó Thanh Viễn sư phụ từ nhỏ đã theo cha luyện võ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của cha, và kế thừa gia huấn, bôn ba nam bắc trong nước Trung Quốc và hải ngoại, được mời tới khắp nơi trên thế giới để hoằng dương bộ lộ Dương Thức Thái Cực Quyền chính tông truyền thống này. Ông hư hoài nhược cốc (lòng như hang trống), không ham danh lợi, dạy học nghiêm túc. Trước khi về hưu, ông dạy ở Đại học Công nhân Cơ điện Thượng Hải và kiêm nhiệm dạy ở Đại học Đồng Tế, Học viện Hóa công Thượng Hải và Học viện Tài kinh Thượng Hải. Năm 1986 ông mang nghệ nam lai, lần lượt dạy Thái Cực Quyền ở Úc, Singapore, Malaysia và Thái Lan v.v. Mấy năm gần đây nhiều lần tới hơn hai mươi nước Âu Mỹ dạy quyền và thăm viếng, được người yêu thích Thái Cực Quyền rất hoan nghênh, có thể nói là người thứ nhất truyền bá Dương Thức Thái Cực Quyền chính tông ở các nước Đông Nam Á.

Thái Cực Quyền, giữa một cái giơ tay một cái đặt chân đều có nội dung, có tinh thần; một động thì không gì không động, một tĩnh thì không gì không tĩnh; cả bộ lộ đều phải trên dưới tùy nhau, liên miên bất đoạn — thể hiện sự theo đuổi nghiêm túc đối với quyền giá. Đồng thời mỗi giai đoạn đều có yêu cầu tầng lớp khác nhau; quan trọng nhất là phương pháp luyện công chuyển hoán bằng thực cước, quán triệt đầy đủ tinh thần Thái Cực Quyền Thập Yếu của Dương Trừng Phủ tiên sư. Trong sách này, còn đặc biệt nêu ví dụ chỉ ra những sai lầm dễ phạm của từng chiêu từng thức, nguyên nhân phát sinh và phương pháp sửa chữa; đối với đồng đạo yêu thích môn Thái Cực Quyền, không nghi ngờ gì là một cuốn sách tham khảo rất có giá trị.

Chúng tôi tin chắc rằng, cùng với sự xuất bản của cuốn 《Đích Truyền Dương Thức Thái Cực Quyền Giáo Luyện Pháp》 này, nhất định có thể đóng góp trong việc quảng bá và nâng cao nghệ thuật Thái Cực Quyền; và trong phong trào Thái Cực Quyền có các lưu phái hỗn loạn, có thể chính bản thanh nguyên (làm trong nguồn, sửa gốc) cho Dương Thức Thái Cực Quyền.

Điều khiến đệ tử thụ nghiệp cảm thấy thụ sủng nhược kinh là: Phó Thanh Viễn sư phụ yêu cầu đệ tử thụ nghiệp viết một đoản văn cho tác phẩm này, khiến tôi, một kẻ thân là đệ tử thụ nghiệp, vô cùng lấy làm vinh hạnh.

Cuối cùng, đáng nói tới là: năm 1987 khi Phó Thanh Viễn sư phụ nam lai Singapore dạy quyền, mang theo bản thảo 《Dương Thức Thái Cực Quyền Giáo Pháp Luyện Pháp》 mà ông đã khổ tâm suy nghĩ biên trước, trịnh trọng ủy thác chúng tôi tìm cách xuất bản ở Malaysia; kết quả năm 1993, trải qua trùng trùng ba gập, chúng tôi thành công xuất bản cuốn sách ấy ở Malaysia, và xuất bản với thư danh 《Vĩnh Niên Dương Thức Thái Cực Quyền》. Ảnh quyền trong sách là giá thức của chính Phó Thanh Viễn sư phụ, ảnh in rõ ràng tinh mỹ.

Tôi tin rằng, cùng với sự xuất bản của 《Đích Truyền Dương Thức Thái Cực Quyền Giáo Luyện Pháp》, người yêu thích Thái Cực Quyền có thể có cơ hội nhìn thấy phong cách quyền giá được Phó gia ba đời một mạch tương truyền; đây là một việc vô cùng có ý nghĩa, khiến người học sau không đến nỗi lầm đường lạc lối, phân biệt được đâu là con đường chính thống của Dương Thức Thái Cực Quyền, bớt đi đường vòng uổng công, trực tiếp lấy được chân tủy Dương Thức Thái Cực Quyền của Dương công.

Ấy là lời bạt.

Thụ nghiệp: Hoàng Kiến Thành

Người viết bạt này là: Ký giả kỳ cựu của 《Trung Quốc Báo》 Malaysia Người khởi xướng Vĩnh Niên Thái Cực Quyền Học Hội Johor Bahru Malaysia Hội trưởng Hội Nghiên Cứu Quyền Lý Thái Cực Quyền Malaysia

Thái Cực Quyền thức Ngô (吳式太極拳, Ngô thức Thái Cực Quyền)

Từ Trí Nhất (徐致一, Từ Trí Nhất) biên soạn

Nhà xuất bản Thể thao Nhân dân (人民體育出版社)

Thái Cực Quyền thức Ngô (吳式太極拳, Ngô thức Thái Cực Quyền)

Từ Trí Nhất (徐致一) biên soạn

Nhà xuất bản Thể thao Nhân dân (人民體育出版社) xuất bản

Nhà in Bắc Kinh số 1 in Chi nhánh phát hành Tân Hoa thư điếm Bắc Kinh phát hành Khổ 787 × 1092 mm, bản 32 75 nghìn chữ 4 16/32 tờ in In lần thứ 1 tháng 7 năm 1958 In lần thứ 7 tháng 5 năm 1982 Số lượng in: 182.001–272.000 bản Biên tập viên phụ trách: Diêm Hải (閻海), Vương Khiết (王潔)

Thiết kế bìa: Chu Mộng Lân (周夢麟), Tôn Toàn Vinh (孫全榮)

Số hiệu sách thống nhất: 7

Định giá: 2 041 7723 8

Mục lục (目錄)
  • Chương 1 Ưu điểm của Thái Cực Quyền3
  • Chương 2 Tác dụng tâm lý của Thái Cực Quyền khi hành quyền10
  • Chương 3 Tác dụng sinh lý của Thái Cực Quyền qua đặc điểm động tác15
  • Chương 4 Căn cứ cơ học của Thái Cực Quyền trong kỹ kích23
  • Chương 5 Những phép tắc cần chú ý khi luyện bàn giá33
  • Chương 6 Đồ giải Thái Cực Quyền thức Ngô47
  • Thứ tự tên các thức quyền của Thái Cực Quyền thức Ngô (kèm chú giải)47
  • Động tác cơ bản53
  • Đồ giải các thức quyền Thái Cực Quyền thức Ngô64
  • Chương 7 Những phép tắc cần chú ý khi luyện thôi thủ122
  • Chương 8 Đồ giải thôi thủ Thái Cực Quyền thức Ngô129
  • Phụ lục Bàn về Thái Cực Quyền của Vương Tông Nhạc140
  • Bàn về Thái Cực Quyền của Vũ Vũ Tương141
  • Ca quyết Thập tam thế141
  • Hành công tâm giải Thập tam thế142
  • Đả thủ ca143
Lời nói đầu bản in lại (重印說明)

Sách này do cố tác giả Từ Trí Nhất (徐致一) biên soạn. Sau khi xuất bản năm 1958, đến năm 1964 đã in năm lần. Sau năm 1964 không in lại cũng không tái bản.

Trong sách giới thiệu các thức quyền của võ sư nổi tiếng Ngô Giám Tuyền (吳鑑泉, 1870–1942). Trong số hình minh họa động tác của các thức quyền, hơn sáu mươi bức được vẽ theo những tấm ảnh quyền thế còn lưu lại của Ngô Giám Tuyền; năm mươi bức khác được vẽ theo ảnh quyền thế bổ sung của Triệu Thọ Thôn (趙壽村), đệ tử của Ngô tiên sinh. Một số ảnh bổ sung là động tác chuyển tiếp trong quá trình của thức quyền, không phải định thức đã dừng hẳn, nên có thể có chỗ chưa hoàn toàn phù hợp với định thức; điều này cần được nói rõ.

Phần lý luận liên quan đến quyền thuật là do tác giả trình bày theo sự truyền dạy của Ngô Giám Tuyền tiên sinh. Phần liên quan đến khoa học tự nhiên là tâm đắc và thể hội của riêng tác giả.

Thái Cực Quyền thức Ngô lấy nhu hóa làm chính; tác giả chỉ bàn về quyền lý và quyền pháp của Thái Cực Quyền từ phương diện nhu hóa, nhưng không phủ nhận các lý luận liên quan ở phương diện khác của Thái Cực Quyền.

Trong quá trình biên soạn sách cũ, tác giả từng được Triệu Thọ Thôn, Ngô Diệu Tông, Trần Chấn Dân, Trương Đạt Tuyền, Quách Khải Thông, Tôn Nhuận Chí, Dương Bỉnh Thành, Dương Hiếu Văn, Đinh Tấn Sơn, Đinh Đức Sơn, Trình Tích Phủ, Trần Giác Ngô, Chu Liêm Tương, Chu Nguyên Long và những người khác giúp đỡ.

Lần in lại này chỉ viết lại bài "Giới thiệu vắn tắt Thái Cực Quyền thức Ngô", nội dung của bản cũ không bị thay đổi. Những chỗ chưa thỏa đáng trong sách, mong bạn đọc góp ý kiến để không ngừng cải tiến và bổ sung.

Phòng biên tập Nhà xuất bản Thể thao Nhân dân (人民體育出版社)

Tháng 4 năm 1980

Giới thiệu vắn tắt Thái Cực Quyền thức Ngô (吳式太極拳簡介)

Thái Cực Quyền thức Ngô (吳式太極拳, Ngô thức Thái Cực Quyền) phát triển và đổi mới từ các thức quyền được truyền trong Thái Cực Quyền thức Dương (楊式太極拳, Dương thức Thái Cực Quyền). Thái Cực Quyền thức Dương vốn có phân biệt đại giá và tiểu giá; Thái Cực Quyền thức Ngô được tu chỉnh dần dần trên cơ sở các thức quyền tiểu giá của thức Dương. Thái Cực Quyền thức Ngô bắt đầu từ người Mãn tộc Toàn Hữu (全佑, 1834–1902), sau được con trai ông là Ngô Giám Tuyền (吳鑑泉, theo họ Hán là Ngô, 1870–1942) cải tiến tu nhuận mà hình thành một lưu phái.

Thái Cực Quyền thức Ngô nổi tiếng về nhu hóa, động tác nhẹ nhàng tự nhiên, liên tục không dứt, thức quyền nhỏ gọn linh hoạt. Quyền giá đi từ khai triển đến khẩn thấu, trong khẩn thấu không tỏ ra câu nệ. Động tác thôi thủ (推手) nghiêm mật, tinh tế, giữ tĩnh mà không vọng động, cũng sở trường về nhu hóa.

Điều được giới thiệu trong sách là các thức quyền do Ngô Giám Tuyền truyền dạy vào những năm cuối đời.

Chương 1 Ưu điểm của Thái Cực Quyền

Các loại bài quyền của võ thuật đều có yêu cầu đặc thù trong luyện tập. Do yêu cầu luyện tập của nó bị giới hạn ở một số phương diện, tất nhiên không thể kiêm cố được các phương diện khác, cho nên bất cứ môn võ thuật nào cũng có ưu điểm của nó, và cũng đều có khuyết điểm của nó. Thái Cực Quyền (太極拳) là một môn võ thuật nhu tính; luyện tập theo phương pháp của nó thì đương nhiên có đặc điểm về tác dụng dưỡng bệnh và về công phu nhu hóa; nhưng ở phương diện mở rộng cơ bắp và phát triển công phu ngoại tráng thì đương nhiên không thể sánh ngang với võ thuật cương tính. Vì vậy, nói Thái Cực Quyền có ưu điểm không có nghĩa là nói Thái Cực Quyền không có khuyết điểm, cũng không có nghĩa là nói những ưu điểm ấy chỉ riêng Thái Cực Quyền mới có. Tóm lại, Thái Cực Quyền có đặc điểm của riêng nó là sự thật không thể phủ nhận. Dưới đây căn cứ vào đặc điểm của nó để trình bày những ưu điểm của nó:

I. Mấy ưu điểm với tư cách là môn vận động kiện thân

(一)Luyện tập toàn diện: Động tác của Thái Cực Quyền có mấy đặc điểm cực kỳ quan trọng, như nhu nhuyễn, chậm, liên quán, đi đường cung (tức động tác hình tròn) và "nhất động vô hữu bất động" (một phần động thì không phần nào không động; câu này thấy trong "Thập tam thế hành công tâm giải"), đều là những phép tắc tuyệt đối không thể xem nhẹ trong luyện tập. Phần sau sẽ nói rõ riêng từng điểm. Ở đây chỉ lấy đặc điểm "nhất động vô hữu bất động" để chứng minh tác dụng luyện tập toàn diện của nó. Mọi người đều biết, bơi lội là một môn vận động cần tay chân và thân thể cùng động tác, nó đã được công nhận là một trong những môn có hiệu quả luyện tập toàn diện. Thái Cực Quyền khi động tác, phàm toàn thân có thể động đều cần tham gia hoạt động, cho nên gọi là "nhất động vô hữu bất động". Lượng vận động của nó tuy nhỏ hơn bơi lội, nhưng về sự hài hòa và tinh tế của động tác toàn thân thì lại có phần hơn chứ không kém. Có thể thấy Thái Cực Quyền có ưu điểm luyện tập toàn diện.

(二)Kiêm cố trong ngoài: Khi luyện Thái Cực Quyền, không những hoạt động cơ bắp có đủ các loại động tác nhu hòa, mà đồng thời còn phải làm tốt động tác hô hấp và động tác hoành cách mô, để thúc tiến hoạt động cơ năng của các nội tạng như tâm, phế, trường, vị. Ngoài ra, do mỗi động tác đều dùng ý thức (意, ý) để dẫn dắt, khiến người ta tinh thần tập trung, không dấy tạp niệm, đến mức càng luyện càng thuần tĩnh (tức ý chỉ tâm cảnh cực kỳ an tĩnh), cũng có thể khiến hệ thần kinh trung ương tiến hành tác dụng điều tiết tốt hơn. Phương pháp luyện tập này một mặt có cái lợi của các môn vận động thông thường là hoạt động cơ bắp, một mặt lại hấp thu cái lợi của phép tĩnh tọa (靜坐) là điều tức dưỡng thần, cho nên có ưu điểm kiêm cố trong ngoài.

(三)Thú vị đậm đà: Động tác của Thái Cực Quyền đều đi theo đường tròn hoặc đường cung; khi mới luyện giá, không dễ làm tốt động tác hình tròn, đương nhiên thú vị ít hơn. Nhưng luyện đến về sau, càng luyện càng thuần thục, mức độ viên chuyển như ý không ngừng nâng cao, thì sẽ phát sinh thú vị đậm đà. Đến cuối cùng, nếu có thể trong động tác hình tròn mà vận dụng công phu hư thực (虛實) biến hóa và vận động điều tức, thì thú vị của nó lại càng tầng tầng lớp lớp không hết (thú vị này đối với thôi thủ cũng không ngoại lệ). Thú vị đậm đà có thể nâng cao tình cảm luyện tập, rất có lợi cho việc thúc tiến sức khỏe; đây cũng là một trong những ưu điểm mà Thái Cực Quyền có được.

(四)Tu dưỡng tính tình: Động tác của Thái Cực Quyền yêu cầu nhu hòa, yêu cầu khinh linh quán xuyến, lại yêu cầu trong động tác bao hàm tác dụng ý thức "động trung hữu tĩnh, tĩnh trung hữu động" (trong động có tĩnh, trong tĩnh có động), có thể khiến người luyện quyền nóng tính hoặc chậm chạp tiếp nhận ảnh hưởng một cách vô hình, uốn nắn tập quán vốn có. Vì Thái Cực Quyền một mặt coi trọng linh mẫn, có thể khiến người ta nâng cao cảm giác nhạy bén, một mặt lại coi trọng trầm tĩnh, có thể khiến người ta ức chế phù táo. Ngoài ra, khi thôi thủ, cho dù hai người công lực ngang nhau, bên hiếu dũng đấu ngoan thường chịu đòn đánh nhiều hơn hoặc nặng hơn; điều này cũng có thể khiến người thô bạo thu được hiệu quả tiềm di mặc hóa. Do đó có thể thấy Thái Cực Quyền có ưu điểm tu dưỡng tính tình, trên lý luận và trên sự thực đều có căn cứ nhất định.

(五)Ai cũng có thể luyện: Động tác Thái Cực Quyền nhu hòa, tốc độ khá chậm, thức quyền cũng không khó học, hơn nữa thức cao hay thấp và dùng sức nhiều hay ít đều có thể khác nhau tùy theo thể chất của mỗi người. Do lượng vận động của nó có thể lớn có thể nhỏ, không những người già yếu thường xuyên luyện tập không đến nỗi sinh ra tệ hại; mà ngay cả với người thân thể cường tráng hoặc làm những vận động kịch liệt cũng đều cực kỳ thích nghi. Thôi thủ tuy là phương pháp hai người đối luyện kỹ kích, nhưng do Thái Cực Quyền lấy linh mẫn nhu hóa làm chính, chỉ cần bất cứ bên nào không dùng cương kình hay man lực, thì quyết không xảy ra sự cố thương tổn. Đây đều là những điều kiện ưu việt khiến Thái Cực Quyền hợp với việc ai cũng có thể luyện.

(六)Tác dụng y liệu: Các môn thể dục thể thao có lượng vận động khá lớn tiêu hao thể lực quá nhiều, người yếu không thể đảm đương, sau bệnh lại càng không thích hợp. Thái Cực Quyền có đủ các đặc điểm của nó để thích ứng với yêu cầu khác nhau của người bệnh (trừ người đang khái huyết hoặc đang xuất huyết), cho nên có thể giúp người bệnh thu được hiệu quả rõ rệt trong việc hồi phục và tăng tiến hoạt động cơ năng. Về sự phát sinh của tật bệnh, từ rất sớm trước đây chúng ta đã có cách nói "khí huyết bất hòa". Câu này trước kia từng bị coi là không thể lý giải, kỳ thực là cách dùng từ của thời cũ: lấy tâm thay não, lấy khí thay thần kinh ty (sợi thần kinh), cho nên khó thông với học thuyết hiện đại. Theo thể hội của tác giả, câu này vốn bao hàm ý nghĩa rằng hệ thần kinh không thể thống nhất sự điều tiết và chi phối đối với hệ tim mạch, cho nên nội khoa đông y khi dùng thuốc đều lấy việc thúc tiến bản năng của người bệnh để trị bệnh của chính họ; thầy thuốc châm cứu và thầy thuốc suy nã (xoa bóp) cũng đều dùng phương pháp kích thích hoặc áp bách thần kinh có liên quan để đạt hiệu quả y liệu. Thái Cực Quyền một mặt vận dụng động tác hữu hiệu để hoạt động cơ bắp toàn thân (đương nhiên bao gồm cả hoạt động của sợi thần kinh ở trong); một mặt lại vận dụng hô hấp thâm trường để điều tiết hoạt động cơ năng của tim và sự lưu hành của huyết dịch; đồng thời còn phải dùng ý thức dẫn dắt động tác, khiến người ta bài trừ tạp niệm, chuyên tâm nhất ý, tiến hành trong tình cảm cực kỳ ninh tĩnh luyện tập, đều là ở chỗ thúc tiến thần kinh trung khu phát sinh tác dụng tốt đối với toàn bộ hệ thần kinh, lấy bản năng của mình để trị bệnh hoặc tăng tiến sức khỏe.

II. Mấy ưu điểm của Thái Cực Quyền trong kỹ kích

(一)Dĩ nhu tế cương (lấy nhu giúp cương): Thái Cực Quyền coi trọng nhu và xem nhẹ cương, không chỉ vì đạo lý nhu có thể khắc cương, mà chủ yếu là sợ người ta phạm phải tật bệnh "song trọng" (雙重, song trọng) trong kỹ kích. Có người cho rằng "hai chân đồng thời dùng sức chống đỡ thân thể" tức là "song trọng", đến nỗi trong bài quyền đã bỏ đi thế kỵ mã (cưỡi ngựa), điều này là sai, thậm chí hại người không nhỏ. Trong bài quyền dùng hay không dùng thế kỵ mã tuy có thể do yêu cầu của mỗi người quyết định. Nhưng lấy thế kỵ mã để giải thích là song trọng thì khó tránh khỏi làm lầm người không nhỏ. Cái gọi là song trọng là nói khi giao thủ với người, đã không chịu dùng tẩu kình "người cương ta nhu" để dẫn khiến đối phương rơi vào khoảng không, lại không biết thừa thế dùng "niêm kình" (dính kình) để giành ưu thế "ta thuận người nghịch", chỉ biết người ta bức dùng sức thì ta cũng dùng sức, thấy người ta giành trước thì ta cũng giành trước, kết quả là sức nhỏ thua sức lớn, tay chậm thua tay nhanh; đây không phải là võ nghệ đối phương cao cường, mà là tự chuốc khổ. "Vương Tông Nhạc Thái Cực Quyền luận" nói về điểm này rất rõ ràng, vốn có thể để người học tự lĩnh ngộ, nhưng e rằng cách hiểu lầm về song trọng ngày càng sâu, nên nhân dịp này giải thích sơ lược. Tật bệnh song trọng, nói đơn giản, chính là tật bệnh chỉ biết dùng cương mà không biết dùng nhu. Phải biết hai người giao thủ đều dùng cương kình thì kẻ kình nhỏ tất bị kẻ kình lớn chế ngự, hoặc là lưỡng bại câu thương. Thái Cực Quyền khắp nơi giảng nhu hóa, trước hết là để tránh loại xung đột không cần thiết này hoặc xung đột bất lợi cho mình. Nhưng khi giao thủ, nếu chỉ biết thoái tị mà không biết tiến kích, thì không phù hợp với đạo lý cương nhu tương tế và dĩ nhu khắc cương. Thái Cực Quyền được gọi là Thái Cực, chủ yếu là để nói rõ cách dùng kình của nó là trong nhu có cương, trong cương có nhu, tương đương với ý nghĩa âm không lìa dương, dương không lìa âm của Thái Cực. Từng nghe người ta nói: người chuyên luyện nhu hóa thì không biết phát nhân (tức là không có ý "phát động"), đây là nhầm lẫn "nhu" với "phát" thành hai việc, chưa hiểu được đạo lý trong nhu có cương và trong cương có nhu.

Động tác của Thái Cực Quyền tất phải đi đường cung, chính là để tăng tiện lợi cho việc chuyển từ nhu sang cương và từ cương sang nhu trong động tác. Khi vận dụng, cương nhu tuần hoàn, không tìm được đầu mối, nó hoàn toàn khác với kiểu ra vào phân minh của cách đánh đường thẳng thông thường. Có lẽ có người hỏi: tay nhanh đánh tay chậm, sức lớn đánh sức nhỏ, chẳng phải càng gọn gàng hơn sao, cớ gì phải đi đường cung quanh co chậm chạp? Phải biết rằng một người chỉ tin tay mình nhanh sức mình lớn, tuyệt không ước lượng rằng người khác nhanh hơn mạnh hơn mà ra tay dễ dàng, rõ ràng là hành động mạo hiểm xuất phát từ chủ quan. Người ấy có thể may mắn thắng, cũng có thể thất bại thảm hại, về an toàn hoàn toàn không có bảo đảm. Thái Cực Quyền khắp nơi dùng nhu kình, trước hết là để tránh sự hy sinh vô nghĩa trong xung đột, để khỏi vừa ra tay đã gặp nguy hiểm thất bại, đồng thời có thể từ nhu hóa mà hiểu được hư thực mạnh yếu của đối phương, rồi căn cứ vào ưu thế đã giành được mà lập tức phản kích; nếu không phản kích đúng lúc, cũng không đến nỗi thất thủ làm thương nhầm. Còn về việc đi đường cung, nhìn sơ qua thì hình như chậm hơn đi đường thẳng, nhưng động tác đường cung có thể chuyển biến ở bất cứ chỗ nào, có khi còn nhanh hơn đi đường thẳng; cái gọi là "hậu phát tiên chí" (phát sau đến trước) chính là từ trong đó mà có được. Cách kỹ kích "cương nhu tương tế, công thủ hàm nghi" (cương nhu hỗ trợ nhau, công thủ đều thích hợp) này chính là chỗ ưu điểm cơ bản của Thái Cực Quyền, người học nên đặc biệt chú ý.

(二)Dĩ tĩnh đãi động (lấy tĩnh đợi động): Phương pháp nhu hóa của Thái Cực Quyền tuy có ưu điểm công thủ đều thích hợp và bảo đảm an toàn, nhưng nếu dùng không đúng lúc hoặc không đúng điểm, chưa nắm được hướng động của đối phương, thì vẫn khó thu được hiệu quả đầy đủ. Vì vậy khi vận dụng còn phải nương vào tố dưỡng "dĩ tĩnh đãi động". Theo cách nói ở trên, có thể thấy Thái Cực Quyền đánh người không chủ trương dùng thủ pháp chủ quan "tiên hạ thủ vi cường" (ra tay trước là mạnh), mà là sau khi nghe ra (đây là cảm giác khi giao thủ, thuật ngữ gọi là thính kình, là dùng cảm giác trên thân và tay để nghe đường kình của đối phương) hướng động thật sự của đối phương, rồi dùng phương pháp phản kích "hậu phát tiên chí". Cách đánh này trước hết yêu cầu bản thân mình cực kỳ trấn tĩnh, để mặc đối phương giành trước ra tay và phát kình, không được hoảng, phải đợi anh ta phát kình ra, mới đối phương vẫn có thể đánh trả. Nếu thế tới khá mạnh, có thể dùng hóa kình (化勁) dẫn cho rơi vào khoảng không, khi đó hai kình bằng và lữ có thể chọn một mà dùng. Nếu không muốn cho đối phương áp sát, cũng có thể nhân lúc hắn chưa tới mà dùng bằng kình (掤勁) để chặn lại, hoặc nhân khoảng trống khi kình thứ nhất của đối phương đã qua mà kình thứ hai chưa phát động để phát kình đánh vào. Tóm lại, phải nhân lúc đối phương không kịp chuyển biến hoặc đã rơi vào thế yếu, mà giáng cho một đòn nhanh chóng. Bài ca đánh tay (Đả thủ ca) nói: "Hắn không động, mình không động; hắn động nhẹ, mình động trước", chính là nói về "dĩ tĩnh đãi động" và "hậu phát tiên chí". Tác dụng của ưu điểm này chủ yếu biểu hiện ở hai phương diện sau: một là chờ thời cơ mà động, dễ đánh trúng đối phương; hai là vạn nhất đánh không trúng, do đối phương đã ở vào thế bị động, nên mình cũng không bị đối phương đánh trả.

(三)Dĩ tiểu chế đại (以小制大): Đây là cách Thái Cực quyền dựa theo nguyên lý cơ học, lợi dụng một loại động tác (trong kỹ kích gọi là "trước" 着) để trên động tác của đối phương mà cộng thêm kình của mình, hoặc giảm bớt kình của mình (từ có kình đột nhiên biến thành không kình, thuật ngữ gọi là "không kình" 空勁; mục đích là làm cho đối phương rơi vào khoảng không; cách nói truyền bên ngoài rằng dùng không kình để đánh người, trong Thái Cực quyền không có loại kình ấy), làm cho trọng tâm của đối phương dao động, hoặc trước "hóa" sau "triêm" buộc đối phương rơi vào phương vị bất lợi, rồi thừa thế đánh, tuyệt đối không dùng thủ pháp đánh cứng tiến cứng. Câu "tứ lượng bát thiên cân" (四兩撥千斤) trong quyền luận không phải là khoa đại, bởi vì khi trọng tâm đối phương cực kỳ bất ổn, chỉ cần khẽ gạt một cái là ngã, vốn không cần dùng nhiều sức. Có khi chỉ cần quát to một tiếng, cũng có thể làm cho đối phương vì kinh sợ mà ngã theo thế. Bởi vì thân người cũng là vật thể, không thể không chịu ảnh hưởng của trọng tâm; mà người thì có thể tự động, nhân lúc hắn tự động mà đánh thêm, hắn sẽ mất trọng tâm dễ hơn một vật thể bất động. Trong đó đều có căn cứ cơ học, có thể chứng minh khả năng dùng lực nhỏ chế ngự lực lớn, tuyệt đối không phải là môn quyền thuật này có tác dụng thần bí nào khác. Người thể yếu sức mỏng, nếu muốn hiểu được đôi phần đạo lý trong kỹ kích, thì học Thái Cực quyền cũng là thích hợp nhất.

(四)Dĩ thoái vi tiến (以退為進): Cách dùng kình của Thái Cực quyền tuy thiên biến vạn hóa, nhưng nói tổng quát thì chỉ có hai chữ lớn: một là chữ "tẩu" (走), một là chữ "triêm" (粘) (tham khảo "Thái Cực quyền luận" 太極拳論 trong phần phụ lục). Tẩu là dùng nhu hóa đối phương để bảo đảm mình được an toàn; triêm là cách sau khi nhu hóa thì nhân cơ hội dán sát vào để khống chế sự biến động của đối phương. Hai cách này, khi ứng dụng thật ra là hai mặt của một cách, người học phải hiểu được đạo lý "tẩu tức thị triêm, triêm tức thị tẩu" (走即是粘,粘即是走) (lời thấy trong "Thái Cực quyền luận") thì mới có thể dùng hết diệu dụng của chúng. Đồng thời, khi làm động tác còn phải nuôi thành thói quen đi theo đường cong; phải biết rằng "từ tẩu chuyển sang triêm và từ triêm chuyển sang tẩu" đều lấy động tác hình tròn làm cơ sở, công phu càng sâu thì khi ứng dụng đường cong cũng đi càng ngắn, thậm chí chỉ còn ý vị của đường cong mà rất khó nhìn ra động tác cong. Cách "khúc trung cầu trực" (曲中求直) này (lời thấy trong "Thập tam thế hành công tâm giải" 十三勢行功心解), thoạt nhìn thì dường như quanh co chậm chạp, nhưng thực tế lại chính là mấu chốt chủ yếu của "hậu phát tiên chí". Còn như tại sao tẩu và triêm phải vận dụng tuần hoàn, nói đơn giản, chỉ là dạy người ta khi giao thủ trước hết phải thuận theo phương hướng của kình tới, dùng cách "tẩu" dẫn cho rơi vào khoảng không, để tránh xung đột (tức là tránh tổn thương), sau đó thuận theo thế còn lại sau khi tẩu hóa, liền dùng cách triêm để bức chế sự chuyển biến của đối phương, nhằm tạo ra ưu thế "ta thuận người nghịch". Lúc này, nếu đối phương còn muốn gắng gượng vùng vẫy, thì càng triêm càng chặt, làm cho thân thể đối phương mất thăng bằng; nếu lại nhân thế phát kình, đối phương ở thế yếu không thể đánh trả, rất khó tránh khỏi đòn đánh. Nếu cách triêm của ta không bức chế nổi đối phương, thì không được mạo muội phát kình, mà nên để mặc đối phương chuyển biến, và tiếp tục dùng tẩu dùng triêm để tạo ưu thế, rồi mới có thể phát kình đánh. Đương nhiên, bậc kỹ kích gia công phu cao, chỉ cần dùng một lần tẩu triêm là có thể đánh trúng đối phương. Nhưng khi luyện công, nên ra sức luyện cho thuần thục ở chỗ vận dụng tuần hoàn, để nuôi thành thói quen "dĩ thoái vi tiến", có vậy khi ứng dụng mới được bảo đảm có thắng không bại và tuy bại mà không bị thương. So với cách đánh cứng tiến cứng thiếu bảo đảm an toàn, thì không khó nhìn ra rằng cách dĩ thoái vi tiến đúng là một ưu điểm cực lớn trong kỹ kích.

Chương này chủ yếu nhằm nói rõ tính năng và thú vị của Thái Cực quyền, chứ không có ý khoa đại nó thành một môn võ thuật vạn năng, bởi vì võ thuật nhu tính thiên về tác dụng tu dưỡng, về mặt phát triển cơ bắp và rèn luyện công phu ngoại tráng thì không thể so sánh với võ thuật cương tính.

Chương hai: Tác dụng tâm lý của Thái Cực quyền khi hành công

Trong bất cứ một môn thể dục thể thao nào, mỗi một động tác đều cần dùng sức, và đều có yêu cầu nhất định. Nếu không có ý thức của con người thông qua thần kinh trung khu đóng vai trò chi phối, thì tuyệt đối không thể xuất hiện bất cứ một động tác nào. Các môn võ thuật tuy đều lấy việc mô phỏng động tác kỹ kích làm chính, nhưng trong yêu cầu thì có những đặc điểm khác nhau như cương, nhu, nhanh, chậm và khác nữa, cho nên khi luyện tập còn phải căn cứ theo yêu cầu khác nhau của mỗi người mà dùng ý thức để tưởng tượng tác dụng kỹ kích của mỗi động tác. Có thể thấy luyện tập các môn võ thuật đều cần "dụng ý", không phải chỉ riêng Thái Cực quyền mới coi trọng quy tắc này. Vậy thì tại sao Thái Cực quyền lại đặc biệt nhấn mạnh đặc điểm "dụng ý bất dụng lực" (用意不用力) này? Đó là vì cách dùng sức của Thái Cực quyền có chỗ khác với cách dùng sức của các môn võ thuật khác, cho nên ở phương diện "dụng ý" cũng tỏ ra đặc biệt quan trọng. Nay trước hết nói từ sự kết hợp giữa động tác và ý thức: động tác của Thái Cực quyền là một loại động tác chậm, mềm mại nhẹ nhàng, hoàn toàn khác với động tác nhanh, cương mãnh hữu lực. Hai loại động tác này, vì trong yêu cầu đã có sự khác biệt to lớn là một cương một nhu và một nhanh một chậm, cho nên khi luyện tập, tuy lấy cùng một động tác kỹ kích làm đối tượng, nhưng sự tưởng tượng được thực hiện, để phù hợp với yêu cầu của động tác, thì không thể lấy cùng một nội dung: loại lấy động tác cương nhanh làm chính thì đương nhiên phải từ "tranh tiên tiến công" mà tưởng tượng tác dụng kỹ kích của nó; loại lấy động tác nhu hoãn làm chính thì đương nhiên phải từ "tiên hóa hậu đả" mà tưởng tượng tác dụng kỹ kích của nó; chúng đều có quan hệ nhân quả riêng, không thể tùy ý thay đổi. Đồng thời, đối với sự chi phối của ý thức, động tác chậm của Thái Cực quyền còn có tác dụng quan trọng hơn: động tác nhanh cương mãnh hữu lực, do tốc độ cao, nó chỉ có thể ở hai điểm, thậm chí chỉ ở một trong hai điểm ấy, là chịu sự chi phối của ý thức (một khi phát thì phải phát cho hết, một khi thu thì phải thu cho hết, ở khoảng giữa không có chỗ để xoay trở); còn Thái Cực quyền, do động tác nhu hòa hoãn chậm, không những ở hai điểm động tĩnh là lúc khởi và lúc kết mà chịu sự chi phối của ý thức, mà ngay trong bất cứ một quá trình nào từ động đến tĩnh và từ tĩnh đến động cũng đều khắp nơi tiếp nhận sự dẫn dắt của ý thức, muốn dừng thì tùy chỗ mà dừng, muốn tiến thì tùy chỗ mà tiến. Cách luyện này, trong kỹ kích, chủ yếu có hai tác dụng: một là dạy người ta khi vận động thì tưởng tượng không gián đoạn, đưa công phu kỹ kích lên giai đoạn "thần minh" (神明), nói cách khác, tức là lợi dụng tinh thần lực lượng (tức tác dụng tâm lý) để ảnh hưởng đến các thứ rèn luyện trên nhục thể; một là ở chỗ nuôi thành thói quen không vọng động, khiến người ta khi giao thủ không đến nỗi vô ý thức mà làm ra những động tác vô ích. Trên đây chủ yếu nói rõ chỗ khác nhau của hai loại động tác kỹ kích; dưới đây xin giới thiệu sơ lược đạo lý tinh thần ảnh hưởng đến nhục thể, để người mới học tham khảo.

Về những sự lệ cho thấy tinh thần có thể chi phối nhục thể thì kể không hết. Thường thấy nhất là người có ý chí kiên cường thì trên công việc hoặc trên sự nghiệp thường không sợ bất cứ gian nan nào, trăm lần bẻ mà không gãy. Rõ rệt hơn nữa là một số chí sĩ cách mạng có ý chí kiên cường, trong bất cứ cảnh ngộ nào cũng đều có thể chịu đựng bất cứ nỗi đau khổ nào về sinh hoạt hoặc về nhục thể mà quyết không khuất phục; điều đó đều có thể chứng minh tác dụng vĩ đại của tinh thần lực lượng. Lại lấy việc nhỏ mà nói, một người khi vui mừng khác thường thường thấy mọi vật trước mắt đều đáng yêu, ăn uống cũng ngon miệng hơn bình thường; nếu gặp phải chuyện buồn lo thì lại sinh ra hiện tượng ngược lại; điều đó cũng có thể chứng minh tác dụng sinh lý chịu ảnh hưởng của tác dụng tâm lý. Đó là vì hệ thần kinh của người ta từ trung khu đến mạt sao là một chỉnh thể. Khi thân thể tiếp xúc với ngoại vật hoặc bị kích thích, trước hết là gây nên cảm giác của mạt sao thần kinh; cảm giác đối với vật được tiếp xúc vốn không có năng lực nhận biết, sau khi có cảm giác thì ngay lập tức do sự chấn động của mạt sao thần kinh, thông qua thần kinh sợi mà truyền đến thần kinh trung khu, bấy giờ mới phát sinh tác dụng tưởng tượng mà có nhận biết, đó gọi là tri giác. Tri giác là nguồn phát sinh của các thứ quan niệm (觀念) của con người. Quan hệ giữa quan niệm và vận động trung khu cực kỳ mật thiết, như có khi trong lòng ta vừa mới nghĩ muốn lấy một vật, còn chưa nghĩ đến đối tượng, thì tay đã giơ lên; hoặc khi trông thấy quả mơ, tuy chưa nếm được vị chua, trong miệng cũng đầy nước miếng; đó đều là hiện tượng phản xạ do quan niệm tác dụng lên vận động trung khu mà sinh ra. Cái gọi là "thục năng sinh xảo" trong động tác, thực tế chính là tác dụng phản xạ đã nói ở trên. Ngoài ra, người nghiên cứu tinh thần trị liệu có thể ứng dụng thuật thôi miên để chữa bệnh hoặc sửa chữa thói quen, cũng là lợi dụng tác dụng tâm lý của bản thân để đạt hiệu quả y liệu. Có khi, chúng ta còn không cần vận dụng thuật thôi miên, chỉ cần dùng lời nói khích lệ cũng có thể phát sinh hiệu lực, như trong một bài dịch gần đây được thấy (đăng trên Thượng Hải Tân Dân báo, do Ngải Lý dịch trích từ tạp chí "Nê Ngõa" của Liên Xô) nói rằng: có một cô gái mười hai tuổi, sau cơn bệnh nặng rất lâu vẫn không đi được; nguyên nhân chính ngăn trở cô bé đi lại độc lập là cô không tin mình có thể đứng dậy đi lại được nữa; về sau, dưới sự khuyên nhủ và khích lệ của mọi người, cô bé rốt cuộc thử tập đi, kết quả là đi được; bác sĩ không dùng ngoại khoa thủ thuật mà dùng tâm lý trị liệu, là đang bồi dưỡng lòng tin của cô bé đối với việc khôi phục năng lực đi lại (đại ý như vậy, không hết là nguyên văn) — đó là một chứng minh rất mạnh mẽ. Gần đây trên tài liệu tham khảo thể dục còn thấy một mẩu tin: "Chuyên gia Liên Xô đang nghiên cứu khả năng đem thuật thôi miên áp dụng vào thể dục; vận động viên nhảy cầu của môn trượt tuyết đã vận dụng thuật thôi miên trong luyện tập." Điều này càng có thể chứng minh quan hệ mật thiết giữa tác dụng tâm lý với thể dục vận động. Người mới học Thái Cực quyền phải hiểu được đạo lý đã nói ở trên, mới có thể hiểu sâu sắc tác dụng của dụng ý bất dụng lực.

Thái Cực quyền trong "Thập tam thế hành công tâm giải" (十三勢行功心解), ngay từ đầu đã có những câu như "dĩ tâm hành khí" (以心行氣), "dĩ khí vận thân" (以氣運身); tuy là một quy tắc rất quan trọng khi hành công, nhưng người mới học thường khó lĩnh ngộ. Kỳ thực, hai chữ "dĩ tâm" trong câu trên nên giải thích là "dụng ý", điều ai cũng nghĩ ra được; trong "Thái Cực quyền luận" và "Thập tam thế ca quyết" cũng đã nhiều lần nhắc đến chữ "ý" (意) này. Chỗ khó hiểu chỉ là ở vấn đề "hành khí" và "dụng khí" mà thôi. Cái "khí" (氣) này rốt cuộc là thứ gì? Đó là vì tiền bối của chúng ta đối với việc trong thân thể có thần kinh trung khu, thần kinh sợi và thần kinh mạt sao tồn tại, cùng tác dụng sinh lý của nó, đều chưa có nhận biết rõ ràng. Họ vẫn cho rằng động tác của con người là do một thứ "khí" hoặc một thứ "thần" (神) tác dụng ở bên trong; thuật ngữ "nội luyện tinh khí thần" (内練精氣神) được dùng chính là từ nhận biết ấy mà ra. Lấy tri thức sinh lý mà chúng ta biết để nói, thì "khí" được chỉ ở đây quyết không phải là khí có liên quan đến hô hấp, mà nên giải thích là thần kinh sợi và thần kinh mạt sao phân bố khắp toàn thân. Bởi vì động tác của thân người và hoạt động của nội tạng đều là những tác dụng do những thứ này phát sinh ra sau khi tiếp nhận mệnh lệnh của thần kinh trung khu. Có thể thấy dĩ tâm hành khí bất quá chỉ là ý nghĩa vận dụng ý thức; kết hợp nó với câu "dĩ khí vận thân" thì có thể nói rõ quan hệ chủ tòng giữa ý thức và động tác. Tiền nhân coi "khí" là một thứ ở ngoài hệ thần kinh, cho nên chia thành hai câu để nói rõ phương pháp hành công; đó là điều trước hết phải nhìn cho rõ.

Đoạn trên chủ yếu nhằm khẳng định tác dụng tâm lý của Thái Cực quyền khi hành công. Còn như Thái Cực quyền kết hợp tác dụng tâm lý vào động tác như thế nào thì còn phải nói kỹ một phen. Ở chương một, chúng ta đã biết động tác của Thái Cực quyền có không ít đặc điểm; căn cứ theo những đặc điểm ấy để tiến hành rèn luyện, đương nhiên cũng có thể đạt được hiệu quả rất tốt về sức khỏe và về kỹ kích. Nhưng người sáng tạo ra Thái Cực quyền coi việc rèn luyện tinh thần và rèn luyện cơ bắp là quan trọng như nhau, thậm chí còn coi cái trước là quan trọng hơn. Đồng thời, do tiền nhân tin sâu vào đạo lý tinh thần có thể chi phối nhục thể, cho nên trong phương pháp rèn luyện còn đưa ra quy tắc tối cao là "dụng ý bất dụng lực", khiến cho mọi động tác, dưới ảnh hưởng không ngừng của ý thức, có thể phát sinh tinh thần lực lượng, nhằm nâng cao hiệu quả vận động của Thái Cực quyền.

Trong "Thập tam thế hành công tâm giải", sau những câu như "dĩ tâm hành khí", "dĩ khí vận thân", liền tiếp theo còn có những câu như "tinh thần năng đề đắc khởi tắc vô trì trọng chi ngu……, ý khí tu hoán đắc linh nãi hữu viên hoạt chi thú"; đó cũng đều là cách nói dùng tinh thần để ảnh hưởng đến động tác. Cho nên, khi chúng ta luyện tập Thái Cực quyền, không phải chỉ đơn thuần từ tư thế và động tác mà thỏa mãn những yêu cầu hữu hình, mà phải đồng thời trên động tác và trên tư thế gia thêm một sự tưởng tượng nhất định, đồng thời phải tin chắc rằng mỗi một tưởng tượng nhất định có thể sản sinh hiệu quả dự kỳ trên động tác. Phương pháp này, ba mươi năm trước tác giả từng đặt cho nó một tên gọi là "tưởng đương nhiên" (想當然), chỉ lợi dụng mặt chữ của nó, chứ không lấy nguyên ý của nó; tác giả giải thích nó là "mọi tưởng tượng đều có hiệu quả đương nhiên". Ví như hai động tác không thể nắm bắt là "dĩ tâm hành khí" và "dĩ khí vận thân" đều không thể biểu diễn được; chúng ta chỉ có thể theo sự chỉ dẫn của quyền luận, dùng tưởng tượng của mình để khẳng định tác dụng và hiệu quả của nó. Lại như dưới câu dĩ tâm hành khí còn có câu "vụ lệnh trầm trước"; đã vậy Thái Cực quyền không cho phép dùng sức, thì chúng ta cũng chỉ có thể ở trên động tác mà tạo tưởng tượng trầm trước, để phù hợp với yêu cầu của quyền luận. Ngoài ra còn có những yêu cầu như "khí trầm đan điền" (氣沉丹田), "khí nghi cổ đãng"; tuy có thể được giúp đỡ nhất định từ động tác, nhưng khi hành công cũng không phải dùng sức để cổ khí hoặc dùng sức để trầm khí, mà chỉ là ở trên ý thức tạo ra sự tưởng tượng đáng có mà thôi. Sự tưởng tượng đã nói ở trên, nói ra tuy đơn giản, nhưng hiệu quả của nó không phải một lúc là có thể đạt được; phải trong quá trình rèn luyện không ngừng và tưởng tượng không ngừng, làm cho tinh thần của mình trước hết chịu một thứ tác dụng thôi miên, bấy giờ mới có thể phát sinh ảnh hưởng nhất định trên sinh lý. Những câu trong "Thập tam thế ca quyết" như "thế thế tồn tâm quỹ dụng ý, đắc lai bất giác phí công phu" và "công phu vô tức pháp tự tu" đều đủ để chứng minh đạo lý luyện lâu thì phương pháp này tự nhiên thấy công hiệu. Trong kỹ kích, Thái Cực quyền chính là dựa vào cách rèn luyện này để nuôi thành tác dụng phản xạ của trung khu thần kinh, khiến người ta khi giao thủ chỉ cần nhờ cảm giác hoặc nhờ tưởng tượng, không cần thông qua tác dụng phân tích của tri giác, là có thể phát ra động tác thích đáng mà giành được thắng lợi. Hiện tượng này, trong thao tác thủ công của chúng ta, việc có người có thể luyện thành kỹ năng kinh người cũng là cùng một đạo lý.

Do "dụng ý bất dụng lực" là quy tắc quan trọng nhất trong Thái Cực quyền, cho nên đã nói rõ hơi nhiều. Nhưng muốn nói cho thấu triệt quy tắc này thật cũng không dễ, tác giả hạn chế ở trình độ, chỉ có thể nói đến đây là hết.

Chương ba: Tác dụng sinh lý của Thái Cực quyền trên các đặc điểm động tác

Tác dụng tâm lý đã nói ở chương trên, thực tế cũng chính là tác dụng sinh lý, vốn có thể xếp vào trong phạm vi chương này để nói chung một lượt; nhưng vì thấy rằng đặc điểm này — "dụng ý bất dụng lực" — là một đặc điểm nổi bật nhất trong các đặc điểm của Thái Cực quyền, và lại cần được giải thích nhiều hơn, cho nên lập riêng một chương, chứ không phải gạt nó ra ngoài các đặc điểm. Các đặc điểm của Thái Cực quyền, có cái biểu hiện ở phương diện động tác, có cái biểu hiện ở phương diện tư thế, đều là tiêu chuẩn quan trọng trong rèn luyện; trong các phương pháp luyện tập ở phần sau đương nhiên còn phải nói rõ nội dung của từng cái. Chương này để tránh trùng lặp, chỉ giới thiệu sơ lược tác dụng sinh lý của những đặc điểm ấy, để người học tham khảo.

I. Mấy đặc điểm quan trọng biểu hiện ở phương diện động tác

(一)Nhu (柔): Trong võ thuật có môn chuyên luyện cương kình, cũng có môn trước luyện cương kình sau luyện nhu kình (như Hình Ý quyền 形意拳 có sự phân đoạn thành minh kình, ám kình và hóa kình); còn Thái Cực quyền thì từ đầu đến cuối lấy việc rèn luyện nhu kình làm chính, cho nên là một môn võ thuật nhu tính. Cái hay của nhu là dùng sức ít mà không làm cho cơ bắp quá căng thẳng; nhìn từ góc độ mở rộng cơ bắp, tăng cường thể lực thì tuy hiệu quả nhỏ hơn, nhưng khi vận động không làm cho hô hấp quá dồn dập, cũng không tiêu hao quá nhiều thể lực; đối với người thân thể khá yếu hoặc người vừa mới khỏi bệnh thì đó là một loại động tác bảo vệ sức khỏe thích ứng với yêu cầu sinh lý, không đến nỗi phát sinh tệ hại.

(二)Hoãn (緩): Luyện cương kình hoặc luyện minh kình, về động tác, đều cần nhanh mà có lực. Luyện nhu kình cũng có khi dùng động tác nhanh, nhưng Thái Cực quyền thì lấy động tác chậm làm chính, cho nên "hoãn" cũng là một đặc điểm động tác của Thái Cực quyền. Hoãn và nhu, khi làm động tác, là phối hợp mật thiết với nhau. Nó có tác dụng khống chế tích cực hơn đối với việc điều hòa hô hấp, đồng thời cũng là một phương pháp hữu hiệu để tiết chế tiêu hao thể lực. Ngoài ra, đối với phương pháp vận động "dùng ý thức dẫn dắt động tác", nó cũng đóng vai trò bậc thang cực kỳ quan trọng; đó là nguyên nhân chính khiến Thái Cực quyền phải dùng động tác chậm.

(三)Tùng (鬆): Thái Cực quyền, nói từ phương diện bảo vệ sức khỏe, là một phương pháp rèn luyện "kiêm tu công phu tĩnh tọa trong khi vận động", trong thuật ngữ gọi là "động trung cầu tĩnh" (動中求靜). Vì thế, khi luyện quyền, tuyệt đối không được có chút nào những tư thế căng thẳng như cứng cổ, trợn mắt, ưỡn ngực, kéo ưỡn lưng. Không những cổ tay, cánh tay, vai là những chỗ có liên quan nhất đến động tác phải thả lỏng trước hết, mà ngay ở ngực, bụng, lưng, eo v.v. cũng phải làm được không chỗ nào không tùng, mới là hợp pháp (chi dưới phải chịu đựng trọng lượng thân thể, tuy không thể cầu tùng, nhưng cũng phải ra sức cho tự nhiên). Làm như vậy, thứ nhất là không gây căng thẳng trong tình cảm, thứ hai là làm cho hô hấp bụng và vận động cơ hoành không bị kiềm chế, có thể phát huy tác dụng lớn hơn. Nó kết hợp với hai động tác nhu và hoãn đã nói ở trên, thành ra một thể ba ngôi, là động tác cơ sở của mọi động tác trong Thái Cực quyền, và cũng chính là mấu chốt khiến người luyện Thái Cực quyền có thể đạt được hiệu quả sức khỏe từ những tư thế bình đạm vô kỳ.

(四)Hòa hài (和諧): Tuyệt đại đa số các môn võ thuật, về động tác, đều coi trọng hòa hài; trong thuật ngữ thường gọi là nội tam hợp, ngoại tam hợp, gọi chung là lục hợp (六合), Thái Cực quyền đương nhiên cũng không ngoại lệ. Nhưng hòa hài mà Thái Cực quyền yêu cầu thì phải là: mọi bộ phận toàn thân, từ đầu đến chân đều có thể phối hợp mật thiết với động tác do tay chỉ dẫn, làm được "nhất động vô hữu bất động", thành ra một thể hoàn chỉnh nhất thể. Không những về động tác, tiến thoái khởi lạc, trên dưới trái phải đều phải khắp nơi hô ứng lẫn nhau, hết sức hòa hài; mà đồng thời về hô hấp và về ý thức cũng phải hết sức có thể kết hợp với hư thực động tĩnh của mỗi một tư thế. Tác dụng của nó, trước hết là làm cho mọi bộ phận toàn thân, trong mỗi một động tác, đều có được cơ hội vận động đồng thời; thứ hai là lợi dụng tính hoàn chỉnh của động tác để xúc tiến tác dụng cổ đãng của hô hấp bụng (tức cái mà quyền luận gọi là "khí nghi cổ đãng"); đồng thời, đối với sự phối hợp thích đáng của ba động tác cơ sở đã nói ở trên, nó cũng có thể đóng vai trò điều tiết hết sức tự nhiên. Do sự hòa hài mà Thái Cực quyền yêu cầu khác với hòa hài thông thường, cho nên nó cũng trở thành một đặc điểm quan trọng về động tác.

(五)Liên quán (連貫): Đây là chỉ trong toàn bộ bài Thái Cực quyền, giữa các thức quyền với nhau, hoặc giữa các động tác với nhau, đều phải nối liền trước sau, không được có sự dừng lại rõ rệt ở chỗ nối tiếp hoặc để lộ ra dấu vết đứt đoạn (những chỗ trong vô hình dùng ý thức để biểu thị hư thực khinh trọng thì không thuộc phạm vi này); phải làm cho toàn bộ động tác, từng tiết nối liền nhau, liên miên bất tuyệt, như thể nhất khí a thành. Ví như thể thao hoặc động tác võ thuật đơn giản, đều là làm xong một thức rồi mới làm thức khác, giữa các thức không nối liền nhau, thì lại hoàn toàn ngược lại. Đặc điểm này chủ yếu ở chỗ làm cho động tác hòa hài của các thức nối liền nhau, hình thành một thứ tiết tấu tự nhiên, để nâng cao hiệu quả của động tác. Câu "như trường giang đại hải thao thao bất tuyệt" trong quyền luận chính là nói về cảnh tượng ấy. Ngoài ra, loại vận động liên tục có tiết tấu này, do động tác vô cùng tinh tế, còn có thú vị đậm đà dẫn dắt người ta nhập cuộc từng bước, có thể nâng cao tình cảm của người luyện quyền; về sinh lý, đương nhiên cũng sẽ gây nên tác dụng tốt.

(六)Động tác hình tròn (圓形動作): Động tác rèn luyện thân thể nói chung, tuyệt đại đa số là đi đường thẳng, còn Thái Cực quyền thì mỗi mỗi động tác đều phải đi đường cong; do động tác liên quán trước sau, các đường cong thường nối tiếp nhau, tự nhiên trở thành động tác hình tròn. Cái hay của động tác hình tròn không những ở chỗ đóng vai trò tích cực đối với yêu cầu hoàn thành các đặc điểm đã nói ở trên (không đi đường cong thì không thể làm được sự hòa hài và liên quán mà Thái Cực quyền cần có); đồng thời do sự viên chuyển khúc chiết của động tác, cùng với toàn thân trên dưới đều có những động tác tròn lớn nhỏ minh ám đang tiến hành một cách hòa hài, có thể làm cho cơ bắp, xương cốt và nhận đái đồng thời được thích đáng mà Do đó, về hiệu quả luyện tập, nó cũng không thể được đặt ngang hàng với bất kỳ động tác đường thẳng nào. Dĩ nhiên, đặc điểm này còn phải phối hợp với các đặc điểm nêu trên thì mới phát huy được hiệu quả vận động của Thái Cực quyền, nếu không thì cũng chỉ là một động tác vòng tròn thông thường mà thôi.

(Bảy) Dụng ý bất dụng lực (用意不用力): Đây là nói khi luyện quyền nên dùng nhiều ý thức để ảnh hưởng đến động tác, không nên dựa vào việc dùng nhiều sức lực để cầu hiệu quả (hoàn toàn không dùng sức là không thể được, dùng ít sức thì có thể). Về tác dụng sinh lý của đặc điểm này và tính trọng yếu của nó, đã được thuyết minh tỉ mỉ ở chương trước, ở đây không nói lại nữa.

2. Mấy đặc điểm trọng yếu thể hiện ở phương diện tư thế

(Một) Huyền đỉnh trì hạng (懸頂弛項): Huyền đỉnh trong thuật ngữ gọi là "đỉnh đầu huyền" (頂頭懸), lại gọi là "hư lĩnh đỉnh kình" (虛領頂勁), tức là nói đỉnh đầu nên giữ tư thế thẳng đứng so với đường chân trời, giống như trên đỉnh đầu có dây thừng treo lên vậy. Như thế đầu có thể tự nhiên thẳng đứng, đồng thời cũng không đến nỗi ngửa ra trước ngửa ra sau hay nghiêng trái nghiêng phải. Huyền đỉnh khác với bạt đỉnh, nên trong quyền luận lại có chỉ thị "hư lĩnh đỉnh kình" (虛領頂勁), dạy người ta không được cố ý bạt đỉnh. Trì hạng thì hoàn toàn trái ngược với cường hạng, là dạy người ta cổ không được dùng sức, nên mặc cho nó tự nhiên thư giãn, để thích ứng với huyền đỉnh. Thái Cực quyền yêu cầu toàn thân đều có thể thư giãn, đầu là nơi thần kinh trung khu ngự trị, dĩ nhiên lại càng không nên có chút nào căng thẳng. Căn cứ vào lý luận của nhà sinh lý học Xô-viết Pa-v-lốp, chúng ta nên tin rằng, hễ là phương pháp khiến thần kinh trung khu chịu ảnh hưởng tốt lành (thần kinh trung khu cần an tĩnh, không cần căng thẳng), thì cũng chính là phương pháp hữu hiệu khiến hệ thần kinh trung ương đối với cơ năng hoạt động của các hệ thống và khí quan toàn thân phát huy tác dụng tốt lành. Vì thế, chúng ta đối với tư thế đầu của Thái Cực quyền không chỉ ở chỗ giữ cho nó thẳng đứng, mà điều quan trọng hơn hết là ở chỗ chú ý đến sự thư giãn và tự nhiên của nó. Đồng thời, chúng ta còn nên ghi nhớ tư thế đầu đúng hay không đúng, đối với toàn thân tư thế cũng có ảnh hưởng rất lớn. Còn về phương diện dung nhan, dĩ nhiên cũng phải để cho tự nhiên: thứ nhất không được trừng mắt mà nhìn (nhìn chằm chằm không trừng mắt cũng phải tránh), nếu không thì trái với câu "thần nghi nội liễm" (神宜內斂) trong quyền luận, đồng thời cũng khiến cơ của nhãn cầu hoạt động không đủ linh hoạt; thứ hai không được dùng sức ngậm miệng, lại càng kỵ dùng sức nghiến răng, hô hấp bằng khoang mũi là thói quen tốt hợp vệ sinh, cho nên ngậm miệng là cần thiết, nhưng dùng sức ở miệng không nên quá lớn, như thế sẽ thành tật bình khí bất thổ (nín hơi không thở ra) (khi luyện quyền nếu hô hấp quá căng thẳng thì nên há miệng từ từ thở ra); thứ ba nên để lưỡi chạm lên vòm miệng trên, khiến tuyến nước bọt tiết ra nhiều tân dịch hơn, không những có thể thích ứng nhu cầu nhuận hầu khi luyện quyền, làm cho hô hấp không bị ảnh hưởng của khô cổ họng, mà đồng thời có nhiều tân dịch nuốt vào dạ dày, đối với tiêu hóa cũng có giúp đỡ nhất định.

(Hai) Hàm hung bạt bối (含胸拔背): Về sinh lý, mạnh yếu của thân thể có quan hệ mật thiết với mạnh yếu của lực vận động cơ bắp. Nhưng cơ bắp có phân biệt tùy ý cơ với bất tùy ý cơ: loại trước liên kết với xương cốt và khớp xương của các bộ phận thân thể, dưới sự ám thị của ý thức có thể co duỗi tùy ý; loại sau thì bao quanh thành bích của nội tạng, không chịu sự ám thị của ý thức, mà do sức co duỗi của bản thể tự thành vận động. Vì thế, có thể thấy rằng hoạt động của bất tùy ý cơ, nếu chỉ dựa vào vận động tứ chi, rõ ràng chỉ có thể đạt được hiệu quả gián tiếp hoặc nhỏ hơn; nếu muốn thu được hiệu quả trực tiếp lớn hơn, ắt phải thêm vận động thích đáng ở khu thân mình. Hàm hung bạt bối của Thái Cực quyền chính là một tư thế trọng yếu để đạt được hiệu quả này. Hàm hung hoàn toàn trái ngược với đĩnh hung: đĩnh hung là khiến ngực ưỡn ra, hàm hung là khiến ngực thu vào, tác dụng của hai cái khác nhau, có thể suy ra mà biết. Thái Cực quyền lấy việc luyện hô hấp sâu (tức thuật ngữ gọi là khí trầm đan điền, 氣沉丹田) làm một trong những vận động chính của nó, cho nên dùng tư thế hàm hung có thể khiến hoành cách mô bên trong có cơ hội giãn xuống dưới (hàm hung biến động theo động tác, không phải là tư thế cố định), có thể rất tự nhiên hình thành hô hấp sâu kiểu hoành cách (khi hít vào bụng có thể tự nhiên co lại, khi thở ra bụng có thể tự nhiên giãn ra, giống với nghịch hô hấp của phép khí công dưỡng bệnh), đồng thời do sự co giãn của hoành cách mô, khiến khoang bụng và gan chịu vận động áp lực bụng lúc căng lúc lỏng, đối với việc vận chuyển huyết dịch và xúc tiến cơ năng hoạt động của gan, dĩ nhiên cũng có tác dụng sinh lý tốt lành. Còn bạt bối, vốn là một tư thế lưng tự nhiên ưỡn cong ra theo động tác hàm hung; có thể hàm hung thì tự nhiên cũng có thể bạt bối. Tác dụng chính của nó là khiến phần cột sống (còn gọi là xương ngực) có thể đạt được hoạt động điều tiết chuyển từ hình cung trước 〔)〕 sang hình cung sau 〔(〕; thứ hai là khi vận động khiến cơ ở phần vai lưng được hoạt động co giãn nhiều hơn. Câu "lực do tích phát" (sức phát ra từ cột sống) trong kỹ thuật công kích chính là do ở đây luyện thành thói quen. Vận động hô hấp kiểu hoành cách, đối với cơ năng các nội tạng khác dĩ nhiên cũng có ảnh hưởng sinh lý nhất định, nhưng sách này không chuyên môn nghiên cứu, nên lược bỏ.

(Ba) Chuyển oản toàn bác (轉腕旋膊): Trước kia, tác giả cũng xem "trầm kiên trụy trửu" (沉肩墜肘, chìm vai rũ cùi chỏ) là một trong những đặc điểm của Thái Cực quyền, kỳ thực "bất hứa hàn kiên" (không cho phép vai lạnh) và "trụy trửu hộ hiếp" (rũ cùi chỏ che sườn) vốn là quy luật chung của võ thuật nói chung, chỉ có thể gọi là yếu điểm, không thể gọi là đặc điểm. Dĩ nhiên, trầm kiên trụy trửu của Thái Cực quyền trong kỹ thuật công kích còn có tác dụng đặc thù riêng của nó, nhưng cũng chỉ là khác nhau về cách vận dụng, không thể bàn như một đặc điểm trên tư thế, cho nên không đưa vào trong bài này. Thuật ngữ chuyển oản toàn bác (bác chỉ cẳng tay) tuy là do tác giả sáng tạo, không thấy trong kinh truyện, nhưng động tác của Thái Cực quyền đi theo đường cung, trong tuyệt đại đa số các vận động thượng chi chúng ta đều có thể thấy động tác tinh tế "oản tùy chưởng chuyển" (cổ tay chuyển theo lòng bàn tay) và "bác tùy oản chuyển" (cẳng tay chuyển theo cổ tay), phối hợp với động tác vòng tròn, điều này rõ ràng khác với vận động thượng chi của võ thuật cương tính thông thường (cổ tay phải cố định hữu lực, cẳng tay co duỗi cũng rất ít xoay chuyển). Vì thế, chúng ta có lý do xem nó là một đặc điểm trên tư thế. Trong kỹ thuật công kích nó là một phương pháp nâng cao tác dụng nhu hóa, đồng thời nó tăng tiến hoạt động cơ bắp của các bộ phận cổ tay, cùi chỏ, cánh tay, vai trong động tác liên hợp, đều là hiệu quả vận động mà động tác đường thẳng thông thường không thể đạt được.

(Bốn) Triển chỉ đột chưởng (展指凸掌): Thái Cực quyền tuy mang danh là quyền thuật, kỳ thực rất ít khi nắm quyền mà dùng chưởng rất nhiều. Cách luyện chưởng, thông thường đều chú trọng ngón tay dùng sức và khép chặt; Thái Cực quyền lại hoàn toàn trái ngược, yêu cầu tự nhiên duỗi thẳng, vừa không cho phép dùng sức khép lại, cũng không được cố ý xòe ra. Nhưng khi duỗi cánh tay ra chưởng đến điểm cuối, đặc biệt là động tác lập chưởng đẩy tới trước, thì phải dùng sức hơi đột lòng bàn tay lên một chút (nếu không dùng ám kình, 暗勁, thì cũng phải dùng ý thức ngầm đồng thời biểu thị), khiến đầu ngón tay có một cảm giác, như thể có khí quán chú vào vậy, ở cẳng tay cũng sẽ cảm thấy cơ bắp hơi căng thẳng. Hai tư thế này tuy đều là đặc điểm rất nhỏ, nhưng triển chỉ có tác dụng chính đối với việc thư giãn vai cánh tay, còn đột chưởng thì có quan hệ mật thiết với phúc hô hấp (nó hô ứng với trầm khí), có một số người luyện quyền chỉ chú ý triển chỉ mà không coi trọng đột chưởng, theo tác giả thì như thế là chưa đủ nghiêm ngặt.

(Năm) Cung yêu thu đồn (弓腰收臀): Trong quyền luận có câu "chủ tể vu yêu" (主宰于腰, chủ tể ở eo), trong "Thập tam thế ca quyết" lại có những câu như "mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích" (命意源头在腰隙, nguồn gốc mệnh ý ở khe eo) và "khắc khắc lưu tâm tại yêu gian" (刻刻留心在腰間, từng khắc để tâm ở nơi eo), có thể thấy Thái Cực quyền vô cùng coi trọng động tác ở eo. Ở trên chúng ta đã nói Thái Cực quyền là động tác đi vòng tròn, nhưng động tác vòng tròn này không phải chỉ dùng tay vẽ mấy vòng là xong, mà eo cũng phải có động tác xoay chuyển để thích ứng hoặc để dẫn dắt động tác của các bộ phận khác trên thân, như thế mới hợp với phép tắc. Hiểu rõ được đạo lý rằng động tác ở eo nên tương quan hơi thở với mọi động tác thì mấy câu trong quyền kinh nói ở trên cũng không khó hiểu nữa. Cung yêu tức tọa yêu, cũng có nơi gọi là tháp yêu (塌腰, eo sụp xuống); đó là tư thế khi ngồi thân xuống thì thư giãn eo theo hướng xuống dưới khiến eo ưỡn cong ra ngoài, hoàn toàn trái ngược với tư thế thông thường kéo eo lên trên khiến eo lép vào trong; tư thế này phối hợp với hàm hung, chính là tư thế ngồi thân của phép tĩnh tọa. Thu đồn là tư thế sau khi cung yêu thì mông tự nhiên thu vào, hoàn toàn trái ngược với tư thế thông thường tháp yêu đột đồn (eo sụp mông nhô). Tác dụng của cung yêu thu đồn chủ yếu liên quan đến trầm khí, tức là tăng cường vận động hô hấp kiểu hoành cách; thứ hai là giữ cho vĩ lư (尾閭, tức xương cùng cụt, ở đầu dưới của cột sống) tự nhiên trung chính (khi đột đồn dễ vặn mông, thường khiến vĩ lư trung chính bị ảnh hưởng); ngoài ra, do trọng tâm thân thể có thể hạ thấp xuống một chút, đối với việc làm tốt động tác thăng bằng cũng có giúp đỡ rất lớn. (Sáu) Khuất tất tọa thối (屈膝坐腿): Trong động tác võ thuật thông thường, ở tư thế một chân duỗi ra sau đều yêu cầu đầu gối và chân dùng sức duỗi thẳng, không cho phép cong, nhưng Thái Cực quyền lại lấy duỗi thẳng tự nhiên làm chính, mà đồng thời lại riêng có nhiều tư thế khuất tất tọa thối, ít thấy trong võ thuật thông thường. Tác dụng của nó chủ yếu vẫn là liên quan đến trầm khí. Do trong động tác đã áp dụng tư thế như thế, khiến cơ bắp và dây chằng của hai khớp xương đầu gối và hông được hoạt động duỗi ra nhiều hơn, về luyện tập cũng có hiệu quả vận động rất rõ rệt (khi mới luyện Thái Cực quyền, tự thấy trên chân mình dù không dùng sức cũng ê mỏi, đó chính là minh chứng). Ngoài ra, do tư thế này, hai chân một hư một thực, trong khi động tác không ngừng thay đổi, cũng tránh được khuyết điểm hai chân đồng thời dùng sức dễ mỏi mệt. Tư thế này trước đây chưa từng được xem là đặc điểm, kỳ thực nó phối hợp mật thiết với hàm hung cung yêu, là một tư thế vô cùng trọng yếu, hơn nữa cũng là tư thế tất yếu của Thái Cực quyền, nên tác giả đặc biệt liệt kê nó ra, để người mới học tham khảo.

Chương này chủ yếu ở chỗ giới thiệu sơ lược đạo lý liên quan giữa đặc điểm động tác của Thái Cực quyền với kiện thân, để độc giả nghiên cứu. Còn các động tác cơ bản khác dĩ nhiên cũng có tác dụng tăng cường thể chất, nhưng vì đều là động tác thông thường trong võ thuật, nên không thuyết minh.

Chương 4 Căn cứ lực học của Thái Cực quyền trong kỹ thuật công kích

Dùng quyền đánh người hoặc dùng chưởng đẩy người, có thể khiến thân thể đối phương chịu tác dụng của lực mà rời khỏi vị trí vốn có; có khi, cũng có thể vì dùng sức không thỏa đáng, hoặc đối phương đã có chuẩn bị mà không đạt được hiệu quả mong đợi. Xét theo lực học, bất luận hiệu quả chúng sinh ra thế nào, đều là hiện tượng tất nhiên phù hợp với định luật chuyển động. Vì thế, bất cứ một môn võ thuật nào, bất luận là cương tính hay nhu tính, chỉ cần lực dùng để đánh người đúng thực là một thứ lực vật chất, hơn nữa phát sinh tác dụng và phản tác dụng giữa hai người, thì đều đồng dạng chịu sự chi phối của định luật chuyển động. Đồng thời cũng có thể thấy rằng: định luật chuyển động này vốn không phải chỉ riêng Thái Cực quyền mới có, lại càng không phải Thái Cực quyền có thần thông gì khác có thể sáng tạo ra định luật chuyển động hoặc vi phạm định luật chuyển động, mà chỉ là sau khi luyện Thái Cực quyền lâu năm có thành tựu, có thể trong vận dụng nắm được định luật chuyển động ít nhiều, để khiến tác dụng của lực phù hợp với yêu cầu của mình. Do gần đây vẫn không tránh khỏi có một số người đối với kỹ thuật công kích của Thái Cực quyền còn giữ cách nhìn thần bí, nên tác giả trước tiên giới thiệu sơ lược đạo lý nông cạn ở trên, mong những người yêu thích Thái Cực quyền đều có nhận thức chính xác. Thứ hai, thủ pháp công kích của Thái Cực quyền biến hóa đa đoan, tác giả đối với căn cứ lực học của nó cũng không thể giới thiệu từng tay một, vì thế trong chương này chỉ đem mấy yếu điểm tương đối cơ bản, căn cứ vào thể hội cá nhân, làm một số thuyết minh mang tính nguyên tắc. (Một) Phù hợp với quy luật biến hóa về thời gian tác dụng và tốc độ của lực: Người luyện ngoại công quyền nắm quyền đánh người, ra tay nhanh mà dùng sức lớn, nhưng hiệu quả của nó chỉ là khiến bộ phận bị đánh của đối phương đau hoặc bị thương, trừ khi dùng lực đặc biệt mạnh mẽ, rất khó đánh bật hoặc đánh ngã thân thể đối phương. Điều này chủ yếu là vì mục đích ra quyền phần lớn ở chỗ đánh đau hoặc đánh thương đối phương, cho nên chỉ cầu một đòn là trúng, căn bản không có ý đồ khiến "lực" tiếp tục tiến tới sau khi trúng đòn. Đồng thời lại sợ bàn tay ra đòn bị đối phương làm hại, thường rút tay cực nhanh, đến nỗi lực tác dụng đánh lên thân đối phương, cùng lúc chịu phản tác dụng lực của đối phương, liền lập tức tiêu tan. Cách đánh như thế chỉ có thể đánh đau đối phương, không thể khiến đối phương rời khỏi vị trí, đó là kết quả đương nhiên. Cách đánh của Thái Cực quyền, về nhanh chậm của ra tay và nhiều ít của dùng sức, tuy cũng phải tùy tình huống khách quan mà có khác biệt, nhưng bàn tay ra đòn sau khi tiếp xúc với thân thể đối phương thì không lập tức thu về, mà có ý thức tiếp tục gia lực lên thân đối phương, để kéo dài thời gian tác dụng của lực, khiến thân thể đối phương phát sinh vận động gia tốc, như thế thì thân thể đối phương dĩ nhiên phải biến đổi vị trí vốn có theo phương hướng của lực. Điều này phù hợp với nguyên lý của định luật thứ hai Newton: "chuyển động biến hóa trên đường thẳng cùng phương với ngoại lực" và "biến hóa của động lượng tương đương với tích của lực và thời gian". Ra tay của Thái Cực quyền, luôn là sau khi tiếp xúc với thân thể đối phương mới bắt đầu duỗi cánh tay phát kình (發勁), chính là vì nguyên nhân này. Để khiến độc giả càng hiểu rõ ảnh hưởng của thời gian tác dụng của lực đối với biến hóa tốc độ của vật thể, đặc biệt nêu thêm hai ví dụ dưới đây để tham khảo: ① Đặt trên hai đĩa của cân thiên bình những vật thể khá nặng, khiến nó thăng bằng; lúc này, nếu dùng một ống thủy tinh nhỏ đánh nhanh một cái vào vật nặng (khi đánh người, đánh một cái liền thu về, chính là cách đánh loại này), sự thăng bằng của thiên bình sẽ không bị ảnh hưởng gì, nhưng nếu đặt ống thủy tinh nhỏ này lên trên vật nặng, thì đĩa ở đầu này lập tức hạ xuống, sự thăng bằng của thiên bình liền bị phá hoại. ② Khi chúng ta dùng búa sắt lớn đánh vào tảng đá lớn vuông vức vài thước, nếu hai tay nâng búa sắt lớn có cán cứng dùng sức đánh vào tảng đá, vì sợ hổ khẩu hai bàn tay bị chấn đau, thường để cho búa vừa chạm mặt đá liền thả lỏng sức. Do thời gian tác dụng của lực rất ngắn, kết quả chỉ có thể đập vỡ mặt ngoài tảng đá mà không thể khiến tảng đá nứt ra; nếu đổi sang dùng búa sắt lớn có cán mềm (dùng cán mềm bằng mây hoặc tre có thể tránh hổ khẩu bị chấn đau), hai tay dùng lực bằng nhau hoặc nhỏ hơn để đánh vào tảng đá, chỉ cần mặc cho búa sắt lớn rơi xuống thật mạnh, khiến tảng đá chịu chấn động (tức là kéo dài thời gian tác dụng của lực), tảng đá sẽ nứt làm hai. Cái gọi là "nội kình" (內勁) trong Thái Cực quyền chính là cách đánh tương tự như vậy; thực tế, đó không phải vấn đề bản chất của lực, mà là vấn đề thời gian tác dụng của lực.

(Hai) Phù hợp với quy luật quán tính của vật thể: Từ định luật chuyển động thứ nhất Newton: "vật thể không chịu ngoại lực thì không thay đổi trạng thái vốn có", chúng ta biết vật thể có đặc tính giữ trạng thái tĩnh chỉ hoặc trạng thái chuyển động của mình, đặc tính này trong lực học gọi là quán tính. Định luật chuyển động thứ ba của Newton lại cho chúng ta biết: "mỗi một tác dụng luôn có phản tác dụng lớn nhỏ bằng nhau, phương hướng ngược nhau, hay nói cách khác, tác dụng lẫn nhau của hai vật thể luôn lớn nhỏ bằng nhau và phương hướng ngược nhau", ví dụ, khi đạn súng pháo ra khỏi nòng, súng pháo nhất định giật ngược về sau, đó là do phản tác dụng lực tạo thành. Còn ví dụ về quán tính của vật thể, như người đứng trong xe điện, xe điện đột ngột dừng lại, người liền tiếp tục lao về phía trước, thậm chí ngã nhào, đó là một biểu hiện của quán tính vật thể. Thái Cực quyền khi ra tay, luôn lấy việc dùng sức càng ít càng tốt, không chịu lập tức dùng đại lực để đả kích đối phương, như thế, trước tiên có thể không gây ra phản tác dụng lực quá lớn tác dụng lên bản thân. Thứ hai, sau khi tiếp xúc với thân thể đối phương rồi gia lực lên thân đối phương, nếu đối phương dùng đại lực chống lại, ta cũng có thể rất tự nhiên lập tức thả lỏng tay, giảm bớt hoặc triệt tiêu lực, khiến thân thể đối phương chịu sự chi phối của quy luật quán tính vật thể, không tự chủ được mà tiếp tục tiến tới rồi mất thăng bằng. Lúc này, ta có thể thừa cơ trọng tâm đối phương bất ổn mà lập tức phát kình đánh hắn; nếu thân thể đối phương ngả về trước nhưng không quá mạnh, mà đang dùng sức giằng co, thì có thể vẫn gia lực lên thân đối phương theo phương hướng cũ; nếu thế ngả về trước của đối phương rất mạnh, thì nên gia lực theo hướng sang trái phải hoặc hướng ngược lại, đối phương đều rất dễ bị đánh bật ra hoặc bị đánh ngã. Nếu đối phương không hiểu Thái Cực quyền, hai chân thường không chịu di chuyển theo thế, dưới tác dụng của quán tính vật thể, luôn là thượng thân ngả nhào về trước, chứ không phải toàn thân cùng tiến tới, cho nên ảnh hưởng đến trọng tâm của chính hắn. Người luyện Thái Cực quyền trong tình huống này tất nhiên phải động bộ theo kịp, để giữ thăng bằng cho mình. Như ví dụ đi xe điện nêu trên, khi chúng ta gặp xe điện đột ngột dừng lại thì nên thừa thế bước tới trước để khỏi ngã nhào, chính là cùng một đạo lý.

(Ba) Phù hợp với nguyên lý hợp lực: Trong cách đánh của Thái Cực quyền, hễ đối phương ra tay trước công kích ta, thì đừng bao giờ dùng sức chống lại theo phương hướng ngược lại, mà luôn ít nhiều thuận theo phương hướng tiến công của đối phương, gia lực lên lực của đối phương, để sinh ra hợp lực lớn hơn, khiến thân thể đối phương mất thăng bằng, rơi vào thế bất lợi. Cách đánh này lấy "nhu" (柔) và "thuận" (順) làm chính, hoàn toàn khác với phương pháp ngạnh đả ngạnh tiến (đánh cứng tiến cứng), cho nên hiệu quả cũng có khác biệt rất lớn. Khi hai người giao thủ, nếu cả hai đều dùng phương pháp ngạnh đả ngạnh tiến, kết quả tuy là tay nhanh thắng tay chậm, lực lớn thắng lực nhỏ, nhưng người lực lớn tay nhanh cũng chưa chắc hoàn toàn tránh được tổn thương. Vì thế, người luyện Thái Cực quyền theo thói quen luôn dĩ tĩnh đãi động (lấy tĩnh đợi động), không tranh ra tay trước, cho dù ra tay trước cũng chỉ là dẫn người ra tay, để trong lúc tiếp xúc dựa vào cảm giác mà thăm dò hư thực của đối phương, rồi sau đó thừa cơ mà làm. Nếu không có cơ để thừa, liền lập tức đổi thủ pháp, thà rằng biến mãi rồi lại biến, chỉ hóa không đánh, quyết không mạo muội tiến kích để cầu một lần thỏa chí. Dĩ nhiên, người công phu khá sâu cũng có thể vừa giao thủ liền đánh trúng nhược điểm của đối phương khiến đối phương ngã bật ra, nhưng về nguyên tắc, luôn lấy việc lợi dụng hợp lực, dẫn động trọng tâm đối phương làm mức dừng. Câu "gia lực lên lực của đối phương" nói ở trên, có khi là hóa kình (化勁), mục đích là dẫn động trọng tâm đối phương, có khi là phát kình (發勁), phải dùng vào lúc trọng tâm đối phương bất ổn. Nói tóm lại, đều không rời việc thuận theo phương hướng của lực đến mà kịp thời gia lực, từ hợp lực mà nâng cao hiệu quả đả kích; đây là phương pháp mượn lực của người để ta dùng, cũng chính là then chốt khiến Thái Cực quyền có thể dĩ tiểu lực thắng đại lực. Để khiến người luyện quyền hiểu biết hơn về nguyên lý hợp lực, đặc biệt ở dưới làm một số đồ thị hợp thành của lực, để tham khảo.

Như Hình 1: lấy đường AB làm lực mà cánh tay đối phương phát ra về phía trước và phương hướng của nó, lấy đường AC làm lực và phương hướng của cách đánh ngang dùng sức thông thường, thế thì lực ngang AC và lực thẳng AB cộng lại chính là hợp lực mà đối phương phải chịu, như đường chéo AD trong hình biểu thị về lực lượng và phương hướng.

图 1
图 1
Đồ thị hợp thành của lực lấy điểm A làm điểm xuất phát; AB là lực thẳng hướng sang phải (phía trước), AC là lực ngang hướng xuống dưới (sang phải), AD là đường chéo liền nét từ A chạy xiên xuống, biểu thị hợp lực; hai đầu B và C có đường nét đứt nối đến D, tạo thành hình bình hành.
图 2
图 2
Cũng là đồ thị hợp thành của lực lấy điểm A′ làm điểm xuất phát; A′B′ là lực thẳng hướng sang phải (phía trước), A′C′ là lực xiên chạy xiên xuống sang phải (phải), A′D′ là đường chéo dài biểu thị hợp lực; B′ và C′ có đường nét đứt nối đến D′, tạo thành hình bình hành.

Như Hình 2: đường A′B′ vẫn làm lực thẳng của đối phương (lực lượng và phương hướng giống đường AB của Hình 1), lấy đường A′C′ làm lực xiên mà Thái Cực quyền thuận theo phương hướng tác dụng lên đối phương (lực lượng giống đường AC của Hình 1, phương hướng không giống), thế thì hợp lực mà đối phương phải chịu phải là lực lượng và phương hướng do đường A′D′ biểu thị.

Như Hình 3: phương hướng của lực xiên A′′C′′ xiên hơn so với lực xiên A′C′ của Hình 2, thế thì hợp lực mà đối phương phải chịu phải là lực lượng và phương hướng do đường A′′D′′ biểu thị.

Xét tình hình do ba hình biểu thị: hợp lực AD của Hình 1 nhỏ hơn hợp lực A′D′ của Hình 2, mà hợp lực A′D′ của Hình 2 lại nhỏ hơn hợp lực A′′D′′ của Hình 3. Điều này phù hợp với điều mà nguyên lý hợp thành của lực trong lực học đã chứng minh: "hai phân lực có lực lượng không đổi, góc giữa hai phân lực càng nhỏ thì hợp lực của nó càng lớn; góc càng lớn thì hợp lực càng nhỏ". Có thể thấy cách đánh nêu trên của Thái Cực quyền cũng phù hợp với nguyên lý hợp lực. Có khi trong cách đánh, chúng ta không cần hợp lực quá lớn, thế thì chúng ta có thể giảm bớt phân lực AC, như Hình 4, đường AB không đổi, đường AC ngắn hơn, mà hợp lực AD thu được thì vẫn ngang bằng với AD của Hình 1; điều này cũng có thể chứng minh căn cứ lực học của việc Thái Cực quyền dùng sức nhỏ hơn mà thu hiệu quả lớn hơn.

图 3
图 3
Đồ thị hợp thành của lực lấy A′′ làm điểm xuất phát; A′′B′′ là lực thẳng hướng sang phải (phía trước), A′′C′′ là lực xiên có phương hướng dốc hơn chạy xuống dưới (sang phải), A′′D′′ là đường chéo dài biểu thị hợp lực; B′′, C′′ có đường nét đứt nối đến D′′, tạo thành hình bình hành.
图 4
图 4
Đồ thị hợp thành của lực lấy A làm điểm xuất phát; lực thẳng AB giống Hình 1, lực ngang AC ngắn hơn Hình 1, AD là đường chéo biểu thị hợp lực, dài bằng AD của Hình 1; B, C có đường nét đứt nối đến D, tạo thành hình bình hành.

Điều nói ở trên là ví dụ đối phương ra tay đánh ta. Nếu là ta ra tay gia lực lên thân đối phương, thì chúng ta có thể từ ba đồ thị dưới đây mà nghiên cứu cách đánh của Thái Cực quyền.

图 5
图 5
Đồ thị chịu lực hình chữ thập; trung tâm là A, đường thẳng đứng hai đầu trên dưới ghi E (thượng) và O (hạ), đường nằm ngang đầu trái ghi B (hậu) và đầu phải ghi A (tiền); mũi tên từ bên trái chỉ vào trung tâm A, biểu thị lực tác dụng của việc đẩy thẳng tới trước theo đường AB.
图 6
图 6
Đồ thị cùng lấy A làm trung tâm; ngoài đường thẳng đứng E—O và mũi tên nằm ngang B—A chỉ vào A, còn có mũi tên từ A chạy xiên lên trái đến D, và mũi tên từ A chạy sang trái (hơi hướng lên) đến C; giữa A, C, D có đường nét đứt nối lại.

Như Hình 5: đường EO làm lồng ngực của đối phương, đường AB làm lực tác dụng khi ta dùng lòng bàn tay đẩy thẳng tới trước vào lồng ngực đối phương. Dùng sức đẩy thẳng như thế, một là lồng ngực đối phương có phản tác dụng lực cùng lượng tác dụng lên thân ta, hai là nếu ta ra sức đẩy tới trước, đối phương cũng có thể ra sức chống lại, khi hai bên không nhường nhau thường biến thành thế giằng co. Nếu đối phương lực lớn, trái lại sẽ đẩy bật ta về. Theo nguyên tắc của Thái Cực quyền, nếu ta không định rút bàn tay về, thì phải dùng phương pháp do Hình 6 hoặc Hình 7 chỉ ra để ứng phó đối phương. Như Hình 6: đường AB vẫn làm lực và phương hướng của đẩy thẳng, đường AD thì làm động tác lòng bàn tay ta trong khi đẩy thẳng lại dùng lòng bàn tay và ngón tay lợi dụng ma sát để gia lực hướng lên trên (tức là động tác hất lên mà quyền luận gọi là "nhược tương vật hiên khởi…………"). Lúc này, hai lực hướng tới trước và hướng lên trên hợp thành hợp lực AD, khiến đối phương chịu lực đẩy lớn hơn, và xét theo phương hướng của hợp lực, cũng có tác dụng đồng thời khiến mũi chân đối phương rời khỏi mặt đất, thân ngả về sau, đều là bất lợi cho đối phương. Có khi gặp đối phương trầm thân xuống dưới, lực gia lên trên của ta không thể hất đối phương lên được, thì ta nên trong khi đẩy tới trước thừa thế đổi hướng ngón tay gia lực xuống dưới (ngón tay miết xuống dưới cũng là lợi dụng ma sát). Nếu chân phải đối phương chống ở phía sau, thì nên lệch về phía dưới bên trái của hắn mà gia lực; nếu chân trái ở phía sau thì nên lệch về phía dưới bên phải mà gia lực.

Như Hình 7: AD là hợp lực do AB (lực thẳng hướng tới trước) hợp thành với AC (lực xiên hướng xuống dưới), phương hướng của nó thuận với phương hướng đối phương trầm thân, cho nên dễ dàng đẩy động thân thể đối phương. Giả định sau khi dùng phương pháp của Hình 7, đối phương vẫn ngoan cố chống lại mà không bị đẩy động, thế thì ta nên có ý thức gia lực hơi nhiều về phương hướng AC, để bức bách đối phương dùng sức chống lại hướng lên trên, và lập tức chuyển sang gia lực hướng lên trên (như Hình 6 biểu thị), hoặc lập tức triệt tiêu lực trên lòng bàn tay (điều này có quan hệ với việc lợi dụng quán tính vật thể), khiến tác dụng của lực đối phương rơi vào khoảng không. Nếu đối phương không hiểu phương pháp di bộ để thích ứng, hoặc đột nhiên không kịp động bộ cứu vãn, thân thể liền ngả nhào về trước mà đứng không vững, ta vào lúc này lại gia lực lên thân đối phương, liền có thể đạt được hiệu quả mong đợi.

图 7
图 7
Đồ thị chịu lực cùng lấy A làm trung tâm; đường thẳng đứng đầu trên ghi E (thượng), đầu dưới ghi O (hạ), mũi tên nằm ngang B (hậu) chỉ vào A (tiền); từ A có mũi tên chạy xuống trái đến C, lại có mũi tên dài từ A chạy xuống trái đến D; giữa A, B, C, D nối với nhau bằng đường nét đứt, D nằm ở phía dưới bên trái của C.
图 8
图 8
Đồ thị ngẫu lực; A ghi (hữu), B ghi (tả), A ở bên trái, B ở bên phải, đường nét đứt AB nằm ngang; từ A vẽ mũi tên liền nét hướng lên đến D (hữu), từ B vẽ mũi tên liền nét hướng xuống đến C (hữu); lại có mũi tên cong từ A hướng lên phải, và mũi tên cong từ C hướng xuống trái, biểu thị phương hướng xoay chuyển; đường nét đứt từ A đến D cùng các đường nét đứt nối A, B, C, D tạo thành hình bình hành.
图 9
图 9
Đồ thị hợp lực; đường nét đứt nằm ngang A (hữu) — B (tả), điểm giữa ghi O; từ O vẽ mũi tên liền nét hướng lên đến E; từ A vẽ mũi tên nét đứt hướng xuống đến C, từ A vẽ mũi tên nét đứt hướng lên đến C′; D ghi ở phía trên B.

(Bốn) Phù hợp với nguyên lý ngẫu lực: Phàm hai lực song song, lớn nhỏ bằng nhau, phương hướng ngược nhau, trong lực học gọi là ngẫu lực. Ngẫu lực không thể sinh ra hợp lực, nhưng có thể khiến vật thể xoay chuyển. Trong cách đánh của Thái Cực quyền, nếu đối phương dùng tay phải đánh vai trái ta (hoặc dùng tay trái đánh vai phải ta, có thể suy ra tương tự), vai trái ta nên thuận theo phương hướng của bàn tay đến mà chuyển thân né tránh, khiến lực đối phương không chịu trở lực từ thân ta mà tiếp tục tiến tới; đồng thời, ta lập tức dùng tay phải đánh vai trái đối phương, không cần dùng lực rất lớn, liền có thể khiến thân thể đối phương xoay chuyển. Như Hình 8: AC là tác dụng lực mà vai phải đối phương phải chịu khi đối phương đưa tay đánh vai trái ta. Khi đối phương đánh trúng ta, ta liền chuyển thân né tránh (chỉ xoay lưng, không động bộ), khiến tác dụng lực này tiếp tục tiến tới để dẫn động thân thể đối phương; ta lập tức theo phương hướng BD đánh vào vai trái hắn, lúc này hai vai đối phương chịu hai lực song song AC và BD có phương hướng ngược nhau, liền khiến thân thể mình xoay chuyển (như đường nét đứt OE biểu thị), mà sinh ra trạng thái không vững. Nếu đối phương cảm thấy không vững mà lập tức rút tay phải về, thì tác dụng lực AC tự nhiên tiêu tan, mà sinh ra một lực AC′ khác tác dụng lên vai phải đối phương (như Hình 9); lúc này lực BD vẫn tồn tại, đối phương trái lại phải chịu BD và AC′, hai lực song song cùng phương hướng, hợp lực của chúng là OE; đối phương chịu lực càng lớn, liền phải thoái bộ về phía sau (tức phương hướng OE) hoặc ngã nhào ra ngoài. Đây chính là một hiện tượng ngẫu lực chuyển biến thành hợp lực. Để tiện cho việc giải thích, cho nên ở trên chỉ dùng hai vai để ví dụ. Ví như, kình "liệt" (挒, liệt) của Thái Cực quyền (tham khảo đồ giải thôi thủ) chính là căn cứ theo nguyên lý ngẫu lực, trên hai cánh tay đối phương "hóa" và "đả" đồng thời sử dụng, để khiến thân thể đối phương nghiêng ngả, sau đó lại thừa thế gia lực lên thân đối phương.

图 10
图 10
Đồ thị cân bằng của hình nón; một hình nón nghiêng về bên trái, đường nét đứt vẽ ra vị trí thẳng đứng ban đầu của nó; trên hình nón nghiêng, chấm đặc ② ghi trọng tâm, chấm ① ghi một điểm trên mặt đáy; từ ② vẽ đường nét đứt hướng xuống và lấy mũi tên ③ biểu thị đường trọng thùy, đường này nằm trong diện tích đáy.
图 11
图 11
Đồ thị cân bằng của hình nón; một hình nón nghiêng về một bên và lấy đường nét đứt vẽ ra vị trí ban đầu của nó, bên cạnh lại có mấy đường chấm gạch biểu thị các phương hướng có thể đổ; trên hình nón, chấm đặc ② ghi trọng tâm, chấm ① ghi một điểm trên mặt đáy; từ ② vẽ đường nét đứt hướng xuống và lấy mũi tên ③ biểu thị đường trọng thùy, đường này nằm ngoài diện tích đáy.
图 12
图 12
Đồ thị cân bằng của hình nón; một hình nón nằm ngang trên mặt đất, lấy đường nét đứt vẽ ra vị trí thẳng đứng trước kia của nó, phía trên lại có mũi tên cong biểu thị phương hướng lăn; trên hình nón, chấm đặc ② ghi trọng tâm, chấm ① ghi một điểm trên mặt đáy; từ ② vẽ đường nét đứt hướng xuống và lấy mũi tên ③ biểu thị đường trọng thùy.

(Năm) Phù hợp với nguyên lý cân bằng của vật thể: Vật thể có ba trạng thái cân bằng, tức cân bằng ổn định, cân bằng không ổn định và cân bằng tùy ngộ. Như Hình 10: hình nón ở vào trạng thái cân bằng ổn định, khi nó không nghiêng quá nhiều, tuy trọng tâm có dâng cao, nhưng đường trọng thùy của trọng tâm không dễ vượt ra ngoài diện tích đáy, rất nhanh liền có thể khôi phục nguyên trạng. Như Hình 11: hình nón ở vào trạng thái cân bằng không ổn định, chỉ cần hơi nghiêng một chút, đường trọng thùy của nó lập tức vượt ra ngoài diện tích đáy, tuy trọng tâm hạ thấp cũng không thể tránh khỏi nghiêng đổ. Như Hình 12: hình nón ở vào trạng thái cân bằng tùy ngộ, bất luận đẩy thế nào, trọng tâm của nó không dâng

  • ① diện tích đáy; ② trọng tâm; ③ đường trọng thùy

Hình 10  Hình 11  Hình 12

cũng không hạ, đường trọng thùy cũng luôn luôn ở trong diện tích đáy, cho nên gọi là cân bằng tùy ngộ. Do đó có thể thấy: nếu muốn vật thể có độ ổn định rất lớn, không hạ thấp trọng tâm và mở rộng diện tích đáy thì không thể được. Khi thân người đứng thẳng, trọng tâm ở vùng hông, không có sự giúp đỡ của vật ngoài hay ngoại lực, không thể tăng thêm độ ổn định rất lớn. Ví dụ người đi dây thừng tất phải tay cầm cây sào dài, hai đầu buộc vật nặng, khiến hai đầu sào thấp hơn hai chân, hạ trọng tâm xuống đến cực điểm, cho nên mới có thể đi lại tự do trên dây thừng. Người luyện võ thuật phần nhiều phải luyện công phu trạm tráng (tức là thường làm thế cưỡi ngựa), có người còn phải luyện công phu trầm khí, khi vận dụng đương nhiên có thể ổn định trọng tâm thân thể hoặc hạ thấp trọng tâm thân thể. Nhưng diện tích đáy mà hai chân người chiếm giữ, đã có một mặt rộng, tất sẽ có một mặt hẹp. Khi hai chân đứng tách ra trước sau, là trước sau rộng mà trái phải hẹp; khi hai chân đứng tách ra trái phải, là trái phải rộng mà trước sau hẹp; nếu đánh vào chỗ hẹp của nó, đường trọng thùy của trọng tâm thân thể vẫn rất dễ vượt ra ngoài diện tích đáy. Có thể thấy võ gia nếu chỉ dựa vào việc hạ thấp trọng tâm mà không biết bù đắp khuyết điểm trên diện tích đáy, thì vẫn rất khó giữ được độ ổn định của thân thể. Thái Cực quyền lấy việc đánh cho thân thể đối phương lệch ra ngoài làm cách đánh chủ yếu của nó, cho nên khi phát động trước hết phải dao động trọng tâm đối phương, khiến đường trọng thùy của thân thể đối phương vượt ra ngoài diện tích đáy mà mất đi cân bằng ổn định. Bản thân mình cũng ở mọi chỗ lấy duy trì sự cân bằng ổn định của thân thể làm chủ, nhưng về phương pháp thì không phải chỉ dựa vào việc ngồi xổm chân trầm khí để chống đỡ thân thể mình. Cần biết Thái Cực quyền đã lấy việc gửi toàn bộ trọng lượng thân thể lên một chân làm một trong những tư thế cơ bản của nó, diện tích đáy của một chân so với hai chân càng thêm chật hẹp, khi bị đánh, đường trọng thùy của trọng tâm càng dễ vượt ra ngoài diện tích đáy, đều là những sự thực rất rõ ràng; nhưng vì sao trái lại có thể duy trì cân bằng thân thể tốt hơn? Phương pháp duy nhất, là hoàn toàn dựa vào việc hai chân tùy thế biến đổi hư thực, để thích ứng với nhu cầu độ ổn định của thân thể. Cái gọi là hai chân biến đổi hư thực, chính là: khi một chân không vững, lập tức đem toàn bộ trọng lượng thân thể chuyển đặt lên chân kia, khiến thân thể từ không cân bằng mà trở về cân bằng, cũng tức là diện tích đáy luôn luôn biến động theo sự biến động của trọng tâm. Như vậy tự nhiên có thể khiến đường trọng thùy vào khoảnh khắc sắp vượt ra ngoài diện tích đáy lại được nạp vào một diện tích đáy khác. Điều này trên hình thức tuy có khác với vật thể cân bằng tùy ngộ, nhưng trên thực tế lại có hiệu quả như nhau; khi hành công có cái gọi là "cầu tĩnh trong động", trong kỹ kích, cũng bao hàm ý nghĩa này ở trong. Lại như ví dụ đi dây thừng nói trên, người có công phu khi đi dây thừng tương đối ngắn, có thể không cần cây sào dài giúp đỡ, chính là dựa vào hai chân khéo biến đổi; nếu không thì trái với nguyên lý lực học, sẽ ngã rơi xuống.

Chương này chủ yếu chứng minh phương pháp dụng kình của Thái Cực quyền ăm khớp với định luật lực học, để tránh cho người mới học khỏi bị những thuyết huyền hư mê hoặc. Đáng tiếc là học lực của tác giả không đủ, không thể trình bày thêm nhiều hơn và sâu hơn về lý luận, thực là điều đáng tiếc.

Chương năm Những phép tắc cần chú ý khi bàn giá tử

Bài quyền thành bộ của Thái Cực quyền, theo thói quen, gọi là "giá tử" (架子, giá tử). Bàn giá tử (盤架子, bàn giá tử) chính là ý nghĩa đánh quyền. Do Thái Cực quyền là một môn võ thuật "trọng ý không trọng hình", không những các thức truyền lại có mấy loại, mà cùng một loại thức, do cùng một vị thầy truyền dạy, đến khi tạo nghệ tương đối sâu, mỗi người cũng sẽ không hoàn toàn giống nhau về "thần tự" hoặc "hình tự" của thức. Điều này cũng như học thư pháp, khi mới học, đối với bất cứ kiểu chữ nào cũng luôn cố cầu hình tự, về sau đã có cái nền hình tự, lại căn cứ vào tâm đắc và sở thích của mình chuyên cầu phát triển về thần tự, lâu ngày tự nhiên sẽ biến đổi. Bàn giá tử cũng như vậy. Thứ hai, giá tử của Thái Cực quyền còn có thể căn cứ vào thân thể mạnh yếu của người học quyền hoặc yêu cầu cao thấp mà có khác nhau. Bởi vậy, bất cứ một loại giá tử nào cũng có thể chia thành ba loại tư thế đại, trung, tiểu để luyện: giá tử lớn có thể luyện nhỏ lại, cũng có thể luyện giá tử lớn hơn nữa; giá tử nhỏ có thể luyện lớn ra, cũng có thể luyện giá tử nhỏ hơn nữa. Nói chung, phải luyện lớn trước, sau đó lại luyện nhỏ đi, "Thập tam thế hành công tâm giải" (十三勢行功心解) nói: "Trước cầu khai triển, sau cầu khẩn thấu", bàn giá tử cũng không thể ngoại lệ; nhưng lớn nhỏ của giá tử có quan hệ với lớn nhỏ của lượng vận động, giá tử tương đối lớn thì lượng vận động cũng tương đối lớn, giá tử tương đối nhỏ thì lượng vận động cũng tương đối nhỏ, cho nên câu "trước cầu khai triển, sau cầu khẩn thấu" nói trên, đối với người luyện quyền thân thể tương đối yếu, là không thích hợp; khi mới học, tất phải lượng sức mà làm, không thể miễn cưỡng.

Bàn giá tử vốn cũng là một thứ để luyện tập kỹ kích, cho nên trong một số sách có nhắc đến cách dùng trên các thức quyền, chương này lấy việc giải thích phương pháp vận động của Thái Cực quyền làm chủ, cho nên những phép tắc nói dưới đây chỉ là căn cứ theo yêu cầu của vận động kiện thân mà viết ra. Kỳ thực, công phu kỹ kích và hiệu quả kiện thân của Thái Cực quyền, vốn là hai sản vật dưới cùng một phương pháp; nếu trên ý thức coi mỗi một động tác đều là phương pháp kỹ kích, đương nhiên có thể tăng tiến công phu kỹ kích, nhưng đồng thời cũng không hề giảm bớt hiệu quả kiện thân của nó. Nếu tác dụng của ý thức chuyên chú vào phương diện kiện thân, tự nhiên có thể được hiệu quả kiện thân rõ rệt hơn hoặc đầy đủ hơn; nhưng trong vô hình cũng có tác dụng bồi dưỡng cơ sở kỹ kích, chỉ có điều trước khi nghiên cứu phương pháp kỹ kích, không phải ai ai cũng có thể vận dụng cơ sở này.

Trên đây là hai yếu điểm mà người mới học Thái Cực quyền trước hết phải nhận thức cho rõ ràng. Dưới đây căn cứ theo kiến giải của tác giả, chia làm ba giai đoạn, để giải thích phép tắc bàn giá tử:

Giai đoạn thứ nhất

Người mới học Thái Cực quyền, bất luận trước kia có luyện qua võ thuật khác hay không, trong giai đoạn đầu tiên, tốt nhất không nên đem mọi yếu điểm của Thái Cực quyền thu nạp hết vào các thức quyền hoặc cả bộ giá tử cùng một lúc, để khỏi cố thử thất bỉ, trái lại thu hoạch chẳng bao nhiêu; cho nên tác giả chỉ nêu ra bốn yếu điểm dưới đây, làm phép tắc kỳ sơ của bàn giá tử:

(Một) Khinh: Trong quyền luận có nói: "nhất cử động, chu thân câu yếu khinh linh", là tiêu chuẩn sau khi Thái Cực quyền đã luyện thuần thục; người mới học nên bắt đầu từ chữ "khinh" trước, không cần gấp cầu "linh". Căn cứ kinh nghiệm: phàm những người đã luyện qua võ thuật khác, tuy thân thủ tương đối linh hoạt, nhưng vì trong động tác đã quen dùng đại lực, phần nhiều là linh có thừa mà khinh không đủ. Còn những người chưa từng tham gia hoạt động thể dục, cũng phần nhiều là học linh dễ mà học khinh khó hơn. Khi tác giả mới học Thái Cực quyền trong lòng nghĩ đến ý "đánh quyền tất phải dùng lực", luôn chú ý linh mà không chú ý khinh. Về sau hiểu ra đặc điểm của Thái Cực quyền, mới đem ý nghĩ này xoay chuyển trở lại. Cần biết cách luyện của Thái Cực quyền, chủ yếu là từ tinh thần mà bồi dưỡng cảm giác linh mẫn, chứ không phải chuyên từ động tác mà theo đuổi thân thủ linh hoạt. Cái trước dụng lực ít mà cái sau dụng lực nhiều. Dụng lực quá lớn có ảnh hưởng nhất định đối với sự mẫn cảm (ví dụ hai cánh tay đập vào nhau, dùng sức nắm chặt quyền, có thể giảm bớt cảm giác đau). Bởi vậy, khi mới học, nên trước hết ra công nhiều trên chữ khinh, càng ít dụng lực càng tốt, không ngại đặt tính linh hoạt của động tác vào vị trí thứ yếu, đợi đến khi chữ khinh đã có cơ sở rồi lại luyện chữ linh, quyết không ngại muộn. Mức mẫn cảm cao độ mà quyền luận nói "một lông chim không thể thêm, con ruồi không thể đậu", tuy không phải hoàn toàn do chữ khinh mà có được, nhưng chữ khinh là bậc thang nhập môn để luyện thành công phu linh mẫn này. Đồng thời còn nên biết: luyện tốt động tác khinh chỉ là để đặt cơ sở cho việc luyện công về sau (không nên coi cơ sở là mục đích), một là có thể trên khinh trọng của động tác giảm bớt chú ý mà mặc cho tự nhiên, hai là khi kiêm luyện công phu trầm trước cũng không đến nỗi vọng động chuyết kình mà lạc vào đường tà.

(Hai) Mạn: Mọi người đều biết động tác của Thái Cực quyền phải chậm, nhưng có phải càng chậm càng tốt không? Đây là một vấn đề rất đáng nghiên cứu. Trong quyền luận đã nói "nhất cử động, chu thân câu yếu khinh linh", lại nói "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", có thể thấy Thái Cực quyền không phải chỉ cần chậm mà không cần nhanh. Trong "Thập tam thế hành công tâm giải" còn nói "tinh thần năng đề đắc khởi, tắc vô trệ trọng chi ngu… ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú", cũng có thể chứng minh Thái Cực quyền là yêu cầu linh hoạt mà phản đối trệ trọng. Tuy ở đoạn sau của hành công tâm giải còn có câu "vận động như trừu ty", có thể làm căn cứ cho việc động tác phải chậm, nhưng nguyên ý là dạy người ta dụng kình phải miên miên bất tuyệt như kéo tơ, không thể dùng kình mới vừa giòn vừa nhanh; nếu giải thích là càng chậm càng tốt, thì với mấy câu dẫn trên kia sẽ không thể thông nhau được. Căn cứ vào thể hội của tác giả: động tác của Thái Cực quyền nên chậm hơn võ thuật nói chung, điều ấy không còn nghi ngờ gì, đặc biệt ở giai đoạn mới học, lại càng phải khắc ý cầu chậm, cũng có thể nói là càng chậm càng tốt. Cách luyện như vậy, một là đối với người thể nhược lại càng thích hợp, hai là có thể tránh cho động tác thảo suất mà ảnh hưởng đến sự chính xác của tư thế; ba là khi mới luyện trước hết đã dưỡng thành thói quen động tác chậm, về sau càng luyện càng linh hoạt, vẫn có thể giữ được một tốc độ chậm nhất định trên động tác, không đến nỗi càng luyện càng nhanh mà trái với nguyên tắc. Có thể thấy chậm cũng như khinh đều là một thứ công phu cơ sở, trên cơ sở nên xây dựng những thứ gì, đó đương nhiên là việc khác. Còn như người có tạo nghệ tương đối sâu chuyên luyện công phu cầu tĩnh trong động, động tác tuy nên từ linh hoạt mà trở về thuần phác, nhưng về tốc độ vẫn có thể căn cứ vào thói quen của mỗi người, không cần khắc ý cầu chậm, vì ý thức lúc này chỉ ở cầu tĩnh mà không ở cầu chậm, với lúc mới luyện cầu chậm mà chậm, cũng là khác nhau.

(Ba) Viên: Trong Thái Cực quyền, bất cứ động tác nào, đều phải đi theo đường cung, không cho phép đi đường thẳng, cho dù đến khi công phu rất sâu, vẫn là không thể không đi đường cung. Chỉ có điều khi mới luyện, yêu cầu tư thế khai triển, đồng thời trên động tác lại phải khắc ý cầu chậm, cho nên cần thiết phải đi đường cung cho càng tròn càng lớn, để thích ứng với yêu cầu của tư thế và động tác. Về sau công phu tương đối sâu, tư thế dần dần khẩn thấu, đường cung theo đó thu ngắn, đương nhiên cũng không cần đi vòng tròn quá lớn. Nhưng trên tuyến lộ, cho dù là một động tác rất nhỏ, vẫn nên giữ đường cung vốn có, không thể thay đổi. Hiện nay có một số giáo viên để tiện cho người mới học, đem mỗi một thức đều tách thành khá nhiều động tác nhỏ, đến nỗi trên toàn bộ động tác nhìn không ra đường cung. Cần biết đây chỉ là một phương pháp giảng dạy, chứ không phải động tác của Thái Cực quyền có thể không đi đường cung. Bởi vậy, sau khi học được bài quyền dưới cách dạy này, vẫn phải đem các động tác đã tách rời liên hợp lại, đổi thành động tác đường cung, để tiến hành luyện tập, hầu xóa đi dấu vết nối liền giữa các động tác (tức là câu "vô sử hữu đoạn tục xứ" trong quyền luận), mới có thể coi việc học là tạm xong một đoạn. Động tác hình tròn tuy không khó làm, nhưng muốn làm cho rất tự nhiên, rất thích đáng cũng không phải là việc đơn giản. Vì nó có quan hệ mật thiết với động tác toàn thân, không thể rất nhanh mà luyện đến cảnh giới ấy. Cho nên đối với người mới học chỉ yêu cầu trên động tác của tay trước hết dưỡng thành thói quen đi đường cung, về sau động tác toàn thân phối hợp với nhau, tự nhiên có thể đem động tác hình tròn làm cho càng viên mãn hơn. Thái Cực quyền giảng cầu "động trung hữu tĩnh, tĩnh trung hữu động", sự chuyển biến và tuần hoàn lẫn nhau giữa động tĩnh, thì lấy động tác hình tròn làm bậc thang, có thể thấy tác dụng của viên rất là trọng yếu. Mong rằng người mới học Thái Cực quyền, ngay từ đầu đã ở trên chữ viên ra công nghiêm túc, để thể hội tác dụng của nó, không nên chỉ ở trên hình thức bắt chước như vẽ hồ lô là xong việc.

(Bốn) Quân: Những điều đã nói trên, điểm thứ nhất — khinh là vấn đề lực lượng trên động tác, điểm thứ hai — mạn là vấn đề tốc độ trên động tác, điểm thứ ba — viên là vấn đề tuyến lộ trên động tác, nay ở điểm thứ tư còn phải nêu ra vấn đề quân độ của động tác. Cái gọi là quân độ động tác, chính là nói: động tác của tay, bất luận tốc độ tương đối nhanh hay tương đối chậm, đều nên dùng "đẳng tốc vận động" tương ứng để hoàn thành quá trình động tác của nó. Ví dụ chúng ta bình thường đưa tay ra, rất nhanh liền từ điểm khởi hướng đến điểm chung, do quá trình động tác cần thời gian cực ngắn, chúng ta không thể nào cũng không cần thiết nắm "đẳng tốc vận động" của nó. Nhưng Thái Cực quyền là đi động tác chậm, khi mới học, cho dù rất chú ý, chúng ta trong quá trình động tác vẫn rất dễ phát sinh tật nhanh chậm không quân, hoặc trong mỗi một thức động tác có nhanh có chậm, hoặc trong toàn bộ giá tử, trước sau nhanh chậm so le không đều. Như trên đã nói, luyện Thái Cực quyền nên dùng ý thức để chi phối động tác, nhưng phép tắc này, nói chung, là tương đối khó nắm giữ. Bởi vậy, chúng ta cần thiết trước hết ở trên quân độ của động tác vận dụng ý thức của mình, để đặt cơ sở có lợi cho việc nắm vững thêm phép tắc này về sau. Phương pháp luyện tập quân độ, nói đơn giản, là mỗi lần đưa tay ra nên coi quá trình động tác là do các "điểm" nối liền với nhau mà thành (tức như hình dạng đường nét đứt ……), không nên coi nó là một đường liền nét chỉ có hai điểm khởi chung; như vậy, liền có thể khiến vận động của chúng ta, trong vô hình, có ý vị tiến hành theo "điểm", lâu luyện về sau, dưỡng thành thói quen, động tác của tay tự nhiên cũng có thể ở bất cứ tốc độ nào đều không mất đi quân độ vốn có. Đương nhiên, khi công phu tương đối sâu, động tác của chúng ta còn phải giảng cầu biến hóa hư thực, tuy nhiên trên nhanh chậm của động tác không yêu cầu nghiêm ngặt nhất trí, nhưng khi ra tay, bất luận động tác nhanh chậm, vẫn phải giữ đẳng tốc vận động thích đáng (tức tiến hành theo "điểm"), nếu không, liền là trái với yêu cầu "vận động như trừu ty", hơn nữa trên động tác còn phát sinh tật phù hoạt.

Bốn điểm trên đây, đều có quan hệ với cơ sở của Thái Cực quyền, cho nên tác giả đều liệt vào phép tắc luyện tập của giai đoạn thứ nhất. Nhưng tình hình mỗi người không giống nhau, vẫn có thể do mỗi người tự châm chước, tiến hành từng điểm, không nhất định phải quán triệt cả bốn điểm cùng một lúc. Chỉ có điều trước khi đặt được một số cơ sở, tốt nhất không nên bắt đầu phương pháp luyện tập của giai đoạn thứ hai, vì luyện tập tuần tự tiệm tiến có thể thu được hiệu quả càng lớn.

Giai đoạn thứ hai

Trong giai đoạn trên, đã nhắc đến khi luyện tập, làm mỗi một động tác đều phải chú ý bốn yếu điểm khinh, mạn, viên, quân, chủ yếu là để đặt nền móng tốt; đối với bàn giá tử mà nói, vẫn chỉ có thể coi là công phu chuẩn bị. Căn cứ kinh nghiệm: thứ công phu chuẩn bị này càng luyện tốt, cũng thường thường sẽ tỏ ra trên động tác cách ngoại câu nệ, đây là giai đoạn tất phải trải qua, chúng ta không thể chê nó ngốc bản mà coi là tật bệnh. Đồng thời, cũng chính vì thế, chúng ta cần thiết ở trong giai đoạn thứ hai nêu ra mấy yếu điểm khác, làm mục tiêu tiến thêm một bước của luyện tập. Ví như nói: chúng ta ở giai đoạn thứ nhất yêu cầu đối với động tác phải làm đến "đoan chính", vậy thì ở giai đoạn thứ hai liền nên luyện cho được "lưu lệ". Cần biết trên cơ sở động tác đoan chính mà thêm lưu lệ, đối với bất cứ động tác nào đều sẽ không mất quy củ; nhưng nếu luyện lưu lệ trước, luyện đoan chính sau, thì về thành tựu khó tránh sự bội công. Dưới đây chính là bốn yếu điểm của giai đoạn này:

(Một) Linh hoạt: Thái Cực quyền lấy động tác chậm làm cơ sở, sự linh hoạt mà nó yêu cầu, không những trên động tác có hạn độ nhất định, mà ngay trong tinh thần cũng phải chú ý hàm súc, không thể tận tình bộc lộ để biểu thị sự linh hoạt quá độ. Thứ hai, Thái Cực quyền tuy lấy mẫn cảm làm trọng, nhưng trong giai đoạn này, vẫn nên trước hết từ hình tượng của động tác mà cầu được linh hoạt; nếu đem linh hoạt và mẫn cảm nhập làm một, đối với người mới học, trái lại sẽ không biết theo đâu. Bởi vậy tác giả ở đây chỉ yêu cầu người mới học chú ý ba điểm dưới đây: ① nếu giá tử vốn có đã luyện được đủ khai triển, thì nên châm chước thu nhỏ một chút, khiến cho phù hợp với yêu cầu khẩn thấu; ② về tốc độ, không nên khắc ý cầu chậm nữa, nên khiến động tác của tay tương đối tự do hoặc hơi nhanh hơn; ③ khi động tác, không nên chỉ động tứ chi mà không động yêu chi, hơn nữa phải khiến yêu chi ở vào địa vị chi phối (tức quyền luận gọi là chủ ư yêu). Nói cách khác, chính là dùng động tác của lưng để dẫn dắt động tác của tay chân, đây là điểm trọng yếu nhất, mong đặc biệt chú ý. Người mới học căn cứ ba điểm trên đây mà luyện tập, trong tình huống không xung đột với sự câu nệ ban đầu, đạt được sự điều hòa rất tự nhiên, liền có thể phù hợp với sự linh hoạt mà Thái Cực quyền yêu cầu.

(Hai) Tùng tịnh: Yếu điểm này, nói đơn giản, chính là toàn thân mọi chỗ đều buông lỏng không chút vướng mắc. Nó với khinh và linh đã nói trên đương nhiên có quan hệ mật thiết. Người mới học cũng có người ngay từ đầu đã ra công trên chữ tùng; tuy không mâu thuẫn, nhưng chỉ vì cầu khinh linh mà trước hết cầu tùng tịnh, chưa khỏi coi nhẹ tác dụng của tùng tịnh; hơn nữa khi mới học mà trước hết luyện "tùng", nếu quá mức cường hóa tác dụng của tùng, cũng sẽ vì động tác quá khinh tùng mà ảnh hưởng đến tốc độ chậm của động tác, thậm chí lưu vào phù hoạt; cho nên người mới học vẫn nên theo từng bước mà làm thì hơn. Khi mới học Thái Cực quyền, thường thường có cảnh tượng này: càng không muốn dụng lực thì tay chân càng cứng, chi bằng mặc kệ nó, trái lại tự nhiên hơn nhiều. Đây là vấn đề tình cảm căng thẳng hay không căng thẳng, chỉ cần tình cảm không căng thẳng, tự nhiên có thể làm cơ nhục buông lỏng; "thần thư" "thể tĩnh" mà "Thập tam thế hành công tâm giải" nói, chính là chỉ ra quan hệ nhân quả ở trong đó. Còn phương pháp luyện tập tùng tịnh, trước hết nên ở trên tình cảm làm được buông thả tự nhiên; thứ hai, trên thân thể không những phải tùng hạng tùng yêu, mà toàn thân mọi chỗ đều nên buông lỏng, khiến cho lẫn nhau phối hợp, không chút vướng mắc, mới có thể phù hợp với yêu cầu của tùng tịnh, phát huy tác dụng của tùng tịnh. Cần biết động tác của Thái Cực quyền, không phải chỉ dừng lại ở hai chữ khinh linh, mà phải tiến thêm một bước vào giai đoạn trầm trước, mới có thể trong sự vận dụng không ngừng, nâng cao công phu chủ yếu là khí trầm đan điền (氣沉丹田, khí trầm đan điền). Cái gọi là trầm trước, cũng không phải chỉ cần trên động tác thêm một chút lực lượng là đúng, chủ yếu là thông qua tùng tịnh toàn thân, để cầu được sự trầm trọng tự nhiên trên động tác. Căn cứ đạo lý trên đây, có thể thấy tác dụng của tùng tịnh, chủ yếu ở cầu được trầm trước, không phải ở cầu được khinh linh, cho nên tác giả đặt nó sau khinh linh mà nói. Về điểm toàn thân đều phải tùng tịnh, từng có người nói bụng không ngại căng thẳng, căn cứ "khí trầm đan điền" mà xét là đúng, nhưng trong quyền luận còn có câu "khí nghi cổ đãng", có thể thấy khi động tác bụng nên có căng có lỏng, không phải luôn luôn căng thẳng; e rằng người mới học có chỗ hiểu lầm, nên đặc biệt bổ sung thêm mấy câu.

(Ba) Hoàn chỉnh: Khi thiên thứ ba trên đây nói đến đặc điểm "hòa hài", tác giả đã đem tính hoàn chỉnh cao độ trên động tác có chỗ thuyết minh, ở đây không nhắc lại nữa; hai chữ hoàn chỉnh nay đưa ra, bất quá chỉ là yêu cầu chung, chỉ mong trên phương diện hình tượng của động tác làm được hoàn chỉnh nhất thể; còn sự phối hợp bên trong về phương diện hô hấp và phương diện ý thức, không ngại để đến giai đoạn sau rồi luyện tập. Khi mới học, chúng ta đối với động tác chậm phần nhiều rất coi trọng, nhưng dưới sự thiên trọng khắc ý cầu chậm, thường thường không thể kiêm cố đến tính hoàn chỉnh của động tác. Cho dù đã luyện quyền nhiều năm, cũng có người khi bàn giá tử, vẫn khó tránh có chỗ tay và chân nhanh chậm không nhất trí. Rõ rệt nhất, như chân đã bước xuống mà tay còn đang vận động chầm chậm, nhìn ra, thì luôn luôn là chậm có thừa mà hoàn chỉnh không đủ. Điều này với yêu cầu "do cước nhi thối nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí" trong quyền luận (đoạn trên còn có các câu "hình ư thủ chỉ" nên hợp lại mà xem) và yêu cầu "nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" trong "Thập tam thế hành công tâm giải", đều là không phù hợp. Ngoài ra, "mại bộ như miêu hành, vận động như trừu ty" mà hành công tâm giải nói, cũng ám chỉ ý động tác của tay và chân nên nhanh chậm tương xứng. Bởi vậy, chúng ta trong giai đoạn này, tất phải trên hình tượng, cố gắng hết sức làm được tay và chân cùng khởi cùng chỉ, để phù hợp với yêu cầu hoàn chỉnh nhất khí (sự phối hợp của động tác lưng, đã nói ở điểm thứ nhất, ở đây chỉ chú trọng về phương diện tay chân).

(Bốn) Liên quán: Yếu điểm này đã có thuyết minh ở thiên thứ ba phần trên, ở đây không giải thích nữa. Nhưng có một điểm cần phải chú ý, tức là khi mới học, không nên vì theo đuổi liên quán mà tùy ý đổi tốc độ của động tác cho nhanh hơn. Cần biết tốc độ có quan hệ nhất với động tác viên; nếu trên tốc độ không gia thêm khống chế, khó tránh không phát sinh tật viên hoạt quá độ, trái lại sẽ ảnh hưởng đến sự hoàn thành thích đáng và hiệu quả mong đợi của các yếu điểm khác (cũng bao gồm yếu điểm của giai đoạn thứ ba), người học không thể không biết.

Giai đoạn thứ ba

Giai đoạn trên, chủ yếu là yêu cầu trên phương diện động tác đặt nền móng hoàn thiện mà củng cố; theo trình tự mà quyền luận chỉ ra, là một giai đoạn "do trước thục nhi tiệm ngộ đổng kình". Giai đoạn này là giai đoạn cuối cùng, mấy yếu điểm đưa ra dưới đây, đều là phép tắc cần thiết của "do đổng kình nhi giai cập thần minh". Tuy quyền luận nói là lấy kỹ kích làm chủ, nhưng cách luyện của Thái Cực quyền trọng ý không trọng lực, Ngô tiên sinh cũng từng nói "giai cập thần minh sau khi đổng kình, cũng không hoàn toàn dựa vào thôi thủ, mà còn phải từ công phu cao độ của bàn giá tử mà không ngừng bồi dưỡng", có thể thấy giai đoạn cuối cùng của Thái Cực quyền là một giai đoạn kiện thân và kỹ kích có thể phân mà lại không thể phân; phàm là đạo lý có quan hệ với kỹ kích, cũng chính là đạo lý có quan hệ với kiện khang, người học khi tham khảo quyền luận, nên có cách nhìn như vậy.

(Một) Phân hư thực: Trong hai giai đoạn trên, động tác của chúng ta, chịu sự ước thúc của mạn và quân, đồng thời lại phải chiếu cố các yếu điểm khác; tuy trong giai đoạn thứ hai có thể luyện được tương đối hoạt bát hơn, nhưng vì để đặt nền móng tốt, luôn luôn là câu thúc nhiều mà tự ...là tương đối ít. Nay nền tảng đã vững, chúng ta nên dùng một phương pháp khác để tiến hành luyện tập, mục đích là giải trừ sự chú ý phức tạp mà thay bằng sự chú ý đơn giản. Yêu cầu phân hư thực (分虛實) trong động tác chính là một phép tắc được đặt ra để đạt mục đích ấy. Cho nên khi luyện tập, đối với các điểm cần lưu ý ở giai đoạn trước, ta có thể buông bỏ hoàn toàn (chỉ là không chú ý nữa, chứ không phải thay đổi động tác), mà đem sức chú ý tập trung vào hư thực của động tác.

Nói phân hư thực, trước hết phải chú ý hư thực ở bàn tay: khi tay duỗi ra, từ điểm khởi đầu đến điểm cuối cùng, phải xem là "do hư mà thực" (由虛而實, do hư nhi thực). Lúc ấy, bàn tay cần đi từ trạng thái ngậm lại mà dần dần mở ra, đến điểm cuối cùng thì hơi ưỡn lòng bàn tay, để biểu thị cực điểm của "thực" (thuật ngữ gọi là 陽極, dương cực, "chỗ tột cùng của dương"). Khi thu về, phải xem là do thực mà hư (thuật ngữ gọi là 陽極而陰生, dương cực nhi âm sinh, "đến tột cùng dương thì âm sinh"). Lúc ấy, bàn tay cần đi từ mở ra mà dần dần trở về trạng thái ngậm lại. Trong động tác nắm quyền, cũng vậy: khi xuất quyền thì dần dần từ tùng (thả lỏng) mà căng, khi thu quyền thì dần dần từ căng mà tùng; không phải chỉ tùng mà không căng (người chuyên luyện công phu hư tĩnh không thuộc phạm vi này), cũng không phải chỉ căng mà không tùng.

Kế đó, ở thân thể, eo và chân, cũng phải phối hợp với hư thực của tay. Ví dụ: hàm hung (含胸, ngậm ngực) luôn theo tay thu về mà dần dần mở rộng; cung bộ (弓步, tấn cung) và sự ngồi eo ngồi chân cũng cần thích ứng với tốc độ của tay. Lại nữa, khi hạ bộ thì gót chân phải tiếp đất trước, rồi theo tay tiến gần điểm cuối cùng mà toàn bàn chân dần dần đạp vững; khi thu bộ, cũng phải mượn dư lực của bàn chân đạp ấy, thừa thế thu về chậm rãi, để hô ứng với hư thực của tay. Yếu điểm này có liên quan cực kỳ mật thiết với phần "điều tức" (調呼吸, điều hô hấp) nói ở dưới; ta có thể thấy tác dụng quan trọng của nó từ yếu điểm kế tiếp, nên ở đây không nói thêm.

(二)Điều tức: Thái Cực quyền trong kỹ kích chuyên nói nhu hóa, không lấy khí lực để thắng người, cho nên trong tu luyện cũng thuần lấy dưỡng khí (養氣) làm chính. Cái gọi là khí trầm đan điền (氣沉丹田, khí chìm xuống đan điền), cũng là nhờ sự khinh tùng và tĩnh của động tác mà tự nhiên hình thành, tuyệt đối không dùng biện pháp cưỡng chế. Ở hai giai đoạn trên, tuy chúng ta chưa bàn đến phương pháp hô hấp của Thái Cực quyền, nhưng động tác Thái Cực quyền cần chậm cần đều, cho nên trong vô hình đã có tác dụng phòng ngừa hô hấp thô cạn ngắn gấp ...và cũng không khó dần dần hình thành trong tiến trình tự nhiên thói quen hô hấp đều, nhỏ, sâu, dài. Hô hấp đều và nhỏ không những liên quan đến điều tức dưỡng khí, mà còn là phương pháp hỗ trợ cho "ninh tĩnh nhất chí" (寧靜一志, yên tĩnh chuyên nhất tâm chí). Hô hấp sâu và dài không những nâng cao hiệu quả của "thổ cố nạp tân" (吐故納新, thải cũ nạp mới), mà đồng thời đối với tuần hoàn máu và các cơ năng nội tạng khác cũng có thể phát huy tác dụng thúc đẩy tốt. Cho nên người học Thái Cực quyền nên coi hô hấp là một loại động tác càng trọng yếu hơn, mới có thể thu được nhiều hiệu quả hơn trong vận động.

"Điều tức" được nêu ra ở đây là động tác hô hấp khi công phu đã khá sâu, bởi vì sự đều, nhỏ, sâu, dài nói ở trên, trong Thái Cực quyền vẫn chỉ là một tiêu chuẩn của hô hấp tự nhiên, chứ không phải một môn vận động hô hấp. Cho nên vào lúc thích hợp, chúng ta phải lợi dụng động tác để ảnh hưởng đến hô hấp, khiến hô hấp cũng trở thành một động tác, mới có thể thu được hiệu quả kiện thân cao hơn trong vận động hoàn chỉnh. Khi luyện quyền, động tác của chúng ta có lớn có nhỏ, mà hô hấp thì cần đều cần dài. Như có người nói: mỗi một động tác đều phải nhất trí với mỗi một hơi thở, điều ấy là không thể và cũng không cần thiết. Vì vậy, chúng ta chỉ yêu cầu trong mỗi một thức, hết sức có thể dùng sự chuyển biến hư thực của động tác để phối hợp với vòng tuần hoàn tự nhiên của hô hấp. Nghĩa là trong mỗi một thức, chúng ta nên cố gắng tìm cơ hội làm tốt động tác hô hấp dưới đây: khi động tác của tay đi từ hư mà thực, hơi thở ra của chúng ta cũng phải dùng cùng ý thức và cùng tốc độ để phối hợp với nó; khi tay đến điểm cuối cùng hơi ưỡn lòng bàn tay thì vừa hay thở ra đầy, đồng thời vùng bụng dưới háng (胯, khoa) cũng hơi căng; ngược lại, khi động tác của tay đi từ thực mà hư, hơi hít vào của chúng ta cũng phải dùng cùng ý thức và cùng tốc độ để phối hợp với nó; khi động tác dừng tĩnh thì vừa hay hít vào đầy, đồng thời vùng bụng trên háng cũng hơi co lại. Sự căng ra co lại của vùng bụng nói trên chính là "động tác hô hấp bụng kết hợp với động tác" của Thái Cực quyền; trong quyền luận gọi là "khí nghi cổ đãng" (氣宜鼓盪, khí nên cổ động dập dờn). Chỉ cần luyện tập theo như thế, không cần cố ý dùng sức, lâu ngày tự nhiên có thể đạt được công phu khí trầm đan điền (đan điền ở dưới háng). Cách điều tức như vậy đương nhiên là khá khó làm, cho nên khi mới học, chúng ta chạy một lượt bài quyền, ...chỉ có thể có rất ít thức làm được tương đối tự nhiên. Trải qua một thời gian hơi lâu, hoặc trước tiên thử làm trong động tác đơn thức một thời kỳ, tự nhiên có thể dần dần tiến bộ. Chỉ cần trong mỗi một lượt bài quyền, có được một phần ba hoặc một phần tư số thức làm rất hợp pháp, thì đã có thể thu được hiệu quả vận động rất tốt, cũng không cần đặt ra yêu cầu quá cao, nhất định phải làm cho từng thức trong mỗi lượt bài quyền đều có thể điều tức. Nếu nhất thời học không tốt, cũng chớ miễn cưỡng, để khỏi ảnh hưởng đến hô hấp tự nhiên.

(三)Dụng ý thức: Khi học các thức quyền, tuy chúng ta cũng dùng ý thức để hoàn thành động tác, nhưng ý thức dùng lúc ấy chỉ có thể chú trọng vào việc động tác đúng hay không đúng, không thể có thêm sức chú ý để vận dụng động tác của chúng ta. Cho nên "dụng ý thức" nêu ra ở đây đương nhiên yêu cầu cao hơn; nó chủ yếu căn cứ vào phép tắc "dụng ý bất dụng lực" (用意不用力, dùng ý không dùng sức) của Thái Cực quyền, đem tác dụng tưởng tượng của chúng ta vận dụng vào trong động tác; thứ nữa, cũng làm tăng thêm nhiều thú vị cho việc luyện tập những động tác quyền thuật bình đạm vô kỳ của chúng ta. Dưới đây chia làm hai điểm để nói rõ yêu cầu của nó:

  • ① Khi vận động, nên dùng ý càng nhiều mà dùng sức càng ít, khiến cho ý vị của động tác càng thêm đậm đà, ví như động tác cần khinh linh (輕靈, nhẹ nhàng linh hoạt). Mỗi lần chúng ta giơ tay hay đặt chân, đều nên xem quá trình của động tác như vô số lần giơ tay đặt chân, chỗ nào cũng dùng ý thức dẫn dắt chặt chẽ, dù là một động một tĩnh cực kỳ nhỏ nhặt cũng không ngoại lệ. Cứ như thế không ngừng lợi dụng sức tưởng tượng, khiến động tác càng luyện càng tinh tế, tự nhiên có thể nâng cao công phu khinh linh của chúng ta. Nếu muốn luyện công phu trầm tĩnh (沉着, trầm trước), chúng ta cũng nên trong vận động làm sự tưởng tượng "sử kình trầm trước", chứ không dùng nhiều sức lực hơn để tăng thêm lực lượng của cánh tay. Các động tác khác có thể suy ra theo đó.
  • ② Đối với một hư một thực hoặc một căng một chùng của mỗi động tác, chúng ta đều cần dùng ý thức để tưởng tượng tác dụng kỹ kích hoặc tác dụng kiện thân của nó, thậm chí trong tưởng tượng còn khoa trương thêm. Do hoạt động cơ bắp của chúng ta thường xuyên chịu ảnh hưởng của loại tác dụng tâm lý này, căn cứ vào lý luận rằng tác dụng tâm lý có thể chi phối tác dụng sinh lý, hiệu quả vận động của chúng ta cũng tự nhiên có thể được nâng cao trong vô hình.

(四)Cầu hư tĩnh: Đây là cách luyện cầu hư trong thực, cầu tĩnh trong động, cho nên gọi là "cầu hư tĩnh", là một loại công phu khá khó luyện trong Thái Cực quyền. Ở phép tắc trên, vận động của chúng ta tuy lấy vận dụng ý thức làm chính, nhưng sự tưởng tượng mà chúng ta tạo ra hoàn toàn nhằm phát huy tác dụng của động tác; về bản chất của động tác, vẫn lấy năng động làm chính, chứ không lấy năng tĩnh làm chính. Lấy công phu kỹ kích mà nói, vẫn là cầu thắng trong động, chứ không phải cầu thắng trong tĩnh. Điều này so với giai đoạn cao nhất của Thái Cực quyền là "dĩ tĩnh ngự động" (以靜御動, lấy tĩnh điều khiển động) và "tuy động do tĩnh" (雖動猶靜, tuy động mà như tĩnh) vẫn còn một khoảng cách nhất định; cho nên trong kỹ kích và trong tu luyện, đều lấy "cầu hư tĩnh" làm phép tắc cuối cùng.

Cầu hư tĩnh tuy cũng phải dùng ý thức, nhưng do yêu cầu khác nhau, trước hết nó quy nạp các loại tưởng tượng thành một tưởng tượng duy nhất, nghĩa là coi các động tác đủ loại, bất kể hình tướng và nội dung của nó, đều chỉ là hiện tượng của một động một tĩnh; rồi căn cứ vào hiện tượng ấy, chuyên tâm nhất ý làm sự tưởng tượng do động mà tĩnh hoặc do thực mà hư (động là thực, tĩnh là hư), khiến ý chí của chúng ta tập trung vào một điểm cầu tĩnh, để ảnh hưởng đến động tác đang làm. Như thế, chúng ta có thể càng luyện càng thuần tĩnh trong động tác (tức là cảnh tượng ở ý chứ không ở hình), đồng thời tinh thần của chúng ta cũng tự nhiên có thể, trong sự vận động như vậy, được nghỉ ngơi dưỡng sức yên tĩnh hơn. Cách luyện này thích hợp nhất cho việc trị liệu suy nhược thần kinh và cao huyết áp; nhưng khi luyện tập, ngoài việc gạt bỏ tạp niệm, tốt nhất nên chọn một hoàn cảnh thanh tĩnh để dụng công một mình, hầu tránh quấy nhiễu. Lại nữa, những điều nói trên như phân hư thực, điều tức cùng các tưởng tượng khác v.v., khi luyện phép tắc cầu hư tĩnh đều nên gạt bỏ không đoái hoài, không chú ý đến nữa, để khỏi phân tâm.

Các phương pháp luyện kể trên chỉ là lời giới thiệu đơn giản căn cứ vào sự học tập và kinh nghiệm của cá nhân; rất có thể có nhiều chỗ không hoàn toàn giống với đường lối của người khác, đồng thời cũng rất có thể có nhiều chỗ chưa nói rõ. Ví dụ: luyện khinh linh thì không thể trong cùng một động tác mà đồng thời làm sự tưởng tượng trầm trước; chúng ta có thể trong một lượt bài quyền chuyên luyện khinh linh hoặc chuyên luyện trầm trước, tốt nhất là trong những động tác do thực mà hư thì chú ...ý khinh linh, trong động tác do hư mà thực thì chú ý trầm trước; điểm này ở trên đã không nói đến. Ngoài ra, đối với điểm nắm quyền nên theo hư thực của động tác mà tùng căng, cũng chỉ nêu ví dụ duỗi quyền, chưa kèm thêm lời giải thích về ví dụ "phiết thân chùy" (撇身捶, Phiết Thân Chùy, "xoay thân đánh chùy") hơi nắm chặt quyền khi co cánh tay (vì "phiết thân chùy" dùng cung bộ). Những chỗ tương tự như vậy, tuy đều là những chỗ chưa được tường tận, nhưng dưới sự nghiên cứu kỹ càng của độc giả, cũng không khó suy một ra ba.

第六章 吳式太極拳圖解 Chương Sáu: Đồ giải Ngô thức Thái Cực quyền

吳式太極拳拳式名稱順序(附釋)Thứ tự tên gọi các thức quyền của Ngô thức Thái Cực quyền (kèm giải thích)

Tên gọi các thức quyền của Thái Cực quyền không những giữa các phái có chỗ dị đồng, mà ngay trong cùng một Ngô thức Thái Cực quyền, tuy nội dung và thứ tự động tác mọi người nói đều không khác nhau, nhưng về tên gọi, do truyền thụ có trước sau, ghi chép có tường lược, nên giữa mọi người cũng chưa hẳn nhất trí. Trong đó những chỗ dễ sinh nghi vấn nhất, ví như có những thức quyền rốt cuộc do những động tác nào hợp thành, về việc phân chia đoạn lạc, mỗi người cũng không hoàn toàn giống nhau. Tác giả vì muốn cho phần đồ giải các thức quyền ở chương sau có chỗ căn cứ, không thể không trước tiên sắp xếp lại một phen về tên gọi, và nói rõ chỗ dị đồng của nó, để cung cấp cho người mới học tham khảo.

1. 預备式 Dự Bị Thức (thức chuẩn bị): Trước đây vốn không có tên gọi của thức này; tác phẩm cũ của tác giả là "Thái Cực quyền thiển thuyết" (về sau gọi tắt là 致本, Chí bản) đã không liệt vào. "Thái Cực quyền" của Ngô Đồ Nam (về sau gọi tắt là 图本, Đồ bản) gọi thức này là 太極勢 (Thái Cực thế), có hàm nghĩa tĩnh mà chưa động, có thể làm một tên gọi thích đáng cho thức này. Trần Chấn Dân và Mã Nhạc Lương hợp biên "Ngô Giám Tuyền thị đích Thái Cực quyền" (về sau gọi tắt là 振本, Chấn bản) gọi là 太極起式 (Thái Cực khởi thức), là đã dời dùng tên gọi của thức kế tiếp, mà đổi tên gọi của thức kế tiếp thành 太極出手 (Thái Cực xuất thủ). Sách này vì muốn cho thông tục dễ hiểu, cho nên gọi thức thứ nhất không có động tác này (ý nói tay chân đều không động) là Dự bị thức. 2. 太極起式 Thái Cực khởi thức: Đây là tên gọi vốn có, Chí bản chưa đổi; Đồ bản lược bỏ, nhưng đem động tác vốn có ấy nhập vào động tác thứ nhất của thức kế tiếp là "Lãm Tước Vĩ"; Chấn bản gọi là "Thái Cực xuất thủ", so với tên "Thái Cực khởi thức" không khác mấy. Sách này không chủ trương thay đổi, nên vẫn dùng tên gọi vốn có.

3. 攬雀尾 Lãm Tước Vĩ (nắm đuôi chim sẻ), 4. 單鞭 Đan Tiên (roi đơn), 5. 提手上勢 Đề Thủ Thượng Thế (nâng tay lên): Ba tên gọi trên, các bản đều giống nhau, chỉ có Đồ bản "Lãm Tước Vĩ" có động tác "Thái Cực khởi thức", hơi khác một chút.

6. 白鶴亮翅 Bạch Hạc Lượng Sí (hạc trắng xòe cánh): Đây là tên gọi vốn có, các bản đều giống nhau, chỉ có Chấn bản đổi chữ "lượng" (亮, sáng) thành chữ "lượng" (晾, phơi), hơi khác một chút. Lượng sí và lượng sí đều là động tác xòe cánh, có thể dùng chung.

7. 摟膝拗步 Lâu Tất Ảo Bộ (ôm gối bước chéo), 8. 手揮琵琶 Thủ Huy Tỳ Bà (tay gảy đàn tỳ bà): Hai tên gọi trên, các bản đều giống nhau, chỉ có "Thủ huy tỳ bà" của Đồ bản thêm một chữ "thức".

9. 上步搬拦捶 Thượng Bộ Ban Lan Chùy (bước lên, gạt, chặn, đấm): Các bản vốn đều viết là "tiến bộ ban lan chùy"; vì thức này chỉ bước lên một bước, nên đổi "tiến bộ" thành "thượng bộ". Sách này chỉ dùng hai chữ "tiến bộ" cho những thức liền bước hai bước và hai bước trở lên, để tỏ sự phân biệt.

10. 如封似閉 Như Phong Tự Bế (như phong tỏa, như khép kín): Tên gọi các bản đều giống nhau, nhưng về động tác, ảnh chụp của Đồ bản thiếu một động tác nhỏ ở đầu; Chấn bản đem động tác thứ ba chuyển làm động tác thứ nhất của thức kế tiếp "Báo Hổ Thôi Sơn"; sách này thức kế tiếp không dùng tên gọi "Báo Hổ Thôi Sơn", cũng không dùng tên gốc "Bão Hổ Quy Sơn", thức này vẫn là ba động tác, để hợp với hình thức một phong một bế.

11. 十字手 Thập Tự Thủ (tay chữ thập): Sau thức trên là "Như Phong Tự Bế", trước đây đều dùng tên gọi "Bão Hổ Quy Sơn", Chí bản và Đồ bản giống nhau, Chấn bản đổi "Bão Hổ Quy Sơn" thành "Báo Hổ Thôi Sơn". Sách này cho rằng thức này chỉ có hai động tác, hơn nữa xét về hình thức, gọi là "Thập Tự Thủ" cũng thích đáng hơn là gọi "Bão Hổ Quy Sơn" hay "Báo Hổ Thôi Sơn"; do đó chọn theo thứ tự liệt kê trong di cảo của tiên sinh Hứa Vũ Sinh, đổi hai động tác này thành "Thập Tự Thủ" và đổi thức kế tiếp thành "Bão ...Hổ Quy Sơn".

12. 抱虎归山 Bão Hổ Quy Sơn (ôm hổ về núi): Sau "Thập Tự Thủ", Chí bản trước đây gọi tắt là "Lâu Tất Ảo Bộ"; Đồ bản đem "Thập Tự Thủ" nhập vào "Lâu Tất Ảo Bộ" rồi gọi là "Bão Hổ Quy Sơn"; Chấn bản căn cứ vào hai động tác chính phản mà gọi thành hai tên gọi "Tà Lâu Tất Ảo Bộ" và "Phiên Thân Tà Lâu Tất Ảo Bộ". Sách này cho rằng: thức này hai động tác lâu tất ảo bộ chính phản tiến hành liên tục, về hình tượng gần với kiểu thức "Bão Hổ Quy Sơn" hơn là động tác "Thập Tự Thủ", cho nên căn cứ vào đồ thích của trước tác họ Hứa và Đồ bản, đổi gọi là "Bão Hổ Quy Sơn", nhưng không đem "Thập Tự Thủ" nhập vào, đây là chỗ khác với Đồ bản.

  1. 攬雀尾 Lãm Tước Vĩ,
  2. 斜單鞭 Tà Đan Tiên (roi đơn xiên),
  3. 肘底看捶 Trửu Để Khán Chùy (xem chùy dưới cùi chỏ),
  4. 倒撵猴 Đảo Niển Hầu (lùi bước đuổi khỉ),
  5. 斜飞勢 Tà Phi Thế (thế bay xiên),
  6. 提手上勢 Đề Thủ Thượng Thế,
  7. 白鶴亮翅 Bạch Hạc Lượng Sí,
  8. 摟膝拗步 Lâu Tất Ảo Bộ,
  9. 海底針 Hải Để Châm (kim đáy biển),
  10. 扇通背 Phiến Thông Bối (quạt thông qua lưng): Mười tên gọi trên các bản đều giống nhau, chỉ có Chí bản và Chấn bản viết nhầm chữ "niển" (撵) thành "niển" (輦), Đồ bản lấy chữ "sơn" (山) thay chữ "phiến" (扇) và lấy chữ "trân" (珍) thay chữ "châm" (針); về mặt chữ nghĩa có hơi khác, nhưng về động tác thì vẫn như nhau.

23. 撇身捶 Phiết Thân Chùy: Động tác này chỉ xoay thân chín mươi độ, gọi là "phiết thân" đã đủ; Chí bản và Chấn bản đều gọi là "phiên thân phiết thân chùy", hai chữ "phiên thân" là thừa, nên sửa lại như trên theo Đồ bản.

24. 卸步搬拦捶 Tá Bộ Ban Lan Chùy: Đây là tên gọi vốn có, Chí bản và Chấn bản giống nhau; Đồ bản gọi "tá bộ" là "thoái bộ", tương đối thông tục, nhưng bước này là từ cung bộ phía trước lui về sau, thực tế có khoảng cách hai bước, hơn nữa về động tác, là trước tiên thân thò về phía trước, rồi thừa thế thoái bộ, có khác với thoái bộ thông thường, cho nên sách này vẫn dùng hai chữ "tá bộ".

25. 上步攬雀尾 Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ, 26. 單鞭 Đan Tiên, 27. 云手 Vân Thủ (tay mây), 28. 單鞭 Đan Tiên: Bốn tên gọi trên các bản đều giống nhau, chỉ có Đồ bản gọi "thượng bộ" là "thượng thế", về mặt chữ nghĩa hơi có khác biệt.

29. 高探馬 Cao Thám Mã (vuốt ngựa cao), 30. 左右分脚 Tả Hữu Phân Cước (tách chân trái phải): Hai tên gọi trên đều là tên gọi vốn có, Đồ bản chưa đổi. Chí bản đổi thành "Tả Cao Thám Mã", "Hữu Phân Cước", "Hữu Cao Thám Mã", "Tả Phân Cước" bốn tên gọi; Chấn bản đổi thành "Tả Cao Thám Mã", "Tả Phi Thân", "Thích Hữu Cước", "Hữu Cao Thám Mã", "Hữu Phi Thân", "Thích Tả Cước" sáu tên gọi, đều là chia tách động tác ra thành mấy tên gọi, không hợp với nguyên tắc đặt tên theo thức; hơn nữa, một thức "Cao Thám Mã" ở giữa "Tả Hữu Phân Cước" sau khi luyện thuần còn có thể giản hóa thành một động tác nhỏ, để thay thế hình thức "Cao Thám Mã". Vì vậy, sách này vẫn dùng tên gốc, không chia tách thêm nữa.

31. 轉身蹬脚 Chuyển Thân Đăng Cước (xoay thân đá gót): Các bản đều giống nhau.

32. 进步栽捶 Tiến Bộ Tài Chùy (tiến bộ đóng chùy): Đây là tên gọi vốn có, Đồ bản giống nhau; Chí bản thêm hai chữ "lâu tất" ở trước; Chấn bản thêm ở trước một tên gọi "Lâu Tất Ảo Bộ". Nhưng thức này khi liên tục tiến bộ, có thể theo "Lâu Tất Ảo Bộ" mà tiến hành liên tục, cũng có thể giản hóa động tác của hai tay, vừa ôm vừa tiến, đặt trọng điểm lên động tác tài chùy, chỉ hiện ra hình dạng hoàn chỉnh của hai động tác tiến bộ và tài chùy, cho nên sách này vẫn dùng tên gốc.

33. 翻身撇身捶 Phiên Thân Phiết Thân Chùy: Các bản đều giống nhau.

34. 上步高探馬 Thượng Bộ Cao Thám Mã: Nguyên trước không có hai chữ "thượng bộ", Đồ bản giống nhau; Chí bản thêm hai chữ "thượng bộ"; Chấn bản gọi là "Tiến Bộ Tả Cao Thám Mã". Thức này chân trái bước lên, chân phải vẫn đứng nguyên chỗ, có khác với tiến bộ, nên thêm dùng hai chữ "thượng bộ".

35. 披身踢脚 Phi Thân Thích Cước (khoác thân đá chân): Thức này trước đây dùng động tác nhảy, gọi là "Nhị Khởi Cước", Đồ bản gọi là "Phiên Thân Nhị Khởi Cước"; Chí bản đổi thành "Hữu Phân Cước"; Chấn bản đổi thành hai tên gọi "Tả Phi Thân" và "Thích Hữu Cước". Nay động tác nhảy đã bị bỏ, chỉ còn tư thế phi thân thích cước, không có hình tượng đá chân liên tục, cho nên không dùng tên gốc "Nhị Khởi Cước".

36. 退步打虎 Thoái Bộ Đả Hổ (thoái bộ đánh hổ): Chí bản thêm một chữ "thức"; Đồ bản đem động tác thoái bộ nhập vào "Phiên Thân Nhị Khởi Cước", nên gọi tắt là "Đả Hổ Thế"; sách này theo Chấn bản, không đổi.

37. 二起脚 Nhị Khởi Cước: Nguyên trước, Chí bản là "Phi Thân Thích Cước", Chấn bản là "Hữu Phân Cước", "Đả Hổ Thế" của Đồ bản là tả hữu mỗi bên một, nên lược bỏ cước này. Sách này ...cho rằng cước này với thức 35 "Phi Thân Thích Cước" là hô ứng từ xa với nhau, nên chọn dùng tên gốc "Nhị Khởi Cước".

38. 双峰貫耳 Song Phong Quán Nhĩ (hai đỉnh núi xuyên tai): Các bản đều giống nhau.

39. 翻身二起脚 Phiên Thân Nhị Khởi Cước: Chí bản vốn chia thành hai tên gọi "Tả Phân Cước" và "Chuyển Thân Đăng Cước"; Đồ bản gọi là "Phi Thân Thích Cước" và "Chuyển Thân Đăng Cước"; sách này theo Chấn bản vẫn dùng tên gọi trên, bởi vì thức này có phiên thân, lại có chân trái chân phải liên tục khởi thích, danh và thực tương hợp.

40. 撇身捶 Phiết Thân Chùy: Chí bản giống nhau; Đồ bản lược bỏ; Chấn bản đổi dùng thức Cao Thám Mã, gọi là "Hữu Cao Thám Mã". Sách này cho rằng: thức này tiếp xuống "Ban Lan Chùy" tương đối được kình, nên vẫn dùng tên gọi gốc và động tác gốc.

  1. 上步搬拦捶 Thượng Bộ Ban Lan Chùy,
  2. 如封似閉 Như Phong Tự Bế,
  3. 十字手 Thập Tự Thủ,
  4. 抱虎归山 Bão Hổ Quy Sơn,
  5. 攬雀尾 Lãm Tước Vĩ,
  6. 斜單鞭 Tà Đan Tiên: Sáu thức trên đều là thức lặp lại, chỗ khác nhau của các bản đã nói rõ ở trên.

47. 野馬分鬃 Dã Mã Phân Tông (ngựa hoang chia bờm): Các bản đều giống nhau.

48. 玉女穿梭 Ngọc Nữ Xuyên Thoa (ngọc nữ xuyên thoi): Đây là tên gốc, Chí bản và Đồ bản giống nhau; Chấn bản thêm hai chữ "chuyển thân" vào hai thức trong bốn thức, và đem động tác đổi tay của thức "Dã Mã Phân Tông" ở giữa cũng liệt vào tên gọi. Nội dung động tác các bản đều giống nhau, sách này vẫn dùng tên gốc.

49. 攬雀尾 Lãm Tước Vĩ: Đây là thức lặp lại, Chí bản và Chấn bản giống nhau; Đồ bản có hai chữ "thượng thế"; thức của sách này không bước lên, nên theo cũ không đổi.

  1. 單鞭 Đan Tiên,
  2. 云手 Vân Thủ,
  3. 單鞭 Đan Tiên,
  4. 下勢 Hạ Thế (hạ thấp thế),
  5. 金鸡独立 Kim Kê Độc Lập (gà vàng đứng một chân),
  6. 倒撵猴 Đảo Niển Hầu,
  7. 斜飞勢 Tà Phi Thế,
  8. 提手上勢 Đề Thủ Thượng Thế,
  9. 白鶴亮翅 Bạch Hạc Lượng Sí,
  10. 摟膝拗步 Lâu Tất Ảo Bộ,
  11. 海底針 Hải Để Châm,
  12. 扇通背 Phiến Thông Bối,
  13. 撇身捶 Phiết Thân Chùy,
  14. 上步搬拦捶 Thượng Bộ Ban Lan Chùy,
  15. 上步攬雀尾 Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ,
  16. 單鞭 Đan Tiên,
  17. 云手 Vân Thủ,
  18. 單鞭 Đan Tiên: Mười tám thức trên, trừ hai thức "Hạ Thế" và "Kim Kê Độc Lập", còn lại đều là thức lặp lại, các bản đại để giống nhau, trong đó chỗ khác ...nhau, ngoài việc Chí bản sót không liệt tên gọi thức 52 "Đan Tiên" và Đồ bản cùng Chấn bản ở thức 62 "Phiết Thân Chùy" đều thêm hai chữ "phiên thân", còn lại đã nói rõ ở trên. Hai tên gọi "Hạ Thế" và "Kim Kê Độc Lập", các bản hoàn toàn giống nhau; "Phiết Thân Chùy" chỉ xoay thân chín mươi độ, gọi là "phiết thân" đã đủ, nên không thêm hai chữ "phiên thân".

68. 迎面掌 Nghênh Diện Chưởng (chưởng đối diện): Đồ bản lược bỏ, nhưng giữ lại thức "Cao Thám Mã" trước thức này. Chí bản gọi là "Phốc Diện Chưởng", thức trên cũng là "Cao Thám Mã"; Chấn bản gọi là "Phi Diện Chưởng", thức trên gọi là "Tả Cao Thám Mã". Sách này cho rằng hai chữ "nghênh diện" hàm ý chờ đợi, càng hợp với cách đánh của Thái Cực quyền, cho nên chọn dùng tên gọi liệt kê trên (tên gọi Nghênh Diện Chưởng này, trước đây cũng thường dùng). Còn động tác Cao Thám Mã, trước đây vốn hòa lẫn với Nghênh Diện Chưởng, không lập riêng một tên, nên sách này cũng không giữ lại tên gọi Cao Thám Mã.

69. 轉身十字摆蓮 Chuyển Thân Thập Tự Bãi Liên (xoay thân bày sen chữ thập): Tên gốc của thức này là "Thập Tự Bãi Liên", Đồ bản giống nhau; Chí bản thêm một chữ "đăng"; Chấn bản thêm hai chữ "chuyển thân", lại thêm một chữ "cước". Sách này cho rằng thức này xoay thân khá lớn (là xoay thân 180 độ), nên chọn dùng hai chữ "chuyển thân" mà Chấn bản thêm vào, để khỏi đi sai phương hướng.

  1. 摟膝指裆捶 Lâu Tất Chỉ Đang Chùy (ôm gối chỉ đũng đấm),
  2. 上步攬雀尾 Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ,
  3. 單鞭 Đan Tiên,
  4. 下勢 Hạ Thế,
  5. 上步七星 Thượng Bộ Thất Tinh (bước lên bảy ngôi sao),
  6. 退步跨虎 Thoái Bộ Khoa Hổ (lùi bước cưỡi hổ): Sáu thức trên, ba thức 70, 74, 75 các bản đều giống nhau, còn lại ba thức đều là thức lặp lại.

76. 轉身迎面掌 Chuyển Thân Nghênh Diện Chưởng: Đồ bản lược bỏ; Chí bản gọi là "Phốc Diện Chưởng"; Chấn bản gọi là "Phi Diện Chưởng", giống như thức 68. Thức này cũng là xoay thân lớn 180 độ, nên thêm hai chữ "chuyển thân".

77. 轉身双摆蓮 Chuyển Thân Song Bãi Liên: Chí bản và Chấn bản đều gọi thành "Chuyển Thân Bãi Liên Cước". Thức này dùng hai tay vỗ chân, khác với "Thập Tự Bãi Liên" vỗ chân bằng một tay, nên chọn dùng tên gọi của Đồ bản, thêm một chữ "song", để tỏ sự phân biệt.

  1. 弯弓射虎 Loan Cung Xạ Hổ (cong cung bắn hổ): Các bản đều giống nhau.
  2. 上步迎面掌 Thượng Bộ Nghênh Diện Chưởng,
  3. 翻身撇身捶 Phiên Thân Phiết Thân Chùy,
  4. 上步高探馬 Thượng Bộ Cao Thám Mã,
  5. 上步攬雀尾 Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ,
  6. 單鞭 Đan Tiên: Năm thức trên đều là thức lặp lại, Đồ bản lược bỏ hoàn toàn; Chấn bản và Chí bản trước "Nghênh Diện Chưởng" đều có "Thượng Bộ Cao Thám Mã"; nay lược bỏ tên gọi "Cao Thám Mã" (có thể tham khảo lời giải thích ở thức 68 "Nghênh Diện Chưởng"), thêm hai chữ "thượng bộ" vào "Nghênh Diện Chưởng", để khỏi sót động tác bước lên.

84. 合太極 Hợp Thái Cực (khép Thái Cực): Các bản đều giống nhau.

Sự sắp xếp làm ở trên không giảm bớt động tác của các thức quyền, cũng không thay đổi thứ tự vốn có của động tác; về tên gọi tuy có một số thay đổi, nhưng vẫn chọn dùng những tên gọi trước đây đã từng có, cũng không có chỗ nào sáng tạo mới. Vì vậy, công việc này chỉ có thể giải quyết hai điểm dưới đây: (1) mỗi một thức quyền chỉ cho một tên gọi, không còn chia tách một số thức thành mấy tên gọi theo động tác nữa; (2) đối với một số ít thức quyền có danh và thực chưa hoàn toàn phù hợp, đã sửa chữa cần thiết về tên gọi hoặc về đoạn lạc của động tác. Tác giả rất mong các đồng chí đã luyện qua Ngô thức Thái Cực quyền nêu ra ý kiến tốt hơn, để sau này sắp xếp lại.

基本動作 Động tác cơ bản

Thái Cực quyền tuy có cách nói "trọng ý bất trọng hình" (重意不重形, coi trọng ý không coi trọng hình), nhưng đối với người mới học mà nói, vẫn nên trọng hình trước, trọng ý sau; phải cố gắng làm cho tư thế chính xác và đặt nền tảng vững chắc trên các động tác cơ bản, tuyệt đối không được khi công phu "hình tự" (形似, giống về hình) còn chưa đủ, đã vội đi luyện công phu "thần tự" (神似, giống về thần). Các động tác cơ bản liệt kê trong chương này, có một phần là những phép tắc rất trọng yếu, phần khác chỉ là kiểu mẫu của động tác. Để tránh lẫn lộn, chia làm hai phần lần lượt nói tóm tắt. Phần thứ nhất là phương pháp động tác của đầu và thân thủ; phần thứ hai là động [tác] Tư thế. Phần lớn các nguyên tắc trong Tiết thứ nhất đã được giải thích ở Chương 3 của Thượng thiên, nên để tránh trùng lặp, ở đây chỉ bổ sung những điều cần thiết; chỗ nào có thể lược bỏ đều không nhắc lại tỉ mỉ nữa.

Tiết thứ nhất:

1. Huyền đỉnh (懸頂, huyền đỉnh — treo đỉnh đầu): Với tư thế này, khi mới học chỉ cần nhớ mấy điểm sau: (1) đỉnh đầu hướng lên trên, phải để hoàn toàn tự nhiên, không được vì muốn hợp với huyền đỉnh mà gắng sức ưỡn cổ; (2) trừ số ít thế nghiêng mình hoặc cần hơi khom eo, còn lại đều phải giữ hết mức một đường thẳng từ đỉnh đầu xuống mông, hoặc một đường thẳng đứng từ đỉnh đầu xuống đất; (3) khi nghiêng mình không được nghiêng đầu, khi khom eo không được cúi đầu; (4) yêu cầu "hư lĩnh đỉnh kính (虛領頂勁, hư lĩnh đỉnh kính — hư dẫn đỉnh, vận kình lên đỉnh)" tạm thời có thể không để ý. Giai đoạn mới học trước hết phải phòng tránh các bệnh cúi đầu, ngửa mặt, nghiêng lệch trái phải; còn "hư lĩnh đỉnh kính" thì về sau khi công phu sâu hơn hãy dùng ý để tưởng tượng, không cần gấp. Phần còn lại có thể tham khảo các giải thích liên quan ở Chương 3 Thượng thiên.

2. Chính dung (正容, chính dung — giữ dung mạo ngay ngắn): Khi mới học, chủ yếu là giữ cho nét mặt bình thường, để cơ mặt tự nhiên thư giãn, không được cố ý phấn chấn tinh thần, vì thần không thư thì thân cũng không thể tĩnh (câu "thần thư thể tĩnh" thấy trong "Thập tam thế hành công tâm giải" 十三势行功心解). Ngoài ra còn phải chú ý những việc sau: (1) mắt phải nhìn ngang, không được trợn mắt; khi vận động, mắt phải xoay theo thủ thế, không được nhìn đờ; (2) miệng phải khép nhẹ, tuyệt đối không nghiến răng, lưỡi chạm hàm trên — như vậy khoang miệng tiết ra nhiều tân dịch, có thể bôi trơn cổ họng bất cứ lúc nào; (3) thở bằng mũi, đòi hỏi đều, nhỏ, sâu, dài; nếu cảm thấy thở ra không thông, có thể há miệng từ từ thở ra (thở xong liền ngậm lại), không được nín hơi.

3. Trì hạng (弛項, trì hạng — thả lỏng cổ): Khi vận động, cổ phải theo thế mà xoay sang trái phải; nếu dùng sức làm thành tư thế cổ cứng, sẽ ảnh hưởng nhất định đến việc xoay trở, đồng thời cũng cản trở sự tự nhiên của hai tư thế huyền đỉnh và chính dung. Trì hạng rất dễ làm tốt, chỉ cần không dùng sức, không căng thẳng là được. Người vừa động tay đã muốn dùng sức dễ mắc bệnh cổ cứng nhất, cho nên nguyên tắc này chủ yếu là nói với những người ấy.

• 54 • 4. Hàm hung (含胸, hàm hung — ngậm ngực): Hàm hung không chỉ có tác dụng quan trọng về mặt dưỡng sinh, mà còn là một động tác quan trọng trong kỹ kích; mọi thủ pháp cần vận dụng hóa kình (tức tẩu kình) đều không thể tách rời sự hỗ trợ của hàm hung. Đây là động tác ngược với ưỡn ngực; người mới học phần nhiều rất không quen, hơn nữa nếu làm một lúc mà độ ngậm quá lớn thì cũng không thích hợp với người thể chất yếu. Cho nên khi mới học không nên đề ra yêu cầu quá cao: trước hết chỉ cần dẹp bỏ hoàn toàn ý niệm ưỡn ngực, rồi từ từ trong các động tác tọa thân (ngồi thân xuống) mà ngậm ngực nhẹ, để thích ứng với nhu cầu của động tác; lâu ngày tự nhiên sẽ ngậm càng lúc càng đầy đủ. Ngoài ra còn phải chú ý: hàm hung chỉ là một bộ phận cấu thành của động tác tọa thân, chứ không phải động tác nào cũng cần hàm hung; nếu chỗ nào cũng ngậm ngực thì không những không cần thiết mà về sinh lý còn làm giảm tác dụng. Bởi vì "ngậm" và "không ngậm" phải hỗ trợ lẫn nhau, hơn nữa sau khi học tốt hàm hung, gặp một số tư thế cũng có thể hơi ưỡn ngực để trợ thế ngậm ngực. Tóm lại, hàm hung không phải là một tư thế cố định bất biến, người học không được hiểu sai.

5. Bạt bối (拔背, bạt bối — kéo lưng lên): Khi ngậm ngực thì lưng không thể không vồng ra, cho nên xưa nay vẫn nói liền hàm hung bạt bối với nhau. Kỳ thực động tác này liên quan nhất đến hoạt động cơ bắp vùng vai lưng. Nhưng khi mới học chưa biết trầm kiên (沉肩, trầm kiên — chìm vai), rất khó làm cho cơ lưng được duỗi căng, nên tạm thời có thể luyện thư thả. Nếu gắng sức làm miễn cưỡng, trái lại sẽ ảnh hưởng đến các mặt khác của động tác. Chi bằng để sau này khi đã giỏi trầm kiên rồi hãy luyện bạt bối, nhất định sẽ dễ hơn nhiều. Cũng có người luyện tẩu giá không tốt, đến thời kỳ thôi thủ mới hiểu được cách dùng kình ở vai lưng, lúc đó mới có thể vận dụng vào trong giá; như vậy cho thấy động tác này tương đối khó luyện, chi bằng để lùi lại phía sau thì thích hợp hơn.

6. Cung yêu (弓腰, cung yêu — vồng eo): Luyện công phu ngoại tráng thì phải ưỡn ngực chứ không ngậm ngực; đã ưỡn ngực thì không thể không kéo eo về sau, cho thấy ngực và eo khá nhất trí với nhau khi vận động. Thái Cực Quyền yêu cầu hàm hung, cho nên khi ngậm ngực thì không cung yêu không được. Cung yêu là đòi hỏi thả lỏng vùng eo và vồng ra phía sau, khiến toàn bộ lưng thành một hình cung tròn nông. Tư thế này không • 55 • khó làm. Chỉ cần khi hàm hung mà có thể tùng yêu (鬆腰, tùng yêu — thả lỏng eo) thì eo tự nhiên sẽ vồng ra phía sau. Khi mới học chưa biết hàm hung, không cần miễn cưỡng cung yêu, có thể trước hết chú ý thả lỏng vùng eo, để tránh gây ra bệnh kéo eo về sau.

7. Thu đồn (收臀, thu đồn — thu mông): Những người quen kéo eo về sau thường để mông nhô ra, tạo thành dáng bụng ưỡn về trước, mông vồng về sau. Khi luyện Thái Cực Quyền đến mức có thể cung yêu thì mông tuyệt đối không nhô ra nữa; do đó động tác này chủ yếu là đưa ra một yêu cầu ngược lại đối với người đã quen tư thế nhô mông. Thu đồn cũng có nơi gọi là liễm đồn (斂臀); ý ban đầu là đòi hỏi người luyện khi làm thế kỵ mã hoặc thế hư bộ tọa thân phải thu mông vào hết mức. Tác giả cho rằng mấu chốt chính của tư thế này nằm ở cung yêu: không cung yêu thì không thể thu đồn, còn cung yêu được thì mông sẽ tự nhiên thẳng đứng mà không nhô ra; vì vậy tác giả trước đây đã đổi tên nó thành thùy đồn (垂臀, thùy đồn — thả mông xuống), chỉ yêu cầu người học chú ý để mông sau khi cung yêu tự nhiên thẳng đứng, không cần cố ý thu vào, tránh gây ra cảm giác câu thúc. Nay vẫn ghi lại ý này ở đây để người mới học tham khảo.

8. Vĩ lư trung chính (尾閭中正, vĩ lư trung chính — xương cùng ngay chính giữa): Đây là một tư thế cần chú ý, không phải một động tác. Người xưa sợ người học khi vận động vặn mông lung tung hoặc để mông không ngay khiến toàn thân chịu ảnh hưởng xấu, nên mới đề ra yêu cầu vĩ lư trung chính. Đồng thời phải nghĩ rằng xương cùng và đỉnh đầu ứng với nhau từ xa: khi vận động, một mặt làm tốt "đỉnh đầu huyền" (頂头悬), một mặt lại có thể chú ý đến vĩ lư trung chính, thì toàn thân tự nhiên cũng giữ được mức đoan chính nhất định.

9. Trầm kiên (沉肩, trầm kiên — chìm vai): Trầm kiên là động tác duỗi mở cơ bắp và dây chằng vùng vai; trong mọi động tác duỗi tay đều có thể hơi dùng hoạt kình để làm cơ vai duỗi dài, nhằm kéo căng cơ hai bên lưng. Nhưng khi gập tay thì nên lấy tùng kiên (鬆肩, tùng kiên — thả lỏng vai) làm chính; nếu muốn trầm kiên thì cũng nên dùng ý nhiều, dùng sức ít, bởi vì sau khi gập tay trụy trửu (墜肘, trụy trửu — buông khuỷu) rồi lại duỗi tay ra trước, vai trong quá trình đi xuống, về sau rồi đi lên, ra trước đã bao hàm một động tác vòng tròn trầm vai tự nhiên; vì thế không cần đặc biệt trầm vai. Còn như thôi thủ • 56 • thì vận dụng khuỷu tay để kéo cánh tay đối phương, thường phải trầm kiên — đó là cách dùng kình; khi tẩu giá vẫn nên tự nhiên tùng trầm là thích hợp, không nên dùng sức quá mức.

10. Trụy trửu (墜肘, trụy trửu — buông khuỷu): Khi gập tay trước ngực, trừ những động tác mà khuỷu ngang bằng hoặc cao hơn vai, nói chung đều phải hướng đầu nhọn khuỷu xuống dưới, không được nhấc sang trái phải. Tư thế này có tác dụng rất quan trọng cả với tẩu giá lẫn thôi thủ. Hai khuỷu nhấc lên không những cản trở trầm kiên mà còn ảnh hưởng đến trầm khí (沉氣, trầm khí — chìm khí); hơn nữa hai sườn lộ ra quá nhiều, hai khuỷu lại dễ bị người ta đỡ hất, trong kỹ kích càng không nên. Cho nên ngay từ khi mới học đã phải hình thành thói quen trụy trửu. Trầm kiên phối hợp với trụy trửu là phép khuỷu thường dùng trong thôi thủ; xưa coi trọng kỹ kích nên đều ghép trầm kiên trụy trửu với nhau, chính vì khi vận dụng hai điều ấy không thể tách rời.

11. Chuyển uyển toàn bảng (轉腕旋膀, chuyển uyển toàn bảng — xoay cổ tay, vặn cánh tay): Điều này đòi hỏi mỗi lần duỗi và gập cánh tay đều không được ra ngang vào ngang, mà phải biểu hiện ra hết mức động tác xoay tròn của cổ tay và cẳng tay. Ví dụ duỗi chưởng ra trước: lúc bắt đầu bao giờ cũng dùng "trắc chưởng" (側掌) có lòng bàn tay hướng về má, rồi trong quá trình duỗi ra phía trước từ từ xoay, đến điểm cuối mới trở thành "lập chưởng" (立掌) có lòng bàn tay hướng ra trước; có thể thấy đường tiến của nó mang hình xoay tròn. Hiện nay có một số giáo viên vì chiều theo người mới học mà dạy từ ra ngang vào ngang trước; cái lợi là dễ học, nhưng sau khi học được vẫn phải sửa lại, để nâng cao hiệu quả vận động của động tác cánh tay.

12. Triển chỉ đột chưởng (展指凸掌, triển chỉ đột chưởng — xòe ngón, vồng chưởng): Luyện Thái Cực Quyền phần nhiều đến khi công phu khá sâu mới bắt đầu chú ý đến hư thực (虛實) của động tác; kỳ thực khi mới học, nếu không hiểu chút gì về hư thực cũng là không nên. Vì động tác Thái Cực Quyền dùng chưởng là nhiều, nên ở đây chỉ nêu ra một yêu cầu "triển chỉ đột chưởng", mong người mới học nghiêm túc vận dụng nó trong động tác "thực chưởng" (實掌) khi duỗi tay, để nâng cao chất lượng động tác. Ngoài ra, sau khi luyện thuần thục động tác này, về sau trên các động tác quyền chưởng khác, việc phân rõ từ hư mà thực và từ thực mà hư cũng sẽ dễ dàng hơn nhiều. Về cách làm động tác này, ở cùng mục trong chương tác dụng sinh lý và ở mục "Phân hư thực" (分虛實) trong Chương 2 của thiên này đều có giải thích riêng; ở đây không • 57 • nhắc lại nữa.

Tiết thứ hai:

1. Quyền pháp (拳法, quyền pháp — phép nắm đấm): Cách nắm đấm của Thái Cực Quyền, về hình thức, không khác gì võ thuật thông thường. Khi mới học nên nắm thực quyền (實拳), nhưng không được nắm quá chặt; đến khi công phu khá sâu, động tác phải phân hư thực, nắm đấm cũng có hư thực để phân: hư quyền (虛拳) nắm lỏng hơn thực quyền. Từ chưởng biến thành quyền, hoặc từ thực quyền thả lỏng thành hư quyền, đều phải làm động tác chậm, không được nắm quá nhanh, cũng không được thả quá nhanh; như vậy mới thích ứng với độ chậm của toàn bộ động tác. Có người khi tẩu giá thường nắm hư quyền mà không nắm thực quyền, thậm chí có người nắm quá lỏng đến mất cả hình quyền; đây là cách luyện "dùng ý không dùng sức", không có chân công phu thì không được, nên khi mới học vẫn nên nắm thực quyền nhiều hơn. Lại nữa, trong Thái Cực Quyền động tác dùng quyền để đánh chỉ có năm cái, xưa gọi là Thái Cực Ngũ Chùy (太极五捶). Các quyền thức liệt kê dưới đây là dựa trên toàn bộ động tác nắm đấm, quy nạp thành mấy tên gọi theo phương vị hoặc kiểu dáng, chứ không phải giới hạn ở năm chùy, cũng không phải tên gọi vốn có; phần giải thích chỉ nhằm phân rõ phương hướng khác nhau của mỗi loại quyền để tham khảo.

(1)Chính quyền (正拳): Duỗi ra phía trước hoặc thu vào trong, quyền nắm mà hổ khẩu (虎口) hướng lên trên đều là chính quyền. Khi dùng quyền ít dùng động tác chuyển uyển toàn bảng; chính quyền là quyền thức duy nhất không có động tác xoay tròn.

(2)Phản quyền (反拳): Đây là thức có hổ khẩu hướng xuống dưới, giới hạn ở những thế giơ cao trước đầu.

(3)Lập quyền (立拳): Phàm quyền có đỉnh hướng lên trên hoặc xiên lên trên mà hổ khẩu hướng ra trước, ra sau hoặc sang trái, sang phải đều là lập quyền.

(4)Tài quyền (栽拳): Hổ khẩu hướng ra trước mà đỉnh quyền nghiêng xuống dưới đều là tài quyền; phương hướng của nó ngược với lập quyền, cũng có thể gọi là đảo quyền (倒拳), chỉ dùng quyền thức này khi đánh ra trước xuống dưới.

(5)Ngưỡng quyền (仰拳): Lòng bàn tay nắm hướng lên trên, mu bàn tay hướng xuống dưới đều là ngưỡng quyền.

• 58 • (6)Phủ quyền (俯拳): Ngược hướng với ngưỡng quyền; lòng bàn tay nắm hướng xuống dưới, mu bàn tay hướng lên trên đều là phủ quyền.

(7)Trảo quyền (抓拳): Cái này khác với cách nắm đấm thông thường; nó là một thức có năm ngón chụm lại, ngón tay hướng xuống dưới. Trước kia gọi là trảo tử (抓子), cũng có nơi gọi là câu tử (鉤子) hoặc câu thủ (鉤手), bởi vì nó là một loại quyền pháp dùng mu bàn tay (chỗ gần cổ tay) để đánh người sau khi chưởng đã hạ xuống (chưởng ấy là lập chưởng), cho nên được xếp vào trong quyền pháp.

2. Chưởng pháp (掌法, chưởng pháp — phép dùng chưởng): Khi mới học, xuất chưởng và thu chưởng đều lấy tự nhiên thư triển làm chính: ngón tay không được dùng sức khép chặt hoặc dùng sức xòe ra, lòng bàn tay cũng không được làm thành hình lõm. Đến khi công phu khá sâu, đã hiểu được hư thực của động tác, thì trên bàn tay cũng phải có biểu hiện, ví dụ: duỗi tay ra trước, khi chưa duỗi thì bàn tay hơi mang hình lõm, tích tụ mà không mở ra, đây là hư chưởng (虛掌); trong quá trình duỗi ra phía trước thì dần dần thư triển, tức dần dần giảm hình lõm, gọi là từ hư mà thực; đến điểm cuối thì hình lõm mất hẳn, hơi xòe ngón và vồng chưởng để trợ thế duỗi ra phía trước, lúc này là thực chưởng (實掌); khi thu chưởng về, bàn tay dần dần từ thư triển trở về hàm súc, lại thành hơi lõm, gọi là từ thực mà hư. Động tác của chưởng là một phần của động tác toàn thân, cho nên hư thực của chưởng phải phối hợp với hư thực của động tác toàn thân; nếu không định phân hư thực trong động tác toàn thân, thì trên bàn tay cũng chỉ cần dùng chưởng tự nhiên, không cần làm ra hình oa chưởng (窩掌) hoặc đột chưởng (凸掌) trong động tác. Câu trong Quyền luận: "Căn ở bàn chân, phát ra từ chân, chủ tể ở eo, hình hiện nơi ngón tay" chính là bao hàm ý nghĩa rằng biểu hiện của bàn tay phải thích ứng với động tác hoàn chỉnh của eo, chân và bàn chân. Các loại chưởng pháp, căn cứ theo phương hướng và hình tượng của bàn tay, được liệt kê như sau:

(1)Chính chưởng (正掌): Đầu ngón tay hướng lên trên, lòng bàn tay hướng ra phía trước, cổ tay tạo thành góc vuông khoảng chín mươi độ, đều là chính chưởng.

(2)Lập chưởng (立掌): Đầu ngón tay hướng lên trên hoặc nghiêng lên trên, lòng bàn tay không hướng ra phía trước mà hướng theo phương khác, đều là lập chưởng.

(3)Thùy chưởng (垂掌): Đầu ngón tay hướng xuống dưới hoặc nghiêng xuống dưới, bất kể lòng bàn tay hướng về • 59 • phương nào, đều là thùy chưởng.

(4)Ngưỡng chưởng (仰掌): Lòng bàn tay hướng lên trên hoặc nghiêng lên trên, bất kể đầu ngón tay hướng về phương nào, đều là ngưỡng chưởng.

(5)Trắc chưởng (側掌): Ngón cái hướng lên trên, bàn tay dựng nghiêng, bất kể lòng bàn tay hướng về phương nào, đều là trắc chưởng.

(6)Phủ chưởng (俯掌): Lòng bàn tay hướng xuống dưới hoặc nghiêng xuống dưới, bất kể đầu ngón tay hướng về phương nào, đều là phủ chưởng.

(7)Phản chưởng (反掌): Bàn tay dựng nghiêng mà ngón cái ở dưới, đều là phản chưởng.

3. Thối pháp (腿法, thối pháp — phép dùng chân): Tư thế lập thân của Thái Cực Quyền, trừ khi làm thế kỵ mã phải để hai chân cùng chịu thể trọng, còn lại đều lấy việc đặt thể trọng lên một chân làm chính. Khi vận động, nó không dùng sức chống đỡ của hai chân để rèn luyện cơ chân, mà dùng động tác co chân chịu nặng để rèn luyện cơ chân. Nếu ngồi xổm thấp và gập gối nhiều thì lượng vận động của chân sẽ tăng lên và thấy mệt. Cho nên người mới học hoặc người thể chất yếu đều nên lập thân cao hơn, không nên quá thấp, để chân khỏi quá mệt. Các loại thối pháp dưới đây đều có tiêu chuẩn nhất định, không thể học tốt trong thời gian ngắn; khi mới học cũng có thể căn cứ thể lực từng người mà hạ thấp yêu cầu, không cần miễn cưỡng.

(1)Đề thối (提腿, đề thối — nâng chân): Chân đứng (đang chịu thể trọng) phải hơi gập gối, không được ưỡn thẳng; chân được nâng lên phải để đầu gối cao hơn hông, cẳng chân hơi duỗi ra trước, mũi bàn chân phải hếch lên trên. Ngoài ra, toàn thân phải thả lỏng, không được dùng sức quá nhiều. Điểm này là điều phải chú ý trong mọi loại thối pháp.

(2)Thích thối (踢腿, thích thối — đá chân): Đây là động tác sau khi nâng chân thì đá cẳng chân ra phía trước (lệch phải hoặc lệch trái). Khi đá chân, phải duỗi thẳng toàn chân, độ cao ngang với hông. Dùng mũi bàn chân đá ra phía trước gọi là thích thối, cũng gọi là thích cước (踢脚); dùng gót chân đạp ra phía trước gọi là đặng thối (蹬腿), cũng gọi là đặng cước (蹬脚). Khi hạ chân phải hạ xuống phía trước bên trái hoặc phía trước bên phải.

(3)Bãi liên thối (摆蓮腿, bãi liên thối — đá vung hoa sen): Thối này chỉ dùng chân phải, không dùng chân trái. Khi bắt đầu đá không cần • 60 • phải đề thối trước, có thể nhấc thẳng lên tại chỗ, mũi bàn chân hướng lên, dùng mặt ngoài bàn chân đá theo đường vòng cung ra phía trước bên phải, độ cao ngang với hông, khi hạ xuống thì hạ ngay xuống phía trước bên phải.

(4)Cung thối (弓腿, cung thối — chân vồng): Đây là thối pháp của thực bộ. Với chân vồng ra, độ nghiêng của đùi tùy theo thể lực từng người mà lớn hay nhỏ, không cần làm cho đùi hoàn toàn nằm ngang, nhưng đầu gối phải ngang với mũi bàn chân. Chân ở phía sau phải tự nhiên duỗi thẳng, không nên dùng sức quá nhiều, gót chân không rời đất. Toàn bộ thể trọng phải đè lên chân vồng; chân duỗi thẳng không được dùng sức chống đỡ.

(5)Tọa thối (坐腿, tọa thối — chân ngồi): Đây là thối pháp của hư bộ. Khi chân vồng ra được thu về nửa bước để biến thành hư bộ, toàn bộ thể trọng chuyển sang chân kia, phải thừa thế gập gối ngồi xuống, cho nên gọi là tọa thối. Độ nghiêng của tọa thối cũng có thể tùy người mà định; khi mới học nên để độ nghiêng dốc hơn, không nên gập gối quá nhiều, vì đây là một động tác khá mệt.

(6)Tồn thối (蹲腿, tồn thối — chân ngồi xổm): Tồn thối có hai thức. Một là "kỵ mã thế (騎馬势)" — hai chân tách ra theo hình chữ bát ngược, mũi bàn chân hướng ra ngoài, đầu gối cùng phương hướng với mũi bàn chân, không được khép mũi chân vào; khoảng cách hai chân ít thì hai thước, nhiều thì hai thước rưỡi, không nên quá rộng; độ cao của chân tương tự cung thối, tốt nhất là đồng thời hàm hung và cung yêu. Một là "hạ thế (下势)" — hai chân mở rộng hơn kỵ mã thế, mũi bàn chân cả hai chân đều cùng hướng với thân, ngồi xổm xuống phải xuống tận cùng, chân trái duỗi thẳng, chân phải phải cong đến mức đùi và cẳng chân chạm nhau, thân phải thẳng đứng, toàn bộ thể trọng đè lên chân phải. Hạ thế ngồi xổm quá thấp, người bị cao huyết áp không nên luyện, có thể làm tùy ý hơn, đừng ngồi xổm xuống.

4. Cước pháp (脚法, cước pháp — phép dùng bàn chân): Động tác của bàn chân là một phần của động tác chân, vốn có thể giải thích kèm trong thối pháp; để dễ tra cứu nên tách riêng một mục.

(1)Thích cước (踢脚): Trước hết đề thối, đứng vững, rồi dùng mũi bàn chân từ từ đá ra, mu bàn chân phải bằng. Về hướng đá, bao giờ chân phải cũng đá ra phía trước bên phải, chân trái đá ra phía trước bên trái.

(2)Đặng cước (蹬脚): Trước hết đề thối, đứng vững, rồi dùng gót chân từ từ đạp ra phía trước, • 61 • ra, mũi bàn chân hếch lên trên và móc vào trong, để gót chân dễ phát kình.

(3)Phân cước (分脚): Phân cước chính là tư thế của thích cước. Trong thức "tả hữu phân cước", nếu chú trọng vào tư thế phân cước liên tiếp thì có thể làm động tác đá tùy ý hơn.

(4)Chuyển cước (轉脚): Muốn xoay chuyển thân thể trước hết phải chuyển bàn chân. Chuyển chân trái, phần nhiều dùng gót chân, các phần khác của bàn chân có thể hơi rời đất; chuyển chân phải, phần nhiều dùng phần ngón chân, các phần khác của bàn chân có thể hơi rời đất; nếu hai chân cùng chuyển thì phải có một chân đạp thực bộ, không được để cả hai chân đều dùng hư bộ.

(5)Lạc cước (落脚): Hạ chân về phía trước thì gót chân phải chạm đất trước; hạ chân về phía sau thì mũi bàn chân phải chạm đất trước, rồi từ từ đạp cho thật vững. Trong hư bộ cũng có một số ít thức dùng mũi bàn chân trước chạm đất, đó là vì thế tiến bộ hay thế thoái bộ trong khi động tác có khác nhau.

(6)Hoán cước (換脚): Khi đổi chân, trước hết phải đặt thân thể cho vững trên chân không bước, đồng thời phải gập chân, rồi mới nhấc chân kia bước tới trước, ra sau hoặc theo phương khác rồi từ từ hạ chân; không được tham sự giản tiện mà bước thẳng.

5. Bộ pháp (步法, bộ pháp — phép bước): Thái Cực Quyền có mấy loại giá, hơn nữa các thức có lớn có nhỏ, cho nên về bộ pháp cũng không thể nhất trí; những giải thích dưới đây đều lấy quyền thức của tiên sinh Ngô làm căn cứ, đối với các giá khác khó tránh có chỗ không hoàn toàn thích dụng.

图 13
图 13
Sơ đồ bộ pháp không đánh số, có ghi chữ 甲: hai hình dấu bàn chân (vòng tròn là gót, chấm tròn là mũi chân) xếp trước sau, mũi bàn chân sau cách gót chân trước chừng một thước, cả hai bàn chân đều hướng ra trước, bên cạnh có đường ghi kích thước

(1)Thực bộ (實步): Chân phía trước cong, chân phía sau duỗi thẳng, hai chân đều đạp thực, đây là thực bộ; bởi vì có một chân vồng ra (tham khảo phần giải thích cung thối) nên lại gọi là cung bộ (弓步). Khoảng cách trước sau của hai chân có thể tùy theo thân hình và thể lực từng người mà phóng lớn hay thu nhỏ; nói chung lấy khoảng cách đo thẳng từ gót chân trước đến mũi bàn chân sau chừng một thước, đo xiên chừng một thước rưỡi là thích đáng. Khoảng cách trái phải của hai chân lấy mức không quá một thước rưỡi làm tiêu chuẩn, mũi bàn chân cả hai chân cố gắng hướng về phía trước. Khi vận động, gặp thực bộ tất phải • 62 • nghiêm ngặt giữ khoảng cách thích đáng trước sau trái phải của hai chân, phải như đạp lên hai đầu chữ 川; vị trí hai chân như hai bàn chân trong hình 甲 ở trên. Cái gọi là xuyên tự bộ (川字步) chính là nói điều này.

(2)Hư bộ (虛步): Hư bộ phần nhiều được hình thành do thu về nửa bước từ thực bộ; chân phía trước phần lớn từ dáng cong chân vồng ra trước biến thành dáng duỗi thẳng chân ra trước, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên trên; chân phía sau phải hơi cong để chở toàn bộ thể trọng (tham khảo phần giải thích tọa thối), thân thể phải hàm hung mà thẳng đứng, không được chúi người về trước. Khoảng cách trước sau trái phải của hai chân lấy một nửa của thực bộ làm tiêu chuẩn, như hai chân trong hình 乙 bên phải. Ngoài ra còn một loại hư bộ dùng mũi bàn chân chạm đất, chân phía sau có thể đứng thẳng hơn một chút, khoảng cách hai chân rất gần, trước sau trái phải đều cách nhau không quá một, hai tấc. Bàn chân chạm đất bằng gót hay bằng mũi đều phải đặt hư, không được dùng sức giẫm xuống đất, để hợp với yêu cầu của hư bộ. Lại nữa, mũi bàn chân của cả hai chân cũng đều phải cố gắng hướng về phía trước, không được một thẳng một lệch quá chênh nhau.

图 14
图 14
Sơ đồ bộ pháp không đánh số, có ghi chữ 乙: hai hình dấu bàn chân (vòng tròn là gót, chấm tròn là mũi chân) xếp trước sau, mũi bàn chân sau cách gót chân trước rất gần (khoảng một, hai tấc), chân trước mũi hếch lên và gót chạm đất, bên cạnh có đường ghi kích thước

(3)Bình hành bộ (平行步): Hai chân đứng song song, mũi bàn chân đều hướng ra trước, khoảng cách giữa hai chân lấy năm, sáu tấc làm mức; có thể đứng gần hơn nữa, nhưng không nên đứng quá rộng. Bộ pháp này không quan trọng, chỉ cần nhớ chừng ấy là đủ.

(4)Kỵ mã thức bộ (騎馬式步): Gọi tắt là mã bộ (馬步), cũng gọi là trang bộ (桩步). Bộ pháp này chính là kỵ mã thế đã nói trong phần tồn thối ở trước; kiểu dáng đã giải thích ở trên, ở đây không nhắc lại. Có người cho rằng hai chân đều dùng sức là song trọng (雙重, song trọng — nặng gấp đôi); kỳ thực song trọng không phải chỉ chỗ này, hơn nữa trong khi vận động thêm vào một ít kỵ mã thế đều có ích nhất định cho việc tăng trưởng cước lực và giúp trầm khí.

(5)Hạ thế bộ (下势步): Phần giải thích bộ pháp này cũng có thể tìm thấy trong phần tồn thối ở trước, ở đây lược bỏ. Người mới học nếu thể chất kém thì tuyệt đối không được miễn cưỡng luyện tập, có thể trước tiên dùng động tác hơi tồn thối để thay thế; khi có khả năng trong ngày tháng, hãy từ từ ngồi xổm thấp xuống thêm một ít; người bị cao huyết áp nặng lại càng phải chú ý.

• 63 •

(6)Đinh tự bộ (丁字步): Đây là một loại bước ít dùng trong Ngô thức Thái Cực Quyền. Nó là bước quá độ khi chuyển thân, chân trái đã chuyển động còn chân phải chưa dịch vị trí (vì thế trong phần đồ giải ở sau không thấy loại bước này); về hình dáng, mũi bàn chân phải hướng vào mặt trong chân trái, giống hình chữ 丁, cho nên gọi là đinh tự bộ.

(7)Giao xoa bộ (交叉步): Đây là thức chân phải vồng ra trước, được hình thành do chuyển thân sang phải mà hai chân không rời khỏi chỗ cũ. Khi tồn thối, mũi bàn chân phải hướng ra trước, mũi bàn chân trái hướng ra ngoài chân phải thành hình chữ 丁; hai đầu gối thì gối phải ở trên, gối trái ở dưới, đều hướng ra trước. Loại thức này trong Ngô thức Thái Cực Quyền chỉ có một; để tránh thân thể lên xuống quá nhiều ảnh hưởng đến điều tức, cũng có thể khi tẩu giá giảm hết mức độ ngồi xổm, hoặc duỗi thẳng hai chân mà đổi thành bước hình chữ 丁.

Những động tác cơ bản liệt kê trên đây chỉ được giải thích rất đơn giản, lại không có hình kèm theo; đối với người mới học thì không dễ thấy ngay rõ ràng. Nhưng trong đồ giải quyền thức ở chương sau đều sẽ nhắc đến những động tác cơ bản này; mong người mới học đối chiếu hai phần giải thích với nhau, có lẽ sẽ được giúp ích nhiều hơn trong việc lĩnh hội.

Phần 141

Trang sách 496

Ngô thức Thái Cực Quyền quyền thức đồ giải

Ngô thức Thái Cực Quyền quyền thức đồ giải

Toàn bộ quyền thức của Ngô thức Thái Cực Quyền tuy có tám mươi bốn thức, nhưng trừ dự bị thức không có động tác và hai động tác đơn giản là một khởi một thu (tức "Thái Cực khởi thức" và "Hợp Thái Cực") vốn không tính là quyền thức, thì thực ra chỉ có tám mươi mốt quyền thức; lại trừ bốn mươi lăm thức trùng lặp, có thể gọi là quyền thức cơ bản thì chỉ có ba mươi sáu thức như sau: (1)Lãm Tước Vĩ (攬雀尾) 8 thức, (2)Đơn Tiên (單鞭) 11 thức, (3)Đề Thủ Thượng Thế (提手上势) 3 thức, (4)Bạch Hạc Lượng Sí (白鶴亮翅) 3 thức, (5)Lâu Tất Ảo Bộ (摟膝拗步) 3 thức, (6)Thủ Huy Tỳ Bà (手揮琵琶) 1 thức, (7)Ban Lan Chùy (搬拦捶) 4 thức, (8)Như Phong Tự Bế (如封似閉) 2 thức, (9)Thập Tự Thủ (十字手) 2 thức, (10)Bão Hổ Quy Sơn (抱虎归山) 2 thức, (11)Trửu Để Khán Chùy (肘底看捶)

• 64 • 1 thức, (12)Đảo Niển Hầu (倒攆猴) 2 thức, (13)Tà Phi Thế (斜飞势) 2 thức, (14)Hải Để Châm (海底針) 2 thức, (15)Phiến Thông Bối (扇通背) 2 thức, (16)Phiết Thân Chùy (撇身捶) 5 thức, (17)Vân Thủ (云手) 3 thức, (18)Cao Thám Mã (高探馬) 3 thức, (19)Tả Hữu Phân Cước (左右分脚) 1 thức, (20)Chuyển Thân Đặng Cước (轉身蹬脚) 1 thức, (21)Tiến Bộ Tài Chùy (进步栽捶) 1 thức, (22)Phi Thân Thích Cước (披身踢脚) 1 thức, (23)Thoái Bộ Đả Hổ (退步打虎) 1 thức, (24)Nhị Khởi Cước (二起脚) 2 thức, (25)Song Phong Quán Nhĩ (双峰貫耳) 1 thức, (26)Dã Mã Phân Tông (野馬分鬃) 1 thức, (27)Ngọc Nữ Xuyên Thoa (玉女穿梭) 1 thức, (28)Hạ Thế (下势) 2 thức, (29)Kim Hạc Độc Lập (金鶴独立) 1 thức, (30)Nghênh Diện Chưởng (迎面掌) 3 thức, (31)Thập Tự Bãi Liên (十字摆蓮) 1 thức, (32)Lâu Tất Chỉ Đang Chùy (摟膝指襠捶) 1 thức, (33)Thượng Bộ Thất Tinh (上步七星) 1 thức, (34)Thoái Bộ Khóa Hổ (退步跨虎) 1 thức, (35)Chuyển Thân Song Bãi Liên (轉身双摆蓮) 1 thức, (36)Loan Cung Xạ Hổ (弯弓射虎) 1 thức. Trong ba mươi sáu thức trên, có mười chín thức là có thức trùng lặp; ngoài ra thức Thoái Bộ Đả Hổ có làm liên tiếp thức trái phải, sách này chỉ liệt kê thức trái; thức Kim Hạc Độc Lập có thể coi là hai thức trái phải, cũng có thể lược qua thức trái cho mập mờ, trong phần đồ giải có giải thích riêng. Ngoài ra, năm thức Lâu Tất Ảo Bộ, Đảo Niển Hầu, Vân Thủ, Dã Mã Phân Tông, Ngọc Nữ Xuyên Thoa đều là tay trái phải làm liên tiếp ba lần hoặc bốn lần, cũng có thể nói là trong một tên gọi bao hàm mấy thức trùng lặp; tóm lại, xác định quyền thức cơ bản là ba mươi sáu thức là tương đối thích đáng. Do đó, phần đồ giải được làm chủ yếu nhằm giải thích động tác của ba mươi sáu thức nói trên; với các thức trùng lặp còn lại, trừ khi ở chỗ tiếp nối có điều khác biệt buộc phải bổ sung, thì chỉ sắp xếp tên gọi theo thứ tự, không giải thích lặp lại nữa, để tiết kiệm thiên bức. Ngoài ra, còn mấy điểm ý kiến cũng phải nói kèm:

1. Phần đồ giải làm dưới đây lấy việc giải thích động tác của quyền thức làm chính, không liên quan đến cách dùng của động tác. Bởi vì Thái Cực Quyền trọng kình không trọng trước (着), giảng trước pháp tất phải đồng thời giảng kình, điều này đối với người mới học chưa hiểu kình là rất khó khăn; hơn nữa mỗi quyền thức, xét về trước pháp tuy đều có cách dùng nhất định, nhưng khi ứng dụng thì trong bất cứ động tác vòng tròn nào, chỗ nào cũng có biến hóa để nói; nếu muốn giải thích • 65 • …cho rõ. Hạn chế này không chỉ do trình độ của tác giả mà còn do khuôn khổ sách, nên đành lược bỏ mà không bàn.

2. Học Thái Cực quyền (太极拳) lẽ đương nhiên phải bắt đầu từ các thế quyền. Nhưng muốn luyện cho tốt Thái Cực quyền, nhằm nâng cao hiệu quả kiện thân của môn vận động này, thì còn phải làm rõ then chốt của nó trên phương diện lý luận và phép tắc. Nếu chỉ học được một bộ khung rỗng, tuy cũng có chút ích lợi, nhưng thu hoạch sẽ kém xa.

3. Các ảnh quyền bổ sung trong phần đồ giải và ảnh quyền của tiên sinh Ngô, do công phu của thầy trò có nông sâu, khó tránh khỏi nhiều chỗ đại đồng tiểu dị (chủ yếu là các ảnh quyền bổ sung, tư thế có phần hữu lực hơn, không được nhu hòa tự nhiên như ảnh quyền của thầy Ngô; vấn đề nằm ở chất lượng động tác, chứ không nằm ở kiểu dáng động tác — ví như viết chữ, cùng một chữ, do chất lượng khác nhau, vận vị khác nhau, thì dáng chữ cũng hiện ra khác biệt). Người học quyền khi gặp trong phần đồ giải những ảnh quyền có động tác hoặc phương hướng không hoàn toàn giống nhau, nên lấy phần thuyết minh văn tự làm chính; ảnh quyền bổ sung chỉ có thể dùng để tham khảo.

4. Về thứ tự các thế và lộ tuyến phương vị tiến thoái chuyển chiết của động tác, xin xem tờ chèn “Sơ đồ lộ tuyến Thái Cực quyền Ngô thức”.

Mấy điểm thuyết minh về phương diện hình ảnh

1. Phần đồ giải này tổng cộng 132 hình. Trong đó 74 hình được vẽ lại theo ảnh quyền nguyên bản của thầy Ngô Giám Tuyền (吳鑑泉), số còn lại là do người vẽ là Chu Nguyên Long (周元龙) căn cứ vào ảnh quyền do tác giả và Triệu Thọ Thôn (赵寿邨) bổ sung mà vẽ thành thể hình Ngô thị. Nay xin liệt kê số hiệu các hình được vẽ theo ảnh nguyên bản của Ngô thị để độc giả tham khảo: hình mặt bên của 1, 2; hình mặt bên của 3, 4, 5, 6 Ất, 7, 8, 9; hình mặt chính của 10, 11, 12, 14, 15, 16, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 30, 35, 36, 38, 39, 40, 42, 43, 44, 45, 46; hình mặt chính của 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 62, 65, 68, 69, 71; hình mặt chính của 73, 74; hình mặt chính của 77, 78; hình mặt chính của 79, 80 …hình; hình mặt chính của 82, 84, 90, 91, 92, 93, 95; hình mặt chính của 96; hình mặt chính của 97, 103, 106; hình mặt chính của 109; hình mặt chính của 111; hình mặt sau của 112; và 116.

2. Để tiện cho độc giả tra cứu phương hướng của quyền thức, phương hướng tư thế trong hình ảnh được giả định như sau: hướng về phía độc giả tức là hướng nam, lưng về phía độc giả tức là hướng bắc, hướng sang bên phải độc giả tức là hướng đông, hướng sang bên trái độc giả tức là hướng tây. Sau khi độc giả luyện tập thuần thục có thể tùy theo hình dạng sân bãi mà chọn phương hướng bất kỳ, không nhất thiết phải bắt đầu thế dự bị từ chỗ đứng hướng nam.

3. Tất cả mũi tên có đường liền hoặc đường chấm trong hình đều biểu thị xu hướng động tác của tay hoặc chân. Mũi tên trong mọi hình là biểu thị xu hướng động tác từ hình này chuyển sang hình kế tiếp. Những động tác vốn tương đối đơn giản, có thể thuyết minh trong văn tự mà vẽ thêm mũi tên lại gây lẫn lộn, thì không biểu thị xu hướng động tác trong hình nữa; có thể tham khảo văn tự và hình sau là rõ.

4. Mũi tên có đường liền biểu thị xu hướng động tác của tay phải hoặc chân phải; mũi tên có đường chấm biểu thị xu hướng động tác của tay trái hoặc chân trái.

5. Do động tác của chân trong Thái Cực quyền cũng khá tinh tế, để biểu thị quan hệ giữa bàn chân và mặt đất, người ta vẽ bóng mờ bên cạnh bàn chân để phân biệt:

[Chú giải quy ước tô bóng bàn chân] — Gót chân phải chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, bàn chân trái đặt toàn bộ trên mặt đất, hai chân tách nhau trước sau; bên cạnh bàn chân có kèm một hình minh họa nhỏ, đánh dấu ①, biểu thị toàn bộ bàn chân chạm đất;
[Chú giải quy ước tô bóng bàn chân] — Gót chân trái và mũi bàn chân phải chạm đất, hai chân tách nhau trước sau; bên cạnh bàn chân có kèm một hình minh họa nhỏ, đánh dấu ②, chỉ chỗ bên cạnh bàn chân không có bóng mờ, biểu thị toàn bộ bàn chân rời khỏi mặt đất;
[Chú giải quy ước tô bóng bàn chân] — Mũi bàn chân phải chạm đất, gót chân nhấc lên, bàn chân trái đặt toàn bộ trên mặt đất; bên cạnh bàn chân có kèm một hình minh họa nhỏ, đánh dấu ③, biểu thị gót chân chạm đất;
[Chú giải quy ước tô bóng bàn chân] — Mũi bàn chân phải chạm đất, gót chân nhấc lên, bàn chân trái đặt toàn bộ trên mặt đất; bên cạnh bàn chân có kèm một hình minh họa nhỏ, đánh dấu ④, biểu thị mũi bàn chân chạm đất.

Đệ nhất thức: Dự bị thức (Hình 1)

Thế này không có động tác gì, chỉ cần tĩnh tâm đứng thẳng, thân thể ngay ngắn, không ưỡn ngực, mắt nhìn thẳng về phía trước, hai vai thư giãn, hai cánh tay buông tự nhiên, đầu ngón tay hướng xuống, mu bàn tay hướng về trước (dùng thùy chưởng chứ không dùng phủ chưởng, đây là tư thế những năm cuối đời của tiên sinh Ngô), hai chân đứng song song, hai chân thẳng, đầu gối không được ưỡn ra; phần còn lại có thể tham khảo thuyết minh liên quan trong chương cơ bản động tác.

图 15
图 15
Hai chân đứng song song, hướng về phía độc giả, hai cánh tay buông tự nhiên hai bên thân, đầu ngón tay hướng xuống, mu bàn tay hướng về trước, thân thể ngay ngắn, đầu ngay ngắn. Đây là thế dự bị (sách đánh số là 圖 1).
图 16
图 16
Hướng về phía độc giả và hơi nghiêng sang phải, hai tay nâng lên ôm trước ngực, tay trái ở ngoài, tay phải ở trong, lòng bàn tay trái hướng vào trong, lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, đầu ngón tay cao hơn đầu mũi; gót chân trái nhấc lên, chân phải ở trước đặt trên mặt đất (sách đánh số là 圖 2).
图 17
图 17
Hình mặt bên của cùng tư thế: hướng sang bên phải, hai tay nâng trước ngực, cánh tay trái ở trên, cánh tay phải ở dưới, chân trái ở trước đặt bằng gót chân, mũi bàn chân hếch lên, chân phải co gối ngồi chắc, thân thể hơi cúi về trước (sách đánh số là 圖 2 側面圖).

Đệ nhị thức: Thái Cực khởi thức (Hình 2)

Từ thức trên (Hình 1), hai tay đồng thời nâng lên đặt trước ngực, trái ngoài phải trong, trái cao phải thấp; tay trái thành trắc chưởng, lòng bàn tay hướng vào trong, đầu ngón cái đối thẳng với đầu mũi và phải cao bằng nhau; tay phải thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, đầu ngón tay ở dưới cổ tay trái. Đồng thời, chân trái bước ra nửa bước, thành hư bộ (虚步, hư thực), gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, chân phải nhân thế hơi co, gánh chịu trọng lượng thân thể, mặt vẫn hướng nam, như Hình 2 (kèm hình mặt bên). Lại nữa, mũi bàn chân trái hếch lên bao nhiêu có liên quan đến độ cao thấp khi co chân phải; trong hình mặt bên, mũi bàn chân trái hếch lên …không nhiều, ấy là vì chân phải co lại (tức ngồi chân) khá cao.

Đệ tam thức: Lãm Tước Vĩ (攬雀尾, “Nắm đuôi chim sẻ”) (Hình 3–6)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 2), tại chỗ xoay người sang phải, trước tiên xoay bàn chân trái và bàn chân phải thành đinh tự thức (丁字式), sau khi đạp vững, mũi bàn chân hướng tây, liền hơi co chân, gánh chịu trọng lượng thân thể; đồng thời xoay eo sang phải, nhấc chân phải đặt xuống phía trước bên phải của chân trái, biến thành hư bộ với gót chân chạm đất, hai chân cách nhau nửa bước. Trong khi xoay chân, tay phải theo đường cong, từ dưới lên trên, đi qua lòng bàn tay trái, duỗi ra phía trước thành lập chưởng, đầu ngón cái ngang bằng và đối diện với đầu mũi; tay trái cũng đồng thời thu vào trong và xuống dưới một chút, đến khi đầu ngón tay gần bên cổ tay phải thì cũng biến thành lập chưởng; hai khuỷu tay chìm xuống, mắt nhìn về chính tây, như Hình 3.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 3), bộ pháp không đổi, hai khuỷu tay đồng thời chìm xuống, khuỷu tay trái gần sát sườn; hai tay trong khi chìm khuỷu từ từ chuyển hướng, tay phải chuyển thành ngưỡng chưởng (仰掌), tay trái chuyển thành phủ chưởng (俯掌), đầu ngón tay nghiêng lên trên. Trong khi chìm khuỷu chuyển chưởng, hơi hàm hung và ngồi lên chân trái, eo cũng hơi xoay sang trái, tay phải làm dáng múc nước, tích thế sẵn sàng cho động tác duỗi chưởng của thức sau; phương hướng chính tây không đổi, như Hình 4.

图 18
图 18
Hướng về phía độc giả và hơi nghiêng sang trái, tay phải dựng đứng ở phía trước, lòng bàn tay hướng vào trong, tay trái là phủ chưởng thu về bên cổ tay phải, hai khuỷu tay chìm xuống; chân phải ở trước, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, chân trái co gối ngồi chắc, gánh trọng lượng (sách đánh số là 圖 3).
图 19
图 19
Đứng hướng sang bên trái, tay phải lật thành ngưỡng chưởng, lòng bàn tay hướng lên, đầu ngón tay nghiêng lên trên, tay trái là phủ chưởng ở bên cổ tay phải, hai khuỷu tay gần sát sườn; chân trái ở trước, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, gối trái co ngồi chắc, gánh trọng lượng (sách đánh số là 圖 4).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 4), hai tay nhân thế mang theo đường cong duỗi ra phía trước, cánh tay phải không được quá thẳng; đồng thời chân phải bước ra nửa bước, biến thành cung bộ (弓步), trọng lượng thân thể ở chân phải, chân trái duỗi thẳng, phương hướng không đổi, như Hình 5.

图 20
图 20
Hướng sang bên trái, hai cánh tay duỗi ra phía trước thành cung bộ; tay phải ở trước là lập chưởng, lòng bàn tay hướng sang trái, tay trái là phủ chưởng ở dưới cổ tay phải; chân phải ở trước co gối, chân trái ở sau duỗi thẳng (sách đánh số là 圖 5).
图 21
图 21
Hướng sang bên trái, tay phải là ngưỡng chưởng, lòng bàn tay hướng lên, đầu ngón tay hướng về trước, tay trái là phủ chưởng đặt trên cổ tay phải; chân phải ở trước co gối, chân trái ở sau duỗi thẳng, thành cung bộ (sách đánh số là 圖 6 甲).
图 22
图 22
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng đẩy ra phía trước, lòng bàn tay hướng vào trong, đầu ngón tay hướng lên, tay trái là phủ chưởng ở dưới cổ tay phải, hai khuỷu tay chìm xuống; chân phải ở trước co gối, chân trái ở sau duỗi thẳng, thân thể hơi nghiêng về trước (sách đánh số là 圖 6 乙).

Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 5) vẫn là cung bộ; tay phải theo đường cong tự nhiên dịch ngang sang bên phải, đầu ngón tay trái đặt trên cổ tay phải di chuyển theo, đồng thời eo hơi xoay sang phải, thân thể và ngón tay hai bàn tay đều chuyển hướng tây bắc, như Hình 6 Ất. Lúc này eo không thể xoay sang phải thêm nữa, liền nhân thế từ từ ngồi lên chân trái, và từ từ xoay về chính tây, biến cung bộ thành hư bộ; đồng thời tay phải co cánh tay, buông khuỷu, thu thành vòng cung nhỏ, khi chuyển đến trước vai phải thì đầu ngón tay đã dần dần chuyển hướng lên trên, liền từ từ xoay cổ tay đẩy ra hướng chính tây, biến thành chính chưởng, tay trái theo ở dưới cổ tay phải, từ phủ chưởng chuyển thành ngưỡng chưởng, hai khuỷu tay hơi co, thân hướng chính tây, mắt nhìn phía trước, như Hình 6 Ất. Lãm Tước Vĩ luôn tiếp liền ngay với thức sau là Đơn Tiên; khi vận động liên tục vốn khó thấy được khoảng phân đoạn giữa hai động tác Hình 6 Ất và Hình 7, nên sách này để thích ứng với yêu cầu của người mới học, lấy Hình 6 Ất làm động tác cuối của bản thức.

Bản thức là thức động eo nhiều nhất: động tác thứ nhất phải động eo sang phải; động tác thứ hai phải động eo sang trái; động tác thứ ba khi duỗi tay phải trường yêu (长腰, dài eo); động tác thứ tư từ ngồi chân đến duỗi chưởng ra trước, phần eo phải làm động tác xoay tròn toàn vòng. Những động tác eo này đều gắn bó mật thiết với động tác của tay. Người mới học nếu học được cách động eo của thức này thì việc động eo ở các thức khác sẽ tương đối dễ dàng hơn.

Đệ tứ thức: Đơn Tiên (單鞭, “Roi đơn”) (Hình 7–8)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 6 Ất), co gối phải, biến hư bộ thành cung bộ. Khi đổi bộ, mũi bàn chân phải hơi xoay sang trái, khiến thân thể từ chính tây hơi nghiêng về tây nam, đồng thời hai cánh tay cũng duỗi ra hướng tây nam, không được duỗi thẳng (thân thể và hai tay cũng có thể trước tiên hướng chính tây, đến động tác sau mới xoay chân về hướng tây nam); chưởng phải đẩy ra phía trước như nguyên trạng, hơi ưỡn lòng bàn tay, lòng bàn tay nghiêng về tây nam, tay trái là ngưỡng chưởng vẫn ở dưới cổ tay phải như cũ, mắt nhìn về phía trước tay phải, như Hình 7.

图 23
图 23
Hướng sang bên trái, hơi nghiêng về tây nam, hai cánh tay duỗi ra phía trước thành cung bộ; tay phải là lập chưởng, lòng bàn tay hướng tây nam, tay trái là ngưỡng chưởng ở dưới cổ tay phải; chân phải ở trước co gối, chân trái ở sau duỗi thẳng, hai cánh tay đều không duỗi thẳng (sách đánh số là 圖 7).
图 24
图 24
Hướng về phía độc giả, hai cánh tay nâng ngang sang hai bên, hai chưởng đều chống mở ra ngoài, hai chân co gối tách ra ngồi xổm thành kỵ mã thức, mũi bàn chân và hai gối cùng một phương hướng (sách đánh số là 圖 8).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 7), chưởng phải nhẹ nhàng hạ xuống, đầu ngón tay hướng xuống, năm ngón tay chụm lại thành trảo quyền (抓拳, quyền nắm). Lúc này trọng lượng thân thể đã nhẹ nhàng đặt trên chân phải, nhân thế nhấc chân trái bước theo đường cong về phía sau bên trái, mũi bàn chân xoay về hướng đông nam, mũi bàn chân phải cũng nhân thế xoay về hướng nam, rồi liền co chân làm kỵ mã thức (騎馬式, thế cưỡi ngựa), hai gối và hai mũi bàn chân cùng một phương hướng, thân thể hơi nghiêng về đông nam; trong khi chân trái bước, tay trái rời khỏi cổ tay phải, lòng bàn tay hướng vào trong, biến thành ngưỡng chưởng thành lập chưởng, liền di chuyển về phía tay trái; khi dời đến trước má trái thì lập tức xoay lòng bàn tay ra phía ngoài, tiếp tục di chuyển, đẩy ra hướng đông (hơi nghiêng nam), vẫn là lập chưởng; đầu cũng theo chưởng trái xoay sang trái, mắt nhìn đông nam, như Hình 8.

Đệ ngũ thức: Đề Thủ Thượng Thế (提手上勢, “Nâng tay lên thế trên”) (Hình 9–10)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 8), mũi bàn chân trái xoay về chính nam, liền ngồi lên chân trái gánh chịu toàn bộ trọng lượng thân thể, và dời chân phải đặt xuống nửa bước phía trước bên phải chân trái, biến thành hư bộ, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên cùng hướng với chân trái; trong khi đổi bộ pháp, trảo quyền tay phải buông mở, rơi về phía trước ngực biến thành trắc chưởng, lòng bàn tay hướng vào trong, toàn cánh tay thành hình vòng ôm; đồng thời dời tay trái vào phía trong tay phải, gần cổ tay, vẫn là lập chưởng, lòng bàn tay hướng về trước; thân thể hơi nghiêng về trước, mắt nhìn phía trước (chính nam), như Hình 9 (hình này biểu thị tư thế tay phải đã nâng lên, nên độ nghiêng người về trước nhỏ hơn trong hình mặt bên).

图 25
图 25
Hướng về phía độc giả, hai tay ôm vòng trước ngực; tay phải ở ngoài là trắc chưởng, lòng bàn tay hướng vào trong, tay trái ở phía trong cánh tay phải gần cổ tay là lập chưởng, lòng bàn tay hướng về trước; chân trái ở trước, chân phải ở nửa bước phía trước bên phải, thân thể hơi nghiêng về trước (sách đánh số là 圖 9).
图 26
图 26
Hình mặt bên của cùng tư thế: hướng sang bên trái, tay phải là trắc chưởng ôm vòng trước ngực, tay trái là lập chưởng áp sát cánh tay phải gần cổ tay, thân thể hơi nghiêng về trước; chân phải đặt bằng gót chân, mũi bàn chân hếch lên, hai chân tách nhau trước sau (sách đánh số là 圖 9 側面圖).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 9), mũi bàn chân phải đặt xuống đạp vững, chân trái nhân thế bước lên cùng với chân phải thành bộ song song, hai chân hơi cong; trong khi sát bộ, tay phải nhân thế từ từ nâng lên trên, và xoay cẳng tay nâng lên đến khoảng một hai tấc trước trán, chuyển thành ngưỡng chưởng; tay trái đồng thời ấn xuống, đặt bên cạnh hông, cánh tay duỗi thẳng nhưng không được quá thẳng, đầu ngón tay hơi hếch lên trên, lòng bàn tay hơi ấn xuống dưới; phương hướng thân thể không đổi, mắt vẫn nhìn về trước, như Hình 10.

图 27
图 27
Hướng về phía độc giả, tay phải là ngưỡng chưởng giơ lên phía trên trước trán; tay trái là phủ chưởng ấn bên cạnh hông trái, đầu ngón tay hơi hếch lên trên; hai chân song song sát nhau, hai chân hơi cong, thân thể ngay ngắn (sách đánh số là 圖 10).

Đệ lục thức: Bạch Hạc Lượng Sí (白鶴亮翅, “Bạch hạc xòe cánh”) (Hình 11–12)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 10), không động bộ, xoay eo sang trái, khiến thân thể chuyển hướng đông nam, hai tay vẫn như nguyên trạng không đổi, đường nhìn cùng hướng với thân thể, như Hình 11. Thế này, vốn trước khi xoay eo phải hơi cúi thân trên về phía trước; có khi cúi quá mức, thường bị làm thành dáng cúi đầu; tiên sinh Ngô những năm cuối đời đã lược bỏ điều đó, chỉ hơi cúi thân trong khi xoay eo để trợ thế.

图 28
图 28
Hướng về phía độc giả, hai cánh tay buông bên thân, thân thể hơi nghiêng sang phải, đầu hơi cúi; hai chân song song sát nhau; có một mũi tên từ cánh tay phải vòng lên qua đầu rồi xuống theo bên trái thân thể, biểu thị xu hướng xoay eo sang trái (sách đánh số là 圖 11).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 11), cánh tay trái nhân đà xoay eo còn lại mà duỗi thẳng từ phía sau bên trái nâng lên trên (đợi khi cánh tay ngang vai mới co khuỷu); đồng thời xoay thân thể về chính nam. Lúc này tay trái đã nâng đến phía trên bên trái trán trái, cùng với tay phải đều ở trên trán thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng về trước; rồi chìm vai để cánh tay trên hơi hạ xuống, khoảng cách hai tay tương đương bề rộng vai, mắt nhìn chính nam, hai chân vẫn hơi cong, như Hình 12 (hình này khi chụp góc độ không hợp, nên hai tay hiện ra quá cao; khi luyện tập hai tay phải đặt thấp hơn một chút).

图 29
图 29
Hướng về phía độc giả, hai cánh tay nâng lên phía trên trước trán, hai tay đều là lập chưởng, lòng bàn tay hướng về trước, hai cánh tay tách ra thành hình vòng cung; hai chân song song sát nhau, hai chân hơi cong, thân thể ngay ngắn (sách đánh số là 圖 12).

Đệ thất thức: Lâu Tất Ảo Bộ (摟膝拗步, “Vén gối, bước xoay”) (Hình 13–19)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 12), hai chân đồng thời xoay sang trái (chân trái xoay gót, chân phải xoay chưởng), mũi bàn chân hướng đông, chân trái thành hư bộ với gót chân chạm đất, chân phải hơi cong; trong khi xoay chân, tay trái rơi xuống trước thân thành phủ chưởng, đầu ngón tay nghiêng về đông nam, tay phải chuyển thành trắc chưởng, đặt bên má phải, cánh tay trên ngang với vai, mắt nhìn đông, như Hình 13.

图 30
图 30
Hướng về phía độc giả và hơi nghiêng sang phải, tay phải là trắc chưởng dựng đứng bên má phải, cánh tay trên ngang với vai, tay trái là phủ chưởng rơi xuống phía dưới trước thân, đầu ngón tay nghiêng về đông nam; chân trái ở trước, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên (sách đánh số là 圖 13).
图 31
图 31
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng duỗi ra phía trước, đầu ngón tay hướng lên, tay trái là phủ chưởng ấn bên gối trái; chân phải ở sau duỗi thẳng, chân trái ở trước co gối thành cung bộ; thân thể và đường nhìn đều hướng đông (sách đánh số là 圖 14).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 13), co chân phải; chân trái dời lên trước nửa bước, gót chân chạm đất trước, từ từ đạp vững, biến thành cung bộ; chân phải nhân thế duỗi thẳng, đổi thành chân trái gánh chịu trọng lượng thân thể. Trong khi chân trái nhấc lên bước tới, tay trái nhân thế vén xuống qua gối, dời đặt bên cạnh gối chân trái, vẫn là phủ chưởng, đầu ngón tay hướng về trước; trong khi tay trái vén gối, tay phải (trắc chưởng, đầu ngón tay hướng về trước) từ bên má từ từ duỗi ra phía trước, vừa duỗi vừa xoay cẳng tay, đến khi cánh tay thẳng thì thành chính chưởng (正掌). Thân thể và đường nhìn đều hướng đông, như Hình 14.

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 14), nhân khi cánh tay phải duỗi thẳng có chút đà ưỡn lòng bàn tay, thu tay phải về trước ngực biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng sang trái; đồng thời tay trái cũng từ dưới lên trên đặt lên trên đầu ngón tay phải, làm thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng sang phải. Trong khi thu tay phải về, nhân thế thu eo ngồi thân, và thu chân trái về nửa bước biến thành hư bộ, để chân phải gánh chịu trọng lượng thân thể; phương hướng thân thể và đường nhìn đều không đổi, như Hình 15.

Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 15), tay trái rơi xuống, tay phải nâng lên bên má phải, trở lại kiểu dáng của Hình 13.

Động tác năm: Từ thức trên (Hình 13), lặp lại kiểu dáng của Hình 14 một lần, như Hình 16. Động tác sáu: Từ thức trên (Hình 16), tay phải rơi xuống biến thành phủ chưởng, đầu ngón tay nghiêng về đông bắc; tay trái nâng lên đặt bên má trái, biến thành trắc chưởng; đồng thời chân phải từ phía sau bước lên trước một bước rưỡi, đặt ở góc đông nam phía trước chân trái, biến thành hư bộ; thân thể và đường nhìn vẫn hướng đông, như Hình 17. Hình 17 và Hình 13 thực ra là cùng một thức, chỉ có trái phải của tay chân hoàn toàn đối ngược; xin đối chiếu với đồ giải của Hình 13.

图 32
图 32
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng thu về trước ngực, lòng bàn tay hướng sang trái, tay trái là lập chưởng đặt trên đầu ngón tay phải, lòng bàn tay hướng sang phải; hai cánh tay chồng nhau ôm trước ngực; chân phải co gối gánh trọng lượng, chân trái thu về nửa bước với gót chân chạm đất (sách đánh số là 圖 15).
图 33
图 33
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng duỗi ra phía trước, đầu ngón tay hướng lên, tay trái là phủ chưởng ấn bên gối trái; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng (sách đánh số là 圖 16).
图 34
图 34
Hướng về phía độc giả, tay trái là trắc chưởng dựng đứng bên má trái, cánh tay trên ngang với vai, tay phải là phủ chưởng rơi xuống phía dưới trước thân, đầu ngón tay nghiêng về đông bắc; chân phải ở trước, gót chân chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, thành hư bộ (sách đánh số là 圖 17).
图 35
图 35
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng duỗi ra phía trước, đầu ngón tay hướng lên, tay trái là phủ chưởng ấn bên gối phải; chân phải ở trước co gối thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng (sách đánh số là 圖 18).

Động tác bảy: Từ thức trên (Hình 17), nhấc chân phải dời lên trước nửa bước biến thành cung bộ, chân trái nhân thế duỗi thẳng; đồng thời tay phải vén qua gối phải rồi đặt bên gối phải, vẫn là phủ chưởng, tay trái từ bên má duỗi ra phía trước, xoay cẳng tay, biến thành chính chưởng; phương hướng thân thể và đường nhìn đều không đổi, như Hình 18. Hình 18 và Hình 14 thực ra là cùng một thức, chỉ có trái phải của tay chân hoàn toàn đối ngược; xin đối chiếu với đồ giải của Hình 14.

Động tác tám: Từ thức trên (Hình 18), tay trái rơi xuống, tay phải nâng lên bên má phải, lại trở về kiểu dáng của Hình 13, giống với động tác bốn, đồ giải lược bỏ.

Động tác chín: Từ thức trên (Hình 13), lặp lại kiểu dáng của Hình 14 thêm một lần, giống với động tác hai hoặc năm, đồ giải lược bỏ.

Động tác mười: Từ thức trên (Hình 14), lặp lại kiểu dáng của Hình 15 một lần, giống với động tác ba, như Hình 19. Thế này còn có hai yếu điểm, xin trình bày thuyết minh tổng quát ở đây: (1) Trước khi tay trái vén qua gối trái, phải trước tiên thu thân về phía bên phải (tức là không động bộ mà xoay eo), rồi theo tay phải duỗi ra phía trước mà từ từ xoay trở lại chính diện; khi tay phải vén qua gối phải cũng phải trước tiên thu thân về phía bên trái, rồi theo tay trái duỗi ra phía trước mà từ từ xoay trở lại chính diện; (2) Khi làm chính chưởng (như Hình 14 và Hình 18) đến điểm tận cùng, đầu ngón cái phải đối thẳng với đầu mũi; ở thức thu chưởng (như Hình 15) đầu ngón cái tay trái cũng phải đối thẳng với đầu mũi. Hiện nay có một số giáo viên vì chiều theo người mới học, đối với những yêu cầu trên đều không đủ nghiêm khắc, khiến người học trên phương diện viên hoạt của động tác và bình chính của tư thế cũng khó tránh khỏi có những chỗ khiếm khuyết; đặc biệt nêu ra đây để tham khảo.

Đệ bát thức: Thủ Huy Tỳ Bà (手揮琵琶, “Tay gảy đàn tì bà”) (Hình 20–21)

图 36
图 36
Hướng sang bên trái, tay phải là lập chưởng thu về trước ngực, lòng bàn tay hướng sang trái, tay trái là lập chưởng đặt trên đầu ngón tay phải, lòng bàn tay hướng sang phải; hai cánh tay chồng nhau ôm trước ngực; chân phải co gối gánh trọng lượng, chân trái thu về nửa bước với gót chân chạm đất (sách đánh số là 圖 19).

Động tác một: Từ thức trên (Hình 19), chân trái bước lên trước nửa bước biến thành cung bộ, chân phải nhân thế duỗi thẳng; đồng thời hai lòng bàn tay đổi hướng, tay trái chuyển thành lòng bàn tay hướng ra ngoài và xuống dưới, tay phải chuyển thành lòng bàn tay hướng vào trong và lên trên, vẫn là lập chưởng thức (khi chuyển chưởng phải hơi chìm khuỷu); sau khi chuyển chưởng, hai tay liền theo đường cong từ từ duỗi ra phía trước lên trên, cánh tay trái so với thức trên (Hình 19) là thẳng hơn, cánh tay phải co nhiều hơn thức trên; thân thể và đường nhìn vẫn hướng chính đông, như Hình 20.

图 37
图 37
Hướng sang bên trái, hai cánh tay duỗi ra phía trước lên trên; tay trái là lập chưởng ở trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài và xuống dưới, tay phải là lập chưởng ở sau, lòng bàn tay hướng vào trong và lên trên; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 20).
图 38
图 38
Hướng về phía độc giả, hai cánh tay co khuỷu bắt chéo trước ngực ôm thành hình vòng, hai tay là lập chưởng đối nhau, đầu ngón tay hướng lên trên và về trước; hai chân song song sát nhau, hai chân hơi co, thân thể ngay ngắn. Đây là thế thu của “Tay gảy đàn tì bà” (sách đánh số là 圖 21).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 20), chân phải sát bộ về phía trước, cùng với chân trái thành thức song song, hai gối hơi co; đồng thời hai tay theo đường cong phía bên trái, nhân thế thu về phía ngực một chút từ phía trên, co cánh tay buông khuỷu, làm thành hình dáng tay gảy đàn tì bà; phương hướng không đổi, như Hình 21.

Thế này tuy động tác đơn giản, nhưng khi mới học, nói chung đều khó làm cho tốt, vì hai tay duỗi ra và thu về đều đi theo đường cong, trong động tác liên tục có một hình bầu dục; nếu phần eo không thể làm ra động tác tròn cùng phương hướng để thích ứng với nó, thì trên tư thế không thể đạt được sự hài hòa toàn thân.

Đệ cửu thức: Thượng Bộ Ban Lan Chùy (上步搬拦捶, “Bước lên, ban, lan, chùy”) (Hình 22–24)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 21), chân trái bước lên trước một bước thành cung bộ; đồng thời hai cánh tay trước tiên hơi co, rồi theo đường cong phía bên phải duỗi tay ra phía trước, và chuyển đổi lòng bàn tay, thành lòng bàn tay trái hướng nam, lòng bàn tay phải hướng bắc, đều là lập chưởng; phương hướng thân thể và đường nhìn đều không đổi, như Hình 22.

图 39
图 39
Hướng sang bên trái, hai cánh tay duỗi ra phía trước; tay trái là lập chưởng ở trước, lòng bàn tay hướng nam, tay phải là lập chưởng ở sau, lòng bàn tay hướng bắc; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 22).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 22), thu thân thể về ngồi trên chân phải, chân trái hơi rút về biến thành hư bộ; đồng thời hai tay nhân thế theo đường cong phía bên trái thu về cùng nhau, Tay trái chỉ thu về một, hai tấc vẫn dừng ở phía trước, tay phải vừa thu vừa nắm quyền (chính quyền) thu thẳng về đến bên hông; phương hướng không đổi, như Hình 23.

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 23), lập tức đưa quyền phải từ bên hông duỗi thẳng ra phía trước chính giữa, cánh tay thẳng, quyền ngang tầm vai, vẫn là chính quyền; đồng thời từ từ thu tay trái về đặt bên khuỷu tay phải, vẫn là lập chưởng; cùng lúc, chân trái hơi dịch về phía trước, nhân thế trở lại thành cung bộ như ban đầu; phương hướng không đổi, như Hình 24.

图 40
图 40
Hướng sang bên trái, tay trái là lập chưởng ở trước; tay phải nắm chính quyền đưa từ bên hông duỗi thẳng ra phía trước chính giữa, quyền ngang tầm vai, cánh tay thẳng; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 22).
图 41
图 41
Hướng sang bên trái, chính quyền tay phải duỗi thẳng ra phía trước, quyền ngang tầm vai, lập chưởng tay trái đứng bên khuỷu tay phải; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 23).

Đệ thập thức: Như Phong Tự Bế (如封似閉, “Như phong như bế”) (Hình 25–27)

图 42
图 42
Hướng sang bên trái, chính quyền tay phải duỗi thẳng ra phía trước; lập chưởng tay trái áp vào phía ngoài cánh tay phải, dừng ngay trước khuỷu tay phải; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 24).
图 43
图 43
Hướng sang bên trái, hai cánh tay co khuỷu thu về trước ngực, chính quyền tay phải ở trước, lòng quyền hướng lên trên, lập chưởng tay trái úp trên quyền phải; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 25).

Động tác một: Từ thức trên (Hình 24), cánh tay phải hơi nâng lên và hơi co về phía bên trái, vẫn là chính quyền; đồng thời tay trái từ dưới cánh tay phải chuyển sang phía ngoài cánh tay phải, vẫn là lập chưởng, nhưng hướng lòng bàn tay ngược với trước; thân thể và bộ pháp đều giống như thức trên, như Hình 25.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 25), cánh tay phải tiếp tục co về phía bên trái, quyền phải theo thế mở ra, biến thành tà hình lập chưởng, đầu ngón tay hướng bắc; tay trái theo cánh tay phải dịch về phía trước cũng biến thành tà hình lập chưởng, đầu ngón tay hướng nam; lúc này hai tiểu tí đã thành hình bắt chéo (như ×), lập tức tách ra sang hai bên, hai tiểu tí dựng thẳng lên thành thức song song, hai khuỷu chìm xuống, hai tay tà hình lập chưởng biến thành chính hình lập chưởng, ngón tay hướng lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong. Trong khi biến đổi thủ pháp, nhân thế ngồi thân thể xuống chân phải, chân trái hơi thu về, biến thành hư bộ; thân thể và đường nhìn vẫn hướng chính đông, như Hình 26 (hình này để nhìn rõ hai tay nên khi chụp hơi nghiêng).

图 44
图 44
Hướng sang bên trái, hai cánh tay co khuỷu ngang trước ngực, hai tay đều là tà hình lập chưởng, đầu ngón tay lần lượt hướng bắc và hướng nam, hai tiểu tí bắt chéo thành hình “×”; chân trái ở trước co gối, bàn chân phải ở trước, bàn chân trái ở sau; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 26).
图 45
图 45
Hướng sang bên trái, hai tiểu tí dựng thẳng lên thành thức song song, hai khuỷu chìm xuống, hai tay đều là chính hình lập chưởng, ngón tay hướng lên trên, lòng bàn tay hướng vào trong; thân thể ngồi xuống chân phải, chân trái hơi thu về thành hư bộ; thân thể và đường nhìn vẫn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 27).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 26), hai tay chuyển thành lòng bàn tay đối nhau, rồi chuyển thành lòng bàn tay hướng ra ngoài, sau đó từ từ đẩy ra phía trước song song (đột chưởng), hai cánh tay duỗi thẳng vẫn là lập chưởng, lòng bàn tay hướng đông; trong khi hai chưởng đẩy về phía trước, nhân thế bước lên, trở lại thành cung bộ như ban đầu, phương hướng vẫn là chính đông, như Hình 27 (hình này cũng hơi nghiêng, lý do như trên).

Đệ thập nhất thức: Thập Tự Thủ (十字手, “Thập tự thủ”) (Hình 28–30)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 27), hai cánh tay vẫn duỗi thẳng hạ xuống, hai chưởng trước tiên xoa ra sau, đến khi hai cánh tay thẳng đứng thì đặt trước gối trái biến thành phủ chưởng, đầu ngón tay hướng về trước; bộ pháp giống như thức trên, phương hướng vẫn là chính đông, như Hình 28.

图 46
图 46
Hướng sang bên trái, hai cánh tay buông xuống với hai chưởng là phủ chưởng đặt trước gối trái, đầu ngón tay hướng về trước; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 28).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 28), hai tay từ từ tách ra hai bên gối trái; đồng thời, hai mũi chân xoay về hướng chính nam (mũi chân trái cũng có thể không xoay, vì là động tác liên tục, theo thế liền phải sát bộ); co chân phải, biến thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng, thân thể xoay về hướng chính nam; lúc này, hai tay vẫn tiếp tục tách ra, từ từ từ dưới lên trên, ngang tầm vai, tay phải hơi cao, tay trái hơi thấp, đều là trắc chưởng, lòng bàn tay hướng về trước, mắt nhìn phía trước bên trái (nếu đặt trọng điểm ở tay phải, cũng có thể theo tay phải mà xoay đầu, mắt nhìn phía trước bên phải, đến động tác sau lại xoay về phía trước), như Hình 29.

图 47
图 47
Hướng sang bên trái, hai trắc chưởng giơ ngang ra phía trước, ngang tầm vai, tay phải hơi cao, tay trái hơi thấp; chân trái ở trước duỗi thẳng, chân phải ở sau co gối thành cung bộ; thân thể xoay về hướng chính nam (sách đánh số là 圖 29).
图 48
图 48
Hướng sang bên trái, hai tay giơ lên quá đầu rồi từ trên xuống dưới khép vào trong bắt chéo trước ngực, tay phải ở ngoài, tay trái ở trong, đều là lập chưởng, lòng bàn tay phân biệt hướng sang hai bên (sách đánh số là 圖 30).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 29), hai tay giơ lên quá đầu, rồi từ trên xuống dưới khép vào trong thành hình bắt chéo, tay phải ở ngoài, tay trái ở trong, đều là lập chưởng, lòng bàn tay phân biệt hướng sang hai bên; đồng thời, chân trái bước lên song song với chân phải, thân thể và đường nhìn đều hướng chính nam, như Hình 30.

Đệ thập nhị thức: Bão Hổ Quy Sơn (抱虎归山, “Ôm hổ về núi”) (Hình 31–32)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 30), hơi thu thân về phía bên phải, đặt trọng lượng thân thể lên chân phải; chân trái lập tức bước ra một bước về phía trước bên trái, hai mũi chân đều xoay về hướng đông nam, chân trái thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; đồng thời, tay trái hạ xuống vén qua gối trái, đặt bên hông trái, thành phủ chưởng, đầu ngón tay hướng về trước; tay phải nhân thế đẩy ra về hướng đông nam, chuyển thành chính chưởng; thân thể và đường nhìn đều hướng đông nam, như Hình 31 (thức giống Hình 16, nhưng phương hướng khác).

图 49
图 49
Hướng về phía trước bên trái, tay trái là phủ chưởng hạ xuống bên hông trái, đầu ngón tay hướng về trước, tay phải là chính chưởng đẩy ra về hướng đông nam; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng đông nam (sách đánh số là 圖 31).
图 50
图 50
Hướng về phía trước bên phải, tay phải là phủ chưởng hạ xuống bên hông phải, đầu ngón tay hướng về trước, tay trái là trắc chưởng từ dưới lên trên đặt bên má trái, đầu ngón tay hướng về trước; chân phải ở trước co gối thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng tây bắc (sách đánh số là 圖 32).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 31), hơi thu thân về phía bên trái, để chân trái gánh trọng lượng thân thể, tùy thời xoay mũi chân về hướng tây bắc; đồng thời nhấc chân phải xoay thân về hướng tây bắc, đặt chân xuống phía tây bắc của bàn chân trái, mũi chân hướng tây bắc, thành cung bộ, chân trái nhân thế duỗi thẳng; trong khi xoay thân, tay phải hạ xuống, vén qua gối phải rồi đặt bên hông phải, biến thành phủ chưởng, đầu ngón tay hướng tây bắc; tay trái từ dưới lên trên đặt bên má trái thành trắc chưởng, đầu ngón tay hướng tây bắc; xoay tiểu tí, từ từ đẩy ra phía trước (tây bắc), đến khi cánh tay duỗi thẳng thì biến thành chính chưởng, lòng bàn tay hướng tây bắc; thân thể và đường nhìn cùng hướng với chưởng trái, như Hình 32. Thế này trước đây được gọi là chính phản lâu tất ảo bộ, nay coi như một động tác tác liên tục và gọi là bão hổ quy sơn (xin tham khảo chương tên các thức quyền). Lại nữa, về phương hướng dùng ở trên, động tác một là hướng đông nam, động tác hai là hướng tây bắc; trước đây cũng dùng hướng chính nam và chính bắc, người học có thể tùy nghi.

Đệ thập tam thức: Lãm Tước Vĩ (攬雀尾, “Nắm đuôi chim sẻ”) (lược hình)

Thức này là thức lặp lại, từ thức trên (Hình 32) thu tay trái về trước ngực, tay phải từ dưới lên trên đặt lên trên tay trái, như Hình 3, nhưng phương hướng là hướng tây bắc chứ không phải chính tây; sau đó tiếp tục làm các động tác Hình 4, Hình 5, Hình 6; thân thể và đường nhìn đều hướng tây bắc.

Đệ thập tứ thức: Tà Đan Tiên (斜單鞭, “Đan tiên xiên”) (Hình 33)

Thức này cũng là thức lặp lại, có thể từ Hình 6 tiếp làm các thức Hình 7, Hình 8, nhưng phải để thân hướng tây nam, mắt nhìn chính nam, như Hình 33 (ảnh này góc nghiêng về tây nam chưa đủ, cho nên góc thân hướng tây nam và mắt nhìn chính nam cũng chưa đủ; khi luyện tập xin chú ý).

图 51
图 51
Hướng sang bên phải, hai cánh tay co khuỷu thu về trước ngực, tay trái ở trên, tay phải ở dưới; hai chân bắt chéo co gối, mũi chân phải chấm đất; thân thể hơi nghiêng về hướng tây nam — tư thế quá độ của Tà Đan Tiên (sách đánh số là 圖 33).

Đệ thập ngũ thức: Trửu Để Khán Chùy (肘底看捶, “Xem quyền dưới khuỷu”) (Hình 34–35)

Động tác một: Từ thức trên (như Hình 33, thân hướng tây nam), trước tiên thu thân về phía bên trái, để chân trái gánh trọng lượng thân thể, tùy thời xoay mũi chân trái về hướng chính đông, cong chân về phía trước; đồng thời duỗi chân phải, theo đường cong dịch về phía nam đặt ở góc tây nam phía sau bàn chân trái (như trong hình), khiến thân thể xoay về hướng chính đông. Trong khi xoay thân, tay phải mở bàn tay nắm ra, hai cánh tay duỗi thẳng cổ tay và cẳng tay, dịch ngang về phía bên trái; khi dịch ngang, tay trái hơi chậm, tay phải hơi nhanh, đều là phủ chưởng; đến khi ngón tay hướng đông, hai cánh tay thành thức song song; mắt nhìn chính đông, như Hình 34. Động tác hai: Từ thức trên (Hình 34), nhân khi hai cánh tay vừa song song lập tức rút thân ngồi xuống chân phải, và thu chân trái về nửa bước biến thành hư bộ; đồng thời hai tay từ từ nắm quyền, co cánh tay trái chìm khuỷu, khiến quyền dựng lên thành lập quyền, hổ khẩu hướng vào trong; một mặt thu quyền phải về trước ngực đặt dưới khuỷu trái thành chính quyền; phương hướng không đổi, như Hình 35.

图 52
图 52
Hướng sang bên trái, hai cánh tay duỗi thẳng cổ tay và cẳng tay, hai tay đều là phủ chưởng, ngón tay hướng đông, hai cánh tay thành thức song song; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 34).
图 53
图 53
Hướng sang bên trái, cánh tay trái co khuỷu chìm khuỷu, quyền trái dựng lên thành trắc lập quyền, hổ khẩu hướng vào trong; quyền phải thu về trước ngực dưới khuỷu trái thành chính quyền; chân phải ở sau, chân trái ở trước thu về nửa bước thành hư bộ; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 35).

Đệ thập lục thức: Đảo Lâu Hầu (倒摟猴, “Lùi vén khỉ”) (Hình 36–37)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 35), nghiêng thân về phía trước, chân trái nhân thế dịch về phía trước nửa bước nhỏ, lập tức co chân biến thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; đồng thời quyền trái mở ra hạ xuống phía trước một chút biến thành ngưỡng chưởng, quyền phải vẫn ở dưới khuỷu trái; phương hướng không đổi, như Hình 36.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 36), tay trái theo đường cong dịch ngang về phía sau bên trái, từ từ co khuỷu, biến ngưỡng chưởng thành trắc chưởng, đặt bên má trái (như tay trái của Hình 17); quyền phải mở ra biến thành phủ chưởng (như tay phải của Hình 17); đồng thời co chân phải, biến cung bộ chân trái thành hư bộ (như bộ thức của Hình 13), đặt trọng lượng thân thể lên chân phải; sau đó nhấc chân trái lùi lại một bước rưỡi, biến thành cung bộ co chân phải (cung bộ ban đầu là co chân trái); trong khi lùi bước, tay phải làm thế vén xuống đặt bên hông phải, vẫn thành phủ chưởng; tay trái từ bên má trái từ từ duỗi ra phía trước, vừa duỗi vừa xoay tiểu tí, đến điểm tận cùng thì biến thành chính chưởng; phương hướng không đổi, như Hình 37. Đây là đảo lâu hầu thứ nhất. Động tác ba: Từ thức trên (Hình 37), co chân trái ngồi thân xuống, chân phải từ cung bộ biến thành hư bộ (như bộ thức của Hình 17); đồng thời theo động tác của Hình 13, tay trái hạ xuống biến thành phủ chưởng, chưởng phải nâng đặt bên má phải, biến thành trắc chưởng; sau đó nhấc chân phải lùi lại một bước rưỡi, lại biến thành cung bộ co chân trái; một mặt tay trái làm thế vén xuống, đặt bên hông trái, vẫn là phủ chưởng; tay phải từ bên má phải từ từ duỗi ra phía trước, xoay tiểu tí biến thành chính chưởng; phương hướng không đổi, lược hình (có thể tham khảo tư thế của Hình 14). Đây là đảo lâu hầu thứ hai.

图 54
图 54
Hướng sang bên phải, tay phải là trắc chưởng từ bên má phải từ từ duỗi ra phía trước, tay trái là phủ chưởng đặt bên hông trái; chân trái ở sau co gối thành cung bộ, chân phải ở trước duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 36).
图 55
图 55
Hướng sang bên phải, tay phải từ bên má phải duỗi ra phía trước thành chính chưởng, cánh tay duỗi thẳng, tay trái là phủ chưởng đặt bên hông trái; chân phải ở trước co gối thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 37).

Động tác bốn: Từ thức trên (giống Hình 14), trước tiên theo Hình 17 tiếp làm động tác hạ chưởng phải nâng chưởng trái, rồi biến cung bộ thành hư bộ, như bộ thức của Hình 13; sau đó nhấc chân trái lùi lại một bước rưỡi, lại biến hư bộ thành cung bộ; đồng thời hai tay tiếp làm động tác của Hình 18, trở về thức của Hình 37; phương hướng vẫn là chính đông. Đây là đảo lâu hầu thứ ba.

Đảo lâu hầu là thức lùi của lâu tất ảo bộ; trước khi lùi là hư bộ thức của ảo bộ, sau khi lùi thì biến thành cung bộ thức của ảo bộ; đây là chỗ khác với lâu tất ảo bộ, các động tác khác có thể tham khảo đồ giải của lâu tất ảo bộ. Lại nữa, sách khác có khi lấy Hình 35 làm động tác cuối cùng của trửu để khán chùy, sách này vẫn theo truyền thụ cũ lấy nó làm động tác thứ nhất của đảo lâu hầu.

Đệ thập thất thức: Tà Phi Thế (斜飞势, “Thế bay xiên”) (Hình 38–39) Động tác một: Từ thức trên (Hình 37), bộ chân không đổi, hơi nghiêng thân về phía bên phải; đồng thời tay trái xoay bả vai chìm khuỷu, chuyển chính chưởng thành ngưỡng chưởng, thân thể nhân thế hơi nghiêng về phía trước, tay phải vẫn ở bên hông; mắt nhìn chính đông, như Hình 38.

图 56
图 56
Hướng sang bên trái, tay trái là ngưỡng chưởng duỗi ra phía trước bên trái, cổ tay hơi cong, tay phải vẫn ở bên hông; hai chân đứng trước sau, thân thể hơi nghiêng về phía trước; mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 38).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 38), chân trái từ sau bước ra phía trước một bước lớn về phía trước bên trái của bàn chân phải, mũi chân xoay về hướng đông nam, co chân thành cung bộ, chân phải nhân thế duỗi thẳng, mũi chân xoay về hướng chính nam; đồng thời tay trái duỗi ra phía bên trái, vẫn là ngưỡng chưởng; chưởng phải ấn xuống về hướng tây nam, hô ứng với sự duỗi ra của tay trái; thân thể nghiêng về hướng nam, mắt nhìn mu bàn tay phải, như Hình 39.

图 57
图 57
Hướng sang bên trái, chân trái duỗi ra phía trước bên trái thành cung bộ, tay trái là ngưỡng chưởng duỗi ngang về phía bên trái, chưởng phải ấn xuống về hướng tây nam; chân phải ở sau duỗi thẳng, mũi chân hướng chính nam; thân thể nghiêng về hướng nam, mắt nhìn mu bàn tay phải (sách đánh số là 圖 39).

Đệ thập bát thức: Đề Thủ Thượng Thế (提手上势, “Nâng tay lên thế”) (Hình 40)

Thức này là thức lặp lại, hai tay khép về trước ngực giống động tác thứ nhất của đệ ngũ thức, nhưng hai chân từ cung bộ co chân trái trực tiếp biến thành cung bộ co chân phải, khác với hư bộ của đệ ngũ thức; mặt hướng chính nam, như Hình 40. Trở xuống, chân trái bước lên sát lại thành bộ song song, tay phải nâng lên, tay trái ấn xuống, đều giống động tác của Hình 10, xin tham khảo đồ giải của hình ấy.

图 58
图 58
Hướng về phía độc giả, hai tay khép trước ngực thành hình bắt chéo, tay phải ở ngoài, tay trái ở trong; hai chân tách sang hai bên co gối ngồi xổm thành mã thức; mặt hướng chính nam (sách đánh số là 圖 40).

Đệ thập cửu thức: Bạch Hạc Lượng Sí (白鶴亮翅, “Bạch hạc xòe cánh”) (lược hình)

Thức này là thức lặp lại, có thể từ thức của Hình 10 tiếp làm hai động tác của Hình 11 và Hình 12, đồ giải lược bỏ.

Đệ nhị thập thức: Lâu Tất Ảo Bộ (摟膝拗步, “Lâu tất ảo bộ”) (lược hình)

Thức này là thức lặp lại, từ thức của Hình 12, chỉ cần tiếp làm hai động tác của Hình 13 và Hình 14, đồ giải lược bỏ.

Đệ nhị thập nhất thức: Hải Để Châm (海底针, “Kim đáy biển”) (Hình 41–42)

Động tác một: Từ thức trên (như Hình 14) tiếp làm động tác của Hình 15, mặt hướng chính đông, như Hình 41.

图 59
图 59
Hướng sang bên trái, hai cánh tay co khuỷu, hai tay lập chưởng bắt chéo trước ngực, đầu ngón tay hướng lên trên; chân trái ở trước, chân phải ở sau; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 41).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 41), tay phải từ lập chưởng hạ xuống thành thùy chưởng (lòng bàn tay hướng bắc) chúc xuống phía trước xiên; tay trái nhân thế hạ xuống đặt bên khuỷu phải, biến thành trắc chưởng (lòng bàn tay hướng nam); đồng thời, chân trái chuyển thành mũi chân chấm đất, hai chân theo thế tay phải chúc xuống mà hơi cong xuống, thân thể hơi nghiêng về phía trước (không được cúi đầu), mắt nhìn ngang về hướng đông, như Hình 42. Thức này khi nghiêng thân dễ cúi đầu nhất; để tránh tật ấy, cũng có thể dùng tư thế thẳng thân chúc xuống.

图 60
图 60
Hướng về phía trước bên trái, tay phải là thùy chưởng chúc xuống phía trước dưới theo đường xiên, tay trái là trắc chưởng đặt bên khuỷu phải; chân trái lấy mũi chân chấm đất, hai chân hơi cong xuống, thân thể hơi nghiêng về phía trước, mắt nhìn ngang về hướng đông (sách in sai hình này thành 圖 43; theo thứ tự phải là 圖 42).

Đệ nhị thập nhị thức: Phiến Thông Bối (扇通背, “Quạt thông lưng”) (Hình 43–44)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 42), chân trái bước ra về hướng đông biến thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; đồng thời hai cánh tay theo nguyên trạng nâng lên, cánh tay phải cùng vai thành một đường thẳng, chưởng trái vẫn ở bên khuỷu phải, biến thành lập chưởng; phương hướng thân thể không đổi, mắt vẫn nhìn về hướng đông, như Hình 43.

图 61
图 61
Hướng sang bên trái, hai cánh tay nâng lên, cánh tay phải cùng vai thành một đường thẳng, duỗi ra phía trước lên trên, chưởng trái đứng bên khuỷu phải; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 43).
图 62
图 62
Hướng về phía độc giả, hai cánh tay tách ra sang hai bên, cánh tay trái duỗi thẳng, chưởng trái là lập chưởng lòng bàn tay hướng ra ngoài, cánh tay phải co lại, chưởng phải thu về bên trán phải thành phản chưởng; hai chân tách ra co gối ngồi xổm thành kỵ mã thức; mặt hướng đông nam, mắt nhìn mu bàn tay trái (sách đánh số là 圖 44).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 43), tay phải từ từ thu về, tay trái từ từ duỗi ra; đồng thời mũi chân trái xoay về hướng đông nam, mũi chân phải xoay về hướng tây nam, khiến thân thể xoay về hướng chính nam; đồng thời cánh tay trái duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, vẫn là lập chưởng; cánh tay phải co lại, lòng bàn tay thu về bên trán phải chuyển thành phản chưởng; lập tức nhân thế ngồi xổm chân làm kỵ mã thức, mặt hướng đông nam, mắt nhìn mu bàn tay trái, như Hình 44.

Đệ nhị thập tam thức: Phiết Thân Chùy (撇身捶, “Phiết thân chùy”) (Hình 45–46)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 44), mũi chân trái xoay về hướng tây nam, thân thể cũng xoay về hướng tây nam, trọng lượng thân thể dồn lên chân trái, chân phải là hư thối; đồng thời hai tay hạ xuống, nắm quyền đối nhau trước sườn trái, quyền phải ở trên, quyền trái ở dưới, đều là phủ quyền; mắt nhìn chính nam, như Hình 45.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 45), lập tức nhấc chân phải bước xuống về hướng tây bắc, biến thành cung bộ, mũi chân hướng tây, chân trái nhân thế duỗi thẳng, mũi chân cũng xoay thẳng về hướng tây, khiến thân thể xoay về hướng chính tây; đồng thời lật quyền phải từ phủ quyền thành ngưỡng quyền, và nhân thế rút về đặt bên sườn phải, vẫn là ngưỡng quyền; tay trái trước khi quyền phải lật thì biến thành ngưỡng quyền, đặt lên trên cổ tay phải, lập tức xoay cổ tay duỗi ra phía trước biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng bắc, đầu ngón tay hướng lên trên; cánh tay không được duỗi thẳng. Việc rút quyền phải về và việc duỗi tay trái ra phải đồng thời đến điểm tận cùng; thân thể lúc này cũng phải từ chính tây hơi nghiêng về hướng tây bắc (tức là phiết thân về bên phải); đường nhìn vẫn hướng chính tây, như Hình 46. Quyền phải của Hình 46 bị thân thể che khuất, không nhìn thấy được, có thể tham khảo hình chính diện của Hình 45, nhưng phương hướng phải là chính tây, chớ hiểu lầm.

图 63
图 63
Hướng sang bên trái, chân trái ở trước co gối thành cung bộ, mũi chân hướng tây, chân phải ở sau duỗi thẳng; ngưỡng quyền tay phải rút về đặt bên sườn phải, lập chưởng tay trái duỗi ra phía trên cổ tay phải, lòng bàn tay hướng bắc (sách đánh số là 圖 45).
图 64
图 64
Hướng sang bên trái, ngưỡng quyền tay phải thu về bên sườn phải, lập chưởng tay trái duỗi ra phía trước, lòng bàn tay hướng bắc; hai cánh tay co lại, mũi chân trái hướng tây thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng, thân thể hơi nghiêng về hướng tây bắc (sách đánh số là 圖 46).
图 65
图 65
Hướng về phía độc giả, đây là hình chính diện của Hình 46: ngưỡng quyền tay phải thu về bên sườn phải, lập chưởng tay trái duỗi ra phía trước, lòng bàn tay hướng bắc; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng, thân thể hướng chính tây (sách in là 圖 46 正面圖).

Đệ nhị thập tứ thức: Tá Bộ Ban Lan Chùy (卸步搬拦捶, “Tá bộ ban lan chùy”) (Hình 47–49)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 46), hai tay duỗi ra phía trước, tay trái vẫn là lập chưởng, đầu ngón tay hơi hướng về phía trước, quyền phải từ ngưỡng quyền duỗi thành chính quyền; hai tay lại hơi thu về, nhân thế co chân trái, biến cung bộ thức thành hư bộ thức; phương hướng vẫn là chính tây, như Hình 47. Động tác hai: Từ thức trên (Hình 47), nhân thế dư của việc cung bộ biến thành hư bộ, nhấc chân phải lùi lại một bước lớn, và nhân thế co chân phải, biến thành hư bộ thức với chân trái ở trước; đồng thời thu quyền phải về vẫn đặt bên sườn phải, thành chính quyền thức; phương hướng không đổi, như Hình 48.

图 66
图 66
Hướng sang bên trái, quyền phải thu về bên sườn phải, hai tay đều là lập chưởng, đầu ngón tay hướng lên trên; chân trái ở trước, lấy mũi chân chấm đất thành hư bộ, chân phải ở sau co gối; phương hướng chính tây (sách đánh số là 圖 47).
图 67
图 67
Hướng sang bên trái, quyền phải thu về bên sườn phải, lập chưởng tay trái ở trước; hư bộ thức với chân trái ở trước, hai chân hơi co; thân thể hướng chính tây (sách đánh số là 圖 48).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 48), quyền phải từ bên sườn duỗi ngang ra phía trước, vẫn là chính quyền; tay trái thu vào trong, đặt bên khuỷu phải, vẫn là lập chưởng; trong khi duỗi quyền, thân thể dịch về phía trước, chân trái nhân thế lên nửa bước, co chân trái, biến hư bộ thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; phương hướng không đổi, mắt nhìn chính tây, như Hình 49.

图 68
图 68
Hướng sang bên trái, quyền phải từ bên sườn duỗi ngang ra phía trước thành chính quyền, lập chưởng tay trái đặt bên khuỷu phải; chân trái ở trước co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính tây (sách đánh số là 圖 49).

Đệ nhị thập ngũ thức: Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ (上步攬雀尾, “Lên bước nắm đuôi chim sẻ”) (Hình 50)

Thức này là thức lặp lại, từ thức trên (Hình 49) quyền phải mở ra (hình dáng giống Hình 3), hai tay tiếp làm động tác của Hình 4, nhân thế ngồi xuống chân phải, biến cung bộ thành hư bộ, như Hình 50; lại tiếp làm động tác duỗi cánh tay của Hình 5, nhân thế nhấc chân phải bước lên phía trước một bước lớn, co chân biến thành cung bộ, hoàn toàn giống thức của Hình 5; đây là “thượng bộ” của thức này. Trở xuống lại tiếp làm động tác của Hình 6 甲 và Hình 6 乙, để hoàn thành lãm tước … toàn thức của vĩ; phần thuyết minh ở đây lược bớt.

Đệ nhị thập lục thức: Đan Tiên (單鞭, “Roi đơn”) (Hình 51)

Thức này cũng là thức lặp lại, từ Hình 6 乙 có thể tiếp làm thức của Hình 7, Hình 8; khi hoàn thành, như Hình 51 (lúc này thân thể đã nghiêng về hướng đông nam).

图 69
图 69
Hướng sang bên phải, hai tay duỗi ra phía trước, đầu ngón tay hướng lên trên theo hướng xiên; chân phải ở trước co gối thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng; phương hướng nghiêng về đông nam (sách đánh số là 圖 50).
图 70
图 70
Hướng ra chính diện, hai cánh tay dang ngang sang trái phải, hai tay đều là lập chưởng, đầu ngón tay hướng lên; hai chân co gối thành mã bộ thức, thân thể hướng chính nam, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 51).

Đệ nhị thập thất thức: Vân Thủ (云手, “Tay mây”) (Hình 52—Hình 53)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 51) chân phải không động, mũi chân trái xoay về hướng nam, nhân thế duỗi chân trái, biến chân phải thành cung bộ; đồng thời, cánh tay trái buông thẳng xuống, vung ngược lên sang bên phải, đặt dưới cổ tay phải và biến thành ngưỡng chưởng, tay phải mở nắm ra, các ngón tay hướng lên trên, biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng tây nam; thân thể hơi chuyển sang phải, mắt nhìn chính nam, như Hình 52.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 52) co khuỷu trái, dựng cẳng tay lên trên, ngưỡng chưởng tay trái biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng vào trong, từ từ di chuyển sang trái; khi chuyển thành lòng bàn tay hướng ra ngoài thì duỗi thẳng cánh tay, lòng bàn tay hướng đông (người chuyển eo ít hơn có thể hướng đông nam); đồng thời cánh tay phải từ thế buông thẳng, chuyển sang vung ngược lên phía trái, đặt dưới cổ tay trái, biến thành ngưỡng chưởng; hai tay phải đồng thời tới điểm cuối; trong khi vân thủ, mũi hai chân đều xoay về hướng đông nam (người chuyển eo ít hơn có thể chỉ xoay mũi chân trái; nếu chuyển eo nhiều hơn, mũi chân trái có thể nghiêng về hướng đông), nhân thế xoay eo sang trái, co chân trái, duỗi chân phải, biến chân trái thành cung bộ, thân thể nghiêng về chính đông, mắt nhìn đông nam, như Hình 53. Đây là vân thủ thứ nhất. … chính đông, mắt nhìn đông nam, như Hình 53. Đây là vân thủ thứ nhất.

图 71
图 71
Hướng ra chính diện, cánh tay trái co khuỷu dựng đứng, lập chưởng ở trước, cánh tay phải vung ngược lên dưới, ngưỡng chưởng đặt dưới cổ tay trái; hai chân co gối thành cung bộ thức, thân thể nghiêng về đông nam (sách đánh số là 圖 52).
图 72
图 72
Hướng ra chính diện, lập chưởng tay trái đẩy sang bên trái, lòng bàn tay hướng ra ngoài, cánh tay phải vung ngược lên dưới, ngưỡng chưởng đặt dưới cổ tay trái; chân trái co gối thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng, thân thể nghiêng về chính đông, mắt nhìn đông nam (sách đánh số là 圖 53).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 53) chân phải nhân thế bước sát vào hướng đông; sau khi bước sát, cánh tay trái buông thẳng xuống, cánh tay phải co khuỷu dựng lên, lặp lại động tác của Hình 52; đến khi hai tay sắp tới điểm cuối và thân thể hướng tây nam, chân trái bước ra một bước về hướng đông, chân trái duỗi thẳng, chân phải co, vẫn là cung bộ thức; mũi hai chân đều xoay về hướng tây nam, hình thức giống Hình 52, thân thể nghiêng về chính tây, mắt nhìn tây nam. Đây là vân thủ thứ hai.

Động tác bốn: Từ thức trên (như Hình 52) tiếp làm động tác chuyển Hình 52 thành Hình 53 (tức động tác hai), rồi tiếp làm toàn bộ “động tác ba”, trở về hình thức của Hình 52 (nếu chuyển eo nhiều hơn có thể dùng phương hướng của “động tác ba”), như Hình 54; đến đây đã làm xong vân thủ thứ ba.

图 73
图 73
Hướng ra chính diện, lập chưởng tay trái đẩy về phía dưới bên trái, lòng bàn tay hướng ra ngoài, cánh tay phải co khuỷu dựng đứng, lập chưởng ở dưới; hai chân co gối thành cung bộ thức, thân thể nghiêng về chính tây, mắt nhìn tây nam (sách đánh số là 圖 54).

Đệ nhị thập bát thức: Đan Tiên (單鞭, “Roi đơn”) (Hình 55)

Thức này là thức lặp lại, từ thức trên (Hình 54) tiếp làm động tác của Hình 8, phương hướng giống nhau, như Hình 55. Đệ nhị thập cửu thức: Cao Thám Mã (高探馬, “Ngựa cao dò thăm”) (Hình 56)

Thức này là thức chuyển từ hướng đông nam sang chính đông; từ thức trên (Hình 55) mũi chân phải xoay về chính đông, nhân thế xoay người sang trái, ngồi xuống trên chân phải; sau đó thu chân trái về hơn nửa bước, biến thành hư bộ lấy mũi chân chấm đất, mũi chân cũng hướng chính đông; đồng thời buông cánh tay trái, co khuỷu, đầu khuỷu áp sát sườn trái, tay trái ngang với cẳng tay, biến thành ngưỡng chưởng, đầu ngón tay hướng đông; tay phải mở nắm ra, theo động tác xoay người thu về trước ngực, tiếp tục duỗi ra phía trước bên trái, đặt ở phía trên bên phải cổ tay trái, thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng bắc, mắt nhìn chính đông, như Hình 56. Thức này vì hai tay nghiêng về bên trái, có người gọi là tả cao thám mã; nguyên trước kia không thêm chữ “tả”.

图 74
图 74
Hướng ra chính diện, hai cánh tay dang ngang sang trái phải, hai tay đều là lập chưởng, đầu ngón tay hướng lên; hai chân co gối thành mã bộ thức, thân thể hướng chính nam, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 55).
图 75
图 75
Hướng sang bên phải, tay trái co khuỷu ở trước, ngưỡng chưởng, đầu ngón tay hướng đông, lập chưởng tay phải đặt ở phía trên bên phải cổ tay trái; chân phải co gối ngồi xuống, mũi chân trái chấm đất thành hư bộ, thân thể hướng chính đông, mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 56).

Đệ tam thập thức: Tả Hữu Phân Cước (左右分脚, “Tách chân trái phải”) (Hình 57—Hình 60)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 56) tay phải duỗi ra phía trước, đến khi tay và cánh tay duỗi thẳng thành phủ chưởng thì tiếp tục dịch ngang sang bên phải; đến khi đầu ngón tay hướng đông nam, cánh tay buông xuống rồi co khuỷu vung ngược lên biến thành ngưỡng chưởng, đặt dưới cổ tay trái, đầu ngón tay hướng đông bắc; tay trái theo phương hướng xoay của tay phải vẽ nửa vòng tròn trước ngực, chuyển ngưỡng chưởng thành phủ chưởng, đặt trên cổ tay phải (như đường vẽ trong hình), đầu ngón tay hướng đông nam; hai cổ tay trong áp vào nhau thành hình chữ thập; đồng thời chân trái bước ra hơn nửa bước biến thành cung bộ, nhân thế xoay người sang bên trái; trong khi xoay người, hai tay nắm quyền giơ lên đặt trước trán trái, hai cổ tay trong áp vào nhau thành hình chữ thập, đều là lập quyền, quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài, mắt nhìn hướng đông, như Hình 57. … hai tay nắm quyền giơ lên đặt trước trán trái, hai cổ tay trong áp vào nhau thành hình chữ thập, đều là lập quyền, quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài, mắt nhìn hướng đông, như Hình 57.

图 76
图 76
Hướng sang bên trái, xoay người sang trái, hai tay nắm quyền giơ lên bắt chéo trước trán trái, quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài, đều là lập quyền; hai chân co gối thành cung bộ, thân thể nghiêng về đông nam (sách đánh số là 圖 57).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 57), trong khi hai quyền giơ lên, nhân thế nhấc chân phải, lập tức đá về hướng đông nam, cao ngang hông, mu bàn chân ngang với chân, chân trái duỗi thẳng; đồng thời hai quyền tách ra biến thành chưởng, từ trên xuống dưới, tay phải buông về hướng đông nam, tay trái buông về bên trái, đều là trắc chưởng, hai cánh tay duỗi thẳng ngang với vai, thân hướng chính đông, mắt nhìn đông nam, như Hình 58. (Trong hình cần lộ mông trái ra nên phương hướng hơi lệch)

图 77
图 77
Hướng sang bên trái, chân phải nhấc lên đá về hướng đông nam, mu bàn chân ngang với chân; hai tay tách ra biến thành trắc chưởng, tay phải duỗi về hướng đông nam, tay trái duỗi về bên trái, hai cánh tay ngang với vai; chân trái duỗi thẳng đứng, thân hướng chính đông, mắt nhìn đông nam (sách đánh số là 圖 58).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 58) sau khi đá thì lập tức bước chân xuống phía trước thành cung bộ, mũi chân hướng đông; đồng thời hai tay thu về, trước ngực phải làm thành hình thức lập chưởng tay trái, ngưỡng chưởng tay phải (tức thức hữu cao thám mã), thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, như Hình 59.

Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 59) hai tay vẽ vòng sang bên trái, chuyển thành ngưỡng chưởng tay trái (ở dưới), phủ chưởng tay phải (ở trên), hai cổ tay áp vào nhau thành hình chữ thập; sau đó lập tức nắm quyền giơ lên, đặt trước trán phải, hai cổ tay trong áp vào nhau thành hình chữ thập, đều là lập quyền, quyền trái ở ngoài, quyền phải ở trong; đồng thời xoay người sang bên phải, mắt nhìn chính đông, hình dáng giống Hình 57; nhưng Hình 57 là thức xoay người sang trái, còn đây là thức xoay người sang phải, tay chân đều phải đổi trái phải, xin tham khảo thuyết minh của “động tác một”, hình lược bớt. … tay chân đều phải đổi trái phải, xin tham khảo thuyết minh của “động tác một”, hình lược bớt.

图 78
图 78
Hướng sang bên phải, ngưỡng chưởng tay trái ở dưới, phủ chưởng tay phải ở trên, hai cổ tay áp vào nhau thành hình chữ thập, đầu ngón tay hướng đông nam; chân phải co gối ở dưới, chân trái duỗi thẳng ở sau; thân thể hướng chính đông, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 59).
图 79
图 79
Hướng sang bên trái, chân trái nhấc lên đá về hướng đông bắc, mu bàn chân ngang với chân; hai quyền tách ra buông xuống biến thành trắc chưởng, tay trái buông về hướng đông bắc, tay phải buông về bên phải, hai cánh tay ngang với vai; chân phải duỗi thẳng đứng, thân hướng chính đông, mắt nhìn đông bắc (sách đánh số là 圖 60).

Động tác năm: Từ thức trên (thức xoay người sang phải, ngược với Hình 57), trong khi hai quyền giơ lên, nhân thế nhấc chân trái, lập tức đá về hướng đông bắc (chân phải từ co biến thành hơi thẳng); đồng thời hai quyền tách ra buông xuống, tay trái buông về hướng đông bắc, tay phải buông về bên phải, đều là trắc chưởng, hai cánh tay duỗi thẳng, ngang với vai, thân hướng chính đông, mắt nhìn đông bắc, như Hình 60 (Hình 58 là hữu phân cước, Hình 60 là tả phân cước).

Thức này là động tác hai chân trái phải đá liên tiếp; thức hữu cao thám mã ở giữa, sau khi luyện thuần thục có thể giản lược, tức là từ Hình 58 buông xuống thành cung bộ rồi trực tiếp nắm quyền áp vào nhau, giơ lên trên trán phải, tiếp làm động tác của Hình 60. Như vậy có thể làm cho động tác hai chân đá liên tiếp trái phải được chặt chẽ hơn; nguyên trước kia sau cao thám mã chỉ có tên gọi tả hữu phân cước, chính là lấy cách làm này làm căn cứ.

Đệ tam thập nhất thức: Chuyển Thân Đặng Cước (轉身蹬脚, “Xoay người đạp chân”) (Hình 61—Hình 62)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 60) hai tay co khuỷu thu về, nắm quyền giơ lên, đặt trước trán phải, quyền trái ở ngoài, quyền phải ở trong, đều là lập quyền; đồng thời co gối trái thành thức nhấc chân, cẳng chân buông xuống, mũi chân hướng xuống; sau đó xoay mũi chân phải về hướng tây bắc, thân thể cũng xoay về hướng tây bắc, mắt nhìn chính tây, như Hình 61. Động tác hai: Từ thức trên (Hình 61) lập tức đạp chân trái ra chính tây, mũi chân hơi vểnh vào trong; động tác hai tay giống động tác của Hình 60 nhưng ngược phương hướng, mắt nhìn chính tây, như Hình 62.

Các thức trên đây, trước khi đá chân hoặc đạp chân, đều có động tác nắm quyền giơ lên; xin ghi nhớ: hễ đá (đạp) chân trái thì bao giờ cũng là quyền trái ở ngoài, quyền phải ở trong; đá chân phải thì bao giờ cũng là quyền phải ở ngoài, quyền trái ở trong. Về sau còn có động tác đá chân, vẫn phải như vậy.

图 80
图 80
Hướng sang bên trái, hai tay nắm quyền bắt chéo giơ lên trước trán phải, quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài, đều là lập quyền; chân trái nhấc lên, cẳng chân buông xuống, mũi chân hướng xuống; thân thể và đường nhìn hướng chính tây (sách đánh số là 圖 61).
图 81
图 81
Hướng sang bên trái, chân trái đạp ra chính tây, mũi chân vểnh vào trong; hai tay tách ra buông xuống biến thành trắc chưởng, cánh tay trái duỗi ngang về chính tây, cánh tay phải duỗi ngang về chính đông, hai cánh tay ngang với vai; chân phải duỗi thẳng đứng, thân thể và đường nhìn hướng chính tây (sách đánh số là 圖 62).

Đệ tam thập nhị thức: Tiến Bộ Tài Chùy (进步栽捶, “Tiến bước trồng chùy”) (Hình 63—Hình 65)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 62) sau khi chân trái đạp ra thì lập tức buông xuống một bước ở phía trước bên trái chân phải, co chân thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; đồng thời tay trái buông xuống, lùa qua gối trái rồi đặt bên cạnh chân trái, cánh tay trái thẳng đứng, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải trước thu về bên má phải rồi đẩy ra phía trước, từ trắc chưởng chuyển thành chính chưởng, thân thể và đường nhìn đều hướng chính tây, như Hình 63. Động tác này giống động tác của Hình 14, nhưng ngược phương hướng; có thể tham khảo thuyết minh liên quan của Hình 14.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 63) chân phải bước lên buông xuống một bước ở phía trước bên phải chân trái, co chân thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng; đồng thời tay phải lùa qua gối phải, đặt bên cạnh chân phải, tay trái trước nâng lên bên má trái rồi đẩy ra phía trước; đều giống động tác của thức trên, … nhưng tay chân phải đổi trái phải, phương hướng không đổi, như Hình 64 (có thể tham khảo thêm thuyết minh của Hình 18 có phương hướng ngược lại).

图 82
图 82
Hướng sang bên phải, tay trái sau khi lùa qua gối trái thì buông xuống bên cạnh chân trái, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải trước thu về bên má phải rồi đẩy ra phía trước thành chính chưởng; chân trái co gối ở trước thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính tây (sách đánh số là 圖 63).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 64) chân trái bước lên một bước, trở về cung bộ thức của Hình 63; đồng thời tay trái sau khi lùa qua gối trái thì theo đường vòng cung từ bên trái chuyển lên trên đặt bên khuỷu phải, thành lập chưởng xiên; tay phải nắm quyền nâng lên bên má phải, lập tức đấm xuống phía dưới trước, thành đảo quyền, phải cùng lúc hoàn thành động tác với lập chưởng tay trái; thân thể hơi nghiêng về phía trước, mắt nhìn phía trước quyền phải, như Hình 65.

图 83
图 83
Hướng sang bên phải, tay trái sau khi lùa qua gối trái thì theo đường vòng cung chuyển đặt bên khuỷu phải thành lập chưởng xiên; tay phải nắm quyền thành đảo quyền đấm xuống phía dưới trước; chân trái co gối ở trước thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể hơi nghiêng về phía trước, mắt nhìn phía trước quyền phải (sách đánh số là 圖 64).

Hai động tác một hai trên đây, để tiện cho người mới học, nên đã minh họa riêng theo thức lâu tất ảo bộ; sau khi luyện thuần thục, nên làm thành thức lâu tất tiến bộ liên tục, lược bớt động tác đẩy ra phía trước của hai tay trái phải.

Đệ tam thập tam thức: Phiên Thân Phiết Thân Chùy (翻身撇身捶, “Lật người, phiết người, chùy”) (Hình 66)

图 84
图 84
Hướng sang bên phải, lập chưởng tay trái đặt trên khuỷu cánh tay phải, quyền phải đấm xuống phía dưới trước thành đảo quyền; chân phải co gối ở trước thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng, thân thể hơi nghiêng về phía trước (sách đánh số là 圖 65).
图 85
图 85
Hướng sang bên phải, lập chưởng tay phải đẩy ra phía trước, cánh tay trái co khuỷu, phủ chưởng thu về bên khuỷu phải; chân phải co gối ở trước thành cung bộ, chân trái ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 66).

Thức này là thức lặp lại; từ thức trên (Hình 65) quyền phải lật lên trên ra sau, biến thành ngưỡng quyền, thân thể cũng nhân thế xoay về phía sau; chân trái tại chỗ xoay mũi chân về chính đông, chân phải từ phía sau bên phải chân trái theo cùng việc xoay người chuyển đến phía trước bên phải chân trái, cách nhau một bước, thành cung bộ co chân phải; đồng thời tay trái trong khi quyền phải lật chùy vẫn đặt trên khuỷu cánh tay phải xoay cùng, trước biến thành phủ chưởng; khi quyền phải từ trước ngực rút về chuyển đặt bên sườn phải … bên sườn phải, đồng thời tay trái lại lữ ra phía trước biến thành lập chưởng, cánh tay hơi co, thân thể từ chính đông hơi xoay sang phải, mắt từ trên đầu ngón tay trái nhìn ngang ra phía trước (chính đông), như Hình 66 (xin tham khảo động tác của Hình 46 có phương hướng ngược lại).

Đệ tam thập tứ thức: Thượng Bộ Cao Thám Mã (上步高探馬, “Lên bước ngựa cao dò thăm”) (Hình 67)

Thức này cũng là thức lặp lại; thức trên (Hình 66) là cung bộ chân phải, nay chân trái bước lên biến thành cung bộ chân trái; đồng thời tay trái thu về sườn trái chuyển thành ngưỡng chưởng, đầu ngón tay hướng phía trước, quyền phải mở ra duỗi ra trước ngực, biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng bắc; thân thể và đường nhìn đều hướng đông, như Hình 67.

图 86
图 86
Hướng sang bên phải, ngưỡng chưởng tay trái thu về bên sườn trái, đầu ngón tay hướng phía trước, lập chưởng tay phải duỗi ở trước ngực; chân trái co gối thành cung bộ, chân phải ở sau duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 67).
图 87
图 87
Hướng sang bên trái, chân phải nhấc lên đá về hướng đông bắc, mu bàn chân ngang với chân; lập chưởng tay trái ở trước ngực, lập chưởng tay phải duỗi ở dưới cánh tay trái; chân trái duỗi thẳng đứng, thân hướng chính đông, mắt nhìn đông bắc (sách đánh số là 圖 68).

Đệ tam thập ngũ thức: Phiết Thân Đặng Cước (撇身蹬脚, “Phiết người đạp chân”) (Hình 68)

Thức này là thức lặp lại của Hình 57 và Hình 58, chỉ có điều sau khi đá chân thân thể phải hơi nghiêng về phía sau bên trái, để thức sau có thể nhân thế lùi bước; các thuyết minh khác lược bớt, tư thế đá chân như Hình 68.

图 88
图 88
Hướng sang bên phải, tay trái sau khi giơ lên thì theo đường parabol buông xuống phía dưới bên trái khuỷu phải thành lập chưởng xiên, cánh tay phải duỗi ngang xuống phía dưới bên phải; chân trái co gối ở trước thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng về phía sau; thân thể và đường nhìn hướng đông nam (sách đánh số là 圖 69).
图 89
图 89
Hướng sang bên phải, lập chưởng tay trái đặt bên khuỷu phải, lập chưởng tay phải duỗi ra phía trước bên phải; chân trái co gối ở trước, chân phải co gối quỳ ở phía sau chân trái thành giao xoa bộ thức (hình này chỉ để tham khảo, không phải chính pháp) (sách đánh số là 圖 65 的參考圖).

Đệ tam thập lục thức: Thoái Bộ Đả Hổ (退步打虎, “Lùi bước đánh hổ”) (Hình 69—Hình 73)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 68), chân phải nhân thế dư của việc thân thể nghiêng về phía sau bên trái mà buông xuống hướng tây bắc và duỗi thẳng, co chân trái thành cung bộ, cánh tay phải theo nguyên trạng duỗi về hướng đông nam không đổi; tay trái giơ lên, theo đường parabol buông xuống hướng đông nam, đặt ở phía dưới bên trái khuỷu phải, đều là lập chưởng; thân thể và đường nhìn đều hướng đông nam, như Hình 69. Động tác này, ban đầu dùng động tác nhảy, tức là khi chân phải buông xuống thì chân trái đá lên; về sau không dùng nhảy nữa mà đổi thành giao xoa bộ thức, tức là chân phải quỳ ở phía sau chân trái, như hình tham khảo của Hình 69; nay giao xoa bộ cũng đã lâu không dùng.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 69) hai tay không đổi, chân trái lùi lại một bước, co chân phải thành cung bộ, phương hướng vẫn là đông nam, như Hình 70.

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 70) tay phải từ trên xuống dưới theo đường vòng cung thu về trước ngực, nắm thành lập quyền, mu bàn quyền hướng ra ngoài; tay trái từ dưới lên trên theo đường vòng cung bên trái giơ lên trên trán trái, nắm thành phản quyền có hổ khẩu hướng xuống; hổ khẩu hai quyền trên dưới đối nhau; đồng thời, … co chân trái, thu chân phải về nửa bước, biến thành hư bộ lấy mũi chân chấm đất, thân thể xoay về chính đông, mắt nhìn phía trước, như Hình 71. Động tác này có hai cách làm là nhấc chân và không nhấc chân; nhấc chân rất khó làm, vì thức này phải lùi bước liên tục, chưa đứng vững đã phải nhấc chân, người mới học đều gặp khó khăn, nên ở đây dùng hư bộ thức để thân thể có thể đứng vững. Nếu muốn luyện thức nhấc chân, xin tham khảo hình chính diện của Hình 71.

图 90
图 90
Hướng sang bên phải, lập chưởng tay trái đặt ở phía dưới bên trái khuỷu phải, lập chưởng tay phải thu về trước ngực; chân phải co gối ở dưới, chân trái duỗi thẳng ở trước thành cung bộ; thân thể và đường nhìn hướng đông nam (sách đánh số là 圖 70).
图 91
图 91
Hướng sang bên phải, lập quyền tay phải thu về trước ngực, mu bàn quyền hướng ra ngoài, phản quyền tay trái giơ lên trên trán trái, hổ khẩu hướng xuống; chân phải co gối thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng; thân thể hướng chính đông, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 71).
图 92
图 92
Hướng ra chính diện, lập quyền tay phải nằm ngang trước ngực, phản quyền tay trái giơ lên trên trán trái; chân trái nhấc lên co gối, mũi chân hướng xuống, chân phải duỗi thẳng đứng; thân thể hướng chính đông (sách đánh số là 圖 71 正面圖).
图 93
图 93
Hướng sang bên phải, lập chưởng tay trái đẩy ra phía trước, phản quyền tay phải giơ lên trên đầu; chân phải nhấc lên đá về hướng đông nam, mu bàn chân ngang với chân, chân trái duỗi thẳng đứng; mắt nhìn đông nam (sách đánh số là 圖 72).

Đệ tam thập thất thức: Nhị Khởi Cước (二起脚, “Hai lần nhấc chân”) (Hình 72)

Thức này có hai cách đá; một cách hoàn toàn giống cách đá của Hình 58; một cách là Từ thức trên (Hình 71) chân phải trước hết nhấc lên hướng ra chính diện, rồi nhân thế dùng kiểu quét ngang đá ra bên phải; đồng thời hai tay chia đều sang trái phải, đều biến thành phủ chưởng, đầu ngón tay phải hướng đông nam, đầu ngón tay trái hướng đông bắc; thân hướng chính đông, mắt nhìn đông nam, như Hình 72.

Đệ tam thập bát thức: Song Phong Quán Nhĩ (双峰贯耳, “Hai đỉnh xuyên tai”) (Hình 73—Hình 74)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 72) chân phải nhân thế buông xuống phía trước thành cung bộ; đồng thời hai tay chuyển thành ngưỡng chưởng hội tụ trước ngực, rồi lập tức ấn xuống trước bụng chuyển thành phủ chưởng, đầu ngón tay đối nhau, hai cánh tay hơi co thành hình ôm vòng; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, như Hình 73 (hình này vì tiện chụp ảnh nên phương hướng hơi lệch về đông nam).

图 94
图 94
Hướng sang bên phải, hai tay chuyển thành ngưỡng chưởng hội tụ trước ngực, rồi lập tức ấn xuống trước bụng thành phủ chưởng, đầu ngón tay đối nhau, hai cánh tay hơi co thành hình ôm vòng; chân phải co gối thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 73).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 73) bộ pháp không đổi, hai tay chia sang trái phải lật lên trên, nhân thế nắm quyền, chia đặt trước hai trán thành lập quyền, hổ khẩu đối nhau, hai cánh tay hơi co, vẫn thành hình ôm vòng; phương hướng vẫn là chính đông, như Hình 74 (hai quyền trong hình ấy là tư thế khi hai tay từ dưới lên trên chưa giơ tới trước trán, nên thấp hơn hai quyền của hình chính diện. Hình chính diện vì góc chụp không hợp, hai quyền cũng hơi cao; khi luyện tập nên đặt thấp xuống một chút).

图 95
图 95
Hướng sang bên phải, hai tay nắm quyền chia đặt trước hai trán thành hình ôm vòng, hổ khẩu đối nhau; chân trái co gối thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng; thân thể và đường nhìn hướng chính đông (sách đánh số là 圖 74).
图 96
图 96
Hướng ra chính diện, hai tay nắm quyền chia đặt trước hai trán thành hình ôm vòng, hổ khẩu đối nhau, đều là lập quyền; hai chân co gối thành cung bộ thức, thân thể hướng chính đông, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 74 正面圖).

Đệ tam thập cửu thức: Phiên Thân Nhị Khởi Cước (翻身二起脚, “Lật người hai lần nhấc chân”) (Hình 75—Hình 78)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 74) quỳ chân trái, cung chân phải, xoay người sang phải, hai chân thành giao xoa bộ; hai lập quyền cũng nhân thế bắt chéo đặt trước má phải, quyền trái ở ngoài, quyền … phải ở trong; hai cổ tay trong giao nhau, lòng quyền trái hướng vào trong, lòng quyền phải hướng ra ngoài; thân thể nghiêng về đông nam, mắt nhìn chính đông, như Hình 75.

图 97
图 97
Hướng sang bên phải, hai lập quyền bắt chéo đặt trước má phải, quyền trái ở ngoài, quyền phải ở trong, lòng quyền trái hướng vào trong, lòng quyền phải hướng ra ngoài; hai chân co gối thành giao xoa bộ, thân thể nghiêng về đông nam, mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 75).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 75) chân phải duỗi thẳng, thân thể đứng lên; chân trái nhân thế đá ra hướng đông (cũng có thể dùng đặng cước); hai quyền chia sang trái phải, tay trái theo đường parabol buông về chính đông duỗi ngang, tay phải theo đường parabol buông về hướng nam duỗi ngang, đều là trắc chưởng, giống động tác của Hình 60; hướng thân không đổi, mắt nhìn hướng đông (hơi nghiêng về bắc), như Hình 76.

图 98
图 98
Hướng ra chính diện, chân trái nhấc lên đá ra hướng đông, mu bàn chân ngang với chân; hai quyền tách ra biến thành trắc chưởng, tay trái duỗi về chính đông, tay phải duỗi về hướng nam, hai cánh tay ngang với vai; chân phải duỗi thẳng đứng, thân hướng chính đông, mắt nhìn hướng đông hơi nghiêng về bắc (sách đánh số là 圖 76).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 76) chân trái không chấm đất, mũi chân phải xoay sang phải về chính tây, thân thể cũng xoay về cùng một phương hướng; hai chưởng nhân thế nắm quyền, thu về trước ngực, thành thức bắt chéo, đặt trước mặt phải, đều là lập quyền (quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài), mắt nhìn tây nam, như Hình 77.

图 99
图 99
Hướng sang bên trái, hai tay nắm quyền bắt chéo thu về trước má phải, quyền trái ở trong, quyền phải ở ngoài, đều là lập quyền; chân phải co gối nhấc lên, mũi chân hướng xuống, chân trái duỗi thẳng đứng; mắt nhìn tây nam (sách đánh số là 圖 77).

Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 77) chân trái bước ra phía trước thành cung bộ, sau đó xoay mũi chân về hướng đông bắc, biến thành tọa thối thức; chân phải nhân thế Xoay mũi chân về hướng chính đông, thu về hơn nửa bước, biến thành hư bộ mũi chân chấm đất; hai quyền không đổi, nhưng khi xoay thân thì nhân thế dời đặt trước má trái; thân thể nghiêng về đông bắc, mắt nhìn chính đông, như Hình 78. Kèm thêm hình chính diện để tham khảo.

图 100
图 100
Đứng nghiêng, hai tay nắm quyền bắt chéo đặt trước má, thân thể nghiêng về đông bắc, hai chân co gối; một tay giơ quyền che mặt ở phía trên, tay kia ở phía dưới; mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 78).
图 101
图 101
Hình chính diện: hai tay nắm quyền bắt chéo giơ lên che trước mặt, một chân co gối nhấc lên, mũi chân hướng xuống, chân kia co gối chống đỡ; mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 78 正面圖).

Động tác năm: Từ thức trên (Hình 78) chân phải đá ra hướng đông (vì là thức xoay thân, cũng có thể dùng đặng cước, nhưng chân phải đã chấm đất, khác với đá chân của thức chuyển thân đặng cước thứ ba mươi mốt phía trước vốn nhấc chân đá ra, cho nên vẫn dùng cước đá cho thuận; ở “Động tác hai” phía trên, đá chân trái, vì là thức ngồi xổm nên dùng đặng cước là tiện); hai quyền biến thành trắc chưởng, hoàn toàn giống động tác của Hình 58, phương hướng cũng là chính đông; hình minh họa lược bỏ.

Thức này, trong phần hình minh họa tuy chia thành năm động tác, nhưng khi tiến hành liên tục thì thực ra chỉ có hai động tác liên tiếp là xoay thân đá chân trái và trở mình đá chân phải, lấy đá chân phải làm chính, cho nên gọi là 翻身二起脚 (Phiên Thân Nhị Khởi Cước). Lại nữa, thức này từ hướng đông của thức trên, sau khi đá chân trái phải thì vẫn xoay về phương hướng cũ; người mới học rất dễ lầm lẫn phương hướng, xin lưu ý.

第四十式 撇身捶(图略)— Phiết Thân Chùy, “Phiết Thân Chùy” (lược hình)

Thức này là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 58) khi chân phải chấm đất thì tiếp làm động tác của Hình 45 và Hình 46, nhưng phương hướng hoàn toàn ngược lại, là hướng đông chứ không phải hướng tây; hình minh họa lược bỏ. Thức này cũng có người đổi dùng “Cao Thám Mã”, nhưng không bằng Phiết Thân Chùy, vì … thuận, nên vẫn giữ nguyên không đổi.

第四十一式 上步搬拦捶(图略)— Thượng Bộ Ban Lan Chùy, “Ban Lan Chùy” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 46, nhưng phương hướng ngược lại), tả chưởng và hữu quyền cùng duỗi ra phía trước, chân trái nhân thế bước lên một bước, thành cung bộ (như Hình 22); kế đó tả chưởng hơi thu về, hữu quyền rút về bên sườn phải, biến thành lập quyền, nhân thế ngồi chân phải, chân trái biến thành hư bộ (như Hình 23); tiếp theo làm động tác của Hình 24. Thức này là thượng bộ chứ không phải tả bộ, khác với thức thứ hai mươi tư, phương hướng cũng ngược lại, cùng phương hướng với thức thứ chín, xin lưu ý. Các động tác còn lại có thể tham khảo phần giải thích liên quan của Hình 47–Hình 49 hoặc Hình 22–Hình 24; hình minh họa lược bỏ.

第四十二式 如封似闭(图略)— Như Phong Tự Bế, “Như Phong Tự Bế” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 24) tiếp làm động tác của Hình 25, Hình 26 và Hình 27; hình minh họa lược bỏ.

第四十三式 十字手(图略)— Thập Tự Thủ, “Thập Tự Thủ” (lược hình)

第四十四式 抱虎归山(图略)— Bão Hổ Quy Sơn, “Bão Hổ Quy Sơn” (lược hình)

第四十五式 揽雀尾(图略)— Lãm Tước Vĩ, “Lãm Tước Vĩ” (lược hình)

第四十六式 斜单鞭(图略)— Tà Đan Tiên, “Đan Tiên xéo” (lược hình)

Bốn thức trên đều là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 27) tiếp làm từ thức thứ mười một cho đến thức thứ mười bốn, động tác và phương hướng hoàn toàn giống nhau; hình minh họa lược bỏ.

第四十七式 野马分鬃(图79—图84)— Dã Mã Phân Tông, “Dã Mã Phân Tông” (Hình 79–Hình 84)

Động tác một: Từ thức trên (như Hình 33, nhưng không theo đường cũ) mũi chân trái xoay về hướng tây, chân phải thu về nửa bước biến thành hư bộ; đồng thời hai tay bằng về phía trước ngực biến thành lập chưởng (như Hình 79); kế đó co khuỷu trái, khiến tả chưởng áp gần vai phải, hữu chưởng nhân thế buông xuống, biến thành thùy chưởng, cánh tay duỗi thẳng, nghiêng về bên trái thân thể; thân thể cũng hơi xoay sang trái (chân bước không động), mắt nhìn tây bắc, như Hình 80. Kèm thêm hình chính diện để tham khảo.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 80) chân phải tiến lên nửa bước biến thành cung bộ; đồng thời Hai tay chia lên xuống: hữu chưởng từ dưới lên duỗi ra hướng tây bắc, biến thành ngưỡng chưởng; tả chưởng từ vai phải buông xuống, ấn ra hướng đông nam, biến thành phủ chưởng. Khi hai tay chia lên xuống, lòng bàn tay phải lướt qua nhau đối diện. Khi tay phải duỗi lên tây bắc, vai phải cùng nghiêng về tây bắc; thân thể và đường nhìn đều nghiêng về tây nam, như Hình 81.

图 102
图 102
Hướng sang bên trái, tay trái lập chưởng, tay phải trắc chưởng làm thức án trước ngực; một chân co gối phía trước, một chân duỗi thẳng phía sau; thân hướng sang trái, mắt nhìn phía trước xuống dưới (sách đánh số là 圖 79).
图 103
图 103
Hướng ra trước phải, hai tay làm thức án trước mặt; chân phải co gối nhấc lên, mũi chân chấm đất, chân trái co gối chống đỡ; thân thể nghiêng về bên phải, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 80).
图 104
图 104
Hình chính diện: hai tay chia trên dưới, một tay giơ lên, một tay ấn xuống; hai chân co gối đứng một trước một sau; mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 80 正面圖).
图 105
图 105
Hướng ra trước trái, tay phải ngưỡng chưởng duỗi lên tây bắc, tay trái phủ chưởng ấn xuống đông nam; hai cánh tay chia chéo trên dưới; hai chân co gối đứng một trước một sau; thân thể và đường nhìn nghiêng về tây nam (sách đánh số là 圖 81).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 81) bộ pháp không đổi, thân thể từ nghiêng trở về chính; đồng thời hai tay phỏng theo động tác của Hình 80, đưa tay phải bằng về vai trái biến thành lập chưởng, tay trái buông xuống phía phải biến thành thùy chưởng; thân thể hơi xoay sang phải (chân bước không động), mắt nhìn tây nam, như Hình 82. Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 82) chân trái bước lên một bước biến thành cung bộ; đồng thời hai tay chia trên dưới: tả chưởng từ dưới lên duỗi ra hướng tây nam, biến thành ngưỡng chưởng; hữu chưởng từ vai phải buông xuống ấn ra hướng đông bắc, biến thành phủ chưởng. Khi chia tay trên dưới, lòng bàn tay lướt qua nhau đối diện; vai trái cùng với việc duỗi tay trái nghiêng về tây nam; thân thể và đường nhìn đều nghiêng về tây bắc, như Hình 83.

图 106
图 106
Hướng sang bên phải, hai tay chia trên dưới ở bên trái, tay phải ngưỡng chưởng, tay trái phủ chưởng; hai chân co gối đứng một trước một sau; thân thể nghiêng về bên trái, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 82).
图 107
图 107
Hướng sang bên trái, tay trái ngưỡng chưởng duỗi lên phía trên, tay phải trắc chưởng ấn ra phía dưới; hai cánh tay chia chéo trên dưới; hai chân co gối trước sau thành đại cung bộ; thân thể và đường nhìn nghiêng về tây bắc (sách đánh số là 圖 83).

Động tác năm: Từ thức trên (Hình 83) bộ pháp không đổi, thân thể từ nghiêng trở về chính; tay trái bằng về vai phải, tay phải buông về bên trái, giống động tác của Hình 80 (nhưng bước chân khác), như Hình 84.

图 108
图 108
Hướng sang bên phải, tay phải lập chưởng nằm ngang trước ngực, tay trái thùy chưởng buông bên hông; hai chân co gối đứng một trước một sau (sách đánh số là 圖 84).
图 109
图 109
Hướng sang bên trái, tay trái lập chưởng bằng trước ngực, tay phải thùy chưởng hướng xuống dưới; hai chân co gối tách ra đứng trước sau (sách đánh số là 圖 85).

Động tác sáu: Từ thức trên (Hình 84) chân phải bước lên một bước biến thành cung bộ, hai tay chia trên dưới, hoàn toàn giống động tác của Hình 81; hình minh họa lược bỏ.

Động tác bảy: Từ thức trên (như Hình 81) chân phải thu về nửa bước biến thành hư bộ, hai tay bằng về trước ngực đều biến thành lập chưởng, như Hình 3; tiếp theo phỏng theo động tác của Hình 80 và Hình 81 lặp lại một lần cho đến thức của Hình 85; có thể tham khảo phần giải thích của động tác một và động tác hai; hình minh họa lược bỏ.

第四十八式 玉女穿梭(图86—图91)— Ngọc Nữ Xuyên Thoa, “Ngọc Nữ Xuyên Thoa” (Hình 86–Hình 91)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 85) chân trái dời đặt nửa bước trước chân phải biến thành hư bộ; đồng thời tay trái vớt lên, co cánh tay thành vòng ôm, biến thành ngưỡng chưởng, đặt trước ngực trái, cao ngang vai; tay phải từ phía trên bên phải theo đường parabol buông xuống cẳng tay trái, lật thành phủ chưởng; thân hướng chính tây, mắt nhìn tây nam, như Hình 86.

图 110
图 110
Hướng sang bên trái, tay trái ngưỡng chưởng co cánh tay ôm vòng trước ngực trái, cao ngang vai; tay phải phủ chưởng đặt trên cẳng tay trái; hai chân co gối đứng trước sau; thân hướng chính tây, mắt nhìn tây nam (sách đánh số là 圖 86).
图 111
图 111
Hướng sang bên trái, hai tay co cánh tay ôm vòng trước ngực, lòng bàn tay đối diện nhau, cánh tay trái ở ngoài; hai chân co gối đứng trước sau, chân phải duỗi thẳng phía sau; thân hướng tây nam (sách đánh số là 圖 87).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 86) chân trái lập tức bước ra nửa bước biến thành cung bộ; hai tay giữ nguyên trạng nhân thế đưa ra hướng tây nam, vừa đưa vừa xoay cánh tay trái ra ngoài; xoay đến khi lòng tả chưởng hướng xuống dưới thì nhân thế ngồi chân phải, chân trái trở về hư bộ; cánh tay trái tiếp tục xoay lên trên, đến khi lòng tả chưởng xoay về tây nam, sắp biến thành phản chưởng thì tay phải nhân thế đẩy ra hướng nam (hơi nghiêng về tây), biến thành lập chưởng; chân trái lại trở về cung bộ, thân thể xoay về tây nam (chân bước không động), mắt nhìn cùng một phương hướng, như Hình 87.

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 87) tay phải từ lập chưởng chuyển thành ngưỡng chưởng, tay trái lập tức thu về đặt trên cẳng tay phải, biến thành phủ chưởng; đồng thời xoay mũi chân trái đang hướng tây sang phải về chính đông, thân thể theo đó xoay về sau; chân phải dời đến nửa bước trước chân trái biến thành hư bộ; thân hướng chính đông, mắt nhìn đông nam, như Hình 88.

图 112
图 112
Hướng sang bên phải, tay phải ngưỡng chưởng co cánh tay nằm ngang trước ngực, tay trái phủ chưởng đặt trên cẳng tay phải; hai chân co gối đứng trước sau; thân hướng chính đông, mắt nhìn đông nam (sách đánh số là 圖 88).

Động tác bốn: Từ thức trên (Hình 88) chân phải bước ra biến thành cung bộ, hai tay đưa ra hướng đông nam; đồng thời xoay cánh tay phải; đến khi lòng hữu chưởng hướng xuống dưới thì nhân thế ngồi chân trái, chân phải biến thành hư bộ; cánh tay phải tiếp tục lật xoay đến khi lòng hữu chưởng xoay về đông nam, sắp biến thành phản chưởng thì tay trái nhân thế đẩy ra hướng nam (hơi nghiêng về đông), biến thành lập chưởng; chân phải trở về cung bộ, thân thể xoay về đông nam (chân bước không động), mắt nhìn cùng hướng, như Hình 89. (Phụ chú: Hình 86 và Hình 87 là tả thức thứ nhất của Ngọc Nữ Xuyên Thoa; Hình 88 và Hình 89 là hữu thức thứ nhất sau khi xoay thân. Hai thức có động tác giống nhau, nhưng phương hướng thân thể và trái phải của tay chân đều ngược lại.)

图 113
图 113
Hướng ra chính diện, hai tay co cánh tay ôm vòng trước ngực, một tay giơ lên, một tay nằm ngang bên ngực; hai chân co gối trước sau thành đại cung bộ; thân hướng đông nam (sách đánh số là 圖 89).

Động tác năm: Từ thức trên (Hình 89) tay phải buông xuống bên trái biến thành thùy chưởng, tay trái giơ đến trước vai phải biến thành lập chưởng; đồng thời chân phải thu về nửa bước biến thành hư bộ, hình thức … và động tác giống Hình 80, nhưng phương hướng ngược lại (phải là hướng đông); tiếp theo làm động tác của Hình 81 (phương hướng ngược với Hình 81). Trên đây là thức Dã Mã Phân Tông. Từ thức này, chân trái bước lên một bước tiếp làm động tác của Hình 86 và Hình 87; thân thể và đường nhìn đều hướng đông bắc, như Hình 90 (đây là tả thức thứ hai sau khi xoay thân).

图 114
图 114
Hướng sang bên trái, hai tay co cánh tay ôm vòng trước ngực, lòng bàn tay đối diện nhau, cánh tay trái ở ngoài; hai chân co gối đứng trước sau, chân trái ở trước; thân hướng đông bắc (sách đánh số là 圖 90).

Động tác sáu: Từ thức trên (Hình 90) tiếp làm động tác của Hình 88 và Hình 89; thân thể và đường nhìn đều hướng tây bắc (động tác hai tay có thể tham khảo phần giải thích của Hình 88 và Hình 89, nhưng phương hướng ngược lại), như Hình 91 (đây là hữu thức thứ hai sau khi xoay về hướng cũ).

图 115
图 115
Hướng ra chính diện, hai tay co cánh tay ôm vòng trước ngực, một tay giơ lên, một tay nằm ngang bên ngực; hai chân co gối trước sau thành đại cung bộ; thân hướng tây bắc (sách đánh số là 圖 91).

第四十九式 揽雀尾(图略)— Lãm Tước Vĩ, “Lãm Tước Vĩ” (lược hình)

Thức này là thức lặp lại; từ thức trên (Hình 91) tiếp làm các động tác liên tiếp từ Hình 3 đến Hình 6 乙; phần giải thích xem phía trước; hình minh họa lược bỏ.

第五十式 单鞭(图略)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 6 乙) tiếp làm động tác của Hình 7 và Hình 8, phương hướng giống nhau; hình minh họa lược bỏ.

第五十一式 云手(图略)— Vân Thủ, “Vân Thủ” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 8) tiếp làm các động tác của thức thứ hai mươi bảy, phương hướng giống nhau; hình minh họa lược bỏ. 第五十二式 单鞭(图92)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (Hình 92)

Thức này cũng là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 54) tiếp làm động tác của Hình 8, thành thức của Hình 92; hình minh họa lược bỏ.

图 116
图 116
Hướng ra chính diện, hai tay chia sang trái phải, một tay lập chưởng duỗi chéo lên trên, một tay thùy chưởng ở dưới; hai chân co gối trước sau thành cung bộ; thân hướng chính đông (sách đánh số là 圖 92).

第五十三式 下势(图93)— Hạ Thế, “Hạ Thế” (Hình 93)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 92) mũi hai bàn chân xoay về hướng đông, chân phải nhân thế duỗi thẳng, khiến chân trái thành cung bộ; đồng thời tay trái co khuỷu, xoay lòng bàn tay về hướng nam, vẫn là lập chưởng; tay phải buông ra khỏi trảo quyền, theo đường parabol từ sau ra trước buông xuống dưới cổ tay trái, biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng bắc; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, hình thức giống Hình 22.

Động tác hai: Từ thức trên (như Hình 22) chân phải lùi về tây bắc hơn nửa bước nhỏ, mũi chân xoay về hướng nam (hơi nghiêng về tây); thân thể nhân thế ngồi xổm xuống, trọng lượng nghiêng về phía chân phải, chân trái duỗi thẳng, mũi chân xoay về đông nam, toàn bộ lòng bàn chân chấm đất; đồng thời với việc ngồi xổm, hai tay chìm xuống, cánh tay trái duỗi thẳng, đầu ngón tay gần chân trái, biến thành trắc chưởng; tay phải rút về trước ngực, đầu ngón tay gần khuỷu tay trái, cũng biến thành trắc chưởng; thân thể hướng nam (hơi nghiêng về đông), chớ cong lưng cúi đầu, mắt nhìn phía trước chân trái, như Hình 93.

图 117
图 117
Hình mặt bên: thân thể ngồi xổm xuống, chân trái duỗi thẳng sang phía phải, toàn bộ lòng bàn chân chấm đất, chân phải co gối chống đỡ; cánh tay trái duỗi thẳng xuống dưới, đầu ngón tay gần chân trái; cánh tay phải co khuỷu thu về trước ngực; hai chưởng đều là trắc chưởng; mắt nhìn phía trước chân trái (sách đánh số là 圖 93).

第五十四式 金鸡独立(图94—图96)— Kim Kê Độc Lập, “Kim Kê Độc Lập” (Hình 94–Hình 96)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 93) thân thể đứng thẳng lên về phía trước, chân phải nhân thế duỗi thẳng, chân trái cong co biến thành cung bộ, mũi hai bàn chân xoay về chính đông; hai tay cùng với việc thân thể đứng thẳng lên đồng thời nhấc lên, đưa tay phải duỗi ra trước tay trái, vẫn là trắc chưởng, lòng bàn tay chia hướng sang trái phải; thân thể hướng đông, mắt nhìn phía trước tay phải, như Hình 94.

图 118
图 118
Hướng sang bên trái, hai tay làm thức án trước thân và vớt lên; hai chân co gối trước sau, chân trước co gối, chân sau duỗi thẳng; thân hướng chính đông, mắt nhìn phía trước tay phải (sách đánh số là 圖 94).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 94) tay phải tiếp tục nhấc lên trên, chuyển thành phản chưởng (ngón cái ở dưới) đặt phía trên trước trán, đầu ngón tay hướng bắc; tay trái chuyển thành phủ chưởng lập tức ấn xuống dưới, đầu ngón tay hướng nam, hơi vểnh lên; đồng thời với việc tay phải nhấc lên, chân phải cùng nhấc lên theo, gối cao hơn hông, bàn chân phải ở trước gối trái, mũi chân vểnh lên; chân trái thẳng nhưng hơi co; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, như Hình 95 (hình chính diện kèm theo có khoảng cách hai tay gần hơn, là tư thế khá hàm súc). Đây là hữu thức.

图 119
图 119
Hình mặt bên: một tay giơ lên phản chưởng đặt phía trên trước trán, một tay phủ chưởng ấn xuống; chân phải co gối nhấc lên, gối cao hơn hông, mũi chân vểnh lên; chân trái thẳng nhưng hơi co, đứng vững; thân hướng chính đông (sách đánh số là 圖 95).
图 120
图 120
Hình chính diện: một tay giơ lên phản chưởng che phía trên trước trán, một tay co cánh tay ấn xuống, hai tay cách nhau khá gần; chân phải co gối nhấc lên, mũi chân vểnh lên, chân trái đứng; mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 95 正面圖).

Động tác ba: Từ thức trên (Hình 95) chân phải buông xuống phía trước thành cung bộ, tay phải theo đó buông xuống chuyển thành phủ chưởng; sau khi chân phải đạp vững, chân trái lập tức nhấc lên, tay trái đồng thời từ dưới lên xuyên qua cổ tay phải giơ lên chuyển thành phản chưởng (ngón cái ở dưới) đặt trước trán trái; phương hướng không đổi, như Hình 96 (kèm hình chính diện). Đây là tả thức.

Trên đây là làm “Kim Kê Độc Lập” trái phải giống nhau; nếu làm trái phải khác nhau … “Kim Kê Độc Lập”, có thể tham khảo thức của Hình 95; khi làm đến lúc hai tay trái trên phải dưới đều là ngưỡng chưởng (tức trước khi tay trái chuyển phản chưởng, tay phải chuyển phủ chưởng) thì chuyển tiếp sang “Đảo Niển Hầu” ở dưới.

图 121
图 121
Hình mặt bên: một tay giơ lên phản chưởng che phía trên trước trán, một tay phủ chưởng ấn xuống; chân phải co gối nhấc lên, mũi chân vểnh lên, chân trái đứng; thân hướng chính đông (sách đánh số là 圖 96).
图 122
图 122
Hình chính diện: một tay giơ lên phản chưởng đặt phía trên trước trán, một tay co cánh tay ấn xuống; chân phải co gối nhấc lên, chân trái đứng; mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 96 正面圖).

第五十五式 倒撵猴(图略)— Đảo Niển Hầu, “Đảo Niển Hầu” (lược hình)

Thức này là thức lặp lại; từ thức trên (Hình 96) tay trái buông ra phía trước duỗi ra, chuyển thành lập chưởng, cánh tay duỗi thẳng, ngang với vai; đồng thời tay phải buông xuống đặt bên hông phải, chân trái nhân thế duỗi ra phía sau, chân phải cong co thành cung bộ; phương hướng không đổi, hình thức giống Hình 37; đây là Đảo Niển Hầu thứ nhất. Tiếp theo làm Đảo Niển Hầu thứ hai và thứ ba (tức động tác ba và động tác bốn của thức thứ mười sáu), phương hướng không đổi; hình minh họa lược bỏ.

第五十六式 斜飞势(图略)— Tà Phi Thế, “Tà Phi Thế” (lược hình)

第五十七式 提手上势(图略)— Đề Thủ Thượng Thế, “Đề Thủ Thượng Thế” (lược hình)

第五十八式 白鹤亮翅(图略)— Bạch Hạc Lượng Xí, “Bạch Hạc Lượng Xí” (lược hình)

第五十九式 搂膝拗步(图略)— Lâu Tất Ảo Bộ, “Lâu Tất Ảo Bộ” (lược hình)

第六十式 海底针(图略)— Hải Để Châm, “Hải Để Châm” (lược hình)

第六十一式 扇通背(图略)— Phiến Thông Bối, “Phiến Thông Bối” (lược hình)

第六十二式 撇身捶(图略)— Phiết Thân Chùy, “Phiết Thân Chùy” (lược hình)

第六十三式 上步搬拦捶(图略)— Thượng Bộ Ban Lan Chùy, “Thượng Bộ Ban Lan Chùy” (lược hình) 第六十四式 上步揽雀尾(图略)— Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ, “Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ” (lược hình)

第六十五式 单鞭(图略)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (lược hình)

第六十六式 云手(图略)— Vân Thủ, “Vân Thủ” (lược hình)

第六十七式 单鞭(图略)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (lược hình)

Mười hai thức trên đều là thức lặp lại; từ thức trên (như Hình 37) lần lượt tiếp làm các động tác của thức thứ mười bảy đến thức thứ hai mươi ba (tức thức Phiết Thân Chùy), rồi lần lượt tiếp làm thức thứ bốn mươi mốt (vì thức thứ sáu mươi ba là thức thượng bộ, nên không dùng thức thứ hai mươi tư) và các động tác của thức thứ hai mươi lăm đến thức thứ hai mươi tám, cho đến khi làm thành dạng thức của Hình 97; hình minh họa lược bỏ.

图 123
图 123
Hướng ra chính diện, hai tay chia đều sang trái phải duỗi chéo, một tay lập chưởng ở trên, một tay ở dưới; hai chân co gối tách ra thành mã bộ; thân hướng chính đông (sách đánh số là 圖 97).

第六十八式 迎面掌(图98)— Nghênh Diện Chưởng, “Nghênh Diện Chưởng” (Hình 98)

Thức này từ thức trên (Hình 97) mũi hai bàn chân cùng xoay về chính đông, nhân thế co chân trái duỗi chân phải, biến thành cung bộ thức; đồng thời tay phải buông ra khỏi trảo quyền, từ sau ra trước lướt qua tay trái (lúc này tay trái cũng đang rút về), theo dưới cánh tay trái thu về, đặt dưới nách trái, biến thành phủ chưởng; tay trái vốn là lập chưởng, nhân thế thu về chuyển thành ngưỡng chưởng, ở dưới hữu chưởng từ từ rút về trước ngực, rồi từ trên hữu chưởng vòng qua, duỗi ra phía trước, chuyển thành chính chưởng; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, như Hình 98.

图 124
图 124
Hướng sang bên trái, tay phải phủ chưởng thu vào dưới nách trái, tay trái ngưỡng chưởng duỗi ra phía trước; hai chân co gối trước sau thành cung bộ; thân hướng chính đông (sách đánh số là 圖 98).

第六十九式 转身十字摆莲(图99—图100) Động tác một: Từ thức trên (Hình 98) mũi hai bàn chân cùng xoay sang phải về hướng tây nam; đồng thời gót chân phải nhấc lên biến thành hư bộ; khi xoay thân (tức khi xoay chân), tay phải nhân thế ấn xuống, tay trái nhân thế giơ lên, chuyển thành phản chưởng, lòng bàn tay hướng trước, đặt phía trên trán trái; thân thể nghiêng về tây nam, mắt nhìn chính tây, như Hình 99.

图 125
图 125
Hình mặt bên: tay trái phản chưởng giơ lên đặt phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng trước; tay phải ở phía dưới; gót chân phải nhấc lên, mũi chân chấm đất thành hư bộ; chân trái co gối chống đỡ; thân thể nghiêng về tây nam, mắt nhìn chính tây (sách đánh số là 圖 99).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 99) chân phải nhân thế nhấc lên cao hơn gối trái, lập tức theo đường cung đá ngang từ trái sang phải (dùng mé ngoài bàn chân chứ không dùng mũi chân); đồng thời tay trái từ trên xuống dưới từ bên phải lướt sang bên trái vỗ qua bàn chân (nếu không vỗ tới chân thì có thể vỗ vào cẳng chân); thân thể xoay về chính tây, tay phải vẫn ở dưới nách, mắt nhìn tây bắc; hình dạng lúc sắp vỗ vào chân, như Hình 100.

图 126
图 126
Hình mặt bên: chân phải theo đường cung đá ngang từ trái sang phải, cao hơn gối trái; tay trái từ trên xuống dưới lướt vỗ sang bên phải; tay phải thu ở dưới nách; chân trái đứng vững, thân thể xoay về chính tây, mắt nhìn tây bắc (sách đánh số là 圖 100).

第七十式 搂膝指裆捶(图101—图102)— Lâu Tất Chỉ Đang Chùy, “Lâu Tất Chỉ Đang Chùy” (Hình 101–Hình 102)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 100), sau khi vỗ chân phải, chân phải nhân thế đáp xuống phía trước bên phải chân trái thành cung bộ; đồng thời tay phải từ dưới nách trái buông ra phía trước; trước khi chân phải chấm đất thì lâu qua gối phải; mặt khác, tay trái sau khi vỗ chân lập tức co khuỷu chuyển đến bên má trái thành trắc chưởng (đầu ngón tay hướng trước, lòng bàn tay hướng vào trong) và lập tức duỗi ra phía trước, hoàn thành thức Lâu Tất Ảo Bộ, như Hình 101.

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 101) lập tức bước chân trái lên, đáp xuống phía trước bên trái chân phải nửa bước sang bên, trước tiên làm hư bộ (gót chân hoặc mũi chân chấm đất đều được), do chân phải chịu sức nặng của thân thể; đồng thời tay trái buông xuống phía bên phải gối trái, lâu qua gối trái; tay phải co khuỷu nhấc lên, nhân thế nắm thành quyền (hổ khẩu hướng lên) đặt bên cạnh sườn phải. Khi ba động tác trên cùng hoàn thành một lúc, chân trái lập tức bước ra nửa bước, gót vừa chấm đất thì co gối, buông chưởng giẫm xuống thành cung bộ; đồng thời quyền phải theo thế duỗi ra phía trước phía dưới (hổ khẩu vẫn hướng lên); lúc đó tay trái sau khi lâu gối đã theo động tác hình cung trở về trước gối trái, liền nhân thế đặt bên khuỷu tay phải. Động tác của tay trái, chân trái và quyền phải trên đây cũng phải cùng lúc tới điểm định, như Hình 102.

图 127
图 127
Hình mặt bên: chân trái co gối ở trước thành cung bộ, chân phải duỗi thẳng ở sau; quyền phải duỗi ra phía trước phía dưới, hổ khẩu hướng lên; tay trái theo đường cung trở về trước gối trái, đặt bên khuỷu tay phải; thân thể nghiêng trước trầm xuống, mắt nhìn trước dưới (sách đánh số là 圖 101).

第七十一式 上步揽雀尾(图略)— Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ, “Lên Bước Lãm Tước Vĩ” (lược hình)

Thức này là thức lặp lại. Từ thức trên (Hình 102) chân phải bước lên một bước, thành hư bộ trước chân trái, hai tay giơ lên trên, làm thành hình dạng của Hình 3; tiếp theo đó lại làm động tác của Hình 4, Hình 5 và Hình 6, lược hình.

图 128
图 128
Hình mặt bên: chân phải ở trước, chân trái ở sau, hai gối co xuống thấp; tay phải duỗi ngang ra trước, tay trái thu vào trước ngực, hai cánh tay thành thế một khai một hợp; mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 102).

第七十二式 单鞭(图略)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (lược hình)

第七十三式 下势(图略)— Hạ Thế, “Hạ Thế” (lược hình)

Hai thức trên đều là thức lặp lại, có thể từ 圖 6 乙 lần lượt tiếp làm thức thứ năm mươi hai và thức thứ năm mươi ba, làm đến hình dạng của Hình 93 thì thôi, như Hình 103.

第七十四式 上步七星(图104)— Thượng Bộ Thất Tinh, “Lên Bước Thất Tinh” (Hình 104)

Thức này từ thức trên (Hình 103) thân thể đứng thẳng lên về phía trước, chân phải nhân thế duỗi thẳng, chân trái co lại thành cung bộ, chân phải lập tức bước lên một bước thành hư bộ, gót chân chấm đất (cũng có thể mũi chân chấm đất); lúc này chân trái từ cung bộ chuyển thành thức đứng thẳng hơi co gối; đồng thời hai tay hội lại trước ngực, tay phải tiếp tục giơ lên, cao hơn tay trái, đều là lập chưởng, phương hướng vẫn là chính đông, như Hình 104.

图 129
图 129
Hình mặt bên: chân trái co gối ở trước, chân phải duỗi thẳng ở sau; tay phải duỗi ra phía trước phía dưới, tay trái đặt trên cẳng tay phải; thân thể nghiêng trước trầm xuống, mắt nhìn trước dưới (sách đánh số là 圖 103).
图 130
图 130
Hình mặt bên: hai chân hơi co đứng thẳng, hai bàn chân đặt trước sau thành hư bộ; hai tay hội lại trước ngực, tay phải giơ lên cao hơn tay trái, hai chưởng đều là lập chưởng; thân thể hướng chính đông, mắt nhìn phía trước (sách đánh số là 圖 104).

第七十五式 退步跨虎(图105—图106)— Thoái Bộ Khoa Hổ, “Lùi Bước Cưỡi Hổ” (Hình 105–Hình 106)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 104) chân phải lùi lại một bước, chân duỗi thẳng, co chân trái thành cung bộ; hai tay nhân thế buông xuống, hơi nghiêng về bên phải, biến thành thùy chưởng, thành hình chữ thập, tay trái ở ngoài, tay phải ở trong, hai cánh tay gần như thẳng đứng; thân thể hướng đông, mắt nhìn trước dưới hai tay, như Hình 105.

图 131
图 131
Hình mặt bên: chân trái co gối ở trước, chân phải duỗi thẳng ở sau; hai tay buông xuống hơi nghiêng về bên phải, biến thành thùy chưởng bắt chéo trước thân, tay trái ở ngoài, tay phải ở trong, hai cánh tay gần như thẳng đứng; thân thể hướng đông, mắt nhìn trước dưới hai tay (sách đánh số là 圖 105).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 105) ngồi thân về sau, chân phải đứng thẳng (gối hơi co), chân trái nhân thế nhấc lên, gối cao hơn hông, cẳng chân duỗi về bên phải (tức phía nam), mũi chân hướng đông nam, không cần hếch lên; đồng thời hai tay tách ra trái phải, tay trái thành trảo quyền, cánh tay duỗi thẳng ngang vai, tay phải thành lập chưởng, cánh tay duỗi thẳng, hơi cao hơn cánh tay trái; thân thể vẫn hướng đông, mắt nhìn phía đông (hơi nghiêng về đông bắc), như Hình 106 (hình này do góc chụp không hợp nên tay phải trông cao). Phụ thêm hình chính diện để tham khảo.

图 132
图 132
Hình mặt bên: chân trái đứng độc lập chống đỡ, chân phải co gối nhấc lên; tay trái thành trảo quyền duỗi ngang sang bên trái, cánh tay ngang vai; tay phải thành lập chưởng duỗi sang bên phải hơi cao hơn; thân thể hướng đông, mắt nhìn phía đông hơi nghiêng về đông bắc (sách đánh số là 圖 106).
图 133
图 133
Hình chính diện: cùng thức này nhìn từ chính phía trước; cánh tay trái duỗi ngang ngang vai, cánh tay phải duỗi thẳng hơi cao hơn cánh tay trái, hai chân đặt trước sau (sách đánh số là 圖 106 正面圖).

第七十六式 转身迎面掌(图107)— Chuyển Thân Nghênh Diện Chưởng, “Xoay Thân Đón Mặt Bằng Chưởng” (Hình 107)

Thức này từ thức trên (Hình 106) chân trái nhân thế theo hướng phải đáp xuống phía sau thành cung bộ, thân thể xoay về chính tây, chân phải nhân thế xoay mũi chân, mũi hai bàn chân đều cùng hướng với thân thể; trước khi xoay thân, tay phải bằng về trước vai trái, vẫn là lập chưởng, tay trái nhân thế buông xuống, rồi chuyển lên vào bên trong cổ tay phải; khi tay phải dời xuống dưới nách trái, tay trái nhân thế xoay thừa thế mở trảo quyền duỗi ra chính tây, biến thành chính chưởng, mắt nhìn phía tây, như Hình 107.

第七十七式 转身双摆莲(图108—图109)— Chuyển Thân Song Bãi Liên, “Xoay Thân Song Bãi Liên” (Hình 108–Hình 109)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 107) mũi hai bàn chân cùng lúc xoay sang phải về chính đông, chân trái hơi co, chân phải thu về một chút biến thành hư bộ; đồng thời hai tay cùng nhau dịch ngang sang bên phải, cánh tay phải duỗi thẳng, tay phải biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng nam, tay trái lôi đến trước ngực phải biến thành phủ chưởng, đầu ngón tay hơi nghiêng về tây nam; thân thể xoay về đông nam, mắt nhìn tay phải, như Hình 108. Động tác hai: Từ thức trên (Hình 108) chân trái đứng thẳng, chân phải nhân thế nhấc lên, gối cao hơn hông, cẳng chân duỗi về bên trái; đồng thời hai tay hơi giơ lên trên. Khi chân phải đá ngang từ trái sang phải, hai tay lập tức từ trên xuống dưới vỗ về bên trái vào chân phải (nếu không vỗ tới chân thì có thể vỗ vào cẳng chân), tay trái vỗ trước tay phải vỗ sau, phải lần lượt lướt qua mu bàn chân; phương hướng thân thể không đổi; sau khi hai tay vỗ chân, mắt nhìn đông nam. Hình dạng khi nhấc chân như Hình 109; tư thế khi hai tay sắp vỗ xuống, xin xem hình chính diện của Hình 109.

图 134
图 134
Hình mặt bên: hai bàn chân đặt trước sau, thân thể xoay về chính đông; cánh tay phải duỗi thẳng ra trước, tay phải thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng nam; tay trái lôi đến trước ngực phải thành phủ chưởng; thân thể xoay về đông nam, mắt nhìn tay phải (sách đánh số là 圖 107).
图 135
图 135
Hình mặt bên: chân trái hơi co đứng vững, chân phải thu về một chút thành hư bộ; hai tay cùng nhau dịch ngang sang bên phải, tay phải thành lập chưởng; thân thể xoay về đông nam, mắt nhìn tay phải (sách đánh số là 圖 108).
图 136
图 136
Hình mặt bên: chân trái đứng thẳng, chân phải nhấc lên cao hơn hông, cẳng chân duỗi về bên trái; hai tay hơi giơ lên trên, phương hướng thân thể không đổi (sách đánh số là 圖 109).
图 137
图 137
Hình chính diện: cùng thức này nhìn từ chính phía trước; chân phải nhấc lên, cẳng chân duỗi về bên trái, hai tay giơ lên trước thân (sách đánh số là 圖 109 正面圖).

Thức này giống với Chuyển Thân Thập Tự Bãi Liên; sau khi vỗ chân, chân phải lập tức chấm đất, nên không thể chụp được hình dạng sau khi vỗ chân.

第七十八式 弯弓射虎(图110—图112)— Loan Cung Xạ Hổ, “Cong Cung Bắn Hổ” (Hình 110–Hình 112)

Động tác một: Từ thức trên (Hình 109) sau khi hai tay vỗ chân phải, chân phải lập tức bước xuống phía đông nam của chân trái thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng; lúc này hai tay đã theo thừa thế vỗ chân duỗi về bên trái thành phủ chưởng, thân thể hướng đông, mắt nhìn đông bắc, như Hình 110 (trong hình không nhìn rõ hai tay, có thể tham khảo hình chính diện của Hình 110).

图 138
图 138
Hình mặt bên: chân phải bước xuống phía đông nam của chân trái thành cung bộ, chân trái duỗi thẳng; hai tay theo thừa thế vỗ chân duỗi về bên trái thành phủ chưởng; thân thể hướng đông, mắt nhìn đông bắc (sách đánh số là 圖 110).
图 139
图 139
Hình chính diện: cùng thức này nhìn từ chính phía trước; hai cánh tay duỗi ra trước về bên trái, hai tay thành phủ chưởng, có thể nhìn rõ vị trí hai tay (sách đánh số là 圖 110 正面圖).
图 140
图 140
Hình mặt bên: cung bộ không đổi, hai tay từ bên trái buông xuống, theo đường cung qua bụng dời sang bên phải, vẫn là phủ chưởng (sách đánh số là 圖 111).
图 141
图 141
Hình chính diện: cùng thức này nhìn từ chính phía trước; hai tay đã dời sang bên phải, vẫn là phủ chưởng, phương hướng thân thể không đổi (sách đánh số là 圖 111 正面圖).

Động tác hai: Từ thức trên (Hình 110) bộ pháp không đổi, đem hai tay từ bên trái buông xuống theo đường cung qua bụng dời sang bên phải, vẫn là phủ chưởng, phương hướng thân thể không đổi, như Hình 111 (phụ hình chính diện của Hình 111); lập tức nhân thế nắm thành quyền đánh ra về phía đông, quyền phải ở trên là phản quyền, quyền trái ở dưới là chính quyền, hai quyền song song, hổ khẩu đối nhau; thân thể hơi nghiêng về đông nam, mắt nhìn chính đông, như Hình 112 (hình phản diện phụ kèm, hai quyền cách nhau gần hơn, cũng là tư thế khá hàm súc).

图 142
图 142
Hình mặt bên: hai quyền song song đánh ra về phía đông, quyền phải ở trên là phản quyền, quyền trái ở dưới là chính quyền, hổ khẩu đối nhau; thân thể hơi nghiêng về đông nam, mắt nhìn chính đông (sách đánh số là 圖 112).
图 143
图 143
Hình phản diện: cùng thức này nhìn từ phía sau; hai quyền song song đánh ra về phía đông, hai quyền cách nhau gần hơn, tư thế khá hàm súc (sách đánh số là 圖 112 反面圖).

第七十九式 上步迎面掌(图113)— Thượng Bộ Nghênh Diện Chưởng, “Lên Bước Đón Mặt Bằng Chưởng” (Hình 113)

Thức này là thức lặp lại. Từ thức trên (Hình 112) chân trái bước lên một bước, chưởng phải biến thành phủ chưởng, chưởng trái biến thành ngưỡng chưởng, chưởng trái hơi rút về, chưởng phải buông xuống trước chưởng trái, chưởng trái lại từ trên chưởng phải duỗi ra phía trước, chuyển cổ tay biến thành lập chưởng; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông, như Hình 113. Cũng có người trước thức này làm trước một thức “Thượng Bộ Cao Thám Mã” rồi mới tiếp làm Nghênh Diện Chưởng; sách này cho rằng lược bỏ Cao Thám Mã thì động tác khá chặt chẽ, nên vẫn giữ nguyên không đổi.

图 144
图 144
Hình mặt bên: chân trái bước lên một bước, chân phải ở sau; chưởng phải phủ, chưởng trái ngưỡng, chưởng phải buông xuống trước chưởng trái, chưởng trái từ trên chưởng phải duỗi ra phía trước và chuyển cổ tay thành lập chưởng; thân thể và đường nhìn đều hướng chính đông (sách đánh số là 圖 113).

第八十式 翻身撇身捶(图114)— Phiên Thân Phiết Thân Chùy, “Xoay Thân Phiết Thân Chùy” (Hình 114)

Thức này cũng là thức lặp lại. Từ thức trên (Hình 113) tay trái thu về đặt dưới tay phải, lập tức xoay thân sang phải về chính tây (trước tiên xoay mũi hai bàn chân); đồng thời tay phải nắm thành quyền lật lên đặt bên sườn phải thành ngưỡng quyền, tay trái từ lòng quyền phải lướt ra duỗi về phía trước biến thành lập chưởng, như Hình 114.

图 145
图 145
Hình mặt bên: hai bàn chân đặt trước sau, thân thể xoay về chính tây; tay phải nắm thành quyền lật lên đặt bên sườn phải thành ngưỡng quyền, tay trái từ lòng quyền phải lướt ra duỗi về phía trước thành lập chưởng (sách đánh số là 圖 114).

第八十一式 上步高探马(图115)— Thượng Bộ Cao Thám Mã, “Lên Bước Cao Thám Mã” (Hình 115)

Thức này cũng là thức lặp lại. Từ thức trên (Hình 114) chân trái bước lên một bước thành cung bộ, tay trái co khuỷu biến thành ngưỡng chưởng, quyền phải mở ra, duỗi về phía trước đặt trên chưởng trái thành lập chưởng; thân thể vẫn hướng chính tây, mắt nhìn trước tay phải, đang chuẩn bị bước lên tiếp làm thức sau, hình dạng như Hình 115.

图 146
图 146
Hình mặt bên: chân trái bước lên một bước thành cung bộ; tay trái co khuỷu thành ngưỡng chưởng ở trước dưới, quyền phải mở ra duỗi về phía trước đặt trên chưởng trái thành lập chưởng; thân thể hướng chính tây, mắt nhìn trước tay phải (sách đánh số là 圖 115).

第八十二式 上步揽雀尾(图略)— Thượng Bộ Lãm Tước Vĩ, “Lên Bước Lãm Tước Vĩ” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại. Từ thức trên (Hình 115) chân phải bước lên một bước, hai tay nhân thế lật chuyển tiếp làm các động tác của Hình 4, Hình 5, Hình 6; thuyết minh xem phần trước, lược hình.

第八十三式 单鞭(图略)— Đan Tiên, “Đan Tiên” (lược hình)

Thức này cũng là thức lặp lại. Từ thức trên (圖 6 乙) tiếp làm Hình 7, Hình 8 hai động tác, thuyết minh xem phần trước, lược hình.

第八十四式 合太极(图略)— Hợp Thái Cực, “Hợp Thái Cực” (lược hình)

Thức này là thức cuối cùng. Từ thức trên (Hình 8) hai tay cùng lúc buông xuống đặt bên hông, biến thành thùy chưởng, lòng bàn tay hướng sau; chân phải lập tức bước ngang sang trái cùng với chân trái thành bình hành bộ, trở lại hình dạng của thức thứ nhất, như Hình 116.

图 147
图 147
Hình chính diện: hai bàn chân đứng song song, thân thể đứng thẳng; hai tay buông bên hông thành thùy chưởng, lòng bàn tay hướng sau, khôi phục hình thái của thức dự bị (sách đánh số là 圖 116).

Các hình vẽ trên đây chủ yếu là thuyết minh riêng động tác của thượng chi và hạ chi. Đối với động tác vùng eo rất quan trọng, chỉ nhắc qua trong phần thuyết minh đoạn cuối của thức thứ ba (Lãm Tước Vĩ); kỳ thực, mỗi thức hoặc mỗi động tác của Thái Cực quyền đều phải động eo cùng lúc với động tay động chân (xem điểm “linh hoạt” trong các phép tắc khi luyện quyền giá). Người mới học tuy có thể không dụng công vào việc động eo, nhưng động eo là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ động tác, cho nên khi bắt đầu học động tác cũng nên hết sức chú ý đến nó. Thứ đến, động tác của Thái Cực quyền là toàn thân cùng lúc hoạt động; trong các hình vẽ đã thêm chữ “đồng thời” vào nhiều động tác, cũng mong người học lưu ý. Còn các phép tắc khác, nên tùy theo trình độ học tập mà sắp xếp trước sau; trong các phép tắc khi luyện quyền giá đã có thuyết minh tổng quát, đủ để tham khảo nghiên cứu, và trong các hình vẽ cũng không thể nói kỹ, nên đều không bàn đến. 第七章 练习推手时应当注意的法则 — Chương Bảy: Những phép tắc cần chú ý khi luyện tập thôi thủ Thôi thủ (推手) là phương pháp hai người đối luyện, cũng gọi là đả thủ (打手). “Đả thủ ca” trong phần phụ lục chính là yếu quyết của thôi thủ. Phương pháp đối luyện này tuy lấy việc nghiên cứu kỹ kích làm chủ, nhưng người luyện quyền nếu coi nó như trò chơi để làm thì không những thú vị đậm đà mà còn là một môn thể dục thích hợp cho cả người mạnh lẫn người yếu. Về mặt luyện tập, nó dễ học hơn luyện quyền giá; trong điều kiện không bước lớn, chỉ cần một khoảng đất trống năm sáu thước vuông là đủ cho hai người dùng. Đối với việc phổ biến mà nói, đây cũng là ưu điểm rất lớn. Trước kia chỉ coi thôi thủ là phương pháp kỹ kích mà không coi trọng hiệu dụng thể dục của nó; ngày nay nên xoay chuyển cách nhìn ấy.

Trước kia, khi mới học thôi thủ, trước tiên phải qua việc co duỗi liên tục của đơn đáp thủ, mục đích là hoạt động vai, hóa trừ cương kình; thực tế đây cũng chỉ là một thứ vận động hỗ trợ. Thôi thủ cũng có nhiều hình thức, chủ yếu khác nhau ở bộ pháp; thông hành nhất có định bộ thôi thủ, động bộ thôi thủ, đại lữ (大捋), lạn thái hoa (烂踩花) v.v. Động bộ thôi thủ chỉ có động bộ đơn giản, là hình thức động bộ của người mới học; đại lữ tuy là hình thức cao hơn, nhưng khi động bộ vẫn phải theo quy củ nhất định. Chỉ có bộ pháp lạn thái hoa là không bị câu thúc, đôi bên trong khi thính kình đều có thể tùy ý đi lại, mới là thôi thủ hoạt bộ thực sự. Nếu bên có công phu cao hơn đi quá hoạt, bên kia sẽ theo không kịp. Thứ thôi thủ hoạt bộ này không có cách luyện riêng, chỉ cần công phu hiểu kình đạt tới một giai đoạn nhất định, hơi diễn tập là có thể nước chảy thành mương; nhưng muốn tăng sự thuần thục thì vẫn cần thường xuyên diễn tập. Khi tác giả mới học thôi thủ, vừa bắt đầu đã học định bộ thôi thủ; lúc đó không hiểu gì cả, chỉ là theo thức đặt hai tay cho đúng, hai chân một hư một thực đứng yên bộ pháp, hai người như hai người cưa ván, đưa qua đưa lại chuyển đổi hai tay. Không có biến hóa, cũng không hiểu kình; đó chính là cái mà thói quen gọi là “vẽ vòng tròn,” mỗi lần đều phải vẽ hơn mười phút. “Vẽ vòng tròn” tuy không có gì thú vị, nhưng đối với việc dưỡng sinh mà nói thì lại là một thứ vận động rất thoải mái. Mùa đông chỉ cần vẽ ba, năm phút là thân thể đã ấm lên. Vì thế, có nhiều người đến sau đã hiểu kình rồi mà vẫn rất thích vẽ vòng tròn, chính là vì lẽ ấy. Khi Ngô tiên sinh dạy thôi thủ, ngài không nói kình với chúng tôi từ sớm, chỉ yêu cầu chúng tôi duỗi dài tay chân để đẩy bức nhau; khi bị bức chỉ được phép mở rộng thức “tọa thân” (tức chân trước hư bộ, chân sau co gối làm thế ngồi) để dung nạp sức đẩy bức của đối phương, rồi theo thế hóa tan, không được dùng sức chống đỡ hoặc dùng kình gạt ra. Phải đến khi bị bức đến mức thực sự không thể hóa tan, mới cho phép người bị bức theo thế thoái bộ; nếu nửa bước đủ thì chỉ thoái nửa bước, không được thoái nhiều, luôn lấy việc thoái vừa đúng mức, không rời khỏi đối phương làm chính. Luyện như thế một thời gian, tọa thân của chúng tôi vững và rộng, đồng thời trong việc tiếp ứng cũng có kinh nghiệm nhất định, đối với sự tiến bức của đối phương đã xem như cơm thường ngày, không còn sợ nữa; như thế mới kể như đã đặt xong nền móng bước thứ nhất. Nền móng công phu này có nhiều người không thích luyện, luôn vừa mở đầu đã yêu cầu nói kình, mà hiểu kình hơi chút đã muốn dùng; bề ngoài xem ra có vẻ tiến bộ rất nhanh, kỳ thực ở mặt hóa kình thì dụng công ít quá, sẽ thành thói quen chỉ muốn phát mà không muốn hóa, về sau vẫn bị ảnh hưởng mà trở ngại tiến bộ. Đây là điều Ngô tiên sinh thường chỉ thị cho chúng tôi, có lẽ vì Ngô tiên sinh tinh thông hóa kình nên mới có thể hội được như vậy.

Phương pháp luyện tập mà quyền luận nói tới chia làm hai giai đoạn: một là “do trước thục mà dần ngộ hiểu kình,” một là “do hiểu kình mà lên tới thần minh.” Giai đoạn trước ắt phải có thầy chỉ dẫn; giai đoạn sau hoàn toàn dựa vào bản thân khổ công nghiên cứu, không phải điều thầy có thể rót cho. “Thập Tam Thế Ca Quyết” có hai câu “nhập môn dẫn lộ tu khẩu thụ, công phu vô tức pháp tự tu,” chính là nói về điều này. Do đó, mấy phép tắc nêu ra trong chương này cũng chỉ giới hạn ở cách luyện của giai đoạn trước, chủ yếu có năm điểm sau:

Một, bất đỉnh (不顶 – không chống đỉnh): Khi động thủ, gặp đối phương dùng sức đánh tới, lập tức trả tay chống lại, đây là một thứ bản năng; cách nói thời xưa gọi là “tiên thiên tự nhiên chi năng,” không phải học kỹ kích mới có bản năng này; nhưng sau khi học giỏi kỹ kích, việc đánh hoặc phản kích của chúng ta có thể nhanh hơn, chuẩn hơn, mạnh hơn, điều đó vẫn không thể phủ nhận. Thái Cực quyền coi trọng hóa trước rồi đánh sau, và trước khi đánh còn phải tạo thành thế “ta thuận người nghịch,” rồi theo thế truy kích, dụng lực không nhiều; cái mà quyền luận gọi là “bốn lạng bạt ngàn cân” chính là hiệu quả cao nhất của cách đánh này. Vì vậy, điều chúng ta cần rèn luyện không phải là gia công thêm trên bản năng để nó nhanh và mạnh, mà là ức chế trên bản năng, khiến nó được dùng thỏa đáng hơn và hữu hiệu hơn. “Bất đỉnh” chính là một phép tắc quan trọng đáp ứng yêu cầu này. Có người cho rằng: luyện “bất đỉnh” không khó, chỉ cần trên tay không dùng chút sức nào, mặc cho đối phương bày đặt là thành công; điều này đúng, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi vì mặc cho đối phương bày đặt là để mình ở thế bị động, còn “bất đỉnh” thì lấy tinh thần chủ động để thích ứng với bất kỳ động tác nào. Cho nên khi thôi thủ, việc có thể tiếp nhận sự bày đặt của đối phương là cần thiết, nhưng đồng thời chúng ta còn phải dùng cảm giác để “thính” cho rõ động tác của đối phương (“thính” là thuật ngữ, tức là ý hiểu biết), rồi dùng động tác của mình để thích ứng với nó. Nếu đối phương chỉ tiến một tấc, ta cho hắn một tấc; tiến một thước, ta cho hắn một thước (nhớ kỹ khi cho phải đi đường cung), quyết không cho ít, cũng quyết không cho nhiều; cho ít sẽ mắc bệnh chống đỉnh, cho nhiều sẽ mắc bệnh ly khai, đều chưa nắm được vừa đúng mức. Có thể thấy “bất đỉnh” không phải đơn thuần dùng ít sức, mà là dùng lực nhỏ hơn để dẫn dụ đối phương tiến tới rồi rơi vào khoảng không, sau đó biến đổi thủ pháp để bày đặt đối phương. Khi thôi thủ, vì đôi bên đều hiểu đạo lý này, thường bên nào cũng không chịu mạo tiến. Trừ khi đang vẽ vòng tròn, khi luyện tập tốt nhất không nên như thế thủ cựu. Phải biết rằng nếu một bên không chịu tiến thì bên kia làm sao có thể luyện ra công phu “bất đỉnh” được! Hai bên thay phiên nhau tiến tới là một cách luyện tương đối thỏa đáng. Ngoài ra còn một yếu điểm phải ghi nhớ, là khi luyện “bất đỉnh” phải đồng thời động eo tọa thân, không được chỉ tiếp ứng trên tay, bởi vì thủ pháp và thân pháp phải nhất trí; nếu không, tay về mà thân không về, trái lại sẽ cho đối phương cơ hội bỏ tay đánh vào thân.

Hai, bất đâu (不丢 – không đánh mất): Bất đỉnh là động tác người tiến ta lùi, người cương ta nhu; bất đâu là động tác người đi ta theo, cũng là động tác bậc thang chuyển hóa thành đánh. Hai cái tuy phương hướng và tác dụng trái ngược nhau, nhưng nhìn như một động tác hình tròn thì lại là hai động tác chị em tương phản tương thành, tuần hoàn không dứt. Hai chữ bất đâu, về mặt chữ nghĩa tuy là ý không đánh mất hoặc không rời khỏi, nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy. “Bất đỉnh” nói trên phải dùng cảm giác, còn phải có tác dụng dẫn dụ đối phương rơi vào khoảng không; bất đâu ở đây cũng phải dùng cảm giác để dính chặt cánh tay đối phương, cánh tay ta một mặt theo, một mặt còn phải hơi vận động, xua khiến đối phương rơi vào thế bất lợi hoặc không vững. Lúc này, nếu đối phương đã không thể giãy giụa, liền có thể dùng kình phát đối phương ra; nếu đối phương cố giãy giụa, ta có thể dùng thủ pháp dục cầm cố túng, đem đối phương triêm lên (triêm là thuật ngữ, tức ý hút lên trên), rồi phát ra, có thể phát đối phương ra xa hơn. Đây là một cách đơn giản nhất; khi thôi thủ, chúng ta phải tùy thời tùy chỗ tìm kiếm cơ hội loại này. Phải luyện đến mức dụng lực rất ít mà có thể theo thế vây khốn đối phương, mới kể là hợp yêu cầu.

Thủ pháp của Thái Cực quyền tuy biến hóa đa đoan, nhưng phần lớn đều không rời khỏi hai động tác này — bất đâu bất đỉnh giao nhau mà dùng. Trong “Đả thủ ca,” hai câu “dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, triêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh” chính là chỉ thị quan trọng cho việc vận dụng bất đâu bất đỉnh. Cũng có người giải thích ba chữ “bất đâu đỉnh” là “không được đánh mất đỉnh đầu huyền.” Ở bất cứ nơi nào cũng phải giữ “đỉnh đầu huyền” quả thực là một phép tắc quan trọng, nhưng ở đây vẫn nên xem là bất đâu bất đỉnh thì thỏa đáng hơn. Bởi vì bất đâu là kình “triêm,” bất đỉnh là kình “tẩu,” là hai thứ kình chủ yếu nhất trong đả thủ; bốn chữ “triêm liên niêm tùy” ở nửa câu trên cũng là nhấn mạnh yếu điểm vận dụng hai thứ kình ấy. Trong quyền luận lại còn những câu như “triêm tức thị tẩu, tẩu tức thị triêm, âm bất ly dương, dương bất ly âm, âm dương tương tế, phương vi đổng kình,” từ những lời ấy chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của hai thứ kình này.

Ba, tiên cầu khai triển (先求开展): Khẩn thủ môn hộ là nói về việc phòng địch tiến công khi ứng dụng; nhưng những bậc kỹ kích gia công phu khá cao, có khi còn cố ý mở rộng môn hộ để dụ địch vào sâu. Nếu khi thôi thủ chỉ dụng công phu trên việc thu nhỏ môn hộ mà không có tố dưỡng mở rộng môn hộ, thì đến khi ứng dụng, gặp tình huống môn hộ bị người ta mở phá, sẽ kinh hoảng thất thố. Cho nên luyện công phu bao giờ cũng trước cầu khai triển, sau cầu khẩn thấu; không những hai cái không thể thiếu một, mà còn không được đảo ngược thứ tự trước sau. Bởi vì đã quen khẩn thấu rồi, lại cầu khai triển thì tương đối khó khăn. Công phu thôi thủ của Thái Cực quyền đòi hỏi trước luyện khai triển, chủ yếu có hai mục đích: một là dụng công từ chỗ lớn có thể mở rộng hạn độ của bất đâu bất đỉnh; đến khi công phu sâu, do cảm giác linh mẫn hơn, thính kình rõ hơn, rồi dần dần thu nhỏ hạn độ ấy lại — đây là công phu khẩn thấu tự nhiên nhất; hai là luyện từ chỗ lớn thì khe hở của cả hai bên đều khá lớn, đôi bên đều dễ thừa cơ mà động. Như vậy có thể khiến hai bên đều có nhiều cơ hội luyện tập kỹ xảo công thủ hơn. Đây là một phép tắc rất dễ hiểu; chỉ cần người học khi mới luyện đừng cầu thắng quá thiết tha, tự nhiên có thể làm được.

Bốn, vật tiên động bộ (勿先动步 – chớ động bộ trước): Thái Cực quyền khi ứng dụng lấy việc không động kình trước làm chính; nhưng khi luyện thôi thủ thì lại không nên như vậy. Thử nghĩ hai bên đều đang dĩ tĩnh đãi động, thì còn chỗ nào có thủ pháp để luyện nữa! Cho nên khi mới học phải hẹn nhau luân lưu động kình, đến khi công phu khá sâu mới có thể tùy ý động kình. Thứ động kình mang tính chất ấy, theo thói quen gọi là “vấn kình” (問劲 – kình hỏi). Có thể làm được hễ hỏi ắt đáp, mà đáp không sai, tức là công phu thôi thủ đã tới một trình độ nhất định rồi. “Vật tiên động bộ” nêu ra ở đây không phải nói với bên vấn kình mà là nói với bên đáp kình, bởi vì người vấn kình cung bộ tiến thân, thế thuận; người đáp kình hư bộ tọa thân, thế nghịch. Người trước dễ đứng vững; người sau không dễ đứng vững, thường mắc tật động bộ quá sớm, như vậy không những ảnh hưởng đến sự hợp tác của hai người, mà bản thân cũng rơi vào cảnh có thể tẩu mà không thể niêm. “Vật tiên động bộ” được nói ra chỉ là yêu cầu người đáp kình khi gặp vấn kình phải cố gắng hết mức đi trước bằng eo, không được đi trước bằng bộ, không đến lúc vạn bất đắc dĩ thì không được thoái bộ; đây là phương pháp duy nhất dạy người ta luyện cho tốt động tác ở eo. Coi nhẹ việc động bộ tất dẫn đến không muốn động eo, kình ở eo tự nhiên không cách nào luyện ra được. Cách luyện này khi mới học tuy là một gánh nặng, nhưng sau khi luyện tốt rồi thì trong vô hình đã hình thành thói quen “thính kình động bộ”; khi luyện thôi thủ hoạt bộ thì không cần phải dụng công nhiều trên bộ pháp nữa. Còn như “bộ tùy thân hoán” nói trong “Thập tam thế hành công tâm giải” là nói khi ứng dụng thân và bộ phải nhất trí, không thể giải thích thành lúc luyện công thì tùy tiện động bộ.

Năm, kình đoạn ý bất đoạn (劲断意不断 – kình đứt mà ý không đứt): Đây là nói trong khi thôi thủ, do dụng kình quá hoặc không đủ, khi cánh tay hai người bỗng rời nhau ra, không được dùng cách đáp lại tay từ đầu, mà phải trong tình trạng hai tay đã rời nhau tiếp tục làm động tác tưởng tượng bất đâu bất đỉnh, khiến cánh tay hai người, do kình đoạn mà ý không đoạn, có thể trở lại trạng thái cũ, vẫn đáp vào nhau. Khi thôi thủ, cơ hội loại này rất nhiều, phải chuyên tâm luyện tập, không được bỏ qua. Luyện tốt rồi, đối với đả tán thủ (tức cách luyện hai người tự do vấn kình, không đáp tay trước nữa) hoặc khi ứng dụng, đều là thủ pháp tiếp ứng cực kỳ quan trọng. Bởi vì thôi thủ là đáp tay trước rồi vấn kình sau, còn tán thủ là không đáp tay mà đã động kình; nếu không biết bằng không mà tiếp kình, thường sẽ bị người ta khống chế, trừ phi thấy tay là tránh, rất khó thoát khỏi. Có khi một người công phu sâu cố ý múa hờ một tay trước người công phu cạn, người sau duỗi tay tiếp ứng mà hơi chần chừ, liền bị người trước đổi tay phong tỏa rồi đánh văng ra — chính là hiệu quả của việc luyện thứ công phu ấy đến thuần thục. Khi bàn giá tử, trên động tác kỹ kích mà làm nhiều sự tưởng tượng kình đoạn ý bất đoạn, cũng có thể tăng trưởng công phu tiếp ứng và công phu bằng không hóa đả.

Những điều nói trên đều là phép tắc phải chú ý khi luyện thôi thủ. Còn như thôi thủ như bằng, lữ, tễ, án v.v., tính chất khác với các phép tắc nói trên, cho nên để ở thiên đồ giải phía sau mà nói riêng. Ngoài ra, những tư thế nên vận dụng khi thôi thủ như hàm hung, trầm kiên, khuất thối, tọa thân v.v., và những tiêu chuẩn quan trọng trong động tác như khinh tùng, viên hoạt, liên quán, hoàn chỉnh v.v., đều hoàn toàn tương thông với phép tắc bàn giá tử; người học có thể tham khảo phần thuyết minh ở các chương liên quan khác, ở đây lược bỏ. Lại nữa, khi học thôi thủ cũng có người giảng dạy ở giữa cách “thôi ngưu kình” (推牛劲 – kình đẩy trâu). Đó là hai bên đều dùng sức lớn vẽ vòng tròn và hỏi kình lẫn nhau (dụng lực không được bên lớn bên nhỏ; nếu không thì hoặc bên lực lớn bị khiên động mà lạc vào khoảng không, hoặc bên lực nhỏ bị đè bẹp mà không vững). Mục đích là làm cường kiện công phu ở eo và chân, đồng thời có thể nếm thử trên cánh tay cái vị của nhận kình (韌劲 – kình dai). Thứ công phu này là luyện riêng để ứng phó với người có sức tay quá lớn; nếu bản thân thể lực khá tốt thì cũng có thể không luyện. Nếu muốn luyện, thì sau khi luyện xong phải tiếp luyện công phu thôi thủ dùng khinh kình, để tiêu trừ ảnh hưởng của nhận kình; bởi vì thủ pháp của Thái Cực quyền lấy nhu hóa làm chính, cho nên trên động tác cũng phải lấy khinh linh làm chính.

Chương Tám Đồ giải thôi thủ Thái Cực quyền Ngô thức Thôi thủ của Thái Cực quyền tuy là phương pháp chủ yếu luyện công phu kỹ kích, nhưng nếu coi nó là một môn vận động dưỡng sinh thì cũng rất thú vị. Bởi vì khi hai người đối luyện đều chuộng xảo chứ không chuộng lực, không những biến hóa khá nhiều, mà còn có lý luận phong phú để nghiên cứu, càng khiến người ta say mê, luyện lâu không chán. Dưới đây là căn cứ theo yêu cầu của vận động dưỡng sinh, giới thiệu cho người mới học một số phương pháp nhập môn; cho nên phần đồ giải làm dưới đây chỉ hạn ở định bộ thôi thủ (定步推手 – thôi thủ cố định bộ) thích hợp với yêu cầu thông thường và tám động tác cơ bản của thôi thủ:

Phần 142

Trang sách 555

Thứ nhất, Đơn đáp thủ

Thứ nhất, Đơn đáp thủ

Đây là thức đơn giản nhất trong các động tác khi mới học thôi thủ. Hai người khi đáp tay chỉ cần đáp một tay, đều dùng tay phải hoặc đều dùng tay trái; khi thôi thủ cũng chỉ dùng hai tay đã đáp để liên tục làm động tác hình tròn (theo thói quen gọi là vẽ vòng tròn), không có trò gì khác. Vẽ vòng tròn tuy là động tác rất đơn giản, nhưng phải vẽ rất tự nhiên, lại có thể nắm giữ phân thốn của “bất đâu bất đỉnh” rất thỏa đáng, thì cũng không phải là việc mà luyện tập ngắn ngày có thể thấy công hiệu. Đơn đáp thủ, căn cứ vào sự khác nhau của xuất thủ và xuất cước, có thể chia thành bốn thức: đáp tay phải mà chân phải ở trước gọi là thuận bộ hữu đáp thủ thức; đáp tay phải mà chân trái ở trước gọi là ảo bộ hữu đáp thủ thức; đáp tay trái mà chân trái ở trước gọi là thuận bộ tả đáp thủ thức; đáp tay trái mà chân phải ở trước gọi là ảo bộ tả đáp thủ thức. Hình minh họa trên đây chính là thuận bộ hữu đáp thủ thức; các thức khác có thể theo lời giải thích trên mà do người học tự suy sánh, hình minh họa lược bỏ. Phương pháp thôi thủ của đơn đáp thủ, lấy thuận bộ hữu đáp thủ thức làm ví dụ, thuyết minh như sau: hai người đối diện mà đứng (người đứng bên trái là giáp phương, người đứng bên phải là ất phương; dưới đây cũng vậy), chân phải bước ra, đều là hư bộ, tay phải đều dán vào nhau ở chỗ cổ tay và cánh tay, tay trái mỗi bên đặt ở phía dưới bên trái cùi chỏ phải.

图 148
图 148
Hai người đối diện đứng, đều lấy chân phải ở trước thành hư bộ, cổ tay cánh tay phải dán vào nhau; người bên trái (giáp phương) cổ tay phải hơi chìm xuống rồi từ từ duỗi về phía trước ngực đối phương, người bên phải (ất phương) khuất tý truỵ trửu dẫn tay phải đối phương về phía vai phải của mình(原書作「單搭手」,未編號)

Giả định do giáp phương ra tay trước, tay phải của giáp phải hơi chìm cổ tay, tức thì từ từ duỗi về phía trước ngực của ất, đồng thời biến hư bộ thành cung bộ, khiến thân thể từ từ tiến lên; tay phải của ất phải theo hướng tay của giáp mà từ từ khuất tý truỵ trửu (cổ tay hai người không được buông lỏng ra) dẫn tay giáp về phía vai phải của mình, trong quá trình dẫn dắt phải theo đường cung hình chữ ㄟ, đồng thời hơi tọa thân (bởi vì ất vốn đứng ở hư bộ, chỉ có thể hơi tọa thân; nếu đứng cung bộ thì phải tọa thân hết mức), để thích ứng với thế tới. Đến lúc này, tay phải của giáp không nên duỗi về trước nữa, mà phải từ từ thu về, và do ất phương theo động tác trước đó của giáp mà duỗi tay về phía trước ngực của giáp. Khi duỗi tay phải theo đường cung hình chữ ㄟ (để hợp với đường cung trên thành một vòng tròn), đồng thời biến hư bộ thành cung bộ từ từ tiến thân; giáp phương cũng theo động tác trước đó của ất, thừa thế khuất tý truỵ trửu dẫn tay ất về phía vai phải của mình, đồng thời biến cung bộ thành hư bộ và tọa thân hết mức. Một qua một lại như vậy là vẽ được một vòng tròn, sau đó có thể làm liên tục như lúc bắt đầu; nếu cảm thấy vai tay hoặc chân đứng phía sau đã mỏi, có thể đổi sang thôi thuận bộ tả đáp thủ hoặc ảo bộ tả hữu đáp thủ. Động tác dẫn tay phải về phía bên vai nói trên, có thể tham khảo đồ giải của song đáp thủ, hình 3; động tác dẫn tay trái về phía bên vai có thể tham khảo hình 5 của song đáp thủ (động tác này trong song đáp thủ đều gọi là húc, 擖).

Thôi thủ của đơn đáp thủ tuy đơn giản hơn song đáp thủ, nhưng trên động tác cũng phải chú ý hai yêu cầu sau: (1) tiến thoái của hai bên (bao gồm sự biến đổi của bộ pháp và sự khuất thân của cánh tay) phải cố gắng nhất trí về tốc độ động tác, để hợp với yêu cầu “bất đâu bất đỉnh”; (2) khi tọa thân, tức khi biến cung bộ thành hư bộ, phải hơi hàm hung và thả lỏng yêu phúc, để hợp với yêu cầu “khí trầm đan điền” và “khí trực cổ đãng.”

Phần 143

Trang sách 557

Thứ hai, Song đáp thủ

Thứ hai, Song đáp thủ

Song đáp thủ tuy là thức để nghiên cứu bát pháp của thôi thủ, nhưng khi mới học thì nói chung đều theo cách vẽ vòng tròn mà tiến hành luyện tập, giống như luyện đơn đáp thủ; dĩ nhiên, trên động tác thì tương đối khó hơn. Nó cũng lấy hai tay đáp nhau ở cổ tay làm tiêu chuẩn, chia thành bốn thức: thuận bộ tả, hữu đáp thủ và ảo bộ tả, hữu đáp thủ. Hình 1 dưới đây chính là thuận bộ hữu đáp thủ, hình 2 là ảo bộ tả đáp thủ, hình minh họa hai thức khác lược bỏ.

Đơn đáp thủ chỉ cần một tay đáp nhau, khi thôi thủ có thể luyện động tác vẽ vòng khá lớn, cho nên hai người đối diện không ngại đứng xa một chút; vòng tròn của song đáp thủ vẽ tương đối nhỏ, nên khoảng cách hai người phải gần hơn, đại để lấy chân bước ra của hai bên gần nhau làm tiêu chuẩn. Trước khi thôi thủ, chân bước ra đều dùng hư bộ; sau khi thôi thủ, bên tiến bao giờ cũng dùng cung bộ, bên lùi dùng hư bộ. Nay đem các hình kèm theo lần lượt thuyết minh như sau:

Hình 1: hai người tay phải đáp nhau, chân phải bước ra; hình dạng này giống hệt thuận bộ hữu đáp thủ thức của đơn đáp thủ, chỗ khác nhau là: tay trái của giáp phải đặt ở phía bên cùi chỏ phải của ất, tay trái của ất phải đặt ở bên cùi chỏ phải của giáp (cách đặt trong hình có khác, dưới đây sẽ nói riêng).

Hình 2: hai người tay trái đáp nhau, bộ pháp không đổi; tay phải của giáp đặt ở bên cùi chỏ trái của ất, tay phải của ất đặt ở bên cùi chỏ trái của giáp (cách đặt trong hình có khác cũng sẽ nói riêng ở dưới).

图 149
图 149
Hai người chân trái ở trước thành ảo bộ, tay phải đáp nhau trước ngực; tay phải của người bên trái (giáp phương) đặt ở bên cùi chỏ trái của đối phương, tay phải của người bên phải (ất phương) đặt ở bên cùi chỏ trái của đối phương(原書作「圖 1」,未編號;原圖下題「圖 1」)
图 150
图 150
Hai người tay trái đáp nhau trước ngực, bộ pháp một thuận một ảo; tay phải của hai bên mỗi bên đặt ở bên cùi chỏ trái của đối phương(原書作「圖 2」,未編號;原圖下題「圖 2」)
图 151
图 151
Hai người tay phải đáp nhau; tay phải của ất phương duỗi về phía trước ngực giáp phương, giáp phương dẫn nó về phía vai phải của mình; tay trái của ất phương đã dời đến bên cùi chỏ phải của mình để đáp lấy tay trái của giáp phương(原書作「圖 3」,未編號;原圖下題「圖 3」)
图 152
图 152
Hai người tay phải đáp nhau, hai tay giao nhau trước ngực thành hình vòng, chân trái ở trước thành ảo bộ(原書作「圖 4」,未編號;原圖下題「圖 4」)

Hình 3: tay phải của ất duỗi về phía trước ngực của giáp (giống việc duỗi tay trong đơn đáp thủ), bị giáp dẫn về phía vai phải của mình; lúc này, tay trái của giáp vẫn ở bên cùi chỏ phải của ất, mà tay trái của ất đã không sờ tới cùi chỏ phải của giáp nữa, đành phải dời đến bên cùi chỏ phải của mình để đáp lấy tay trái của giáp (đều lấy mu bàn tay dán vào nhau). Đây là từ hữu đáp thủ đổi sang bước thứ nhất của tả đáp thủ.

Hình 4: từ thức trên (hình 3), ất hạ tay phải xuống, chuẩn bị từ dưới mà chuyển lên phía ngoài cùi chỏ trái của giáp; giáp đang chờ tay phải của ất chuyển lên, sau khi chuyển thân cho ngay ngắn, liền có thể đáp tay phải lên cùi chỏ trái của ất. Đây là bước thứ hai từ hữu đáp thủ đổi sang tả đáp thủ; bước tiếp theo nữa sẽ biến thành hình 2 là ảo bộ tả đáp thủ.

Hình 5: từ thức của hình 2, tay trái của giáp duỗi về phía trước ngực ất, bị ất dẫn về phía vai trái của mình; giáp thừa thế dùng tay phải đáp lấy tay phải của ất (giống động tác dùng tay trái đáp nhau ở hình 3), sau đó lại phỏng theo động tác của hình 4 là có thể biến tả đáp thủ trở lại thành hữu đáp thủ (như hình 1).

图 153
图 153
Hai người đều đứng ảo bộ chân trái ở trước, tay phải đáp nhau trước ngực; tay phải của người bên trái (giáp phương) ở trên, cánh tay phải đè lên trên cánh tay trái của đối phương(原書作「圖 5」,未編號;原圖下題「圖 5」)

Trên đây, từ hữu đáp thủ thức của hình 1 trải qua động tác của hình 3, hình 4 mà biến thành tả đáp thủ thức của hình 2; lại từ tả đáp thủ thức trải qua hình 5 và động tác dưới hình 5 mà trở về hữu đáp thủ thức của hình 1 — đó là cách vẽ vòng tròn của song đáp thủ. Một qua một lại như vậy đã có động tác thôi thủ của hai thức thuận bộ hữu đáp thủ và ảo bộ tả đáp thủ. Sau khi hoán bộ thì biến thành thuận bộ tả đáp thủ; trải qua động tác duỗi tay và dẫn tay như nhau sẽ biến thành thức ảo bộ hữu đáp thủ. Sau khi thôi bốn thức cho thục rồi, tự nhiên có thể dẫn khởi biến hóa, có thể thuận thôi, nghịch thôi, cao thôi, đê thôi, vẽ ra những vòng tròn chằng chịt phức tạp; đây là yêu cầu bước đầu của việc luyện định bộ thôi thủ.

Khi mới học thôi thủ, bao giờ cũng chỉ biết dùng bàn tay mà không biết dùng phần cổ tay, cẳng tay (tức tiểu tý) ngoài bàn tay; cho nên trên các thức đáp thủ, tay đáp ở bên cùi chỏ đối phương bao giờ cũng dùng lòng bàn tay mà đáp. Như hình 1 của song đáp thủ, tay trái của giáp phương, và hình 2 tay của giáp phương phải. Nhưng thôi thủ tiến bộ hơn một chút thì không phải đơn thuần dùng tay để hoàn thành động tác. Ở đây không lấy toàn thân để bàn, chỉ lấy cổ tay và cẳng tay của thượng chi để nói: phàm người thôi thủ đã lâu, bao giờ cũng dùng cổ tay hoặc dùng cẳng tay để đáp lên cánh tay đối phương. Như hình 1 của song đáp thủ, tay trái của ất, và hình 2 tay phải của ất, đều dùng cổ tay cẳng tay mà đáp; đây là thức cố ý để tay không ra dành cho việc khác. Từ hình 3 có thể thấy, giáp phương dẫn dắt tay phải của ất là dùng bàn tay; từ hình 5 có thể thấy, ất phương dẫn dắt tay trái của giáp là dùng cổ tay cẳng tay. Thử hỏi, hai tay của ất để không mà không dùng, có phải linh hoạt hơn hai tay của giáp nhiều lắm không? Trả lời là khẳng định. Bởi vì hai tay của ất có thể bất cứ lúc nào hạ xuống gia tăng động tác mới trên cánh tay trái của giáp, khiến giáp phương bị thiệt. Đây là một phương pháp rất quan trọng trong thôi thủ, cho nên đặc biệt lược giới thiệu ở đây, để người mới học thôi thủ sau này có chỗ tham khảo.

Phần 144

Trang sách 560

Thứ ba, Tám động tác cơ bản

Thứ ba, Tám động tác cơ bản

Tám động tác cơ bản này theo thói quen gọi là thôi thủ bát pháp, thuật ngữ gọi là bằng, lữ, tễ, án, thái, liệt, trửu, kháo; lần lượt đồ giải như sau:

图 154
图 154
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) dùng tay phải đẩy về trước, người bên phải (ất phương) thừa thế khuất trửu lấy phần cẳng tay dính chặt cẳng tay đối phương(原圖下題「圖 1 掤」,未編號)

Bằng (掤): đọc như “bằng.” Đây là một động tác đường chéo dùng lực hướng về trước và hướng lên trên. Như hình 1, hai người vốn là thức thuận bộ hữu đáp thủ; do giáp phương dùng tay phải đẩy về trước (tức không để ất phương đi động tác hình 3 của song đáp thủ), ất phương đành thừa thế khuất trửu, lấy phần cẳng tay dán chặt cẳng tay của giáp phương. Giáp phương nếu tiếp tục dùng lực, thì khi phản kích ất phương phải dùng bằng kình hướng về trước và hướng lên trên (dĩ nhiên có thể dùng các thủ pháp hóa kình, ở đây không bàn), đường chéo của nó như (ㄟ). Khi ất phương phản kích, nếu dùng trực kình chỉ có một hướng về trước (như ←) tuy cũng có thể đánh văng giáp phương ra, nhưng lực phải dùng tương đối lớn; dùng bằng kình mang theo hướng lên trên có thể hất thân thể giáp phương lên, khiến giáp phương đứng không vững, dùng lực nhỏ có thể có hiệu quả của lực lớn.

Lữ (履): đọc như “lữ.” Đây là động tác đường chéo men theo hướng chủ lực tiến lên của đối phương mà dùng lực hướng về bản thân và hướng về hai bên (trái hoặc phải) để dẫn dắt. Như hình 2, ất phương dùng bằng kình phản kích; giáp phương thừa thế chuyển hai cẳng tay thành một trước một sau dán chặt cánh tay phải của ất (tức chỗ có chủ lực), dùng lữ kình hướng vào trong và hướng sang phải khiến bằng kình của ất phương đổi hướng. Trong hình, cánh tay phải của ất xiên về vai phải của giáp — đó chính là hướng mới sau khi bị lữ động. Lữ là một thứ hóa kình thường dùng, mục đích là khiến đòn phản kích của đối phương rơi vào khoảng không, và khiến thân thể đối phương nghiêng về phía trái hoặc phía phải của thân ta; sau đó thừa lúc họ đứng không vững mà gia thêm lực lên thân đối phương, không cần dùng nhiều sức cũng có thể khiến đối phương bị khống chế dưới tay ta.

图 155
图 155
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) hai cẳng tay chuyển thành một trước một sau dán chặt cánh tay phải đối phương, dùng hướng vào trong và sang phải để dẫn động(原圖下題「圖 2 履」,未編號)
图 156
图 156
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) cổ tay trái dán lên cánh tay phải đối phương, tay phải đặt trên cổ tay trái của mình, dùng lực ép xuống và tới trước(原圖下題「圖 3 挤」,未編號)

Tễ (挤): đây là một động tác đường chéo dùng lực ép hướng về trước và hướng xuống dưới. Như hình 3, cổ tay trái của giáp dán trên cánh tay phải và tay trái của ất, tay phải của giáp đặt trên cổ tay trái của mình. Lúc này giáp vốn có thể phát kình về trước đánh văng ất ra, nhưng giáp dùng áp lực hướng về trước và hướng xuống dưới, khiến thân thể ất bị tễ mà ngã ngửa về sau; ất nếu không cách nào giải thoát, giáp chỉ cần hơi gia lực trên tay phải là có thể đẩy ất ra; ất nếu gắng gượng hướng lên giãy giụa mong dựng thẳng thân thể, giáp tức có thể triệt tiêu áp lực hướng xuống mà phát lực về trước, thân thể ất sẽ bị đánh văng ra xa hơn. Phương hướng của tễ kình dùng đường để biểu thị như ↘ (giáp phương); nếu do ất phương dùng tễ kình thì là đường chéo như ↙, nó hoàn toàn ngược trên dưới với phương hướng của bằng kình.

Án (按): đây là một động tác đường chéo dùng lực hướng xuống và hướng về phía bản thân để trầm và dẫn dắt. Như hình 4, hai tay của ất án trên cẳng tay phải của giáp. Theo nghĩa thông thường của chữ án mà nói, thì phải là động tác dùng lực hướng xuống. Theo thức trong hình mà xem, ất phương cũng có thể dùng trực kình đẩy tới trước hoặc dùng hướng của tễ kình để đẩy. Nhưng án kình của Thái Cực quyền là: hai tay của ất một mặt trầm kình xuống, một mặt còn phải dán chặt cẳng tay phải của giáp mà dẫn dắt về phía bản thân (tức là đường chéo như ↘ này). Hai cánh tay của ất duỗi thẳng không phải là để đẩy tới trước, mà là chuẩn bị khuất trửu án xuống để dẫn dắt thân thể giáp về phía bản thân. Khi dùng án kình phải chú ý hai điểm sau: (1) cẳng tay phải của giáp nếu không dùng chút lực nào mà không có đỉnh kình hướng lên, thì ất không cách nào dẫn dắt về phía bản thân được; (2) ất dùng án kình trầm đới về phía bản thân thì phải đề phòng giáp thừa thế xông tới trước mà đụng, cho nên khi trầm đới phải thiên về phía phải hoặc phía trái của bản thân. Án kình là động tác khiến đối phương phủ phục thân về trước; nếu đối phương không chịu phủ thân mà giãy giụa về sau, thì bên dùng án kình có thể thừa thế phát kình về trước đẩy đối phương ra.

图 157
图 157
Hai người tay phải đáp nhau; người bên phải (ất phương) hai tay án trên cẳng tay phải đối phương, một mặt trầm kình xuống, một mặt dán chặt đối phương mà dẫn dắt về phía bản thân(原圖下題「圖 4 按」,未編號)

Thái (采): đây là một động tác sau khi trầm kình xuống thì tức thì dùng lực hướng về phía trái hoặc phải của bản thân để đề đới. Như hình 5, hai cánh tay của ất đặt trên hai cánh tay của giáp; nói cách khác, tức là hai cánh tay của giáp nâng đỡ hai cánh tay của ất. Lúc này, ất nếu dùng kình trầm một cái để dẫn ra thác kình hướng lên của giáp, rồi tức thì buông trầm kình mà dùng tay đề đới về phía phải của bản thân, thì có thể khiến thân thể giáp nghiêng về phía trái hoặc phía trước bên trái mà đứng không vững. Phương pháp dụng kình trầm trước đề sau giống động tác hái vật, hạ xuống là nâng lên ngay, cho nên gọi là thái kình. Khi dùng thái kình cũng phải chú ý đối phương thừa thế xông đụng, vì vậy kình dùng khi đề đới phải thích ứng với thác kình của đối phương.

图 158
图 158
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) hai cánh tay ở dưới nâng đỡ hai cánh tay đối phương, người bên phải (ất phương) trước trầm kình xuống rồi tức thì đề đới cánh tay đối phương về phía phải của bản thân(原圖下題「圖 5 采」,未編號)
图 159
图 159
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) tay phải đẩy cùi chỏ trái đối phương, tay trái theo đường cung án lên cánh tay phải đối phương; người bên phải (ất phương) tay trái theo đường cung lũy cánh tay phải đối phương, tay phải đẩy về phía dưới bên phải đối phương(原圖下題「圖 6 例」,未編號)

Liệt (挒): đọc như “liệt.” Đây là một động tác men theo hướng chủ lực của đối phương, dùng lực theo đường cung khiến thân thể đối phương xoay chuyển. Như hình 6, tay phải của giáp đẩy cùi chỏ trái của ất (là chỗ chủ lực của giáp); tay trái của ất thừa thế dùng kình theo đường cung (như ↘) trên cánh tay phải của giáp mà lũy xuống; đồng thời, tay trái của giáp đang gia lực trên cánh tay phải của ất, tay phải của ất liền thừa thế theo đường cung (như ↙) trên ngực trái của giáp mà đẩy mạnh về phía dưới bên phải của giáp. Hai thứ kình của ất đồng thời gia lên cánh tay và lên thân thể giáp, có thể khiến thân thể giáp xoay chuyển về phía ất mà nghiêng đi. Phương hướng mà thị tuyến của ất chỉ trong hình chính là phương hướng mà thân thể giáp sau khi bị liệt sẽ xoay chuyển và nghiêng về.

Trửu (肘): đây là động tác dùng cùi chỏ đánh người hoặc dùng cùi chỏ trầm đới tay, cánh tay của đối phương. Như hình 7, tay trái của giáp vốn duỗi thẳng về phía trước ngực của ất; khi ất lũy sang trái thì dùng tay trái đẩy tay trái của giáp, giáp liền thừa thế khuất tý dùng đầu cùi chỏ đuổi theo đánh vào ngực ất. Đây là một cách thừa thế dùng cùi chỏ đánh người khi không kịp hoán thủ (dùng cùi chỏ đánh người dĩ nhiên không chỉ có một thức này). Nếu tay trái của ất không đẩy tay trái của giáp mà tiếp tục lũy sang trái, giáp không có cơ hội khuất tý thì không thể dùng cùi chỏ đánh ất được. Có thể thấy dùng cùi chỏ đánh người trước hết phải có cơ hội thừa thế khuất tý; nếu hoàn toàn không có cơ hội ấy hoặc cơ hội đã bỏ lỡ thì đều không nên dùng cùi chỏ đi đánh người. Như hình 8, là một thức dùng cùi chỏ trầm đới; công dụng của nó lớn hơn hình 7. Trong hình, tay phải của giáp đang nâng đỡ cùi chỏ trái của ất. Lúc này ất nếu dùng tay trái đẩy vào ngực giáp, thì cánh tay trái của ất sẽ bị giáp nâng cho bằng ra; tình thế này rất bất lợi cho ất, cho nên ất phải dùng cùi chỏ trầm xuống đồng thời đới về sau (tay trái vẫn dán chặt ngực giáp không rời ra), liền có thể khiến thân thể giáp nghiêng về phía trước bên phải mà đứng không vững. Do tay trái của ất chưa rời khỏi ngực giáp, ất nếu lúc này duỗi cánh tay trái đánh một cái hoặc dùng tay trái dùng sức mạt sang trái, là có thể đánh văng hoặc đánh ngã giáp.

图 160
图 160
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) tay trái duỗi thẳng tới trước, người bên phải (ất phương) khi lũy sang trái dùng tay trái đẩy tay trái đối phương, đối phương thừa thế khuất tý lấy đầu cùi chỏ đuổi đánh vào ngực(原圖下題「圖 7 肘一」,未編號)
图 161
图 161
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) tay phải nâng đỡ cùi chỏ trái đối phương, người bên phải (ất phương) dùng cùi chỏ trầm xuống đồng thời đới về sau, tay trái vẫn dán chặt ngực đối phương(原圖下題「圖 8 肘二」,未編號)

Kháo (靠): đây là động tác dùng vai để đụng vào đối phương; nó cũng như cùi chỏ, là một cách thừa thế truy kích khi không kịp hoán thủ. Như hình 9, tay trái của giáp vốn cũng duỗi về phía trước ngực ất, bị ất dùng hai tay lũy sang bên trái; nhưng vì lũy kình dùng quá gấp, đồng thời eo lại chuyển ít quá, không kịp đem thân thể giáp lũy sang bên trái, nên giáp trong khi bị lũy liền thừa thế tự chuyển thân, dùng vai trái truy kích. Ất tuy hàm hung tọa thân, nhưng ngực chưa chuyển nghiêng (tham khảo hình 2, lũy), rất dễ bị giáp dùng vai đánh văng ra. Việc dùng vai đánh nói trên, trong các môn võ thuật khác cũng không phải là không có, chỉ có điều trong thôi thủ việc dùng vai chủ yếu là để luyện kháo, không phải để luyện kích. Bởi vì giáp sau khi bị lũy, vội vàng dùng vai kháo vào thân thể ất, chính là luyện công phu “bất đâu”; nếu lập tức dùng vai đi đụng, không những phạm tật “đỉnh,” mà còn có nguy hiểm bị ất biến kình đánh ngã. Cái lợi của việc dùng kháo là ở chỗ có thể tiến có thể lui. Ất nếu bị kháo mà sinh ra hiện tượng không vững, thì lúc này giáp dùng vai đụng sẽ không có nguy hiểm; ất sau khi bị kháo nếu vẫn đứng vững, và trên vai tay của giáp biến kình, thì giáp cũng có thể thừa thế thu hồi vai tay, không đến nỗi có nguy hiểm là đụng một cách lỗ mãng mà không cách nào thu hồi. Ngoài ra, dùng vai kháo thì phương hướng của lực là hướng về trước và hướng xuống dưới (giống phương hướng của tễ kình); dùng vai đụng thì phương hướng của lực chỉ hướng về trước mà không mang theo hướng xuống, bất luận đụng trúng hay không trúng, bản thân cũng không khỏi có nguy hiểm nghiêng về trước. Có thể thấy dùng vai kháo lợi hơn dùng vai đụng. Lại nữa, dùng kháo vốn phải thừa thế tiến bộ; hình 9 là chiếu theo định bộ thôi thủ để thuyết minh hình thức của kháo, cho nên trên tư thế có chỗ không hoàn toàn hợp với kháo kình.

图 162
图 162
Hai người tay phải đáp nhau; người bên trái (giáp phương) thừa thế tự chuyển thân, lấy vai trái kháo vào thân thể đối phương(原圖下題「圖 9 靠」,未編號)

Điều nói trên chỉ để người mới học thôi thủ tham khảo; cho nên phần đồ giải đã làm chỉ hạn ở việc giới thiệu những động tác cơ bản của định bộ thôi thủ. Còn như phương pháp dụng kình trong động tác và những tư thế liên quan như hàm hung, tọa thân, trầm kiên, thuỳ trửu v.v. đều không phải là chỗ mà người mới học có thể lĩnh hội, hơn nữa nói quá phức tạp thì đối với người mới học cũng không thích hợp, cho nên lược bỏ mà không bàn. Tóm lại, khi học thôi thủ, nếu chỉ học vẽ vòng tròn thì rất dễ học được, chỉ có điều thú vị ít hơn một chút; nhưng muốn học thôi thủ bát pháp thì tương đối phức tạp, hơn nữa cũng rất khó tự thông mà không có thầy; nếu có cơ hội, vẫn nên theo thầy mà học thì hơn.

Phụ lục

Phần 145

Trang sách 565

Vương Tông Nhạc luận Thái Cực quyền

Vương Tông Nhạc luận Thái Cực quyền

Thái Cực là do Vô Cực mà sinh ra, là cơ của động tĩnh, là mẹ của âm dương. Động thì phân, tĩnh thì hợp. Không quá không kém, tùy khúc tựu thân. Người cương ta nhu gọi là tẩu, ta thuận người nghịch gọi là triêm. Người động gấp thì gấp ứng, người động chậm thì chậm theo; tuy biến hóa muôn mối, mà lý là một mối suốt thông. Từ triêu thục mà dần ngộ đổng kình, từ đổng kình mà lên tới thần minh; nhưng không phải dụng công lâu dài thì không thể hoát nhiên quán thông được. Hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền. Không lệch không nghiêng, khi ẩn khi hiện. Trái nặng thì trái hư, phải nặng thì phải hư. Ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu. Tiến thì càng dài, lùi thì càng gấp. Một chiếc lông cũng không thêm được, ruồi muỗi cũng không đậu được. Người không biết ta, ta riêng biết người; anh hùng đi tới đâu không có địch thủ, đại để đều do đó mà tới. Thuật này có rất nhiều bàng môn; tuy thế có khác nhau, đại khái không ngoài việc mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh. Có lực đánh không lực, tay chậm nhường tay nhanh — ấy đều là năng lực tự nhiên của tiên thiên, không phải là việc do học lực mà có thể làm ra. Xét câu “bốn lượng bạt ngàn cân,” rõ ràng không phải thắng bằng sức; xem hình dáng lão bát tuần có thể ngự được đám đông, nhanh thì làm được gì! Đứng như bình chuẩn, sống như bánh xe. Lệch trầm thì tùy, song trọng thì trệ. Thường thấy những người luyện công thuần mấy năm mà không vận hóa được, đều tự mình bị người khống chế, là vì chưa ngộ ra cái bệnh song trọng mà thôi. Muốn tránh bệnh ấy, phải biết âm dương. Triêm tức là tẩu, tẩu tức là triêm. Âm không rời dương, dương không rời âm; âm dương tương tế, mới gọi là đổng kình. Sau khi đổng kình, càng luyện càng tinh, âm thầm ghi nhớ suy xét, dần dần tới chỗ tòng tâm sở dục. Vốn là xả kỷ tòng nhân, phần nhiều lầm mà xả cận cầu viễn; cái gọi là sai một ly, đi một dặm, người học không thể không phân biện cho tường.

Trường quyền là như Trường Giang đại hải cuồn cuộn không dứt. Thập tam thế là: bằng, lữ, tễ, án, thái, liệt, trửu, kháo — ấy là bát quái; tiến bộ, thoái bộ, tả cố, hữu phán, trung định — ấy là ngũ hành. Bằng, lữ, tễ, án tức là càn, khôn, khảm, ly — bốn phương chính. Thái, liệt, trửu, kháo tức là tốn, chấn, đoái, cấn — bốn góc xiên. Tiến, thoái, cố, phán, định tức là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. (Nguyên chú rằng: đây là di luận của lão sư Trương Tam Phong ở Võ Đang sơn, muốn cho hào kiệt trong thiên hạ sống lâu thêm tuổi, không phải chỉ làm cái ngọn của kỹ nghệ mà thôi.)

Phần 146

Trang sách 566

Vũ Vũ Tương luận Thái Cực quyền

Vũ Vũ Tương luận Thái Cực quyền

Mỗi một cử động, toàn thân đều phải khinh linh, càng phải quán xuyến. Khí nên cổ đãng, thần nên nội liễm. Đừng để có chỗ khuyết hãm, đừng để có chỗ lồi lõm, đừng để có chỗ đứt nối. Căn ở bàn chân, phát ở bắp chân, chủ tể ở eo, hiện hình ở ngón tay. Từ chân mà bắp chân mà eo, bao giờ cũng phải là một khí hoàn chỉnh; tiến tới lùi lui mới có thể đắc cơ đắc thế. Chỗ nào không đắc cơ đắc thế, thân liền tán loạn, bệnh ấy tất phải tìm ở eo và chân. Trên dưới trước sau trái phải đều như vậy. Phàm những điều ấy đều là ý, không ở bên ngoài. Có trên tức có dưới, có trước tức có sau, có trái tức có phải. Như ý muốn hướng lên thì ngụ ý hướng xuống; như khi muốn hất vật lên mà kèm theo ý tỏa vật xuống, thì căn của nó tự đứt, phá nó rất mau chóng mà không còn nghi ngờ. Hư thực phải phân cho rõ ràng; mỗi chỗ tự có hư thực của mỗi chỗ, chỗ nào cũng đều là một hư thực ấy; toàn thân tiết tiết quán xuyến, không để có chút nào đứt đoạn.

Thập tam thế ca quyết

Thập tam thế thế chớ khinh thù, mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích. Biến chuyển hư thực tu lưu ý, Khí khắp thân thể không chút trệ. Trong tĩnh, chạm thì động, động mà vẫn như tĩnh, nhân địch biến hóa mà thị hiện thần kỳ. Thế thế tồn tâm suy ý, đắc được mà không thấy phí công phu. Khắc khắc lưu tâm tại yêu gian, trong bụng tùng tĩnh khí đằng nhiên. Vĩ lư khai hợp thính tự do. Nhập môn dẫn lộ tu khẩu thọ, công phu vô tức pháp tự tu. Nhược ngôn thể dụng hà vi chuẩn, ý khí quân lai cốt nhục thần. Tưởng thôi dụng ý chung hà tại, ích thọ diên niên bất lão xuân. Ca hề ca hề bách tứ thập, tự tự chân thiết nghĩa vô di. Nhược bất hướng thử thôi cầu khứ, uổng phí công phu di thán tích.

Phần 147

Trang sách 567

Thập tam thế hành công tâm giải

Thập tam thế hành công tâm giải

Dĩ tâm hành khí, vụ lệnh trầm trước, nãi năng thu liễm nhập cốt. Dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại, nãi năng tiện lợi tòng tâm. Tinh thần năng đề đắc khởi, tắc vô trì trọng chi ngu, sở vị đỉnh đầu huyền dã. Ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú, sở vị biến động hư thực dã. Phát kình tu trầm trước tùng tĩnh, chuyên chủ nhất phương. Lập thân tu trung chính an thư, chi trì bát diện. Hành khí như cửu khúc châu, vô vi bất đáo. Vận động như bách luyện cương, hà kiên bất tồi! Hình như bác thố chi cốt, thần như bộ thử chi miêu. Tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà. Súc kình như khai cung, phát kình như phóng tiễn. Khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát. Lực do tích phát, bộ tùy thân hoán. Thu tức thị phóng, đoạn nhi phục liên. Vãng phục tu hữu chiết điệp, tiến thoái tu hữu chuyển hoán. Cực nhu nhuyễn nhiên hậu cực kiên ngạnh, năng hô hấp nhiên hậu năng linh hoạt. Khí dĩ trực dưỡng nhi vô hại, kình dĩ khúc súc nhi hữu dư. Tâm vi lệnh, khí vi kỳ, yêu vi đạo. Tiên cầu khai triển, hậu cầu khẩn thấu, nãi khả trăn vu chẩn mật hĩ.

Hựu viết: tiên tại tâm, hậu tại thân, phúc tùng, khí liễm nhập cốt. Thần thư thể tĩnh, khắc khắc tại tâm. Thiết ký nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh. Khiên động vãng lai khí thiếp bối, liễm nhập tích cốt. Nội cố tinh thần, ngoại thị an dật. Mại bộ như miêu hành, vận động như trừu ty. Toàn thân ý tại tinh thần, bất tại khí, tại khí tắc trệ. Hữu khí giả vô lực, người không khí thì thuần cương. Khí như bánh xe, eo như trục xe.

Phần 148

Trang sách 568

Đả thủ ca

Đả thủ ca

Bằng lữ tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan tiến. Nhậm tha cự lực lai đả ngã. Khiên động tứ lượng bạt thiên cân. Dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, triêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh.

Hựu viết: bỉ bất động, kỷ bất động; bỉ vi động, kỷ tiên động. Kình tự tùng phi tùng, tương triển vị triển. Kình đoạn ý bất đoạn.

Phần 149

Trang sách 569

Sơ lược về Võ Thức Thái Cực Quyền

Sơ lược về Võ Thức Thái Cực Quyền
图 1
图 1
Bán thân tượng Hác Vị Chân (1849–1920), đầu đội mũ quả dưa, để râu, mặc áo
cài khuy giữa màu sẫm.

Vũ Hà Thanh (武河清) người Vĩnh Niên, Hà Bắc, tự Vũ Tương (禹襄, 1812–1880), xuất thân trong một gia đình tiểu quan liêu địa chủ, ba anh em ở nhà luyện võ. Khi Dương Lộ Thiền (楊露禪, 1799–1872) từ Trần Gia Câu trở về quê, anh em Vũ Tương yêu thuật của ông, bèn theo học Thái Cực Quyền lão giá của họ Trần, nắm được đại yếu. Anh của Vũ Tương là Trừng Thanh (澄清, 1800–1884) đỗ tiến sĩ năm 1852, làm tri huyện Vũ Dương tỉnh Hà Nam; Vũ Tương đến nhiệm sở của anh, nhân đường đi qua huyện Ôn, ghé Trần Gia Câu, định tìm thầy của Lộ Thiền là Trần Trường Hưng (陳長興, 1771–1853) để cầu học thêm. Gặp lúc Trường Hưng đã già yếu (năm ấy Trường Hưng đã 82 tuổi, sang năm thì mất), bấy giờ Trần Thanh Bình (陳青萍) đang dạy Trần thức tân giá Thái Cực Quyền ở trấn Triệu Bảo, Vũ Tương bèn theo Thanh Bình học tân giá hơn một tháng, nắm hết lý pháp. Trừng Thanh ở hiệu muối Vũ Dương được bộ Thái Cực Quyền Phổ của Vương Tông Nhạc (王宗岳, người thời Càn Long), Vũ Tương được phổ ấy nghiên cứu, càng có chỗ phát ngộ, lấy tâm đắc luyện quyền mà phát huy nghĩa của cựu phổ họ Vương, làm mười điều chú giải cho Thập Tam Thế Hành Công Ca Quyết, đặt tên là Đả Thủ Yếu Ngôn; lại triển khai thành Thập Tam Thế Hành Công Tâm Giải bốn tắc; và quy nạp yếu lĩnh rèn luyện thành Thân Pháp Thập Yếu. Trước tác của ông đều căn cứ vào thể nghiệm của bản thân, cho nên giản luyện tinh yếu, không một lời phù hoa.

Cháu gọi bằng cậu của Vũ Tương là Lý Kinh Luân (李經綸), tự Dịch Xa (亦畬, 1832–1892), năm 1853 mới theo Vũ Tương học quyền. Dịch Xa nghiên cứu Thái Cực Quyền, noi theo cách thực nghiệm của Vũ Tương, chiêu mộ hương dũng để tự nghiệm thuật của mình, hết lần này đến lần khác bổ sung tu đính. Cháu nội của Dịch Xa là Hòe Âm (槐蔭) năm 1935, trong Lời tựa Thái Cực Quyền Phổ bản Lý Liêm Nhượng đường, nói: "Phổ này là do tiên tổ tôi những năm cuối đời trước tác, giữa đường nhiều lần sửa đổi, mới thành được. Mỗi khi được một thế khéo léo, một chiêu khiếu yếu, liền viết một tờ giấy dán bên chỗ ngồi, so bì suy ngẫm, không ngừng thực nghiệm, qua mấy ngày thấy có chỗ chưa thỏa nên sửa, liền bóc xuống, thay tờ khác, bóc dán qua lại ắt đến khi hoàn thiện mới thôi, lâu dần thành sách." Các bài luận Thái Cực Quyền của Lý Dịch Xa có: Ngũ Tự Quyết một thiên, Tán Phóng Mật Quyết bốn câu bảy chữ về kình dẫn cực phóng, và Tẩu Giá Đả Thủ Hành Công Yếu Ngôn một thiên (trình bày lẽ tẩu giá tức là đả thủ, đả thủ tức là tẩu giá, luyện quyền và thôi thủ bổ trợ lẫn nhau). Sự truyền bá Thái Cực Quyền cận đại, phần nhiều nhờ sức ba đời tổ tôn họ Dương không ngừng sáng tạo về giáo tài và giáo pháp, còn về nghiên cứu tổng kết quyền lý thì đầu tiên phải kể Võ, Lý, so với sự khái quát trừu tượng trong Thái Cực Quyền Luận của Vương Tông Nhạc thì cụ thể thiết thực hơn nhiều, có kế thừa, có phát triển, mới thành được một nhà riêng.

Quyền thức của Võ Vũ Tương đã khác với lão giá và tân giá họ Trần, cũng khác với đại giá và tiểu giá họ Dương, học mà hóa đi, tự thành một nhà. Đặc điểm của nó là: tư thế chặt chẽ, động tác thư hoãn, bộ pháp nghiêm ngặt phân rõ hư thực, ngực bụng trong tiến thoái xoay chuyển luôn giữ trung chính, hoàn toàn dùng sự chuyển hóa hư thực của nội động và "nội khí tiềm chuyển" để chi phối ngoại hình; hai tay mỗi bên quản một nửa thân thể, không vượt qua nhau, xuất thủ không quá đầu ngón chân. Nguyên cũng có động tác nhảy, đến đời truyền thứ tư là Hác Nguyệt Như (郝月如, 1877–1935) mới đổi thành không tung không nhảy; song bãi liên cũng đổi thành không vỗ mu bàn chân, đây là cải cách nhằm thích ứng nhu cầu của người già yếu.

Bộ pháp thôi thủ của Võ thức chỉ có một thứ: tiến ba bước rưỡi, thoái ba bước rưỡi.

Vũ Tương dạy học đọc sách để tự vui, Dịch Xa hành nghề y, đều tự coi mình là nho sinh, ở quê truyền đồ rất ít. Trong những người được Lý truyền, người kỹ thuật tinh nhất là Hác Hòa (郝和) cùng hương, tự Vị Chân (為真, 1849–1920). Khi Võ thức Thái Cực Quyền đầu Dân Quốc truyền vào Bắc Kinh, có người gọi nó là Lý giá; đợi khi con của Vị Chân là Nguyệt Như và cháu nội là Thiếu Như cùng đến Nam Kinh, Thượng Hải dạy quyền năm 1928, cũng có người gọi nó là Hác giá. Nguyệt Như để lại nhiều trước tác về Thái Cực Quyền. Hậu bối của Võ, Lý phần nhiều không chuyên nghiên Thái Cực Quyền, Võ thức bèn do họ Hác truyền tập. Thiếu Như đã nhiều năm không dạy quyền, Sở Thể dục Thượng Hải để khai quật truyền thống, năm 1961 mở lớp học Thái Cực Quyền Võ thức, mời Hác Thiếu Như giảng dạy, để mở rộng sự truyền bá. Thái Cực Quyền Võ thức xưa nay chưa từng có đồ giải ra đời, ảnh quyền trong sách này do Hác Thiếu Như chụp, và do ông viết thuyết minh động tác.

(Cố Lưu Hinh)

Phần 150

Trang sách 572

Lời nói đầu

Lời nói đầu

Tôi lớn lên trong một gia đình có niềm đam mê Thái Cực Quyền. Quê hương tôi là huyện Vĩnh Niên, tỉnh Hà Bắc. Ông nội tôi tên Hòa, tự Vị Chân. Cha tôi tên Văn Quế, tự Nguyệt Như. Ông nội tôi học Thái Cực Quyền từ ông Lý Dịch Xa (chú thích 1) là hàng xóm. Ông Lý được cậu ruột là Vũ Vũ Tương (chú thích 2) truyền dạy. Ông nội tôi theo ông Lý học quyền rất lâu, mấy chục năm chưa từng gián đoạn, cho đến tận khi ông Lý qua đời. Vì vậy ông nội tôi thấm sâu được chỗ ảo diệu của phái Thái Cực Quyền Võ, Lý. Khi ông nội tôi theo ông Lý luyện quyền, cha tôi thường ở bên cạnh, vì ông là học trò trong trường mông của ông Lý. Qua quan sát và suy ngẫm lâu dài, khi chưa đến tuổi trưởng thành cha tôi đã có thể lĩnh hội lý luận và thực hành của Thái Cực Quyền. Tôi từ nhỏ cũng vì hoàn cảnh gia đình, sớm tiếp xúc với Thái Cực Quyền. Về sau, dưới sự dạy bảo của cha, lòng yêu thích Thái Cực Quyền của tôi mỗi ngày một tăng, đến năm mười lăm tuổi đã hình thành thói quen luyện quyền mỗi ngày.

Từ ngày giải phóng, dưới sự lãnh đạo và quan tâm của Đảng, Thái Cực Quyền đã trở thành một hoạt động thể thao quần chúng đầy sức sống, đồng thời là một trong những phương tiện bảo vệ sức khỏe của đông đảo nhân dân. Điều đó khiến tôi cảm thấy sâu sắc rằng, tôi nên công bố cho toàn quốc những văn hiến quan trọng về Thái Cực Quyền mà nhà tôi tàng trữ, cùng kinh nghiệm ba đời dạy Thái Cực Quyền của nhà tôi, và tích cực tham gia nghiên cứu Thái Cực Quyền, từ đó góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao và phát triển di sản văn hóa dân tộc vô cùng quý báu này. Với động cơ ấy, tôi dùng thời gian nhàn rỗi viết nên cuốn sách này. Trong quá trình biên soạn, đồng chí Cố Lưu Hinh, chủ nhiệm Sở Thể dục Thượng Hải, đã hết lòng ủng hộ, không những đích thân duyệt toàn bộ bản thảo, mà còn chọn một số cổ quyền phổ phụ vào cuối sách, và viết bài sơ lược về Võ thức Thái Cực Quyền; đồng chí Chu Nguyên Long vẽ hình thay tôi, và hết lòng giúp đỡ trong việc gia công văn tự và biên bài; ngoài ra còn không ít bạn bè yêu thích Thái Cực Quyền cũng tham gia tích cực vào công việc biên soạn. Ở đây tôi xin bày tỏ lòng cảm tạ chân thành.

Vì trình độ của tôi có hạn, khó tránh khỏi chỗ chưa thỏa đáng, mong độc giả chẳng nệ chỉ giáo và phê bình.

Hác Thiếu Như

Đêm trước Quốc khánh năm 1961, tại Thượng Hải

(Chú thích 1) Lý Kinh Luân, tự Dịch Xa, người huyện Vĩnh Niên, cử nhân đời Thanh, sinh tháng chín năm Đạo Quang thứ mười hai, mất tháng mười một năm Quang Tự thứ mười tám (1832–1892).

(Chú thích 2) Vũ Hà Thanh, tự Vũ Tương, người huyện Vĩnh Niên, tú tài đời Thanh, sinh tháng hai năm Gia Khánh thứ mười bảy, mất tháng mười một năm Quang Tự thứ sáu (1812–1880).

Phần 151

Trang sách 574

Chương một — Yếu lĩnh Thái Cực Quyền

Chương một — Yếu lĩnh Thái Cực Quyền
Yếu điểm Thái Cực Quyền Võ thức

Hác Nguyệt Như trước tác

(Một) Thân pháp Thái Cực Quyền chủ yếu có: hàm hung, bạt bối, quả khóa, hộ truân, đề đỉnh, điếu đang, tùng kiên, trầm trửu, đằng na, thiểm chiến, vĩ lư trung chính, khí trầm đan điền, hư thực phân thanh, v.v. mười ba điều.

1. Trên tim là ngực. Ngực không được ưỡn, phải thả lỏng xuống dưới, hai vai hơi hướng về trước và khép lại, gọi là hàm hung (涵胸). Có hàm hung mới có thể dùng tâm hành khí.

2. Chỗ xương sống giữa hai vai, tựa như có ý muốn nhô lên, hai vai phải linh hoạt, không được cúi đầu, gọi là bạt bối (拔背).

3. Hai đầu gối dùng sức, có ý hướng vào trong, hai chân như một chân, mà vẫn phân được hư thực, gọi là quả khóa (裹胯).

4. Hai bên sườn hơi thu vào, lấy thế dưới thu trên hợp, bên trong cảm thấy lỏng khoan khoái, gọi là hộ truân (護肫).

5. Đầu cổ ngay thẳng, không cúi không ngẩng, thần xuyên suốt đến đỉnh, đề khởi toàn thân, gọi là đề đỉnh (提頂).

6. Hai đùi dùng sức, mông đưa ra trước, bụng dưới có thế lật lên, gọi là điếu đang (吊襠).

7. Dùng ý thả lỏng hai vai, khí chìm xuống dưới, trong ý thêm một chữ "tĩnh", gọi là tùng kiên (鬆肩).

8. Dùng ý vận khí, đi vào hai cùi chỏ, cổ tay phải linh hoạt, đầu cùi chỏ thường có ý rủ xuống, gọi là trầm trửu (沉肘).

9. Có ý muốn động mà chưa động, tức là thế dự động, gọi là đằng na (騰挪).

10. Thân, tay, lưng, chân thuận nhau tùy nhau, một hơi mà thành, phát ra ngoài, kình như tên rời dây, nhanh như sấm sét, một đi không địch nổi, gọi là thiểm chiến (閃戰).

11. Hai đùi có lực, mông thu về trước, gốc xương sống đỡ đan điền (bụng dưới) nhô ra trước, gọi là vĩ lư trung chính (尾閭正中).

12. Làm được vĩ lư trung chính, hàm hung, hộ truân, tùng kiên, điếu đang, thì có thể dùng ý đưa khí đạt tới bụng, không để nó nổi lên trên, gọi là khí trầm đan điền (氣沉丹田).

13. Hư thực của hai chân phải phân cho rõ. Hư không phải hoàn toàn không lực, điểm đặt chân thực phải có thế đằng na. Đằng na là chân và ngực có ý hút lấy ràng buộc lẫn nhau, nếu không thì thành lệch chìm. Thực không phải hoàn toàn chết cứng, tinh thần xuyên suốt vào đùi thực, chống đỡ toàn thân, phải có ý đề lên. Nếu hư thực không phân, liền thành song trùng (雙重).

(Hai) Thủ, nhãn, thân, bộ, tinh, khí, thần

Thủ pháp cần khí thế đằng na, có thế dự động, không có ý tản mạn. Hai vai cũng phải thả lỏng, không để chút lực nào. Thủ thế vốn không nhất định, bất luận nhấc lên hay rủ xuống, duỗi ra hay co về, luôn phải có ý tương ứng, khi nào ý động thì khi ấy tay đến. Đó là cái gọi là "đắc tâm ứng thủ". Thế đằng na tức là "hữu ý", "vận khí", "tinh thần quán chú". Dùng ý vận khí, lâu thì tinh, tinh mà càng tinh thì thần, thần mà càng thần thì linh, lĩnh ngộ được lý này, ắt có cái diệu thần minh.

Thần tụ ở mắt, mắt là mầm của tâm, ý từ trong tâm sinh ra, ý tôi muốn hướng về đâu thì nhãn thần bắn thẳng tới đó, toàn thân cũng đối thẳng tới đó, một cái chuyển mắt thì toàn thân chuyển hết, xem tĩnh như động, xem động như tĩnh, luôn phải từ sự tụ thần mà ra.

Thân pháp trước hết cầu "vĩ lư trung chính". Trung chính tức là "gốc xương sống hướng ra trước". Lại phải hộ truân, truân không hộ thì dựng vĩ không có lực, toàn thân liền không có chủ tể. Ý tôi muốn hướng về đâu thì "gốc xương sống" liền đối thẳng tới đó. Chuyển biến nằm ở hai mắt lưng: chuyển sang trái thì mắt lưng trái hơi rút lên trên, dùng mắt lưng phải nâng mắt lưng trái lên; chuyển sang phải thì mắt lưng phải hơi rút lên trên, dùng mắt lưng trái nâng mắt lưng phải lên, thì vĩ lư tự nhiên trung chính. Tóm lại, các điều thân pháp phải từng điều cầu cho đúng, kết hợp lại chỉ thành một thân pháp, một chỗ không hợp thì toàn thân đều sai, cho nên thân pháp là điều vĩnh viễn không được sai. Dẫu muôn hình vạn trạng, cũng khó vượt ra ngoài thân pháp ấy.

Cái gọi là bộ pháp hư thực phân thanh: hư không phải hoàn toàn không lực, trong đó phải có đằng na; thực không phải hoàn toàn chết cứng, phải tinh thần quán chú. Đằng na gọi là hư, trong hư có thực; tinh thần gọi là thực, trong thực có hư. Hư hư thực thực, thực thực hư hư, chính là ý ấy.

(Ba) Khởi, thừa, khai, hợp

Thái Cực Quyền tẩu giá, mỗi một giá thức chia làm bốn động tác: động tác thứ nhất là khởi (起), như thức thứ nhất của "tả lãn trát y"; động tác thứ hai là thừa (承), như thức thứ hai; động tác thứ ba là khai (開), cũng tức là phát, như thức thứ ba; động tác thứ tư là hợp (合), cũng tức là thu, thu là ý súc, như thức thứ tư. Nhưng không phải cứng nhắc: có khai ngay trong hợp, có hợp rồi lại hợp, cái gọi là bất đâu bất đỉnh, mọi chỗ đều vừa khéo.

(Bốn) Chiết điệp chuyển hoán

Thái Cực Quyền có thuật chiết điệp, có pháp chuyển hoán. Chiết điệp là đối đãi: có trên tức có dưới, có trước tức có sau, có trái tức có phải. Như ý muốn hướng lên thì ngụ ý hướng xuống, ý muốn hướng xuống thì ngụ ý hướng lên, trước sau trái phải đều như vậy. Đó gọi là chiết điệp. Chuyển hoán là bộ tùy thân hoán, nguồn mệnh ý ở giữa hai mắt lưng: chuyển hoán sang trái, mắt lưng trái hơi rút lên trên, dùng mắt lưng phải nâng mắt lưng trái lên; chuyển hoán sang phải, mắt lưng phải hơi rút lên trên, dùng mắt lưng trái nâng mắt lưng phải lên. Đó gọi là "nguồn mệnh ý ở khe lưng".

(Năm) Xả kỷ tòng nhân

Thái Cực Quyền có thuật xả kỷ tòng nhân: chạm vào đâu thì chỗ ấy linh hoạt. Ví như chạm vào tay thì cổ tay linh hoạt; chạm vào cùi chỏ thì cùi chỏ linh hoạt; chạm vào ngực thì ngực linh hoạt, toàn thân mọi chỗ đều như vậy. Lại nữa, chạm tay thì ý ở cùi chỏ, chạm cùi chỏ thì ý ở vai, chạm vai thì ý ở ngực, chạm ngực thì ý ở lưng, chạm lưng thì ý ở đùi. Suy ra như thế: như triêm liên niêm tùy, bất đâu bất đỉnh, dẫn tiến lạc không, tá lực phát nhân, đều là ý ấy.

Phần 152

Trang sách 576

Tẩu giá đả thủ của Thái Cực Quyền

Tẩu giá đả thủ của Thái Cực Quyền

Hác Nguyệt Như trước tác

Thái Cực Quyền không ở thức dạng mà ở khí thế, không ở bên ngoài mà ở bên trong. Ngày thường hành công tẩu giá, phải nghiên cứu suy ngẫm đạo không tùng viên hoạt, phải thần khí cổ đãng, toàn thân như quả bóng hơi, khí thế quý ở đằng na, thân thể như treo lơ lửng. Hai tay bất luận cao thấp co duỗi, một trước một sau, một trái một phải, đều linh hoạt tự tại. Hai chân bất luận tiến thoái, xoay trái chuyển phải, hư thực biến hoán, không gì không tùy ý sở dục. Ngày lâu công sâu, có cảnh giới không biết tay múa chân nhảy. Hiểu rõ nguyên lý, luyện thuần thân pháp, khéo dùng ý, khéo vận khí, đến bước ấy, mỗi cử mỗi động đều hợp độ, không có gì gọi là sai.

Người tập Thái Cực Quyền ắt trước hết cầu vĩ lư trung chính. Trung chính là gốc xương sống đối thẳng với khoảng giữa mặt. Bước chân trái, khóa trái hơi rút lên trên về phía trái, dùng khóa phải nâng khóa trái lên; bước chân phải, khóa phải hơi rút lên trên về phía phải, dùng khóa trái nâng khóa phải lên, thì vĩ lư tự nhiên trung chính; có thể trung chính thì có thể chống đỡ tám mặt; chống đỡ tám mặt thì có thể xoay chuyển tự tại, không gì đắc lực. Kế đó bộ pháp hư thực phân thanh. Hư không phải hoàn toàn không lực, trong đó phải có đằng na, tức thế dự động. Thực không phải hoàn toàn chết cứng, trong đó phải quán chú tinh thần, tức ý đề lên trên. Phải nhớ kỹ: khi hai chân ở thế cung trước đạp sau, chớ để hoàn toàn chết cứng, nên phân rõ một hư một thực, nếu không liền thành bệnh song trùng. Hai vai phải thả lỏng, không dùng chút lực nào; dùng lực thì không thể xả kỷ tòng nhân, dẫn tiến lạc không. Trầm trửu tức là đầu cùi chỏ thường có ý chìm xuống. Cẳng tay trước và hai đùi phải chú ý trong đó có thế đằng na; không đằng na thì không linh hoạt, không linh hoạt thì không có thú viên hoạt. Lại phải hộ truân, truân không hộ thì dựng vĩ không có lực, toàn thân liền không có chủ tể. Lại phải dưỡng khí: khí dưỡng thẳng thì không hại, tức là chìm vào đan điền, hàm dưỡng không tổn thương. Lại phải súc kình: kình súc do cong mà có dư, và phải súc liễm vào trong xương sống. Hít là hợp là súc, thở là khai là phát. Vì hít thì tự nhiên đề lên được, cũng nâng được người lên; thở thì tự nhiên chìm xuống được, cũng phóng được người ra. Đây là dùng ý vận khí, không phải dùng lực sử khí, đó chính là đạo hô hấp của Thái Cực Quyền (chữ "hô hấp" nói ở đây chuyên chỉ "khai, hợp, súc, phát" của Thái Cực Quyền, khác với hô hấp thường ngày của chúng ta, mong độc giả chớ hiểu lầm).

Thái Cực Quyền là một môn kỹ nghệ cực kỳ tinh vi khéo léo, không cậy vào sức lớn tay nhanh. Sức lớn tay nhanh là bẩm sinh tự nhiên có, cần gì phải học. Cho nên người muốn học nghề này nên trước hết cầu ở hàm hung, bạt bối, quả khóa, hộ truân, đề đỉnh, điếu đang, tùng kiên, trầm trửu, hư thực phân thanh. Những điều ấy đúng rồi, lại cầu liễm khí: khí liễm vào xương sống, rót vào chỗ lưng. Sau đó lại cầu đằng na. Đằng na tức là tinh khí thần. Tinh khí thần quán chú vào hai bàn chân, hai chân, hai tay, đốt trước của hai cẳng tay. Người kia chạm vào đâu, tôi chú ý tới đó; toàn thân không một tấc nào không tinh khí thần, không một tấc nào không phải Thái Cực; sau đó lại cầu pháp tiến thoái xoay chuyển. Trục xoay ở chỗ khe lưng. Có thể xoay chuyển tự tại, không chút rối loạn, lại cầu thuật động tĩnh: tĩnh thì không, từ không sinh ra có, tức là có ý. Ý không có định hướng, phải chống đỡ tám mặt. Khi đơn luyện, mỗi một thế chia làm bốn chữ, tức khởi, thừa, khai, hợp. Mỗi một chữ hỏi xem có thể chống đỡ tám mặt không? Không thể chống đỡ tám mặt thì mau suy ngẫm. Như hai người Đả thủ, ý tôi phải ở trước; tay người kia nhanh không bằng ý tôi trước, lực người kia lớn không bằng khí tôi liễm. Người kia lấy sức lớn đánh tới, tôi lấy ý ra đón, chỉ chạm nhẹ vào da lông không để đánh trúng, mượn lực của người, thừa thế của người, tám phương bốn mặt phía nào thuận thì đánh về phía đó. Nhớ kỹ: không được dùng lực, không được chuộng khí, không được đỉnh, không được đâu; phải tòng nhân mà vẫn do kỷ, được cơ được thế, mới có thể tùy tay mà hiệu quả. Động cũng là ý: bộ động mà thân pháp không loạn, thủ động mà khí thế không tán. Khi đơn luyện, mỗi một động phải hỏi xem có thể từ trong động mà chuyển hoán về tám mặt không? Không thể chuyển hoán tám mặt thì mau suy ngẫm. Như hai người đả thủ, tôi muốn đi tới người kia, trước hết sắp đặt toàn thân cho khéo, ý vẫn ở trước, nhắm thẳng vào trọng điểm của người kia mà đi tới; ý tôi vừa chạm vào da lông người kia, nếu có thể ứng thủ, một hơi thở ra là người kia ra ngay; nếu lực người kia đỉnh tới, không để lực ấy phát ra, ý tôi vẫn mượn lực người kia, bất đâu bất đỉnh, thuận theo lực ấy mà đánh; đó là tá lực đả nhân, cái diệu tứ lạng bạt thiên cân. Đây hoàn toàn là dùng ý vận khí, không phải dùng lực sử khí. Có thể dùng ý đánh người, lâu dần thì ý cũng không dùng nữa, thân pháp không gì không hợp. Đến cảnh giới ấy, đã đạt tới chỗ viên dung tinh diệu. Nói có thì liền có, nói không thì liền không, mỗi cử mỗi động không gì không theo lòng muốn. Thật là không biết tay múa chân nhảy nữa.

Người tập Thái Cực Quyền phải ngộ lý Thái Cực. Muốn biết lý Thái Cực, khi hành công trước hết phải đề khởi toàn bộ tinh thần, bề ngoài tỏ ra an nhàn, bên trong cố tinh thần, khí thế đằng na, trong bụng cổ đãng. Thái Cực tức là toàn thân, toàn thân tức là Thái Cực. Như quả bóng hơi: tiến không lồi, thoái không lõm, xoay trái không khuyết, xoay phải không sụp, biến hóa muôn mối, tuyệt không đoạn tục, một hơi mà thành, không ngoài không trong, hình thần đều quên, mới có thể tiến vào chỗ tinh vi.

Khi đả thủ, ý tôi phải ở trước; lực người kia chạm vào đâu thì ý tôi dùng ở đó; lực người kia vừa chạm vào da lông tôi thì ý tôi đã vào trong xương người kia; lấy ý của mình tiếp lực của người, không lấy lực của mình đỉnh chạm lực của người, vừa khéo không sau không trước, ý tôi hợp với lực người. Trái nặng thì trái hư, phải nặng thì phải diểu, ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu, tiến tới thì càng dài, thoái lui thì càng gấp, một sợi lông không thêm được, ruồi muỗi không đậu được, người không biết tôi, tôi riêng biết người, cái gọi là triêm liên niêm tùy, bất đâu bất đỉnh. Người tập Thái Cực Quyền phải ngộ nghĩa âm dương tương tế. Động thì phân, tĩnh thì hợp. Phân là mở lớn; hợp là thu nhỏ. Trong đó đều do hai khí âm dương khai hợp chuyển hoán, hô ứng lẫn nhau, từ đầu đến cuối không rời. Khai là lớn, không phải đỉnh chạm; súc là nhỏ, không phải trốn tránh. Một động thì không đâu không động, một tĩnh thì không đâu không tĩnh. Động là khí chuyển; tĩnh là có thế dự động. Đó gọi là xem tĩnh như động, xem động như tĩnh. Khí như bánh xe, lưng như trục xe. Không phải hai tay loạn động, thân thể loạn dời. Điều cốt yếu hoàn toàn ở súc kình: súc kình như giương cung, phát kình như buông tên. Không súc kình thì không có lực buông tên. Phát kình phải trên dưới tùy nhau, kình khởi từ gót chân, rót vào chỗ lưng, hiện ra ở ngón tay. Từ chân mà tới đùi mà tới lưng, luôn phải là một khí trọn vẹn. Lưng như cán cung, chân tay như đầu cung, trong đó phải có tính đàn hồi, mới có lực buông tên. Tự mình sắp đặt cho khéo, người kia vừa chạm vào da lông tôi, ý tôi liền tiếp định kình của người; chạm vào da lông tức là bất đâu bất đỉnh, dùng ý ra tiếp tức là thế thuận tùy; thuận tùy được thì mượn được lực; mượn được lực thì đánh được người — đó gọi là tá lực đả nhân, tứ lạng bạt thiên cân. Đến bước ấy, trên tay liền có phân thốn, cân được lớn nhỏ kình của người, đo được dài ngắn sự tới của người, không sai một mảy tóc; tiến thoái, tả cố hữu phán, mọi chỗ đều vừa khéo — đó gọi là "tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng". Ngày thường tẩu giá đả thủ phải làm theo đó: tẩu giá tức là đả thủ, đả thủ tức là tẩu giá, đều một lý. Tẩu giá mỗi một thế phải chia bốn chữ, tức khởi, thừa, khai, hợp. Mỗi một chữ hỏi xem đúng chưa? Ít nhiều không đúng thì mau đổi. Sai một ly, đi một dặm. Ngộ được ý ấy thì đi đứng ngồi nằm đều là Thái Cực, người học không thể không biện cho tường.

Ngày thường tẩu giá hành công, phải lấy ý đem khí chìm xuống, đưa vào đan điền (lấy ý không phải lấy lực, không phải gắng khí, không phải dùng hô hấp), tồn dưỡng hàm súc, không để nổi lên, trong bụng lỏng tĩnh, khí thế đằng nhiên. Y pháp luyện tập, ngày lâu tự nhiên liễm được khí vào xương (xương sống). Sau đó dùng ý đem khí của xương sống từ vĩ lư qua đan điền lật lên trên. Đạt cảnh giới ấy thì có thể dùng ý vận khí khắp toàn thân. Người kia chạm vào đâu thì ý tôi đến đó, khí cũng theo đó mà ra, như vang ứng tiếng, nhanh như chớp giật. Toàn thân không một chỗ nào không như vậy — đó gọi là "hành khí như chín khúc châu, không chỗ nhỏ nào không tới; vận kình như thép luyện trăm lần, có gì cứng mà không phá", cũng tức là "ý đến thì khí đến". Lại nữa, khí của đan điền phải dưỡng thẳng không hại, mới có thể như nước sông Trường Giang biển lớn, dùng không cạn, lấy không hết. Đợi đến khi công phu thuần thục, luyện thành toàn thân một nhà, giống như quả bóng hơi: trái nặng thì trái hư, phải nặng thì phải diểu, vật tới thì thuận ứng, không gì không vừa khéo. Những điều ấy đều là "dùng ý vận khí", không phải "dùng lực sử khí", "ở trong không ở ngoài", cũng tức là "chuộng khí thì không lực, dưỡng khí thì thuần cương".

Chú: "đả thủ" nói trong bài này tức là thôi thủ Thái Cực Quyền. Bài này khi đăng lần này có lược bỏ và sửa đổi đôi chút.

Phần 153

Trang sách 580

Một vài thể hội về cách dạy và cách luyện

Một vài thể hội về cách dạy và cách luyện

Hác Thiếu Như

Căn cứ vào kinh nghiệm hơn ba mươi năm luyện quyền và dạy quyền của tôi, bất luận dạy hay luyện, đều phải trước hết nhìn vào thân pháp (tám điều thân pháp của Võ Vũ Tương), và phải từ trong ra ngoài.

Thân pháp là một trong những nội dung chủ yếu của lý luận Thái Cực Quyền. Thân pháp trong quá trình dạy hoặc luyện, vừa là cơ bản nhất, cũng từ đầu đến cuối là quan trọng nhất. Cho nên đối với thân pháp phải yêu cầu nghiêm ngặt.

Luyện tập Thái Cực Quyền, chưa nói đến đạt công phu tinh xảo, cho dù là công phu cơ bản, cũng không thể một bước mà được. Cho nên trong quá trình dạy hoặc luyện, phải đại khái chia thành hai giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất là luyện ngoại hình, tức là học quyền giá, chú trọng thân pháp. Nhưng tám điều thân pháp không phải một lúc là nắm được. Phải trước hết chọn một, hai điều làm trọng điểm, luyện thuần rồi, lại tăng dần từng bước. Sự phối hợp giữa chi trên chi dưới với thân pháp cũng cực kỳ quan trọng, vì phối hợp không khéo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thân pháp. Phối hợp ở chi trên còn tương đối dễ nắm, nhưng chi dưới vì vừa phải chống đỡ sự vững vàng của thân thể, vừa phải để ý phân rõ hư thực, đối với người mới học lại càng thấy khó hơn. Luyện thành tám điều thân pháp này rồi, cơ bắp xương cốt toàn thân mới linh hoạt, hài hòa, động tác nhất trí, mới đạt tới chỗ tùy tâm sở dục.

Giai đoạn thứ hai là luyện nội hình, cũng gọi là nội kình. Trước hết phải lấy luyện ý làm chỉ đạo, dần dần luyện thành ý, khí, quyền giá ba thứ hợp một. Từ ngoại hình đến nội hình, từ khí thô đến khí tinh. Sau đó không ngoài không trong, không thô không tinh, hỗn nhiên đại vong. Luyện đến cảnh giới ấy, mới có thể trên con đường không ngừng tiến bước mà trèo lên đỉnh cao nghệ thuật Thái Cực Quyền. Đối với những kẻ nếm chút đã dừng và những kẻ dựng điều lạ lùng từ hư không, thì không đáng làm gương.

Phần 154

Trang sách 581

Thuyết minh đồ tiết tự

Thuyết minh đồ tiết tự

Tất cả động tác của Thái Cực Quyền Võ thức đều được biên bài theo tiết tự khởi, thừa, khai, hợp. Lấy bốn động tác kết thành một tiết tự khởi, thừa, khai, hợp. Như bốn động của thức thứ hai "tả lãn trát y", tức là bốn hình trong đồ tiết tự: hình 1 là "khởi", hình 2 là "thừa", hình 3 là "khai", hình 4 là "hợp", kết thành một tiết tự. Toàn bộ quyền sáo đều do các tiết tự nối tiếp nhau mà biên thành. Giữa các tiết tự với nhau, tuy có hiện tượng ngừng, nhưng phải giữ kình đoạn mà ý không đoạn, bên trong vẫn phải nối tiếp liên miên không dứt, cho nên khi tập luyện không được vì tiết tự mà đứt đoạn.

Một tiết tự đại đa số do một quyền thức cấu thành, như "tả lãn trát y" nêu trên có bốn động, thành một tiết tự. Nhưng cũng có khi hai, thậm chí bốn năm quyền thức kết thành một tiết tự, ví dụ thức thứ tư "đơn tiên" và thức thứ năm "đề thủ thượng thế" trong quyền sáo, hai thức hợp giá với nhau biên thành bốn động, kết thành một tiết tự.

Phần 155

Trang sách 582

Ví dụ về đồ tiết tự

Ví dụ về đồ tiết tự

Thức thứ hai — Tả lãn trát y

Hình khởi (图 起)

(Các chú thích trong hình, từ đầu xuống theo thứ tự:)

  • 虛領 — hư lĩnh (đỉnh đầu rỗng nhẹ)
  • (吸)拔 — (hít) bạt (kéo lên)
  • 鬆 — tùng (lỏng)
  • 沉直 — trầm trực (chìm và thẳng)
  • 騰挪 — đằng na
  • 曲 — khúc (cong)
  • 精神貫注 — tinh thần quán chú
  • 實 — thực

(Bên phải, từ trên xuống): 鬆 tùng · 斂氣 liễm khí · 沉 trầm · 騰挪 đằng na · 沉 trầm ·

吊襠 điếu đang · 曲 khúc · 騰挪 đằng na · 虛 hư

(Dưới hình): mặt hướng chính nam

(Góc phải dưới): sơ đồ phương vị — bắc (trên), nam (dưới), đông (phải), tây (trái)

图 起
图 起
Hình thứ nhất trong các ví dụ đồ tiết tự. Một người đứng chính diện, hai tay
buông tự nhiên bên hông, hai chân song song cách nhau rộng bằng vai. Trên hình dùng đường
dẫn chú ra yếu lĩnh từng bộ phận toàn thân: đầu "hư lĩnh"; vai "tùng"; ngực "hàm hung bạt
bối"; lưng "trầm trực"; khóa "đằng na"; đầu gối "khúc"; chân "thực"; và ghi chú "tinh thần
quán chú". Bên phải còn một nhóm đường dẫn chú "tùng", "liễm khí", "trầm", "đằng na",
"trầm", "điếu đang", "khúc", "đằng na", "hư". Dưới hình ghi chú "mặt hướng chính nam"; góc
phải dưới có sơ đồ phương vị: bắc ở trên, nam ở dưới, đông ở phải, tây ở trái.

Hình 2 — thừa (图 2 承)

(Chú thích bên trái, từ trên xuống): 虛領 hư lĩnh · (吸)拔 (hít) bạt · 鬆 tùng · 騰挪

đằng na · 沉 trầm · 直 trực · 曲 khúc · 精神貫注 tinh thần quán chú · 實 thực

(Chú thích bên phải, từ trên xuống): 鬆 tùng · 意向上開 ý hướng thượng khai · 騰挪 đằng na ·

沉 trầm · 意向上開 ý hướng thượng khai · 斂氣 liễm khí · 沉 trầm · 吊 điếu · 裹 quả · 曲 khúc ·

騰挪 đằng na · 虛 hư

(Dưới hình): mặt hướng đông nam; chân trái đặt ra phía đông nam; khóa trái rút về sau; vĩ lư phải trung chính.

图 2
图 2
Hình thứ hai trong các ví dụ đồ tiết tự, đề hình "Hình 2 — thừa". Một người
đứng mặt hướng đông nam, tay phải giơ lên trước mặt, lòng bàn tay hướng sang trái, tay trái
ấn trước bụng; hai chân đặt một trước một sau. Trên hình dùng đường dẫn chú ra yếu lĩnh
từng bộ phận: bên trái từ trên xuống là "hư lĩnh", "(hít) bạt", "tùng", "đằng na", "trầm",
"trực", "khúc", "tinh thần quán chú", "thực"; bên phải từ trên xuống là "tùng", "ý hướng
thượng khai", "đằng na", "trầm", "ý hướng thượng khai", "liễm khí", "trầm", "điếu", "quả",
"khúc", "đằng na", "hư". Dưới hình ghi chú "mặt hướng đông nam", "chân trái đặt ra phía
đông nam", "khóa trái rút về sau", "vĩ lư phải trung chính".

Hình 3 — khai (图 3 開)

(Chú thích bên trái, từ trên xuống): 虛領 hư lĩnh · (呼)拔 (thở) bạt · 鬆 tùng · 騰挪

đằng na · 沉 trầm · 直 trực · 曲 khúc · 騰挪 đằng na · 虛 hư

(Chú thích bên phải, từ trên xuống): 鬆 tùng · 意向上開 ý hướng thượng khai · 騰挪 đằng na ·

沉 trầm · 意向上開 ý hướng thượng khai · 斂氣 liễm khí · 沉 trầm · 裹 quả · 曲 khúc ·

精神貫注 tinh thần quán chú · 實 thực

(Dưới hình): mặt hướng đông nam; chân trái cung; chân phải đạp.

图 3
图 3
Hình thứ ba trong các ví dụ đồ tiết tự, đề hình "Hình 3 — khai". Một người
đứng mặt hướng đông nam, tay phải giơ lên trước mặt, lòng bàn tay hướng sang trái, năm ngón
xòe ra, tay trái ấn trước bụng; chân trái cung ra trước, chân phải đạp về sau. Trên hình
dùng đường dẫn chú ra yếu lĩnh từng bộ phận: bên trái từ trên xuống là "hư lĩnh", "(thở)
bạt", "tùng", "đằng na", "trầm", "trực", "khúc", "đằng na", "hư"; bên phải từ trên xuống là
"tùng", "ý hướng thượng khai", "đằng na", "trầm", "ý hướng thượng khai", "liễm khí", "trầm",
"quả", "khúc", "tinh thần quán chú", "thực". Dưới hình ghi chú "mặt hướng đông nam", "chân
trái cung", "chân phải đạp".

Hình 4 — hợp (图 4 合)

(Chú thích bên trái, từ trên xuống): 虛領 hư lĩnh · (吸)拔 (hít) bạt · 鬆 tùng · 騰挪

đằng na · 沉 trầm · 直 trực · 曲 khúc · 騰挪 đằng na · 虛 hư

(Chú thích bên phải, từ trên xuống): 鬆 tùng · 意向上開 ý hướng thượng khai · 騰挪 đằng na ·

沉 trầm · 斂氣 liễm khí · 沉 trầm · 吊 điếu · 裹 quả · 曲 khúc · 精神貫注 tinh thần quán chú ·

實 thực

(Dưới hình): mặt hướng đông nam; chân phải nhấc lên nửa bước; hai tay hợp ngang miệng.

图 4
图 4
Hình thứ tư trong các ví dụ đồ tiết tự, đề hình "Hình 4 — hợp". Một người
đứng mặt hướng đông nam, hai tay hợp trước ngực, cao ngang miệng, lòng bàn tay hướng vào
nhau; chân phải nhấc lên đặt tới nửa bước. Trên hình dùng đường dẫn chú ra yếu lĩnh từng bộ
phận: bên trái từ trên xuống là "hư lĩnh", "(hít) bạt", "tùng", "đằng na", "trầm", "trực",
"khúc", "đằng na", "hư"; bên phải từ trên xuống là "tùng", "ý hướng thượng khai", "đằng na",
"trầm", "liễm khí", "trầm", "điếu", "quả", "khúc", "tinh thần quán chú", "thực". Dưới hình
ghi chú "mặt hướng đông nam", "chân phải nhấc lên nửa bước", "hai tay hợp ngang miệng".

Phần 156

Trang sách 586

Chương hai — Đồ giải Thái Cực Quyền Võ thức

Chương hai — Đồ giải Thái Cực Quyền Võ thức
Thứ tự tên thức quyền của Thái Cực Quyền Võ thức
Tên thứcTên thức
Thức 1Thức dự bịThức 14Thủ huy tỳ bà thế
Thức 2Tả lãn trát yThức 15Hữu lãn trát y
Thức 3Hữu lãn trát yThức 16Đơn tiên
Thức 4Đơn tiênThức 17Đề thủ thượng thế
Thức 5Đề thủ thượng thếThức 18Trửu để khán chùy
Thức 6Bạch nga lượng síThức 19Tả đảo niễn hầu
Thức 7Lâu tất ảo bộThức 20Hữu đảo niễn hầu
Thức 8Thủ huy tỳ bà thếThức 21Tả đảo niễn hầu
Thức 9Lâu tất ảo bộThức 22Hữu đảo niễn hầu
Thức 10Thủ huy tỳ bà thếThức 23Thủ huy tỳ bà thế
Thức 11Thượng bộ ban lãm chùyThức 24Bạch nga lượng sí
Thức 12Như phong tự bếThức 25Lâu tất ảo bộ
Thức 13Bão hổ thôi sơnThức 26Thủ huy tỳ bà thế
Tên thứcTên thức
Thức 27Án thếThức 51Thủ huy tỳ bà thế
Thức 28Thanh long xuất thủyThức 52Hữu lãn trát y
Thức 29Phiên thânThức 53Tà đơn tiên
Thức 30Tam dũng bốiThức 54Hạ thế
Thức 31Đơn tiênThức 55Dã mã phân tông
Thức 32Hạ thếThức 56Đơn tiên
Thức 33Vân thủThức 57Ngọc nữ xuyên thoa
Thức 34Đơn tiênThức 58Thủ huy tỳ bà thế
Thức 35Đề thủ thượng thếThức 59Hữu lãn trát y
Thức 36Cao thám mãThức 60Đơn tiên
Thức 37Tả tiêm hổ thếThức 61Hạ thế
Thức 38Hữu khởi cướcThức 62Vân thủ
Thức 39Hữu phục hổ thếThức 63Đơn tiên
Thức 40Tả khởi cướcThức 64Hạ thế
Thức 41Chuyển thân đăng cướcThức 65Canh kê độc lập
Thức 42Đơn tiênThức 66Tả đảo niễn hầu
Thức 43Tiễn bộ đả chùyThức 67Hữu đảo niễn hầu
Thức 44Phiên thân nhị khởiThức 68Tả đảo niễn hầu
Thức 45Phi thânThức 69Hữu đảo niễn hầu
Thức 46Thoái bộ thích cướcThức 70Thủ huy tỳ bà thế
Thức 47Chuyển thân đăng cướcThức 71Bạch nga lượng sí
Thức 48Thượng bộ ban lãm chùyThức 72Lâu tất ảo bộ
Thức 49Như phong tự bếThức 73Thủ huy tỳ bà thế
Thức 50Bão hổ thôi sơnThức 74Án thế

Thế thứ bảy mươi lăm — Thanh long xuất thủy    Thế thứ tám mươi sáu — Thượng bộ bằng lan chùy Thế thứ bảy mươi sáu — Phiên thân        Thế thứ tám mươi bảy — Hữu bàn lan chùy Thế thứ bảy mươi bảy — Tam dũng bối       Thế thứ tám mươi tám — Đơn tiên Thế thứ bảy mươi tám — Đơn lan          Thế thứ tám mươi chín — Hạ thế Thế thứ bảy mươi chín — Hạ thế          Thế thứ chín mươi — Thượng bộ thất tinh Thế thứ tám mươi — Bình thủ           Thế thứ chín mươi mốt — Thoái bộ khóa hổ Thế thứ tám mươi mốt — Đơn tiên         Thế thứ chín mươi hai — Chuyển cước bãi liên Thế thứ tám mươi hai — Đề thủ thượng thế    Thế thứ chín mươi ba — Loan cung xạ hổ Thế thứ tám mươi ba — Cao thám mã        Thế thứ chín mươi bốn — Song bão chùy Thế thứ tám mươi bốn — Đối tâm chưởng     Thế thứ chín mươi lăm — Thủ huy tỳ bà thế Thế thứ tám mươi lăm — Chuyển thân thập tự bãi liên  Thế thứ chín mươi sáu — Thâu thế

Phần 157

Trang sách 588

Mấy điểm giải thích về đồ giải

Mấy điểm giải thích về đồ giải

1. Các ảnh trong đồ giải này được vẽ phỏng theo ảnh quyền của tác giả.

2. Để tiện cho độc giả đối chiếu phương hướng của các thế quyền, phương hướng của tư thế dự bị (Hình 1) trong ảnh được giả định như sau: mặt hướng về người đọc tức là hướng nam, lưng tức là hướng bắc, phía tay phải của người đọc tức là hướng đông, phía tay trái của người đọc tức là hướng tây. Khi người tập đã thuần thục, có thể tùy theo hình dạng của sân bãi mà tùy chọn phương hướng, tư thế dự bị không nhất thiết phải bắt đầu từ hướng nam.

3. Mọi đường liền nét hoặc đường đứt khúc trong hình đều biểu thị khuynh hướng động tác của tay hoặc chân. Mọi mũi tên trong hình đều biểu thị khuynh hướng động tác chuyển từ hình này sang hình kế tiếp. Những động tác tương đối đơn giản, chỉ cần văn tự là có thể nói rõ, thì không biểu thị khuynh hướng động tác của chúng trong hình nữa, có thể tham khảo văn tự và hình sau.

4. Mũi tên có đường liền nét biểu thị khuynh hướng động tác của tay phải hoặc chân phải, mũi tên có Mũi tên có đường đứt khúc biểu thị khuynh hướng động tác của tay trái hoặc chân trái.

5. Do động tác của chân trong Thái Cực Quyền rất tinh tế, để biểu thị góc độ giữa bàn chân và mặt đất, người ta vẽ bóng mờ bên cạnh bàn chân để phân biệt:

图 1
图 1
Hình minh họa: một bàn chân đặt phẳng, bên cạnh bàn chân có vẽ bóng mờ, biểu thị toàn bộ bàn chân đặt trên đất.
图 2
图 2
Hình minh họa: một bàn chân mũi chân chúc xuống phía dưới bên trái, bên cạnh bàn chân không có bóng mờ, biểu thị toàn bộ bàn chân rời khỏi mặt đất.

Biểu thị toàn bộ bàn chân đặt trên đất

图 3
图 3
Hình minh họa: một bàn chân gót chân đặt trên đất, mũi chân nhấc lên, tại gót chân có vẽ bóng mờ, biểu thị gót chân đặt trên đất.
图 4
图 4
Hình minh họa: một bàn chân lòng bàn chân nhấc cao, mũi chân chấm đất, tại mũi chân có vẽ bóng mờ, biểu thị mũi chân đặt trên đất.

Bên cạnh bàn chân không có bóng mờ: biểu thị toàn bộ bàn chân rời khỏi mặt đất Biểu thị gót chân đặt trên đất Biểu thị mũi chân đặt trên đất

Phần 158

Trang sách 589

Đồ giải Vũ Thức Thái Cực Quyền

Đồ giải Vũ Thức Thái Cực Quyền
Thế thứ nhất — Dự bị thức (Hình 1)

Hai bàn chân đứng song song (khoảng cách giữa hai bàn chân chừng một nắm tay), hai đầu gối hơi cong, không cứng; hai cánh tay buông tự nhiên; hai mắt nhìn thẳng về phía trước. (Hình 1)

Yêu cầu khi hai bàn chân đứng song song và đã đứng vững, phải đạt được thân thái tự nhiên an tĩnh; phải nâng toàn bộ tinh thần lên, loại trừ tạp niệm; ý hàm đỉnh kình, cho nên đầu nên ngay thẳng, cằm hơi thu vào; hai vai thả lỏng; bụng thả lỏng, khí trầm đan điền; hàm hung (ngực ngậm), bạt bối (lưng kéo lên), khỏa đang (bọc đũng), hộ chuân (che bảo vệ hai bên sườn).

图 1
图 1
Hình vẽ nét (góc trên bên trái trang): một nam tử đứng chính diện, hai bàn chân đứng song song, hai cánh tay buông tự nhiên, hai mắt nhìn thẳng về phía trước. Đây là ảnh quyền của thế thứ nhất, Dự bị thức. Bên cạnh ghi chú "Hình 1".
Thế thứ hai — Tả lãm trát y (Hình 2–5)

Động tác một: hai chân khuỵu gối hơi ngồi xuống, trọng lượng cơ thể dần chuyển sang chân phải, chân phải biến thành thực; gót chân trái nhấc lên, mũi chân chấm đất, chân trái biến thành hư; đồng thời hai cánh tay hơi cong, hai bàn tay chuyển ra trước, tựa bên cạnh hông, mu bàn tay hướng lên, các ngón tay hướng về trước, hơi cong và tách ra. (Hình 2)

Trong toàn bộ bài quyền của Vũ Thức Thái Cực Quyền, hai cánh tay và hai chân của mọi động tác và tư thế từ đầu đến cuối đều không được duỗi thẳng, phải giữ một độ cong nhất định; khi thân thể chuyển động, đều phải lấy gót chân của chân thực làm trục; hơn nữa, đầu, thân, ngực, lưng… của mọi động tác đều phải phù hợp với yêu cầu của Dự bị thức, về sau không nhắc lại nữa.

Động tác hai: thân thể hơi chuyển sang trái, chân trái theo đó nhấc lên, bước ra về phía góc chéo bên trái (góc chéo 45 độ, những góc chéo được nói đến về sau đều là 45 độ), mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân trái hơi cong (hai chân vẫn là tả hư hữu thực); đồng thời hai bàn tay giơ lên về phía trước ngực, các ngón tay hướng lên thành lập chưởng, tay trái ở ngoài, ngang với miệng; tay phải ở trong, ngang với tim, lòng bàn tay đều hơi hướng về trước (hai khuỷu tay phải trầm xuống); mặt hướng về phía đông nam. (Hình 3)

图 2
图 2
Hình vẽ nét (giữa phía bên phải trang): nam tử khuỵu gối hơi ngồi xuống, trọng tâm lệch về chân phải, hai bàn tay chuyển tới bên cạnh hông, mu bàn tay hướng lên, các ngón tay hướng về trước. Bên cạnh ghi chú "Hình 2".

Động tác ba: gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, trọng lượng cơ thể chuyển sang chân trái, chân phải hơi cong, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời hai bàn tay từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước hay ngả sau; yêu cầu tùng kiên, trầm trửu), lòng bàn tay vẫn hơi hướng về trước, tay trái ngang với mắt, tay phải ngang với ngực. (Hình 4)

Động tác bốn: hai bàn tay đồng thời hạ xuống, khi hai bàn tay ngang với hông (khi hai bàn tay hạ xuống, hai khuỷu tay không được vượt ra sau lưng) tức là tách ra trái phải, vạch cung lên trên, lập chưởng hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, hai bàn tay cao ngang với miệng, lòng bàn tay hơi hướng về trước; chân phải cùng lúc hai bàn tay tách ra trái phải thì bước theo tới bên cạnh gót chân trái, lấy mũi chân chấm đất. (Hình 5)

Yêu cầu tùng kiên, trầm trửu; giữa hai bàn tay và ngực có thú vị tròn đầy linh hoạt; hai chân vẫn là tả thực hữu hư.

图 3
图 3
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai tay giơ trước ngực thành lập chưởng, tay trái ở ngoài cao ngang miệng, tay phải ở trong ngang với tim, gót chân trái nhấc lên, mũi chân chấm đất, thân thể hơi chuyển sang trái. Bên cạnh ghi chú "Hình 3".
图 4
图 4
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay từ từ đẩy ra trước, tay trái ngang mắt, tay phải ngang ngực; trong hình còn có mũi tên biểu thị khuynh hướng đẩy ra của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 4".
图 5
图 5
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực tách ra trái phải vạch cung lên trên, lập chưởng hợp lại, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái, mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 5".
Thế thứ ba — Hữu lãm trát y (Hình 6–9)

Động tác một: lấy gót chân trái làm trục (mũi chân phải vẫn chấm đất), thân thể hơi chuyển sang phải, mặt hướng về chính nam, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 6)

Động tác hai: eo hơi xoay sang phải, chân phải theo đó bước ra về phía góc chéo bên phải, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong (hai chân vẫn là tả thực hữu hư); đồng thời tay trái từ trên xuống dưới, tay phải từ dưới lên trên vạch một vòng nhỏ, vẫn là lập chưởng (các ngón tay hướng lên), tay phải ở ngoài, cao ngang miệng; tay trái ở trong, ngang với tim, lòng bàn tay đều hơi hướng về trước (hai khuỷu tay phải trầm xuống); mặt hướng về phía tây nam. (Hình 7)

图 6
图 6
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai tay giơ trước ngực thành lập chưởng, tay phải ở ngoài cao ngang miệng, tay trái ở trong ngang với tim; thân thể hơi chuyển sang phải, hai chân tả thực hữu hư, mũi chân phải chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 6".
图 7
图 7
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân phải bước ra về phía góc chéo bên phải, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, eo hơi xoay sang phải, hai bàn tay trước ngực vạch một vòng nhỏ lên xuống thành lập chưởng. Bên cạnh ghi chú "Hình 7".
图 8
图 8
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân phải cung về phía trước, hai bàn tay từ từ đẩy ra trước, trong hình có mũi tên và đường cung biểu thị khuynh hướng vạch vòng và đẩy ra của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 8".
图 9
图 9
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử hai bàn tay đẩy ra trước, lập chưởng đối nhau, chân phải cung về phía trước, trọng tâm ở chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 9".
图 10
图 10
Hình vẽ nét (giữa trang, lệch phải): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, hai chân hữu thực tả hư, mũi chân phải chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 10".

Động tác ba, bốn giống với động tác ba, bốn của thế thứ hai "Tả lãm trát y", chỉ có trái phải ngược nhau, phương hướng khác nhau. Phương hướng của thức này là hướng về phía tây nam. (Hình 8– 9)

Thế thứ tư — Đơn tiên (Hình 10–12)
Thế thứ năm — Đề thủ thượng thế (Hình 13)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự (tiết tự là gì, xin tham khảo phần giải thích đồ giải tiết tự). Động tác một, hai, ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Đề thủ thượng thế".

Động tác một: lấy gót chân phải làm trục (mũi chân trái vẫn chấm đất), thân thể xoay sang trái 90 độ, mặt hướng về phía đông nam, vẫn là chân phải thực, chân trái hư. (Hình 10) Động tác hai: chân trái bước ra, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, hai chân vẫn là tả hư hữu thực. (Hình 11)

Động tác ba: gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân phải hơi cong, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời hai bàn tay tách ra trái phải, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, vẫn là lập chưởng, tay trái ngang mắt, tay phải ngang miệng (hai khuỷu tay phải trầm xuống); mặt hướng về phía đông hơi lệch về nam. (Hình 12)

Động tác bốn: chân phải khép về phía trái, lấy mũi chân phải chấm bên cạnh chân trái (hai chân vẫn là tả thực hữu hư); đồng thời thân thể hơi chuyển sang phải, mặt hướng về chính nam; hai bàn tay theo đó mà động: tay phải chúc xuống vạch cung sang trái, từ dưới móc lên, đặt trước bụng, các ngón tay hướng về trước; tay trái giơ lên, lòng bàn tay hướng lên, có ý nâng đỡ lên trên, cao ngang chân mày (phải tùng kiên, trầm trửu). (Hình 13)

图 11
图 11
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, hai bàn tay trước ngực lập chưởng đối nhau; trong hình có mũi tên ngang hướng sang trái biểu thị khuynh hướng động thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 11".
图 12
图 12
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải đạp thẳng, chân trái cung về phía trước, hai bàn tay tách ra trái phải thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, gót chân phải nhấc lên. Bên cạnh ghi chú "Hình 12".
图 13
图 13
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay thu về trước thân, tay phải trước bụng các ngón tay hướng về trước, tay trái giơ lên, lòng bàn tay hướng lên cao ngang chân mày. Bên cạnh ghi chú "Hình 13".
Thế thứ sáu — Bạch nga lượng sí (Hình 14–17)

Động tác một: mũi chân phải vẫn chấm đất, lấy gót chân trái làm trục, thân thể hơi chuyển sang phải, mặt hướng về phía tây nam, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 14)

图 14
图 14
Hình vẽ nét (góc trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đối nhau, tay trái giơ lên, tay phải trước bụng, thân thể hơi chuyển sang phải, mũi chân phải chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 14".

Động tác hai: chân phải bước lên phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong (hai chân vẫn là tả thực hữu hư); đồng thời tay phải từ bên ngoài nâng lên, hoành chưởng giơ tới phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng về trước; tay trái từ phía trong đi qua trước mặt lập chưởng hạ xuống, cao ngang với tim (phải tùng kiên, trầm trửu). (Hình 15)

Động tác ba: gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời tay trái từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay trái cao ngang ngực, lòng bàn tay hơi hướng về trước (tay phải phải có ý trở lên trên, yêu cầu tùng kiên, trầm trửu). (Hình 16)

Động tác bốn: tay phải hơi duỗi ra trước, khuỷu tay buông xuống, hai bàn tay đồng thời hạ xuống; khi hai bàn tay ngang với hông (khi hai bàn tay hạ xuống, hai khuỷu tay không được vượt ra sau lưng) tức là tách ra trái phải, vạch cung lên trên, lập chưởng hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, hai bàn tay cao ngang miệng, lòng bàn tay hơi hướng về trước; chân trái cùng lúc hai bàn tay tách ra trái phải thì bước theo tới bên cạnh gót chân phải, lấy mũi chân chấm đất; mặt hướng về phía chéo trước bên phải. (Hình 17)

图 15
图 15
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân phải bước lên phía trước, mũi chân hếch lên, tay phải hoành chưởng giơ tới phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng về trước, tay trái qua trước mặt hạ xuống tới cao độ ngang tim. Bên cạnh ghi chú "Hình 15".
图 16
图 16
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, tay trái từ từ đẩy ra trước cao ngang ngực, tay phải ở phía trên trước trán. Bên cạnh ghi chú "Hình 16".
图 17
图 17
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực tách ra trái phải, vạch cung lên trên, lập chưởng hợp lại, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 17".

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực có thú vị tròn đầy linh hoạt; hai chân vẫn là hữu thực tả hư.

Khi luyện tập Thái Cực Quyền, mọi động tác từ đầu đến cuối đều yêu cầu tùng kiên, trầm trửu, mong độc giả ghi nhớ kỹ, về sau không nhắc lại nữa.

Thế thứ bảy — Lâu tất ảo bộ (Hình 18–21)

Động tác một: mũi chân trái hơi dịch sang trái và chấm đất phía sau, lấy gót chân phải làm trục, thân thể xoay sang trái 135 độ, mặt hướng về chính đông, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 18)

图 18
图 18
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử lấy gót chân phải làm trục xoay sang trái 135 độ, mặt hướng về chính đông, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân phải thực, chân trái hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 18".

Động tác hai: thân thể hơi chuyển sang trái, mặt hướng về phía đông bắc; tay chân theo đó mà động: chân trái bước ra về phía góc chéo bên trái, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân trái hơi cong, hai chân vẫn là hữu thực tả hư; tay trái hạ xuống tới trước bụng; tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng về trước; mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 19)

Động tác ba: gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân phải hơi cong, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay trái từ trên xuống dưới lùa qua đầu gối trái, đặt bên cạnh chân trái, các ngón tay hướng về trước; tay phải từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), các ngón tay vẫn hướng lên, cao ngang với mắt; mặt vẫn hướng về phía đông bắc. (Hình 20)

图 19
图 19
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử chân trái bước ra về phía góc chéo bên trái, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải giơ bên cạnh má bên phải, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng về trước. Bên cạnh ghi chú "Hình 19".

Động tác bốn: tay phải hạ xuống qua bên cạnh chân trái (các ngón tay hướng về trước), khi ngang với tay trái thì hai bàn tay tách ra trái phải vạch cung lên trên, lập chưởng hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, hai bàn tay cao ngang miệng, lòng bàn tay hơi hướng về trước; cùng lúc hai bàn tay tách ra trái phải thì chân phải ở phía trước bước theo tới bên cạnh gót chân trái, lấy mũi chân chấm đất, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 21)

图 20
图 20
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, tay trái từ trên xuống dưới lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, tay phải từ từ đẩy ra trước cao ngang với mắt; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng đẩy ra và hạ xuống của tay phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 20".
图 21
图 21
Hình vẽ nét (giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, hai chân tả thực hữu hư, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 21".
图 22
图 22
Hình vẽ nét (giữa trang, lệch phải): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, tay trái hạ xuống tới trước bụng, chân phải ở phía trước. Bên cạnh ghi chú "Hình 22".
Thế thứ tám — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 22)
Thế thứ chín — Lâu tất ảo bộ (Hình 23–26)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác hai, ba, bốn là "Lâu tất ảo bộ".

Động tác một: chân phải lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về chính đông, chân trái thu về trước chân phải, lấy mũi chân chấm đất, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời hai bàn tay theo thân thu hợp lại, vẫn là lập chưởng, tay trái vẫn ngang với miệng, tay phải hạ xuống tới trước bụng, hai lòng bàn tay đều hơi hướng về trước; mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 22)

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực có thú vị tròn đầy linh hoạt.

Động tác hai: chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất; hai bàn tay theo đó mà động, tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải (như tư thế Hình 19). Tiếp đó gót chân phải đạp, chân phải hơi cong, lòng bàn chân trái theo đó đặt phẳng, chân trái phía trước biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời tay trái từ trên xuống dưới lùa qua đầu gối trái, đặt bên cạnh chân trái, các ngón tay hướng về trước; tay phải từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), các ngón tay vẫn hướng lên, cao ngang với mắt; mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 23) (kèm ảo bộ)

Tiếp đó chân phải bước vượt qua chân trái, đặt phẳng vững chắc ở phía ngoài chân trái, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời tay trái giơ lên ngang với miệng, tay phải hạ xuống đặt trước ngực, các ngón tay của hai bàn tay đều hướng lên, lòng bàn tay hơi hướng về trước; mặt vẫn hướng về phía đông bắc. (Hình 24)

Động tác ba giống với phần giải thích Hình 23 trong động tác hai của thức này, trước "kèm ảo bộ". (Hình 25)

Động tác bốn giống với phần giải thích động tác bốn, Hình 21, của thế thứ bảy "Lâu tất ảo bộ". (Hình 26)

图 23
图 23
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, tay trái lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, các ngón tay hướng về trước, tay phải từ từ đẩy ra trước cao ngang với mắt. Bên cạnh ghi chú "Hình 23".
图 24
图 24
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân phải bước vượt qua chân trái, đặt phẳng vững chắc ở phía ngoài chân trái, hai chân hữu thực tả hư, tay trái giơ lên ngang với miệng, tay phải hạ xuống đặt trước ngực, các ngón tay của hai bàn tay hướng lên. Bên cạnh ghi chú "Hình 24".
图 25
图 25
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 25".
图 26
图 26
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, hai chân hữu thực tả hư, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 26".
Thế thứ mười — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 27)
Thế thứ mười một — Thượng bộ bàn lãm chùy (Hình 28–30)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác hai, ba, bốn là "Thượng bộ bàn lãm chùy". Động tác một giống với phần giải thích động tác một của thế thứ tám "Thủ huy tỳ bà thế". (Hình 27)

Động tác hai: (thượng bộ bên trái) chân trái vẫn bước ra về phía góc chéo trước bên trái, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất; hai bàn tay theo đó mà động: tay phải giơ cao lên trên đỉnh đầu về phía trên bên phải, lòng bàn tay hướng sang trái, năm ngón tay hơi duỗi ra, các ngón tay hướng về trước; tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng sang phải. Ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân phải hơi cong, biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời hai bàn tay duỗi ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt vẫn hướng về phía đông bắc. (Hình 28)

Động tác ba: (thượng bộ bên phải) lấy gót chân trái làm trục, thân thể xoay sang phải; chân phải theo đó nhấc lên, đi qua bên cạnh chân trái và bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất; đồng thời hai bàn tay theo đó mà động: tay trái giơ cao lên trên đỉnh đầu về phía trên bên trái, lòng bàn tay hướng sang phải, năm ngón tay hơi duỗi ra, các ngón tay hướng lên; tay phải từ trên xuống dưới qua trước mặt hạ thẳng xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng sang trái. Ngay sau đó gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, chân trái hơi cong, hai chân biến thành tả hư hữu thực; đồng thời hai bàn tay duỗi ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về phía đông nam. (Hình 29)

图 27
图 27
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, tay trái hạ xuống tới trước bụng; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 27".
图 28
图 28
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử tay phải giơ cao lên trên đỉnh đầu về phía trên bên phải, lòng bàn tay hướng sang trái các ngón tay hướng về trước, tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, chân trái cung về phía trước, hai bàn tay duỗi ra phía trước. Bên cạnh ghi chú "Hình 28".
图 29
图 29
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử tay trái giơ cao lên trên đỉnh đầu về phía trên bên trái, lòng bàn tay hướng sang phải, tay phải hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên hình cung và mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 29".

Động tác bốn: (bàn lãm chùy) tay trái qua trước mặt hạ xuống, vạch cung sang trái, từ dưới móc lên, lại lên trên rồi hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng lên; chân trái theo đó nhấc lên, đi qua bên cạnh chân phải và bước ra hướng chính đông, trước tiên lấy gót chân chấm đất; tay phải hạ xuống bên cạnh hông phải và nắm thành quyền. Ngay sau đó lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân trái cung về phía trước, chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời quyền phải men theo mu bàn tay trái đánh ra phía trước từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau), mắt quyền hướng lên, cao ngang với tim; mặt hướng về chính đông. (Hình 30)

图 30
图 30
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, quyền phải men theo mu bàn tay trái đánh ra phía trước, mắt quyền hướng lên cao ngang với tim, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 30".
Thế thứ mười hai — Như phong tự bế (Hình 31–34)

Động tác một: chân trái không động, chân phải và quyền phải đồng thời dịch ra sau, chân phải lùi về sau chân trái, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải, chân phải hơi cong, hai chân vẫn là tả thực hữu hư; quyền phải đặt bên cạnh hông phải, mắt quyền vẫn hướng lên; đồng thời tay trái lập chưởng chuyển lên tới trước ngực, lòng bàn tay hướng sang phải; mặt hướng về chính đông. (Hình 31)

图 31
图 31
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử tay trái lập chưởng chuyển lên tới trước ngực, lòng bàn tay hướng sang phải, quyền phải đặt bên cạnh hông phải mắt quyền hướng lên, chân phải lùi về sau chân trái, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 31".

Động tác hai: thân thể dịch ra sau, chân phải biến thành thực, chân trái thu về lấy mũi chân chấm trước chân phải, chân trái biến thành hư; đồng thời quyền phải biến thành chưởng chuyển lên sánh cùng tay trái, thành lập chưởng thu về trước ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước. (Hình 32)

Động tác ba: chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân trái hơi cong, vẫn là chân phải thực, chân trái hư. (Hình 33)

图 32
图 32
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước, thân thể dịch ra sau, chân phải thực, chân trái hư, mũi chân trái chấm trước chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 32".
图 33
图 33
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, hai bàn tay lập chưởng trước ngực; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 33".
图 34
图 34
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay từ từ đẩy ra song song phía trước, cao ngang ngực, chân phải thực, chân trái hư, mũi chân trái chấm bên cạnh chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 34".

Động tác bốn: hai bàn tay từ từ đẩy ra song song phía trước, cao ngang ngực (thân trên không được ngả trước ngả sau); đồng thời chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân trái biến thành thực, chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh chân trái, chân phải biến thành hư (gót chân trái phải có ý đạp ra); mặt hướng về chính đông. (Hình 34)

Thế thứ mười ba — Bão hổ thôi sơn (Hình 35–38)

Động tác một: chân phải đi qua sau gót chân trái, dời tới bên trái phía sau chân trái và chấm đất, lấy gót chân trái làm trục, thân thể xoay sang phải ra sau 180 độ, mặt hướng về chính tây, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 35)

图 35
图 35
Hình vẽ nét (bên trái trang): nam tử chân phải đi qua sau gót chân trái dời tới bên trái phía sau chân trái và chấm đất, thân thể xoay sang phải ra sau 180 độ, mặt hướng về chính tây, hai bàn tay trước ngực. Bên cạnh ghi chú "Hình 35".

Động tác hai: thân thể hơi chuyển sang phải; tay chân theo đó mà động: chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong, hai chân vẫn là tả thực hữu hư; tay phải hạ xuống tới trước bụng; tay trái giơ lên bên cạnh má bên trái, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng về trước; mặt hướng về phía tây bắc. (Hình 36)

图 36
图 36
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay phải hạ xuống tới trước bụng, tay trái giơ bên cạnh má bên trái, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng về trước; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 36".
图 37
图 37
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, tay phải trước bụng vạch vòng tròn xuống dưới ra ngoài về phía trái, lòng bàn tay hướng về ngực như thế ôm hổ, tay trái lập chưởng từ từ đẩy ra trước, cao ngang với mắt; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng vạch vòng của tay phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 37".
图 38
图 38
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 38".

Động tác ba: gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời tay phải trước bụng vạch vòng tròn xuống dưới ra ngoài về phía trái, tới bên phải trước bụng thì nắm thành quyền, lòng bàn tay hướng về ngực, cánh tay phải có thế ôm hổ; tay trái lập chưởng từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay trái cao ngang với mắt; mặt hướng về phía tây bắc. (Hình 37)

Động tác bốn: lòng bàn tay của quyền phải hướng xuống dưới dời đi, qua bên cạnh chân phải biến thành chưởng, tay trái cũng theo đó lòng bàn tay hướng xuống dưới hạ xuống, khi hai bàn tay dời xuống ngang nhau thì hai bàn tay đồng thời tách ra trái phải vạch cung lên trên, lập chưởng hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, hai bàn tay cao ngang miệng, hai lòng bàn tay hơi hướng về trước; chân trái cùng lúc hai bàn tay tách ra trái phải thì bước theo tới trước, tới bên cạnh gót chân phải, lấy mũi chân chấm đất, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 38)

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực, cánh tay phải có thú vị tròn đầy linh hoạt.

Thế thứ mười bốn — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 39–40)
Thế thứ mười lăm — Hữu lãn trát y (Hình 41–42)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác ba, bốn là "Hữu lãn trát y". Động tác một: chân trái lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về phía tây nam, chân phải thu về trước chân trái, lấy mũi chân chấm đất, hai chân biến thành tả thực hữu hư; hai bàn tay theo thân xoay sang trái, lập chưởng thu về trước ngực, tay phải vẫn ngang với miệng, tay trái hạ xuống tới trước bụng, hai lòng bàn tay đều hơi hướng về trước; mặt hướng về chính tây. (Hình 39)

图 39
图 39
Hình vẽ nét (góc trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, tay phải ngang với miệng, tay trái hạ xuống tới trước bụng, chân phải thu về trước chân trái lấy mũi chân chấm đất, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 39".

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực, cánh tay có thú vị tròn đầy linh hoạt.

Động tác hai: chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 40)

Động tác ba, bốn giống với động tác ba, bốn của thế thứ ba "Hữu lãm trát y", chỉ khác phương hướng đôi chút, thức này mặt hướng về chính tây. (Hình 41–42)

图 40
图 40
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, hai bàn tay trước ngực lập chưởng; trong hình có mũi tên ngang hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 40".
图 41
图 41
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, hai bàn tay từ từ đẩy ra trước; trong hình có mũi tên hình cung và mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 41".
图 42
图 42
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 42".
Thế thứ mười sáu — Đơn tiên (Hình 43–45)
Thế thứ mười bảy — Đề thủ thượng thế (Hình 46)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai, ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Đề thủ thượng thế".

Động tác một: chân trái nhấc lên, dời tới bên trái phía sau chân phải và chấm đất, lấy gót chân phải làm trục, thân thể xoay sang trái ra sau 135 độ, mặt hướng về phía đông hơi lệch về nam, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 43)

图 43
图 43
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử lấy gót chân phải làm trục xoay sang trái ra sau 135 độ, mặt hướng về phía đông hơi lệch về nam, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, chân trái dời tới bên trái phía sau chân phải chấm đất, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 43".

Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thế thứ tư "Đơn tiên". (Hình 44–45)

Động tác bốn giống với động tác của thế thứ năm "Đề thủ thượng thế", tức là giống với động tác bốn của phần hợp nhất thế thứ tư và thế thứ năm. (Hình 45)

图 44
图 44
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 44".
图 45
图 45
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử tay phải co khuỷu giơ ngang trước trán, tay trái lập chưởng trước ngực, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 45".
图 46
图 46
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử tay trái giơ lên phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng lên, tay phải trước ngực; phía dưới tay phải có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 46".
Thế thứ mười tám — Trửu để khán chùy (Hình 47–50)

Động tác một: chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, vẫn là chân trái thực, chân phải hư; đồng thời tay phải giơ tới trước ngực, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hơi hướng về trước. (Hình 47)

Động tác hai: gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, chân trái hơi cong, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời tay phải từ trước ngực từ từ đẩy ra (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về chính nam. (Hình 48)

Động tác ba: chân trái không động, mũi chân phải xoay sang trái 90 độ, eo hơi xoay sang trái, hướng về chính đông, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 49)

Động tác bốn: hai bàn tay nắm thành quyền, thân thể xoay sang trái hướng về chính đông; đồng thời quyền phải vòng dưới khuỷu tay trái, mắt quyền hướng vào trong; cẳng tay trái theo đó thẳng đứng, quyền ngang với đỉnh đầu, mắt quyền hướng sang trái (hai cánh tay thành hình góc vuông); chân trái cùng lúc thân thể xoay sang trái thì khép sát bên cạnh gót chân phải, gót chân nhấc lên, lấy mũi chân chấm đất, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 50)

图 47
图 47
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay phải giơ tới trước ngực, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hơi hướng về trước, tay trái nắm quyền bên hông. Bên cạnh ghi chú "Hình 47".
图 48
图 48
Hình vẽ nét (giữa trang, lệch trái): nam tử chân phải cung về phía trước, tay phải từ trước ngực từ từ đẩy ra, tay trái nắm quyền bên hông. Bên cạnh ghi chú "Hình 48".
图 49
图 49
Hình vẽ nét (giữa trang, lệch phải): nam tử mũi chân phải xoay sang trái 90 độ, eo hơi xoay sang trái hướng về chính đông, hai bàn tay trước ngực, tay trái nắm quyền bên hông. Bên cạnh ghi chú "Hình 49".
图 50
图 50
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử thân thể xoay sang trái hướng về chính đông, quyền phải vòng dưới khuỷu tay trái, mắt quyền hướng vào trong, cẳng tay trái thẳng đứng, quyền ngang với đỉnh đầu, chân trái khép sát bên cạnh gót chân phải, gót chân nhấc lên lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 50".
Thế thứ mười chín — Tả đảo niển hầu (Hình 51–54)

Động tác một: hai quyền biến thành lập chưởng, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tách ra trái phải, cao ngang với vai; chân trái hơi dời ra sau và chấm đất, lấy gót chân phải làm trục, thân thể xoay sang trái 90 độ, chân phải ngồi thực, hai chân vẫn là hữu thực tả hư; mặt hướng về chính bắc; đồng thời hai bàn tay đối nhau hợp trước ngực, hai bàn tay có ý bưng quả bóng, cao ngang với miệng. (Hình 51)

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực, cánh tay phải có thú vị tròn đầy linh hoạt. Động tác hai, ba, bốn giống với động tác hai, ba, bốn của thế thứ bảy "Lâu tất ảo bộ", chỉ khác phương hướng và góc độ, thức này là hướng chính tây. (Hình 52–54)

图 51
图 51
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai quyền biến thành lập chưởng, lòng bàn tay hướng ra ngoài tách ra trái phải cao ngang vai, chân trái hơi dời ra sau chấm đất, thân thể xoay sang trái 90 độ, mặt hướng về chính bắc. Bên cạnh ghi chú "Hình 51".
图 52
图 52
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang, lệch trái): nam tử quay lưng về phía độc giả, chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 52".
图 53
图 53
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang, lệch phải): nam tử quay lưng về phía độc giả, chân phải cung về phía trước, tay trái lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, tay phải từ từ đẩy ra trước cao ngang với mắt; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 53".
图 54
图 54
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 54".
Thế thứ hai mươi — Hữu đảo niển hầu (Hình 55–58)

Động tác một: chân phải nhấc lên, đi qua sau chân trái dời tới bên trái gót chân trái, mũi chân chấm đất, lấy gót chân trái làm trục, thân thể xoay sang phải ra sau 225 độ, mặt hướng về chính nam, hai chân vẫn là tả thực hữu hư. (Hình 55)

图 55
图 55
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử lấy gót chân trái làm trục xoay sang phải ra sau 225 độ, mặt hướng về chính nam, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân phải đi qua sau chân trái dời tới bên trái gót chân trái mũi chân chấm đất, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 55".

Động tác hai: thân thể hơi chuyển sang phải, tay chân theo đó mà động: chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong, hai chân vẫn là tả thực hữu hư; tay phải hạ xuống tới trước bụng; tay trái giơ lên bên cạnh má bên trái, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài; mặt hướng về phía tây nam. (Hình 56)

Động tác ba: gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, chân trái hơi cong, biến thành hữu thực tả hư; đồng thời tay phải từ trên xuống dưới lùa qua đầu gối phải đặt bên cạnh chân phải, các ngón tay hướng về trước; tay trái từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), các ngón tay vẫn hướng lên, cao ngang với mắt. (Hình 57)

Động tác bốn: tay trái hạ xuống qua bên cạnh chân phải (các ngón tay hướng về trước), khi ngang với tay phải thì hai bàn tay tách ra trái phải vạch cung lên trên, lập chưởng hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, hai bàn tay cao ngang miệng, lòng bàn tay hơi hướng về trước; cùng lúc hai bàn tay tách ra trái phải thì chân trái bước theo tới trước tới bên cạnh gót chân phải, lấy mũi chân chấm đất, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 58)

图 56
图 56
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay phải hạ xuống tới trước bụng, tay trái giơ bên cạnh má bên trái, cao ngang với tai, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 56".
图 57
图 57
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, tay phải lùa qua đầu gối phải đặt bên cạnh chân phải, các ngón tay hướng về trước, tay trái từ từ đẩy ra trước cao ngang với mắt; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 57".
图 58
图 58
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 58".
Thế thứ hai mươi mốt — Tả đảo niển hầu (Hình 59–62)

Động tác một: chân trái nhấc lên, đi qua sau chân phải dời tới bên phải gót chân phải, mũi chân chấm đất, lấy gót chân phải làm trục, thân thể xoay sang trái ra sau 225 độ, mặt hướng về chính bắc, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 59)

Động tác hai, ba, bốn giống với động tác hai, ba, bốn của thế thứ bảy "Lâu tất ảo bộ", chỉ khác phương hướng và góc độ, thức này là hướng tây bắc. (Hình 60–62)

Thế thứ hai mươi hai — Hữu đảo niển hầu (Hình 63–66)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ hai mươi "Hữu đảo niển hầu" giống nhau. (Hình 63–66)

图 59
图 59
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, lấy gót chân phải làm trục xoay sang trái ra sau 225 độ, mặt hướng về chính bắc, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân trái dời tới bên phải gót chân phải mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 59".
图 60
图 60
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất, tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải, các ngón tay hướng lên. Bên cạnh ghi chú "Hình 60".
图 61
图 61
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, chân phải cung về phía trước, tay phải vạch cung lên trên, tay trái ở trước bụng; trong hình có đường cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 61".
图 62
图 62
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 62".
图 63
图 63
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 63".
图 64
图 64
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, tay phải co khuỷu giơ trước trán, tay trái ở trước ngực, chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất; trong hình có đường cung và mũi tên biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 64".
Thế thứ hai mươi ba — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 67)
Thế thứ hai mươi bốn — Bạch nga lượng sí (Hình 68–70)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác hai, ba, bốn là "Bạch nga lượng sí".

图 65
图 65
Hình vẽ nét (góc trên bên trái trang): nam tử gót chân phải nhấc lên, mũi chân chấm đất, hai bàn tay trước ngực lập chưởng; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 65".
图 66
图 66
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân trái lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về chính nam, chân phải thu về trước chân trái lấy mũi chân chấm đất, hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, tay phải ngang với miệng, tay trái hạ xuống tới trước bụng; trong hình có mũi tên hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 66".

Động tác một: chân trái lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về chính nam; chân phải thu về trước chân trái, lấy mũi chân chấm đất, biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời hai bàn tay lập chưởng theo thân thể thu về, tay phải thu về trước ngực, ngang với miệng, tay trái hạ xuống tới trước bụng, hai lòng bàn tay đều hơi hướng về trước; mặt hướng về phía tây nam. (Hình 67)

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực, cánh tay có thú vị tròn đầy linh hoạt.

Động tác hai: chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên, lấy gót chân chấm đất, chân phải hơi cong, hai chân vẫn là tả thực hữu hư; đồng thời tay phải giơ lên phía trên trước trán, hoành chưởng, lòng bàn tay hướng về trước; tay trái dời tới trước tim, các ngón tay hướng lên. (Hình 68)

Động tác ba, bốn giống với động tác ba, bốn của thế thứ sáu "Bạch nga lượng sí". (Hình 69–70)

图 67
图 67
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử chân trái lùi ra sau đặt vững, hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, tay phải ngang với miệng, tay trái hạ xuống tới trước bụng; trong hình có mũi tên và đường cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 67".
Thế thứ hai mươi lăm — Lâu tất ảo bộ (Hình 71–74)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ bảy "Lâu tất ảo bộ". (Hình 71–74)

Thế thứ hai mươi sáu — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 75)
Thế thứ hai mươi bảy — Phi thế (Hình 76)
Thế thứ hai mươi tám — Thanh long xuất thủy (Hình 77)
图 68
图 68
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay phải giơ lên phía trên trước trán, hoành chưởng lòng bàn tay hướng về trước, tay trái dời tới trước tim, các ngón tay hướng lên, chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất; trong hình có mũi tên ngang hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 68".
图 69
图 69
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay phải ở trên vạch cung ấn xuống, tay trái ở trước ngực, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng vạch cung của tay phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 69".
图 70
图 70
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 70".
Thế thứ hai mươi chín — Phiên thân (Hình 78)

Bốn thức hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác hai là "Phi thế"; động tác ba là "Thanh long xuất thủy"; động tác bốn là "Phiên thân".

图 71
图 71
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực, thân thể xoay sang trái, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 71".
图 72
图 72
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, tay phải ở trước trán, tay trái ở trước bụng; trong hình có mũi tên biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 72".
图 73
图 73
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 73".
图 74
图 74
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể xoay ngay ngắn, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 74".
图 75
图 75
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân trái thu về trước chân phải lấy mũi chân chấm đất, hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, tay phải hạ xuống tới trước bụng, tay trái vẫn ngang với miệng; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 75".
图 76
图 76
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử thân trên ngả về trước, hai bàn tay ấn thẳng xuống dưới, các ngón tay trái hướng về trước đặt bên trái cẳng chân trái, các ngón tay phải hướng sang trái đặt trước hai chân; trong hình có mũi tên hướng lên biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 76".

Động tác một: chân phải lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về phía đông nam, chân trái thu về trước chân phải, lấy mũi chân chấm đất, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời hai bàn tay lập chưởng theo thân thể xoay sang phải thu về trước ngực, tay trái vẫn ngang với miệng, tay phải hạ xuống tới trước bụng, hai lòng bàn tay đều hơi hướng về trước; mặt hướng về chính đông. (Hình 75)

Yêu cầu giữa hai bàn tay và ngực, cánh tay có thú vị tròn đầy linh hoạt.

Động tác hai: tay phải lật lên trên, vạch vòng tròn lên trên sang phải, khi tới trước mặt thì lòng bàn tay hướng xuống, đồng thời tay trái (lòng bàn tay hướng xuống) từ trước ngực vạch cung xuống dưới sang trái tới bên cạnh chân trái; ngay sau đó hai bàn tay ấn thẳng xuống dưới; thân trên ngả về trước, nhân thế hơi ngồi xuống; các ngón tay trái hướng về trước đặt bên trái cẳng chân trái, các ngón tay phải hướng sang trái đặt trước hai chân. (Hình 76)

Yêu cầu khi cúi thân thì đầu vẫn ngay thẳng hướng về trước, hai cánh tay hơi cong, hai chân vẫn phải hữu thực tả hư.

图 77
图 77
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay phải cao hơn đỉnh đầu, lòng bàn tay hơi hướng về trước, tay trái lập chưởng đặt trước ngực, chân trái bước ra phía trước, gót chân phải đạp; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 77".
图 78
图 78
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử lấy gót chân trái làm trục, mũi chân trái xoay sang phải 135 độ đặt vững, thân thể ngả về phía sau bên phải, mũi chân phải chấm đất hếch lên, tay trái giơ lên cao hơn đỉnh đầu, các ngón tay hướng sang phải, tay phải hạ xuống trước ngực lập chưởng. Bên cạnh ghi chú "Hình 78".
图 79
图 79
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, các ngón tay hướng lên, thân thể hướng về đông, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 79".
图 80
图 80
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay đẩy ra trước cao ngang ngực, lòng bàn chân trái đặt phẳng, mũi chân trái hướng về chính đông; trong hình có mũi tên hướng về trước biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 80".

Động tác ba: thân trên dựng thẳng lên; hai cánh tay đồng thời theo đó nhấc lên trên, tay phải cao hơn đỉnh đầu, lòng bàn tay hơi hướng về trước, các ngón tay hướng sang trái; tay trái lập chưởng đặt trước cổ tay, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hơi hướng về trước; đồng thời chân trái bước ra phía trước, gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, mũi chân trái hướng về chính đông, chân phải hơi cong, hai chân biến thành tả thực hữu hư; tay trái theo đó từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay ngang với ngực. (Hình 77)

图 81
图 81
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân trái cung về phía trước, quyền phải đánh ra phía trước, tay trái ở trước ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 81".
图 82
图 82
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân ngay ngắn, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 82".

Động tác bốn: lấy gót chân trái làm trục, mũi chân trái xoay sang phải 135 độ đặt vững, thân thể ngả về phía sau bên phải, mũi chân phải theo đó hếch lên; đồng thời tay trái giơ lên, cao hơn đỉnh đầu, tay tim hơi hướng về trước, các ngón tay hướng sang phải; tay phải theo đó hạ xuống, thành lập chưởng đặt trước ngực, các ngón tay hướng lên, lòng bàn tay hơi hướng về trước, gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, chân trái hơi cong, hai chân biến thành hữu thực tả hư. Tay phải ngay sau đó từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), cao ngang với ngực; mặt hướng về chính tây. (Hình 78)

Thế thứ ba mươi — Tam dũng bối (Hình 79–82)

Động tác một: chân phải lùi ra sau một bước lớn đặt vững, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải, chân trái mang về, lấy mũi chân chấm trước chân phải, hai chân vẫn biến thành hữu thực tả hư; đồng thời hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, trái cao phải thấp, tay trái cao ngang với miệng, hai lòng bàn tay đều hơi hướng về trước; mặt hướng về chính tây. (Hình 79)

Động tác hai: chân trái bước lên phía trước, lấy gót chân chấm đất trước; ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân phải hơi cong, biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời hai bàn tay từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), hai lòng bàn tay vẫn hơi hướng về trước, tay trái ngang với mắt, tay phải ngang với ngực. (Hình 80)

Động tác ba: mũi chân trái hơi xoay ra ngoài, chân trái ngồi thực, chân phải bước lên phía trước một bước lớn, trước tiên lấy gót chân chấm đất, ngay sau đó gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, mũi chân phải hướng thẳng về phía trước, chân phải hơi cong, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời tay phải vạch cung lên trên, cao ngang với chân mày; tay trái vạch cung xuống dưới, ngang với tim, hai bàn tay theo chân phải cung về phía trước thì từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), hai lòng bàn tay vẫn hơi hướng về trước, tay phải ngang với mắt, tay trái ngang với ngực. (Hình 81)

Động tác bốn giống với động tác bốn của thế thứ ba "Hữu lãm trát y", chỉ khác phương hướng và góc độ, thức này mặt hướng về chính tây. (Hình 82)

Thế thứ ba mươi mốt — Đơn tiên (Hình 83–85)
Thế thứ ba mươi hai — Hạ thế (Hình 86)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai, ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Hạ thế".

Động tác một giống với động tác một của thế thứ mười sáu "Đơn tiên". (Hình 83)

Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thế thứ tư "Đơn tiên". (Hình 84–85)

图 83
图 83
Hình vẽ nét (bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, mũi chân phải hướng thẳng về phía trước, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 83".

Động tác bốn: thân thể hơi xoay sang trái, chân trái theo đó thu về bên cạnh chân phải, lấy mũi chân chấm đất, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời tay trái hạ xuống tới trước bụng, cánh tay trái hơi cong, các ngón tay hướng về trước; tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên; mặt hướng về chính đông, thân trên hơi nghiêng lệch về nam. (Hình 86)

Thế thứ ba mươi ba — Nhân thủ (Hình 87–90)
图 84
图 84
Hình vẽ nét (bên trên, phía trái trang): nam tử hai bàn tay dựng đứng trước ngực, các ngón tay hướng lên, cánh tay phải co lại giữ ngang ở phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị phương hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 84".
图 85
图 85
Hình vẽ nét (bên trên, khoảng giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, cánh tay phải co lại trước trán, tay trái dựng đứng trước ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị phương hướng của hai tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 85".
图 86
图 86
Hình vẽ nét (bên trên, phía phải trang): nam tử tay trái hạ xuống trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải, mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị phương hướng của hai tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 86".

Động tác một: chân trái bước ra phía trước, mũi chân hướng về góc bên trái, lấy gót chân chấm đất, gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay trái qua bụng lên trên, tay phải từ phải xuống dưới vạch cung, tay trái giơ tới trước trán, ngang với đầu, lòng bàn tay hơi hướng về trước; tay phải hạ xuống móc lên sang trái tới trước bụng, lòng bàn tay hơi hướng xuống, hai bàn tay trên dưới đối nhau; mặt hướng về phía đông nam. (Hình 87)

Động tác hai: lấy gót chân trái làm trục, thân thể xoay sang phải, mũi chân trái cũng theo đó khấu vào trong 90 độ, ngồi thực chân trái; chân phải nhấc lên, tựa bên cạnh gót chân trái, lấy gót chân chấm đất, mũi chân hếch lên, hai chân vẫn là tả thực hữu hư; đồng thời tay trái từ trái xuống dưới, tay phải từ trước bụng vạch cung lên trên, tay phải giơ tới trước trán, ngang với đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái hạ xuống móc lên sang phải tới trước bụng, lòng bàn tay hơi hướng xuống, hai bàn tay trên dưới đối nhau; mặt hướng về phía tây nam. (Hình 88)

图 87
图 87
Hình vẽ nét (bên trái trang, khoảng giữa dưới): nam tử chân trái cung về phía trước, tay trái giơ tới trước trán ngang với đầu, lòng bàn tay hơi hướng về trước, tay phải hạ xuống móc lên sang trái tới trước bụng, lòng bàn tay hơi hướng xuống, hai bàn tay trên dưới đối nhau; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 87".
图 88
图 88
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử lấy gót chân trái làm trục xoay thân thể sang phải, mũi chân trái khấu vào trong 90 độ ngồi thực chân trái, tay phải giơ tới trước trán ngang với đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay trái móc lên tới trước bụng, lòng bàn tay hơi hướng xuống, chân phải nhấc lên tựa bên cạnh gót chân trái lấy gót chân chấm đất, mũi chân hếch lên; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 88".
图 89
图 89
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử hai chân tả thực hữu hư, tay trái giơ tới trước trán, tay phải ở trước bụng, hai bàn tay trên dưới đối nhau; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 89".
图 90
图 90
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực; trong hình có đường cung vòng và nhiều mũi tên biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 90".

Động tác ba: mũi chân phải khấu vào trong khoảng 90 độ đặt vững, ngồi thực chân phải, đồng thời thân thể xoay sang trái, chân trái bước ngang ra bên trái, gót chân chấm đất trước, ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, mũi chân hướng về góc bên trái, hai chân vẫn biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay trái qua bụng lên trên, tay phải từ phải xuống dưới vạch cung, tay trái giơ tới trước trán, ngang với đầu, lòng bàn tay hơi hướng về trước, tay phải hạ xuống móc lên sang trái tới trước bụng, lòng bàn tay hơi hướng xuống, hai bàn tay trên dưới đối nhau; mặt hướng về phía đông nam. (Hình 89)

Động tác bốn: giống với động tác hai của thức này. (Hình 90)

Thế thứ ba mươi bốn — Đơn tiên (Hình 91)
Thế thứ ba mươi lăm — Đề thủ thượng thế (Hình 92–93)
Thế thứ ba mươi sáu — Cao thám mã (Hình 94)

Ba thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Đơn tiên"; động tác hai, ba là "Đề thủ thượng thế"; động tác bốn là "Cao thám mã".

Động tác một: mũi chân phải khấu vào trong khoảng 90 độ đặt vững; ngồi thực chân phải, đồng thời thân thể xoay sang trái, chân trái bước ngang ra bên trái, gót chân chấm đất trước, ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, mũi chân hướng về góc bên trái, hai chân vẫn biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay trái giơ lên, tay phải hạ xuống, đều biến thành lập chưởng, khi hai bàn tay ngang với miệng thì theo đó tách ra trái phải, tay trái ngang với mắt, tay phải ngang với miệng; mặt hướng về phía đông hơi lệch về nam. (Hình 91)

Động tác hai: chân phải nhấc lên, đi qua phía trong chân trái bước ra phía trước, trước tiên lấy gót chân chấm đất, ngay sau đó gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, mũi chân hướng về trước, chân trái hơi cong, biến thành hữu thực tả hư; thân thể đồng thời hơi xoay sang phải; hai bàn tay theo đó mà động: tay phải từ phải xuống dưới móc sang trái tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước; tay trái giơ lên, lòng bàn tay hướng lên, có ý nâng đỡ lên trên, cao ngang với đỉnh đầu; khi chân phải cung về phía trước thì tay phải từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay phải cao ngang với ngực; mặt hướng về chính nam. (Hình 92)

图 91
图 91
Hình vẽ nét (bên trái trang, phía trên): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, tay trái ngang với mắt tay phải ngang với miệng, mũi chân phải khấu vào trong 90 độ đặt vững, ngồi thực chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 91".

Động tác ba: mũi chân phải khấu vào trong khoảng 45 độ, chéo hướng về phía đông nam, đồng thời eo hơi xoay sang trái, ngồi thực chân phải, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 93)

图 92
图 92
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử tay trái giơ lên, lòng bàn tay hướng lên cao ngang với đỉnh đầu, tay phải móc sang trái ở trước bụng; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 92".
图 93
图 93
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử mũi chân phải khấu vào trong khoảng 45 độ, eo hơi xoay sang trái, ngồi thực chân phải, tay trái giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, tay phải ở trước ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 93".
图 94
图 94
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng; trong hình có đường cung và mũi tên biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 94".

Động tác bốn: tay trái từ phía trước vạch cung xuống dưới vào trong tới trước bụng, lòng bàn tay hướng lên, các ngón tay hướng sang phải; tay phải theo đó thu gần bên cạnh hông phải, tức thì xoa ấn về phía ngực, lòng bàn tay hướng xuống, cao ngang với ngực, trên dưới đối nhau với tay trái (hai cánh tay đều thành nửa vòng tròn); đồng thời thân thể tiếp tục xoay sang trái, mặt hướng về chính đông; chân trái đồng thời dời tựa bên cạnh chân phải, lấy mũi chân chấm đất, hai chân vẫn là hữu thực tả hư. (Hình 94)

Thế thứ ba mươi bảy — Tả phục hổ thế (Hình 95–96)
Thế thứ ba mươi tám — Hữu khởi cước (Hình 97–98)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Tả phục hổ thế"; động tác ba, bốn là "Hữu khởi cước".

图 95
图 95
Hình vẽ nét (bên phải trang): nam tử tay trái giơ lên cao hơn đỉnh đầu nắm quyền, quyền phải tựa ở trước bụng, chân trái bước ra về phía góc chéo trước bên trái, lấy gót chân chấm đất trước, chân trái cung về phía trước. Bên cạnh ghi chú "Hình 95".
图 96
图 96
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử thân thể hơi xoay sang trái, hai bàn tay đồng thời nắm quyền, hai lòng bàn tay trên dưới đối nhau, chân trái cung về phía trước, chân phải ở phía sau; trong hình có mũi tên hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 96".
图 97
图 97
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải nhấc lên đá ra phía trước, hai bàn tay ở trước ngực; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 97".
图 98
图 98
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay ở trước ngực, hai quyền trên dưới đối nhau, chân phải nhấc lên; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 98".

Động tác một: thân thể hơi xoay sang trái, chân trái bước ra về phía góc chéo trước bên trái, lấy gót chân chấm đất trước, gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, biến thành chân trái thực, chân phải hư; khi chân trái cung về phía trước thì hai bàn tay theo đó mà động: tay trái theo chân trái hướng về trước lên trên qua trước mặt giơ lên, cao hơn đỉnh đầu; tay phải từ trước ngực hướng ra ngoài hạ xuống, cẳng tay xoay ra ngoài, tựa ở trước bụng; hai bàn tay đồng thời nắm thành quyền, hai lòng bàn tay trên dưới đối nhau, khi nắm quyền thì thân thể xoay sang phải. (Hình 95) Động tác hai: toàn bộ trọng lượng cơ thể chuyển sang chân trái, chân phải nhấc lên, bước tới lấy mũi chân chấm bên cạnh chân trái. (Hình 96)

Động tác ba: chân phải nhấc lên, lấy mũi chân phải đá ra về phía phải, cao ngang với đầu gối; đồng thời quyền phải giơ lên, quyền trái hạ xuống, khi hai quyền ngang với chân mày thì đều biến thành lập chưởng, tách ra trái phải, phải cao trái hơi thấp, tay phải cao ngang với chân mày, cánh tay phải cùng phương hướng với chân phải; chân trái hơi cong. (Hình 97)

Động tác bốn: tay trái tay phải hợp trước ngực; đồng thời chân phải không động, cẳng chân phải buông xuống, mũi chân hướng xuống, gót chân gần đầu gối trái; mặt hướng về phía chéo trước bên phải. (Hình 98)

图 99
图 99
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử tay trái giơ phía trên trước trán, tay phải ở trước ngực, chân phải nhấc lên, mũi chân hướng xuống, gót chân gần đầu gối trái. Bên cạnh ghi chú "Hình 99".
Thế thứ ba mươi chín — Hữu phục hổ thế (Hình 99–100)
Thế thứ bốn mươi — Tả khởi cước (Hình 101–102)
图 100
图 100
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử tay trái giơ phía trên trước trán, quyền phải ở trước bụng, mũi chân phải chấm bên cạnh chân trái; trong hình có mũi tên hình cung hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 100".
图 101
图 101
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân trái hơi cong, chân phải nhấc lên đá ra về phía trái cao ngang với đầu gối, hai bàn tay trước ngực lập chưởng tách ra trái phải; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 101".
图 102
图 102
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử chân phải nhấc lên, mũi chân hướng xuống gót chân gần đầu gối trái, hai bàn tay hợp trước ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 102".

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, động tác hai là "Hữu phục hổ thế"; động tác ba, bốn là "Tả khởi cước".

Động tác một, hai, ba, bốn giống với phần giải thích bốn động tác của thế thứ ba mươi bảy "Tả phục hổ thế" hợp với thế thứ ba mươi tám "Hữu khởi cước", chỉ khác trái phải ngược nhau, phương hướng hơi khác, thức này đá chân là hướng về phía đông bắc. (Hình 99–102)

Thế thứ bốn mươi mốt — Chuyển thân đặng cước (Hình 103–104)
Thế thứ bốn mươi hai — Đơn tiên (Hình 105)
Thế thứ bốn mươi ba — Tiễn bộ đả chùy (Hình 106)

Ba thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Chuyển thân đặng cước"; động tác ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Tiễn bộ đả chùy".

Động tác một: lấy gót chân phải làm trục, thân thể xoay sang trái ra sau 180 độ; mặt hướng về chính tây. (Hình 103)

图 103
图 103
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử lấy gót chân phải làm trục xoay sang trái ra sau 180 độ, mặt hướng về chính tây, hai bàn tay ở trước ngực, chân trái nhấc lên; trong hình có mũi tên ngang hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 103".

Động tác hai: mũi chân trái hếch lên, lấy gót chân đá ra phía trước, cao ngang với đầu gối, chân phải hơi cong; đồng thời hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, trái cao phải hơi thấp, tay trái cao ngang với vai, cánh tay trái cùng phương hướng với chân trái; mặt hướng về chính tây; trọng lượng vẫn ở chân phải, chân phải hơi cong. (Hình 104)

Động tác ba: chân trái thẳng hạ xuống phía trước, trước tiên lấy gót chân chấm đất, đồng thời hai bàn tay hợp trước ngực; ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng biến thành thực; khi chân trái cung về phía trước thì hai bàn tay theo chân tách ra trái phải, thành thức Đơn tiên. (Hình 105)

Động tác bốn: tay trái hạ xuống qua bên cạnh hông trái hướng sang trái rồi lên trên hướng về trước hạ xuống vạch vòng, vẫn thu về bên cạnh hông (không dừng), lòng bàn tay hướng xuống; đồng thời tay phải giơ qua bên cạnh tai phải hướng về trước rồi xuống dưới ra sau vạch vòng, vẫn thu về bên cạnh tai phải (không dừng) biến thành quyền, mắt quyền hướng sang trái; cùng lúc hai bàn tay vạch vòng thì chân phải bước lên, lòng bàn chân đặt phẳng bên cạnh chân trái, ngay sau đó chân trái bước ra phía trước đặt vững, mũi chân hướng về tây; chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm phía sau chân trái, biến thành chân trái thực, chân phải hư; thân trên ngả về trước, nhân thế hơi ngồi xuống; cùng lúc thân thể ngả trước, ngồi xuống thì quyền phải từ bên cạnh tai theo trước ngực đâm đánh xuống dưới về phía trước, lòng bàn tay hướng vào trong, đặt trước hai chân, đồng thời chưởng trái từ bên cạnh hông ấn xuống, các ngón tay hướng về trước, đặt bên trái cẳng chân. (Hình 106)

Yêu cầu: khi thân thể ngả trước, ngồi xuống, đầu vẫn phải ngay thẳng, mắt nhìn về phía trước. Hai cánh tay phải hơi cong.

图 104
图 104
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử lấy gót chân phải làm trục xoay sang trái ra sau 180 độ, mũi chân trái hếch lên lấy gót chân đá ra phía trước cao ngang với đầu gối, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, trái cao phải hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 104".
图 105
图 105
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng theo chân tách ra trái phải thành thức Đơn tiên; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 105".
图 106
图 106
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử thân trên ngả về trước, hơi ngồi xuống, quyền phải từ bên cạnh tai theo trước ngực đâm đánh xuống dưới về phía trước, lòng bàn tay hướng vào trong đặt trước hai chân, chưởng trái từ bên cạnh hông ấn xuống, các ngón tay hướng về trước đặt bên trái cẳng chân; trong hình có mũi tên biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 106".
Thế thứ bốn mươi bốn — Phiên thân nhị khởi (Hình 107–108)
Thế thứ bốn mươi lăm — Phi thân (Hình 109–110)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Phiên thân nhị khởi"; động tác ba, bốn là "Phi thân".

图 107
图 107
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, hai bàn tay trước ngực lập chưởng đẩy ra phía trước từ từ, phải cao trái thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 107".
图 108甲
图 108甲
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, tay trái ngang với miệng, tay phải ngang với ngực, hai bàn tay đẩy ra phía trước từ từ; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 108 甲".
图 108乙
图 108乙
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân phải nhấc lên, lấy mũi chân phải đá ra phía trước cao ngang với đầu gối, hai bàn tay tách ra trái phải, phải cao trái hơi thấp, tay phải cao ngang với vai; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 108 乙".

Động tác một: lấy gót chân trái làm trục, thân thể lật về phía sau bên phải, mũi chân trái cũng theo theo đó xoay sang phải 135 độ, ngồi thực chân trái; đồng thời quyền phải theo lật thân nhấc lên qua trước mặt hạ xuống về phía sau bên phải, tới trước ngực biến thành lập chưởng; tay trái cũng đồng thời lập chưởng giơ tới trước ngực, hai bàn tay phải cao trái thấp; chân phải theo thân thể xoay hướng về chính đông, chân phải bước ra phía trước, trước tiên lấy gót chân chấm đất (như thế Hữu lãn trát y). Gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, chân trái hơi cong, biến thành chân phải thực, chân trái hư; hai bàn tay đẩy ra phía trước từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về chính đông. (Hình 107)

Động tác hai: mũi chân phải hơi xoay ra ngoài đặt vững, chân trái bước ra phía trước một bước lớn, trước tiên lấy gót chân chấm đất, ngay sau đó gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng biến thành thực; đồng thời hai bàn tay trước ngực, tay trái hướng lên, tay phải hướng xuống vạch cung, khi tay trái ngang với miệng, tay phải ngang với ngực thì theo chân trái cung về phía trước đẩy ra từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau). (Hình 108 甲) Tiếp đó mũi chân trái hơi xoay ra ngoài đặt vững, trọng lượng toàn thân chuyển sang chân trái, chân phải nhấc lên, lấy mũi chân phải đá ra phía trước, cao ngang với đầu gối, chân trái hơi cong; đồng thời hai bàn tay tách ra trái phải, phải cao trái hơi thấp, tay phải cao ngang với vai, cánh tay phải cùng phương hướng với chân phải, tay phải phải có ý vỗ lên mu bàn chân phải; mặt hướng về chính đông. (Hình 108 乙) Động tác ba: chân phải hạ xuống, chân phải đi qua sau gót chân trái hạ phẳng xuống phía sau bên trái gót chân trái, hai chân là hữu thực tả hư; đồng thời hai bàn tay thu về trước ngực, tay phải ngang với miệng, tay trái ngang với ngực. (Hình 109 甲) Tiếp đó chân trái lùi ra sau một bước, mũi chân chéo hướng về phía chéo trước bên trái, chân trái hơi cong, vẫn là tả hư hữu thực; đồng thời hai bàn tay theo bước lùi dời ra sau. Trọng lượng dời ra sau, ngồi thực chân trái, mũi chân phải hếch lên, biến thành tả thực hữu hư; đồng thời hai bàn tay theo đó từ phía trước xuống dưới, vạch cung thu về trước ngực. Ngay sau đó gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, vẫn biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời hai bàn tay từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay phải ngang với mắt, tay trái ngang với ngực; mặt hướng về chính đông. (Hình 109 乙)

图 109甲
图 109甲
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử chân phải đi qua sau gót chân trái hạ phẳng xuống phía sau bên trái gót chân trái, hai bàn tay thu về trước ngực, tay phải ngang với miệng tay trái ngang với ngực, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 109 甲".
图 109乙
图 109乙
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, lòng bàn chân phải đặt phẳng, hai bàn tay từ từ đẩy ra phía trước, tay phải ngang với mắt tay trái ngang với ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 109 乙".
图 110
图 110
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực nắm quyền, hai lòng bàn tay trên dưới đối nhau hai cánh tay thành nửa vòng tròn, chân phải thu về lấy mũi chân chấm trước chân trái, thân thể dời ra sau, biến thành chân trái thực chân phải hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 110".

Động tác bốn: chân phải thu về, lấy mũi chân chấm trước chân trái, thân thể dời ra sau, biến thành chân trái thực, chân phải hư; hai bàn tay theo thân thể dời ra sau nắm thành quyền, quyền trái đặt trước bụng, quyền phải ngang với ngực, hai lòng bàn tay trên dưới đối nhau, hai cánh tay đều thành nửa vòng tròn; mặt hướng về chính đông. (Hình 110)

Thế thứ bốn mươi sáu — Thoái bộ thích cước (Hình 111–112)
Thế thứ bốn mươi bảy — Chuyển thân đặng cước (Hình 113–114)
图 111
图 111
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân phải lùi về sau chân trái đặt vững, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải, chân trái thu về lấy mũi chân chấm trước chân phải, hai quyền trước ngực trên dưới đối nhau, hai cánh tay thành nửa vòng tròn; trong hình có mũi tên biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 111".
图 112
图 112
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân phải hơi cong, chân trái nhấc lên lấy mũi chân đá ra phía trước cao ngang với đầu gối, hai quyền biến thành lập chưởng tách ra trái phải, trái cao phải hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 112".
Thế thứ bốn mươi tám — Thượng bộ bàn lãm chùy (Hình 115)

Ba thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Thoái bộ thích cước"; động tác ba là "Chuyển thân đặng cước"; động tác bốn là "Thượng bộ bàn lãm chùy".

Động tác một: chân phải lùi về sau chân trái đặt vững, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải, trọng lượng dời ra sau, chân trái thu về, lấy mũi chân chấm trước chân phải, biến thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời hai quyền theo thân thể dời ra sau, trái lên trên phải xuống dưới vạch cung, quyền trái ngang với ngực, quyền phải đặt trước bụng, hai lòng bàn tay trên dưới đối nhau, hai cánh tay đều thành nửa vòng tròn; mặt hướng về chính đông. (Hình 111)

Động tác hai: trọng lượng toàn thân chuyển sang chân phải, chân phải hơi cong, chân trái nhấc lên, lấy mũi chân đá ra phía trước, cao ngang với đầu gối; đồng thời hai quyền biến thành lập chưởng tách ra trái phải, trái cao phải hơi thấp, tay trái cao ngang với vai, cánh tay trái cùng phương hướng với chân trái; mặt hướng về chính đông. (Hình 112)

Động tác ba: chân trái không động, cẳng chân buông xuống, mũi chân hướng xuống, lấy gót chân phải làm trục, thân thể cùng mũi chân phải xoay sang phải ra sau khoảng 270 độ, ngay sau đó chân trái hạ phẳng đặt vững về phía bắc (hơi lệch về đông), chân phải hơi cong biến thành hư; trước khi xoay, hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực ở phía trên chân trái theo thân thể xoay chuyển, khi chân trái tiếp đất, lòng bàn tay trái phải hướng xuống, hai bàn tay có ý ấn xuống, các ngón tay hướng về trước, hai cánh tay hơi cong; mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 113) Tiếp đó trọng lượng toàn thân chuyển sang chân trái, hai bàn tay cùng chân phải nhấc lên, mũi chân phải hếch lên, lấy gót chân đá ra phía trước, cao ngang với đầu gối, hai chân hơi cong; đồng thời hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, phải cao trái hơi thấp, tay phải cao ngang với vai, cánh tay phải cùng phương hướng với chân phải; mặt hướng về chính đông. (Hình 114)

图 113
图 113
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử lấy gót chân phải làm trục xoay sang phải ra sau 270 độ, hai bàn tay lập chưởng thu về trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống, chân trái hạ phẳng đặt vững về phía bắc; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 113".
图 114
图 114
Hình vẽ nét (giữa bên phải trang): nam tử chân trái hơi cong, mũi chân phải hếch lên lấy gót chân đá ra phía trước cao ngang với đầu gối, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, phải cao trái hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 114".
图 115
图 115
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử thân thể hơi ngả về trước, hai bàn tay trước ngực lập chưởng đối nhau, chân phải ở phía trước, mũi chân trái chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 115".
图 116
图 116
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử tay trái lập chưởng giơ ra phía trước lên trên, lòng bàn tay hướng sang phải, tay phải nắm quyền đặt bên cạnh hông phải, chân phải cung về phía trước; trong hình có đường dẫn và mũi tên từ tay trái hướng lên biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 116".

Động tác bốn: chân phải hạ xuống phía trước, chân phải đặt vững bên cạnh gót chân trái, chân trái bước lên phía trước, chân trái ngay sau đó cung về phía trước biến thành thực, chân phải theo đó bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, vẫn biến thành chân trái thực, chân phải hư; khi chân phải bước lên thì tay trái hướng lên trên về trước vạch cung hạ xuống tới trước ngực, tay phải hạ xuống bên cạnh hông phải nắm thành quyền; khi chân phải bước theo thì quyền phải men theo mu bàn tay trái đánh ra phía trước từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau), mắt quyền hướng lên, cao ngang với tim; mặt hướng về chính đông. (Hình 115)

图 117
图 117
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử tay phải lập chưởng giơ ra phía trước lên trên, tay trái ở trước ngực, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 117".
Thế thứ bốn mươi chín — Như phong tự bế (Hình 116–119)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ mười hai "Như phong tự bế". (Hình 116–119)

Thế thứ năm mươi — Bão hổ thôi sơn (Hình 120–123)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ mười ba "Bão hổ thôi sơn". (Hình 120–123)

图 118
图 118
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đẩy ra song song phía trước, cao ngang với ngực; trong hình có mũi tên hướng về trước biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 118".
图 119
图 119
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, hai lòng bàn tay hướng về trước, thân thể dời ra sau, mũi chân trái chấm trước chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 119".
图 120
图 120
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 120".
Thế thứ năm mươi mốt — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 124–125)
Thế thứ năm mươi hai — Hữu lãn trát y (Hình 126–127)
图 121
图 121
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể ngả về trước; trong hình có mũi tên hình cung hướng sang trái biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 121".
图 122
图 122
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay phải ở trước trán, tay trái ở trước bụng nắm quyền như thế ôm hổ, chân phải cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch vòng của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 122".
图 123
图 123
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 123".
图 124
图 124
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể dời ra sau, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 124".
图 125
图 125
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử tay trái lập chưởng trước ngực, tay phải ở trước bụng, chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 125".
图 126
图 126
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải ở phía trước, tay trái ở phía sau; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch vòng của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 126".

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác ba, bốn là "Hữu lãn trát y".

Động tác một, hai giống với động tác một, hai của thế thứ mười bốn "Thủ huy tỳ bà thế"

图 127
图 127
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân phải ở phía trước, thân thể hướng về phía tây bắc. Bên cạnh ghi chú "Hình 127".
图 128
图 128
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 128".

giống nhau, chỉ khác phương hướng, thức này mặt hướng về phía tây bắc. (Hình 124–125)

Động tác ba, bốn giống với động tác ba, bốn của thế thứ ba "Hữu lãn trát y", chỉ khác phương hướng, thức này mặt hướng về phía tây bắc. (Hình 126–127)

Thế thứ năm mươi ba — Tà đơn tiên (Hình 128–130)
Thế thứ năm mươi bốn — Hạ thế (Hình 131)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai, ba là "Tà đơn tiên"; động tác bốn là "Hạ thế".

Động tác một, hai, ba giống với động tác một, hai, ba của thế thứ tư "Đơn tiên", chỉ khác phương hướng và góc độ, thức này mặt hướng về chính nam, ngực hướng về nam hơi lệch về tây. (Hình 128–130)

图 129
图 129
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, thân thể hướng về chính nam, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 129".
图 130
图 130
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể hướng về chính nam; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 130".
图 131
图 131
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 131".

Động tác bốn giống với động tác bốn của thế thứ ba mươi hai "Hạ thế", chỉ khác phương hướng và góc độ. (Hình 131)

图 132
图 132
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử tay trái giơ tới trước trán ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay phải vạch cung hạ xuống móc lên sang trái tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, chân phải bước theo tới trước lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, hai chân tả thực hữu hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 132".
Thế thứ năm mươi lăm — Dã mã phân tông (Hình 132–135)

Động tác một: chân trái bước lên theo hướng chéo tây nam; đồng thời tay trái từ trước bụng vạch cung lên trên sang phải, giơ tới trước trán, ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay phải vạch cung hạ xuống móc lên sang trái tới trước bụng, các ngón tay hướng lên; cùng lúc hai bàn tay vạch cung thì chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, hai chân biến thành tả thực hữu hư; mặt hướng về phía tây nam. (Hình 132)

Động tác hai: chân phải bước lên theo hướng chéo tây bắc, thân thể xoay sang phải; đồng thời tay phải từ trước bụng vạch cung lên trên sang trái, giơ tới trước trán, ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái vạch cung hạ xuống móc lên sang phải tới trước bụng, các ngón tay hướng lên; cùng lúc hai bàn tay vạch cung thì chân trái bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân phải, hai chân biến thành hữu thực tả hư; mặt hướng về phía tây bắc. (Hình 133)

Động tác ba: giống với phần giải thích động tác một của thức này, chỉ khác sau khi chân trái bước lên thì thân thể hơi xoay sang trái. (Hình 134)

Động tác bốn: chân phải bước lên theo hướng chính tây; đồng thời tay trái vạch cung hạ xuống, tay phải từ trước bụng giơ lên, hai bàn tay biến thành lập chưởng, như thế Hữu lãn trát y. Ngay sau đó hai bàn tay đẩy ra phía trước từ từ, tay trái ở trong cao ngang với ngực, tay phải ở ngoài cao ngang với mắt; chân trái cũng theo đó bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm phía sau gót chân phải, hai chân biến thành hữu thực tả hư; mặt hướng về chính tây. (Hình 135)

Thế thứ năm mươi sáu — Đơn tiên (Hình 135–139)

Động tác một: mũi chân trái dời ra sau sang trái chấm đất, lấy gót chân phải làm trục, thân thể cùng mũi chân phải xoay sang trái 135 độ, mặt hướng về phía đông nam, vẫn là chân phải thực, chân trái hư; đồng thời tay trái hướng xuống dưới, sang trái, lên trên vạch vòng, hợp cùng tay phải trước ngực, hai bàn tay vẫn là lập chưởng, cao ngang với miệng. (Hình 136)

Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thế thứ tư "Đơn tiên". (Hình 137–138)

图 133
图 133
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay phải giơ tới trước trán ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay trái vạch cung hạ xuống móc lên sang phải tới trước bụng, các ngón tay hướng lên, chân trái bước theo tới trước lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân phải, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 133".
图 134
图 134
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay trái giơ tới trước trán ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay phải ở trước bụng, thân thể hơi xoay sang trái; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 134".
图 135
图 135
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đẩy ra phía trước từ từ, tay trái ở trong cao ngang với ngực tay phải ở ngoài cao ngang với mắt, chân trái bước theo lấy mũi chân chấm phía sau gót chân phải, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 135".
图 136
图 136
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử mũi chân phải xoay sang trái 135 độ, mặt hướng về phía đông nam, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, cao ngang với miệng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất, hai chân hữu thực tả hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 136".
图 137
图 137
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 137".
图 138
图 138
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử chân phải cung về phía trước, tay phải co khuỷu ở trước trán, tay trái lập chưởng trước ngực; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 138".
图 139
图 139
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử mũi chân trái khấu vào trong khoảng 90 độ, ngồi thực chân trái, thân thể xoay sang phải, gót chân phải chấm đất, mũi chân hếch lên theo thân thể xoay hướng, tay trái giơ lên cao ngang với đầu, lòng bàn tay hướng lên, tay phải lập chưởng hạ xuống trước ngực; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 139".
图 140
图 140
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử tay trái qua trước mặt vạch lên đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải, tay phải từ từ đẩy ra trước ngực, chân phải cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 140".

Động tác bốn: mũi chân trái khấu vào trong khoảng 90 độ, ngồi thực chân trái, thân thể theo đó xoay sang phải; gót chân phải chấm đất, mũi chân hếch lên theo thân thể xoay hướng, chân phải hơi cong, vẫn là chân trái thực, chân phải hư; đồng thời tay trái giơ lên, cao ngang với đầu, lòng bàn tay hướng lên; tay phải lập chưởng hạ xuống trước ngực; mặt hướng về chính tây. (Hình 139)

Thế thứ năm mươi bảy — Ngọc nữ xuyên thoa (Hình 140–143)

Động tác một: chân phải cung về phía trước, trọng lượng chuyển sang chân phải, chân trái ngay sau đó bước lên theo hướng chéo tây nam, chân phải lập tức bước theo về trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, biến thành chân trái thực, chân phải hư; đồng thời tay trái hạ xuống hướng về trước lên trên vạch vòng, qua trước mặt vạch lên đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải; tay phải hơi giơ lên, theo thân thể dời về trước, khi chân phải bước theo thì từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về phía tây nam. (Hình 140)

图 141
图 141
Hình vẽ nét (bên trái trang, khoảng giữa dưới): nam tử tay phải lập chưởng trước ngực, tay trái ở phía trên trước trán, chân phải đi qua sau chân trái dời tới bên trái gót chân trái lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 141".

Động tác hai: chân phải nhấc lên, đi qua sau chân trái dời tới bên trái gót chân trái, lấy mũi chân chấm đất, lấy gót chân trái làm trục, thân thể cùng mũi chân trái đồng thời xoay cong ra phía sau bên phải, ngay sau đó chân phải bước lên theo hướng chéo đông nam đặt vững, chân trái bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân phải, biến thành chân phải thực, chân trái hư; cùng lúc thân thể xoay chuyển bước lên thì tay trái hướng xuống dưới, tay phải hướng lên trên vạch cung, tay phải qua trước mặt vạch lên, đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang trái, tay trái hạ xuống tới trước ngực, theo thân thể dời về trước, chân trái bước theo thì từ từ đẩy sơn ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về phía đông nam. (Hình 141)

Động tác ba: chân trái bước lên theo hướng chéo đông bắc đặt vững, chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay trái hướng lên trên vạch cung, qua trước mặt vạch lên, đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải, tay phải hạ xuống tới trước ngực, theo thân thể dời về trước, chân phải bước theo thì từ từ đẩy ra phía trước (thân trên không được ngả trước ngả sau); mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 142)

Động tác bốn giống với động tác hai của thức này, chỉ khác phương hướng và góc độ, thức này chân phải là bước lên theo hướng chéo tây bắc. (Hình 143)

图 142
图 142
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay trái vạch cung lên trên đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải, tay phải hạ xuống tới trước ngực đẩy ra từ từ, chân phải bước lên theo hướng chéo đông bắc; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 142".
图 143
图 143
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay phải đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang trái, tay trái ở trước ngực, thân thể bước lên theo hướng chéo tây bắc; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 143".
图 144
图 144
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể dời ra sau, chân phải thu về trước chân trái lấy mũi chân chấm đất, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 144".
Thế thứ năm mươi tám — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 144–145)
Thế thứ năm mươi chín — Hữu lãn trát y (Hình 146–147)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai là "Thủ huy tỳ bà thế"; động tác ba, bốn là "Hữu lãn trát y".

Động tác một, hai giống với động tác một, hai của thế thứ mười bốn "Thủ huy tỳ bà thế". (Hình 144–145)

Động tác ba, bốn giống với động tác ba, bốn của thế thứ mười lăm "Hữu lãn trát y". (Hình 146–147)

图 145
图 145
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử tay phải giơ phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng ra ngoài, tay trái hạ xuống tới trước ngực, chân phải bước ra phía trước lấy mũi chân chấm bên cạnh chân trái; trong hình có mũi tên hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 145".
图 146
图 146
Hình vẽ nét (giữa trang, khoảng giữa): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng vạch vòng, phải cao trái hơi thấp, tay phải cao ngang với chân mày; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch vòng của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 146".
图 147
图 147
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể hơi xoay sang trái. Bên cạnh ghi chú "Hình 147".
Thế thứ sáu mươi — Đơn tiên (Hình 148–150)
Thế thứ sáu mươi mốt — Hạ thế (Hình 151)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai, ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Hạ thế".

Động tác một giống với động tác một của thế thứ mười sáu "Đơn tiên". (Hình 148)

Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thế thứ tư "Đơn tiên". (Hình 149–150)

Động tác bốn giống với động tác bốn của tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi mốt "Đơn tiên" và thế thứ ba mươi hai "Hạ thế". (Hình 151)

图 148
图 148
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 148".
图 149
图 149
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đối nhau, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 149".
图 150
图 150
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải hơi cao, chân trái cung về phía trước; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 150".
Thế thứ sáu mươi hai — Nhân thủ (Hình 152–155)
图 151
图 151
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 151".
图 152
图 152
Hình vẽ nét (giữa trang, khoảng giữa): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, hai bàn tay trên dưới đối nhau; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 152".
图 153
图 153
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 153".

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ ba mươi ba "Nhân thủ". (Hình 152–155)

Thế thứ sáu mươi ba — Đơn tiên (Hình 155)
Thế thứ sáu mươi bốn — Hạ thế (Hình 157)
图 154
图 154
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 154".
图 155
图 155
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu ở trước trán, chân phải cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 155".
图 156
图 156
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng theo chân tách ra trái phải thành thức Đơn tiên; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 156".
Thế thứ sáu mươi lăm — Canh kê độc lập (Hình 158–159)
图 157
图 157
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 157".
图 158
图 158
Hình vẽ nét (giữa trang, khoảng giữa): nam tử chân phải nhấc lên, co gối đùi ngang, cẳng chân buông xuống mũi chân hướng xuống thành bộ độc lập, tay phải nắm quyền giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng vào trong cẳng tay thẳng đứng, tay trái ấn xuống bên cạnh hông trái ngang với đùi phải; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 158".
图 159
图 159
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử chân trái nhấc lên, co gối đùi ngang, cẳng chân buông xuống mũi chân hướng xuống thành bộ độc lập, tay trái nắm quyền giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng vào trong cẳng tay thẳng đứng, tay phải ấn xuống bên cạnh hông phải ngang với đùi trái; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 159".

Ba thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Đơn tiên"; động tác hai là "Hạ thế"; động tác ba, bốn là "Canh kê độc lập".

Động tác một giống với động tác một của thế thứ ba mươi bốn "Đơn tiên". (Hình 156)

Động tác hai giống với tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi mốt "Đơn tiên" và thế thứ ba mươi hai "Hạ thế"

图 160
图 160
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai quyền biến thành lập chưởng tách ra trái phải cao ngang với vai, lấy gót chân phải làm trục thân thể cùng mũi chân phải xoay sang trái 90 độ, ngồi thực chân phải, mũi chân trái chấm phía sau gót chân phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 160".

giống với động tác bốn của tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi mốt "Đơn tiên" và thế thứ ba mươi hai "Hạ thế". (Hình 157)

Động tác ba: chân trái bước lên phía trước, mũi chân hướng thẳng về chính đông đặt vững; trọng lượng cơ thể dần dần chuyển toàn bộ sang chân trái, thân thể theo đó hơi xoay sang trái; chân phải theo đó nhấc lên phía trước, co gối, đùi ngang, cẳng chân buông xuống, mũi chân hướng xuống, chân trái thành bộ độc lập; trong khi nhấc chân thì tay phải hướng sang phải hạ xuống qua bên cạnh hông phải nắm quyền giơ lên, cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng vào trong, cẳng tay thẳng đứng, ở phía trên đùi phải; tay trái đồng thời hơi giơ lên, ngay sau đó ấn xuống bên cạnh hông trái, ngang với đùi phải, các ngón tay hướng về trước, cánh tay trái hơi cong; mặt hướng về chính đông. (Hình 158)

Động tác bốn: lòng bàn chân phải hạ xuống bên cạnh chân trái đặt vững, chân trái ngay sau đó nhấc lên, co gối, đùi ngang, cẳng chân buông xuống, mũi chân hướng xuống, chân phải thành bộ độc lập; đồng thời quyền phải biến thành chưởng ấn xuống bên cạnh hông phải, ngang với đùi trái, các ngón tay hướng về trước, cánh tay phải hơi cong; tay trái đồng thời bên cạnh hông trái nắm quyền giơ lên, cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng vào trong, cẳng tay thẳng đứng, ở phía trên đùi trái. (Hình 159)

Thế thứ sáu mươi sáu — Tả đảo niển hầu (Hình 160–163)

Động tác một: chân trái hạ xuống, lấy mũi chân chấm phía sau gót chân phải; hai bàn tay biến thành lập chưởng tách ra trái phải, cao ngang với vai; lấy gót chân phải làm trục, thân thể cùng mũi chân phải xoay sang trái 90 độ, ngồi thực chân phải; theo thân thể xoay chuyển hai bàn tay đối nhau, hợp trước ngực, có ý bưng quả bóng, cao ngang với miệng. (Hình 160)

Yêu cầu tùng kiên, trầm trửu, giữa hai bàn tay và ngực cánh tay có thú vị tròn đầy linh hoạt, hai chân phải tả hư hữu thực.

图 161
图 161
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải, chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất; trong hình có mũi tên hình cung hướng sang trái biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 161".
图 162
图 162
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, tay trái lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, tay phải từ từ đẩy ra phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 162".
图 163
图 163
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 163".

Động tác hai, ba, bốn giống với động tác hai, ba, bốn giống nhau. (Hình 161–163)

Thế thứ sáu mươi bảy — Hữu đảo niển hầu (Hình 164–167)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ hai mươi "Hữu đảo niển hầu". (Hình 164–167)

图 164
图 164
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, tay phải hạ xuống tới trước bụng, tay trái giơ lên bên cạnh má bên trái, chân phải bước ra về phía góc chéo trước bên phải, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 164".
图 165
图 165
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, tay phải lùa qua đầu gối phải đặt bên cạnh chân phải, tay trái từ từ đẩy ra phía trước; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 165".
图 166
图 166
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 166".
Thế thứ sáu mươi tám — Tả đảo niển hầu (Hình 168–171)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ hai mươi mốt "Tả đảo niển hầu". (Hình 168–171)

图 167
图 167
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, tay phải ở trước ngực, tay trái ở trước bụng, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 167".
图 168
图 168
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, chân trái chấm đất ra sau; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 168".
图 169
图 169
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, tay trái giơ ra phía trước, tay phải ở trước ngực, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 169".
图 170
图 170
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, tay trái lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, tay phải ở trước ngực; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 170".
图 171
图 171
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử quay lưng về phía độc giả, hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, chân trái theo tới bên cạnh gót chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 171".
图 172
图 172
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử mặt hướng về phía độc giả, tay phải ở trước ngực, tay trái ở trước bụng, hai chân tả thực hữu hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 172".
Thế thứ sáu mươi chín — Hữu đảo niển hầu (Hình 172–175)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ hai mươi "Hữu đảo niển hầu". (Hình 172–175)

图 173
图 173
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay phải giơ phía trên trước trán, tay trái ở trước ngực, gót chân trái nhấc lên lấy mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 173".
图 174
图 174
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay phải ở trước trán, tay trái ở trước ngực, thân thể hơi xoay sang phải, chân phải bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 174".
图 175
图 175
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 175".
图 176
图 176
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử tay phải ở trước trán, tay trái ở trước bụng, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 176".
图 177
图 177
Hình vẽ nét (giữa trang, khoảng giữa): nam tử tay phải giơ phía trên trước trán, tay trái ở trước ngực, chân phải bước ra phía trước lấy gót chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 177".
图 178
图 178
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử tay phải giơ phía trên trước trán, tay trái ở trước ngực; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 178".
Thế thứ bảy mươi — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 176)
Thế thứ bảy mươi mốt — Bạch nga lượng sí (Hình 177–179)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự, phần giải thích bốn động tác giống với tiết tự hợp nhất thế thứ hai mươi ba "Thủ huy tỳ bà thế" và thế thứ hai mươi bốn "Bạch nga lượng sí". (Hình 176–179)

图 179
图 179
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng hợp lại, có ý bưng quả bóng, hai chân tả thực hữu hư; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 179".
图 180
图 180
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, tay phải ở trước ngực, thân thể hơi xoay sang trái, chân trái bước ra phía trước, mũi chân hếch lên lấy gót chân chấm đất; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 180".
图 181
图 181
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải giơ lên bên cạnh má bên phải, chân trái cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 181".
图 182
图 182
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử tay trái lùa qua đầu gối trái đặt bên cạnh chân trái, tay phải ở trước ngực, chân trái cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 182".
图 183
图 183
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 183".
图 184
图 184
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử tay phải ở trước trán, tay trái ở trước bụng, chân phải bước ra phía trước lấy gót chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 184".
Thế thứ bảy mươi hai — Lâu tất ảo bộ (Hình 180–183)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ bảy "Lâu tất ảo bộ". (Hình 180–183)

Thế thứ bảy mươi ba — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 184)
Thế thứ bảy mươi bốn — Phi thế (Hình 185)
图 185
图 185
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử thân trên ngả về trước, hai bàn tay ấn thẳng xuống dưới, các ngón tay trái hướng về trước đặt bên trái cẳng chân trái, các ngón tay phải hướng sang trái đặt trước hai chân; trong hình có mũi tên hướng lên biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 185".
Thế thứ bảy mươi lăm — Thanh long xuất thủy (Hình 186)
Thế thứ bảy mươi sáu — Phiên thân (Hình 187)

Bốn thức hợp lại thành một tiết tự, phần giải thích động tác giống với tiết tự hợp nhất thế thứ hai mươi sáu "Thủ huy tỳ bà thế", thế thứ hai mươi bảy "Phi thế", thế thứ hai mươi tám "Thanh long xuất thủy" và thế thứ hai mươi chín "Phiên thân". (Hình 184–187)

Thế thứ bảy mươi bảy — Tam dũng bối (Hình 188–191)
图 186
图 186
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử tay phải giơ phía trên trước trán, tay trái ở trước ngực, chân trái cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 186".
图 187
图 187
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử tay trái giơ phía trên trước trán, tay phải ở trước ngực, chân phải cung về phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 187".
图 188
图 188
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, thân thể hơi ngả về trước, chân phải ở phía trước; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 188".

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ ba mươi "Tam dũng bối". (Hình 188–191)

Thế thứ bảy mươi tám — Đơn tiên (Hình 192–194)
Thế thứ bảy mươi chín — Hạ thế (Hình 195)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự, phần giải thích động tác giống với tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi mốt "Đơn tiên" và thế thứ ba mươi hai "Hạ thế". (Hình 192– 195)

图 189
图 189
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 189".
图 190
图 190
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử chân phải cung về phía trước, tay phải co khuỷu ở trước trán, tay trái lập chưởng trước ngực; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 190".
图 191
图 191
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, các ngón tay hướng lên, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải. Bên cạnh ghi chú "Hình 191".
图 192
图 192
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải hơi cao, chân phải bước ra phía trước lấy gót chân chấm đất. Bên cạnh ghi chú "Hình 192".
图 193
图 193
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đẩy ra song song phía trước; trong hình có mũi tên hướng về trước biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 193".
图 194
图 194
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử chân phải cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, tay trái cao tay phải hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 194".
Thế thứ tám mươi — Nhân thủ (Hình 196–199)

Động tác một, hai, ba, bốn giống với bốn động tác của thế thứ ba mươi ba "Nhân thủ". (Hình 196–199)

图 195
图 195
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 195".
图 196
图 196
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, hai bàn tay trên dưới đối nhau; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 196".
图 197
图 197
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 197".
图 198
图 198
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, hai bàn tay trên dưới đối nhau; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 198".
图 199
图 199
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử tay trái ở trước bụng, tay phải ở trước trán, thân thể hướng về phía chéo trước bên phải; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 199".
图 200
图 200
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử chân trái cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, tay trái cao tay phải hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 200".
Thế thứ tám mươi mốt — Đơn tiên (Hình 200)
Thế thứ tám mươi hai — Đề thủ thượng thế (Hình 201–202)
Thế thứ tám mươi ba — Cao thám mã (Hình 203)

Ba thức này hợp lại thành một tiết tự, phần giải thích giống với tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi bốn "Đơn tiên", thế thứ ba mươi lăm "Đề thủ thượng thế" và thế thứ ba mươi sáu "Cao thám mã" phần giải thích động tác giống nhau. (Hình 200–203)

Thế thứ tám mươi bốn — Đối tâm chưởng (Hình 204)
Thế thứ tám mươi lăm — Chuyển thân thập tự bãi liên (Hình 205)
Thế thứ tám mươi sáu — Thượng bộ chỉ đang chùy (Hình 206)
Thế thứ tám mươi bảy — Hữu lãn trát y (Hình 207)
图 201
图 201
Hình vẽ nét (giữa trang, bên trái): nam tử tay phải giơ lên phía trên trước trán, lòng bàn tay hướng xuống, tay trái ở trước bụng nắm quyền, hai chân tả thực hữu hư. Bên cạnh ghi chú "Hình 201".
图 202
图 202
Hình vẽ nét (giữa trang, khoảng giữa): nam tử tay phải giơ ở trước trán, tay trái ở trước ngực, chân phải hơi cong; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 202".
图 203
图 203
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, chân phải ở phía trước; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng vạch cung của hai bàn tay. Bên cạnh ghi chú "Hình 203".
图 204
图 204
Hình vẽ nét (bên phải trang, khoảng giữa dưới): nam tử tay phải ở phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải, tay phải biến thành lập chưởng đẩy ra phía trước từ từ, cao ngang với ngực, chân trái cung về phía trước; trong hình có mũi tên hướng về trước biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 204".

Bốn thức hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Đối tâm chưởng"; động tác hai là "Chuyển thân thập tự bãi liên"; động tác ba là "Thượng bộ chỉ đang chùy"; động tác bốn là "Hữu lãn trát y".

图 205
图 205
Hình vẽ nét (giữa bên trái trang): nam tử lấy gót chân trái làm trục xoay thân thể sang phải ra sau, mũi chân trái xoay sang phải 135 độ đặt vững, mũi chân phải hếch lên, chân phải nhấc lên theo thân thể xoay vạch cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, các ngón tay hướng lên cao ngang với vai; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 205".

Động tác một: chân trái bước ra theo hướng chính đông, trước tiên lấy gót chân chấm đất, gót chân phải đạp, chân trái cung về phía trước, lòng bàn chân trái đặt phẳng, chân phải hơi cong, hai chân biến thành tả thực hữu hư; tay trái qua trước tay phải (lòng bàn tay lật hướng xuống) hướng lên trên qua trước mặt vạch lên (vừa vạch lòng bàn tay vừa lật hướng lên), đặt phía trên trước trán, các ngón tay hướng sang phải; khuỷu tay phải buông xuống, tay phải biến thành lập chưởng theo chân trái cung về phía trước đẩy ra từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau), tay phải cao ngang với ngực; mặt hướng về chính đông. (Hình 204)

Động tác hai: lấy gót chân trái làm trục, thân thể xoay sang phải ra sau, mũi chân trái xoay sang phải 135 độ đặt vững, trọng lượng toàn thân chuyển sang chân trái; mũi chân phải hếch lên, chân phải nhấc lên theo thân thể xoay từ trái lên trên vạch cung về phía trước, lòng bàn chân hướng về trước, cao ngang với đầu gối, hai chân hơi cong; cùng lúc thân thể xoay chuyển thì tay trái từ phía trước hạ xuống bên ngoài tay phải, trước ngực giao nhau với tay phải, thành hình chữ thập, khi chân phải nhấc lên vạch cung thì hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, các ngón tay hướng lên, cao ngang với vai; mặt hướng về chính tây. (Hình 205)

Động tác ba: lòng bàn chân phải hạ phẳng xuống bên cạnh chân trái đặt vững, chân trái bước lên phía trước, mũi chân hướng về phía chéo trước bên trái, chân trái cung về phía trước, chân phải ngay sau đó bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh chân trái, hai chân vẫn biến thành tả thực hữu hư; cùng lúc chân trái bước lên thì tay trái qua trước ngực hướng xuống dưới lùa qua đầu gối trái, đặt bên cạnh chân trái, các ngón tay hướng về trước, tay phải đồng thời hạ xuống bên cạnh hông phải nắm quyền, lòng bàn tay hướng xuống, tức thì khi chân phải bước theo thì đánh ra xuống dưới về phía trước từ từ, quyền phải cao ngang với ngực, hai cánh tay hơi cong; thân thể đồng thời hơi ngả về trước; mặt hướng về chính tây. (Hình 206)

Động tác bốn: chân phải bước lên phía trước; đồng thời quyền phải mở ra, hai bàn tay theo thân trên thẳng đứng biến thành lập chưởng, giơ tới trước ngực, tay phải cao, tay trái thấp, đẩy ra phía trước từ từ (thân trên không được ngả trước ngả sau), lòng bàn tay hơi hướng về trước, tay phải ngang với mắt, tay trái ngang với ngực; chân trái theo hai bàn tay đẩy ra phía trước thì bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm phía sau gót chân phải, hai chân biến thành hữu thực tả hư; mặt vẫn hướng về chính tây. (Hình 207)

图 206
图 206
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử thân trên ngả về trước, tay trái ở bên cạnh chân trái, tay phải nắm quyền đánh ra xuống dưới về phía trước, chân trái cung về phía trước; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 206".
图 207
图 207
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng đẩy ra phía trước từ từ, tay phải cao tay trái thấp, chân trái theo tới phía sau gót chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 207".
图 208
图 208
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải co khuỷu giơ ngang phía trước, chân trái ở phía trước; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 208".
Thế thứ tám mươi tám — Đơn tiên (Hình 208–210)
Thế thứ tám mươi chín — Hạ thế (Hình 211)

Hai thức này hợp lại thành một tiết tự: động tác một, hai, ba là "Đơn tiên"; động tác bốn là "Hạ thế".

Động tác một giống với động tác một của thế thứ năm mươi sáu "Đơn tiên". (Hình 208)

Động tác hai, ba, bốn giống với động tác hai, ba, bốn của tiết tự hợp nhất thế thứ ba mươi mốt "Đơn tiên" và thế thứ ba mươi hai "Hạ thế". (Hình 209–211)

Thế thứ chín mươi — Thượng bộ thất tinh (Hình 212)
Thế thứ chín mươi mốt — Thoái bộ khóa hổ (Hình 213)
Thế thứ chín mươi hai — Chuyển cước bãi liên (Hình 214)
Thế thứ chín mươi ba — Loan cung xạ hổ (Hình 215)
Thế thứ chín mươi bốn — Song bão chùy (Hình 216)
图 209
图 209
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, tay phải hơi cao, chân trái bước ra phía trước lấy gót chân chấm đất; trong hình có mũi tên ngang hướng sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 209".
图 210
图 210
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân phải cung về phía trước, hai bàn tay lập chưởng tách ra trái phải, tay trái cao tay phải hơi thấp; trong hình có mũi tên hình cung biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 210".
图 211
图 211
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử tay trái hạ xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng về trước, tay phải giơ lên cao ngang với đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng lên, chân trái thu về bên cạnh chân phải lấy mũi chân chấm đất; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 211".
图 212
图 212
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử hai bàn tay trước ngực giao nhau, cao ngang với miệng, các ngón tay hướng lên, mu bàn tay đối nhau, chân phải theo tới bên cạnh gót chân trái lấy mũi chân chấm đất, hai chân tả thực hữu hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 212".

Năm thức hợp lại thành một tiết tự: động tác một là "Thượng bộ thất tinh"; động tác hai là "Thoái bộ khóa hổ"; động tác ba là "Chuyển cước bãi liên" và "Loan cung xạ hổ"; động tác bốn là "Song bão chùy".

Động tác một: chân trái bước lên phía trước, mũi chân hướng thẳng về phía trước, ngồi thực chân trái; thân thể hơi xoay sang phải; chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm bên cạnh gót chân trái, hai chân biến thành tả thực hữu hư; đồng thời tay phải hướng sang phải xuống dưới qua bên cạnh hông móc lên về phía trước, cùng tay trái giơ tới trước ngực, hai bàn tay giao nhau, cao ngang với miệng, các ngón tay hướng lên, tay phải ở ngoài, mu bàn tay đối nhau; mặt hướng về chính đông. (Hình 212)

Động tác hai: chân phải lùi ra sau đặt vững, mũi chân hướng về phía chéo trước bên phải, chân trái mang về, lấy mũi chân chấm trước chân phải, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời hai bàn tay theo đó mà động, tay phải hướng lên trên sang phải, tay trái hướng xuống dưới sang trái tách ra, tay phải lập chưởng vòng ở phía trước bên phải đầu, cao ngang với đỉnh đầu, tay trái lòng bàn tay hướng xuống, các ngón tay hướng về trước đặt trước hông trái, hai cánh tay cong; mặt hướng về chính đông. (Hình 213)

图 213
图 213
Hình vẽ nét (giữa trang, bên phải): nam tử tay phải lập chưởng vòng ở phía trước bên phải đầu, cao ngang với đỉnh đầu, tay trái lòng bàn tay hướng xuống, các ngón tay hướng về trước đặt trước hông trái, mũi chân trái chấm trước chân phải, hai chân hữu thực tả hư; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 213".

Động tác ba: (chuyển cước bãi liên) chân trái nhấc lên (cao ngang với đầu gối, mũi chân hướng xuống) bày ra sang phải, nhân thế lấy lòng bàn chân phải làm trục, thân thể xoay sang phải ra sau, chân trái hướng đông bắc hạ xuống đặt vững, chân phải ngay sau đó nhấc lên, qua trước chân trái hướng lên trên sang phải bày ngang; hai bàn tay trong khi thân thể xoay vẫn như nguyên trạng, khi chân phải bày lên thì tay trái hướng lên góc trên bên phải giơ lên ngang với tay phải, ngay sau đó hai bàn tay (trái trước phải sau) từ trên xuống dưới đón vỗ lên mu bàn chân phải đang bày ra (Hình 214 là tư thế Chuyển cước bãi liên sắp vỗ chân). (Loan cung xạ hổ) Tiếp đó chân phải hạ xuống theo hướng chéo đông nam, trước tiên lấy gót chân chấm đất, ngay sau đó gót chân trái đạp, chân phải cung về phía trước, chân phải hạ phẳng đặt vững, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời hai bàn tay hướng lên trên rồi về trước xuống dưới vạch cung qua đầu gối phải thu về, qua trước bụng dưới hướng lên tới trước ngực nắm quyền, trọng lượng dời ra sau, theo chân phải lại cung về phía trước thì quyền trái hướng về phía chéo trên bên trái, quyền phải hướng về phía chéo dưới bên phải đồng thời tách ra, thành hình dáng kéo cung, quyền trái lòng bàn tay hướng về trước, cao ngang với miệng, quyền phải lòng bàn tay hướng xuống đặt trước hông phải; mặt hướng về phía đông bắc. (Hình 215)

Động tác bốn: chân trái nhấc lên, bước ra phía trước một bước lớn, trước tiên lấy gót chân chấm đất, ngay sau đó chân phải biến thành thực, chân phải bước theo tới trước, lấy mũi chân chấm phía sau gót chân trái, hai chân biến thành hữu hư tả thực; hai quyền khi chân trái bước lên thì lần lượt hạ xuống bên cạnh hông trái phải, khi chân phải bước theo thì hai quyền hơi nhấc lên, ngay sau đó hướng về trước xuống dưới đánh ra từ từ, mắt quyền đối nhau, cao ngang với bụng, hai cánh tay hơi cong; mặt hướng về chính đông. (Hình 216)

Thế thứ chín mươi lăm — Thủ huy tỳ bà thế (Hình 217)

Động tác: chân phải nhấc lên, dời tới sau chân trái, mũi chân hướng thẳng về phía nam đặt vững, chân trái thu về, lấy mũi chân trái chấm trước chân phải, hai chân biến thành hữu thực tả hư; đồng thời thân thể xoay sang phải, hai quyền nhấc lên biến thành lập chưởng, trước ngực mỗi bàn tay vòng một vòng nhỏ, thành thế Thủ huy tỳ bà, tay trái cao ngang với miệng, tay phải hạ xuống tới trước bụng; mặt hướng về phía nam hơi lệch về đông. (Hình 217)

图 214
图 214
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): nam tử chân trái nhấc lên bày ra sang phải, cao ngang với đầu gối mũi chân hướng xuống, tay trái giơ lên góc trên bên phải ngang với tay phải, lấy lòng bàn chân phải làm trục thân thể xoay sang phải ra sau; trong hình có mũi tên hình cung hướng xuống biểu thị khuynh hướng bày ra của chân trái. Bên cạnh ghi chú "Hình 214".
图 215
图 215
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): nam tử quyền trái hướng về phía chéo trên bên trái, quyền phải hướng về phía chéo dưới bên phải tách ra thành hình dáng kéo cung, chân phải cung về phía trước; trong hình có mũi tên hướng xuống sang phải biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 215".
图 216
图 216
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): nam tử thân trên ngả về trước, hai quyền hướng về trước xuống dưới đánh ra từ từ, mắt quyền đối nhau cao ngang với bụng, chân trái cung về phía trước; trong hình có mũi tên hướng xuống biểu thị khuynh hướng. Bên cạnh ghi chú "Hình 216".
Thế thứ chín mươi sáu — Thâu thế (Hình 218–219)

Động tác: chân trái bước vào bên cạnh chân phải, thân thể xoay ngay ngắn, hai bàn tay tách ra trái phải ấn xuống, đặt bên cạnh hông (Hình 218). Tiếp đó hai bàn tay buông tự nhiên, thân thể đứng thẳng, vẫn trở lại tư thế Dự bị thức. (Hình 219)

图 217
图 217
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): nam tử hai bàn tay trước ngực lập chưởng, mỗi bàn tay vòng một vòng nhỏ thành thế Thủ huy tỳ bà, tay trái cao ngang với miệng, tay phải hạ xuống tới trước bụng, mũi chân trái chấm trước chân phải; trong hình có đường cung vòng biểu thị khuynh hướng thủ thế. Bên cạnh ghi chú "Hình 217".
图 218
图 218
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): nam tử hai chân bước vào bên cạnh nhau thân thể xoay ngay ngắn, hai bàn tay tách ra trái phải ấn xuống, đặt bên cạnh hông, hai cánh tay hơi cong. Bên cạnh ghi chú "Hình 218".
图 219
图 219
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): nam tử hai chân đứng song song, hai cánh tay buông tự nhiên, thân thể đứng thẳng, hai mắt nhìn thẳng về phía trước, vẫn trở lại tư thế Dự bị thức. Bên cạnh ghi chú "Hình 219".

Đồ giải thôi thủ Vũ Thức Thái Cực Quyền Thôi thủ Thái Cực Quyền, nguyên tên là đả thủ.

Những gì Vũ Vũ Tương, Lý Diệc Dư hai người truyền lại, chỉ có một loại thôi thủ hoạt bộ. Tại sao chỉ lấy thôi thủ hoạt bộ mà không dùng định bộ? Nguyên nhân là thôi thủ hoạt bộ có thể vận dụng linh hoạt, không có tệ nạn cứng đờ, vừa có thể rèn luyện bộ pháp và thân pháp, đồng thời lại có thể luyện tập "triêm, liên, chiêm, tùy"; hơn nữa trong khi vận động, thường xuyên giữ được tư thế trung chính ổn định, trong động vẫn có thể phát kình. Luyện thuần thục rồi, có thể đạt tới cảnh giới mà người xưa nói: "hành, chỉ, tọa, ngọa" — đi, dừng, ngồi, nằm — đều là luyện quyền.

图 220
图 220
Hình vẽ nét (phía dưới bên trái trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải tay trái ấn lên cánh tay phải của đối phương, bộ pháp hai bên một trước một sau. Bên cạnh ghi chú "Hình 220".
图 221
图 221
Hình vẽ nét (phía dưới giữa trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải bước lên về phía trước, bộ pháp hai bên giao nhau. Bên cạnh ghi chú "Hình 221".
图 222
图 222
Hình vẽ nét (phía dưới bên phải trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải tay phải duỗi ra trước, tay trái ấn lên cánh tay đối phương. Bên cạnh ghi chú "Hình 222".

Bộ pháp của Vũ Thức thôi thủ là tiến bộ ba bước rưỡi, thoái bộ ba bước rưỡi: khi bước thứ nhất, bước thứ hai tiến lên, bàn chân tiến đều đạp lên phía ngoài bàn chân trước của đối phương; khi bước thứ ba tiến lên, một chân đạp vào giữa bước chân của đối phương; bước thứ tư thì chân sau dời tới bên cạnh bàn chân trước, mũi chân chấm đất hư, gọi là nửa bước. Bất luận đạp lên phía ngoài hay giữa bước chân của đối phương, đều nên hơi áp gần bàn chân trước của đối phương. Trên một đường thẳng ta tiến đối phương lùi, đối phương tiến ta lùi. Phía trên vận dụng bốn tay "bằng, lữ, tễ, án" — bưng, vuốt, chen, ấn — giống với các loại thôi thủ khác, cho nên không vẽ hình giải thích nữa, chỉ đưa ra phía sau một vài tư thế phát kình trong đó để tham khảo. (Hình 220–225)

图 223
图 223
Hình vẽ nét (phía trên bên trái trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải tay trái ấn lên cánh tay phải của đối phương, bộ pháp hai bên một trước một sau. Bên cạnh ghi chú "Hình 223".
图 224
图 224
Hình vẽ nét (phía trên giữa trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải hai tay ấn lên cánh tay đối phương, bộ pháp hai bên giao nhau. Bên cạnh ghi chú "Hình 224".
图 225
图 225
Hình vẽ nét (phía trên bên phải trang): hai nam tử dựng tay đẩy nhau, nam tử bên phải tay phải duỗi ra trước, tay trái ấn lên cánh tay đối phương, bộ pháp hai bên một trước một sau. Bên cạnh ghi chú "Hình 225".

Phụ lục — Cổ điển quyền luận

Phần 159

Trang sách 647

Thái Cực Quyền Luận

Thái Cực Quyền Luận

Vương Tông Nhạc, người Sơn Hữu

Thái Cực là do Vô Cực mà sinh, là mẹ của Âm Dương. Động thì phân, tĩnh thì hợp. Không quá không kém, theo cong mà duỗi. Người cứng ta mềm, gọi là tẩu (đi); ta thuận người nghịch, gọi là chiêm (dính). Động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm. Tuy biến hóa muôn mối, mà lý chỉ nhất quán. Từ chỗ quen chiêu thức mà dần ngộ hiểu kình, từ hiểu kình mà dần tới thần minh. Song không phải dụng công lâu dài thì không thể hoát nhiên quán thông. Hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền; không lệch không nghiêng, chợt ẩn chợt hiện; bên trái nặng thì bên trái hư, bên phải nặng thì bên phải mất. Ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu; tiến thì càng dài, lui thì càng gấp. Một chiếc lông cũng không thêm được, con ruồi con sâu cũng không đậu được; người không biết ta, ta riêng biết người. Anh hùng đi tới đâu không có địch thủ, có lẽ đều do đó mà đạt được. Môn kỹ này có rất nhiều tà môn, tuy thế có khác nhau, đại để không ngoài kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, kẻ chậm nhường kẻ nhanh; có sức đánh không sức, tay chậm nhường tay nhanh, đều là năng lực tự nhiên của tiên thiên, không liên quan đến công phu học mà có được. Xét câu "bốn lạng bạt ngàn cân", rõ ràng không phải thắng bằng sức; xem hình dáng người già cả chống đám đông, nhanh thì làm được gì? Đứng như cán cân, động như bánh xe; lệch chìm thì theo, song trọng thì trệ. Thường thấy người công phu thuần hậu mấy năm mà không thể vận hóa, đều là tự mình bị người chế, chưa ngộ được bệnh song trọng mà thôi. Muốn tránh bệnh này, phải biết âm dương; dính tức là tẩu, tẩu tức là dính; âm không rời dương, dương không rời âm; âm dương tương tế, mới là hiểu kình. Hiểu kình rồi, càng luyện càng tinh, mặc thức suy nhẫm, dần tới tòng tâm sở dục. Vốn là xả kỷ tòng nhân, nhiều người lầm mà xả cận cầu viễn. Người xưa nói "sai một ly, đi một dặm", người học không thể không phân biệt tường tận. Đó là luận.

Thập tam thế (một tên là Trường quyền, một tên là Thập tam thế)

Vương Tông Nhạc, người Sơn Hữu

Trường quyền: như sông Trường Giang biển lớn, cuồn cuộn không dứt.

Thập tam thế: bằng lữ tễ án thái liệt trửu kháo tiến thoái cố phán định. Bằng, lữ, tễ, án tức là Khảm, Ly, Chấn, Đoài bốn phương chính. Thái, liệt, trửu, kháo tức là Càn, Khôn, Cấn, Tốn bốn góc chéo. Đó là bát quái. Tiến bộ, thoái bộ, tả cố, hữu phán, trung định tức là kim mộc thủy hỏa thổ. Đó là ngũ hành. Hợp lại mà nói, gọi là thập tam thế.

Thập tam thế hành công ca quyết (chưa rõ tác giả)

Mười ba tổng thế chớ xem nhẹ, Nguồn gốc mệnh ý ở khe hở eo lưng. Chuyển biến hư thực phải lưu ý, Khí khắp thân thể chớ chút si mê. Trong tĩnh chạm động, động vẫn như tĩnh, Tùy địch biến hóa ấy mới là thần kỳ. Thế thế giữ tâm suy xét dụng ý, Được đến không hay đã phí công phu. Khắc khắc lưu tâm nơi khoảng eo lưng, Trong bụng tùng tĩnh khí bốc lên rừng rực. Vĩ lư trung chính, thần xuyên đỉnh đầu, Toàn thân nhẹ nhõm, đầu đầu treo lơ lửng. Kỹ càng lưu tâm hướng vào suy cầu, Co duỗi khai hợp nghe theo tự do. Nhập môn dẫn lộ phải do khẩu thụ, Dụng công không nghỉ, pháp tự nhiên dừng. Nếu nói thể dụng lấy gì làm chuẩn, Ý khí là vua, cốt nhục là tôi; Suy cho cùng dụng ý rốt cuộc ở đâu? Ích thọ diên niên, mùa xuân không già. Ca hỡi ca hỡi một trăm bốn mươi, Từng chữ chân thiết, nghĩa lý không nghi.

Nếu không tìm cầu theo lối này, chỉ uổng phí công phu mà than tiếc về sau!

Phần 160

Trang sách 648

Đả thủ ca Vương Tông Nhạc tu đính

Đả thủ ca Vương Tông Nhạc tu đính

Bằng, lữ, tễ, án phải nhận cho tường; Trên dưới tùy nhau, người khó tiến vào. Mặc hắn sức lớn đánh ta, Một kéo bốn lạng gạt ngàn cân. Dẫn vào rơi hụt, hợp tức xuất ra; Triêm liên niêm tùy, chớ đánh mất đỉnh.

Thân pháp Vũ Vũ Tương

Hàm hung (ngậm ngực), bạt bối (nhô lưng), khỏa đang (bọc háng), hộ truân (che sườn), đề đỉnh (nâng đỉnh đầu), điếu đang (treo háng), đằng na (chuyển động nhẹ nhàng), thiểm chiến (lóe lên mà đánh).

Đả thủ yếu ngôn Vũ Vũ Tương

Giải rằng: Lấy tâm hành khí, phải chìm ổn, mới có thể thu liễm vào xương, đó gọi là "nguồn mệnh ý ở khe hở eo lưng". Ý khí phải đổi cho linh, mới có thú vị tròn sống, đó gọi là "chuyển biến hư thực phải lưu ý". Thân đứng trung chính an nhàn, chống đỡ tám mặt; hành khí như hạt châu chín khúc, không chút nào không tới, đó gọi là "khí khắp thân thể chớ chút si mê".

Phát kình phải chìm ổn tùng tĩnh, chuyên chú một phương, đó gọi là "trong tĩnh chạm động, động vẫn như tĩnh". Vãng phục phải có gấp lớp, tiến thoái phải có chuyển hoán, đó gọi là "tùy địch biến hóa ấy mới là thần kỳ". Trong cong cầu thẳng, tích súc rồi phát, đó gọi là "thế thế giữ tâm suy xét dụng ý, khắc khắc lưu tâm nơi khoảng eo lưng". Tinh thần nâng lên được, thì không lo chậm nặng, đó gọi là "trong bụng tùng tĩnh khí bốc lên". Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền, không lệch không nghiêng, đó gọi là "vĩ lư trung chính thần xuyên đỉnh, toàn thân nhẹ nhõm đỉnh đầu treo". Lấy khí vận thân, phải thuận theo, mới có thể tiện lợi tùy tâm, đó gọi là "co duỗi khai hợp nghe theo tự do". Tâm là lệnh, khí là cờ, thần là chủ soái, thân là kẻ sai khiến, đó gọi là "ý khí là vua, cốt nhục là tôi". Giải rằng: Thân tuy động, tâm quý tĩnh, khí phải liễm, thần nên thư. Tâm là lệnh, khí là cờ, thần là chủ soái, thân là kẻ sai khiến, khắc khắc lưu ý, mới có chỗ đắc. Trước ở tâm, sau ở thân. Ở thân thì không biết tay múa, chân nhảy. Đó gọi là một hơi mà thành, bỏ mình theo người, dẫn vào rơi hụt, bốn lạng gạt ngàn cân. Phải biết một động thì không có gì không động, một tĩnh thì không có gì không tĩnh; xem động như tĩnh, xem tĩnh như động; trong cố thần, ngoài tỏ an nhàn. Phải theo người, chớ theo mình; theo người thì sống, theo mình thì trệ. Kẻ chuộng khí thì vô lực, kẻ dưỡng khí thì thuần cương. Hắn không động, mình không động; hắn hơi động, mình động trước. Lấy mình nương người, phải biết mình, mới có thể tùy chuyển tùy tiếp; lấy mình dính người, phải biết người, mới có thể không sau không trước. Tinh thần nâng lên được, thì không lo chậm nặng; niêm y theo được linh, mới thấy diệu của rơi hụt. Vãng phục phải phân âm dương, tiến thoái phải có chuyển hợp. Cơ do mình phát, lực mượn của người. Phát kình phải trên dưới tùy nhau, mới một đi không địch; lập thân phải trung chính không lệch, mới chống đỡ tám mặt. Tĩnh như núi cao, động như sông lớn. Bước như tới bờ vực, vận kình như kéo tơ, súc kình như giương cung, phát kình như buông tên. Hành khí như hạt châu chín khúc, không chút nào không tới; vận kình như thép luyện trăm lần, cứng nào không phá. Hình như cắt bắt thỏ, thần như mèo bắt chuột. Trong cong cầu thẳng, tích súc rồi phát. Thu tức là phát, liền mà không đứt. Cực mềm mại, rồi sau mới cực kiên cương; niêm y được, rồi sau mới linh hoạt. Khí dưỡng bằng ngay thẳng thì vô hại, kình súc bằng cong queo thì có dư. Dần dà vật tới thì thuận ứng, ấy cũng là biết dừng mà đắc.

Lại rằng:

Trước ở tâm, sau ở thân; bụng tùng, khí liễm vào xương, thần thư thể tĩnh, khắc khắc tồn tâm. Ghi nhớ một động thì không có gì không động, một tĩnh thì không có gì không tĩnh. Xem tĩnh như động, xem động như tĩnh. Động khiên vãng lai, khí dán vào lưng, liễm vào xương sống, phải tĩnh. Trong cố thần, ngoài tỏ an nhàn. Bước như mèo đi, vận kình như kéo tơ. Toàn thân dụng ý ở súc thần, không ở khí; ở khí thì trệ. Kẻ có khí thì vô lực, kẻ không khí thì thuần cương. Khí như bánh xe, eo như trục xe.

Lại rằng:

Hắn không động, mình không động; hắn hơi động, mình động trước. Tựa tùng mà không tùng, sắp mở mà chưa mở. Kình đứt mà ý không đứt.

Lại rằng:

Mỗi một động, chỉ tay trước gắng sức, liền đó buông lỏng. Vẫn phải xuyên suốt, không ngoài khởi thừa chuyển hợp. Đầu tiên ý động, kế đó kình động, chuyển tiếp phải một đường xâu thành. Khí nên cổ đãng, thần nên nội liễm. Chớ để có chỗ khiếm khuyết, chớ để có chỗ lồi lõm, chớ để có chỗ đứt nối. Gốc ở chân, phát ở đùi, chủ tể ở eo, hình ở ngón tay. Từ chân mà đùi mà eo, luôn phải hoàn chỉnh một khí. Tiến lên thoái về, mới đắc cơ đắc thế; có chỗ không đắc cơ thế, thân bèn tán loạn, ắt đến thiên lệch, bệnh ấy phải tìm ở eo và đùi, trên dưới trước sau trái phải đều vậy. Phàm những điều ấy đều là ý, không phải bên ngoài; có trên tức có dưới, có trước tức có sau, có trái tức có phải; như ý muốn hướng lên, tức ngụ ý xuống; nếu vật sắp bị nhấc lên mà thêm sức bẻ gãy vào, thì gốc nó tự đứt, phá hủy rất nhanh không nghi ngờ. Hư thực phải phân cho rõ: một chỗ tự có hư thực của một chỗ, chỗ chỗ đều là một hư thực ấy; toàn thân tiết tiết xuyên suốt, chớ để mảy may gián đoạn.

Phần 161

Trang sách 650

Đả thủ tán phóng

Đả thủ tán phóng

Bằng (thượng bình) · nghiệp (nhập thanh) · y (thượng thanh) · khái (nhập thanh) · hô (thượng thanh) · khanh · ha · cáp.

Ngũ tự quyết Lý Dịch Dư
Một là tâm tĩnh

Tâm không tĩnh thì không chuyên, vừa giơ tay là trước sau trái phải hoàn toàn không có định hướng, cho nên cần tâm tĩnh. Ban đầu cử động chưa thể do mình, phải lắng tâm thể nhận, theo người mà động, theo co mà duỗi, không mất không đỉnh, chớ tự co duỗi. Hắn có lực ta cũng có lực, lực ta ở trước; hắn không lực ta cũng không lực, ý ta vẫn ở trước. Phải khắc khắc lưu tâm: chạm vào đâu thì tâm phải dùng ở đó, phải tìm tin tức trong "không mất không đỉnh". Cứ thế mà làm, một năm nửa năm liền có thể thi hành nơi thân. Đây hoàn toàn là ý, không phải dùng kình; lâu dần thì người bị ta chế, ta không bị người chế.

Hai là thân linh

Thân trệ thì tiến thoái không thể tự nhiên, cho nên cần thân linh. Giơ tay không được có vẻ ngớ ngẩn. Lực của hắn vừa vướng vào da lông ta, ý ta đã vào trong xương hắn; hai tay chống đỡ, một khí xuyên suốt. Trái nặng thì trái hư, mà phải đã đi; phải nặng thì phải hư, mà trái đã đi. Khí như bánh xe, toàn thân đều phải tùy theo; có chỗ không tùy theo, thân bèn tán loạn, liền không đắc lực, bệnh ấy tìm ở eo và đùi. Trước lấy tâm sai khiến thân, theo người không theo mình. Sau thân có thể theo tâm, do mình vẫn là theo người. Do mình thì trệ, theo người thì sống. Theo được người thì trong tay có phân tấc. Cân kình của hắn lớn nhỏ, không sai phân ly; lường cái tới của hắn dài ngắn, không lệch mảy tóc. Tiến tới thoái lui, chỗ chỗ vừa khéo, công càng lâu thì kỹ càng tinh.

Ba là khí liễm

Khí thế tán mạn, liền không hàm súc, thân dễ tán loạn, phải khiến khí liễm vào xương sống. Hô hấp thông linh, toàn thân không kẽ hở. Hít là hợp là súc, thở là khai là phát, vì hít thì tự nhiên nâng lên được, cũng nâng được người lên; thở thì tự nhiên chìm xuống được, cũng buông được người ra. Đây là lấy ý vận khí, không phải lấy lực sai khiến khí.

Bốn là kình chỉnh

Kình của một thân, luyện thành một nhà, phân rõ hư thực. Phát kình phải có căn nguyên: kình khởi từ gót chân, chủ ở eo lưng, hình ở ngón tay, phát ở lưng sống; lại phải nâng lên toàn bộ tinh thần. Vào lúc kình của hắn sắp ra mà chưa phát, kình ta đã tiếp nhập kình hắn, vừa khéo không sau không trước, như da bắt lửa, như suối trào ra. Tiến tới thoái lui, không chút tán loạn; trong cong cầu thẳng, tích súc rồi phát, mới có thể tùy tay tấu hiệu. Đó gọi là "mượn lực đánh người, bốn lạng gạt ngàn cân".

Năm là thần tụ

Bốn điều trên đã đủ, đều quy về thần tụ. Thần tụ thì một khí cổ chú, luyện khí quy thần, khí thế đằng na. Tinh thần quán chú, khai hợp có trật tự, hư thực rõ ràng. Trái hư thì phải thực, phải hư thì trái thực. Hư không phải hoàn toàn vô lực, khí thế phải có đằng na; thực không phải hoàn toàn chiếm sát, tinh thần phải quý quán chú. Điều cốt yếu hoàn toàn ở chỗ vận hóa trong ngực và eo, không ở bên ngoài. Lực mượn của người, khí phát từ lưng sống. Sao khí lại phát được từ lưng sống? Khí chìm xuống dưới, từ hai vai thu vào xương sống, chú vào eo lưng — đây là khí từ trên xuống dưới, gọi là hợp. Từ eo hình ở xương sống, bố ra hai cánh tay, thi hành ở ngón tay — đây là khí từ dưới lên trên, gọi là khai. Hợp tức là thu, khai tức là phát. Hiểu được khai hợp thì biết âm dương. Đến địa vị ấy, công dụng một ngày thì kỹ tinh một ngày, dần đến tùy tâm sở dục, không gì không như ý.

Phần 162

Trang sách 652

Tán phóng mật quyết Lý Dịch Dư

Tán phóng mật quyết Lý Dịch Dư

Kình dẫn tùng phóng

Nâng thân hắn lên, mượn lực hắn. Trong đó có chữ "linh". Dẫn đến trước thân, kình mới bắt đầu súc. Trong đó có chữ "liễm". Buông lỏng kình ta, chớ để cong. Trong đó có chữ "tĩnh". Khi phóng, eo và chân nhận cho đúng đích. Trong đó có chữ "chỉnh".

Tẩu giá đả thủ hành công yếu ngôn Lý Dịch Dư

Người xưa nói: "Có thể dẫn tiến lạc không, có thể bốn lạng gạt ngàn cân; không thể dẫn tiến lạc không, không thể bốn lạng gạt ngàn cân." Lời rất bao quát, người mới học không sao lĩnh ngộ; ta thêm mấy lời để giải, khiến kẻ có chí với thuật này được chỗ nhập môn, ngõ hầu ngày ngày tiến bộ có công. Muốn dẫn tiến lạc không, bốn lạng gạt ngàn cân, trước phải tri kỷ tri bỉ. Muốn tri kỷ tri bỉ, trước phải xả mình theo người. Muốn bỏ mình theo người, trước phải đắc cơ đắc thế. Muốn đắc cơ đắc thế, trước phải toàn thân một nhà. Muốn toàn thân một nhà, trước phải toàn thân không có khiếm khuyết. Muốn toàn thân không có khiếm khuyết, trước phải thần khí cổ đãng. Muốn thần khí cổ đãng, trước phải nâng lên tinh thần, thần không thể tán ra ngoài. Muốn thần không tán ra ngoài, trước phải thần khí thu liễm vào xương. Muốn thần khí thu liễm vào xương, trước phải hai đùi phần trước có lực. Hai vai buông lỏng, khí chìm xuống dưới, kình khởi từ gót chân, biến đổi ở đùi, hàm súc ở ngực, vận động ở hai vai, chủ tể ở eo. Trên thì hai cánh tay liên hệ, dưới thì hai đùi tùy theo. Kình do trong mà đổi: thu tức là hợp, phóng tức là khai. Tĩnh thì đều tĩnh; tĩnh là hợp, trong hợp ngụ khai. Động thì đều động; động là khai, trong khai ngụ hợp. Chạm vào thì xoay chuyển tự nhiên, không đâu không đắc lực. Mới có thể dẫn tiến lạc không, bốn lạng gạt ngàn cân. Ngày thường tẩu giá là công phu tri kỷ: mỗi một động thế, trước hỏi mình toàn thân có hợp với mấy điều ấy không; hơi không hợp liền đổi ngay — cho nên tẩu giá phải chậm chứ không phải nhanh. Đả thủ là công phu tri nhân; động tĩnh cố nhiên là tri nhân, nhưng vẫn là hỏi mình. Mình sắp đặt cho khéo, thì người vừa chạm ta, ta không động đến hắn mảy may, thừa thế mà vào, tiếp định kình hắn, hắn tự ngã ra. Nếu mình có chỗ không đắc lực, ấy là song trọng chưa hóa, phải tìm trong khai hợp âm dương. Đó gọi là "tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng".

Chú: Những cổ điển quyền luận trên đây, căn cứ vào bản định bản 《Thái Cực Quyền Phổ》 mà Lý Dịch Dư sao tặng Hác Vi Chân năm 1881, chọn yếu lục ra, văn tự chưa bị người sau sửa đổi.

Phần 163

Trang sách 653

Tứ tự mật quyết (chưa rõ tác giả)

Tứ tự mật quyết (chưa rõ tác giả)

Phu (phu): Phu là vận khí nơi thân mình, trải bố lên trên kình của hắn, khiến hắn không thể động.

Cái (cái): Cái là lấy khí che chỗ hắn tới.

Đối (đối): Đối là lấy khí đối với chỗ hắn tới, nhận định chuẩn đầu rồi mà đi.

Thôn (thôn): Thôn là lấy khí nuốt trọn mà vào chỗ hóa.

Bốn chữ này vô hình vô thanh, không phải sau khi đổng kình, luyện đến chỗ cực tinh mới biết được, hoàn toàn lấy khí mà nói. Nếu có thể dưỡng khí bằng ngay thẳng mà vô hại, mới có thể thi hành nơi tứ chi, tứ chi không nói mà hiểu.

Khảo thích: Cháu nội của Lý Dịch Dư là Lý Phúc Ấm, năm 1935 biên soạn bản Liêm Nhượng Đường Thái Cực Quyền Phổ, lấy 《Tứ Tự Mật Quyết》 làm tác phẩm của Vũ Vũ Tương, căn cứ vào 《Tiên Vương Phụ Liêm Tuyền Phủ Quân Hành Lược》 do cháu nội Vũ Vũ Tương là Vũ Lai Tự soạn. Lai Tự nói về ông nội mình rằng "thụ thuật tâm đắc, khái do tứ tự quyết", Phúc Ấm bèn lấy 《Tứ Tự Mật Quyết》 làm tác phẩm của Vũ Tương. Xét quyết này quyền lý cao diệu, cảnh giới ở trên 《Tán Phóng Mật Quyết》 của Dịch Dư; 《Thái Cực Quyền Phổ》 mà Lý Dịch Dư viết cho Hác Hòa năm 1881 có đủ các quyền luận của Vũ Tương; Vũ Tương mất năm 1880; Vũ và Lý nghĩa thuộc thầy trò, cùng ở một làng — quyết này nếu là tác phẩm của Vũ Tương, quyết không có lý nào không thu vào; cho nên quyết này hẳn không phải tác phẩm của Vũ Tương, hoặc là do đệ tử của Vũ hay Lý làm ra. Dịch Dư mất năm 1892, cũng có khả năng ông viết quyết này. Đặc biệt nêu ra đây, để chờ khảo tiếp.

(Phụ chú của Cố Lưu Hinh)

Phần 164

Trang sách 655

Lời Tựa

Lời Tựa

Dưới sự dẫn dắt của phương châm "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" của Đảng, người biên soạn căn cứ vào di trước của tiên phụ Tôn Lộc Đường tiên sinh là bộ 《Thái Cực Quyền Học》, đồng thời theo cách luyện tập những năm cuối đời của tiên phụ, đã chỉnh lý nên bộ 《Tôn Thức Thái Cực Quyền》, xuất bản năm 1957. Nhằm thích ứng nhu cầu rèn luyện của đông đảo quần chúng, người biên soạn đã tiến hành tu đính đối với bản in năm 1957. Phần thuyết minh động tác được sửa chữa và bổ sung, ảnh động tác được chụp lại, thêm vào cách dùng của một số động tác chủ yếu, cơ bản giữ nguyên kết cấu vốn có. Người biên soạn tuy từ nhỏ đã được tiên phụ đích thân truyền dạy, nhưng tự thẹn công phu chưa được sâu dày tinh thuần; ấy vậy mà vì thuận tiện cho những ai ưa thích Tôn Thức Thái Cực Quyền luyện tập, nên đã gắng sức làm nên.

Bởi trình độ còn hạn hẹp, sách khó tránh khỏi những chỗ chưa thỏa đáng, tha thiết mong bạn đọc chỉ giáo.

— Người biên soạn

Ghi chú: số trang in là 前言 (Lời Tựa); trang scan là 4.

Phần 165

Trang sách 656

Mục Lục

Mục Lục

Giới thiệu vắn tắt về Tôn Thức Thái Cực Quyền ················· 1

Tổng thuyết Thái Cực Quyền ··································· 2

THƯỢNG BIÊN (上编) ········································· 5

Nhất, Tên gọi động tác ······································ 5

Nhị, Thuyết minh động tác ··································· 6

Tam, Đồ thị chỉ phương hướng và lộ tuyến động tác Tôn Thức Thái Cực Quyền HẠ BIÊN (下编) ············································· 51 Nhất, Phương pháp thôi thủ Thái Cực Quyền ·················· 51 Nhị, Kỹ kích Thái Cực Quyền ································· 55 Phụ: Tư liệu tham khảo ···································· 57 Nhất, Vương Tông Nhạc: Thái Cực Quyền Luận ·················· 57 Nhị, Vũ Vũ Tương: Thái Cực Quyền Luận ······················· 58 Tam, Thập Tam Thế Hành Công Tâm Giải ························ 58 Tứ, Thập Tam Thế Ca Quyết ··································· 59 Ngũ, Thôi Thủ Ca Quyết ······································ 59 Lục, Lý Diệc Dư: Ngũ Tự Quyết ······························· 60 Thất, Tán Phóng Mật Quyết ··································· 61 Bát, Tẩu Giá Đả Thủ Hành Công Yếu Ngôn ······················ 61 Ghi chú: đây là mục lục in trong sách; trang scan là 5.

Phần 166

Trang sách 657

Giới thiệu vắn tắt về Tôn Thức Thái Cực Quyền

Giới thiệu vắn tắt về Tôn Thức Thái Cực Quyền

Người sáng lập Tôn Thức Thái Cực Quyền là Tôn Phúc Toàn (孙福全, Tôn Phúc Toàn), tự Lộc Đường (禄堂, Lộc Đường), hiệu muộn là Hàm Trai (涵斋, Hàm Trai), người huyện Hoàn, Hà Bắc. Từ nhỏ ông đã hết lòng yêu thích võ thuật. Ông theo thầy Lý Khôi Viên (李魁垣, Lý Khôi Viên) học Hình Ý Quyền (形意拳, Hình Ý Quyền), sau đó học nơi thầy của Lý là Quách Vân Thâm (郭云深, Quách Vân Thâm), được tiên sinh Quách truyền chân truyền, lại theo thầy Trình Đình Hoa (程廷华, Trình Đình Hoa) học Bát Quái Quyền (八卦拳, Bát Quái Quyền). Trải qua mấy năm nghiền ngẫm mài giũa, công phu sâu dày. Về sau ông lại theo thầy Hác Vi Chân (郝为真, Hác Vi Chân) học Thái Cực Quyền. Tôn Lộc Đường (孙禄堂, Tôn Lộc Đường) suốt đời nghiên cứu võ thuật, tinh thông Hình Ý, Bát Quái và thuật Thái Cực Quyền, đồng thời gom tinh nghĩa của ba nhà quyền thuật lại, hòa lẫn thành một mà sáng lập nên Tôn Thức Thái Cực Quyền.

Đặc điểm của Tôn Thức Thái Cực Quyền là: tiến thoái tương tùy, bước tới ắt phải theo, bước lui ắt phải rút. Động tác thư triển viên hoạt, nhanh nhẹn tự nhiên. Khi luyện, hai chân hư thực (虚实) phân minh. Toàn bài khi luyện lên như mây trôi nước chảy, liên miên bất đoạn. Mỗi khi xoay mình thì lấy "khai", "hợp" tiếp nhau, cho nên còn gọi là Khai Hợp Hoạt Bộ Thái Cực Quyền (开合活步太极拳, Khai Hợp Hoạt Bộ Thái Cực Quyền). Thích hợp cho người ở mọi lứa tuổi, mọi thể chất luyện tập.

Phần 167

Trang sách 658

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền

Thái Cực Quyền là một trong những môn võ thuật đặc hữu của nước ta, là một môn vận động "nội ngoại kiêm tu" (bên trong chủ yếu tĩnh tâm dưỡng tính, bên ngoài chủ yếu rèn luyện thể phách); lấy nhu khúc làm thể, lấy cương trực làm dụng. Phi nhu khúc bất năng hóa, phi cương trực bất năng dụng. Thể dụng tức là phương pháp kỹ kích "dĩ nhu khắc cương, khiên động tứ lượng bát thiên cân". Luyện quyền này phải khí trầm đan điền (丹田), bất thiên bất ỷ, nội ngoại tương hợp, tuyệt đối không được dùng chuyết lực. Phải dĩ ý hành lực, ý đáo lực đáo.

Về cách luyện Thái Cực Quyền, tiên phụ thường nói: Tiên sinh Hác Vi Chân bàn rằng luyện Thái Cực Quyền có ba tầng ý cảnh. Khi mới luyện, như thân ở trong nước, hai chân đạp đất, động tác như có sức cản của nước. Tầng thứ hai thì như thân ở trong nước, hai chân nổi lên, như người bơi trôi nổi trong nước, có thể vận động tự nhiên. Tầng thứ ba thì thân thể khinh linh, hai chân như bước đi trên mặt nước, lâm uyên lí băng, thần khí nội liễm, không dám có chút nào tán loạn, ấy là quyền thành vậy.

Tư thế, động tác của Thái Cực Quyền đều có yếu lĩnh nhất định, và mỗi thứ đều có ý nghĩa riêng. Nay trích yếu giới thiệu như sau:

Đầu: Đầu phải thượng đỉnh, nhưng không được dùng lực. Cằm tự nhiên thu lại, đỉnh đầu chính trực, tinh thần quán chú. Toàn thân tùng khai, đỉnh, đặng (đạp), thân (duỗi), súc (co) đều dùng ý, mà không dùng chuyết lực, tâm tự hư linh. Tức là cái gọi là hư linh đỉnh kình (虚灵顶劲, hư linh đỉnh kình).

Miệng: Miệng phải hư hợp, lưỡi đặt lên vòm miệng trên, dùng mũi hô hấp.

Ngực: Ngực phải hàm súc, không được ưỡn ra. Ngực hàm thì khí trầm đan điền. Ngực ưỡn thì khí dồn lên vùng ngực, thượng trọng hạ khinh, gót chân phù phiếm, là điều kỵ của nhà quyền. Ngực hàm thì khí dán vào lưng, lực do sống lưng mà phát, ấy là chân lực. Trên đây tức là cái gọi là hàm hung bạt bối (含胸拔背, hàm hung bạt bối).

Vai: Hai vai ắt phải tùng khai, buông xuống. Tuyệt kỵ nhún vai, nếu không thì khí dồn lên trên.

Phần 168

Trang sách 659

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền (tiếp)

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền (tiếp)

Khuỷu: Hai khuỷu phải buông lỏng xuống dưới, hai cánh tay tự nhiên uốn cong. Tức là cái gọi là "khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát" vậy.

Tay: Năm ngón tay xòe ra, tháp uyển (塌腕), hổ khẩu hơi tròn, lòng bàn tay hơi ngậm vào trong, như trạng thái nắm ôm một quả cầu tròn.

Eo: Eo ắt phải tháp trụ. Vì eo là cái khu của toàn thân động tác, là nguồn của lực lượng. Sự xoay chuyển, tiến thoái, biến hóa hư thực của người ta đều nhờ eo kình quán xuyến.

Chân: Hai chân uốn cong, ắt phải phân minh hư thực, tức là trọng tâm thân thể phải đặt trên một chân. Nếu trọng tâm thân thể dời sang chân phải, thì chân phải là thực, chân trái là hư. Ngược lại, chân trái là thực, chân phải là hư. Phân minh hư thực là yếu nghĩa của Thái Cực Quyền; vận động lên thì xoay chuyển khinh linh. Nếu không thì bước chân nặng trệ, dễ bị người ta dẫn động.

Hô hấp: Cái gọi là khí trầm đan điền (chỗ dưới rốn ba tấc), tức là chỉ sự hô hấp kiểu bụng sâu dài. Nhưng chớ dùng lực ép khí xuống dưới, nhất định phải để hô hấp thuần nhiệm tự nhiên.

Ý và lực: Một trong những đặc điểm của Thái Cực Quyền là dụng ý bất dụng lực. Vì Thái Cực Quyền yêu cầu dùng hoạt lực, toàn thân phải tùng khai, không để mảy may chuyết lực lưu trệ giữa cân cốt huyết mạch. Yêu cầu cực nhu nhuyễn mà cực kiên cương, cực trầm trọng mà cực linh hoạt. Ý đáo lực đáo, vận dụng tự như. Nếu dùng chuyết lực thì trì trệ bất linh. Lực phù ư ngoại thì không hợp với yêu cầu của Thái Cực Quyền. Thế nào là dụng ý bất dụng lực, làm sao hoạt lực tự sinh? Ấy là vì ý chi sở chí khí tức chí, như thế khí huyết lưu chú, ngày ngày quán thâu, chu lưu khắp kinh lạc toàn thân, không lúc nào đình trệ. Luyện lâu thì chân chính nội kình (内劲) tức có thể sinh ra.

Động và tĩnh: Tĩnh tọa của khí công là tĩnh trung cầu động; quyền thuật là động trung cầu tĩnh. Khi luyện quyền tâm phải tĩnh, tinh thần tập trung, động tác mới có thể viên hoạt.

Trên đây đã phân biệt luận thuật các yếu lĩnh vận động. Nhưng người học ắt phải chú ý Thái Cực Quyền là một môn vận động toàn thân, cái luyện là ở thần. Tinh thần là chủ soái, thân thể là kẻ sai khiến; tinh thần có thể đề khởi được thì cử động tự nhiên khinh linh. Tâm ý và động tác hình thể phối hợp nhất trí, mới có thể nội ngoại tương hợp vi nhất. Khi luyện phải chú ý thượng hạ tương tùy, các bộ phận thân thể hoàn chỉnh nhất trí. Nếu có một chỗ động tác bất chỉnh, thì sẽ khiến thần khí tán loạn. Hơn nữa, khi luyện quyền phải dĩ ý hành lực, tương liên bất đoạn, "như Trường Giang đại hà, thao thao bất tuyệt". "Vận động như trừu ty" —

Phần 169

Trang sách 660

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền (tiếp)

Tổng thuyết về Thái Cực Quyền (tiếp)

— tức là ý ấy vậy.

Để tiện cho bạn đọc ghi nhớ, nay biên những yếu điểm ấy thành khẩu quyết như sau:

Thái Cực Quyền vốn nội gia quyền,
Bất dụng chuyết lực ý đương tiên.
Hư linh đỉnh kình thần quán chú,
Hạ hài thu hồi tức tự nhiên.
Hàm hung tự nhiên năng bạt bối,
Thiết mạc hình thành "la oa kiên".
Luyện thời trầm kiên hựu trụy khuỷu,
Kiên tủng khuỷu huyền bất thị quyền.
Tháp yêu năng khởi toàn thân lực,
Yêu bất tháp trụ linh hoạt nan.
Lưỡng thối uốn cong phân hư thực,
Thái Cực yếu nghĩa tại giá lý biên.
Hô hấp hạ trầm đan điền huyệt,
Thuần nhiệm tự nhiên mạc cưỡng khiên.
Thượng hạ tương tùy thành nhất thể,
Động tác miên miên vĩnh tương liên.
Động trung cầu tĩnh tĩnh trung động,
Luyện thời thần khí vụ chu toàn.
Thiết ký yếu điểm mạc di vong,
Trì cửu tập luyện ích tự hiển.

Ghi chú: khẩu quyết trên đây là vần quyết dễ nhớ, giữ nguyên Hán-Việt để bảo tồn nhịp điệu và ý nghĩa gốc.

Phần 170

Trang sách 661

Thượng Biên (上编) — 1. Tên các thức

Thượng Biên (上编) — 1. Tên các thức
ThứcTênThứcTên
Thức thứ nhấtKhởi Thế (起式) — thức mở đầuThức thứ hai mươi tưĐảo Niển Hầu (倒撵猴, đảo niển hầu), thức phải — Đuổi Khỉ
Thức thứ haiLãn Trát Y (懒扎衣, lãn trát y) — Lười buộc áoThức thứ hai mươi lămThủ Huy Tỳ Bà (手挥琵琶, thủ huy tỳ bà), thức phải — Tay Gảy Đàn Tỳ Bà
Thức thứ baKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở TayThức thứ hai mươi sáuBạch Hạc Lượng Sí (白鹤亮翅, bạch hạc lượng sí) — Bạch Hạc Xòe Cánh
Thức thứ tưHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép TayThức thứ hai mươi bảyKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở Tay
Thức thứ nămĐơn Tiên (单鞭) — Đơn TiênThức thứ hai mươi támHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép Tay
Thức thứ sáuĐề Thủ Thượng Thức (提手上式, đề thủ thượng thức) — Nâng Tay Lên ThứcThức thứ hai mươi chínLâu Tất Ảo Bộ (搂膝拗步, lâu tất ảo bộ), thức trái — Vạch Đầu Gối Bước Xéo
Thức thứ bảyBạch Hạc Lượng Sí (白鹤亮翅, bạch hạc lượng sí) — Bạch Hạc Xòe CánhThức thứ ba mươiThủ Huy Tỳ Bà (手挥琵琶, thủ huy tỳ bà), thức trái — Tay Gảy Đàn Tỳ Bà
Thức thứ támKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở TayThức thứ ba mươi mốtTam Thông Bối (三通背, tam thông bối) — Ba Lần Thông Lưng
Thức thứ chínHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép TayThức thứ ba mươi haiLãn Trát Y (懒扎衣, lãn trát y) — Lười buộc áo
Thức thứ mườiLâu Tất Ảo Bộ (搂膝拗步, lâu tất ảo bộ), thức trái — Vạch Đầu Gối Bước XéoThức thứ ba mươi baKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở Tay
Thức thứ mười mộtThủ Huy Tỳ Bà (手挥琵琶, thủ huy tỳ bà), thức trái — Tay Gảy Đàn Tỳ BàThức thứ ba mươi tưHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép Tay
Thức thứ mười haiTiến Bộ Ban Lan Chùy (进步搬拦捶, tiến bộ ban lan chùy) — Tiến Bước Dời Đỡ ĐấmThức thứ ba mươi lămĐơn Tiên (单鞭) — Đơn Tiên
Thức thứ mười baNhư Phong Tự Bế (如封似闭, như phong tự bế) — Như Phong Như BếThức thứ ba mươi sáuVân Thủ (云手, vân thủ) — Tay Mây
Thức thứ mười bốnBão Hổ Thôi Sơn (抱虎推山, bão hổ thôi sơn) — Ôm Hổ Đẩy NúiThức thứ ba mươi bảyCao Thám Mã (高探马, cao thám mã) — Cao Thám Mã
Thức thứ mười lămKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở TayThức thứ ba mươi támHữu Khởi Cước (右起脚, hữu khởi cước) — Chân Phải Đá Lên
Thức thứ mười sáuHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép TayThức thứ ba mươi chínTả Khởi Cước (左起脚, tả khởi cước) — Chân Trái Đá Lên
Thức thứ mười bảyLâu Tất Ảo Bộ (搂膝拗步, lâu tất ảo bộ), thức phải — Vạch Đầu Gối Bước XéoThức thứ bốn mươiChuyển Thân Đăng Cước (转身蹬脚, chuyển thân đăng cước) — Xoay Mình Đá Gót
Thức thứ mười támLãn Trát Y (懒扎衣, lãn trát y) — Lười buộc áoThức thứ bốn mươi mốtTiễn Bộ Đả Chùy (践步打捶, tiễn bộ đả chùy) — Bước Dẫm Đấm
Thức thứ mười chínKhai Thủ (开手, khai thủ, "mở tay") — Mở TayThức thứ bốn mươi haiPhiên Thân Hữu Khởi Cước (翻身右起脚, phiên thân hữu khởi cước) — Trở Mình Chân Phải Đá Lên
Thức thứ hai mươiHợp Thủ (合手, hợp thủ, "khép tay") — Khép TayThức thứ bốn mươi baPhi Thân Phục Hổ (披身伏虎, phi thân phục hổ) — Khoác Mình Phục Hổ
Thức thứ hai mươi mốtĐơn Tiên (单鞭) — Đơn TiênThức thứ bốn mươi bốnTả Khởi Cước (左起脚, tả khởi cước) — Chân Trái Đá Lên
Thức thứ hai mươi haiTrửu Hạ Khán Chùy (肘下看捶, trửu hạ khán chùy) — Xem Quyền Dưới Cùi ChỏThức thứ bốn mươi lămChuyển Thân Hữu Đăng Cước (转身右蹬脚, chuyển thân hữu đăng cước) — Xoay Mình Chân Phải Đá Gót
Thức thứ hai mươi baĐảo Niển Hầu (倒撵猴, đảo niển hầu), thức trái — Đuổi KhỉThức thứ bốn mươi sáuThượng Bộ Ban Lan Chùy (上步搬拦捶, thượng bộ ban lan chùy) — Lên Bước Dời Đỡ Đấm

Thức thứ bốn mươi bảy: Như Phong Tự Bế (如封似闭, Như Phong Tự Bế) — Thức thứ bảy mươi ba: Khai Thủ (开手)

Thức thứ bốn mươi tám: Bão Hổ Suy Sơn (抱虎推山, Bão Hổ Suy Sơn) — Thức thứ bảy mươi tư: Hợp Thủ (合手)

Thức thứ bốn mươi chín: Khai Thủ (chuyển phải) (开手(右转)) — Thức thứ bảy mươi lăm: Lâu Tất Ảo Bộ (thức trái) (搂膝拗步(左式), Lâu Tất Ảo Bộ)

Thức thứ năm mươi: Hợp Thủ (合手) — Thức thứ bảy mươi sáu: Thủ Huy Tỳ Bà (手挥琵琶, Thủ Huy Tỳ Bà)

Thức thứ năm mươi mốt: Lâu Tất Ảo Bộ (thức phải) (搂膝拗步(右式)) — Thức thứ bảy mươi bảy: Tam Thông Bối (三通背, Tam Thông Bối)

Thức thứ năm mươi hai: Lãn Trát Y (懒扎衣, Lãn Trát Y) — Thức thứ bảy mươi tám: Lãn Trát Y (懒扎衣)

Thức thứ năm mươi ba: Khai Thủ (开手) — Thức thứ bảy mươi chín: Khai Thủ (开手)

Thức thứ năm mươi tư: Hợp Thủ (合手) — Thức thứ tám mươi: Hợp Thủ (合手)

Thức thứ năm mươi lăm: Tà Đơn Tiên (斜单鞭, Tà Đơn Tiên) — Thức thứ tám mươi mốt: Đơn Tiên (单鞭)

Thức thứ năm mươi sáu: Dã Mã Phân Tông (野马分鬃, Dã Mã Phân Tông) — Thức thứ tám mươi hai: Vân Thủ (云手, Vân Thủ)

Thức thứ năm mươi bảy: Lãn Trát Y (懒扎衣) — Thức thứ tám mươi ba: Cao Thám Mã (高探马, Cao Thám Mã)

Thức thứ năm mươi tám: Khai Thủ (开手) — Thức thứ tám mươi tư: Thập Tự Bãi Liên (十字摆莲, Thập Tự Bãi Liên)

Thức thứ năm mươi chín: Hợp Thủ (合手) — Thức thứ tám mươi lăm: Tiến Bộ Chỉ Đang Chùy (进步指裆捶, Tiến Bộ Chỉ Đang Chùy)

Thức thứ sáu mươi: Đơn Tiên (单鞭) — Thức thứ tám mươi sáu: Thoái Bộ Lãn Trát Y (退步懒扎衣, Thoái Bộ Lãn Trát Y)

Thức thứ sáu mươi mốt: Hữu Thông Bối Chưởng (右通背掌, Hữu Thông Bối Chưởng) — Thức thứ tám mươi bảy: Khai Thủ (开手)

Thức thứ sáu mươi hai: Ngọc Nữ Xuyên Thoa (玉女穿梭, Ngọc Nữ Xuyên Thoa) — Thức thứ tám mươi tám: Hợp Thủ (合手)

Thức thứ sáu mươi ba: Lãn Trát Y (懒扎衣) — Thức thứ tám mươi chín: Đơn Tiên (单鞭)

Thức thứ sáu mươi tư: Khai Thủ (开手) — Thức thứ chín mươi: Đơn Tiên Hạ Thế (单鞭下势, Đơn Tiên Hạ Thế)

Thức thứ sáu mươi lăm: Hợp Thủ (合手) — Thức thứ chín mươi mốt: Thượng Bộ Thất Tinh (上步七星, Thượng Bộ Thất Tinh)

Thức thứ sáu mươi sáu: Đơn Tiên (单鞭) — Thức thứ chín mươi hai: Thoái Bộ Khóa Hổ (退步跨虎, Thoái Bộ Khóa Hổ)

Thức thứ sáu mươi bảy: Vân Thủ (云手) — Thức thứ chín mươi ba: Chuyển Giác Bãi Liên (转角摆莲, Chuyển Giác Bãi Liên)

Thức thứ sáu mươi tám: Vân Thủ Hạ Thế (云手下势, Vân Thủ Hạ Thế) — Thức thứ chín mươi tư: Loan Cung Xạ Hổ (弯弓射虎, Loan Cung Xạ Hổ)

Thức thứ sáu mươi chín: Kim Kê Độc Lập (金鸡独立, Kim Kê Độc Lập) — Thức thứ chín mươi lăm: Song Chàng Chùy (双撞捶, Song Chàng Chùy)

Thức thứ bảy mươi: Đảo Niển Hầu (倒撵猴, Đảo Niển Hầu) — Thức thứ chín mươi sáu: Âm Dương Hỗn Nhất (阴阳混一, Âm Dương Hỗn Nhất)

Thức thứ bảy mươi mốt: Thủ Huy Tỳ Bà (thức phải) (手挥琵琶(右式)) — Thức thứ chín mươi bảy: Thâu Thức (收式)

Thức thứ bảy mươi hai: Bạch Hạc Lượng Sí (白鹤亮翅, Bạch Hạc Lượng Sí)

Thượng Biên. Hai: Thuyết minh động tác
Thức thứ nhất: Khởi Thế (起式)
  • ① Thân thể đứng thẳng, hai tay buông xuôi, hai vai thư giãn; hai mũi bàn chân mở ra khoảng 90°; mắt nhìn thẳng về phía trước, tâm tĩnh, hơi dừng lại. (图 1)

Mắt nhìn thẳng về phía trước, tâm tĩnh, hơi dừng lại. (图 1)

图 1
图 1
người luyện đứng thẳng mặt hướng về trước, hai tay buông tự nhiên bên hông, hai chân mở ra, trọng lượng đều trên hai chân.
  • ② Mũi bàn chân phải hếch lên, lấy gót chân làm trục chuyển nửa mặt sang trái tạo với bàn chân trái thành 45°; đồng thời thân thể hơi chuyển sang trái, mặt hướng về phía trước trái chéo; mắt nhìn ngang. (图 2)
图 2
图 2
người luyện đứng với thân mình hơi xoay sang trái, mũi bàn chân phải hếch lên và xoay trên gót chân phải, hai bàn chân tạo với nhau khoảng 45°.

Yếu điểm (要点): toàn thân thư giãn, tháp yêu (塌腰), nhưng không được cứng đờ, lưỡi đặt lên vòm miệng trên, hô hấp phải tự nhiên.

Thức thứ hai: Lãn Trát Y (懒扎衣, Lãn Trát Y)
  • ① Hai cánh tay từ từ nâng lên phía trước trên, cao ngang vai, hai lòng bàn tay hướng vào nhau hơi khép vào trong, cách nhau khoảng 18 cm, đầu ngón tay hướng về trước, như ôm quả cầu; hai chân không động; mắt nhìn khoảng giữa hai bàn tay. (图 3)
图 3
图 3
người luyện đứng, hai tay nâng về phía trước tới khoảng ngang vai, hai lòng bàn tay hướng vào nhau như ôm quả cầu, hai chân giữ nguyên.
  • ② Hai tay hạ xuống tới trước bụng, đồng thời hai chân từ từ khuất gối, gót chân trái theo đó từ từ nhấc lên. (图 4)
  • ③ Chân trái bước lên phía trước, gót chân chạm đất trước; đồng thời hai tay từ từ duỗi ra phía trước trên, hai tay vẫn như ôm quả cầu, cánh tay hơi cong; chân phải theo hai tay duỗi ra bước theo lên tới phía trong mắt cá chân trái, cách nhau khoảng 10 cm, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn khoảng giữa hai bàn tay. (图 5、6)
  • ④ Hai tay xoay ngang sang phải; khi xoay tới lúc mặt hướng chính diện phía trước, tay phải xoay ra ngoài, lòng bàn tay hướng lên; tay trái xoay vào trong, lòng bàn tay hướng xuống đỡ lấy cổ tay phải xoay sang phải; đồng thời gót chân phải đặt xuống đất, mũi bàn chân trái hếch lên xoay sang phải, mũi bàn chân phải theo đó vung ra ngoài khoảng 90°; mắt nhìn tay phải. (图 7、8)
  • ⑤ Tay phải vạch nửa vòng tròn sang phải, ra sau, tay trái theo tay phải chuyển động; khi tay phải chuyển tới trước vai phải, cẳng tay dựng thẳng, lòng bàn tay ngửa chéo lên rồi chuyển hướng về trước, tay trái đỡ lấy
图 4
图 4
toàn thân hạ thấp xuống, hai tay rơi xuống trước bụng, gót chân trái nhấc lên.
图 7
图 7
hai tay xoay sang phải trước ngực, lòng bàn tay phải hướng lên, tay trái đỡ cổ tay phải.
图 10
图 10
hai tay đẩy ra phía trước, hai cánh tay hơi cong, chân phải phía trước, chân trái phía sau.
图 5
图 5
chân trái đã bước lên phía trước, hai tay duỗi ra phía trước như ôm quả cầu.
图 8
图 8
hai tay xoay xuống phía phải, lòng bàn tay phải ngửa chéo lên.
图 6
图 6
chân phải đã theo tới phía trong mắt cá chân trái, mũi bàn chân chạm đất, hai tay ôm quả cầu trước ngực.
图 9
图 9
tay phải đã vạch nửa vòng sang phải, ra sau, cẳng tay dựng thẳng, tay trái đỡ cổ tay phải.

Cổ tay phải cùng nhau đẩy ra phía trước, hai cánh tay hơi cong; đồng thời chân phải bước lên phía trước, gót chân chạm đất trước, dần dần đặt vững; chân trái liền theo phía sau chân phải, cách nhau khoảng 10 cm, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn tay phải, hơi dừng lại. (图 9、10)

Yếu điểm (要点): động tác phải liền một hơi thông suốt, không được gián đoạn.

Cách dùng (用法): Lãn Trát Y do bồng, lữ, tễ, án (掤捋挤按, bồng lữ tễ án) hợp thành. ① Bồng (掤): đối phương lấy tay đánh tới, ta dùng tay trước ấn vào cổ tay đối phương, dẫn ra sau, Tay sau nhanh chóng tìm tới cùi chỏ đối phương. Nếu tay đối phương đánh tới cao, thì hai tay nâng đỡ cánh tay đối phương đẩy ra sau, xuống dưới, cũng có thể đẩy ngang ra phía bên sau.

图 11
图 11
người luyện đứng, hai tay ôm trước ngực ngang vai, hai cẳng tay cong, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.
  • ② Tễ (挤), tức là đẩy đối phương ra. Ý ở chỗ cẳng tay như cái giũa mà cọ vào cánh tay đối phương. Nếu có thể khiến thân thể đối phương nghiêng sang một bên mất đi trung chính, cánh tay đối phương lại bị cánh tay ta cuốn lấy, dán vào thân mình không thể nhấc lên đỡ gạt, lúc ấy là lúc tễ hay nhất. Cách dùng của tễ là từ trước ngực đẩy ra chéo lên phía trước trên. Nếu dùng khéo léo, có thể khiến đối phương bốc lên khỏi mặt đất. Muốn tễ có kình, kình cuốn của hai cánh tay là then chốt; một khi đã cuốn được đối phương, phải nhanh chóng tiến bộ lên thân, dán chặt vào đối phương.
图 12
图 12
người luyện đứng, hai tay ôm ra phía trước ngang ngực, hai lòng bàn tay hướng vào nhau, hai chân mở ra, trọng tâm trầm xuống.
  • ③ Bồng (掤), tức là đỡ gạt (không phải đỡ cứng chống đối). Đối phương dùng hai tay xô tới ta, ta hai cánh tay nâng lên dính chặt lấy tay đối phương, ngồi hông lui về sau rút chân trái, hơi chuyển hông sang phải, tay trái vỗ sang phải, tay phải móc sang phải; lúc ấy lực của đối phương đã tan đi, ta phát đúng lúc. Cái diệu của phép bồng ở chỗ "dính", không rời không chống, hai cánh tay như lò xo, khiến đối phương chạm vào thấy tựa hồ có tựa hồ không. Bồng có thể dùng hai tay, cũng có thể dùng một tay; nếu dùng một tay bồng được hai tay đối phương thì càng được thế hơn.
  • ④ Án (按): nếu đối phương công tới ta, ta hai tay nhẹ nhàng ấn xuống hai cánh tay đối phương, tức thì xô ra phía trước. Án có thể dùng một tay, hai tay, hoặc khai kình, hoặc hợp kình tùy thế mà định, nhưng phải dính vào cánh tay đối phương, khiến đối phương đi lại chuyển xoay không linh hoạt.
图 13
图 13
người luyện đứng ở tư thế rộng hơn, hai cánh tay mở ra hai bên ngang vai, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài.
Thức thứ ba: Khai Thủ (开手)
图 14
图 14
hai tay mở sang trái, phải trước ngực tới lúc đối với hai vai, đầu ngón tay hướng lên, người luyện đứng một chân trước một chân sau.
图 15
图 15
hai tay khép lại trước ngực, cách nhau rộng bằng mặt, hai chân khuất gối, mũi bàn chân trái chạm đất.
图 16
图 16
hai tay nâng ngang sang trái, phải, hai cánh tay ở tư thế nâng ngang, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài, đứng hai chân mở ra.

Tiếp thức trước, gót chân trái đặt xuống đất, mũi bàn chân phải hếch lên, Chân trái khấu vào trong sang trái khoảng 90°, thân mình cũng theo đó xoay sang trái; đồng thời hai lòng bàn tay hướng vào nhau, đầu ngón tay hướng lên, mở ra sang trái phải (như ôm quả bóng hơi, khí trong quả bóng nở ra ngoài, mở đến lúc hổ khẩu hai tay đối với hai vai), hai tay cách nhau khoảng 10 cm, hơi dừng lại. (图 11)

Thức thứ tư: Hợp Thủ (合手)

Tiếp thức trước, hai lòng bàn tay hướng vào nhau từ từ khép vào trong, khép đến lúc hai tay cách nhau rộng bằng mặt thì hơi dừng lại; đồng thời hai chân khuất gối, chân phải đặt trên đất, gót chân trái nhấc lên, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn khoảng giữa hai bàn tay. (图 12)

Yếu điểm (要点): toàn thân phải thư giãn, không được có chút sức gượng ép nào.

Cách dùng (用法): Khai Hợp Thủ — nếu đối phương từ phía sau lưng ta dùng hai tay bất ngờ ôm chặt hai cánh tay ta, ta liền dùng cùi chỏ chống vào hai cánh tay đối phương, nhanh chóng ấn xuống dưới, và thuận thế chuyển mình sang trái hoặc chuyển mình sang phải.

Thức thứ năm: Đơn Tiên (单鞭)

Tiếp thức trước, hai tay xoay vào trong, như đẩy cây sào dài, từ từ mở ra sang trái phải, hai cánh tay ở tư thế nâng ngang, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài, bàn tay dựng thẳng, cao ngang mắt; đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước, chân hơi cong; chân phải hơi duỗi thẳng; mắt nhìn tay phải, hơi dừng lại. (图 13)

Yếu điểm (要点): thân trên phải thẳng, hai vai phải thư giãn, hô hấp phải tự nhiên, không được dùng sức vụng về ấn khí (气, khí) xuống đan điền (丹田).

Cách dùng (用法): ① Đơn Tiên là để ứng phó với đối thủ hai bên trái phải; hai tay tuy mở ra cùng lúc, nhưng phải một hư một thực (虚实, hư thực); đâu thực đâu hư phải xem thế tới của đối phương gần hay xa. Nếu tay trái ...thực kích, trọng tâm phải đặt trên chân trái, để ý phía bên phải; đồng thời có thể nhấc chân phải đá đối thủ phía bên phải.

图 17
图 17
người tập đứng thẳng hai bàn chân sát nhau, hai tay duỗi ra trước ngực, khuỷu hơi cong, hai bàn tay ngang tầm ngực.
  • ② Nếu hai bên đối thủ ở rất gần, hoặc đã bắt giữ hai cánh tay của ta, ta liền dùng khuỷu đánh hoặc vai tựa, đồng thời chân phía bên kia có thể đá.
图 18
图 18
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, một tay hơi nhô lên trước tay kia.
Đệ lục thức: Đề thủ thượng thức (提手上式)

Tiếp theo thức trước, trọng tâm thân thể chuyển sang chân trái, tay trái liền vạch cung trước mặt lên tới trước trán, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay phải vạch cung xuống tới trước bụng, các ngón tay hướng xuống, lòng bàn tay hướng sang phải; đồng thời bàn chân phải nép sát chân trái, mũi bàn chân chạm đất ngang bằng mũi bàn chân trái, hai chân hơi cong; mắt nhìn về phía trước. (图 14)

图 19
图 19
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay duỗi ra trước ngực, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài.

Yếu điểm (要点): thân thể phải giữ vững vàng, tháp yêu (塌腰, hạ lưng eo xuống).

Cách dùng (用法): nếu đối thủ dùng hai tay nắm giữ hai cổ tay ta, ta xoay hai cánh tay theo hai hướng trái ngược nhau, một lên một xuống, đồng thời xoay ra ngoài, ắt có thể giải thoát. Nếu đối thủ ở rất gần ta, thì có thể nhấc đầu gối của chân hư đánh vào bụng đối thủ.

Đệ thất thức: Bạch hạc lượng sí (白鹤亮翅)
  • ① Tiếp theo thức trước, tay trái từ trước trán hạ xuống tới trước ngực trái, khuỷu tay tựa sát sườn, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay phải từ trước bụng nâng lên tới trên trán, mu bàn tay tựa sát trán; đồng thời chân phải bước lên trước, gót chân chạm đất, khoảng cách hai bàn chân lấy mức không làm xê dịch trọng tâm thân thể làm thích hợp. (图 15)
  • ② Tay phải từ trên hạ xuống qua bên phải mặt (dường như chạm mà không chạm) tới trước ngực phải, đầu khuỷu rủ xuống, lòng bàn tay hướng ra ngoài, cao ngang bằng tay trái, hai tay cùng đẩy ra phía trước; đồng thời mũi bàn chân phải từ từ chạm đất, trọng tâm thân thể chuyển dần lên trước sang chân phải

...chân; chân trái theo bước tới phía trong bàn chân phải, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn vào khoảng giữa hai tay. (图 16, 17)

Yếu điểm (要点): tháp yêu (塌腰), hai cánh tay hơi cong, hơi dừng lại.

Cách dùng (用法): ① Ta dùng tay phải đánh đối thủ; nếu đối thủ dùng tay trái ấn cổ tay phải ta xuống, ta liền tiến bộ, tay phải thu về đồng thời buông lỏng chìm xuống, tay trái dính chặt cổ tay phải của đối thủ mà thái xuống, tay phải xoay lên đánh vào ngực hoặc đầu đối thủ.

图 20
图 20
người tập ở tư thế đứng chân trái ở trước và hơi cong, tay trái hạ xuống phía ngoài hông trái, tay phải nâng ra phía bên phải cao ngang vai, lòng bàn tay ngửa lên; mắt nhìn về phía tay phải.
  • ② Nếu đối thủ dùng hai tay đánh tới, ta phân tay đối thủ thành trên dưới, đồng thời mau tiến bộ dùng hai tay đánh vào ngực đối thủ.
Đệ bát thức: Khai thủ (开手)

Động tác giống như thức thứ ba "khai thủ". (图 18)

Đệ cửu thức: Hợp thủ (合手)

Động tác giống như thức thứ tư "hợp thủ". (图 19)

图 21
图 21
người tập chân phải bước lên trước thành tư thế như cung, tay phải duỗi ra trước, tay trái hạ thấp; thân hướng về phía trước.
Đệ thập thức: Lâu tất ảo bộ (搂膝拗步) — thức bên trái
  • ① Tiếp theo thức trước, tay trái vòng sang phải, xuống dưới tới phía ngoài hông trái, ngón cái cách hông khoảng 10 cm; đồng thời chân trái bước chéo về phía trước bên trái một bước, tay phải xoay ra ngoài lên trên, vạch cung xuống phía dưới bên phải rồi nâng lên cao ngang vai phải, lòng bàn tay ngửa lên; mắt nhìn tay phải. (图 20)
  • ② Tay phải đẩy ngang về phía trước bên trái, cánh tay hơi cong, tháp uyển (塌腕, hạ cổ tay xuống), lòng bàn tay hướng về trước; đồng thời chân phải theo bước tới phía mắt cá trong bàn chân trái, mũi bàn chân chạm đất, trọng tâm chuyển sang chân trái; mắt nhìn đầu ngón trỏ tay phải, hơi dừng lại. (图 21)

Yếu điểm (要点): động tác tay phải đẩy ra trước và bước theo phải nhịp nhàng nhất trí, khuỷu tay phải phải cong, cổ tay phải tháp.

Cách dùng (用法): nếu đối thủ dùng quyền phải đánh tới ta, ta dùng tay trái gạt sang trái một cái, tay phải đánh vào ngực đối thủ.

图 22
图 22
người tập ở tư thế thấp, chân trái ở trước và hơi cong, tay phải duỗi ra trước ngang tầm ngực, tay trái giữ thấp, lòng bàn tay ngửa lên.
Đệ thập nhất thức: Thủ huy tỳ bà (手挥琵琶) — thức bên trái

Tiếp theo thức trước, năm ngón hai tay duỗi thẳng, hổ khẩu hướng lên trên; chân phải lui về sau một bước, mũi bàn chân chạm đất trước (bước lui xa gần lấy mức không làm xê dịch trọng tâm thân thể làm thích hợp), kế đó toàn bàn chân từ từ đặt xuống; đồng thời tay phải kéo về sau, tay trái duỗi ra trước, hai khuỷu rủ xuống; chân trái lui về sau tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn thẳng phía trước. (图 22)

图 23
图 23
người tập ở tư thế bước, chân trái ở trước, tay trái cong trước ngực và tay phải duỗi ra trước ngang tầm ngực, lòng bàn tay ngửa lên.

Cách dùng (用法): nếu đối thủ dùng quyền phải đánh tới, tay phải ta ấn cổ tay đối thủ, tay trái ấn khuỷu đối thủ, thuận thế mà cầm giữ (攫) hoặc bẻ (撅).

Đệ thập nhị thức: Tiến bộ ban lan chùy (进步搬拦捶)
  • ① Tiếp theo thức trước, tay trái xoay vào trong, xuống dưới, vòng sang trái tới trước sườn, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải xoay ra ngoài lên trên, qua dưới tay trái duỗi ra trước, lòng bàn tay ngửa lên; đồng thời chân trái bước lên trước, mũi bàn chân hơi hướng ra ngoài. (图 23)
  • ② Tay phải xoay vào trong vòng về trước sườn phải, lòng bàn tay hướng xuống, tay trái xoay ra ngoài duỗi ra trước, lòng bàn tay ngửa lên; đồng thời chân phải bước lên trước, mũi bàn chân hơi hướng ra ngoài chạm đất. (图 24)
图 24
图 24
người tập chân phải bước lên trước và hơi cong, tay phải thu về trước sườn phải và tay trái duỗi ra trước, lòng bàn tay ngửa lên.
  • ③ Động tác trên không dừng, chân trái bước lên trước một bước; đồng thời tay phải xoay ra ngoài rồi xoay vào trong biến thành quyền, đánh thẳng ra trên cổ tay trái, quyền ngang tầm ngực, mắt quyền hướng lên trên; tay trái xoay vào trong nắm thành quyền kéo về, lòng quyền hướng xuống; chân phải theo bước tới phía trong mắt cá chân trái, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn đốt giữa ngón trỏ tay phải. (图 25, 26)

Cách dùng (用法): nếu đối thủ dùng tay trái đánh vào ngực ta, ta dùng tay trái khấu cổ tay đối thủ (hổ khẩu hướng về phía mình) thái giữ rồi kéo về sau, sang phải, đồng thời tay phải đánh tới đối thủ.

图 25
图 25
người tập chân trái ở trước và chân phải theo sau, quyền phải đánh thẳng ra trước ngang tầm ngực, quyền trái kéo về ngang hông.
Đệ thập tam thức: Như phong tự bế (如封似闭)
图 26
图 26
người tập chân phải ở trước và chân trái theo sau, quyền phải đánh ra trước ngang tầm ngực, quyền trái ngang hông.

Tiếp theo thức trước, quyền phải rút về sau, quyền trái từ dưới cánh tay phải hơi duỗi ra trước, đến khi hai quyền ngang nhau thì biến thành chưởng, hai lòng bàn tay đều hướng về trước; chân phải lui về sau khi tay phải thu về (bước lui xa gần lấy mức không làm xê dịch trọng tâm thân thể làm thích hợp); kế đó hai tay cùng chân trái đồng thời thu về, chân trái tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm đất, hai tay tới trước ngực; mắt nhìn phía trước. (图 27)

Cách dùng (用法): ta dùng tay phải đánh vào một bộ phận nào đó của đối thủ, nếu đối thủ dùng tay trái đẩy ngang cổ tay hoặc khuỷu ta, ta liền ngồi hông về sau, tay trái từ ngoài cánh tay phải cắt ngang cổ tay đối thủ, theo lực của đối thủ mà dẫn sang phải, đồng thời tay phải ấn vào khuỷu đối thủ, nhân thế mà phát.

图 27
图 27
người tập đứng hai tay thu về trước ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước, hai bàn chân sát nhau; thân thẳng.
Đệ thập tứ thức: Bão hổ suy sơn (抱虎推山)

Tiếp theo thức trước, hai tay cùng đẩy ra trước, cao ngang tầm ngực, hai cánh tay hơi cong; đồng thời chân trái bước lên trước, chân phải theo bước, cách chân trái khoảng 10 cm; mắt nhìn vào khoảng giữa hai tay, hơi dừng lại. (图 28)

图 28
图 28
người tập ở tư thế bước tới, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước.

Cách dùng (用法): nếu tay đối thủ ở trong, tay ta ở ngoài, ta cuốn vào trong bọc lấy tay đối thủ mà phát; hoặc tay đối thủ ở ngoài, tay ta ở trong, ta dùng khai kình (开劲, sức mở) chống đỡ tay đối thủ mà phát. Nói chung phải dính chặt lấy tay đối thủ khiến đối thủ không thể vận động tự do, nếu không thì chỉ biết xông thẳng tới trước ắt bị đối thủ thừa cơ. Thức này dùng để đánh vào thân mình đối thủ là tốt nhất.

Đệ thập ngũ thức: Khai thủ (开手) — chuyển sang phải

Tiếp theo thức trước, mũi bàn chân trái chổng lên khấu bước sang phải, kế đó thân thể xoay sang phải khoảng 90°, bàn chân phải đặt vững; hai tay tách ngang, mở đến khi hổ khẩu hai tay rộng bằng vai, năm ngón xòe ra, hơi dừng lại. (图 29)

Đệ thập lục thức: Hợp thủ (合手)

Động tác giống như thức thứ tư "hợp thủ". (图 30)

图 29
图 29
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay mở ra hai bên ngang tầm ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước.
图 32
图 32
người tập ở tư thế nghiêng, chân phải ở trước, tay phải duỗi ra trước và tay trái giữ thấp.
Đệ thập thất thức: Lâu tất ảo bộ (搂膝拗步) — chuyển sang phải

Động tác giống như thức thứ mười "lâu tất ảo bộ", chỉ có hướng là ngược lại. (图 31, 32)

图 30
图 30
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay duỗi ra trước ngực, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.
Đệ thập bát thức: Lãn trát y (懒扎衣)
  • ① Tiếp theo thức trước, tay trái xoay ra ngoài rồi xoay vào trong, lòng bàn tay ngửa lên, tay phải duỗi ra trước, lòng bàn tay hướng xuống, hai tay thành thế ôm bóng; đồng thời chân trái lui về sau, chạm đất thành góc 45°; kế đó hai tay cùng vạch cung xuống dưới tới trước bụng, chân phải lui tới trước chân trái, mũi bàn chân chạm đất. (图 33, 34)
图 33
图 33
người tập ở tư thế bước tới, tay trái nâng cao ngang tầm ngực và tay phải hạ thấp, thân hơi xoay.
图 31
图 31
người tập đứng chân trái ở trước, hai tay giữ trước ngực, thân xoay về một bên.
  • ② Tay phải xoay vào trong, tay trái xoay ra ngoài nâng lên tới trước ngực, tay trái đỡ vào tay phải...
图 34
图 34
người tập ở tư thế chân phải ở trước và thân xoay, tay trái nâng trước ngực và tay phải duỗi ra trước xuống dưới.

Hai tay cùng đẩy ra trước từ phía trên cổ tay, lòng bàn tay phải ngửa lên, lòng bàn tay trái hướng xuống; đồng thời chân phải bước lên trước, chân trái theo tới sát bên mắt cá chân phải, mũi bàn chân chạm đất. (图 35)

图 35
图 35
người tập ở tư thế bước tới, hai tay nâng trước ngực, tay trái ở trên và tay phải ở dưới, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.
  • ③ Kế đó chân trái lui về sau; đồng thời hai tay vạch ngang ra sau nửa vòng tròn tới trước vai phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài; trọng tâm thân thể ngồi về sau, mũi bàn chân phải chổng lên. (图 36)
图 36
图 36
người tập chân trái thu về phía sau, hai tay thu về ngang vai phải, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài.
  • ④ Hai tay từ trước vai phải cùng đẩy ra trước, hai cánh tay hơi cong, đồng thời mũi bàn chân phải dần dần chạm đất, chân trái liền theo tới cách chân phải khoảng 10 cm; mắt nhìn tay phải. (图 37)
图 37
图 37
người tập ở tư thế bước tới, hai tay đẩy ra trước ngực, chân phải ở trước và chân trái theo sau.
Đệ thập cửu thức: Khai thủ (开手)

Động tác giống như thức thứ ba "khai thủ". (图 38)

图 38
图 38
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, thân thẳng, hai tay mở ra hai bên ngang tầm ngực, hai lòng bàn tay hướng về trước.
Đệ nhị thập thức: Hợp thủ (合手)
图 39
图 39
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay duỗi ra trước ngực, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.
图 40
图 40
người tập ở tư thế đứng rộng, hai tay mở ra hai bên ở tầm thấp, hai lòng bàn tay hướng ra ngoài.

Động tác giống như thức thứ tư "hợp thủ". (图 39)

Đệ nhị thập nhất thức: Đơn tiên (单鞭)

Động tác giống như thức thứ năm "đơn tiên". (图 40)

图 41
图 41
người tập ở tư thế bước tới, tay phải duỗi ra trước ngang tầm ngực và tay trái giữ trước ngực.
图 44
图 44
người tập nhìn từ phía sau trong tư thế đứng, một tay nâng ngang tầm vai và tay kia giữ ra trước.
Đệ nhị thập nhị thức: Trửu hạ khán chùy (肘下看捶)

Tiếp theo thức trước, tay trái hướng xuống, ngón cái hướng lên, tay phải biến thành quyền, co cánh tay hướng xuống qua trước bụng duỗi ra dưới khuỷu tay trái, mắt quyền hướng lên; đồng thời chân phải bước lên trước tới sau chân trái, mũi bàn chân chạm đất. Kế đó chân phải lui về sau, chân trái lui tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm đất; hai tay không động; mắt nhìn phía trước. (图 41, 42)

图 42
图 42
người tập ở tư thế đứng, tay trái giữ ra trước và quyền phải đưa xuống dưới khuỷu tay trái.
图 45
图 45
người tập thân xoay, hai tay giữ trước ngực, hai bàn chân tách ra.

Cách dùng (用法): ta dùng tay trái đánh vào một bộ phận nào đó của đối thủ, đối thủ dùng bằng (掤, đỡ hất); lúc này ta liền buông lỏng vai và chùng khuỷu, cánh tay cuốn kình vào trong, đồng thời tiến bước dùng quyền phải từ dưới khuỷu tay trái đánh vào ngực đối thủ.

图 43
图 43
người tập đứng thẳng, tay trái nâng trước ngực và quyền phải giữ thấp bên khuỷu tay trái.
图 46
图 46
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay giữ trước ngực, tay này trên tay kia.

Dùng quyền phải từ dưới khuỷu tay trái đánh vào ngực đối thủ.

Đệ nhị thập tam thức: Đảo niễn hầu (倒撵猴) — thức bên trái
  • ① Tiếp theo thức trước, tay trái xoay vào trong thu về trước ngực, rồi vạch cung sang trái tới ngoài hông trái, lòng bàn tay hướng xuống, đầu ngón tay hướng về trước, ngón cái cách hông khoảng 8 cm; tay phải xoay ra ngoài sang phải, xuống dưới, rồi nâng lên ngang tầm vai, lòng bàn tay ngửa lên; đồng thời mũi bàn chân phải chổng lên khấu vào trong, mũi bàn chân chạm đất; chân trái bước xéo sang trái, gót chân chạm đất; mắt nhìn tay phải. (图 43)
图 47
图 47
người tập đứng với tay trái giữ thấp bên hông trái và tay phải nâng ra trước ngang tầm vai.
  • ② Tay phải đẩy ra trước sang trái, qua trước khóe miệng phải, cánh tay hơi cong, lòng bàn tay hướng sang trái; đồng thời chân phải bước theo tới sau chân trái, cách khoảng 10 cm, mũi bàn chân chạm đất. (图 44)

Yếu điểm (要点): động tác tay và chân phải liền lạc như một mạch, không được gián đoạn.

Đệ nhị thập tứ thức: Đảo niễn hầu (倒撵猴) — thức bên phải
  • ① Tiếp theo thức trước, mũi bàn chân trái chổng lên, gót chân xoay vào trong; tay phải vạch xéo sang phải tới ngoài hông phải (ngón cái cách hông khoảng 8 cm), lòng bàn tay hướng xuống; tay trái xoay ra ngoài lên trên ngang tầm vai trái, lòng bàn tay ngửa lên; mắt nhìn tay trái. (图 45)
图 48
图 48
người tập với tay phải giữ thấp bên hông phải và tay trái nâng ra trước ngang tầm vai.
  • ② Tiếp đó tay trái đẩy ra trước sang phải, qua trước khóe miệng trái, các động tác khác đều giống như thức bên trái, chỉ có hướng là ngược lại. (图 46)

Yếu điểm (要点): luyện tập thức trái và thức phải luân phiên, số lần động tác không hạn chế, nhưng phải là số chẵn.

Đệ nhị thập ngũ thức: Thủ huy tỳ bà (手挥琵琶) — thức bên phải
图 49
图 49
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay cong trước ngực ngang tầm vai, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.

Động tác giống như thức thứ mười một "thủ huy tỳ bà", chỉ có hướng là ngược lại. (图 47)

Đệ nhị thập lục thức: Bạch hạc lượng sí (白鹤亮翅)

Động tác giống như thức thứ bảy "bạch hạc lượng sí". (图 48)

图 50
图 50
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, thân thẳng, hai tay cong trước ngực ngang tầm vai, hai lòng bàn tay hướng vào nhau.
Đệ nhị thập thất thức: Khai thủ (开手)

Động tác giống như thức thứ ba "khai thủ". (图 49, 50)

Đệ nhị thập bát thức: Hợp thủ (合手)

Động tác giống như thức thứ tư "hợp thủ". (图 51)

图 51
图 51
người tập đứng hai bàn chân sát nhau, hai tay cong trước ngực, hai lòng bàn tay hướng vào trong, thân hơi ngả về trước.
Đệ nhị thập cửu thức: Lâu tất ảo bộ (搂膝拗步) — thức bên trái

Động tác giống như thức thứ mười "lâu tất ảo bộ". (图 52, 53)

Đệ tam thập thức: Thủ huy tỳ bà (手挥琵琶) — thức bên trái

Động tác giống như thức thứ mười một "thủ huy tỳ bà". (图 54)

Đệ tam thập nhất thức: Tam thông bội (三通背)
  • ① Tiếp theo thức trước, tay phải xoay ra ngoài (lòng bàn tay ngửa lên) vạch cung xuống dưới, ra sau, đến trước trán thì xoay vào trong ấn thẳng xuống tới trước xương mác trái, cách mũi bàn chân trái khoảng 30 cm; tay trái khi tay phải vạch ra sau thì thu về ngoài hông trái, lòng bàn tay hướng xuống; chân trái khi tay phải ấn xuống thì lui về tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm đất, hai chân hơi cong; mắt nhìn tay phải. (图 55, 56)
图 52
图 52
người tập ở tư thế nghiêng, chân trái ở trước, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực.
  • ② Cánh tay phải nâng lên, mu bàn tay tựa vào trán, thân thể theo đó thẳng lên, trọng tâm nghiêng về chân phải, tay trái từ bên hông—

—duỗi thẳng ra trước, cao ngang tầm ngực, lòng bàn tay hướng về trước, cổ tay sụp xuống; đồng thời chân trái bước lên trước, khoảng cách hai bàn chân lấy mức không làm xê dịch trọng tâm thân thể làm thích hợp; mắt nhìn ngón trỏ tay trái. (图 57)

图 53
图 53
người tập ở tư thế bước tới, tay trái ở đầu gối trái và tay phải duỗi ra trước ngang tầm ngực.
图 56
图 56
người tập cúi sâu về trước, hai tay với xuống dưới tới mặt đất.
  • ③ Mũi bàn chân trái chổng lên khấu sang phải khoảng 120°, đồng thời thân thể xoay sang phải, mũi bàn chân phải chổng lên đưa ra ngoài khoảng 120°; tay trái vạch cung lên trên tới trước trán; tay phải đẩy ra trước, cao ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng về trước, cổ tay sụp xuống; mắt nhìn tay phải. (图 58)
图 54
图 54
người tập ở tư thế thân xoay, một tay vạch thấp ngang qua thân và tay kia duỗi ra trước.
图 57
图 57
người tập ở tư thế bước tới, tay phải nâng trước trán và tay trái duỗi ra trước xuống dưới.
  • ④ Tay trái từ trước trán duỗi ra trước tới ngang bằng tay phải, hai lòng bàn tay hướng vào nhau, đầu ngón tay hướng về trước; đồng thời chân phải lui bước tới ngay phía sau chân trái và chạm đất theo đường xéo. (图 59)
图 55
图 55
người tập ở tư thế đứng, tay trái nâng lên trên đầu và thân xoay.
图 58
图 58
người tập ở tư thế đứng rộng, tay phải duỗi ra trước ngang tầm vai và tay trái nâng trước trán.
  • ⑤ Hai tay nắm hờ thành quyền vạch cung xuống dưới tới trước bụng; đồng thời chân trái lui bước tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm

...xuống đất; mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 60)

  • ⑧ Hai nắm tay áp sát thân mình nâng lên tới trước ngực, rồi duỗi ra phía trước và lên trên, cao ngang mày; đồng thời chân trái bước tới trước, mũi bàn chân xoay ra ngoài rồi đặt xuống đất, trọng tâm thân thể vẫn ở chân phải, hơi dừng. Kế đó hai nắm tay vẽ cung tròn xuống tới trước bụng; chân phải bước thẳng tới trước chân trái, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 61, 62)
图 59
图 59
người luyện tập ở tư thế cung bộ, chân trái trước chân phải sau, tay phải duỗi tới trước ngang vai, tay trái giữ gần ngực.
图 60
图 60
người luyện tập đứng dồn trọng tâm lên chân sau, thân xoay, hai tay mở giữ trước ngực ngang tầm vai.
图 61
图 61
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai cẳng tay nâng trước ngực, chân trái ở phía trước.

Yếu điểm (要点): trên dưới phải phối hợp nhịp nhàng; khi chân trái lui bước tới trước chân phải, eo phải hạ trầm xuống.

Cách dùng (用法): ① Nếu đối phương dùng tay trái đánh tới, ta dùng tay trái chặn cổ tay hắn, tay phải ấn khuỷu tay hắn, lui bước ra sau và kéo xuống.

  • ② Nếu đối phương dùng tay phải đánh vào đầu ta, ta lập tức dùng tay phải từ dưới lên trên chặn cổ tay hắn, tay trái đỡ khuỷu tay hắn, khép chân trái vào và xoay eo sang phải, từ trên kéo hắn ngã ra sau lưng.
  • ③ Nếu đối phương trầm vai thu tay lại, ta tiếp tục xoay eo cho tới khi mặt hướng ra sau, chân phải lui về sau chân trái, theo đà thu tay lại của đối phương mà kéo xuống và ra sau.
Đệ tam thập nhị thức: Lãn Trát Y (懒扎衣, Lǎn Zhā Yī)
  • ① Tiếp thức trước, hai tay mở ra nâng lên (lòng bàn tay phải hướng lên, lòng bàn tay trái hướng xuống) tới trước vai phải; đồng thời chân phải bước tới trước, chân trái lập tức bước theo tới sau chân phải, mũi bàn chân chạm đất, hơi dừng rồi lui bước ra sau; hai tay vẽ cung tròn ngang ra sau tới trước vai phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài; trọng tâm thân thể chuyển về sau sang chân trái, mũi bàn chân phải nhấc lên; mắt nhìn tay phải. (Hình 63, 64)
  • ② Hai tay từ trước vai phải cùng nhau đẩy ra phía trước, hai

...hai cánh tay hơi cong, tay trái đỡ cổ tay phải; đồng thời mũi bàn chân phải dần dần đặt xuống đất, chân trái lập tức bước theo tới chỗ cách sau chân phải khoảng 10 xen-ti-mét; mắt nhìn tay phải. (Hình 65)

Đệ tam thập tam thức: Khai Thủ (开手, Kāi Shǒu)

Động tác giống như thức thứ ba "khai thủ". (Hình 66)

Đệ tam thập tứ thức: Hợp Thủ (合手, Hé Shǒu)

Động tác giống như thức thứ tư "hợp thủ". (Hình 67)

Đệ tam thập ngũ thức: Đơn Tiên (单鞭, Dān Biān)

Động tác giống như thức thứ năm "đơn tiên". (Hình 68)

Đệ tam thập lục thức: Vân Thủ (云手, Yún Shǒu)
  • ① Tiếp thức trước, tay trái vẽ cung tròn xuống dưới, sang phải tới dưới nách phải, lòng bàn tay xiên xuống dưới; đồng thời chân trái
图 62
图 62
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai tay duỗi ra trước, thân hơi nghiêng tới trước.
图 63
图 63
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai tay cong trước ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 64
图 64
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay giữ ngang tầm vai, hai tay nắm thành quyền.
图 65
图 65
người luyện tập đứng với hai tay giữ trước ngực, hai bàn tay khép vào nhau, bàn chân trước xoay ra ngoài.
图 66
图 66
người luyện tập ở tư thế song hành hẹp, hai tay duỗi ra trước ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 67
图 67
người luyện tập đứng với hai tay thu vào trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong.

...chân phải khép lại gần, mũi bàn chân chạm đất, mắt nhìn tay phải, hơi dừng. (Hình 69)

  • ② Tay trái vẽ cung tròn lên trên, sang trái tới bên trái thân thể, lòng bàn tay hướng trái, đầu ngón tay hướng lên; tay phải vẽ cung tròn xuống dưới, sang trái tới dưới nách trái, lòng bàn tay xiên xuống dưới; đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước, mũi bàn chân hơi xoay ra ngoài, chân phải khép lại gần chân trái và đặt xuống cách nhau khoảng 10 xen-ti-mét (hai mũi bàn chân đều hơi xiên về phía trái); mắt nhìn tay trái, hơi dừng. (Hình 70)
  • ③ Tay phải vẽ cung tròn lên trên rồi xuống dưới, tay trái vẽ cung tròn xuống dưới rồi lên trên; chân trái bước ngang sang trái một bước, chân phải khép lại gần chân trái. Cứ tuần hoàn như vậy ba lần, xem hình 69, 70.

Yếu điểm (要点): khi hai tay trái phải vẽ cung tròn lên trên, lòng bàn tay đều hướng ra ngoài và không cao quá mày; thân xoay theo tay.

Cách dùng (用法): nếu đối phương đánh tới từ bên trái hoặc bên phải, ta lập tức xoay eo dùng cánh tay chặn lại, thuận đà kéo và ném ra.

Đệ tam thập thất thức: Cao Thám Mã (高探马, Gāo Tàn Mǎ)
  • ① Tiếp thức trước, khi hai tay vân từ trái sang phải, tay trái vẽ cung tròn xuống tới trước ngực, hơi nâng lên, khuỷu tay áp sát thân, hổ khẩu hướng lên; tay phải khi vân tới ngang mặt thì rơi xuống phía trước và duỗi tới trước, hổ khẩu hướng lên, cao ngang ngực, hai cánh tay hơi cong; đồng thời chân trái lui bước ra sau, chân phải theo tay phải đặt xuống phía trước tới trước chân trái, mũi bàn chân chạm đất, tạo thành hình chữ "Đinh" với chân trái, hai chân hơi cong; mắt nhìn tay phải. (Hình 71)
Đệ tam thập bát thức: Hữu Khởi Cước (右起脚, Yòu Qǐ Jiǎo)
  • ① Tiếp thức trước, tay trái xoay ngoài, lòng bàn tay hướng lên; tay phải xoay trong vào trong tới trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống; hai tay
图 68
图 68
người luyện tập đứng với hai tay duỗi ngang ra hai bên ngang tầm vai, bàn tay mở.
图 69
图 69
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, hai tay thu vào trước thân, bàn tay mở.
图 70
图 70
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, tay trái cong ngang trước thân, tay phải gần nách trái.

...hai lòng bàn tay cách nhau khoảng 10 xen-ti-mét, hai tay cách ngực khoảng 6 xen-ti-mét; đồng thời mũi bàn chân phải khép vào trong, mũi bàn chân chạm đất, đối diện với mũi bàn chân trái; mắt nhìn tay phải. (Hình 72)

  • ② Hai tay cùng xoắn lại, đầu ngón tay hướng lên, cổ tay trầm xuống (giống như tư thế hợp thủ); đồng thời gót chân trái nhấc lên, hơi xoay sang phải, ngang bằng với chân phải, hơi dừng. (Hình 73)
  • ③ Hai tay tách ra như thức đơn tiên; đồng thời chân phải nâng lên, mũi bàn chân hướng lên, chạm vào tay phải; mắt nhìn tay phải, eo hơi trầm xuống. (Hình 74)
  • ④ Thức trên không dừng, chân phải đặt xuống, hơi khép vào trong; kế đó chân trái khép lại gần chân phải, mũi bàn chân chạm đất; hai tay khép vào trong (giống như thức hợp thủ), mắt nhìn sang trái, hơi dừng. (Hình 75, 76)
Đệ tam thập cửu thức:
图 71
图 71
người luyện tập đứng với tay phải ấn tới trước ngang tầm ngực, tay trái nâng gần ngực.
图 72
图 72
người luyện tập đứng trên một chân, đầu gối trái nâng lên với bàn chân thu vào, hai tay giữ trước ngực.
图 73
图 73
người luyện tập đứng nghiêng dồn trọng tâm lên một chân, hai tay giữ tới trước trước ngực.
图 74
图 74
người luyện tập thăng bằng trên chân trái, chân phải nâng thẳng tới trước ngang tầm hông, hai tay mở ngang ra hai bên.
图 75
图 75
người luyện tập ở tư thế đứng, hai tay mở ngang, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 76
图 76
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai tay duỗi tới trước ngang tầm vai, bàn tay mở.
Tả Khởi Cước (左起脚, Zuǒ Qǐ Jiǎo)

Tiếp thức trước, hai tay tách ra như thức đơn tiên, chân trái nâng lên phía trước chếch sang trái, chạm vào tay trái, kế đó rơi trở lại vị trí cũ, mũi bàn chân chạm đất; đồng thời hai tay làm động tác hợp thủ, hơi dừng. (Hình 77, 78)

Đệ tứ thập thức: Chuyển Thân Đăng Cước (转身蹬脚, Zhuǎn Shēn Dēng Jiǎo)

Tiếp thức trước, chân phải và thân thể hơi xoay sang trái, kế đó chân trái đá lên, mũi bàn chân móc trở lại, đá tới phía trước chếch sang trái; hai tay tách ra, tay và chân giao nhau; mắt nhìn ngón trỏ tay trái. (Hình 79)

Đệ tứ thập nhất thức: Tiễn Bộ Đả Chùy (践步打捶, Jiàn Bù Dǎ Chuí)
  • ① Tiếp thức trước, chân trái đặt xuống phía trước, mũi bàn chân xoay ra ngoài; đồng thời tay trái vòng về trước hông trái, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải duỗi xuống dưới, ra trước, lòng bàn tay hướng lên, hơi dừng. (Hình 80)
  • ② Chân phải bước tới trước chân trái một bước, mũi bàn chân xoay ra ngoài; đồng thời tay trái duỗi ra phía trước, lòng bàn tay hướng lên; tay phải kéo về trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống, hơi dừng. (Hình 81)
  • ③ Chân trái bước tới trước, mũi bàn chân khép vào trong; đồng thời tay trái xoay trong biến thành quyền, kéo xuống tới trước hông trái; tay phải xoay ngoài biến thành quyền, vẽ cung tròn ra sau, lên trên, ra trước, qua trước trán đánh ra vào phía trong mắt cá chân trái; thân thể theo đó hạ xuống, chân trái khuỵu gối, chân phải hơi cong; mắt nhìn tay phải. (Hình 82, 83)

Yếu điểm (要点): động tác phải liền mạch một hơi; eo phải giữ trầm; mắt theo tay mà chuyển.

图 77
图 77
người luyện tập thăng bằng trên chân phải, chân trái nâng lên ngang sang bên, hai tay mở ngang ra hai bên.
图 78
图 78
người luyện tập với chân trái nâng lên phía trước, hai tay khép trước ngực.
图 79
图 79
người luyện tập thăng bằng trên chân phải, chân trái duỗi tới trước ngang tầm hông, hai tay mở ngang ra hai bên.

Cách dùng (用法): nếu đối phương phục người xuống dùng tay đánh vào phần dưới của ta, ...như tiến bộ chỉ đang chùy (进步指裆捶) hoặc lùa chân trái ta, ta liền dùng tay trái lùa gạt ra, tay phải nắm quyền đánh từ trên xuống.

Đệ tứ thập nhị thức: Phiên Thân Hữu Khởi Cước (翻身右起脚, tiếng Anh: Turn the Body and Right Kick)
  • ① Tiếp thức trước, chân trái khép mũi vào trong; đồng thời tay phải nắm quyền đi lên qua trán rồi vẽ cung tròn ra phía trước, tâm quyền hướng lên, thân thể theo đó xoay sang phải 180°; quyền trái liền thu xuống và ra sau tới trước hông phải; chân phải hơi xoay mũi ra ngoài. (Hình 84, 85)
  • ② Tay trái từ bên hông trái đi lên qua mặt rồi lùa xuống trước ngực tới phía ngoài và dừng lại; quyền phải chuyển thành chưởng duỗi lên trên và ra trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài; đồng thời chân trái bước lên phía trước, mũi bàn chân hơi xoay ra ngoài; chân phải nhấc lên đá ra phía trước, tay phải vỗ vào mu bàn chân phải, cao ngang ngực; mắt nhìn tay phải. (Hình 86, 87)
图 80
图 80
người luyện tập đứng thân xoay, tay phải duỗi ra trước ngang vai, tay trái giữ lại gần hông trái.
图 83
图 83
người luyện tập nghiêng người tới trước, thân xoay lưng về phía máy ảnh, tay phải cong xuống và vắt ngang trước thân.
图 81
图 81
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực.
图 84
图 84
người luyện tập đứng thân xoay, tay phải duỗi ra trước, tay trái mở giữ trước ngực.
图 82
图 82
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, tay phải nâng cao ngang đầu, tay trái giữ thấp trước thân.
图 85
图 85
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, thân xoay lưng về phía máy ảnh, hai tay duỗi ra trước về phía bên trái.

Cách dùng (用法): nếu đối phương

...đánh tới từ bên phải, ta liền xoay thân sang phải, dùng tay phải chặn tay đối phương, kế đó dùng chân trái đá tới đối phương; cùng lúc chân trái đặt xuống thì nhấc chân phải lên đá, cho nên gọi là "nhị khởi" (二起, hai lần nhấc).

Đệ tứ thập tam thức: Phi Thân Phục Hổ (披身伏虎, tiếng Anh: Drape the Body and Subdue the Tiger)
  • ① Tiếp thức trước, chân phải lui một bước về sau chân trái; đồng thời tay trái duỗi ra phía trước, hai lòng bàn tay hướng vào nhau như đang ôm quả cầu, eo hạ trầm xuống, hơi dừng. (Hình 88)
  • ② Chân trái lui một bước ra sau; hai tay chuyển thành quyền kéo xuống, đi qua bên hông trái rồi vẽ cung tròn ra sau, lên trên, rồi xuống tới trước bụng, hơi dừng; đồng thời mũi bàn chân phải nhấc lên và đưa thẳng sang trái; chân trái hơi khép mũi vào trong. (Hình 89, 90)

Yếu điểm (要点): hai tay kéo về không ngừng lại.

图 86
图 86
người luyện tập đứng trên chân trái, chân phải đá ra trước ngang tầm hông, hai tay mở sang hai bên.
图 89
图 89
người luyện tập đứng dồn trọng tâm lên chân sau, hai tay nâng cao ngang tầm mặt.
图 87
图 87
người luyện tập đứng trên chân trái, chân phải duỗi ra trước ngang tầm hông, tay phải duỗi ra trước.
图 90
图 90
người luyện tập đứng hai tay giữ trước ngực, trọng tâm dồn lên chân sau, bàn chân trước chạm đất bằng gót.
图 88
图 88
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, thân nghiêng tới trước.
图 91
图 91
người luyện tập đứng hai nắm quyền giữ sát trước ngực.

Cách dùng (用法): nếu đối phương dùng hai tay nắm hai cổ tay ta, ...ta lui bước sang trái, xoay eo sang phải vung hai tay để thoát ra. Thức này cũng là một cách vật. Nếu đối phương nắm hai cổ tay ta, hoặc ta nắm hai cổ tay đối phương, ta lui chân phải ra sau, dẫn hai tay đối phương xuống dưới và ra sau, rồi khép mũi chân trái vào trong, xoay thân sang phải, hai tay vung lên trên đầu, khiến hai tay đối phương đi qua vai trái ta, thân thể đối phương liền bị ta cõng trên lưng.

Đệ tứ thập tứ thức: Tả Khởi Cước (左起脚, tiếng Anh: Left Kick)
  • ① Tiếp thức trước, hai quyền chuyển thành chưởng nâng lên trước ngực như thế hợp thủ; đồng thời chân phải hơi nhấc lên, mũi bàn chân xoay ra ngoài và đặt xuống đất theo hướng chếch; đầu gối trái hơi cong, áp sát vào phía trong chân phải, mũi bàn chân chạm đất; hai chân cong; mắt nhìn thẳng phía trước, hơi dừng. (Hình 91)
  • ② Hai tay tách ra như thế đơn tiên; đồng thời chân trái
图 92
图 92
người luyện tập đứng trên một chân, chân kia đá ra ngang sang bên, hai tay duỗi ngang sang hai bên.
图 95
图 95
người luyện tập đứng trên một chân, chân kia nâng ra trước, hai tay duỗi ngang sang hai bên ở tầm vai.
图 93
图 93
người luyện tập đứng trên một chân, đầu gối chân kia nâng ra trước, hai tay chắp trước ngực.
图 96
图 96
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, trọng tâm dồn lên chân sau, một tay duỗi ra trước, tay kia giữ ngang trước ngực.
图 94
图 94
người luyện tập ở tư thế tiến bộ nhìn từ phía sau, hai tay duỗi thấp sang hai bên.
图 97
图 97
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước, tay kia giữ gần ngực.

...chân nhấc lên ngang sang bên trái và chạm vào tay; mắt nhìn ngón trỏ tay trái. (Hình 92)

Đệ tứ thập ngũ thức: Chuyển Thân Hữu Đăng Cước (转身右蹬脚, tiếng Anh: Turn the Body and Right Heel Kick)
  • ① Tiếp thức trước, chân trái thu về thành nâng gối, thân thể xoay sang phải 270°; kế đó chân trái hạ xuống phía ngoài chân phải; gót chân phải nhấc lên và xoay lại đối diện với mũi chân trái; đồng thời hai tay chắp lại như thế hợp thủ. (Hình 93, 94)
  • ② Tiếp đó thân thể hơi xoay sang phải, chân phải hơi xoay mũi ra ngoài, hai tay tách sang hai bên như thế đơn tiên; đồng thời chân phải đăng lên (đá bằng gót); mắt nhìn ngón trỏ tay phải. (Hình 95)

Cách dùng (用法): nếu đối phương dùng móc quyền đánh vào đầu ta (đơn phong quán nhĩ, 单峰贯耳), ta nâng tay chặn lại, đồng thời nhấc chân đá vào bụng đối phương. Phải ra tay và ra chân cùng lúc mới có thể chế phục đối phương.

Đệ tứ thập tam thức: Thượng Bộ Ban Lan Chùy (上步搬拦捶, tiếng Anh: Step Up, Parry, Intercept and Punch)
  • ① Tiếp thức trước, chân phải hạ xuống trước chân trái, mũi bàn chân xoay ra ngoài; đồng thời tay trái duỗi xuống dưới và ra trước, lòng bàn tay hướng lên; tay phải lùa về tới trước sườn phải, lòng bàn tay hướng xuống. (Hình 96)
  • ② Chân trái bước lên, mũi bàn chân phải thẳng; đồng thời tay trái xoay vào trong, lòng bàn tay hướng xuống, kế đó hai tay chuyển thành quyền, quyền phải đánh ra phía trước, mắt quyền hướng lên, quyền trái thu về dưới khuỷu tay phải, tâm quyền hướng xuống; chân phải bước theo tới sau chân trái, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn quyền phải. (Hình 97, 98)
Đệ tứ thập thất thức: Như Phong Tự Bế (如封似闭, tiếng Anh: As if Sealing, as if Closing)

Động tác giống như đệ thập tam thức "như phong tự bế". (Hình 99)

Đệ tứ thập bát thức: Bão Hổ Thôi Sơn (抱虎推山, tiếng Anh: Embrace the Tiger and Push the Mountain)
图 98
图 98
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, hai tay nâng trước ngực ngang tầm mặt.
图 99
图 99
người luyện tập đứng hai nắm quyền giữ sát trước ngực, trọng tâm dồn lên chân sau.
图 100
图 100
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, thân hơi nghiêng tới trước.

(Trang này là trang hình, không có phần chính văn.)

图 101
图 101
người luyện tập đứng hai tay nâng trước ngực ngang tầm vai, hai chân đứng sát nhau.
图 104
图 104
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực.
图 107
图 107
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, nhìn nghiêng từ bên.
图 102
图 102
người luyện tập đứng hai tay cong trước ngực, hai bàn tay chắp vào nhau.
图 105
图 105
người luyện tập ở tư thế cung bộ, hai tay duỗi ra trước, thân hơi nghiêng tới trước.
图 108
图 108
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay cong trước ngực, tay kia duỗi ra trước về phía bên trái.
图 103
图 103
người luyện tập đứng dồn trọng tâm lên chân sau, bàn chân trước chạm đất bằng gót, hai tay giữ sát trước ngực.
图 106
图 106
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay giữ thấp trước thân.
图 109
图 109
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước, tay kia giữ gần ngực.

Động tác giống như thức thứ mười bốn, "Bão hổ thôi sơn" (抱虎推山, ôm hổ đẩy núi). (Hình 100)

Thức thứ bốn mươi chín: Khai thủ, chuyển sang phải (开手, Kāi Shǒu)

Động tác giống như thức thứ mười lăm, "khai thủ". (Hình 101)

Thức thứ năm mươi: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu)

Động tác giống như thức thứ tư, "hợp thủ". (Hình 102)

Thức thứ năm mươi mốt: Lâu tất ảo bộ (搂膝拗步, Lōu Xī Ào Bù)

Động tác giống như thức thứ mười bảy, "lâu tất ảo bộ". (Hình 103, 104)

Thức thứ năm mươi hai: Lãn trát y (懒扎衣, Lǎn Zhā Yī)

Động tác giống như thức thứ mười tám, "lãn trát y". (Hình 105, 106, 107, 108, 109, 110)

Thức thứ năm mươi ba: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu)
图 110
图 110
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, tay trái duỗi ra trước ngang tầm ngực, tay phải nâng gần bên thái dương phải.
图 113
图 113
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, cánh tay trái duỗi ra trước ngang tầm vai, tay phải giữ trước ngực.
图 111
图 111
người luyện tập đứng hai tay cong trước ngực, hai bàn tay giữ vào nhau ngang tầm mặt.
图 114
图 114
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, hai tay duỗi ra phía bên trái ngang tầm vai, thân xoay sang trái.
图 112
图 112
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước, tay phải ở trên tay trái.
图 115
图 115
người luyện tập đứng ở tư thế tiến bộ, cánh tay trái duỗi ra trước ngang tầm ngực, tay phải giữ bên hông phải.

Động tác giống như thức thứ ba, "khai thủ", chỉ khác là hướng chếch sang phải 45°.

Thức thứ năm mươi tư: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu)

Động tác giống như thức thứ tư, "hợp thủ", chỉ khác là hướng chếch sang phải 45°. (Hình 112)

Thức thứ năm mươi lăm: Tà đơn tiên (斜单鞭, Xié Dān Biān)

Nối tiếp thức trước, chân trái bước ra chếch về phía trước bên trái, hai tay tách ngang ra. (Hình 113)

Thức thứ năm mươi sáu: Dã mã phân tông (野马分鬃, Yě Mǎ Fēn Zōng)
  • ① Nối tiếp thức trước, chân trái thu lại sát chân phải, cả bàn chân đặt trên mặt đất; đồng thời tay trái vạch cung xuống dưới tới trước bụng; mắt nhìn tay phải. (Hình 114)
  • ② Tay trái đi lên ngang qua ngực, rồi vạch cung sang trái tới bên trái thân; đồng thời chân trái bước ra phía bên trái, mũi bàn chân hơi hướng ra ngoài; mắt nhìn tay trái. (Hình 115)
  • ③ Tay phải vạch cung xuống tới trước bụng, rồi đi lên ngang qua mặt và vạch cung sang phải tới bên phải thân; đồng thời chân phải thu sát chân trái (mũi bàn chân chạm đất, hai chân cách nhau khoảng 10 cm), rồi bước ra một bước về phía phải; lúc này lại trở về thế đơn tiên, nhưng trọng tâm nghiêng về chân phải. (Hình 116, 117)
  • ④ Chân trái bước tới trước chân phải, mũi bàn chân hướng ra ngoài đặt xuống theo đường chéo, hai chân cong; đồng thời hai tay đi xuống dưới, giao nhau về phía trước (lòng bàn tay hơi hướng ra ngoài, tay trái ở trên, tay phải ở dưới, hai cánh tay hơi cong), rồi lập tức tách ra trái phải, mỗi tay vạch một vòng tới trước ngực, lòng bàn tay phải hướng lên, lòng bàn tay trái hướng xuống; mắt nhìn phía trước dưới. (Hình 118, 119)
Thức thứ năm mươi bảy: Lãn trát y (懒扎衣, Lǎn Zhā Yī)
  • ① Nối tiếp thức trước, chân phải bước lên phía trước; chân trái tiếp đó theo tới sau chân phải, mũi bàn chân chạm đất, dừng lại một chút rồi lại lùi về sau; đồng thời trọng tâm thân chuyển sang chân trái, mũi bàn chân phải nhấc lên; tay trái đỡ lấy cổ tay phải cùng đẩy tới trước (lòng bàn tay phải hướng lên, lòng bàn tay trái hướng xuống), rồi vòng ngang sang phải, ra sau tới trước vai phải, hai lòng bàn tay đều hướng ra ngoài. (Hình 120, 121, 122)
  • ② Hai tay cùng đẩy ra trước; chân trái theo đó bước tới sau chân phải khoảng 10 cm, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn ngón trỏ tay phải. (Hình 123)
Thức thứ năm mươi tám: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu)

Động tác giống như thức thứ ba, "khai thủ". (Hình 124)

Thức thứ năm mươi chín: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu)

Động tác giống như thức thứ tư, "hợp thủ". (Hình 125)

Thức thứ sáu mươi: Đơn
图 116
图 116
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, cánh tay trái duỗi ra trước ngang tầm vai, tay phải giữ trước ngực.
图 119
图 119
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, tay trái giữ thấp trước thân, tay phải nâng trước ngực, hai chân cách xa nhau.
图 122
图 122
người luyện tập đứng dồn trọng tâm lên chân sau, hai tay giữ trước vai phải ngang tầm vai.
图 117
图 117
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, tay trái duỗi ra trước, tay phải kéo về gần bên phải thân.
图 120
图 120
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay cong giữ ra trước trước ngực.
图 123
图 123
người luyện tập đứng dồn trọng tâm lên chân sau, hai tay duỗi ra trước ngang tầm vai.
图 118
图 118
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, hai tay giữ thấp trước thân, thân xoay sang trái.
图 121
图 121
người luyện tập ở tư thế tiến bộ rộng, một tay duỗi ra trước, tay kia giữ ở ngực.

Tiên

Động tác giống như thức thứ năm, "đơn tiên". (Hình 126)

Thức thứ sáu mươi mốt: Hữu thông bối chưởng (右通背掌, Yòu Tōng Bèi Zhǎng)

Nối tiếp thức trước, tay trái đi lên trên, vạch cung sang phải tới khi mu bàn tay dán vào trán; thân xoay sang phải, mũi bàn chân trái nhấc lên cũng xoay theo sang phải. Đồng thời chân phải hướng ra ngoài, mũi bàn chân hơi khép vào trong, cổ tay phải trầm xuống và không động; mắt nhìn ngón trỏ tay phải. (Hình 127)

Thức thứ sáu mươi hai: Ngọc nữ xuyên toa (玉女穿梭, Yù Nǚ Chuān Suō)
  • ① Nối tiếp thức trước, tay phải thu về, lòng bàn tay chếch xuống dưới, một bên ngón cái đối vào trước ngực; tay trái xoay ra ngoài, cuộn vào trong và đi xuống tới trước tay phải, lòng bàn tay hướng lên; đồng thời chân phải hơi lùi về và hướng ra ngoài, hai chân hơi cong, mắt nhìn tay phải. (Hình 128)
  • ② Tay trái xoay vào trong
图 124
图 124
người luyện tập đứng hai tay cong trước ngực, hai bàn tay giữ ngang tầm mặt, hai chân đứng sát nhau.
图 127
图 127
người luyện tập đứng tay trái nâng trên trán, cánh tay phải duỗi ra trước ngang tầm vai, thân xoay sang phải.
图 125
图 125
người luyện tập đứng hai tay cong trước ngực, hai cẳng tay giữ ngang, hai chân đứng sát nhau.
图 128
图 128
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, tay trái giữ trước ngực, tay phải duỗi ra trước ở vị trí thấp, hai đầu gối cong.
图 126
图 126
người luyện tập ở tư thế đứng rộng, hai tay duỗi ra hai bên ngang tầm vai, thân hướng về phía trước.
图 129
图 129
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước ngang tầm vai, tay kia giữ ở ngực.

lên trên tới khi mu bàn tay tựa vào trán; chân trái bước ra chếch về phía trước bên trái (hướng về tây nam), chân phải theo tới sau chân trái cách khoảng 10 cm; đồng thời tay phải đặt trước ngực và nhẹ nhàng đẩy ra trước (khuỷu tay tựa vào thân). (Hình 129)

  • ③ Bàn chân trái khép vào trong, thân xoay sang phải khoảng 180°, tay trái đi xuống tới trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải xoay vào trong và hơi đi lên, lòng bàn tay hướng lên (hai khuỷu tay tựa vào thân). (Hình 130)
  • ④ Tay phải xoay vào trong và đi lên tới khi mu bàn tay tựa vào trán; đồng thời chân phải bước ra chếch về phía trước bên phải (hướng về đông nam); chân trái theo tới sau chân phải khoảng 10 cm; tay trái từ trước ngực nhẹ nhàng đẩy ra trước (hai khuỷu tay vẫn tựa vào thân). (Hình 131)
  • ⑤ Chân phải hơi bước ra trước, mũi bàn chân hơi khép vào trong; đồng thời tay phải hạ xuống tới trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái xoay ra ngoài và đi lên, lòng bàn tay hướng lên, hai khuỷu tay tựa vào thân, tư thế giống như ①, chỉ khác là hướng ngược lại. (Hình 132)
  • ⑥ Chân trái bước ra chếch về phía trước bên trái (hướng về đông bắc); tay trái xoay vào trong và đi xuống tới trước trán, lòng bàn tay hướng ra trước; chân phải theo tới, tư thế giống như đoạn ②, chỉ khác là hướng ngược lại. (Hình 133)
  • ⑦ Thân xoay sang phải, quá trình động tác tay chân đều giống như đoạn ③, chỉ khác là hướng ngược lại. (Hình 134)
  • ⑧ Chân phải lùi một bước sang phải, chân trái theo tới phía trong chân phải, thân xoay sang phải 90°; đồng thời tay trái đẩy tới trước
图 130
图 130
người luyện tập đứng ở tư thế rộng, một tay giữ trước ngực, tay kia duỗi ra trước ngang tầm vai, thân xoay.
图 131
图 131
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước ngang tầm vai, tay kia giữ trước ngực, thân xoay sang bên.
图 132
图 132
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay nâng trên trán, tay kia duỗi ra trước ngang tầm vai, thân xoay sang trái.

ra, cánh tay hơi cong, lòng bàn tay hướng ra trước, các đầu ngón tay hướng lên; tay phải xoay vào trong và đi lên tới trước trán, lòng bàn tay hướng chếch ra trước; mắt nhìn tay trái. (Hình 135)

Thức thứ sáu mươi ba: Lãn trát y (懒扎衣, Lǎn Zhā Yī; Lazily Tucking the Robe)

Động tác giống như thức thứ mười tám “Lãn trát y” (懒扎衣). (Hình 136, 137, 138, 139, 140, 141)

Thức thứ sáu mươi tư: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu; Opening the Hands)

Động tác giống như thức thứ ba “Khai thủ” (开手). (Hình 142)

Thức thứ sáu mươi lăm: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu; Closing the Hands)

Động tác giống như thức thứ tư “Hợp thủ” (合手). (Hình 143)

Thức thứ sáu mươi sáu: Đơn tiên (单鞭, Dān Biān; Single Whip)

Động tác giống như thức thứ năm “Đơn tiên” (单鞭). (Hình 144)

Thức thứ sáu mươi bảy: Vân thủ (云手, Yún Shǒu; Cloud Hands)

Động tác giống như thức thứ ba mươi sáu “Vân thủ” (云手). (Hình 145, 146)

Thức thứ sáu mươi tám: Vân thủ hạ thức (云手下式, Yún Shǒu Xià Shì; Cloud Hands Lower Posture)

Tiếp theo thức trước, khi hai tay đã vân tới bên phải, lòng bàn tay phải lật ngửa lên và đẩy thẳng ra trước theo chiều ngang, cổ tay phải trầm xuống; tay trái vẫn đi lên vẽ cung tới trước hông trái; đồng thời chân phải theo tới sau chân trái. Sau đó tay trái đẩy ra trước từ trên mu bàn tay phải, cổ tay trầm xuống, lòng bàn tay hướng chếch ra trước; tay phải kéo về bên hông phải, lòng bàn tay hướng xuống; chân trái bước ra trước, hai chân cong; trọng tâm thân chuyển sang chân phải; mắt nhìn tay trái. (Hình 147, 148, 149)

Thức thứ sáu mươi chín: Kim kê độc lập (金鸡独立, Jīn Jī Dú Lì; Golden Rooster Stands on One Leg)
  • ① Tiếp theo thức trước, trọng tâm thân chuyển ra trước, tay phải từ bên hông phải đi ra trước rồi lên trên tới bên tai, đầu ngón tay ngang tầm tai; tay trái đi xuống vẽ cung tới bên hông trái, đầu ngón tay hướng xuống; đồng thời chân phải áp sát chân trái nâng lên trên tạo thành góc vuông với thân, mũi bàn chân hếch lên, gót chân ấn xuống; chân trái hơi cong, tháp yêu (塌腰); mắt nhìn ra trước, dừng lại một chút. (Hình 150, 151)
  • ② Chân phải hạ xuống ra trước, chân vẫn cong; đồng thời tay phải đi xuống vẽ cung tới bên hông phải, đầu ngón tay hướng xuống; tay trái từ bên hông trái đi lên tới bên tai, đầu ngón tay ngang tầm tai; chân trái áp sát chân phải nâng lên trên. (Hình 152)
图 133
图 133
người luyện tập đứng ở tư thế hẹp, thân xoay sang bên, một tay nâng lên ngang tầm mặt phía trước, tay kia giữ thấp trước ngực.
图 136
图 136
người luyện tập ở tư thế tiến bộ thấp và rộng, thân ngả ra trước, hai tay duỗi ra trước và xuống dưới, hai bàn tay giữ thấp phía trước.
图 139
图 139
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước ngang tầm vai, tay kia giữ trước ngực, thân xoay.
图 134
图 134
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 137
图 137
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước và xuống dưới, lòng bàn tay hướng xuống, thân ngả ra trước.
图 140
图 140
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước, tay kia giữ trước ngực, thân xoay.
图 135
图 135
người luyện tập ở tư thế đứng, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, lòng bàn tay hướng ra trước.
图 138
图 138
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực.
图 141
图 141
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai bàn tay chụm lại trước ngực, hai khuỷu tay cong.
图 142
图 142
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai tay nâng trước ngực ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng vào nhau, hai khuỷu tay mở ra.
图 145
图 145
người luyện tập đứng, một tay duỗi ngang ra bên ở tầm vai, tay kia hạ xuống, thân xoay.
图 148
图 148
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước ngang tầm vai, tay kia hạ xuống, thân xoay.
图 143
图 143
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai tay cong trước ngực, hai bàn tay chụm lại ngang tầm ngực.
图 146
图 146
người luyện tập đứng, một tay duỗi ngang ra bên ở tầm vai, tay kia giữ trước ngực, thân xoay.
图 149
图 149
người luyện tập ở tư thế tiến bộ thấp, một tay duỗi ra trước, tay kia hạ xuống bên hông, thân xoay.
图 144
图 144
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ngang ra hai bên ở tầm vai, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
图 147
图 147
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ra trước và ra ngoài, thân xoay.
图 150
图 150
người luyện tập ở tư thế thấp, một tay nâng lên bên đầu, tay kia hạ xuống trước thân.

Yếu điểm (要点): thân phải thẳng, tháp yêu (塌腰), chân phải vẫn cong.

Thức thứ bảy mươi: Đảo niển hầu (倒撵猴, Dào Niǎn Hóu; Step Back and Repulse the Monkey)

Động tác giống như thức thứ hai mươi ba “Đảo niển hầu” (倒撵猴). (Hình 153, 154, 155, 156)

Thức thứ bảy mươi mốt: Thủ huy tỳ bà, thức phải (手挥琵琶, Shǒu Huī Pí Pá; Hands Play the Pipa, Right Form)

Động tác giống như thức thứ hai mươi lăm “Thủ huy tỳ bà” (手挥琵琶). (Hình 157)

Thức thứ bảy mươi hai: Bạch hạc lượng sí (白鹤亮翅, Bái Hè Liàng Chì; White Crane Spreads Its Wings)

Động tác giống như thức thứ bảy “Bạch hạc lượng sí” (白鹤亮翅).

图 151
图 151
người luyện tập đứng trên một chân, đầu gối chân kia nâng lên, một tay nâng bên tai, tay kia hạ xuống bên thân.
图 152
图 152
người luyện tập đứng với một chân nâng lên, một tay nâng bên đầu, tay kia hạ xuống, thân thẳng.
图 155
图 155
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước, thân xoay.
图 153
图 153
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước và xuống dưới, thân xoay.
图 156
图 156
người luyện tập đứng thẳng, hai tay giữ trước ngực.
图 154
图 154
người luyện tập ở tư thế tiến bộ nhìn từ phía sau, hai tay duỗi ra trước và xuống dưới.
图 157
图 157
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai tay giữ trước ngực, một tay đặt ở cổ tay kia.

(Hình 158, 159, 160)

Thức thứ bảy mươi ba: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu; Opening the Hands)

Động tác giống như thức thứ ba “Khai thủ” (开手). (Hình 161)

Thức thứ bảy mươi tư: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu; Closing the Hands)

Động tác giống như thức thứ tư “Hợp thủ” (合手). (Hình 162)

Thức thứ bảy mươi lăm: Lâu tất ảo bộ (搂膝拗步, Lōu Xī Ào Bù; Brush the Knee and Twist the Step)

Động tác giống như thức thứ mười “Lâu tất ảo bộ” (搂膝拗步). (Hình 163, 164)

Thức thứ bảy mươi sáu: Thủ huy tỳ bà (手挥琵琶, Shǒu Huī Pí Pá; Hands Play the Pipa)

Động tác giống như thức thứ mười một “Thủ huy tỳ bà” (手挥琵琶). (Hình 165)

Thức thứ bảy mươi bảy: Tam thông bối (三通背, Sān Tōng Bèi; Three Penetrations of the Back)

Động tác giống như thức thứ ba mươi mốt “Tam thông bối” (三通背). (Hình 166, 167, 168, 169, 170, 171, 172, 173)

Thức thứ bảy mươi tám: Lãn trát y (懒扎衣, Lǎn Zhā Yī; Lazily Tucking the Robe)
图 158
图 158
người luyện tập đứng thẳng, một tay nâng lên trên đầu, tay kia hạ xuống trước thân.
图 161
图 161
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai tay nâng trước ngực ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng vào nhau, hai khuỷu tay mở ra.
图 159
图 159
người luyện tập đứng thẳng, hai tay giữ trước ngực.
图 162
图 162
người luyện tập đứng thẳng, hai chân khép gần nhau, hai cẳng tay bắt chéo trước ngực.
图 160
图 160
người luyện tập đứng thẳng, hai tay giữ trước ngực.
图 163
图 163
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước, tay kia hạ xuống trước thân.
图 164
图 164
người luyện tập đứng, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động kéo theo từ hai bàn tay, thân mình xoay.
图 167
图 167
người luyện tập cúi gập từ eo, thân trên hạ thấp, hai tay duỗi xuống dưới trước thân.
图 170
图 170
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước trước ngực, thân mình xoay.
图 165
图 165
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, hai bàn tay để gần nhau.
图 168
图 168
người luyện tập ở tư thế rộng, một tay nâng lên trên đầu, tay kia duỗi ra bên ngang tầm vai.
图 171
图 171
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay giữ trước ngực, một vệt đường cong chuyển động.
图 166
图 166
người luyện tập đứng, hai tay giữ trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, thân mình xoay.
图 169
图 169
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay nâng lên trước, tay kia giữ trước ngực, thân mình xoay.
图 172
图 172
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, thân mình xoay.

Động tác giống như thức thứ ba mươi hai “Lãn trát y” (懒扎衣). (Hình 174, 175, 176)

Thức thứ bảy mươi chín: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu; Opening the Hands)

Động tác giống như thức thứ ba “Khai thủ” (开手). (Hình 177)

Thức thứ tám mươi: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu; Closing the Hands)

Động tác giống như thức thứ tư “Hợp thủ” (合手). (Hình 178)

Thức thứ tám mươi mốt: Đơn tiên (单鞭, Dān Biān; Single Whip)

Động tác giống như thức thứ năm “Đơn tiên” (单鞭). (Hình 179)

Thức thứ tám mươi hai: Vân thủ (云手, Yún Shǒu; Cloud Hands)

Động tác giống như thức thứ ba mươi sáu “Vân thủ” (云手). (Hình 180, 181)

Thức thứ tám mươi ba: Cao thám mã (高探马, Gāo Tàn Mǎ; High Pat on Horse)

Động tác giống như thức thứ ba mươi bảy “Cao thám mã” (高探马). (Hình 182)

Thức thứ tám mươi tư: Thập tự bãi liên (十字摆莲, Shí Zì Bǎi Lián; Crosswise Swing Lotus)
  • ① Mũi bàn chân phải xoay ra ngoài.
图 173
图 173
người luyện tập đứng, thân mình xoay sang bên, hai tay giữ trước thân, một vệt đường cong chéo.
图 176
图 176
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay nâng trước ngực ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng vào nhau, hai khuỷu tay mở ra.
图 174
图 174
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, thân mình xoay.
图 177
图 177
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay nâng trước ngực, lòng bàn tay hướng vào nhau, hai khuỷu tay mở ra.
图 175
图 175
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, thân mình xoay.
图 178
图 178
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay giữ trước ngực, hai khuỷu tay mở ra.

Cho đến khi gót chân ngang bằng với mũi bàn chân trái; đồng thời tay trái xoay ra ngoài rồi vào trong tới trước ngực, lòng bàn tay hướng lên; tay phải xoay vào trong tới trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống, hai lòng bàn tay đối nhau cách khoảng 10 cm; mắt nhìn tay phải. (Hình 183)

  • ② Chân trái bước lên trước, mũi bàn chân khép vào trong tạo thành thế bát tự (八字步, bā zì bù) với chân trái, thân mình xoay sang trái 90°; hai tay đổi vị trí trước ngực, tay phải ở dưới, lòng bàn tay hướng lên, tay trái ở trên, lòng bàn tay hướng xuống; kế đó hai chân hơi cong, hai tay biến thành chưởng đứng bắt chéo (立掌, lì zhǎng), tay phải ở ngoài, tay trái ở trong, ngón cái hơi tựa vào ngực; mắt nhìn hai tay. (Hình 184, 185)
  • ③ Chân phải nâng đầu gối, đầu gối hơi xoay ra ngoài; đồng thời hai tay như thế đơn tiên, tách ra trái phải; mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 186)
Thức thứ tám mươi lăm
图 179
图 179
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ra hai bên ngang tầm vai, thân mình xoay.
图 182
图 182
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay chụm vào nhau trước ngực.
图 180
图 180
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, một tay duỗi ra trước ngang tầm vai, tay kia giữ trước ngực, thân mình xoay.
图 183
图 183
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai cẳng tay giữ trước ngực, hai bàn tay để gần nhau.
图 181
图 181
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, một tay duỗi ra trước ngang tầm ngực, một vệt đường cong chuyển động, tay kia giữ trước ngực.
图 184
图 184
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay giữ trước ngực, một vệt đường cong chuyển động.
Thức thứ tám mươi lăm: Tiến bộ chỉ đang chùy (进步指裆捶, Jìn Bù Zhǐ Dāng Chuí; Step Forward and Strike the Crotch)

Tiếp thức trước, tay phải biến thành quyền, hai tay cùng duỗi ra trước, tay trái đỡ vào cổ tay phải, mắt quyền phải hướng lên; đồng thời chân phải bước lên trước, chân trái theo bước; tiếp đó chân phải lại bước lên một bước nữa, chân trái lại theo bước tới sau chân phải, mũi bàn chân chạm đất, thân thể thành hình gấp ba; mắt nhìn tay phải. (Hình 187)

Yếu điểm: khi bước chân, thân thể tựa như chim bay từ trên cây thu cánh nghiêng lao xuống dưới.

Thức thứ tám mươi sáu: Thoái bộ lãn trát y (退步懒扎衣, Tuì Bù Lǎn Zhā Yī; Step Back Lazy Tucking the Robe)

Tiếp thức trước, chân trái lui về sau, mũi bàn chân phải hếch lên; đồng thời tay phải biến thành chưởng, vẽ vòng ngang lên sang phải, ra sau, rồi đẩy ra trước; tay trái đỡ cổ tay phải; mắt nhìn tay phải. (Hình 188, 189, 190)

Thức thứ tám mươi bảy: Khai thủ (开手, Kāi Shǒu; Opening the Hands)

Động tác giống như thức thứ ba “Khai thủ” (开手). (Hình 191)

Thức thứ tám mươi tám: Hợp thủ (合手, Hé Shǒu; Closing the Hands)

Động tác giống như thức thứ tư “Hợp thủ” (合手). (Hình 192)

Thức thứ tám mươi chín: Đơn tiên (单鞭, Dān Biān; Single Whip)

Động tác giống như thức thứ năm “Đơn tiên” (单鞭). (Hình 193)

Thức thứ chín mươi: Đơn tiên hạ thế (单鞭下势, Dān Biān Xià Shì; Single Whip Lower Posture)
图 185
图 185
người luyện tập ở tư thế ngồi xổm thấp, hai đầu gối cong sâu, hai tay chụm vào nhau trước ngực.
图 186
图 186
người luyện tập đứng trên một chân, đầu gối chân kia nâng lên, hai tay hạ xuống và tách ra hai bên.
图 187
图 187
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, một tay duỗi ra trước và xuống dưới, thân mình nghiêng về trước.
图 188
图 188
người luyện tập ở tư thế tiến bộ, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, thân mình xoay.

Tiếp thức trước, tay phải vạch cung xuống dưới, co cánh tay tới bên hông phải, lòng bàn tay hướng xuống; đồng thời tay trái hơi hạ xuống, lòng bàn tay nghiêng xuống dưới; thân mình ngồi lui về sau, trọng tâm chuyển sang chân phải; mắt nhìn ngón trỏ tay trái. (Hình 194)

Thức thứ chín mươi mốt: Thượng bộ thất tinh (上步七星, Shàng Bù Qī Xīng; Step Up Seven Stars)

Tiếp thức trước, tay phải từ bên hông phải vạch cung ra trước, lên trên, luồn ra từ dưới cổ tay trái, hai cổ tay bắt chéo, thu vào trước ngực cách nhau khoảng 10 cm, tay phải ở ngoài, các đầu ngón tay đều hướng lên; khi tay phải duỗi ra, chân trái hơi dịch về trước, gót chân phải theo tới sau chân trái, mũi bàn chân chạm đất; mắt nhìn hai tay. (Hình 195)

Yếu điểm: thân trên phải thẳng, eo phải trầm xuống (tháp yêu), hai chân phải cong.

Cách dùng: nếu đối phương từ dưới đánh lên mặt ta, ta dùng hai chưởng đỡ lấy, thuận thế nắm bắt và ấn xuống.

Thức thứ chín mươi hai: Thoái bộ khóa hổ (退步跨虎, Tuì Bù Kuà Hǔ; Step Back and Bestride the Tiger)
图 189
图 189
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động, thân mình xoay.
图 192
图 192
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay nâng trước ngực ngang tầm vai, lòng bàn tay hướng vào nhau, hai khuỷu tay mở ra.
图 190
图 190
người luyện tập ở tư thế đứng tấn, hai tay duỗi ra trước trước ngực, một vệt đường cong chuyển động.
图 193
图 193
người luyện tập ở tư thế rộng, hai tay duỗi ra hai bên ngang tầm vai.
图 191
图 191
người luyện tập đứng hai chân khép gần nhau, hai tay giữ trước ngực.
图 194
图 194
người luyện tập ở tư thế thấp và rộng, một tay duỗi ra trước và xuống dưới, một vệt đường cong chuyển động, tay kia hạ xuống bên hông, thân mình xoay.

Tiếp thức trước, hai tay

Hai tay tách ra, tay trái vuốt xuống tới bên hông trái, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải xoay ngoài lên trên, xuống dưới, lại lên trên, ra trước, qua trước trán rồi xoay trong ấn xuống trước bụng, lòng bàn tay hướng xuống; đồng thời chân phải lùi một bước về sau, mũi bàn chân hơi xiên ra ngoài; chân trái lùi tới trước chân phải, mũi bàn chân chạm đất; đồng thời tháp yêu co gối, tay phải giơ lên, chân trái nâng gối, mũi bàn chân hếch lên. (Hình 196, 197)

图 195
图 195
người luyện tập đứng thẳng, tay phải giơ lên quá đầu, tay trái hạ xuống bên hông trái, gối chân trái nâng lên, mũi bàn chân hếch lên.
图 196
图 196
người luyện tập co gối phải ngồi xổm, gối chân trái nâng lên, hai tay một trên một dưới trước thân, có vệt đường cong chuyển động.
图 197
图 197
người luyện tập co gối phải ngồi xổm, gối chân trái nâng lên, tay phải giơ lên trước trán, tay trái hạ xuống bên hông trái.

Yếu điểm: động tác của thân thể và của tay chân phải phối hợp nhịp nhàng, thống nhất.

Cách dùng: nếu đối phương dùng tay đánh vào phần giữa hoặc phần dưới của ta, ta lùi bước, hai tay che lấy tay đối phương rồi dẫn kéo về sau, khiến đối phương mất thăng bằng, đồng thời nâng chân trái đá.

Thức thứ chín mươi ba: Chuyển giác bái liên (转角摆莲, Zhuǎn Jiǎo Bǎi Lián; Turning the Corner and Swinging the Lotus)
  • ① Tiếp thức trước, gót chân phải nâng lên, thân thể xoay sang phải 360°, khi xoay tới hướng tây nam thì chân trái đặt xuống đất, mũi hai bàn chân đối nhau; tiếp đó mũi bàn chân trái hếch lên, vặn xoay sang phải; chân phải nâng lên và đá vung sang phải; hai tay vạch cung lên trên, sang phải, tới khi tới phía trước bên phải thì đập vào gối phải (tay trái đập trước, tay phải đập sau); mắt nhìn chân phải. (Hình 198, 199)
  • ② Chân phải đặt xuống theo hướng xiên sang phải, hai tay xoay ngoài kéo về tới hai bên khuỷu tay, lòng bàn tay đều hướng lên; mắt nhìn về phía trước. (Hình 200)

Cách dùng: nếu đối phương dùng quyền phải đánh tới, ta dùng quyền phải dẫn sang phải, lúc tay trái đẩy ra thì chuyển thân dùng chân phải đá vào lưng đối phương.

Thức thứ chín mươi tư: Loan cung xạ hổ (弯弓射虎, Wān Gōng Shè Hǔ; Bending the Bow to Shoot the Tiger)

Tiếp thức trước, hai tay cùng duỗi ra trước; trong quá trình duỗi, hai tay xoay trong, lòng bàn tay đều hướng xuống, cao ngang vai, hai cánh tay hơi cong; trọng tâm thân thể theo đó chuyển ra trước tới chân phải; mắt nhìn vào giữa hai tay. (Hình 201)

Cách dùng: nếu đối phương dùng tay trái đánh tới, ta tiến chân phải về phía bên trái của đối phương, đồng thời hai tay chặn lấy tay đánh tới và quấn chặt rồi ấn xuống để triệt lực của đối phương, tiếp đó đánh vào ngực đối phương. Mấu chốt của thức này là gá tay và tiến bước phải cùng một lúc.

Thức thứ chín mươi lăm: Song chàng chùy (双撞捶, Shuāng Zhuàng Chuí; Double Thrusting Punch)

Tiếp thức trước, chân trái bước lên tới bên cạnh chân phải, mũi bàn chân chạm đất; hai tay biến thành quyền kéo về trước ngực, mắt quyền hướng xuống; tiếp đó chân trái tiến lên (hướng đông bắc); hai quyền đâm ra trước, hai cánh tay hơi cong, mắt quyền hướng xuống; chân phải theo bước, mũi bàn chân xiên ra ngoài đặt xuống đất, cách gót chân trái khoảng 10 cm. (Hình 202, 203)

Yếu điểm: hai chân cong, tháp yêu, hơi dừng lại.

Cách dùng: giả sử hai tay ta ấn ra trước, đối phương dùng hai tay đè xuống, ta thuận thế tách xuống dưới, vòng từ phía ngoài qua hai cánh tay đối phương rồi đánh lên ngực.

Thức thứ chín mươi sáu: Âm dương hỗn nhất (阴阳混一, Yīn Yáng Hùn Yī; Yin and Yang Merged into One)
  • ① Tiếp thức trước, thân thể xoay sang phải, hai quyền theo đà xoay cuộn vào trong, lòng bàn tay hướng lên (quyền phải ở chỗ cổ tay trái, hai khuỷu tay áp sát sườn); đồng thời chân trái khép mũi vào trong, chân phải lùi về sau, mũi bàn chân hướng ra ngoài; mắt nhìn quyền trái. (Hình 204, 205)
  • ② Quyền trái từ dưới cổ tay phải vòng ra ngoài tới bên ngoài quyền phải, quyền phải xoay trong hơi hướng vào trong, hai khuỷu tay buông xuống, hai quyền giao chéo; mũi bàn chân trái hếch lên và hơi chuyển ra trước; trọng tâm thân thể chuyển sang chân phải, hai chân cong, eo phải giữ tháp yêu; mắt nhìn vào giữa hai quyền, hơi dừng lại. (Hình 206, 207)
图 198
图 198
hai cánh tay duỗi ra trước ôm trước ngực, có vệt đường cong chuyển động, thân mình ngả về trước.
图 199
图 199
người luyện tập trụ trên một chân, chân kia nâng gối đá vung ra, hai tay trước thân có vệt đường cong chuyển động.
图 200
图 200
hai cánh tay duỗi ra trước ngang vai, hai tay xoay trong, thân mình ngả về trước.
图 201
图 201
hai cánh tay duỗi ra trước ôm trước ngực, cao ngang vai, có vệt đường cong chuyển động, ở tư thế tiến bộ.
图 204
图 204
hai tay nắm quyền trước ngực, hai khuỷu tay áp sát sườn, thân mình xoay.
图 207
图 207
hai quyền giao chéo trước ngực, hai khuỷu tay buông xuống, thân mình đứng thẳng.
图 202
图 202
hai quyền đâm ra trước, hai cánh tay hơi cong, thân mình ngả về trước.
图 205
图 205
hai quyền đối nhau trước ngực, thân mình xoay, hai chân cong.
图 208
图 208
người luyện tập đứng thẳng hai chân sát nhau, hai tay tách ra buông xuống hai bên hông, mắt nhìn ngang.
图 203
图 203
hai quyền đâm ra trước, chân trái ở trước thành tư thế tiến bộ, thân mình ngả về trước.
图 206
图 206
hai quyền giao chéo trước ngực, thân mình đứng thẳng, mũi bàn chân trái hếch lên.

ngoài, quyền phải xoay trong hơi hướng vào trong, hai khuỷu tay buông xuống, hai quyền giao chéo; mũi bàn chân trái hếch lên và hơi chuyển ra trước; trọng tâm thân thể chuyển sang chân phải, hai chân cong, eo phải giữ tháp yêu; mắt nhìn vào giữa hai quyền, hơi dừng lại. (Hình 206, 207)

Thức thứ chín mươi bảy: Thu thức (收式, Shōu Shì; Closing Posture)

Tiếp thức trước, hai tay biến thành chưởng tách ra hai bên tới hai bên hông; chân trái khép sát chân phải, thân thể đứng thẳng; mắt nhìn ngang. (Hình 208)

(Trang này không có ảnh minh họa nào được in.) (Trang quét này là trang trắng: không có chữ in, không có ảnh minh họa và không có số trang in nào trên đó.)

Hạ biên (下编, Part Two)

Phần 171

Trang sách 703

1. Thôi thủ pháp của Thái Cực Quyền (太极拳推手法, Tàijíquán Tuīshǒu Fǎ)

1. Thôi thủ pháp của Thái Cực Quyền (太极拳推手法, Tàijíquán Tuīshǒu Fǎ)

Mọi môn quyền thuật đều hàm chứa hai phần "thể" và "dụng", nhưng "thể" và "dụng" tương quan lẫn nhau, Thái Cực Quyền cũng không ngoại lệ. Các thức trong bài quyền Thái Cực là "thể", là công phu tri kỷ (知己功, zhī jǐ gōng); tuy "dụng" ở trong đó, nhưng khi luyện một mình thì khó cảm nhận được phương pháp và chỗ vi diệu của "dụng", cho nên mới có thôi thủ (推手, tuī shǒu) của Thái Cực Quyền để đưa vào ứng dụng.

Thôi thủ của Thái Cực Quyền lấy việc luyện "dụng" làm chính, tìm con đường đưa tới hiệu dụng. Cách dùng của nó gồm tám pháp bằng, lữ, tễ, án, thái, liệt, trửu, kháo; trong tám pháp ấy lấy bốn thủ bằng, lữ, tễ, án làm nền tảng. Mới luyện thôi thủ, cần trước hết lấy "tứ thủ" làm cách luyện cơ bản, luyện đi luyện lại, để tâm thể nghiệm, luyện tới chỗ dính liền dính theo, không buông không đỉnh, tay chân linh hoạt mà có chừng mực, phán đoán chính xác được độ lớn của kình nơi đối phương, mới có thể đạt tới hiệu quả "dẫn vào rơi vào chỗ không" và "lay động bốn lạng bạt ngàn cân". Thái, liệt, trửu, kháo cùng các thứ thủ pháp khác đều do trong đó biến hóa mà ra. Đến lúc ấy thì toàn thân hư linh, tròn sống không vướng mắc, biến hóa vô cùng, mà bút mực không thể nói hết.

Bộ pháp của thôi thủ có tĩnh bộ (định bộ), động bộ (hoạt bộ), hợp bộ, thuận bộ, v.v. Người mới học thôi thủ nên lấy tĩnh bộ làm gốc; tĩnh bộ thuần thục rồi mới tập động bộ. Trong đó hợp bộ và thuận bộ đều có thể dùng, thành ra bốn loại: tĩnh bộ (hợp, thuận) và động bộ (hợp, thuận).

1. Tĩnh bộ thôi thủ pháp (静步推手法, Jìng Bù Tuī Shǒu Fǎ)

(1)Khởi thức (起式, qǐ shì) (nữ là Giáp, nam là Ất)

  • ① Giáp và Ất đứng đối diện nhau, cách nhau khoảng hai bước. (Hình 一)
  • ② Giáp và Ất mỗi người tiến chân trái lên trước, tay trái ở phía trước, lòng bàn tay hướng ra sau, tay phải đỡ trên cẳng tay trái, cổ tay phải cách ngực khoảng 15 cm. (Hình 二)

(2)Giáp tễ thủ, Ất lữ thủ

Giáp trước hết đưa tay phải tễ về phía mặt của Ất. Ất liền dùng tay phải khẽ khóa cổ tay phải của Giáp, đồng thời tay trái từ dưới cánh tay phải của Giáp vòng lên trên, khẽ khóa vào khuỷu phải của Giáp, hai tay cùng nhau đẩy (擩, rǔ) chếch sang phải.

Giáp tiếp đó duỗi thẳng cánh tay phải, cổ tay cuộn vào trong, cuộn tới khi lòng bàn tay hướng vào trong; đồng thời tay trái tễ về phía cẳng tay phải của mình, mắt nhìn về phía Ất. (Hình 三)

(3)Ất lữ thủ, án thủ

Khi Giáp dùng tễ thủ, Ất đưa hai tay theo thân thể thu về sau, không buông không đỉnh, mũi bàn chân trước hếch lên; đợi sau khi Giáp đã phát ra lực rồi mới án.

Ất tiếp đó đưa hai tay án về phía cánh tay trái của Giáp, tay trái án trên mu bàn tay trái của Giáp, tay phải án giữ khuỷu trái của Giáp. (Hình 四, 五)

(4)Giáp lữ thủ, Ất tễ thủ

Khi hai tay của Ất án tới, Giáp theo đó thu mình về sau, đồng thời tay trái khẽ khóa cổ tay phải của Ất, tay phải từ dưới cánh tay trái của Ất chuyển lên trên, cũng khẽ khóa trên khuỷu trái của Ất, hai tay cùng nhau đẩy chếch sang trái.

Ất tiếp đó duỗi thẳng cánh tay trái, cổ tay cuộn vào trong tới khi lòng bàn tay hướng vào trong, đồng thời tay phải tễ về phía cẳng tay trái của mình, mắt nhìn vào mắt Giáp. (Hình 六)

图 209
图 209
Giáp và Ất đứng đối diện nhau, cách nhau khoảng hai bước. (Nguyên thư ghi là "Hình 一".)
图 210
图 210
Giáp và Ất mỗi người tiến chân trái, tay trái ở trước, tay phải đỡ trên cẳng tay trái. (Nguyên thư ghi là "Hình 二".)
图 211
图 211
Giáp đưa tay phải tễ về phía mặt Ất, hai tay Ất khóa cổ tay và khuỷu phải của Giáp, đẩy chếch sang bên. (Nguyên thư ghi là "Hình 三".)

Theo thứ tự trên, đẩy vận tuần hoàn.

(5)Cách đổi thức trong thôi thủ

Đổi từ thức bên trái sang thức bên phải (tức là Giáp và Ất mỗi người để chân phải ở trước), đợi khi Ất dùng thủ đẩy (擩, rǔ) thì Giáp (không dùng tễ thủ) dùng tay phải dẫn tay phải của Ất về sau, tay trái vòng trên khuỷu phải của Ất, đồng thời rút chân trái về sau chân phải, giống như cách đẩy của thức bên trái; Ất liền tiến chân phải dùng tễ pháp. Giáp lại đẩy và án, Ất lại đẩy, luyện thành vòng tuần hoàn. Đây là cách đổi thức cho người mới học thôi thủ. Khi đã thuần thục thì có thể đổi tùy ý.

2. Hoạt bộ thôi thủ pháp (活步推手法, Huó Bù Tuī Shǒu Fǎ)

Thủ pháp giống như tĩnh bộ, chỉ khác là khi tiến bước thì tiến chân trước trước, khi lùi bước thì lùi chân sau trước. Tiến và lùi đều là ba bước. Bộ pháp phải phối hợp nhịp nhàng, thống nhất với thủ pháp; tiến lên là hai thức án và tễ, lùi về là hai thức đẩy và đẩy, luyện theo vòng tuần hoàn. Đây là những thức nhập môn cho người mới học; khi đã thuần thục thì tự nhiên có thể tùy cơ ứng biến, không bị thành pháp ràng buộc.

3. Thái, liệt, trửu, kháo (采、挒、肘、靠, Cǎi, Liè, Zhǒu, Kào)

Bằng, lữ, tễ, án là tứ chính (四正, sì zhèng). Thái, liệt, trửu, kháo là tứ ngung (四隅, sì yú). Tứ ngung cũng gọi là đại lữ (大捋, dà lǚ).

Thái là thái trụ lấy tay của đối phương, khiến đối phương khó thay đổi.

Liệt là dùng chưởng liệt mở đối phương, khiến đối phương mất trọng tâm, mà đổi hướng lực hoặc làm đứt đoạn. Nhưng tuyệt đối không được nắm lấy cánh tay đối phương mà kéo bằng sức chết, làm như vậy thì mất ý của nó và bị người khác chế ngự.

图 212
图 212
Giáp và Ất mỗi người tiến chân trái, tay phải đỡ trên cẳng tay trái, hai tay Ất khóa cánh tay phải của Giáp. (Nguyên thư ghi là "Hình 四".)
图 213
图 213
Giáp và Ất để chân phải ở trước, hai tay phải gác vào nhau, tay trái đỡ trên cẳng tay phải. (Nguyên thư ghi là "Hình 五".)
图 214
图 214
Giáp và Ất để chân phải ở trước, hai tay giao nhau, Giáp dùng cánh tay phải tễ về phía Ất. (Nguyên thư ghi là "Hình 六".)

Trửu là dùng khuỷu húc về phía đối phương.

Kháo là dùng vai chen tựa vào đối phương.

Bộ pháp của đại lữ là bước rộng mà nhanh, phải hai chân có công phu mới có thể nhẹ nhàng linh hoạt mà biến hóa.

4. Dụng kình và thính kình trong thôi thủ (推手的用劲和听劲, Tuī Shǒu de Yòng Jìn hé Tīng Jìn)

Khi mới luyện thôi thủ không được dùng sức vụng, phải tìm cầu áo bí trong bốn chữ bằng, lữ, tễ, án; bốn chữ ấy hàm chứa vô cùng biến hóa, người học ắt phải thể nghiệm sâu xa.

Như: bằng có bằng thẳng, bằng ngang, và khác nhau trên dưới. Khi lữ phải dính chặt lấy tay đối phương, liền đó đổi hướng, vạch thành một vòng tròn, khiến kình của đối phương không thể phát ra, hoặc phát ra cũng liền bị hóa đi.

Bằng có phân biệt bằng hướng lên, hướng xuống và bằng ngang. Khi đẩy phải một tay án giữ cổ tay đối phương, tay kia án khuỷu đối phương, khiến đối phương không còn chỗ xoay trở mà thuận thế đẩy ra. Lại trong đẩy cũng có bằng kình, không nên dùng nhẹ dạ.

Tễ có các pháp tễ thẳng, tễ xiên, tễ thêm khuỷu. Nếu dùng cánh tay tễ theo đường cong thì có thể tùy thời tùy thế đổi điểm lực, chỗ nào cũng có thể phát kình.

Án bao gồm nhẹ nhàng linh hoạt hoặc nặng nề chắc thực, tả thực hữu hư hoặc hữu thực tả hư, hai tay mở hoặc hợp; nói chung phải tùy thế mà biến.

Khi hai người đối luyện thôi thủ, ngoài việc chú ý thể nghiệm phương pháp dụng kình, ắt phải làm được tùy khuất tựu thân, không buông không đỉnh, không được dùng sức vụng, tĩnh tâm thính kình. Lâu ngày thì có thể dẫn vào rơi vào chỗ không, lay động bốn lạng bạt ngàn cân.

Về "thính kình", tuyệt đối không được lầm tưởng là hai bên dùng lực đối đỉnh. Thường thấy khi thôi thủ, hai người dùng sức chống đỡ lẫn nhau, một bên hỏi đã có kình chưa, một bên đáp có hoặc không — đó là sai lầm lớn. "Thính kình" là cảm nhận độ lớn, hướng… của lực mà đối phương dùng để liền đó biến hóa, tuyệt đối không được đỉnh lại. Khi mới luyện, trước luyện hai cánh tay, luyện lâu thì toàn thân đều có thể cảm nhận. Có thể thính kình thì khi đối phương phát lực mới có thể hóa đi, khiến đối phương rơi vào chỗ không. Không thể thính kình thì không cần so tài với người khác, người học ắt phải lưu ý.

Phần 172

Trang sách 707

2. Kỹ kích của Thái Cực Quyền (太极拳技击, Tàijíquán Jì Jī)

2. Kỹ kích của Thái Cực Quyền (太极拳技击, Tàijíquán Jì Jī)

Kỹ kích của Thái Cực Quyền không ngoài tám pháp bằng, lữ, tễ, án, thái, liệt, trửu, kháo. Tám pháp ấy đều hàm chứa trong bài quyền Thái Cực, còn thôi thủ là sự luyện dùng tám pháp ấy; nay bất luận luyện bài quyền hay luyện thôi thủ đều là để thuần thục tám pháp ấy, cho nên nói tám pháp tức là cái dụng của Thái Cực Quyền. Nhưng chỉ luyện bài quyền thì có thể mà không có dụng, cái tệ ở chỗ không biến hóa. Chỉ luyện thôi thủ thì có dụng mà không có thể, cái tệ ở chỗ không có gốc rễ. Nếu chỉ để tu dưỡng thân tâm thì luyện bài quyền là đủ, nhưng muốn đạt được cái dụng của nó thì ắt phải luyện cả hai.

Thái Cực Quyền nói về luyện thể là công phu tri kỷ (知己功夫, zhī jǐ gōng fu); luyện lâu thuần thục mới có thể khiến toàn thân hư linh, tròn sống không vướng mắc, nặng nề như Thái Sơn, nhẹ nhàng như lông hồng, thần khí hòa lẫn, tự nhiên có thể trừ bệnh kéo dài tuổi thọ. Nói về luyện dụng là công phu tri nhân (知人功夫, zhī rén gōng fu); luyện lâu công phu thuần nhất mới có thể tay chân linh hoạt, dẫn vào rơi vào chỗ không, lay động bốn lạng bạt ngàn cân. Cho nên chỉ có luyện cả thể và dụng mới là tri kỷ tri bỉ; không thể tri kỷ tri bỉ thì không thể so tài cùng người khác. Thường thấy những người tự cho là chỉ học "kỹ kích", dùng để mà dùng, ắt lấy sức vụng mà làm, thì sẽ lạc vào đường tà; mong người học răn lấy điều đó.

Muốn thuần thục kỹ kích của Thái Cực Quyền, phải lấy việc luyện bài quyền làm chính, cầu công phu nơi eo và chân. Vì kỹ kích trước hết đòi hỏi phản ứng nhanh; muốn phản ứng nhanh thì ắt phải thuần thục từng tay từng thức, eo chân linh hoạt có lực, mới có thể ứng phó đối phương một cách nhẹ nhàng linh hoạt tròn sống. Hơn nữa ắt phải có thể "thính kình", như thế mới có thể dính chặt đối phương, tùy cơ ứng biến, nghe một biết trăm, biến hóa vô cùng.

Ở Thượng biên đã nói tóm lược cách dùng của một số thức quyền, nhưng người học không được học thuộc lòng một cách cứng nhắc. Nên thuần thục bài quyền, siêng tập thôi thủ. Mới luyện tĩnh bộ thôi thủ, công phu chủ yếu ở eo; eo cực kỳ linh hoạt thì hóa kình của người khác có thừa. Thuần thục rồi, tập động bộ thôi thủ, công phu chủ yếu ở chân; công phu thuần nhất thì tiến lùi và đổi hướng nhanh chóng. Tiếp đó đi tứ ngung, rồi sau là tán thủ. Hai bên có thể không theo quy củ, tùy ý công kích lẫn nhau, hóa giải cũng được.

Tóm lại, kỹ kích của Thái Cực Quyền — tức tán thủ — không có pháp quy nhất định, mà là tùy thời tùy thế tùy cơ mà biến; cái gọi là tán thủ không có thức chính là ý ấy. Một thức trong quyền có thể dùng mấy cách, mấy thức có thể dùng một cách, song phải lượng thời lượng thế mà hành. Đúng như kinh quyền đã nói: "Bỉ bất động, "Ta bất động, bỉ nhược động, ngã tiên động" — ta không động, đối phương nếu động thì ta động trước — ấy gọi là ý tại địch tiên: ý ở trước đối phương. Nghĩa là động tác của đối phương dù mãnh liệt mau lẹ thế nào, ta đều có thể hóa đi, chuyển thành cái dùng của mình. Không thể đợi chiêu thức của đối phương đã giáng thực xuống thân mình, mà bản thân cũng không thể luôn dùng một chiêu thức, không biến hóa mà bị người khống chế. Mong người học suy một ra ba, biết cách dùng mà không câu nệ vào cách dùng, siêng luyện thôi thủ, thì có thể đạt được chỗ ảo diệu của Thái Cực quyền kỹ kích. Phụ lục: Tài liệu tham khảo Nhất, Vương Tông Nhạc: Thái Cực quyền luận Thái Cực giả, Vô Cực nhi sinh; động tĩnh chi cơ, âm dương chi mẫu dã — Thái Cực do Vô Cực mà sinh ra; là cơ của động tĩnh, là mẹ của âm dương. Động thì phân, tĩnh thì hợp. Không quá không kém, tùy khúc tựu thân — theo chỗ cong mà duỗi ra. Người cương ta nhu gọi là "tẩu" (đi, hóa); ta thuận người nghịch gọi là "niêm" (dính). Động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm. Tuy biến hóa muôn mối mà lý chỉ một mối. Từ chỗ thục chiêu thức mà dần ngộ "đổng kình" (hiểu kình); từ hiểu kình mà lên tới thần minh. Nhưng không dùng công lâu dài thì không thể hoát nhiên quán thông. Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền. Không lệch không tựa, khi ẩn khi hiện. Bên trái nặng thì bên trái hư, bên phải nặng thì bên phải yểu. Ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu. Tiến vào thì càng dài, thoái ra thì càng gấp. Một lông cũng không thêm được, ruồi muỗi cũng không đậu được. Người không biết ta, ta riêng biết người. Anh hùng đi đến đâu cũng vô địch, ấy đều do đó mà tới. Thuật này có nhiều bàng môn; tuy thế có khác nhau, đại để không ngoài việc mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh. Có lực đánh không lực, tay chậm nhường tay nhanh — ấy đều là năng lực tự nhiên trời cho, không liên quan tới sức học mà làm nên. Xét câu "bốn lạng bạt ngàn cân", rõ ràng không phải thắng bằng lực. Xem hình người già cả có thể chống lại đám đông, nhanh thì làm được gì? Đứng như cái cân, sống động như bánh xe. Lệch trầm thì theo, song trọng thì trệ. Thường thấy kẻ có công thuần nhiều năm mà không vận hóa được, đều là tự mình bị người khống chế, rốt cuộc không khống chế được người — ấy là chưa ngộ bệnh "song trọng" (nặng đôi). Muốn tránh bệnh ấy phải biết âm dương. Niêm tức là tẩu, tẩu tức là niêm. Âm không rời dương, dương không rời âm; âm dương tương tế mới là đổng kình. Hiểu kình rồi, càng luyện càng tinh, mặc thức suy nghiệm, dần tới chỗ tòng tâm sở dục — muốn gì được nấy. Gốc là xả kỷ tòng nhân — bỏ mình theo người; nhiều người lầm mà bỏ gần cầu xa. Chỗ gọi "sai một ly, lệch ngàn dặm", người học không thể không phân biệt tường tận.

Trường quyền giả, như Trường Giang đại hà thao thao bất tuyệt dã — Trường quyền như sông Trường Giang, sông lớn cuồn cuộn không dứt. Thập Tam Thế là: bằng, lữ, tễ, án, thái, liệt, trửu, kháo — ấy là bát quái; tiến bộ, thoái bộ, tả cố, hữu phán, trung định — ấy là ngũ hành. Hợp lại mà nói: Thập Tam Thế. Bằng, lữ, tễ, án tức Khảm, Ly, Chấn, Đoài — bốn phương chính; thái, liệt, trửu, kháo tức Càn, Cấn, Tốn, Khôn — bốn góc chéo; tiến, thoái, cố, phán, định tức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Nhị, Vũ Vũ Tương: Thái Cực quyền luận

Vị hữu thiên địa dĩ tiền, thái không vô cùng chi trung, hồn nhiên nhất khí — trước khi có trời đất, trong khoảng thái không vô cùng, một khí hỗn độn, ấy là Vô Cực; Vô Cực nhi Thái Cực. Thái Cực giả, thiên địa chi căn cai, vạn vật chi nguyên thủy dã — Thái Cực là gốc rễ của trời đất, là nguyên thủy của muôn vật. Thái Cực quyền giả, nhất cử động, chu thân câu yếu khinh linh, vưu yếu quán xuyến — Thái Cực quyền, hễ động một cái, toàn thân đều phải nhẹ nhàng linh hoạt, càng phải xuyên suốt liền mạch. Khí nên cổ đãng, thần nên nội liễm. Chớ để có chỗ khiếm khuyết, chỗ lồi lõm, chỗ đứt quãng. Gốc ở chân, phát ở đùi, chủ tể ở eo, hiện ra ở ngón tay. Từ chân tới đùi tới eo, tất phải là một khí hoàn chỉnh. Tiến tới thoái lui mới nắm được cơ và thế. Nếu có chỗ không nắm được cơ thế, thân liền tán loạn. Bệnh ấy tất phải tìm ở khoảng eo và đùi. Trên dưới trước sau trái phải đều như vậy. Phàm những điều ấy đều là ở ý, không ở bên ngoài mà ở bên trong. Có trên tất có dưới, có trước tất có sau, có trái tất có phải; như ý muốn hướng lên thì ngụ ý hướng xuống. Như nâng vật lên mà kèm ý dũa nó xuống. Thế thì gốc nó tự đoạn, đẩy nó nhanh nó cũng không ngưng kết. Hư thực nên phân cho rõ. Một chỗ tự có một chỗ hư thực, chỗ nào cũng là một hư thực ấy. Toàn thân tiết tiết quán xuyến, chớ để mảy may đứt quãng. (Nguyên chú rằng: đây là di luận của lão sư Trương Tam Phong ở Võ Đang sơn, muốn cho hào kiệt thiên hạ kéo dài tuổi thọ tăng thêm thọ mệnh, không phải chỉ làm cái ngọn cuối của võ nghệ.)

Tam, Thập Tam Thế hành công tâm giải

Dĩ tâm hành khí, vụ lệnh trầm trước — lấy tâm hành khí, tất phải cho nó trầm tĩnh, mới có thể thu liễm vào xương. Dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại — lấy khí vận thân, tất phải cho nó thuận lợi, mới có thể tiện lợi theo tâm. Tinh thần nâng lên được thì không lo trì trệ nặng nề, ấy gọi là đỉnh đầu huyền — treo đỉnh đầu. Ý khí phải hoán đổi cho linh, mới có thú viên hoạt, ấy gọi là biến hóa hư thực. Phát kình phải trầm trước tùng tĩnh, chuyên chú một phương. Lập thân phải trung chính an thư, chống đỡ tám hướng; hành khí như châu chín khúc, không chỗ nhỏ nào không tới; vận động như thép trăm luyện, không gì cứng không phá. Hình như chim cắt bắt thỏ, thần như mèo bắt chuột. Tĩnh như núi non, động như sông biển. Súc kình như giương cung, phát kình như buông tên. Khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát — trong cong tìm thẳng, tích rồi mới phát. Lực phát từ tích (xương sống), bộ tùy thân hoán. Thu tức thị phóng, phóng tức thị thu; đoạn nhi phục liên — thu tức là phóng, phóng tức là thu; đứt rồi lại liền. Vãng phục tu hữu chiết điệp, tiến thoái tu hữu chuyển hoán. Cực nhu nhuyễn nhiên hậu cực kiên ngạnh; năng hô hấp nhiên hậu năng linh hoạt — cực mềm mại rồi sau cực cứng rắn; biết hô hấp rồi sau mới linh hoạt. Khí dĩ trực dưỡng nhi vô hại, kình dĩ khúc súc nhi hữu dư. Tâm vi lệnh, khí vi kỳ, yêu vi đạo — tâm là mệnh lệnh, khí là cờ, eo là cờ đại. Tiên cầu khai triển, hậu cầu khẩn thốc, phương trăn vu chẩn mật dã.

Hựu viết: tiên tại tâm, hậu tại thân, phúc tùng tịnh, khí liễm nhập cốt tủy — lại nói: trước ở tâm, sau ở thân; bụng tùng tịnh, khí thu vào tủy xương. Thần thư thân tĩnh, khắc khắc tại tâm. Thiết ký: nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh — ghi nhớ kỹ: một động thì không gì không động, một tĩnh thì không gì không tĩnh. Khiên động vãng lai, khí thiếp tích bối, liễm nhập tích cốt. Nội cố tinh thần, ngoại thị an dật. Mại bộ như miêu hành, vận kình như trừu ty — bước như mèo đi, vận kình như kéo tơ. Toàn thân ý tại tinh thần, bất tại khí; tại khí tắc trệ. Hữu khí giả đái lực, vô khí giả thuần cương; khí nhược xa luân, yêu nhược xa trục dã.

Tứ, Thập Tam Thế ca quyết

Thập tam tổng thế mạc khinh thị, mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích. Biến chuyển hư thực tu lưu ý, khí biến thân khu bất thiểu trệ. Tĩnh trung xúc động động do tĩnh, nhân địch biến hóa thị thần kỳ. Thế thế tồn tâm quỹ dụng ý, đắc lai bất giác phí công phu. Khắc khắc lưu tâm tại yêu gian, phúc nội tùng tịnh khí đằng nhiên. Vĩ lư trung chính thần quán đỉnh, mãn thân khinh lợi đỉnh đầu huyền. Tử tế lưu tâm hướng thôi cầu, khuất thân khai hợp thính tự do. Nhập môn dẫn lộ tu khẩu thụ, công phu vô tức pháp tự tu. Nhược ngôn thể dụng hà vi chuẩn, ý khí quân lai cốt nhục thần. Tưởng thôi dụng ý chung hà tại, ích thọ diên niên bất lão xuân. Ca hề ca hề bách tứ thập, tự tự chân thiết nghĩa vô di. Nhược bất hướng thử thôi cầu khứ, uổng phí công phu di thán tích.

Ngũ, Thôi thủ ca quyết

Bằng lữ tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan tiến. Nhậm tha cự lực lai đả ngã, khiên động tứ lạng bát thiên cân. Dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, niêm liên miên tùy bất đâu đỉnh.

Lục, Lý Diệc Dư: Ngũ tự quyết

Tâm tĩnh

Tâm bất tĩnh tắc bất chuyên, nhất cử thủ, tiền hậu tả hữu, toàn vô định hướng, cố yếu tâm tĩnh — tâm không tĩnh thì không chuyên nhất; hễ giơ tay lên, trước sau trái phải đều không có hướng nhất định, cho nên cần tâm tĩnh. Khởi sơ cử động vị năng do kỷ, yếu tức tâm thể nhận, tùy nhân sở động, tùy khúc tựu thân, bất đâu bất đỉnh, vật tự thân súc — lúc đầu cử động chưa thể do mình, phải lắng tâm mà thể nhận, theo người mà động, theo cong mà duỗi, không buông không đỉnh, chớ tự co duỗi. Bỉ hữu lực, ngã diệc hữu lực, ngã lực tại tiên; bỉ vô lực, ngã diệc hữu lực, ngã ý nhưng tại tiên — đối phương có lực, ta cũng có lực, lực ta ở trước; đối phương không lực, ta cũng có lực, ý ta vẫn ở trước. Yếu khắc khắc lưu tâm, ai hà xử, tâm yếu dụng tại hà xử, tu hướng bất đâu bất đỉnh trung thảo tiêu tức. Tòng thử tố khứ, nhật tích nguyệt lũy, tiện năng thi chi vu thân; thử toàn thị dụng ý, bất thị dụng kình, cửu chi tắc nhân vi ngã chế, ngã bất vi nhân chế hĩ.

Thân linh

Thân trệ tắc tiến thoái bất năng tự như, cố yếu thân linh — thân trì trệ thì tiến thoái không được tự như, cho nên cần thân linh. Cử thủ bất khả hữu ngai tượng, bỉ chi lực phương giác xâm ngã bì mao, ngã chi ý dĩ nhập bỉ cốt lý — giơ tay không được có vẻ ngây dại; lực đối phương vừa chạm vào da lông ta, ý ta đã vào tận xương cốt họ. Lưỡng thủ chi trì, nhất khí quán xuyến. Tả trọng tắc tả hư, nhi hữu dĩ khứ; hữu trọng tắc hữu hư, nhi tả dĩ khứ. Khí như xa luân, chu thân câu yếu tương tùy. Hữu bất tương tùy xử, thân tiện tán loạn, tiện bất đắc lực, kỳ bệnh vu yêu thối cầu chi. Tiên dĩ tâm sử thân, tòng nhân bất tòng kỷ; hậu sử thân năng tòng tâm, do kỷ nhưng tòng nhân. Do kỷ tắc trệ, tòng nhân tắc hoạt. Năng tòng nhân, thủ thượng tiện hữu phân thốn. Lượng bỉ kình chi đại tiểu, phân ly bất thác; quyền bỉ lai chi trường đoản, hào phát vô sai. Tiền tiến hậu thoái, xử xử kháp hợp. Công di cửu nhi kỹ di tinh.

Khí liễm

Khí thế tán mạn, tiện vô hàm súc, thân dịch tán loạn, vụ sử khí liễm nhập tích cốt — khí thế tán mạn thì không hàm súc, thân dễ tán loạn, tất phải cho khí thu vào xương sống. Hô hấp thông linh, chu thân võng gian. Hấp vi hợp vi súc, hô vi khai vi phát — hít vào là hợp là súc, thở ra là khai là phát. Cái hấp tắc tự nhiên đề đắc khởi, diệc nã đắc nhân khởi; hô tắc tự nhiên trầm đắc hạ, diệc phóng đắc nhân xuất. Thử thị dĩ ý vận khí, phi dĩ lực vận khí dã.

Kình chỉnh Nhất thân chi kình, luyện thành nhất gia — kình của toàn thân luyện thành một nhà. Phân thanh hư thực, phát kình yếu hữu căn nguyên. Kình khởi cước cân, chủ vu yêu gian, hình vu thủ chỉ, phát vu tích bối — kình khởi từ gót chân, chủ ở nơi yêu (lưng), hiện ra nơi ngón tay, phát ra từ tích (xương sống). Hựu yếu đề khởi toàn phó tinh thần — lại phải nâng lên toàn bộ tinh thần. Vu bỉ kình tương xuất vị phát chi tế, ngã kình dĩ tiếp nhập bỉ kình, kháp hảo bất hậu bất tiên — vào lúc kình của đối phương sắp ra mà chưa phát, kình ta đã tiếp nhập kình họ, vừa khéo không sau không trước. Như bì nhiên hỏa, như tuyền dũng xuất — như da bắt lửa, như suối tuôn ra. Tiền tiến hậu thoái, vô ti hào tán loạn. Khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát, phương năng tùy thủ tấu hiệu, thử vị tá lực đả nhân, tứ lạng bát thiên cân dã — trong cong cầu thẳng, súc rồi mới phát, mới có thể tùy tay mà hiệu nghiệm; ấy gọi là mượn lực đánh người, tứ lạng bát thiên cân.

Thần tụ

Thượng tứ giả câu bị, tổng quy thần tụ — bốn điều trên đều đã đủ, rốt lại quy về thần tụ. Thần tụ tắc nhất khí cổ chú — thần tụ thì một khí đúc nên. Luyện khí quy thần, khí thế đằng na — luyện khí trở về thần, khí thế chuyển dời. Tinh thần quán chú, khai hợp hữu trí, hư thực thanh sở. Tả hư tắc hữu thực, hữu hư tắc tả thực. Hư phi toàn nhiên vô lực, khí thế yếu hữu đằng na — hư không phải hoàn toàn không lực, khí thế phải có chuyển dời. Thực phi toàn nhiên chiếm sát, tinh thần yếu quý quán chú — thực không phải chiếm sát hoàn toàn, tinh thần cốt ở chỗ quán chú. Khẩn yếu toàn tại hung trung yêu gian, vận dụng bất tại ngoại diện — điều cốt yếu hoàn toàn ở trong ngực và nơi yêu, vận dụng không ở bên ngoài. Lực tòng nhân tá, khí do tích phát — lực mượn từ người, khí phát từ tích. Hồ năng khí do tích phát? Khí hướng hạ trầm, do lưỡng kiên thu vu tích cốt, chú vu yêu gian, thử khí chi do thượng nhi hạ dã, vị chi hợp — khí chìm xuống dưới, từ hai vai thu vào xương sống, chú vào nơi yêu; ấy là khí từ trên xuống dưới, gọi là hợp. Do yêu hình vu tích cốt, bố vu lưỡng bác, thi vu thủ chỉ, thử khí chi do hạ nhi thượng dã, vị chi khai — từ yêu hiện ra nơi xương sống, bố ra hai cánh tay, thi hành nơi ngón tay; ấy là khí từ dưới lên trên, gọi là khai. Hợp tiện thị thu, khai tiện thị phóng — hợp tức là thu, khai tức là phóng. Năng đổng đắc khai hợp, tiện tri âm dương. Đáo thử địa vị, công dụng nhất nhật, kỹ tinh nhất nhật, tiệm chí tòng tâm sở dục, võng bất như ý hĩ — đến được địa vị này, công phu một ngày thì kỹ tinh một ngày, dần đến chỗ làm theo lòng muốn, không gì không như ý.

Thất, Tán phóng mật quyết

Kình, dẫn, tùng, phóng tứ tự — bốn chữ: kình, dẫn, tùng, phóng Kình khai bỉ kình tá bỉ lực, trung hữu linh tự. Dẫn đáo thân tiền kình thủy súc, trung hữu liễm tự. Tùng khai ngã kình vật sử khuất, trung hữu tĩnh tự. Phóng thời yêu cước nhận đoan đích, trung hữu chỉnh tự.

Kình (nâng) mở kình đối phương, mượn lực đối phương — trong đó có chữ linh (灵). Dẫn đến trước thân, kình mới bắt đầu súc — trong đó có chữ liễm (敛). Tùng mở kình ta, chớ để cong — trong đó có chữ tĩnh (静). Lúc phóng, yêu và cước nhận đúng đích — trong đó có chữ chỉnh (整).

Bát, Tẩu giá đả thủ hành công yếu ngôn

Tích nhân vân: năng dẫn tiến lạc không, tiện năng tứ lạng bát thiên cân; bất năng dẫn tiến lạc không, tiện bất năng tứ lạng bát thiên cân — người xưa nói: có thể dẫn tiến lạc không thì có thể tứ lạng bát thiên cân; không thể dẫn tiến lạc không thì không thể tứ lạng bát thiên cân. Ngữ thậm khái quát, sơ học vị do lĩnh ngộ, dư gia sổ ngữ dĩ giải chi, tỷ hữu chí tư kỹ giả, đắc sở tòng nhập, thứ nhật tiến hữu công hĩ — lời ấy rất khái quát, người mới học chưa thể lĩnh ngộ, ta thêm mấy lời để giải thích, mong kẻ có chí với nghề này được chỗ để vào, hầu ngày ngày tiến bộ có công. Dục yếu dẫn tiến lạc không, tứ lạng bát thiên cân, tiên yếu tri kỷ tri bỉ — rơi vào khoảng không, tứ lạng bát thiên cân, trước phải tri kỷ tri bỉ. Dục yếu tri kỷ tri bỉ, tiên yếu xả kỷ tòng nhân — muốn tri kỷ tri bỉ, trước phải xả kỷ tòng nhân. Dục yếu xả kỷ tòng nhân, tiên yếu đắc cơ đắc thế. Dục yếu đắc cơ đắc thế, tiên yếu chu thân nhất gia. Dục yếu chu thân nhất gia, tiên yếu chu thân vô hữu khuyết hãm — muốn toàn thân một nhà, trước phải toàn thân không có khuyết hãm. Dục yếu chu thân vô hữu khuyết hãm, tiên yếu thần khí cổ đãng. Dục yếu thần khí cổ đãng, tiên yếu đề khởi tinh thần. Dục yếu đề khởi tinh thần, tiên yếu thần bất ngoại tán. Dục yếu thần bất ngoại tán, tiên yếu thần khí thu liễm nhập cốt — thần khí thu liễm vào xương. Dục yếu thần khí thu liễm nhập cốt, tiên yếu lưỡng thối tiền tiết hữu lực — trước phải hai chân mạnh ở đốt trước. Lưỡng kiên tùng khai, khí hướng hạ trầm, kình khởi vu cước cân, giao hoán tại thối, hàm súc tại hung, vận động tại lưỡng kiên, chủ tể tại yêu, thượng dữ lưỡng bác tương hệ, hạ dữ lưỡng thối tương tùy, kình do nội hoán — hai vai tùng mở, khí chìm xuống dưới, kình khởi từ gót chân, trao đổi nơi chân, hàm súc nơi ngực, vận động nơi hai vai, chủ tể nơi yêu; trên liên hệ với hai cánh tay, dưới tùy theo hai chân, kình đổi từ bên trong. Thu tiện thị hợp, phóng tức thị khai — thu tức là hợp, phóng tức là khai. Tĩnh tắc câu tĩnh, tĩnh thị hợp, hợp trung ngụ khai — tĩnh thì đều tĩnh, tĩnh là hợp, trong hợp có chứa khai. Động tắc câu động, động thị khai, khai trung ngụ hợp — động thì đều động, động là khai, trong khai có chứa hợp. Xúc chi tắc toàn chuyển tự như, vô bất đắc lực, tài năng dẫn tiến lạc không, tứ lạng bát thiên cân — chạm đến thì xoay chuyển tự như, không gì không đắc lực, mới có thể dẫn tiến lạc không, tứ lạng bát thiên cân. Bình nhật tẩu giá thị tri kỷ công phu — ngày thường tẩu giá là công phu tri kỷ. Nhất động thế vấn tiên vấn tự kỷ chu thân hợp thượng sổ hạng phủ? Thiểu hữu bất hợp, tức tốc cải hoán — mỗi khi động thế, trước phải hỏi mình toàn thân có hợp với mấy điều ấy không; hơi không hợp thì đổi ngay. Tẩu giá sở dĩ yếu mạn bất yếu khoái — tẩu giá cho nên cần chậm chứ không cần nhanh. Đả thủ thị tri nhân công phu, động tĩnh cố thị tri nhân, nhưng thị vấn kỷ — đả thủ là công phu tri nhân; động tĩnh tuy là tri nhân, vẫn là hỏi mình. Tự kỷ an bài đắc hảo, nhân nhất ai ngã, ngã bất động bỉ ti hào, sấn thế nhi nhập, tiếp định bỉ kình, bỉ tự điệt xuất — mình sắp đặt cho tốt, người vừa chạm đến ta, ta không động đến họ một ly, nhân thế mà vào, tiếp định kình họ, họ tự té ra. Như tự kỷ hữu bất đắc lực xử, tiện thị song trọng vị hóa, yếu vu âm dương khai hợp cầu chi — nếu mình có chỗ không đắc lực, ấy là song trọng chưa hóa, phải cầu ở âm dương khai hợp. Sở vị tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng dã — ấy gọi là tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng. Thiết kế bìa: Tôn Kim Vinh, Chu Mộng Lân Biên tập: Lý Văn Anh Số hiệu thống nhất: 7015·2260 Định giá: 0,60 nguyên