TaichiNOW
Thư Viện Sách
Triết Học Phật Giáo · Tứ Pháp Ấn · Dzongsar Jamyang Khyentse · Dịch giả Thủy Hương · Bản dịch tiếng Việt trọn vẹn

Thế Nào Là Phật Tử?

What Makes You Not a Buddhist

Lời Tựa và Mở Đầu

Thế Nào Là Phật Tử 308610635 Tác giả: Dzongsar Jamyang Khyentse, Dịch giả: Thủy Hương Mở đầu Kính tặng người con trai của Đức Vua Tịnh Phạn - Thái Tử của Ấn Độ, Không có Ngài tôi sẽ không thể biết rằng mình vẫn chỉ là một kẻ lang thang. Một lần, trên chuyến máy bay vượt Đại Tây Dương, tôi ngồi ghế giữa ở hàng giữa, cạnh một người đàn ông đáng mến luôn tỏ ra thân thiện với tôi.

Thấy cái đầu cạo nhẵn bóng và bộ áo thụng dài màu nâu sẫm của tôi, anh ta cho rằng tôi là một nhà sư. Khi tiếp viên phục vụ bữa ăn, người đàn ông đã rất tử tế khi sẵn lòng gọi một phần ăn chay cho tôi. Đó là khởi đầu cho câu chuyện phiếm của chúng tôi. Chuyến bay rất dài và để giết thời gian, chúng tôi bàn luận về đạo Phật. Qua thời gian tôi nhận ra rằng đa phần mọi người thường gắn Phật giáo và tăng sĩ với sự bình an, thiền định và không bạo động.

Thực tế thì có nhiều người dường như nghĩ rằng việc mặc lên người trang phục tu sĩ với một nụ cười an lạc là tất cả những gì khiến ai đó trở thành một Phật tử. Là một tăng sĩ, tôi cảm thấy rất tự hào và vinh dự là một đệ tử Phật, đặc biệt ở khía cạnh bất bạo động, điều rất hiếm trong thời đại của chiến tranh và bạo lực như hiện nay, đặc biệt là bạo lực liên quan tới tôn giáo. Trong suốt lịch sử của xã hội loài người, tôn giáo dường như là nguồn sản sinh ra sự thù hận.

Ngay cả ngày nay, tin tức về bạo lực liên quan tới những phần tử tôn giáo cực đoan vẫn tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy thế, tôi có thể tự tin nói rằng đến nay chúng tôi – những người con Phật – chưa bao giờ phải hổ thẹn với chính mình. Bạo lực chưa bao giờ là một phần trong việc truyền bá đạo Phật.

Tuy nhiên, là một tăng sĩ được đào tạo, tôi cũng cảm thấy đôi chút bất bình vì người ta chỉ gắn đạo Phật với việc ăn chay, bất bạo động, an lạc và thiền định. Khi lên đường để tìm sự giác ngộ, Thái tử Tất Đạt Đa chắc hẳn đã từ bỏ cuộc sống tiện nghi và xa hoa nơi cung vàng điện ngọc để kiếm tìm một điều gì đó nhiều hơn là sự thụ động và một vài lùm cây . Dù rằng ở dạng rất đơn giản, đạo Phật không dễ dàng giải thích. Nó rất phức tạp, rộng lớn và sâu sắc.

Tuy đạo Phật không hề mang tính chất tôn giáo hay siêu hình, thật khó để giới thiệu đạo Phật mà không có vẻ lý thuyết và mang màu sắc tôn giáo. Khi đạo Phật đã du nhập vào nhiều nơi trên thế giới, những đặc tính văn hóa mà đạo Phật tích tập vào đã khiến nó trở nên ngày càng phức tạp.

Những cái bẫy mang màu sắc hữu thần như hương trầm, chuông khách, và những chiếc mũ nhiều màu sắc có thể thu hút sự chú ý của mọi người, nhưng đồng thời những thứ này cũng có thể là những vật trở ngại [cho việc tìm hiểu đạo Phật]. Mọi người cuối cùng sẽ nghĩ rằng đó là tất cả những gì về Phật giáo và thế là họ bị chệch hướng khỏi điều cốt lõi của đạo Phật.

Thỉnh thoảng do bực bội vì những giáo lý của Thái tử Tất Đạt Đa không được người khác hiểu đủ (như ý muốn của mình và đôi khi do tham vọng của chính mình), tôi thích thú với ý tưởng cải tổ đạo Phật, làm cho nó trở nên dễ dàng hơn, dễ hiểu hơn và bớt giáo điều hơn.

Điều này có vẻ như hơi tiểu xảo và thiên lệch khi tưởng tượng rằng (như thỉnh thoảng tôi vẫn làm) đơn giản hóa đạo Phật thành những thực hành được nêu định và tính toán sẵn như hành thiền ba lần một ngày, mặc một loại trang phục đặc biệt nào đó, giữ những niềm tin mang tính ý thức hệ, như là thế giới này đều phải cải đạo theo Phật giáo.

Nếu chúng ta có thể hứa khả rằng những thực hành này có thể mang lại những kết quả tức thời và rõ ràng, tôi nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều Phật tử trên thế giới. Nhưng khi tôi hồi tỉnh khỏi những phóng tứ này (điều này tôi rất ít khi có được), cái tâm ý tỉnh táo của tôi báo cho tôi biết rằng cái thế giới của những người tự nhận mình là Phật tử không hẳn là một thế giới tốt đẹp hơn.

Nhiều người lầm tưởng rằng Đức Phật là “Thần” của đạo Phật; ngay cả một số người ở những đất nước theo Phật giáo như là Hàn Quốc, Nhật Bản và Bhutan cũng có hướng tiếp cận theo hữu thần này đối với Đức Phật và đạo Phật. Điều này giải thích tại sao trong suốt cuốn sách này chúng tôi sẽ dùng tên Tất Đạt Đa và Đức Phật thay nhau, để nhắc nhớ mọi người rằng Đức Phật chỉ là một con người bình thường và rằng con người đó đã trở thành Phật.

Cũng dễ hiểu khi một số người có thể nghĩ rằng Phật tử là những người đi theo con người bề ngoài có tên là Phật. Tuy nhiên, chính Đức Phật đã chỉ rõ là không nên sùng kính một cá nhân mà nên sùng kính trí tuệ do người đó giảng dạy. Tương tự như vậy, thật bất cẩn nếu tin rằng chỉ có tái sinh và nghiệp là những niềm tin cơ bản nhất của Phật giáo. Còn rất nhiều quan niệm sai lầm như vậy.

Ví dụ, Phật giáo Tây Tạng thỉnh thoảng được gọi là “lạt ma giáo” và trong vài trường hợp Thiền tông, không được coi là Phật giáo. Có những người khác hiểu biết hơn chút ít nhưng vẫn còn bị lầm lạc, có thể sử dụng những từ như tính không và niết bàn mà chẳng hiểu rõ nghĩa của các từ này. Khi cuộc trò chuyện như kiểu của tôi với người bạn ngồi bên cạnh trên chuyến bay diễn ra, một người không theo Phật giáo có thể chợt hỏi: “Điều gì khiến một người là Phật tử?”.

Đó là câu hỏi khó trả lời nhất. Nếu ai đó thực sự quan tâm, một câu trả lời đầy đủ không thể nào có được nhờ cuộc trò chuyện nhẹ nhàng trong bữa tối, và những điều chung chung có thể dẫn tới hiểu lầm. Giả như bạn có câu trả lời đúng, câu trả lời ấy cũng cần có một nền tảng của một truyền thống có lịch sử 2.500 năm. Một người là đệ tử Phật nếu anh ta hoặc cô ta chấp nhận bốn sự thật sau đây: Mọi sự vật được cấu thành [bởi nhiều yếu tố - hữu vi] đều vô thường.

Mọi cảm thọ đều là đau khổ. Mọi sự vật vốn đều không thật tồn tại. Niết bàn là điều vượt ra ngoài mọi khái niệm. Bốn điều khẳng định này, do chính Đức Phật tuyên thuyết, được biết tới như là “bốn dấu ấn” [bốn pháp ấn]. Từ xưa, dấu ấn có nghĩa là điều gì đó giống như là ấn chứng sự chân thực.

Để đơn giản và thuận tiện, chúng tôi sẽ sử dụng cả từ “dấu ấn” lẫn từ “sự thật” để nhằm chỉ bốn điều tuyên thuyết này, để không bị nhầm lẫn với Tứ Diệu Đế của đạo Phật – những điều chỉ đề cập tới các khía cạnh của khổ đau. Mặc dù bốn dấu ấn này được tin rằng bao chứa tất cả đạo Phật, người ta dường như không muốn nghe về chúng.

Nếu thiếu những giải thích sâu sắc hơn thì những dấu ấn này chỉ phục vụ cho những kẻ yếm thế hay nản chí và chẳng thể thúc đẩy nhiệt tâm tìm hiểu trong nhiều trường hợp. Đề tài của câu chuyện hẳn sẽ thay đổi và thế là kết thúc cuộc trò chuyện. Thông điệp của bốn pháp ấn này được hiểu theo nghĩa đen, chứ không hề huyền bí hay ẩn dụ chút nào và được hiểu một cách nghiêm túc. Nhưng những dấu ấn này không phải là chỉ dụ hay mệnh lệnh.

Với một chút suy tư người ta có thể thấy ngay rằng chẳng có gì mang tính đạo đức hay nghi lễ ở đây. Cũng không đề cập đến hành vi xấu hay tốt. Chúng chính là những sự thật muôn thuở trên nền tảng trí tuệ và trí tuệ là mối quan tâm hàng đầu của người Phật tử. Đạo đức và phẩm hạnh là thứ yếu. Nghiện thuốc lá hay hơi ngu ngốc không ngăn cản ai đó trở thành Phật tử. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta được phép trở nên tinh quái hay vô đạo đức.

Nói rộng ra, trí tuệ đến từ một tâm thức mà những người theo đạo Phật thường gọi là “chánh kiến”. Nhưng không phải ai tự coi mình là Phật tử cũng có chánh kiến. Xét đến cùng, đó chính là quan điểm sẽ quyết định động lực và hành vi của chúng ta, dẫn dắt chúng ta tới con đường của đạo Phật. Nếu chúng ta có thể thực hiện những hành vi đạo đức phụ thêm cho việc theo đúng bốn pháp ấn này, điều ấy sẽ khiến chúng ta là những Phật tử tốt hơn.

Nhưng điều gì khiến bạn không phải là Phật tử? Nếu bạn không chấp nhận rằng tất cả mọi sự vật hữu vi đều vô thường [thay đổi, không tồn tại mãi mãi], nếu bạn tin rằng có một vài loại vật chất hay khái niệm nào đó tồn tại vĩnh cửu, thì bạn không phải là Phật tử. Nếu bạn không chấp nhận rằng mọi cảm thọ đều gây khổ đau, bạn vẫn tin rằng thực sự có một vài cảm thọ thuần túy là thích thú, thì bạn không phải là Phật tử.

Nếu bạn không chấp nhận rằng mọi hiện tượng là hão huyền và trống rỗng, nếu bạn vẫn tin tưởng rằng một số sự vật hiện hữu như vốn có thì bạn không phải là Phật tử. Và nếu bạn nghĩ rằng giác ngộ tồn tại trong phạm vi thời gian, không gian và năng lực thì bạn không phải là Phật tử. Vậy thì, điều gì khiến bạn là Phật tử?

Có thể bạn không sinh ra tại một đất nước Phật giáo hay trong một gia đình Phật tử, bạn cũng có thể không mặc những chiếc áo thụng dài, không cạo đầu, bạn có thể ăn thịt và thần tượng Eminem Paris Hilton 11. Điều đó không có nghĩa bạn không thể trở thành Phật tử. Để trở thành Phật tử, bạn phải chấp nhận mọi hiện tượng hữu vi là vô thường, mọi cảm thọ là khổ đau, mọi sự vật vốn không hiện hữu và giác ngộ là điều vượt ra khỏi các khái niệm.

Không nhất thiết là lúc nào cũng phải nhận thức được về bốn sự thật này. Nhưng chúng phải luôn ở trong tâm trí bạn. Bạn không đi lòng vòng và nhắc đi nhắc lại tên mình, nhưng khi ai đó hỏi tên bạn, dĩ nhiên là bạn nhớ ra ngay lập tức. Chẳng nghi ngờ. Bất cứ ai chấp nhận bốn pháp ấn này, thậm chí là hoàn toàn độc lập với những lời dạy của Phật, thậm chí là chưa từng nghe tới tên Phật Thích Ca Mâu Ni, có thể được coi là trên cùng con đường với Ngài.

Khi cố gắng giải thích tất cả những điều này cho người đàn ông ngồi cạnh trên chuyến bay, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng ngáy khe khẽ và nhận ra ông ta đã ngủ gật. Rõ ràng là cuộc trò chuyện với tôi không làm ông ấy hết buồn chán. Tôi thích đưa ra nhận định tổng quát, và khi bạn đọc cuốn sách này, bạn sẽ thấy vô số nhận xét tổng quát.

Nhưng tôi tự bào chữa cho mình bằng cách nghĩ rằng ngoài cách tổng quát hóa ra thì con người chúng ta không có nhiều phương tiện để truyền thông với nhau. Đây là một nhận xét tổng quát. Qua việc viết cuốn sách này, mục đích của tôi không phải là thuyết phục mọi người đi theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trở thành Phật tử và thực hành pháp. Một cách có chủ ý, tôi sẽ không đề cập tới bất cứ một kỹ thuật, phương pháp thực hành thiền hay tụng chú nào.

Dự định chủ yếu của tôi chỉ là trình bày phần độc đáo của đạo Phật khiến đạo Phật khác biệt so với những quan điểm khác. Vị Thái tử Ấn Độ đã nói gì mà khiến Ngài nhận được nhiều sự kính trọng và ngưỡng mộ đến vậy, thậm chí ngay cả các nhà khoa học hiện đại như Albert Einstein? Ngài đã nói gì mà khiến hàng ngàn người hành hương vừa đi vừa lạy từ Tây Tạng tới Bồ Đề Đạo Tràng? Điều gì khiến Phật giáo khác hẳn với các tôn giáo khác trên thế giới?

Tôi tin rằng đó là nhờ vào bốn pháp ấn này, và tôi đã cố gắng trình bày những khái niệm khó khăn này bằng ngôn ngữ đơn giản nhất mà tôi có. Ưu tiên hàng đầu của Ngài Tất Đạt Đa là đạt tới tận gốc rễ của vấn đề. Phật giáo không bị ngăn cản bởi những rào cản về văn hóa. Lợi ích mà nó mang lại là không giới hạn đối với bất cứ một xã hội nào, và không có chỗ cho chính quyền và chính trị.

Ngài Tất Đạt Đa không quan tâm tới những luận thuyết hàn lâm hay những học thuyết khoa học thực chứng. Trái đất có phẳng hay tròn chẳng hề là vấn đề đối với Ngài. Ngài có sự thực hành rất khác biệt. Ngài muốn đi đến tận cùng nỗi khổ đau. Tôi hy vọng khi làm sáng tỏ rằng những lời dạy của Ngài không phải là một triết lý tri thức vĩ chỉ để đọc rồi cất lên giá sách, mà đó là cái nhìn hợp lý, có tính ứng dụng cao khiến mỗi cá nhân có thể áp dụng vào cuộc sống của mình.

Để nhằm mục đích đó, tôi cố gắng sử dụng những ví dụ mà tôi gặp trên đường đời – từ những đổ vỡ trong tình yêu lãng mạn đến những nhu cầu khẩn thiết của nền văn minh mà ai trong chúng ta cũng biết. Những ví dụ trong cuốn sách này có thể khác với những ví dụ mà Ngài Tất Đạt Đa đã sử dụng, nhưng thông điệp của Ngài vẫn còn có giá trị cho tới tận ngày nay. Nhưng Ngài Tất Đạt Đa cũng nói rằng lời của Ngài không nên tin ngay mà thiếu đi sự phân tích, kiểm chứng.

Vì thế, dĩ nhiên một người bình thường như tôi cần phải được các bạn soi xét cẩn trọng, và tôi mời bạn hãy làm công việc phân tích những gì mà bạn sẽ tìm thấy trong những trang sách này.

Hữu Vi và Vô Thường

Cảm Thọ và Khổ Đau

Trong khi ngồi thiền định dưới cội cây, Ngài không xao lãng. Quỷ Vương Ma La (Mara) nghe thấy lời nguyện của Ngài, cảm thấy sức mạnh quyết tâm của Ngài. Mara không thể ngủ được, bởi vì hắn biết rằng bên trong Ngài Tất Đạt Đa có một tiềm năng khiến toàn bộ lãnh địa của hắn hỗn loạn. Là một chiến binh mưu lược, hắn cử năm người con gái xinh đẹp nhất của mình tới để làm xao lãng và quyến rũ Thái tử.

Khi các thiếu nữ (chúng ta gọi chúng là apsara, hay là các vũ nữ) khởi sự, chúng rất tự tin vào tài quyến rũ của mình. Nhưng khi tới gần Thái tử đang thiền định, vẻ đẹp của chúng bắt đầu tan biến. Chúng trở nên héo úa, già cỗi, người đầy những mụn cóc, da thịt bốc mùi hôi thối. Ngài Tất Đạt Đa không hề bị xao động. Bọn apsara buộc phải trở về, khiến cha chúng rất tức giận. Có kẻ dám cả gan từ chối những người con gái của hắn!

Trong cơn giận dữ, Ma La triệu tập cả đoàn tùy tùng của hắn - một đội quân được trang bị với đủ loại vũ khí. Đội quân của Ma La tấn công đồng loạt. Nhưng trước sự sững sờ của chúng, mọi cung tên, giáo mác, đá và máy bắn đá nhằm vào Tất Đạt Đa đã biến thành một trận mưa hoa ngay khi chúng vừa tiến gần mục tiêu. Sau nhiều giờ tấn công không thành, Ma La và đội quân của hắn mệt mỏi và đành chịu thua.

Cuối mũi Ma La tiến tới gần Ngài Tất Đạt Đa, với tất cả khả năng ngoại giao của mình, để thuyết phục Ngài từ bỏ cuộc truy tìm chân lý của Ngài. Ngài nói rằng Ngài sẽ không từ bỏ sau khi đã nỗ lực suốt bao kiếp sống. Ma La hỏi: Làm sao chúng tôi có thể chắc rằng Ngài đã cố gắng đấu tranh lâu đến vậy?

Ngài Tất Đạt Đa trả lời: Ta chẳng cần sự công nhận của ai, trái đất này sẽ là nhân chứng cho ta, Ngài vừa nói vừa chạm tay xuống đất, mặt đất rung chuyển và Ma La biến mất vào trong không khí. Thế đấy, Ngài Tất Đạt Đa đã tìm được giải thoát và trở thành một vị Phật. Ngài đã khám phá ra con đường kết thúc khổ đau tại chính gốc rễ của nó, không chỉ cho bản thân Ngài mà còn cho tất cả mọi người.

Nơi diễn ra trận quyết đấu cuối cùng với Ma Là giờ được gọi là Bồ đề Đạo tràng (Bodh Gaya), và cội cây mà Ngài đã ngồi thiền được gọi là “cây bồ đề”. Đó chính là câu chuyện mà các bà mẹ Phật tử đều kể cho con mình nghe qua rất nhiều thế hệ. Định nghĩa hạnh phúc cá nhân Thật không thích đáng khi hỏi một Phật tử rằng: “Mục đích của cuộc đời là gì?” bởi vì câu hỏi đó gợi ý là đâu đó ở ngoài kia, có lẽ ở một hang động hay trên một đỉnh núi, có một mục đích tối hậu.

Câu hỏi này gợi ý chúng ta có thể giải mã một bí mật bằng cách học hỏi với những vị thánh sống, đọc sách, hay thành thạo những thực hành mật pháp. Nếu câu hỏi đó dựa vào một giả định rằng trong muôn kiếp trước có một ai đó, một vị thần, đã lập ra một mục đích, thì đó là một câu hỏi mang tính hữu thần. Người Phật tử không tin rằng có một đấng sáng tạo toàn năng, và họ cũng không có khái niệm rằng mục đích của cuộc đời đã được hoặc cần được xác định hay định nghĩa.

Một câu hỏi phù hợp hơn đặt ra cho một Phật tử là: “Cuộc đời là gì?” Từ hiểu biết của chúng ta về vô thường, câu trả lời cũng rất rõ ràng, hiển nhiên: “Cuộc đời chỉ là một mảng lớn gồm các hiện tượng hữu vi, và vì thế cuộc đời là vô thường”. Cuộc đời là sự chuyển dịch, một tập hợp của những kinh nghiệm nhất thời.

Và mặc dù vô số những hình thái sống (như người, chó mèo, chim chó, côn trùng) đang hiện hữu, chúng ta đều có cùng một điểm chung là chẳng có chúng sinh nào muốn khổ đau. Tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, từ các tổng thống, các tỷ phú cho tới lũ kiến, ong, tôm, hay bướm làm việc chăm chỉ. Dĩ nhiên những định nghĩa về “khổ đau” và “hạnh phúc” cũng rất khác nhau giữa những hình thái sống này, ngay cả trong cảnh giới tương đối bé nhỏ của loài người.

Định nghĩa về niệm “khổ đau” đối với một số người có thể là định nghĩa về “hạnh phúc” đối với một số người khác, và ngược lại. Với một số người, được hạnh phúc chỉ có nghĩa là xoay sở làm sao để được sống; đối với những người khác nó có nghĩa là sở hữu bảy trăm đôi giày. Có rất nhiều người cảm thấy hạnh phúc khi có được một hình xăm giống như hình xăm của David Beckham trên bắp tay của họ.

Nhiều khi cái giá chính là đời sống của chúng sinh khác, như khi hạnh phúc của ai đó tùy thuộc vào sự có được một vây cá mập, một cái đùi gà, hay một dương vật của hổ. Một vài người coi sự mơn trớn nhẹ nhàng của một cái lông chim là gợi dục, trong khi những người khác lại thích bàn xát, roi da, dây xích… Vua Edward VIII thích cưới một người phụ nữ Mỹ đã ly dị thay vì mang vương miện của Đế quốc Anh hùng mạnh.

Ngay cả với một cá nhân, những định nghĩa về “hạnh phúc” và “khổ đau” cũng thay đổi. Chỉ một khoảnh khắc nhẹ dạ trong sự tỏ tình bỗng nhiên có thể làm lệch lạc quan điểm của một người vốn muốn có mối quan hệ nghiêm túc; hy vọng trở thành sợ hãi. Khi bạn là một đứa trẻ trên bãi biển, thì việc xây những xây tòa lâu đài trên cát là hạnh phúc. Khi lớn lên thành một thiếu niên, nhìn ngắm những cô gái mặc bikini và những chàng trai để ngực trần đang lướt sóng là hạnh phúc.

Đến tuổi trung niên, tiền và sự nghiệp là hạnh phúc. Và khi bạn đã ngoài tám mươi, sưu tập những chiếc hũ gốm là hạnh phúc. Đối với nhiều người, đáp ứng những khái niệm luôn thay đổi và vô tận này là “mục đích của cuộc đời”. Rất nhiều người trong chúng ta thường học những định nghĩa về “hạnh phúc” và “khổ đau” từ xã hội mà chúng ta đang sống, đẳng cấp xã hội ấn định cách chúng ta đo sự hài lòng của mình. Đó chính là vấn đề về những giá trị được chia sẻ.

Hai chúng sinh từ hai nơi hoàn toàn khác nhau của thế giới có thể trải qua những cảm giác giống nhau – thích thú, chán chường, sợ hãi – dựa trên những biểu thị văn hóa khác biệt về hạnh phúc. Chân gà có thể là món khoái khẩu của người Trung Quốc, trong khi người Pháp lại rất thích phết một lớp gan ngỗng lên miếng bánh mì của họ.

Có học thuyết cho rằng chúng ta sẽ hoàn toàn hài lòng mà không cần có cửa hàng, không có xe hơi thể thao, không có các cửa hàng cafe Starbucks, không cạnh tranh, không có khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, có dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người – và xe đạp có giá trị hơn xe Humvee. Thay vào đó, chúng ta học những gì chúng ta muốn. Một thập kỷ trước, những chiếc đầu đĩa video là biểu tượng của sự giàu có ở vương quốc Bhutan.

Dần dần câu lạc bộ những người sở hữu xe Toyota Land Cruiser đã thay thế những câu lạc bộ VCR của những người sở hữu đầu đĩa video theo quan điểm tối hậu của Bhutan về sự giàu có và hạnh phúc. Thói quen coi những tiêu chuẩn của nhóm là những tiêu chuẩn của mình đã được hình thành từ độ tuổi rất sớm. Khi học lớp một, bạn có thể nhìn thấy bạn bè cùng trang lứa đều có một loại hộp bút nào đó.

Bạn phát triển nhu cầu về một hộp bút chì loại ấy cho riêng bạn để giống như các bạn khác. Bạn nói với mẹ và việc mẹ bạn có mua cho bạn chiếc hộp bút đó hay không sẽ quyết định hạnh phúc của bạn. Điều này tiếp tục khi bạn đến tuổi trưởng thành. Nhà hàng xóm sở hữu một chiếc TV plasma hay một chiếc SUV mới cứng nên bạn cũng muốn có một thứ như thế – chỉ có điều là phải mới hơn và lớn hơn. Cạnh tranh và ham muốn những gì mà người khác đang có cũng tồn tại ở bình diện văn hóa.

Thường thì chúng ta đánh giá những phong tục và truyền thống của nền văn hóa khác cao hơn là tập tục của chúng ta. Gần đây có một thầy giáo Đài Loan đã quyết định để tóc dài giống như tập tục của Trung Quốc cách đây nhiều thế kỷ. Anh ta trông rất phong cách, giống như một chiến binh Trung Quốc cổ xưa, nhưng hiệu trưởng đã dọa sẽ sa thải người giáo viên đó nếu anh ta không hành xử “đúng đắn”, nghĩa là để kiểu tóc ngắn của phương Tây thế kỷ 21.

Giờ đây anh ta cắt tóc ngắn trông như thể anh ta mới bị điện giật. Sẽ rất ngạc nhiên khi chúng ta chứng kiến việc người Trung Quốc cảm thấy bối rối vì nguồn gốc của mình, tuy rằng chúng ta thấy nhiều trường hợp tương tự về mặc cảm tự tôn - tự ti này ở nhiều quốc gia châu Á. Một mặt, nhiều quốc gia châu Á rất tự hào về truyền thống văn hóa của mình; nhưng mặt khác, họ thấy mình có phần khiên cưỡng và lạc hậu.

Họ đã thay thế nó bằng nền văn hóa của phương Tây trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống – trang phục, âm nhạc, đạo đức và thậm chí cả hệ thống chính trị phương Tây. Ở cả bình diện văn hóa và cá nhân, chúng ta tiếp thu những cách thức bên ngoài và ngoại lai để đạt được hạnh phúc và vượt qua khổ đau, mà hiếm khi nhận ra những phương cách này thường mang lại những kết quả trái ngược với kết quả mong đợi.

Thất bại trong việc áp dụng những điều đó đã tạo ra nhiều khổ sở mới bởi vì không chỉ chúng ta vẫn khổ đau, mà chúng ta cũng cảm thấy xa lạ với chính cuộc sống của mình, chẳng thể hòa hợp với quy lệ ấy. Một số định nghĩa mang tính văn hóa này về “hạnh phúc” cũng có hiệu quả tốt ở một mức độ nào đó. Nhìn chung, sự có được một chút tiền tại ngân hàng, một chỗ ở tiện nghi, có đủ thức ăn, những đôi giày tươm tất và những tiện nghi căn bản khác sẽ khiến chúng ta hạnh phúc.

Nhưng những vị đạo sĩ ở Ấn Độ và những ẩn sĩ lang thang ở Tây Tạng cảm thấy hạnh phúc bởi vì họ không cần có một xâu chìa khóa - họ không cần phải lo lắng rằng tài sản của họ sẽ bị lấy cắp bởi vì họ chẳng có gì để mà khóa lại cả. Những định nghĩa chính thức về “hạnh phúc” Khá lâu trước khi đến địa điểm nổi tiếng Bồ đề Đạo tràng, Ngài Tất Đạt Đa đã từng ngồi dưới một cội cây khác trong vòng sáu năm.

Thân thể Ngài trở nên gầy mòn chỉ vì sống nhờ vào một chế độ ăn chỉ vài hạt gạo và vài giọt nước; Ngài không tắm hay cắt móng chân tay; và vì thế Ngài trở thành mẫu hình cho những người bạn cùng tử khác. Ngài nghiêm khắc giữ mình mình đến nỗi lũ trẻ chăn bò trong vùng thường trêu chọc Ngài bằng việc lấy cỏ chọc vào tai Ngài hay thổi kèn vào mặt Ngài, nhưng chúng không bao giờ quấy nhiễu được Ngài.

Nhưng một ngày, sau rất nhiều năm thực hành tu tập, Ngài bỗng nhận: Thế này là không đúng. Đây là con đường cực đoan, cũng chỉ là một cái bẫy khác giống như những kỹ nữ, những vườn chim công và những chiếc thìa nạm ngọc. Và thế là Ngài quyết định vượt lên khỏi tình trạng hành xác ấy và Ngài xuống tắm dưới dòng sông Ni Liên Thiền (Nairanjana, nay là sông Phalgu).

Trước sự ngỡ ngàng của các bạn đồng tu, Ngài còn nhận một bát sữa tươi từ một cô gái vắt sữa tên là Tu Xà Đa (Sujata). Hẳn là những người đồng tu với Đức Phật đã tẩy chay Ngài, vì nghĩ rằng Ngài sẽ ảnh hưởng xấu đến đạo đức của họ và sự gần gũi Ngài sẽ cản trở việc tu tập của họ. Người ta có thể hiểu tại sao những vị tu khổ hạnh này lại phản đối Đức Phật vì Ngài đã phá bỏ lời thề của mình.

Con người thường cố gắng tìm kiếm hạnh phúc không chỉ thông qua vật chất mà còn qua cả những phương tiện tâm linh nữa. Một phần lớn trong lịch sử thế giới tập trung vào tôn giáo. Tôn giáo gắn kết mọi người bằng những con đường sáng sủa và những quy tắc đạo đức của nó – yêu thương hàng xóm của bạn, thực hành sự bao dung, Quy tắc Vàng, thiền định, chay tịnh và sự hy sinh.

Nhưng những nguyên tắc tưởng chừng như hữu ích này có thể trở nên cực đoan, giáo điều và khiến mọi người cảm thấy tội lỗi và tự ti một cách không cần thiết. Ta cũng thường thấy một tín đồ ngạo mạn xem thường các tôn giáo khác với tất cả sự hẹp hòi, sử dụng niềm tin của mình để chỉnh sửa nền văn hóa khác hay thậm chí gây nên sự hoại diệt về vật chất. Những ví dụ về sự nỗ lực phá hoại như thế rất nhiều và lan tỏa khắp nơi.

Con người ta không chỉ dựa vào tôn giáo có tổ chức mà còn phụ thuộc vào cả những trí tuệ thông thường – hay thậm chí là những khẩu hiệu chính trị – để đạt được hạnh phúc và làm giảm khổ đau. Theodore Roosevelt đã nói: “ Nếu tôi phải chọn giữa công lý và hòa bình, tôi sẽ chọn công lý.” Nhưng đó là công lý của ai? Chúng ta định đi theo sự diễn giải của ai. Chủ nghĩa cực đoan tức là lựa chọn một hình thức công lý và loại bỏ tất cả những hình thức khác.

Một ví dụ khác: thật dễ dàng nhận ra sự hấp dẫn về trí tuệ của Khổng Tử, như là kính trọng và vâng lời người lớn tuổi, và không vạch ra những lỗi lầm và sự sỉ nhục của gia đình và quốc gia. Trí tuệ của Khổng Tử rất thực tế và có thể hữu ích trong việc vận dụng vào thế giới này. Đó cũng có thể là những chỉ dẫn khôn ngoan, nhưng trong rất nhiều trường hợp, quy luật này đưa tới những hậu quả tiêu cực, như là sự độc quyền và sự áp chế những quan điểm đối nghịch.

Ví dụ: sự ám ảnh về việc giữ thể diện và tuân lệnh người lớn tuổi đưa lại kết quả hàng thế kỷ của mánh khóe và lừa dối, đối với những người hàng xóm và cả với toàn quốc gia. Nhiều nhà lãnh đạo tại nhiều nước hô hào công lý, dân chủ. Những nhà lãnh đạo này, vốn có những kẻ tay chân tôn vinh và những sai trái của họ được giữ bí mật, sẽ cố giữ chức vụ của họ đến tận hơi thở cuối cùng, hay đến khi có người kế vị. Rất ít thay đổi đã được thực hiện từ hệ thống phong kiến cũ.

Luật pháp và công lý được thiết lập để gìn giữ an ninh và tạo ra xã hội hòa hợp, nhưng trong nhiều trường hợp, hệ thống công lý chống tội phạm lại chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ lừa đảo và những người giàu có, trong khi người nghèo và trẻ con phải chịu đựng những luật lệ bất công. Con người chúng ta mải mê theo đuổi hạnh phúc và sự chấm dứt khổ đau hơn là sự ham thích hay nghề nghiệp, bằng cách sử dụng vô số những phương pháp và phương tiện vật chất.

Đó là lý do tại sao chúng ta có những tiện nghi như thang máy, máy tính xách tay, pin có thể sạc lại, máy rửa bát, lò nướng có thể bắn bánh mì ra đúng số lượng lát bánh mà bạn cần, máy hút phân chó, nhíp lấy lông mũi bằng pin, nhà vệ sinh với ghế ngồi ấm, thuôc Novocain, điện thoại di động, dược phẩm Viagra, giấy dán tường… Nhưng điều chắc chắn là các tiện nghi đó cũng khiến người ta đau đầu không kém.

Các quốc gia cũng tìm kiếm hạnh phúc và sự chấm dứt khổ đau nhưng trên diện rộng lớn hơn: chiến đấu vì lãnh thổ, dầu mỏ, không gian, thị trường tài chính và quyền lực. Họ phát động các cuộc tấn công trước để tránh bị thiệt hại trước. Về mặt cá nhân, chúng ta cũng làm như thế bằng cách săn sóc sức khỏe phòng ngừa, uống vitamin, đi bác sĩ để tiêm phòng, thử máu và chụp CAT toàn bộ cơ thể. Chúng ta đang tìm những dấu hiệu báo trước sự khổ đau.

Và một khi chúng ta tìm thấy khổ đau thì ngay lập tức tìm kiếm phương cách chữa bệnh. Mỗi năm, kỹ thuật mới, liệu pháp mới và những cuốn sách hướng dẫn cách tự săn sóc cố gắng đưa ra những giải pháp lâu dài nhằm giải quyết khổ đau và, một cách lý tưởng, loại trừ vấn đề từ gốc rễ của nó. Ngài Tất Đạt Đa cũng nỗ lực chặt đứt khổ đau từ gốc rễ của nó.

Nhưng Ngài không mơ tưởng tới một giải pháp như là phát động một cuộc cách mạng chính trị, di trú lên một hành tinh khác hay tạo ra một nền kinh tế thế giới mới. Ngài cũng chẳng nghĩ tới việc tạo ra một tôn giáo hay phát triển những quy tắc đạo đức nhằm mang tới hòa bình và hòa hợp. Ngài khám phá khổ đau với tâm hồn rộng mở, và do nỗ lực thiền quán, Ngài đã tìm thấy gốc rễ của vấn đề, đó chính là những cảm thọ của chúng ta dẫn đến khổ đau. Thực ra, chúng là khổ đau.

Cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp, tất cả những cảm thọ của chúng ta đều được sinh ra từ sự chấp ngã trong ý nghĩa rằng chúng bao hàm và nắm níu vào một cái ngã. Hơn thế nữa, Ngài còn phát hiện ra những cảm thọ có vẻ hoàn toàn như thật nhưng chúng không phải là một phần sẵn có của sự hiện hữu của con người. Chúng không phải là bẩm sinh, cũng không phải là loại nguyền rủa hay sự gán ghép của ai đó hay vị thần nào đó trút vào chúng ta.

Xúc thọ sẽ sinh khởi khi các nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên) đặc biệt tụ đến với nhau, như khi bạn chợt nghĩ rằng có ai đó đang chỉ trích bạn, phớt lờ bạn hay tước đi một thứ gì đó của bạn. Và sau đó, cảm thọ tương ứng sẽ sinh khởi. Giây phút bạn chấp nhận những cảm thọ đó, giây phút chúng ta chìm đắm vào cảm thọ đó, chúng ta đã đánh mất sự nhận biết và sự tỉnh táo. Chúng ta bị “kích động”. Vì thế, Ngài Tất Đạt Đa tìm ra giải pháp của Ngài – sự tỉnh giác.

Nếu thực sự mong muốn xả bỏ khổ đau, bạn cần phải làm phát sinh sự tỉnh giác, chú ý tới những cảm thọ của mình và học cách để tránh bị “kích động”. Nếu bạn xem xét những cảm thọ của mình như Ngài Tất Đạt Đa đã làm, nếu bạn nỗ lực nhận diện được nguồn gốc của chúng, bạn sẽ thấy rằng chúng có căn nguyên từ sự hiểu lầm và về cơ bản chúng là sai lầm. Tất cả cảm thọ cơ bản là một dạng của thành kiến; trong mỗi cảm thọ luôn luôn có một thành tố phán xét.

Ví dụ, một ngọn đuốc được quay tròn ở một tốc độ nào đó sẽ hiện ra như một vòng tròn lửa. Ở rạp xiếc, trẻ em ngây thơ, và cả một số người lớn, nhận thấy cảnh tượng này rất vui mắt và thú vị. Những khán giả tưởng những gì mình thấy là thật; ảo giác quang học khiến họ mất tỉnh táo... Dù nó kéo dài bao lâu, thậm chí nếu chỉ trong một khoảnh khắc, họ cũng vẫn bị thuyết phục hoàn toàn và sâu đậm.

Trong thể cách tương tự, nhiều người trong chúng ta bị lầm lạc về vẻ dáng bên ngoài của chính cơ thể mình. Khi nhìn vào cơ thể mình, chúng ta không nghĩ về từng phần riêng như phân tử, gene, các mạch và máu. Chúng ta nghĩ đến thân thể như là một tổng thể; và hơn thế nữa, chúng ta còn cho rằng đây là một cấu trúc đang thực sự hiện hữu được gọi là “thân thể”.

Bị thuyết phục như vậy nên trước hết chúng ta luôn ước mình có vòng eo thon thả, những bàn tay đẹp đẽ, chiều cao ấn tượng, nét mặt đậm đà, thùy mị, một hình vóc có đường nét. Thế rồi chúng ta bị ám ảnh và dành thời gian vào việc luyện tập thể hình, kem dưỡng da, trà giảm cân, tuân thủ những chế độ ăn uống nghiêm ngặt, tập yoga, nước hoa oải hương.

Giống như những đứa trẻ bị thu hút, lôi kéo và thậm chí là sợ hãi bởi vòng tròn lửa kia, chúng ta trải nghiệm những cảm thọ về vẻ bên ngoài và sự khỏe mạnh của cơ thể chúng ta. Khi trông thấy một vòng tròn lửa, người lớn biết rằng đó là một ảo ảnh, vì thế chúng ta không bị mất bình tĩnh. Sử dụng lý lẽ cơ bản này, chúng ta có thể thấy rằng vòng tròn lửa kia được hình thành từ những thứ được kết hợp lại – động tác của cánh tay cầm bó đuốc đang cháy.

Một người anh hay chị có thể trở nên kiêu căng hoặc hách dịch đối với đứa em nhỏ. Tuy thế, là những người trưởng thành, chúng ta có thể nhìn thấy cái vòng tròn, chúng ta có thể hiểu sự hứng khởi của bọn trẻ, đặc biệt nếu đó là vào buổi tối, những vũ công nhảy múa, âm nhạc sôi động và những thứ náo nhiệt khác phụ họa cho tiết mục ấy. Thế rồi cảnh tượng ấy thậm chí còn gây sợ hãi cho người lớn chúng ta dù chúng ta vẫn cảnh giác với tính chất giả ảo căn bản của nó.

Theo Ngài Tất Đạt Đa, sự hiểu biết này là hạt giống của từ bi. Sự hỗn hợp bất định của các cảm thọ Khi nhập định, Ngài Tất Đạt Đa bắt đầu nhìn thấy tính chất vốn là giả ảo của tất cả các hiện tượng, và với hiểu biết này, Ngài quay trở lại quan sát cuộc sống cũ của Ngài tại cung điện với các cuộc hội tiệc, các khu vườn thả chim công, bạn bè và gia đình của Ngài.

Ngài thấy cái được gọi là gia đình giống như, cái nhà trọ hay khách sạn, ở đó có những người khách đăng ký trú ngụ và tạm thời tụ lại với nhau. Cuối cùng, sự tụ tập của những người này rồi cũng phân tán – vào thời điểm cái chết, nếu không nói là có thể sớm hơn. Trong khi ở cùng nhau, nhóm này có thể phát triển một mối liên hệ bằng sự tin cậy, trách nhiệm, tình yêu và chia sẻ thành công cũng như thất bại, từ đó mà đủ mọi tình huống phát sinh.

Ngài Tất Đạt Đa có thể nhìn thấy rõ ràng rằng người ta dễ bị cuốn đi bởi quan niệm về một cuộc sống gia đình bình dị, ý niệm sẽ sống cùng nhau và tất cả những hiện tượng hấp dẫn của cuộc sống nơi cung điện. Những người khác không thể nhìn thấy như Ngài thấy, hay như người lớn có thể thấy vòng tròn lửa chỉ là những thành phần giả huyễn, được tập hợp, vô bản chất.

Nhưng giống như một bậc cha mẹ hiền hậu, thay vì tỏ ra ngạo mạn hay áp chế những đứa con vì sự khờ khạo của mình, Ngài nhìn thấy bên trong vòng lửa đó không hề có sự xấu hay tốt; không phải là lỗi lầm; cho nên không có trách cứ, và điều ấy khiến Ngài chỉ cảm thấy lòng đại từ bi. Khi nhìn ra sự hời hợt của cuộc sống nơi cung điện, Ngài Tất Đạt Đa bấy giờ đã thấy cả cơ thể vật lý của mình là vô bản chất. Đối với Ngài, vòng lửa và cơ thể này có cùng một bản chất.

Chừng nào một ai đó tin rằng những thứ như thế thực sự hiện hữu – tạm thời hay “vĩnh cửu” – thì niềm tin của người đó bắt rễ từ chính sự hiểu lầm này. Sự hiểu lầm này không gì khác hơn là sự thiếu tỉnh giác. Và khi sự tỉnh giác mất đi, đó là điều mà các Phật tử gọi là vô minh (si muội). Chính do sự vô minh này mà các cảm thọ của chúng ta mới sinh khởi.

Quá trình này, bắt nguồn từ sự mất tỉnh giác đến sự sinh khởi của các cảm thọ, có thể được giải thích đầy đủ khi sử dụng bốn sự thật, như chúng ta sẽ thấy. Rất nhiều cảm thọ hiện hữu trong thế giới này. Mỗi giây phút có hàng vạn cảm thọ được sinh ra dựa trên những phán xét sai lầm, những thành kiến và cả sự xí muội (vô minh) của chúng ta.

Chúng ta quen thuộc với sự yêu và ghét, tội và vô tội, tận tụy, bi quan, ganh tỵ và tự hào, sợ hãi, hổ thẹn, buồn bã, vui tươi và còn quá nhiều thứ nữa. Nhiều nền văn hóa có những từ ngữ để chỉ cảm thọ trong khi các nền văn hóa khác không có nên chúng không tồn tại. Ở một số nước châu Á, không có từ để chỉ tình yêu lãng mạn, trong khi người Tây Ban Nha có rất nhiều từ để chỉ nhiều loại cảm giác khác nhau về tình yêu.

Theo những người Phật tử, còn vô số cảm thọ chưa có tên trong bất kỳ ngôn ngữ nào, thậm chí vượt khỏi khả năng của thế giới lý luận của chúng ta. Một ít cảm thọ có vẻ hợp lý, nhưng hầu hết là phi lý. Một số cảm thọ có vẻ bình an lại có nguồn gốc từ sự nóng giận. Một số cảm thọ thì hầu như không thể nhận biết được. Chúng ta có thể nghĩ rằng ai đó tỏ ra hoàn toàn vô cảm hay thờ ơ, nhưng tự nó cũng chính là một cảm thọ. Những cảm xúc có thể rất trẻ con.

Ví dụ, bạn có thể nổi giận vì ai đó không nổi giận trong khi bạn nghĩ rằng họ phải nổi giận. Hay một hôm bạn có thể buồn bực vì người yêu của bạn cứ khăng khăng xem bạn là của riêng mình và hôm sau bạn lại buồn bực vì người đó không còn khăng khăng như thế.

Một số cảm thọ là kỳ lạ đối với một người bàng quan, như khi Thái tử Charles, trong một lúc lén lút tán tỉnh đã nói với người tình bấy giờ là Camilla Parker Bowles rằng ông chẳng quan tâm nếu kiếp sau ông tái sinh làm miếng băng vệ sinh của cô. Một số cảm thọ biểu lộ rõ như sự kiêu căng, như những người ở trong Nhà Trắng áp đặt ý tưởng của họ về tự do lên thế giới này.

Ép buộc những quan điểm cá nhân của chúng ta vào người khác thông qua sức mạnh, thư nặc danh, trò lừa đảo hay sự vận động tinh tế là một phần của những hoạt động cảm xúc của chúng ta.

Không chỉ một vài tín đồ Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo mới cảm thấy hăng say trong việc cải đạo cho những người ngoại đạo để giúp họ thoát khỏi lửa địa ngục và sự nguyền rủa [của Thượng đế]; trong khi những người theo chủ nghĩa hiện sinh lại cố gắng chuyển hóa những người theo đạo thành những người ngoại đạo.

Những cảm thọ có khi xuất phát từ một dạng tự hào buồn cười, ví dụ như giữa những người Ấn Độ yêu nước đối với một người Ấn Độ được dựng lên bởi những kẻ thống trị người Anh. Nhiều người Mỹ ái quốc có sự cảm thọ tự cho rằng mình đúng khi Tổng thống Bush, từ hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln, tuyên bố chiến thắng Iraq, dù thực ra cuộc chiến chỉ mới bắt đầu.

Khao khát được tôn trọng là một cảm thọ: hãy nhìn Malaysia, Đài Loan và Trung Quốc đua nhau xem nước nào có thể xây dựng tòa nhà cao nhất thế giới, như thể đó là bằng cớ cho sự hùng cường của các nước ấy. Những cảm thọ có thể là đau đớn và ray rứt, dẫn tới chứng ái nam (pedophilia) và bạo dâm. Một người đàn ông còn thông báo trên Internet rằng mình đang tìm một thanh niên muốn bị giết và bị ăn thịt.

Anh ta đã nhận được rất nhiều phản hồi và quả thật anh ta đã giết và ăn thịt một trong những người đã phản hồi ấy. Đạt tới gốc rễ: (Vô) ngã Tất cả những cảm thọ đa dạng này và hậu quả của chúng phát sinh từ sự hiểu lầm, và sự hiểu lầm này đến từ cùng một nguồn gốc – đó là gốc rễ của vô minh (ngu si) – sự chấp ngã (nắm níu vào cái tôi). Chúng ta cho rằng mỗi người chúng ta là một cái ngã (cái tôi), rằng có một thực thể được gọi là “tôi”.

Tuy nhiên, cái ngã lại là một sự hiểu lầm khác. Chúng ta thường tạo ra khái niệm về ngã, như thể đó là một thực thể thuần nhất. Chúng ta được đặt vào hoàn cảnh để thấy khái niệm này nhất quán và chân thực. Chúng ta nghĩ: Tôi là hình tướng này, và đưa tay lên. Chúng ta nghĩ: Tôi có hình tướng, đây là thân thể của tôi. Chúng ta nghĩ: Hình tướng là tôi, tôi thì cao. Chúng ta nghĩ: Tôi ở trong hình tướng này, và chỉ vào ngực mình.

Chúng ta cũng làm thế với những cảm giác, nhận thức và hành động của mình. Tôi có những cảm giác, tôi là những nhận thức của tôi… Nhưng Ngài Tất Đạt Đa nhận ra rằng chẳng có thực thể nào độc lập được định tính như là một cái ngã có thể tìm thấy ở đâu đó, hoặc ở trong hoặc ở ngoài thân thể. Giống như ảo ảnh quang học của vòng tròn lửa, cái ngã cũng là huyễn giả. Nó là một sự hư ngụy, căn bản là sai lầm, hoàn toàn không hiện hữu.

Nhưng ngay khi chúng ta mất kiểm soát vì cái vòng lửa thì chúng ta cũng mất kiểm soát vì suy nghĩ rằng chúng ta là cái ngã. Khi chúng ta nhìn vào thân thể, cảm xúc, nhận thức, hành động và ý thức của mình, chúng ta thấy rằng đấy là những thành phần khác nhau của cái mà ta nghĩ đến như là “tôi”, nhưng nếu chúng ta kiểm chứng lại chúng, chúng ta có thể tìm thấy rằng “tôi” không cư ngụ ở bất kỳ thứ nào trong các thứ ấy.

Bám chấp lấy sự hư ngụy của cái ngã là một hành động rất buồn cười của vô minh (si, si muội); nó sẽ mãi mãi nuôi dưỡng vô minh, và nó dẫn tới tất cả những khổ đau và thất vọng. Mọi thứ chúng ta làm trong cuộc sống phụ thuộc vào cách chúng ta nhận thức “chính mình”. Vì thế, nếu nhận thức này dựa trên những hiểu biết sai lầm, mà dĩ nhiên nó phải sai lầm, thì sự hiểu biết sai lầm này sẽ thấm vào mọi thứ chúng ta làm, nhìn thấy và trải nghiệm.

Đó không phải là một vấn đề đơn giản của một đứa trẻ hiểu lầm về ánh sáng và sự chuyển động; toàn bộ sự hiện hữu của chúng ta dựa trên những tiền đề rất nông cạn. Vào thời điểm Ngài Tất Đạt Đa nhận ra vô ngã (không có cái tôi – ngã), Ngài cũng nhận ra không hề có sẵn cái xấu ác nào – chỉ có sự vô minh.

Đặc biệt, Ngài nhìn thấu sự vô minh trong việc tạo ra một nhãn hiệu “tôi” rồi dán nó vào một hiện tượng được cấu thành hoàn toàn vô căn cứ, quy cho nó tầm quan trọng và truy tìm mọi cách để bảo vệ nó. Ngài nhận thấy chính sự vô minh này dẫn thẳng tới khổ đau và thương tổn. Vô minh chỉ đơn giản là không biết tới các sự kiện, hoặc có những sự kiện sai lầm, hoặc có cái biết không trọn vẹn.

Tất cả những dạng thức của vô minh đều dẫn tới sự hiểu lầm và sự diễn dịch sai lạc; sự đánh giá quá cao hoặc quá thấp. Giả sử bạn đang tìm kiếm bạn của mình và bạn nhìn thấy anh ta ở phía cánh đồng đằng xa. Khi tới gần, bạn mới phát hiện ra bạn đã nhận lầm bù nhìn là người bạn ấy. Bạn cảm thấy thất vọng. Không phải là hình người bù nhìn tinh nghịch ấy hay người bạn kia cố lén lút khiến bạn nhầm lẫn, đó là sự vô minh của chính bạn đã lừa dối bạn.

Bất cứ những gì chúng ta làm mà khởi lên từ vô minh đều do chúng ta tự suy diễn một cách thiếu căn cứ. Khi chúng ta hành động thiếu hiểu biết, hoặc hiểu biết không trọn vẹn, thì không có cơ sở để tự tin. Sự bất an cơ bản của chúng ta khởi lên và tạo ra mọi cảm thọ này, có tên và không tên, nhận ra được và không nhận ra được.

Lý do duy nhất để chúng ta cảm thấy tự tin rằng mình sẽ lên tới tầng lầu cao nhất (khi chúng ta đang dùng thang máy), hay chuyến bay của chúng ta sẽ cất cánh và hạ cánh an toàn tại nơi đến, là vì chúng ta đang hưởng sự vui thích trong vô minh. Nhưng sự vui thích đó cũng không kéo dài được lâu, bởi vì nó chẳng gì hơn là sự đánh giá quá cao rằng tỷ lệ xác suất sẽ thiên về phần tốt đẹp cho chúng ta, và sự đánh giá quá thấp về những trở ngại.

Dĩ nhiên, các nhân duyên tự đến với nhau và các sự việc xảy ra như chúng ta đã dự tính, nhưng chúng ta lại coi thành công này là đương nhiên phải như vậy. Chúng ta sử dụng nó làm bằng chứng để cho thấy sự việc không thể khác đi được những dự tính của chúng ta là có cơ sở. Nhưng những dự liệu như thế chỉ nuôi dưỡng sự hiểu nhầm mà thôi.

Mỗi khi chúng ta có một dự tính – chẳng hạn, rằng chúng ta hiểu người phối ngẫu của mình – là chúng ta đang tự phơi bày chính mình giống như là một vết thương hở miệng vậy. Những dự tính và sự mong chờ dựa vào một ai đó hay một điều gì đó thường khiến chúng ta tổn thương. Vào bất cứ lúc nào, một trong những điều trái ngược khôn lường có thể xảy ra sẽ như rắc muối vào những dự tính của chúng ta, khiến chúng ta nao núng và than khóc.

Thói quen: Đồng minh của ngã Có lẽ phát hiện lớn nhất trong lịch sử loài người là thể hội của Ngài Tất Đạt Đa rằng cái ngã không hiện hữu độc lập, rằng nó đơn thuần chỉ là một nhãn hiệu, và vì thế nắm chấp vào nó là vô minh. Cái nhãn hiệu “ngã” tuy rất mong manh nhưng việc phá hủy nó không hề dễ dàng. Cái nhãn hiệu được gọi là “ngã” là thứ bướng bỉnh nhất trên tất cả mọi khái niệm cần phá vỡ.

Phát hiện của Ngài Tất Đạt Đa về sự hư ngụy của cái ngã được thể hiện trong câu chuyện về sự loại bỏ Ma La (Mara). Theo truyền thuyết, Ma La được xem là chúa tể của cảnh giới dục vọng, chính là sự chấp thủ ngã của Ngài Tất Đạt Đa. Sẽ thích hợp hơn khi miêu tả Ma La như một chiến binh đẹp đẽ, đầy sức mạnh và chưa bao giờ bị đánh bại. Giống như Ma La, bản ngã đầy sức mạnh và chưa từng bị thất bại.

Cũng giống như Ma La, cái ngã mạnh mẽ và tham lam vô độ, vị kỷ, và dối trá, khao khát sự chú ý, linh lợi và kiêu ngạo. Thật khó để nhớ rằng, giống như là ảo ảnh của cái vòng lửa, cái ngã được cấu thành, không hiện hữu độc lập và chịu sự thay đổi. Thói quen khiến chúng ta yếu ớt khi chống lại cái ngã. Ngay cả những thói quen rất đơn giản cũng khó bị diệt trừ.

Bạn có thể nhận thức được thói quen hút thuốc có hại như thế nào đối với sức khỏe của mình, nhưng điều ấy không nhất thiết thuyết phục được bạn ngừng hút thuốc, đặc biệt khi bạn thích thú với trình tự hút thuốc, với hình dáng thon thả của điếu thuốc, cách cháy âm ỉ của thuốc lá, khói thơm cuộn quanh những ngón tay của bạn. Nhưng thói quen của cái ngã thì không đơn giản như việc nghiện thuốc lá. Từ vô thủy chúng ta đã nghiện cái ngã.

Đó chính là cách chúng ta nhận diện bản thân mình. Đó là thứ mà chúng ta yêu quý nhất. Và thỉnh thoảng đó cũng là thứ mà chúng ta chán ghét nhất, vì sự hiện hữu của nó là điều mà chúng ta xử lý khó khăn nhất để cố gắng công nhận. Hầu như mọi thứ chúng ta làm, nghĩ suy hay sở hữu, kể cả con đường tâm linh, là phương tiện để chúng ta khẳng định sự hiện hữu của nó. Chính cái ngã sợ thất bại, khao khát thành công, sợ địa ngục và khao khát thiên đường.

Ngã ghét khổ đau và yêu thích những nguyên nhân gây ra đau khổ. Nó gây chiến tranh một cách ngu xuẩn với danh nghĩa hòa bình. Nó mong ước đạt giác ngộ nhưng lại ghét con đường dẫn tới giác ngộ. Khi cái ngã cảm thấy cô đơn, nó mong muốn tình bạn. Quyền sở hữu của nó đối với những gì mà nó yêu thích biểu lộ ra thành niềm đam mê và có thể dẫn tới sự gây hấn.

Giống như con tằm, nó cho rằng những kẻ thù của nó – như là con đường tâm linh được thiết kế để chinh phục tự ngã – thường sẽ bị làm cho hư hỏng và bị kết nạp thành đồng minh của ngã. Kỹ năng của nó trong việc chơi trò chơi lừa dối gần như hoàn hảo. Nó dệt một cái kén xung quanh nó; nhưng không giống con tằm biết tự cắn rách kén để chui ra; nó không biết cách tìm đường ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của chính mình.

Chiến đấu với bản ngã Trong suốt trận chiến tại Bồ đề Đạo tràng, Ma La đã sử dụng rất nhiều loại vũ khí chống lại Ngài Tất Đạt Đa. Đặc biệt nó có hẳn một bộ sưu tập các loại mũi tên đặc chế. Mỗi mũi tên có những sức mạnh hủy diệt: mũi tên gây ra dục vọng, mũi tên gây ra sự buồn chán về tâm linh, mũi tên gây ra sự kiêu mạn, mũi tên gây ra sự xung đột, mũi tên gây ra sự gây hấn, mũi tên gây ra sự ám ảnh mù quáng và mũi tên gây ra sự mất tỉnh giác, ...

Trong kinh điển Phật giáo chúng ta đọc thấy rằng Ma La vẫn còn bất bại đối với mỗi người trong chúng ta – lúc nào nó cũng hướng những mũi tên độc của nó vào chúng ta. Khi bị trúng những mũi tên của Ma La, ban đầu chúng ta trở nên tê liệt, sau đó chất độc sẽ phát tán khắp cơ thể và dần phá hủy chúng ta. Khi chúng ta đánh mất tỉnh giác và bám chấp vào ngã, đó là do chất độc gây tê liệt của Ma La. Từ từ nhưng chắc chắn, những cảm thọ gây hại sẽ theo sau, sẽ rỉ vào chúng ta.

Khi bị trúng mũi tên dục vọng, tất cả cảm giác thông thường của chúng ta, sự điềm đạm, sự tỉnh táo đều biến mất trong khi đạo đức giả tạo, sự suy đồi và sự bất lương xâm nhập. Bị trúng độc, chúng ta không từ bất cứ việc gì để đạt được những gì mình muốn. Ai đó bị dục vọng bắn trúng có thể nhận thấy một con hà mã đang đi trên phố là hấp dẫn, thậm chí giống như một người phụ nữ xinh đẹp đang chung thủy chờ đợi anh ta ở nhà.

Giống như con thiêu thân lao vào ngọn lửa và con cá đớp vào lưỡi câu có móc mồi, rất nhiều người trên thế giới này mắc bẫy bởi sự ham muốn về thức ăn, sự nổi tiếng, sự tán dương, tiền bạc, sắc đẹp và sự kính trọng. Đam mê có thể biểu lộ ra như là khao khát quyền lực. Bị giam hãm trong niềm khát khao cháy bỏng, những nhà lãnh đạo có thể hoàn toàn không ý thức rằng sự khao khát quyền lực của họ đang phá hủy hành tinh này như thế nào.

Nếu không vì sự ham giàu của một số người thì những xa lộ có thể đã đầy cả những chiếc xe chạy bằng năng lượng mặt trời và không có ai bị chết đói cả. Những tiến bộ về công nghệ và vật lý có thể xảy ra, nhưng hình như những tiến bộ về mặt tình cảm thì không thể. Trong khi cáu kỉnh về sự bất công, chúng ta chỉ trích những người như Tổng thống G. W. Bush.

Còn chúng ta thì bị trúng mũi tên tham lam, chúng ta không thấy rằng chính ham muốn của chúng ta – ham muốn những tiện nghi như đồ điện tử nhập khẩu cao cấp giá rẻ và những đồ xa xỉ như xe Humvee –ủng hộ cho những cuộc chiến tranh đang tàn phá thế giới này. Mỗi ngày, vào giờ tan tầm ở Los Angeles, những làn đường dành cho xe có nhiều người đi chung (car-pool) thì vắng teo, trong khi hàng ngàn chiếc xe đổ dồn dày đặc trên các làn đường còn lại, và mỗi xe chỉ chở một người.

Ngay cả những người biểu tình phản đối khẩu hiệu “Không có máu cho dầu mỏ” cũng có thể phải dựa vào dầu mỏ để nhập khẩu những trái kiwi cho những kẻ khéo mồm. Những mũi tên của Ma La tạo nên cuộc tranh chấp không bao giờ dừng dứt. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều nhân vật tôn giáo, được tin là những người đã vượt lên khỏi sự ham muốn, mẫu người của chúng ta về sự chính trực và sự nghiêm túc, cũng đã tỏ ra ham muốn quyền lực.

Họ dụ dỗ tín đồ bằng sự đe dọa phải xuống địa ngục và những lời hứa được lên thiên đàng. Ngày nay chúng ta chứng kiến những chính trị gia vận động bầu cử và tổ chức các chiến dịch tranh cử đến mức họ không hề ngần ngại dội bom xuống một quốc gia vô tội nếu điều ấy sẽ xoay chuyển công luận về phía ủng hộ họ. Ai quan tâm tới việc bạn thắng một cuộc chiến nếu bạn thắng cử chứ?

Những chính trị gia khác thì tỏ ra cao đạo, để cho mình bị bắn, tạo nên những anh hùng và dàn cảnh những thảm họa, tất cả chỉ để thỏa mãn khát vọng quyền lực của họ mà thôi. Khi cái ngã đầy sự kiêu ngạo, nó thể hiện ra theo nhiều cách – đầu óc thiển cận, hẹp hòi, phân biệt chủng tộc, yếu đuối, sợ bị từ chối, sợ bị thương tổn, vô cảm... Do sự tự hào về nam giới, đàn ông chiếm hết năng lực và những đóng góp của hơn phân nửa nhân loại – phụ nữ.

Trong thời gian tìm hiểu, mỗi bên đều để sự ngã mạn cản trở, luôn đánh giá xem liệu bên kia có đủ tốt với mình hay không hoặc có đủ tốt với người khác hay không. Những gia đình danh giá tiêu phí rất nhiều tiền của cho lễ cưới diễn ra trong một ngày trong khi cuộc hôn nhân đó có thể hoặc không thể kéo dài, nhưng cũng vào ngày hôm đó, cùng làng đó, người ta đang chết đói.

Một người khách du lịch muốn tỏ ra hào phóng khi cho người gác cửa tờ mười đô la vì đã đẩy cánh cửa quay của khách sạn cho ông ta vào, và phút sau ông ta lại mặc cả một chiếc áo phông trị giá năm đô la với một người bán hàng rong đang cố gắng kiếm sống để nuôi đứa con nhỏ và gia đình của cô. Sự tự cao và lòng thương hại có quan hệ chặt chẽ. Tin rằng cuộc đời của bạn vất vả hơn và buồn thảm hơn những người khác chỉ là một biểu hiện của chấp ngã.

Khi cái ngã phát triển sự tự thương hại, nó loại bỏ chỗ mà những người khác phải cảm thấy thương hại. Trong cái thế giới bất toàn này, rất nhiều người phải chịu đựng và vẫn đang chịu đựng khổ đau. Nhưng khổ đau của một số người đã được phân loại là “đặc biệt” hơn.

Tuy hiện nay chưa có thống kê nhưng dường như có thể nói mà không sợ sai rằng số người dân bản xứ ở Mỹ bị giết hại khi người châu Âu sang xâm chiếm Bắc Mỹ làm thuộc địa thì ít nhất cũng bằng số người bị giết trong những cuộc thảm sát chủng tộc đã được công nhận. Thế nhưng chưa có từ nào được sử dụng rộng rãi – như Chủ nghĩa bài Do Thái hay Nạn thảm sát người Do Thái – để chỉ sự tàn sát không thể tưởng tượng được này.

Cũng có sự tự hào rằng mình thuộc về một trường phái hay một tôn giáo nào đó. Người theo Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo hay Hồi giáo đều tin vào một vị Thượng đế, và theo nghĩa nào đó, họ là những người anh em. Nhưng vì sự tự hào của mỗi tôn giáo trong các tôn giáo này và vì nghĩ rằng họ là “đúng” nên tôn giáo đã gây ra nhiều cái chết hơn cả hai cuộc chiến tranh thế giới cộng lại. Sự phân biệt chủng tộc hình thành dần dần từ mũi tên độc của sự tự hào.

Nhiều người châu Á và châu Phi cáo buộc những người châu Âu da trắng là những người phân biệt chủng tộc, nhưng phân biệt chủng tộc lại là một thiết chế ở châu Á. Ít nhất thì ở phương Tây người ta còn có những luật lệ chống phân biệt chủng tộc và phân biệt chủng tộc bị công khai lên án. Thế nhưng một phụ nữ Singapore có thể không được mang người chồng gốc Bỉ của cô ta về ra mắt gia đình mình.

Nhiều người dân tộc thiểu số gốc Hoa và gốc Ấn ở Malaysia không thể nhận được quy chế Bumiputera, ngay cả khi họ đã sinh sống nhiều thế hệ tại đây. Nhiều người Triều Tiên ở Nhật đến thế hệ thứ hai vẫn chưa được nhập quốc tịch. Mặc dù rất nhiều người da trắng nhận những đứa con da màu làm con nuôi, nhưng chắc hẳn không có chuyện những gia đình châu Á nhận con nuôi là người da trắng. Nhiều người châu Á cảm thấy rất khó chịu về sự hòa lẫn chủng tộc và văn hóa.

Người ta có thể tự hỏi những người châu Á sẽ cảm thấy thế nào nếu như tình hình đảo ngược lại; nếu người da trắng nhập cư vào Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Malaysia hay Ả rập và Ấn Độ với con số lên tới nhiều triệu người.

Làm thế nào họ xây dựng được những cộng đồng của riêng họ, làm các công việc của nước sở tại, nhập khẩu cô dâu, nói thứ ngôn ngữ của chính họ trong nhiều thế hệ, từ chối nói ngôn ngữ của nước mà họ đang sống – và đỉnh cao nhất là ủng hộ sự cực đoan về tôn giáo tại nước gốc của họ? Sự đố kỵ là một mũi tên khác của Ma La. Đó chính là một trong những cảm thọ tệ hại nhất. Nó biểu hiện một cách vô lý và tạo ra những câu chuyện ly kỳ để làm phân tán trí óc bạn.

Nó có thể tấn công vào những thời điểm bất ngờ nhất, có thể ngay cả khi bạn đang thưởng thức một bản giao hưởng. Mặc dù không có ý định trở thành một tay chơi đàn cello, cũng chưa từng đụng tới cây đàn cello nhưng bạn cũng có thể ghen tỵ với một người chơi cello vô tội mà thậm chí bạn chưa từng gặp. Chỉ vì người chơi cello quá tài năng cũng đủ để đầu độc trí óc bạn.

Nhiều người quá khích về chính trị và tôn giáo chế nhạo và chỉ trích nước Mỹ, gọi người Mỹ là “những kẻ độc ác” và “những tên đế quốc”, lại có thể cúi đầu sát đất để mong có được một thẻ xanh, nếu họ chưa có. Vượt lên trên sự ghen tỵ thông thường, xã hội – thường được giới truyền thông dẫn dắt – hầu như luôn làm đổ nhào bất cứ ai hay điều gì đạt được thành tựu, dù là về tài chính, vật chất hay trí tuệ.

Một số ít nhà báo cố tỏ ra mình bảo vệ những người bị thua thiệt và những người thấp cổ bé họng, nhưng thường họ sợ phải chỉ ra rằng những người bị thua thiệt thì thực sự quá khích. Những nhà báo này từ chối vạch trần những việc sai trái và một số ít những người thực sự nói ra sẽ đứng trước nguy cơ bị liệt vào những kẻ cực đoan.

Vì ích kỷ muốn có thêm nhiều môn đệ hơn, Ma La khéo léo thuyết giảng về tự do, nhưng nếu một ai đó thực sự thực hành tự do thì Ma La sẽ không nhất thiết muốn như thế. Về cơ bản, chúng ta chỉ thích tự do cho chúng ta chứ không phải cho những người khác. Chẳng có gì lạ lùng nếu chúng ta hay bất cứ người nào khác thực sự thực hành tự do đều không được mời vào đảng phái nào cả. Thứ gọi là tự do và dân chủ này chỉ là một công cụ kiểm soát của Ma La. Còn tình yêu thì sao?

Người ta có thể nghĩ rằng không phải mọi cảm thọ đều là khổ đau – vì còn tình yêu, niềm vui, cảm hứng sáng tạo, sự tận tụy, sự xuất thần, sự an bình, sự hợp nhất, sự hoàn thành, sự trợ giúp? Chúng ta tin rằng cảm thọ là cần thiết cho thơ ca, nghệ thuật và âm nhạc. Định nghĩa của chúng ta về “khổ” không ổn định và nó bị giới hạn. Định nghĩa về khổ của Ngài Tất Đạt Đa tuy rộng rãi nhưng chuyên biệt và sáng sủa hơn rất nhiều.

Một vài loại khổ đau như gây hấn, đố kỵ và các chứng đau đầu có một tính chất tiêu cực rõ rệt, trong khi những khổ đau khác lại tạo ra sự đau đớn vi tế hơn nhiều. Đối với Ngài Tất Đạt Đa, bất cứ cái gì có tính chất của sự không chắc chắn và không thể dự đoán được đều là khổ. Ví dụ, tình yêu có thể là thú vị và khiến người ta hài lòng, nhưng nó không phát khởi một cách độc lập và đột ngột.

Tình yêu phụ thuộc vào một ai đó hay một điều gì đó, và vì thế nó không thể dự đoán được. Ít nhất thì một người nào đó tùy thuộc vào đối tượng yêu thương, và trong một ý nghĩa nào đó, luôn luôn tùy thuộc vào một sự kiềm chế. Và những điều kiện phụ thêm không thể nhận biết được thì nhiều vô số.

Vì lý do này nên thật hoài công nếu chúng ta trách cứ cha mẹ về tuổi thơ bất hạnh của mình hay trách cứ chính mình về sự không hòa hợp của cha mẹ, bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy những điều kiện tùy thuộc nhau không thể nhận ra trong những hoàn cảnh này. Người Tây Tạng sử dụng các từ rangwang và shenwang để thay cho “hạnh phúc” và “bất hạnh”.

Những từ này thật khó dịch; rang nghĩa là “cái tôi, ngã” trong khi wang nghĩa là “quyền lực”, “có quyền” hay là “được quyền”, và shen nghĩa là “khác”. Nói rộng ra, ai đó đang ở trong sự tự kiểm soát thì người đó có hạnh phúc, còn ai đó nắm giữ sự kiềm chế thì người đó không có hạnh phúc. Vì thế, định nghĩa của “hạnh phúc” là khi người ta có sự tự kiểm soát trọn vẹn, tự do, có quyền, thong dong, không có những trở ngại, không cần sự kiềm chế.

Điều ấy có nghĩa là sự tự do lựa chọn và sự tự do không lựa chọn, tự do hoạt động hay là thong dong. Có vài điều chúng ta có thể làm để uốn các điều kiện về phía có lợi cho chúng ta, như là uống vitamin để được khỏe mạnh hay uống cà phê để tỉnh táo. Nhưng chúng ta không thể nắm giữ thế giới này đứng yên sao cho nó đừng gây thêm sóng thần nữa. Chúng ta không thể tránh được sự việc một con bồ câu va vào cửa kính xe của chúng ta.

Chúng ta không thể điều khiển những người lái xe khác trên xa lộ. Một phần rất lớn trong cuộc đời của chúng ta xoay quanh việc cố gắng khiến người khác vui vẻ, chủ yếu là để chúng ta cảm thấy thoải mái. Thật chẳng thích thú gì khi chung sống với một người lúc nào cũng cau có. Nhưng chúng ta không thể luôn luôn duy trì những cảm thọ tươi vui của người khác. Chúng ta có thể cố gắng, và thỉnh thoảng có thành công, nhưng thủ thuật ấy đòi hỏi sự kiên trì thật mạnh mẽ.

Chúng ta nói: “tôi yêu em” vào lúc bắt đầu mối quan hệ thì không đủ. Bạn phải làm những việc đúng đắn – gửi hoa, chú ý tới người đó – cho tới khi kết thúc. Nếu bạn thất bại dù chỉ một lần, mọi thứ bạn đã cất công xây dựng sẽ sụp đổ hết. Và thỉnh thoảng, dù cho bạn tập trung chú ý, đối tượng chú ý của bạn có thể không hiểu, không biết nhận như thế nào hoặc không nhận gì cả.

Một chàng trai trẻ đang ăn tối bên ánh nến với người con gái mà anh ta mơ ước, tưởng tượng đêm đó sẽ dài, anh sẽ làm sao để tán tỉnh và làm hài lòng cô ấy. Nhưng đó chỉ là sự tưởng tượng của anh ta mà thôi – một sự suy đoán. Dù đó là sự suy đoán có giáo dục hay không, nó vẫn chỉ là sự suy đoán. Cơ bản là chúng ta không thể nào luôn luôn được chuẩn bị 100%.

Do đó, những trở ngại và những đối thủ của chúng ta chỉ cần thành công trong 1% thời gian để gây ra mọi thứ thiệt hại cho chúng ta: nói lỡ lời, nổ khí gas đột xuất hay chiếc máy chiếu tia X tại nơi kiểm tra an ninh ở sân bay bất ngờ chiếu lệch. Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta không thực sự khổ đau và nếu có khổ đau thì cũng không đến nỗi kinh khủng lắm. Cuối cùng, chúng ta cũng không phải sống bần cùng hay bị tàn sát như ở Rwanda.

Nhiều người suy nghĩ: Tôi ổn mà, tôi đang hít thở, đang ăn sáng, mọi thứ đang diễn ra đúng như mong đợi, tôi không khổ đau. Nhưng họ muốn nói gì? Họ có muốn nói như thế 100% không? Họ đã ngưng chuẩn bị các thứ sao cho tốt đẹp hơn chưa? Họ đã rũ bỏ mọi nghi ngờ của họ chưa? Nếu thái độ đó phát xuất từ sự hài lòng đích thực, và ghi nhận những gì họ sẵn có, thì loại ghi nhận này là điều mà Ngài Tất Đạt Đa đã khuyến dụ.

Nhưng hiếm khi chúng ta chứng kiến sự hài lòng như thế; người ta luôn có cảm giác ray rứt dai dẳng rằng cuộc sống đắng ra còn nhiều điều hơn thế và sự không hài lòng này dẫn tới khổ đau. Giải pháp của Ngài Tất Đạt Đa là phát triển sự tỉnh giác về các cảm thọ. Nếu bạn có thể tỉnh giác về các cảm thọ khi chúng khởi sinh, thậm chí là chỉ một chút, thì bạn đã ngăn chặn được hoạt động của chúng; chúng giống như đám trẻ con tuổi mới lớn cầu có người đi kèm.

Ai đó đang trông chừng và thế là sức mạnh của Ma La bị yếu đi. Ngài Tất Đạt Đa không bị tổn thương vì những mũi tên độc bởi vì Ngài nhận biết chúng chỉ là những ảo ảnh. Cũng như vậy, những cảm thọ mạnh mẽ của chúng ta cũng có thể trở nên vô hại như những cánh hoa. Và khi bọn vũ nữ đến gần Ngài Tất Đạt Đa, Ngài có thể thấy rõ rằng đó chỉ là những hiện tượng hữu vi, giống như cái vòng lửa, và vì thế chúng mất hết cả sức quyến rũ. Chúng chẳng thể làm cho Ngài bực tức.

Tương tự như vậy, chúng ta phá bỏ cái bùa mê bằng cách nhìn thấy rằng những đối tượng ham muốn của chúng ta thực sự chỉ là những hiện tượng hữu vi. Khi bạn bắt đầu chú ý tới sự tai hại mà những cảm thọ có thể gây ra thì sự tỉnh giác phát triển. Khi bạn có sự tỉnh giác – ví dụ, nếu bạn biết bạn đang ở mép vực – bạn hiểu những nguy hiểm đằng trước bạn.

Bạn có thể đi tiếp và làm như bạn vẫn thường làm; đi trên mép vực với sự tỉnh giác thì không còn sợ nữa, thực ra điều này chỉ gây hồi hộp mà thôi. Nguồn gốc thực sự của sợ hãi là sự không hiểu biết. Sự tỉnh giác không ngăn cản bạn sống, nó khiến sự sống trở nên trọn vẹn hơn. Nếu bạn đang thưởng thức một tách trà và cảm nhận được vị chát, vị ngọt của những thứ nhất thời, bạn sẽ thực sự thưởng thức tách trà.

Mọi Sự Vật Đều Là Không

Ngay sau khi Ngài Tất Đạt Đa đạt giác ngộ, những lời dạy của Ngài, mà chúng ta gọi là pháp (dharma), bắt đầu thâm nhập vào mọi khía cạnh khác nhau của đời sống Ấn Độ. Pháp vượt lên trên hệ thống giai cấp và hấp dẫn người giàu cũng như người nghèo. Một trong những vị vua vĩ đại nhất sống vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên là Vua A Dục (Ashoka) – một chiến binh dũng cảm và là nhà độc tài hung bạo, khét tiếng vì đã giết người thân để củng cố quyền lực.

Nhưng ngay cả vua A Dục cuối cùng cũng nhận ra sự thật của pháp và trở thành một người yêu hòa bình. Ông nổi tiếng là một trong những vị đại thí chủ bảo trợ cho Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử. Nhờ có những thí chủ như vua A Dục, pháp tiếp tục tăng trưởng, đi đến mọi phương, lan tỏa ra khỏi biên giới của Ấn Độ.

Vào thiên niên kỷ đầu tiên sau Công nguyên, cách Bồ đề Đạo tràng 600 dặm, tại một làng nhỏ Tây Tạng ở Kya Ngatsa, một con người bình thường với một năng lực phi thường đã ra đời. Trải qua tuổi thơ đầy u tối và những năm tập tành tà thuật, chàng trai trẻ đầy rắc rối này đã giết hàng chục người trong gia đình mình cũng như hàng xóm để trả thù. Chàng chạy trốn khỏi nhà và cuối cùng gặp một người nông dân tên là Marpa – một vị thầy vĩ đại và là một dịch giả.

Ông đã dạy cho chàng trai về bản chất của cuộc đời cũng như con đường của cuộc sống như là pháp mà Ngài Tất Đạt Đa đã thuyết giảng. Chàng trai trẻ đã được chuyển hóa. Chàng được biết với cái tên là Milarepa, một trong những vị thánh du già nổi tiếng nhất của Tây Tạng. Cho đến tận ngày nay, những bài hát và những câu chuyện của Ngài vẫn còn tạo niềm hứng khởi cho hàng trăm nghìn người.

Di sản trí tuệ của Ngài được truyền thừa không gián đoạn cho lớp lớp những đạo sư và học trò sau này. Milarepa đã dạy những học trò của mình rằng những lời dạy của Ngài Tất Đạt Đa không giống như những triết học khác, chỉ đọc để giải trí hay để được kích thích và sau đó bị cất lên giá sách. Chúng ta có thể thực hành pháp và áp dụng nó vào đời sống hàng ngày. Trong số những học trò thuộc thế hệ đầu tiên của Milarepa có một học giả sáng chói tên là Rechungpa.

Dù Milarepa đã khuyên Rechungpa rằng việc áp dụng pháp vào đời sống có ý nghĩa quan trọng hơn việc nghiên cứu kinh điển suông, Rechungpa cố tìm mọi cách để tới Ấn Độ, với mong muốn nhận được sự hướng dẫn chính thống tại một trong những học viện triết học Phật giáo lớn nhất vào thời bấy giờ. Thực vậy, Rechungpa đã học tập rất chăm chỉ với những học giả lớn và những vị thánh ở Ấn Độ.

Khi Ngài trở về Tây Tạng sau nhiều năm du học, lão sư Milarepa chào đón Ngài trên một cao nguyên cằn cỗi. Sau khi chào hỏi, hai thầy trò bàn luận một hồi về việc học tập của Rechungpa, đúng lúc đó bất ngờ có một trận mưa đá đổ xuống. Chẳng có nơi nào để trú ẩn trên bình nguyên bằng phẳng và rộng rãi này. Milarepa nhặt một chiếc sừng bò dưới đất lên và nhanh chóng chui vào trong đó để trú ẩn khỏi cơn mưa lớn –không phải chiếc sừng trở nên lớn hơn và Milarepa trở nên nhỏ lại.

Từ nơi trú ẩn khô ráo này, Ngài hát một bài ca cho Rechungpa biết rằng có rất nhiều chỗ trống trong chiếc sừng trâu... nếu người học trò của ngài nhận ra được bản chất của KHÔNG. Bạn có thể nghĩ rằng câu chuyện về chiếc sừng bò của Milarepa chỉ đơn thuần là một chuyện thần thoại. Có thể, nếu bạn là người nhẹ dạ, bạn có thể tin đó là một trường hợp phù phép của một hành giả yoga Tây Tạng. Nhưng không phải là thần thoại hay phù phép gì cả, sau đây bạn sẽ thấy thôi.

Nắm giữ cái Không Bằng cách chinh phục Ma La và đội quân của hắn, Ngài Tất Đạt Đa nhận ra cái không của sự hiện hữu cố hữu. Ngài hiểu rằng mọi thứ chúng ta nhìn thấy, nghe, ngửi, cảm giác, tưởng tượng... chỉ đơn giản là sự trống không mà chúng ta đã quy kết hay đặt tên cho nó là “một sự có thật” nào đó. Hành động đặt tên hay nhận thức thế giới này là thật được sinh ra từ thói quen mạnh mẽ của tập thể và của cá nhân – tất cả chúng ta đều làm thế.

Ảnh hưởng của thói quen rất mạnh trong khi khái niệm về tính không chẳng mấy hấp dẫn nên chẳng có mấy ai muốn theo đuổi sự thể nghiệm như Ngài Tất Đạt Đa. Thay vào đó, chúng ta cứ mãi lang thang như người lữ khách mất phương hướng khi đi giữa sa mạc trông thấy một ốc đảo xanh tươi ở đằng xa. Ốc đảo xanh tươi đó thực ra chỉ là ảo ảnh của hơi nóng trên cát, nhưng do tuyệt vọng, khát nước và hy vọng, con người lang thang ấy nhận định đấy là nước.

Dùng tàn lực cuối cùng để tới được đó, anh ta phát hiện ra đó chỉ là một hư ảnh và thất vọng hoàn toàn. Dù cho chúng ta không tự nhận thấy là mình quá thất vọng, và tin rằng mình được giáo dục tốt, chín chắn và đúng mực, khi chúng ta nhìn thấy và cảm nhận rằng mọi sự vật thực sự hiện hữu, chúng ta cũng đang xử sự y hệt như người lữ khách trên sa mạc kia.

Chúng ta vội vã tìm kiếm mối quan hệ chân thật, sự an toàn, sự công nhận và thành công, hay chỉ đơn giản là sự an bình và tĩnh lặng. Chúng ta thậm chí còn thành công trong việc đạt tới những thứ nào đó giống như những ham muốn của chúng ta. Nhưng cũng giống như kẻ lang thang kia, khi chúng ta phụ thuộc vào những điều kiện vật chất bên ngoài, cuối cùng chúng ta sẽ thất vọng.

Mọi thứ không như vẻ bên ngoài của chúng: chúng vô thường và chúng hoàn toàn không nằm trong sự kiểm soát của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự phân tích, như Ngài Tất Đạt Đa đã làm, chúng ta sẽ thấy những nhãn hiệu như là “hình tướng”, “thời gian”, “không gian”, “phương hướng” và “kích cỡ” dễ dàng bị gỡ bỏ. Ngài Tất Đạt Đa nhận ra rằng thậm chí ngay cả cái ngã chỉ hiện hữu ở một mức độ tương đối cũng chỉ như là ảo ảnh.

Sự giác ngộ này khiến Thái tử không còn mong cầu, thất vọng hay khổ đau nữa. Vào lúc giải thoát, Ngài đã nghĩ: Ta đã tìm ra con đường thâm sâu, an lạc, không cực đoan, sáng sủa, mãn nguyện và linh diệu. Nhưng nếu ta nỗ lực diễn tả nó, giảng dạy nó thì không ai nghe, lắng nghe, hay hiểu. Vì thế, ta sẽ vẫn trú trong trạng thái an bình này ở trong rừng.

Người ta bảo rằng ngay khi nghe dự định ấy của Ngài Tất Đạt Đa, Đế Thích (Indra) và Phạm Thiên (Brahma) xuất hiện và cầu xin Ngài đừng sống tách biệt trong rừng mà hãy giảng pháp vì lợi ích của những người khác. Họ nói: “Dù cho không phải tất cả mọi người đều có thể hiểu được giáo lý của Ngài thì vẫn có một ít người có thể hiểu, và thậm chí là giúp chừng đó người cũng đáng công.” Tôn trọng lời thỉnh cầu của họ, Ngài Tất Đạt Đa đi tới Ba La Nại (Varanasi).

Ngay thời ấy, nơi đây đã là một thành phố lớn, tập trung giới trí thức và các nhà tư tưởng bên bờ sông Hằng (Ganges) tới Vườn Nai (Sarnath) gần Ba La Nại, Ngài đến gặp những người đồng tu hồi trước đã xa lánh Ngài khi Ngài từ bỏ lời nguyện và uống bát sữa của nàng Tu Xà Đa (Sujata) cúng dường. Khi những người này thấy Ngài Tất Đạt Đa tiến tới gần, họ vội bàn lén với nhau là sẽ lờ Ngài đi. Họ sẽ không đón chào Ngài, chứ nói gì tới việc đứng dậy và vái chào Ngài.

Họ cười nhạo: “Tay dỏm ấy đến đấy”. Nhưng với một người đã hiểu thấu tính không như Ngài Tất Đạt Đa, những khái niệm như ngợi ca hay chỉ trích, kính trọng hay khinh miệt, tốt hay xấu hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Tất cả những thứ ấy chỉ là sự diễn giải hời hợt và do đó chẳng cần phản ứng lại như thể chúng là kiên cố. Vì thế, Ngài Tất Đạt Đa tiến lại gần không chút tự kiêu, e ngại hay tự hào.

Vì không e dè, dáng đi của Ngài đường bệ đến nỗi năm vị sa môn không có cách nào khác là đứng lên cúi chào Ngài. Ngài Tất Đạt Đa đã thuyết giảng bài pháp đầu tiên ngay lúc ấy và ở đấy, và những người bạn đồng tu ngày trước giờ đây trở thành những học trò đầu tiên của Ngài. Lý luận bị giới hạn của chúng ta Ngài Tất Đạt Đa đã đúng khi cho rằng việc thuyết giảng không phải là một công việc dễ dàng.

Trong một thế giới đang bị suy động bởi sự tham lam, sự cao ngạo và chủ nghĩa vật chất, ngay cả việc giảng dạy những nguyên lý cơ bản như tình yêu thương, từ bi và bác ái cũng rất khó khăn, huống chi là chân lý về tính không. Chúng ta bị gắn chặt với những suy nghĩ nông cạn, hời hợt và bị trói buộc bởi tính thực dụng. Đối với chúng ta, điều gì đó có thể nhìn thấy và ngay lập tức là hữu dụng thì sẽ đáng để chúng ta đầu tư thời gian và sức lực.

Theo tiêu chuẩn này, tính không được Đức Phật định nghĩa có vẻ như hoàn toàn không có lợi ích. Chúng ta có thể nghĩ: Đâu là lợi ích của việc suy tưởng về sự vô thường và tính không của thế giới hiện tượng? Liệu tính không có lợi ích gì không? Với lý luận có giới hạn của mình, chúng ta nên một định nghĩa có sẵn về những gì là có thể hiểu được và những gì có ý nghĩa với chúng ta – và tính không thì vượt ngoài giới hạn ấy.

Như thể khái niệm “ không” không thích hợp với đầu óc của chúng ta. Điều này là bởi vì cái tâm của con người vận hành trên một hệ thống luận lý kém cỏi trong khi vẫn còn vô số hệ thống lập luận khác vẫn có sẵn cho chúng ta. Chúng ta vận hành như thể hàng thiên niên kỷ đã trôi qua trước giây phút này, và nếu ai đó sắp nói với chúng ta toàn bộ sự tiến hóa của loài người xảy ra chỉ bằng thời gian một ngụm cà phê chảy xuống cổ họng, chúng ta sẽ không thể nào hiểu nổi.

Tương tự như thế, khi chúng ta đọc những giáo lý Phật giáo rằng một ngày trong địa ngục kéo dài bằng 500 năm, chúng ta sẽ nghĩ rằng những vị tu sĩ chỉ đang cố gắng hù dọa để chúng ta khuất phục. Nhưng hãy tưởng tượng một tuần đi nghỉ với người yêu dấu nhất của bạn – tuần lễ đó sẽ trôi qua nhanh như một cái búng tay. Mặc khác, một đêm trong tù với những kẻ hiếp dâm ồn ào dường như kéo dài mãi mãi. Hiểu theo cách này, khái niệm về thời gian của chúng ta có vẻ bắt đầu không ổn.

Một số người trong chúng ta có thể cho phép một chút những điều chưa từng biết vào trong hệ thống suy nghĩ của mình, tạo chỗ cho những khả năng về sự sáng suốt, trực giác, ma quỷ, những đối tác tâm linh, và vân vân nhưng phần lớn chúng ta dựa vào sự phân biệt nhị nguyên – thứ luận lý căn bản trên khoa học.

Chỉ có một số ít người được coi là tài năng có đủ dũng khí hay có kỹ năng để vượt qua những quy ước và chừng nào quan điểm của họ còn không quá táo bạo, họ có thể vượt qua chính mình như họa sĩ Salvador Dali. Cũng có những hành giả yoga vượt qua những gì đã được chấp nhận theo quy ước và được tôn lên như là “những cuồng nhân linh diệu”.

Nhưng nếu bạn thực sự đi quá xa khỏi cái ranh giới đã được chấp nhận, nếu bạn tin vào thì rất có thể bạn bị người ta nghĩ là bất bình thường, điên khùng và phi lý. Ngài Tất Đạt Đa thì không phi lý. Ngài chỉ khẳng định rằng lối suy nghĩ quy ước, hợp lý ấy là hạn chế mà thôi. Chúng ta không thể hoặc sẽ không thể hiểu được điều gì vượt ra ngoài vùng thuận tiện của chúng ta.

Sẽ thiết thực hơn nhiều khi làm việc với quan niệm theo chiều dài thời gian “hôm qua, hôm nay và ngày mai” hơn là nói “thời gian là tương đối”. Chúng ta không được lập trình để suy nghĩ: Tôi có thể vừa vặn trong cái sừng bò mà không cần thay đổi kích cỡ hay hình dạng của tôi. Chúng ta không thể phá vỡ những khái niệm của mình về “nhỏ” và “to”. Thay vào đó, chúng ta tiếp tục giam mình với quan điểm an toàn và chật hẹp đã được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, khi những quan điểm này bị xem xét, chúng không đứng vững. Ví dụ, khái niệm về thời gian theo chiều dài mà thế giới này vẫn phụ thuộc vào nó rất mạnh mẽ lại không tính tới sự việc là thời gian không hề có khởi đầu và kết thúc thực sự. Sử dụng tính hợp lý này, dù chẳng chính xác chút nào, chúng ta đo đếm và dán nhãn lên mọi sự vật là “thực sự hiện hữu”. Chức năng, sự nối tiếp và đồng thuận đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá của chúng ta.

Chúng ta nghĩ rằng nếu một thứ có chức năng nào đó – ví dụ, bàn tay của bạn có vẻ có chức năng do nó đang cầm cuốn sách này – thì nó phải hiện hữu trong ý nghĩa nó là thường hằng, rốt ráo, hợp lý... Một bức ảnh của một bàn tay sẽ không có chức năng theo cách như thế, nên chúng ta biết rằng đó không thực sự là một bàn tay.

Tương tự, nếu một thứ gì đó có một tính chất tương tục – ví dụ, hôm qua chúng ta nhìn thấy một ngọn núi và ngày hôm nay nó vẫn ở đó – chúng ta tin rằng nó là “thật” và ngày mai, ngày kia nó sẽ ở đó. Và khi những người khác xác nhận rằng họ nhìn thấy chính các sự vật mà chúng ta nhìn thấy, chúng ta càng chắc chắn rằng những sự vật ấy đang thực sự hiện hữu.

Tất nhiên, chúng ta không đi khắp mà hợp lý hóa, xác nhận, dán nhãn cho sự hiện hữu thực sự của các sự vật – đây là cuốn sách thực sự hiện hữu trong hai bàn bàn tay thực sự hiện hữu của tôi – một cách có ý thức, nhưng trong tiềm thức chúng ta luôn hoạt động với sự tự tin rằng thế giới này hiện hữu vững chắc, và điều này ảnh hưởng tới cách chúng ta suy nghĩ và cảm nhận hàng ngày.

Chỉ trong những dịp hiếm hoi, chúng ta nhìn vào gương hay một ảo ảnh, chúng ta mới nhận ra một số sự vật chỉ đơn thuần là những vẻ bề ngoài. Không có máu, thịt ở trong gương, chẳng có nước ở trong ảo ảnh. Chúng ta “biết” rằng hình ảnh trong gương là không thật, rằng chúng chúng không có bản chất hiện hữu cố hữu. Hiểu biết này có thể đưa chúng ta đi xa hơn, nhưng chúng ta chỉ đi xa tới mức mà lý trí của chúng ta cho phép mà thôi.

Khi được giới thiệu khái niệm về người đàn ông vừa vặn trong một cái sừng bò mà không cần thay đổi kích cỡ, chúng ta có vài lựa chọn như sau: Chúng ta có thể “hữu lý” và bác bỏ câu chuyện bằng cách bảo rằng không thể dễ dàng như thế được. Hay chúng ta có viện đến một niềm tin huyền bí nào đó trong khoa phù thủy và nói: Ồ vâng, Milarepa là một hành giả vĩ đại như thế, tất nhiên Ngài có thể làm như vậy và còn hơn nữa.

Chẳng có cách nào trong hai cách hiểu trên của chúng ta là đúng cả, bởi vì bác bỏ là một dạng đánh giá thấp, còn tin mù quáng là một dạng đánh giá quá cao. Dòng sông của ngày hôm qua: Chấp nhận luận lý bất toàn Thông qua sự quán tưởng không mệt mỏi của mình, Ngài Tất Đạt Đa nhìn thấy rõ ràng những sai lầm trong trong những hình thức quy ước của sự đánh giá, hợp lý hóa và dán nhãn thông thường.

Tất nhiên trong một chừng mực nào đó, những hình thức ấy cũng hoạt động êm xuôi – thế giới của chúng ta dường như vận hành dựa trên những quy ước này. Khi chúng ta nói về một thứ gì đó đang hiện hữu đích thực, chúng ta bảo rằng nó là rõ ràng, không phải là tưởng tượng, thực sự, có thể chứng minh, không biến đổi và không chịu ảnh hưởng của bất cứ điều kiện nào. Dĩ nhiên chúng ta cũng nói rằng có một số sự vật biến đổi.

Một nụ hoa rồi sẽ nở thành bông hoa và chúng ta vẫn nghĩ nó là một bông hoa thực sự hiện hữu khi nó biến đổi. Sự trưởng thành và biến đổi ấy là một phần trong ý tưởng cố định của chúng ta về bản chất của bông hoa. Chúng ta sẽ ngạc nhiên hơn rất nhiều nếu như bông hoa trở nên thường hằng. Vì thế, trong ý nghĩa ấy, sự trông đợi của chúng ta về sự biến đổi là không biến đổi. Một dòng sông chảy với nước trong và sạch, luôn thay đổi và chúng ta vẫn gọi nó là một dòng sông.

Nếu năm sau chúng ta đến nơi ấy, chúng ta sẽ nghĩ đó chính là dòng sông ấy. Nhưng làm sao nó chính là dòng sông ấy được? Nếu chúng ta chia tách một khía cạnh hay một đặc tính nào đó thì sự đồng nhất này hoàn toàn sụp đổ.

Dòng nước đã khác, Trái Đất cũng đang ở một nơi khác trong vòng quay xung quanh thiên hà của nó, những chiếc lá đã rơi và đã được thay thế – tất cả những gì còn lại là vẻ bề ngoài của một dòng sông tương tự dòng sông mà chúng ta đã nhìn thấy lần trước. “Vẻ bề ngoài” đó hoàn toàn là một căn bản không vững cho “sự thật”. Chỉ cần phân tích đơn giản, những trụ cột của cái thực tính quy ước bị vạch rõ là những sự khái quát hóa và giả định rất mơ hồ.

Dù cho Ngài Tất Đạt Đa thường sử dụng từ ngữ tương tự với từ ngữ mà những người bình thường có thể sử dụng khi định nghĩa về “sự thật” – không do tưởng tượng, rõ ràng, không đổi, không bị chi phối bởi điều kiện – việc sử dụng những từ ngữ này của Ngài chính xác hơn rất nhiều; chúng không phải là những sự khái quát hóa. Trong quan điểm của Ngài, “không thay đổi” phải có nghĩa là không thay đổi từ mọi góc độ, không hề có ngoại lệ, ngay cả sau khi phân tích.

Định nghĩa thông thường của chúng ta về “sự thật” là kết quả của luận lý bất toàn của chúng ta. Nếu sự phân tích đưa tới một câu trả lời thuận tiện; nếu nó trao cho ta những gì ta muốn, chúng ta sẽ không đi ra khỏi ranh giới đó. Đây có thực sự là chiếc bánh mì kẹp không? Nó có hương vị giống như bánh mì kẹp nên tôi sẽ ăn nó. Sự phân tích sẽ dừng ở đó.

Một chàng trai tìm kiếm một người bạn, chàng nhìn thấy một cô gái, cô ấy thật đẹp, vì thế chàng dừng việc phân tích và đến gần cô ta. Sự phân tích của Ngài Tất Đạt Đa vẫn tiếp tục đi càng lúc càng xa cho tới khi chiếc bánh mì kẹp và cô gái chỉ còn là những nguyên tử, và cuối cùng ngay cả nguyên tử cũng chưa làm dừng sự phân tích của Ngài. Không tìm thấy gì nữa ở đó, Ngài được giải thoát khỏi sự buồn nản.

Ngài Tất Đạt Đa thấy cách duy nhất để khẳng định một sự vật nào đó thực sự hiện hữu là chứng minh nó tồn tại độc lập và thoát khỏi mọi sự diễn dịch, sự tạo thành, hoặc sự biến đổi. Đối với Ngài Tất Đạt Đa, tất cả những cơ chế có vẻ như có chức năng trong cuộc sinh tồn hàng ngày – các cơ chế thể chất, tình cảm, tư duy – đều nằm ngoài định nghĩa này. Tất cả chúng đều được tập hợp từ những thành phần không ổn định và vô thường nên chúng luôn thay đổi.

Chúng ta có thể hiểu sự khẳng định này trong thế giới quy ước. Ví dụ, bạn có thể nói rằng hình ảnh phản chiếu trong gương của chính bạn là không thực sự hiện hữu bởi vì nó phụ thuộc vào thế đứng của bạn trước gương. Nếu nó độc lập thì dù bạn không có mặt, ở đó vẫn có một hình ảnh phản chiếu. Tương tự như thế, không có gì có thể thực sự hiện hữu mà không phụ thuộc vào vô số điều kiện. Chúng ta nhìn vòng lửa và dễ dàng hiểu những điều kiện tạo thành nó.

Chúng ta chấp nhận rằng chừng nào tất cả những thành tố còn hoạt động với nhau thì đấy thực sự là một vòng lửa… đối với bây giờ. Nhưng tại sao chúng ta không nghĩ như thế về cuốn sách mà chúng ta đang cầm hay chiếc giường mà chúng ta đang nằm? Nó giống như một cuốn sách, người khác thấy nó là một cuốn sách, nó có chức năng giống một cuốn sách; nhưng khi bạn phân tích nó, cái nguyên tắc “đối với bây giờ” có thể cũng được áp dụng vào nó nữa.

Mọi thứ chúng ta nhận thức trong suot đời sống của chúng ta đều là “đối với bây giờ”. Các sự vật xuất hiện trong giây lát; chúng ta chỉ không có dũng cảm hay là mong muốn nhìn chúng theo cách đó. Và bởi vì chúng ta không có trí tuệ để nhìn sự vật theo từng phần, chúng ta đành phải nhìn chúng như là một toàn thể. Nếu con nhím bị vặt sạch lông thì chúng ta không còn bị nó đe dọa nữa. Nhưng chúng ta không muốn nhìn thấy toàn bộ thế giới theo cách này.

Giống như là cứ co mình nằm trên giường mà mơ một giấc mơ đẹp, bạn mơ màng biết rằng mình đang mơ và không muốn thức dậy. Hay nhìn thấy một cầu vồng đẹp và bạn không muốn lại gần vì nó sẽ tan biến mất. Có được tinh thần dũng cảm để thức dậy và chiêm nghiệm là điều mà các Phật tử gọi là “sự xả bỏ”. Ngược lại với niềm tin thông thường, sự từ bỏ trong Phật giáo không phải là sự tự hành xác hay khổ hạnh.

Ngài Tất Đạt Đa quyết chí và đã có thể thấy tất cả sự hiện hữu của chúng ta đơn thuần chỉ là những nhãn hiệu dán lên những hiện tượng không thực sự hiện hữu và nhờ đó Ngài thể nghiệm sự giác ngộ. Đức Phật không phải là người tu khổ hạnh Nhiều người mơ hồ về những gì mà Đức Phật dạy nên họ nghĩ Phật giáo là không lành mạnh, rằng Phật tử phủ nhận hạnh phúc và chỉ nghĩ tới khổ đau.

Họ cho rằng Đạo Phật xa lánh vẻ đẹp và những hưởng thụ vật chất bởi vì chúng là những thứ cám dỗ; những người Phật tử được cho là trong sạch và chừng mực. Thực ra, giáo lý của Ngài Tất Đạt Đa không hề định kiến với vẻ đẹp và sự hưởng thụ – chừng nào chúng ta còn chưa thoát khỏi cái ý nghĩ rằng những thứ ấy thực sự hiện hữu.

Ngài Tất Đạt Đa có một người đệ tử cư sĩ, một chiến binh tên là Văn Thù Sư Lợi (Manjushri), người được biết tới như là một vị đại trí tuệ có phép thần thông. Trong những bạn đồng học của Văn Thù có một vị tăng rất chăm chỉ và đáng kính, nổi tiếng vì “phép quán bất tịnh” – phép quán này được nêu ra cho những ai bị ham muốn lôi kéo và có nhiều đam mê. Phép quán bất định tưởng tượng con người là tập hợp của các mạch máu, xương sụn, ruột, …

Tôn giả Văn Thù quyết định thử vị tăng kia bằng cách sử dụng thần thông của mình. Ngài biến thành một nữ thần xinh đẹp và xuất hiện trước mặt vị tăng để quyến rũ ông ta. Lúc đầu nhà sư vẫn nghiêm trang, giữ mình ngồi yên, không nhúc nhích một thớ thịt nào. Nhưng ngài Văn Thù tỏ ra có sức quyến rũ siêu đẳng và vị tăng bắt đầu bị mê hoặc.

Ông ta rất ngạc nhiên vì trong nhiều năm thực hành thiền, ông ta đã chống lại thành công sự quyến rũ của rất nhiều phụ nữ xinh đẹp trong vùng. Choáng váng và thất vọng về bản thân, vị tăng bỏ chạy. Nhưng nữ thần Văn Thù đuổi theo ông ta cho tới khi ông ta kiệt sức và ngã gục xuống. Khi người phụ nữ quyến rũ kia tiến tới gần, vị tăng nghĩ: Thế đó, người con gái xinh đẹp này sắp ôm ta. Ông ta nhắm mắt thật chặt và chờ đợi, nhưng chẳng có điều gì xảy ra.

Cuối cùng ông ta mở mắt ra, nữ thần kia ra thành từng mảnh và Tôn giả Văn Thù xuất hiện, cười vang và nói: “Nghĩ ai đó xinh đẹp là một khái niệm, sự bám chặt vào khái niệm đó sẽ giam hãm ông, cột ông vào một cái nút và cầm tù ông. Nhưng nếu ông nghĩ ai đó là xấu thì đó cũng là một khái niệm, và điều đó cũng trói buộc ông.” Mỗi năm chúng ta tiêu phí rất nhiều tiền vào việc khiến mình và môi trường xung quanh trở nên hấp dẫn. Nhưng đẹp là gì?

Chúng ta có thể nói vẻ đẹp nằm trong mắt của kẻ ngắm nhìn, thế mà hàng triệu người chúng ta vẫn chờ đợi cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ để được biết tới ai là người đẹp nhất hoàn cầu, theo sự đánh giá của một ban giám khảo. Mười hay khoảng chừng đó người được cho là sẽ trao cho chúng ta cái định nghĩa tối hậu về cái đẹp.

Dĩ nhiên sẽ luôn có những người không phục, căn cứ vào sự việc những người đó đang lờ đi những phụ nữ xinh đẹp ở Papua New Guinea và những phụ nữ duyên dáng của những bộ lạc châu Phi luôn đeo rất nhiều vòng quanh những cái cổ được kéo dài của họ. Nếu Ngài Tất Đạt Đa có mặt tại cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ, chắc hẳn Ngài sẽ bao quát để nhìn thấy một loại khác của vẻ đẹp tối hậu.

Trong mắt Ngài, người được đội vương miện hoa hậu không thể là người có vẻ đẹp tối hậu bởi vì vẻ đẹp của cô ấy phụ thuộc vào người ngắm nhìn. Bởi vì định nghĩa của Ngài về “tối hậu” đòi hỏi sự độc lập đối với bất cứ và tất cả mọi điều kiện; đối với cô ta, đẹp thực sự thì không cần có điều kiện là một cuộc thi sắc đẹp bởi vì tất cả mọi người sẽ tự nhiên đồng ý rằng cô ấy là người đẹp nhất.

Và nếu cô ấy thực sự đẹp thì sẽ không bao giờ có một phút giây nào cô ấy “hơi kém xinh đẹp đi”. Cô ấy phải đẹp khi đang ngáp, khi ngáy, khi nước dãi chảy ra từ miệng, khi đi vệ sinh và cả khi già – cô ấy phải đẹp suốt. Thay vì nhìn nhận một thí sinh nào đó là xinh đẹp hơn hay kém những thí sinh khác, Ngài Tất Đạt Đa sẽ thấy mọi phụ nữ đều không xinh đẹp hay xấu xí. Vẻ đẹp mà Ngài thấy nằm trong hàng trăm triệu khía cạnh mà thí sinh đó được quan sát.

Từ rất nhiều quan điểm trong vũ trụ, một người nào đó hẳn sẽ ghen tỵ với thí sinh đó, một người nào đó hẳn là nhìn nhận cô như là người yêu của họ, là con gái, là em gái, là mẹ, là bạn, là đối thủ. Đối với một con cá sấu, cô ấy là thức ăn; với một con ký sinh trùng, cô ấy là vật chủ. Đối với Ngài Tất Đạt Đa, cái đẹp này tự nó là đẹp tuyệt vời vì xét rằng một ai đó xinh đẹp thực sự và tối hậu thì người nào đó phải mãi mãi ổn định trong trạng thái đẹp.

Tất cả những trang phục dạ hội hay áo tắm, ánh đèn và son môi sẽ chẳng còn cần thiết. Thế đấy, chúng ta có màn trình diễn của cuộc thi sắc đẹp và đối với bây giờ, quang cảnh xinh đẹp cũng hữu vi và vô thường như vòng tròn lửa trước kia vậy. Sự thật tương đối: “một cái gì đó” đang hiện hữu Trong triết học Phật giáo, bất cứ điều gì do tâm nhận thức đều không tồn tại trước khi tâm nhận thức nó; nó tùy thuộc vào tâm. Nó không hiện hữu độc lập nên nó không thực sự hiện hữu.

Không phải điều ấy bảo rằng chẳng hề có “một cái gì đó” hiện hữu. Những người theo Phật giáo gọi thế giới được nhận thức là sự thật “tương đối” – một sự thật được đo đếm và dán nhãn bằng tâm thức bình thường của chúng ta. Để định tính là sự thật “tối hậu”, nó phải không được tạo thành [tức không phải là hữu vi], nó phải không là sản phẩm của trí tưởng tượng và nó phải độc lập với mọi sự diễn giải.

Dù Ngài Tất Đạt Đa đã nhận ra tính Không, nhưng tính Không không hề do Ngài hay bất kỳ ai chế tạo ra. Tính Không cũng không phải là kết quả của sự phát hiện của Ngài, cũng không phải nó được phát triển thành một học thuyết giúp cho người ta được hạnh phúc.

Dù Ngài Tất Đạt Đa có giảng dạy về nó hay không, tính Không luôn luôn đã là tính Không, dù chúng ta cũng thậm chí không thể nói một cách nghịch lý rằng tính Không luôn đã luôn luôn là, bởi vì nó vượt khỏi thời gian và không có hình tướng.

Tính Không cũng không nên được diễn giải như là sự phủ định của hiện hữu – tức là, chúng ta không thể nói rằng thế giới tương đối này là không hiện hữu– bởi vì để phủ định một điều gì đó, bạn cần biết rằng trước tiên phải có một điều gì đó để phủ định. Tính Không không loại bỏ kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta. Ngài Tất Đạt Đa chẳng bao giờ bảo rằng điều gì đó vĩ đại, tốt hơn, tinh khiết hơn hay là thiêng liêng hơn hiện hữu thay cho những gì mà chúng ta nhận thức.

Ngài không phải là một người chủ trương bác bỏ hình tướng hay chức năng của sự hiện hữu trên đời. Ngài không nói rằng không hề có sự xuất hiện của cầu vồng hay là không có chén trà nào ở đây. Chúng ta có thể tận hưởng trải nghiệm của mình, nhưng chúng ta có thể trải nghiệm một điều gì đó không có nghĩa là điều đó thực sự hiện hữu. Ngài Tất Đạt Đa chỉ gợi ý rằng chúng ta nên xem xét kinh nghiệm và cho rằng nó có thể là một ảo ảnh nhất thời, giống như giấc mơ ban ngày.

Nếu có ai đó yêu cầu bạn vỗ hai cánh tay và bay lên, bạn sẽ nói: “Tôi không thể”, bởi vì trong kinh nghiệm của chúng ta về thế giới tương đối này, về mặt vật lý thì không thể bay được, cò khó hơn là có thể giấu mình bên trong một cái sừng bò. Nhưng giả dụ bạn đang ngủ và mơ thấy mình đang bay qua bầu trời. Nếu ai đó trong giấc mơ nói rằng “Con người không thể bay”, bạn sẽ nói: “Có chứ, tôi có thể - bạn thấy chứ?” Và bạn sẽ bay đi.

Ngài Tất Đạt Đa chấp nhận cả hai ý kiến ấy – bạn không thể bay khi bạn thức và bạn có thể bay khi bạn ngủ. Lý do là những nguyên nhân và điều kiện đã cùng đến hoặc không cùng đến; một điều kiện cần để có thể bay đang mơ. Khi không có điều kiện ấy thì bạn không thể bay, khi có nó thì bạn có thể bay. Nếu bạn mơ mình đang bay và tiếp tục tin rằng bạn có thể bay ngay cả sau khi bạn đã tỉnh giấc, thì đó sẽ trở thành vấn đề. Bạn sẽ rơi xuống và thất vọng.

Ngài Tất Đạt Đa nói rằng thậm chí khi bạn thức trong thế giới tương đối này, bạn vẫn luôn lơ mơ ngủ với sự vô minh, giống như những người vũ nữ ở hoàng cung trong đêm Ngài lìa bỏ lối sống trước kia. Khi những điều kiện và nguyên nhân đúng hợp đến cùng nhau, bất cứ điều gì cũng có thể xuất hiện. Nhưng khi những điều kiện này đã hết, sự xuất hiện đó sẽ không còn nữa.

Xem kinh nghiệm của chúng ta trong thế giới này như là một giấc mơ, Ngài Tất Đạt Đa thấy rằng thói quen gắn chặt vào vẻ bên ngoài của thế giới tương đối và như giấc mơ của chúng ta mà nghĩ rằng nó thực sự hiện hữu, sẽ ném chúng ta vào vòng quay không dừng dứt của khổ đau và lo lắng. Chúng ta như đang ở trong giấc ngủ sâu, như con tằm nằm trong tổ kén vậy. Chúng ta thêu dệt một thực tế dựa trên những phóng chiếu, tưởng tượng, hy vọng, sợ hãi và sai lầm của mình.

Những cái kén của chúng ta vô cùng chắc chắn và rất tinh vi. Những gì chúng ta tưởng tượng ra đối với chúng ta là thật, đến nỗi chúng ta bị mắc kẹt trong cái kén. Nhưng chúng ta có thể thoát ra chỉ bằng cách hiểu ra rằng tất cả chỉ là sự tưởng tượng của chúng ta. Hẳn là có vô số cách để thức tỉnh khỏi giấc ngủ này. Thậm chí những chất gây ảo giác như peyote hay mescaline cũng có thể cho chúng ta khái niệm mơ hồ về khía cạnh hư huyễn của “thực tế”.

Nhưng thuốc không thể cho chúng ta sự tỉnh táo hoàn toàn, chỉ vì sự tỉnh táo này phụ thuộc vào một thứ ở bên ngoài và khi tác dụng của mescaline hết thì sự trải nghiệm kia cũng mất đi. Hãy giả định là bạn đã có một giấc mơ tồi tệ. Tất cả những gì nó mang lại là một thoáng nhận thức rằng bạn đang mơ và cần thức dậy. Tia lửa có thể phát xuất từ bên trong giấc mơ. Khi bạn làm điều gì đó bất thường trong giấc mơ, bạn có thể được thúc đẩy để nhận ra rằng mình đang ngủ.

Những chất thuốc như mescaline khiến có thể làm lóe lên một thoáng nhận thức bằng cách hiển lộ sức mạnh của tâm thức và trí tưởng tượng. Những ảo giác giúp chúng ta tạm thời nhận biết những ảo ảnh có thể xác thực và đáng tin đến mức nào. Nhưng những thứ ấy thì không thể tin theo được vì chúng chỉ cung cấp một kinh nghiệm giả tạo, thứ kinh nghiệm gây hại cho cơ thể.

Thay vào đó, chúng ta nên có khát vọng thức tỉnh một lần là xong, mà không phụ thuộc vào bất cứ điều gì từ bên ngoài. Sẽ tốt hơn nhiều khi nhận thức đến từ bên trong. Những gì chúng ta thực sự cần là sự thức tỉnh khỏi những mẫu thức, sự tưởng tượng và sự ham muốn quen thuộc của chúng ta. Luyện tâm, thiền định là các cách vận hành nhanh chóng nhất, an toàn nhất bên trong dòng tâm thức. Như Ngài Tất Đạt Đa đã nói: “Bạn chính là thầy của mình.” “Chính sự bám chấp trói buộc bạn”

Ngài Tất Đạt Đa hoàn toàn hiểu rằng trong thế giới tương đối này bạn có thể pha một tách trà Ô Long và uống nó: Ngài sẽ không nói “Chẳng có trà” hay “Trà là Không”. Nếu Ngài phải nói điều gì đó thì đó có thể là sự gợi ý rằng trà không phải như nó có vẻ là trà; ví dụ như trà là những chiếc lá đã bị se cuốn lại và phơi khô rồi được ngâm trong nước nóng.

Nhưng có một số người cuồng nhiệt thì bị mê hoặc vì những chiếc lá và làm ra những hỗn hợp đặc biệt, tạo ra những cái tên như Iron Dragon và bán những lượng nhỏ với giá hàng trăm đô la. Đối với họ, đó không chỉ là lá trong nước.

Vì lý do này khoảng 1.500 năm sau khi Ngài Tất Đạt Đa thuyết pháp, một trong những người thừa kế pháp của Ngài tên là Tilopa đã nói với môn đệ của mình là Naropa: “Không phải vẻ bề ngoài trói buộc con, mà chính là sự bám chấp trói buộc con”. [Có một vị ni xinh đẹp tên là Utpala. Một người đàn ông yêu cô say đắm và bắt đầu bám theo cô. Việc đeo đuổi của anh ta khiến cô khó chịu và cô cố tránh né anh ta, nhưng anh ta không chịu bỏ cuộc.

Cuối cùng, một ngày kia, trước sự bất ngờ của anh ta, cô tiến đến đối mặt với anh ta. Lúng túng tìm lời, anh ta buột miệng nói rằng anh ta yêu đôi mắt của cô. Không chần chừ, cô môi đôi mắt của mình ra đưa cho anh ta. Cơn sốc khiến anh ta nhận ra rằng người ta dễ bị mê hoặc và bị ám ảnh bởi các phần được hợp thành. Khi vượt qua cơn sốc và nỗi sợ hãi của mình, anh ta trở thành đệ tử của vị ni ấy.

Trong một truyền thuyết thiền Nhật Bản, hai thiền sư du hành sắp lội qua một con sông thì có một phụ nữ trẻ xin họ mang cô vượt qua dòng nước chảy xiết ấy. Cả hai vị thiền sư đều đã có lời nguyện giữ giới và không được chạm vào phụ nữ, nhưng không ngần ngại vị tăng lớn tuổi hơn đã nhấc cô lên, đặt cô lên lưng mà cõng cô gái sang sông. Khi họ sang tới bờ bên kia, vị tăng đặt cô gái xuống, không nói năng gì và tiếp tục lên đường.

Một vài giờ sau, vị tăng trẻ buột miệng: “Há chẳng phải chúng ta là những nhà sư sao? Tại sao lúc nãy thầy lại cõng người phụ nữ đó?” Vị tăng lớn tuổi hơn trả lời: “Ta đã bỏ cô gái đó lại từ rất lâu rồi. Sao thầy lại cõng người phụ nữ ấy?”

Trong lúc sáng suốt, chúng ta có thể nhìn thấy cái Không của những khái niệm trừu tượng như vẻ đẹp và sự xấu xí – dù sao chúng cũng mở ngõ ra đó cho diễn giải – nhưng đối với chúng ta thì thật khó hơn nhiều nếu muốn hiểu được cái Không của những thứ hiển hiện rõ ràng, chẳng hạn một chiếc ô tô cần sửa chữa, những hóa đơn cần phải trả, chứng cao huyết áp đe dọa sức khỏe, gia đình giúp đỡ chúng ta hoặc chúng ta cần được gia đình giúp đỡ.

Thật dễ hiểu vì sao chúng ta không muốn hoặc không thể thấy những thứ đó là hư huyễn. Còn lố bịch hơn khi chúng ta mải mê tiêu xài phung phí vào thời trang cao cấp, những món ăn sang trọng, những địa vị cao sang hay thẻ hội viên của những câu lạc bộ thượng lưu. Không ít người tệ đến nỗi có một chiếc TV cho mỗi phòng, hoặc hai trăm đôi giày hình như là cần thiết đối với họ.

Khao khát một đôi giày Nikes hay một bộ cánh Giorgio Armani tại một cửa hàng sang trọng vượt xa khỏi sự thôi thúc của những nhu cầu thực tế để sống. Mọi người còn tranh nhau mua những chiếc túi xách ở các cửa hàng. Những hiện tượng hữu vi của việc nghiên cứu, chế tạo sản phẩm và thị trường là phức tạp và được tính toán, đến nỗi chúng ta trở thành những kẻ dễ bị lừa bịp vì các nhãn hiệu mà chấp nhận những cái nhãn báo giá lố bịch không tương ứng với giá trị vật chất.

Vì phần lớn mọi người đều tán thành quan điểm rằng những thứ ấy là có giá trị, nên thật khó cho một người yêu thích loại hàng hiệu Louis Vuitton hiểu được sự vô ích của nỗi ám ảnh mà cô ấy gây ra với chiếc túi xách bằng da thật, chứ chưa nói gì tới sự vô ích của chính chiếc túi xách đó.

Được củng cố bởi nền văn hóa đại chúng, tầm quan trọng của những thứ địa vị trưởng giả và các nhãn hiệu trở nên càng vững chắc trong trí óc chúng ta, khiến thế giới của chúng ta càng thêm giả tạo. Ngoài việc bị thao túng bởi những người thu hóa đơn và những thiên tài tiếp thị, chúng ta còn bị đẩy và kéo bởi những hệ thống chính trị, những khái niệm trừu tượng như quyền tự do cá nhân hay những quan điểm đạo đức như chống phá thai và “quyền được chết”.

Thế giới chính trị đầy rẫy những nhãn hiệu như thế và cơ hội của những sự lãnh đạo thực sự gần như không có. Con người đã từng trải nghiệm đủ loại người lãnh đạo và mỗi loại đều có lợi ích của riêng nó, tuy nhiều người vẫn chịu khổ.

Có thể có những nhà chính trị chính trực thực sự nhưng để tranh cử thắng lợi, họ cần đeo lên mình những cái mác như ủng hộ quyền của những người đồng tính nam hay chống quyền lợi của những người đồng tính nam, dù họ không cảm nhận sâu sắc về vấn đề đó. Chúng ta rất thường thấy chính mình phải miễn cưỡng tuân theo những gì mà số đông nghĩ, dù rằng đó là một quan điểm điên rồ, để có thể được chấp nhận trong cái thế giới được gọi là dân chủ này.

Rất lâu trước đây, trong một đất nước đang khổ vì hạn hán, một nhà tiên tri uy tín tiên đoán rằng sau bảy ngày nữa thì trời sẽ có mưa. Lời tiên đoán trở thành hiện thực và mọi người rất vui mừng. Sau đó, nhà tiên tri lại nói sẽ có một trận mưa đồ châu báu và một lần nữa lời tiên đoán lại trở thành hiện thực. Mọi người đều hạnh phúc và giàu có.

Lời tiên đoán tiếp theo của ông là sau bảy ngày nữa sẽ có một trận mưa khác, một trận mưa đáng nguyền rủa, bất cứ ai uống phải nước mưa này sẽ bị điên. Nhà vua ra lệnh dự trữ một lượng lớn nước sạch để ông ta khỏi phải uống thứ nước mưa đáng sợ kia. Nhưng thần dân của ông vua ấy không có đủ chỗ để chứa nước sạch. Khi mưa tới, họ đã uống thứ nước đó và trở nên điên loạn. Chỉ có mình vừa là “tỉnh táo”, nhưng ông vua chẳng thể nào cai trị những thần dân điên loạn của mình.

Vì thế, như một giải pháp cuối cùng, ông vua cũng uống thứ nước đó. Để cai trị họ, ông vua cũng cần chia sẻ những ảo tưởng của họ. Như trong cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ, mọi thứ chúng ta làm hay suy nghĩ trong thế giới này đều dựa vào một hệ thống rất hạn chế về luận lý được chia sẻ. Chúng ta quá chú trọng vào sự đồng thuận. Nếu số đông công nhận rằng điều gì đó là đúng thì điều đó thường có giá trị.

Khi nhìn vào một cái ao nhỏ, những con người chúng ta thấy đó đúng là một cái ao; nhưng với những con cá trong ao đó thì đây là vũ trụ của chúng. Nếu chúng ta dựa trên quan điểm dân chủ thì những cư dân ở dưới nước sẽ thắng bởi vì số lượng của chúng vượt trội rất nhiều so với số lượng của chúng ta, những người nhìn vào ao. Thế nên luật theo số đông không phải lúc nào cũng đúng.

Những bộ phim bom tấn rất tồi có thể thu được lợi nhuận cực lớn, trong khi những bộ phim hay độc lập chỉ được một nhúm người xem. Và bởi vì sự phụ thuộc của chúng ta vào lối suy nghĩ của số đông, thế giới thường được điều khiển bởi những người lãnh đạo thiển cận và tham nhũng; dân chủ chỉ cần có mẫu số chung thấp nhất.

Sự thật: không phải truyền thuyết, không phải pháp thuật, không hề nguy hiểm Khó mà hiểu được tính Không khi trí óc chúng ta bị chủ nghĩa thực dụng điều kiện hóa; đó là lý do tại sao khiến sự việc Milarepa trú trong một chiếc sừng bò bị gạt sang một bên như là một truyền thuyết. Nó chẳng phù hợp với trí óc hạn hẹp của chúng ta, như thể đại dương thì không thể vừa vặn trong một cái giếng. Có một con ếch sống trong một cái giếng.

Một ngày kia nó gặp một con ếch khác ở đại dương. Con ếch đại dương kể những câu chuyện hấp dẫn về đại dương của mình và mô tả về sự rộng lớn của đại dương. Nhưng con ếch ở giếng chẳng tin nổi con ếch đại dương; nó cho rằng cái giếng của nó là lớn nhất và là nơi có nhiều nước nhất thế giới bởi vì con ếch ở giếng chẳng hề có cái gì để viện dẫn, chẳng có kinh nghiệm hay lý do để nghĩ ngược lại. Vì thế, con ếch đại dương đưa con ếch ở giếng tới đại dương.

Nhìn thấy sự rộng lớn của đại dương, con ếch ở giếng chết vì đau tim. Sự thể hội không nhất thiết phải gây chết người. Chúng ta không được giống như con ếch ở giếng, gục xuống mà chết khi chúng ta bị đưa vào tính Không. Nếu con ếch đại dương có một chút tình thương và khéo léo hơn thì nó có thể là một người hướng dẫn tốt hơn, và con ếch ở giếng đã không phải chết. Có thể con ếch ở giếng đã di trú đến đại dương.

Chúng ta chẳng cần phải có một món quà siêu nhiên để có thể nhận ra bản chất của Không. Đó chỉ là vấn đề của việc học hỏi và sự quyết chí để nhìn các sự vật theo toàn bộ các thành phần, và theo các nguyên nhân và điều kiện ẩn giấu của chúng. Với sự thấu suốt như vậy, một người có thể trở nên giống một nhà dàn cảnh hay người trợ lý quay phim đi xem chiếu bóng. Các chuyên gia thường nhìn thấy những điều nằm ngoài những gì chúng ta nhìn thấy.

Họ thấy chiếc máy quay được đặt như thế nào, các ống kính và thiết bị ánh sáng đã được sử dụng ra sao, phản ứng của đám đông trước hiệu ứng của máy tính thế nào, và tất cả các kỹ năng phim ảnh khác mà khán giả không biết được. Vì thế, đối với các chuyên gia ấy, sự giả ảo bị bóc trần ra hết. Tuy vậy, các chuyên vẫn có thể thưởng thức khi chính họ đi xem chiếu bóng. Đó chính là một ví dụ về sự hài hước siêu việt của Ngài Tất Đạt Đa.

Những chiếc cà vạt và dây thòng lọng của cảm thọ Có một ví dụ cổ điển của đạo Phật được sử dụng để minh họa tính Không là chuyện con rắn và sợi dây. Giả dụ có một người nhát gan tên là Jack, anh ta có chứng sợ rắn. Jack bước vào một căn phòng mờ tối, nhìn thấy một con rắn đang cuộn tròn ở góc phòng và hoảng hốt.

Trên thực tế, anh ta đang nhìn thấy một chiếc cà vạt chưa thắt hiệu Giorgio Armani, nhưng trong cơn sợ hãi, anh ta tưởng nhầm về những gì anh ta nhìn thấy đến nỗi anh ta có thể chết vì sợ – cái chết gây ra bởi một con rắn không thực sự hiện hữu. Trong khi anh ta đang có cảm tưởng rằng đó là một con rắn, nỗi khổ đau và sự lo sợ mà anh ta trải qua là điều mà các Phật tử gọi là “luân hồi” (samsara), vốn là một loại bẫy tâm thức.

May mắn cho Jack, bạn Jill của anh ta bước vào phòng. Jill bình tĩnh, tỉnh táo và biết Jack đang nghĩ anh ta thấy một con rắn. Cô bật đèn lên và giải thích rằng chẳng có con rắn nào cả, đó chỉ là một chiếc cà vạt. Khi Jack được thuyết phục rằng anh ta được an toàn, niềm tin này không khác điều mà các Phật tử gọi là “niết bàn” – sự giải thoát và tự do.

Nhưng niềm tin của Jack dựa vào một ảo tưởng về sự nguy hại đã được loại bỏ, mặc dù ngay từ lúc đầu chẳng có con rắn nào và chẳng có gì gây khổ đau cho anh ta cả. Điều quan trọng là hiểu rằng bằng cách bật đèn lên và và chứng minh không có con rắn nào cả, Jill cũng đang nói rằng không có sự vắng mặt nào của con rắn. Hay nói cách khác, cô ấy không thể nói: “Con rắn bò đi rồi”, bởi vì con rắn chưa bao giờ ở đó.

Cô ấy không khiến con rắn biến mất, cũng giống như Ngài Tất Đạt Đa không tạo ra tính Không. Đó là lý do tại sao Ngài Tất Đạt Đa nhấn mạnh là Ngài không không thể quét sạch khổ đau của những người khác bằng cách vẫy tay của mình. Sự giải thoát của chính Ngài cũng không thể được ban phát hay được chia sẻ từng phần giống như là một loại phần thưởng nào đó.

Tất cả những gì Ngài có thể làm là giải thích từ kinh nghiệm của mình rằng ngay từ đầu đã chẳng có khổ đau nào cả, điều giống như việc cô Jill bật đèn lên cho anh Jack vậy. Khi Jill thấy Jack đứng chết trân vì sợ hãi, cô có vài lựa chọn về những gì phải làm. Cô có thể vạch rõ rằng không có con rắn nào, hoặc cô có thể sử dụng phương pháp khéo léo hơn như là đưa “con rắn” ra khỏi phòng.

Nhưng nếu Jack vẫn sợ đến nỗi anh ta chẳng thể phân biệt con rắn với cái cà vạt, ngay cả khi đèn đã được bật lên, và nếu Jill không đủ khéo léo thì cô ấy có thể khiến tình hình càng tệ hại hơn. Cô ấy còn có thể dứ dứ chiếc cà vạt trước mặt Jack, hẳn là anh ta có thể chết vì đau tim. Nhưng nếu Jill khéo léo và thấy rằng Jack đang lầm lẫn, cô ấy có thể nói: “Vâng, tôi thấy con rắn” và cẩn thận mang chiếc cà vạt ra khỏi phòng, để Jack cảm thấy an toàn một chút.

Có thể sau đó, khi anh ta đã hoàn hồn, Jill có thể ôn tồn dẫn giải cho đến khi anh ta thấy rằng ngay từ đầu chưa từng có một con rắn nào cả. Nếu Jack chưa bao giờ vào căn phòng đó, nếu chẳng có sự nhận lầm nào, thì toàn bộ cảnh huống của việc nhìn thấy hay không nhìn thấy con rắn chẳng có nghĩa lý gì. Nhưng vì anh ta nhìn thấy con rắn và bị dính vào cảnh huống đó, và bởi vì anh ta bị tê cứng vì sợ hãi, anh ta muốn có một phương cách để thoát ra.

Giáo lý của Ngài Tất Đạt Đa là một phương pháp cho những sự giải thoát đó. Pháp (dharma) đôi khi được đề cập tới như là một con đường “thiêng liêng”, dù nói một cách quyết đoán rằng chẳng hề có tính thiêng liêng nào trong đạo Phật. Con đường đó là một phương pháp, hay một công cụ đưa chúng ta từ một nơi này đến một nơi khác; trong trường hợp này, con đường này dẫn chúng ta từ vô minh (si muội, ngu dốt) đến sự vắng mặt của vô minh.

Chúng ta sử dụng từ “thiêng liêng” hay là “đáng kính trọng” bởi vì trí tuệ của pháp có thể giải thoát chúng ta ra khỏi sợ hãi và khổ đau – điều thường là vai trò của đấng thần thánh. Kinh nghiệm sống hàng ngày của chúng ta đầy những bất ổn, những niềm vui, những lo lắng và cảm thọ bất chợt luôn cuộn quanh chúng ta giống như một con rắn.

Những thứ xảy ra bất chợt như hy vọng, sợ hãi, tham vọng của chúng ta và cả sự cuồng loạn nói chung tạo ra sự tối tăm, mờ mịt khiến cho ảo tưởng về con rắn trở nên sinh động hơn. Giống như chàng trai nhát gan Jack, chúng ta tìm kiếm giải pháp trong mọi ngóc ngách của căn phòng tối. Mục đích duy nhất của việc giảng dạy của Ngài Tất Đạt Đa là giúp những kẻ nhát gan như chúng ta hiểu rằng nỗi khổ đau và bệnh hoang tưởng của chúng ta đều dựa trên những ảo tưởng.

Dù cho Ngài Tất Đạt Đa không thể xóa bỏ khổ đau bằng chiếc đũa thần hay thần lực nào đó, Ngài vẫn rất khéo léo khi bật ngọn đèn lên [gợi ý đến sự việc cô Jill bật đèn cho anh Jack]. Ngài cung cấp nhiều con đường và phương pháp cho việc khám phá chân lý. Thực vậy, trong Phật giáo có hàng chục nghìn con đường để đi theo. Vậy tại sao không đơn giản hóa thành một phương pháp thôi?

Lý do là: giống như rất nhiều loại thuốc cần cho nhiều loại bệnh khác nhau, nhiều phương pháp cần thiết cho nhiều tập quán, văn hóa và thái độ. Mỗi phương pháp mà ai đó theo đuổi đều phụ thuộc vào trạng thái tâm của người học và vào kỹ năng mà người thầy có được. Thay vì làm choáng váng mọi người với tính Không ngay từ đầu, Ngài Tất Đạt Đa dạy chúng đệ tử của mình với những phương pháp phổ biến như thiền định và giới luật – “hãy làm điều tốt, chớ trộm cắp, chớ nói dối”.

Ngài mô tả những mức độ khác nhau của sự từ bỏ và sự khắc khổ, từ việc cạo trọc đầu đến việc kiêng thịt, tùy theo tư chất của người đệ tử. Dường như những con đường khắc khổ và tôn giáo lại thuận hợp với những ai ngay từ đầu không thể nghe và hiểu tính Không, cũng như những người bản chất là hợp với khổ hạnh.

Đức Phật đã dạy: Phật pháp như là giả dược Nhiều người cho rằng những giới luật nghiêm khắc và những hành đạo đức là bản chất của đạo Phật, nhưng đó chỉ là một thành phần nhỏ của những phương pháp thiện xảo và phong phú của Đức Phật. Ngài biết rằng ngay từ đầu không phải tất cả mọi người đều có thể hiểu những sự thật tối hậu.

Thật khó cho nhiều người trong chúng ta chấp nhận những khái niệm như “địa ngục chỉ là sự cảm nhận về sự giận dữ của chính bạn”, chứ chưa nói gì tới khái niệm về Không. Đức Phật chẳng muốn anh chàng Jack rơi vào “địa ngục” của cá nhân, nhưng Ngài không thể nói với Jack là hãy tự ứng xử với những nhận thức hay sự hung hãn của anh ta bởi vì Jack là một kẻ ngốc.

Vì lợi ích của Jack, Đức Phật dạy rằng có một địa ngục ở bên ngoài và rằng để tránh phải đi tới đó và bị đun sôi trong vạc dầu, Jack phải dừng ngay lại những hành vi bất thiện, những hành động và cảm thọ tiêu cực. Những giáo lý này trải rộng trong những môi trường Phật giáo; chúng ta thường nhìn thấy những cảnh giới địa ngục được vẽ trên tường của những ngôi chùa Phật giáo, với những cơ thể đang bị cháy và hẻm núi băng khủng khiếp.

Những hình ảnh đó có thể được hiểu theo nghĩa đen hay là nghĩa bóng, tùy theo khả năng của người học. Những người có khả năng cao biết rằng nguồn gốc của địa ngục hàng ngày – nỗi khổ đau của chúng ta – phát sinh từ nhận thức của chính chúng ta. Họ hiểu rằng chẳng có ngày phán quyết nào cả, và cũng chẳng có quan tòa nào hết. Khi Milarepa xuất hiện trong cái sừng bò, Rechungpa sắp trở thành một đại sư.

Ngài có khả năng trí tuệ to lớn để hiểu tính Không và đủ nhận thức để có thể thực sự nhìn thấy Milarepa ở trong sừng bò; nhưng nhận thức của ngài chỉ dừng lại ở đó chứ chưa thể cùng thầy của mình trốn vào trong cái sừng bò. Mục tiêu cuối cùng của Đức Phật là khiến cho Jack hiểu, giống như những đệ tử cấp cao này [tức là Milarepa và Rechungpa], rằng chẳng có địa ngục nào tách rời khỏi những nóng giận và sự vô minh của chính anh ta.

Bằng cách giảm thiểu ngay lập tức những hành động tiêu cực của mình, Jack sẽ bớt dính mắc vào những nhận thức sai lầm, những nghi ngờ, và sự hoang tưởng của mình. Về mặt thực hành, từ nghiệp báo (karma) đồng nghĩa với Phật giáo. Nó thường được hiểu như là một loại hệ thống đạo đức về sự đền đáp – nghiệp “xấu” và nghiệp “tốt”. Nhưng nghiệp báo đơn giản chỉ là quy luật nguyên nhân và kết quả (nhân quả) mà thôi, chứ không bị lầm lẫn với phẩm hạnh hay đạo đức học.

Chẳng có ai, kể cả Đức Phật, đặt ra một loại thanh chắn để phân biệt những gì là tiêu cực hay tích cực. Bất kỳ một động cơ hay hành động nào điều khiển chúng ta ra khỏi những sự thật như là “mọi sự vật cấu thành thì vô thường” đều có thể đưa tới những hậu quả tiêu cực, hay là nghiệp xấu (ác nghiệp). Và bất kỳ một hành động nào đưa chúng ta tới gần với việc hiểu sự thật là “mọi cảm thọ đều khổ” có thể tạo ra những hậu quả tích cực, hay là nghiệp tốt (thiện nghiệp).

Cuối cùng, không phải là Đức Phật phán xét, chỉ có bạn mới biết động cơ thực sự đằng sau những hành động của bạn mà thôi. Trong một cuộc luận bàn với đệ tử Tu Bồ Đề (Subhuti), Đức Phật nói: “Những ai nhìn thấy Đức Phật như là một hình tướng và những ai nghe Đức Phật như là một âm thanh đều có kiến giải sai lầm.” 400 năm sau, đại học giả Phật học người Ấn Độ là Long Thọ (Nagarjuna) xuất hiện.

Trong bộ luận nghiên cứu triết học Phật giáo nổi tiếng của ngài, ngài đã dành cả một chương có tên là “Phân tích Đức Phật” và kết luận rằng cuối cùng thì không hề có một vị Phật nào ở bên ngoài cả. Đến tận ngày nay, chẳng có gì khác thường khi nghe những câu câu nói Phật giáo như thế này: “Nếu bạn nhìn thấy ông Phật trên đường đi, hãy giết ông ta đi.” Điều này dĩ nhiên có nghĩa bóng; chắc chắn người ta sẽ không giết Đức Phật.

Điều đó có nghĩa là vị Phật thực sự không phải là một đấng cứu độ hiện hữu bên ngoài, bị ràng buộc bởi thời gian và không gian. Mặt khác, một người tên là Tất Đạt Đa đã xuất hiện trên trái đất này trở thành Đức Phật Cồ Đàm và bước đi khất thực với đôi chân trần trên những đường phố ở Ma Kiệt Đà (Magadha). Vị Phật ấy đã tuyên pháp, săn sóc những người bệnh tật và thăm lại cả gia đình mình ở Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).

Lý do những người Phật tử sẽ không bàn cãi về một vị Phật vật lý xuất hiện vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên ở Ấn Độ – là vì chúng ta có những chứng liệu lịch sử rằng Ngài đã trở thành nguồn cảm hứng trong hàng thế kỷ tại Ấn Độ. Ngài là một vị thầy vĩ đại, người đầu tiên trong một dọc dài những vị thầy và những học trò có kiến thức cao. Chỉ có thế mà thôi. Tuy vậy, đối với một người truy tầm chân lý nghiêm túc thì cảm hứng là tất cả mọi sự.

Ngài Tất Đạt Đa đã sử dụng rất nhiều phương tiện thiện xảo để gây cảm hứng cho mọi người. Một ngày nọ, có một vị sư để ý thấy một vết rách trên chiếc y của Đức Phật và xin phép Đức Phật để khâu lại cho Ngài, nhưng Đức Phật từ chối. Ngài tiếp tục bước đi và khất thực với chiếc y bị rách như thế. Khi Ngài tiến tới nơi ở của một người phụ nữ nghèo khổ, các vị sư cực kỳ bối rối vì họ biết rằng người phụ nữ kia chẳng có gì để cúng dường (cho Đức Phật).

Khi người phụ nữ thấy chiếc y bị rách của Ngài, bà muốn khâu lại chiếc y bằng một sợi dây nhỏ mà bà có. Ngài Tất Đạt Đa chấp nhận và tuyên bố rằng đức hạnh của bà cho phép bà có thể tái sinh trong đời sau như là một nữ hoàng ở cõi trời. Nhiều người nghe được câu chuyện đều tràn ngập cảm hứng để thể hiện lòng quảng đại của chính họ . Trong một câu chuyện khác, Ngài Tất Đạt Đa cảnh báo một người bán thịt rằng giết súc vật là tạo nghiệp xấu.

Nhưng người bán thịt nói: “Đây là tất cả những gì tôi biết, là nghề kiếm sống của tôi”. Ngài Tất Đạt Đa bảo người bán thịt rằng ít nhất hãy hứa là không giết thịt từ lúc hoàng hôn cho tới bình minh. Ngài không thuận cho người bán thịt giết súc vật vào ban ngày, Nhưng Ngài hướng dẫn người đó giảm dần những hành động xấu ác. Đây là những ví dụ về những phương tiện thiện xảo mà Đức Phật đã sử dụng để giảng pháp.

Ngài không nói rằng bởi vì người phụ nữ nghèo khổ vá áo cho ngài nên người ấy sẽ được sinh thiên, như thể Ngài là đấng thần linh. Chính sự quảng đại của bà tạo nên hạnh vận của bà. Bạn có thể nghĩ rằng đó là sự nghịch lý. Đức Phật tự mâu thuẫn với chính mình, nói rằng Ngài không thực sự hiện hữu, rằng mọi sự vật đều là Không, và rồi lại dạy đạo đức và sự cứu rỗi. Nhưng những phương cách đó là cần thiết để không gây hoảng sợ cho những người chưa sẵn sàng tiếp nhận tính Không.

Họ được an tâm và được chuẩn bị để tiếp nhận những giáo lý thật sự. Điều này giống như là nói rằng có một con rắn và vứt cái cà vạt ra ngoài cửa sổ. Vô số những phương pháp như thế chính là con đường. Tuy nhiên, cuối cùng chính con đường đó cũng bị rời bỏ, giống như bạn rời bỏ con thuyền khi bạn đã sang bờ bên kia. Bạn phải lên bờ một khi bạn đã tới nơi. Ngay lúc đã thể hội hoàn toàn, bạn phải từ bỏ cả đạo Phật.

Con đường tâm linh là một giải pháp tạm thời, một thứ giả dược được sử dụng cho tới khi tính Không được lĩnh hội. Những lợi ích của sự hiểu biết Bạn có thể vẫn cân nhắc: Đâu là lợi ích của việc hiểu tính Không? Bằng việc hiểu tính Không, bạn duy trì được sự trân trọng đối với tất cả những gì đang hiện hữu, nhưng không bám chấp vào ảo ảnh như thể chúng là thật và cũng không thất vọng mãi hoài như một đứa trẻ đuổi theo một cái cầu vồng.

Bạn có thể nhìn thấy bản chất của các ảo ảnh và nhớ rằng ngay từ đầu chính cái tôi đã tạo ra những ảo ảnh đó. Bạn có thể vẫn bị dao động hay xúc cảm, buồn, giận, hay mê đắm, nhưng bạn có sự tự tin của một người đang ngồi trong rạp chiếu phim, có thể rời bỏ vở diễn bởi vì hiểu rõ đó chỉ là một bộ phim. Hy vọng và nỗi sợ hãi của bạn ít ra cũng đã nhạt bớt đi, giống như việc nhận ra rằng con rắn chỉ là một chiếc cà vạt.

Khi chúng ta không nhận ra tính Không, khi chúng ta không hiểu đầy đủ rằng mọi sự vật chỉ là ảo ảnh, thế giới dường như là thật, cụ thể và chắc chắn. Những hy vọng và sợ hãi của chúng ta cũng trở nên vững chắc và vì thế không thể kiểm soát được. Ví dụ, nếu bạn có niềm tin vững chắc vào gia đình, bạn luôn mong đợi cha mẹ sẽ luôn chăm sóc cho bạn. Bạn sẽ không cảm thấy như vậy về một người lạ trên phố; anh ta không có nghĩa vụ như thế.

Hiểu rõ những hiện tượng hữu vi và hiểu tính Không sẽ cho phép tạo ra một số khoảng trống trong sự quan hệ. Khi bạn bắt đầu nhìn thấy nhiều kinh nghiệm, áp lực và hoàn cảnh đã hun đúc nên cha mẹ của bạn, thì sự mong đợi của bạn vào họ sẽ thay đổi, sự thất vọng của bạn giảm đi.

Khi chính chúng ta trở thành cha mẹ, ngay cả một sự hiểu biết ít ỏi về sự phụ thuộc liên đới cũng làm giảm nhẹ một cách hiệu quả những mong đợi của chúng ta vào con cái, điều mà chúng có thể hiểu là tình yêu thương. Không hiểu điều đó, chúng ta có thể có những ý định tốt để thương yêu và chăm sóc cho con cái của mình, nhưng những mong đợi và đòi hỏi của chúng ta có thể trở nên quá đáng.

Tương tự như thế, hiểu được tính Không, bạn sẽ không còn hứng thú với những cái bẫy, những niềm tin mà xã hội dựng lên và phá sập – những hệ thống chính trị, khoa học và công nghệ, nền kinh tế toàn cầu, xã hội tự do, Liên Hợp Quốc. Bạn trở nên như một người lớn không còn hứng thú với những trò chơi trẻ con nữa. Trong rất nhiều năm, bạn tin tưởng vào những cơ chế đó và tin rằng chúng có thể thành công ở những chỗ mà những hệ thống cũ đã thất bại.

Nhưng thế giới vẫn chưa trở nên an toàn hơn, thích thú hơn và an ninh hơn. Điều này không có nghĩa là bạn nên lìa bỏ xã hội. Hiểu về tính Không không có nghĩa là bạn trở thành chán chường; ngược lại, bạn phát triển một cảm thức về trách nhiệm và từ bi. Nếu Jack kêu rú lên, làm loạn lên hay quát mọi người đừng có bỏ rắn vào trong căn nhà, và bạn biết rằng vì anh ta bị nhầm lẫn, bạn sẽ thông cảm với anh ta.

Những người khác có thể tha thứ như thế, vì thế bạn cố gắng bật đèn lên, vì lợi ích của Jack. Ở bình diện rộng hơn, bạn vẫn sẽ đấu tranh vì quyền cá nhân của mình, nắm giữ công việc, năng động và tích cực trong hệ thống chính trị của mình; nhưng khi tình hình thay đổi, dù là có lợi hay bất lợi cho bạn, bạn đã được chuẩn bị rồi. Bạn không mù quáng tin rằng mọi thứ bạn mong muốn và chờ đợi đều thành hiện thực, và bạn không bị mắc kẹt vào kết quả cuối cùng.

Nhiều người trong chúng ta thường cam chịu sự ngu tối. Chúng ta không thể nhìn thấy những ảo ảnh tạo nên cuộc sống hàng ngày của mình bởi vì chúng ta không có dũng cảm phá bỏ cái mạng lưới mà chúng ta bị nhét vào trong đó. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang, hay sớm sẽ, được thuận lợi đủ để tiếp tục tình trạng như hiện nay. Điều này như thể là chúng ta đang đi vào một mê cung, thông qua đó có sẵn một lộ trình quen thuộc, và không muốn khám phá những hướng đi khác.

Chúng ta không dám mạo hiểm vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta có quá nhiều thứ để mất. Chúng ta lo sợ rằng nếu chúng ta nhìn thế giới từ cái nhìn của tính Không, chúng ta có thể bị loại khỏi xã hội, mất hết trách nhiệm của mình và cùng với điều ấy, chúng ta mất bạn bè, gia đình và công việc. Sự quyến rũ của thế giới huyễn giả chẳng giúp được gì; nó bị gói bọc quá kỹ.

Chúng ta bị dội bom bởi những thông điệp về loại xà bông làm cho chúng ta thơm như thiên đường, rằng chế độ ăn kiêng Sou Th Beach Diet thật là kỳ diệu, rằng dân chủ là thể chế chính trị tuyệt vời nhất, rằng những loại vitamin sẽ tăng cường sức bền của chúng ta thật là công hiệu. Chúng ta hiếm khi lắng nghe hơn một mặt của sự thật, và trong những dịp hiếm hoi mà chúng ta làm thế thì cũng thường mù mờ.

Giống như đứa trẻ trong rạp chiếu phim, chúng ta bị trói buộc trong giả cảnh, từ đó dẫn tới đủ thứ phù phiếm, tham vọng và bất an. Chúng ta yêu những ảo tưởng do chính mình tạo ra và phát triển sự tự hào quá đáng về vẻ bề ngoài, tài sản và cả những thành tích của chúng ta. Điều ấy giống như là mang một chiếc mặt nạ và tự hào nghĩ rằng mặt nạ đó chính là mình. Có một đàn khỉ chừng 500 con và có một con trong số đó nghĩ mình rất thông minh.

Một đêm con khỉ đó nhìn thấy bóng trăng trong hồ. Nó tự hào thông báo cho cả đàn: “Nếu chúng ta đi tới hồ và nhặt trăng thì chúng ta sẽ trở thành những người anh hùng đã cứu được mặt trăng”. Lúc đầu những con khỉ khác không tin nó. Nhưng khi chúng tận mắt nhìn thấy mặt trăng đã bị rơi vào trong hồ, chúng quyết định sẽ cố cứu mặt trăng. Chúng trèo lên một cái cây và con nọ nắm đuôi của con kia sao cho chúng có thể tiến gần tới chỗ mặt trăng lung linh.

Ngay khi con khỉ cuối cùng sắp nắm được mặt trăng, cành cây bị gãy và tất cả chúng đều bị rơi xuống hồ. Chúng không biết bơi và tất cả đều vẫy vùng dưới nước trong khi hình ảnh của ánh trăng tung tóe trong những con sóng.

Bị thúc đẩy bởi sự khát khao danh vọng và sự độc đáo, chúng ta cũng giống như những chú khỉ kia, nghĩ rằng chúng ta thành thạo trong việc khám phá ra các sự vật và thuyết phục các đồng bạn thấy những gì chúng ta thấy, nghĩ những gì chúng ta nghĩ, và bị thúc đẩy bởi tham vọng làm vị cứu tinh, người thành thạo, người trông thấy mọi sự, vị thần cứu tinh, người thông minh hơn, người tạo ra tương lai của.

Chúng ta có tất cả đủ loại tham vọng nho nhỏ, như là tạo ấn tượng với một cô gái hay những tham vọng lớn như đổ bộ vào Sao Hỏa. Và dần dà chúng ta kết thúc trong nước mà chẳng nắm víu được vào đâu và thậm chí còn chẳng biết cách nào để bơi. Khi đã hiểu được tính Không, Ngài Tất Đạt Đa không hề có sự chọn lựa nên nằm trên đám cỏ kusha dưới cội bồ đề hay nên nằm trên gối nệm lụa là trong cung điện.

Những giá trị cao hơn đặt vào những chiếc gối được khâu bằng những sợi chỉ vàng được tạo ra bởi mong ước và tham vọng của con người. Thực ra, một vị ẩn tu trong núi có thể nhận thấy đám cỏ kusha thì mềm, sạch và tốt nhất, nếu nó có bị hư nát thì chẳng có gì phải lo lắng cả. Bạn không phun thuốc vào nó để ngăn chặn bọn mèo của bạn cào nó. Cuộc sống nơi cung điện đầy rẫy những thứ “quý giá” cần phải gìn giữ.

Nhưng nếu buộc phải lựa chọn, Ngài Tất Đạt Đa sẽ chọn những tấm đệm cỏ để Ngài không phải cất công giữ gìn. Con người chúng ta coi có tâm trí khoáng đạt là một đức tính cao quý. Để mở rộng tâm trí của mình, điều quan trọng là chúng ta không chỉ bó hẹp mình trong những gì thuận lợi và quen thuộc với mình. Điều đó có ích cho chúng ta nếu chúng ta có can đảm vượt ra khỏi những chuẩn mực và không mắc kẹt trong những giới hạn thông thường của luận lý.

Nếu có thể đi xa hơn những giới hạn, chúng ta sẽ sớm nhận ra tính Không đơn giản đến buồn cười. Sự kiện ngài Milarepa có thể trú ẩn trong chiếc sừng bò sẽ chẳng đáng ngạc nhiên hơn ai đó xở tay vào một đôi găng tay. Thách thức nằm trong sự bám chấp của chúng ta trong việc sử dụng luận lý, ngữ pháp, bảng chữ cái và những phương trình số học cũ kỹ. Nếu chúng ta có thể nhớ tới bản chất hữu vi được cấu thành của những thói quen đó, chúng ta có thể đi tắt qua chúng.

Chúng không thể bị phá bỏ (những thói quen này không thể bị phá bỏ ngay được, ta phải đi vào đó thôi, nhưng chúng ta sẽ cố đi tắt, sẽ không phải ở lâu với chúng). Tất cả những gì cần là Có được một vị thế khi những điều kiện đúng một cách chính xác và một mẩu thông tin kịp thời; sau đó bạn sẽ đột nhiên nhận ra tất cả những dụng cụ mà bạn tin cậy là không vững chắc – chúng mềm dẻo và có thể uốn cong được. Quan điểm của bạn sẽ thay đổi.

Nếu có ai đó mà bạn tin cậy nói với bạn rằng người vợ mà bấy lâu bạn tức giận thực ra là một nữ thần thịnh vượng giả dạng, thì sau đó cách nhìn nhận của bạn về cô ấy hoàn toàn thay đổi. Tương tự như thế, nếu bạn đang thưởng thức món bít tết ngon lành với đủ loại nước sốt trong một nhà hàng sang trọng, trong khi thưởng thức từng miếng thì ông chủ nhà hàng nói với bạn rằng đó thực ra là thịt người, thì ngay lập tức kinh nghiệm đó sẽ thay đổi 180 độ.

Khái niệm về sự ngon miệng lập tức biến thành khái niệm của sự phẫn uất. Nếu bạn thức dậy sau một giấc mơ về 500 con voi, bạn chẳng hề bối rối chút nào về cách làm sao chừng ấy con voi lại chiếm vừa căn phòng của bạn bởi vì chúng không hiện hữu trước, trong và sau giấc mơ. Một ngày kia chúng ta sẽ nhận ra, không phải bằng trí óc, rằng chẳng có thứ gì là “lớn”, “nhỏ” hay “được”, “mất”, rằng mọi sự vật đều là tương đối.

Sau đó chúng ta sẽ có thể hiểu cách nào mà Milarepa có thể chui vào trong sừng bò và tại sao một tên bạo chúa như A Dục lại có thể cúi đầu và tuân phục sự thật này.

Niết Bàn Vượt Ngoài Các Khái Niệm

Theo các Phật tử, trước đời sống mà Ngài đạt giác ngộ, Tất Đạt Đa đã trải qua vô số đời sống làm chim, khỉ, voi, vua, hoàng hậu và nhiều đời làm Bồ tát – một chúng sinh có mục đích duy nhất là thắng vượt vô minh để tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nhưng chính trong đời sống làm Thái tử Tất Đạt Đa của Ấn Độ, rốt cuộc Ngài đã chiến thắng Ác ma dưới cội bồ đề và cuối cùng đạt tới bờ bên kia, phía bên kia của luân hồi sinh tử. Trạng thái này được nhằm chỉ cho Niết bàn.

Khi đã đạt Niết bàn, Ngài giảng bài pháp đầu tiên tại Sarnath, gần Varanasi, và tiếp tục giảng dạy khắp phía Bắc Ấn Độ trong suốt phần còn lại của cuộc đời Ngài. Đồ đệ của Ngài là chư tăng, ni, vua chúa, tướng lĩnh, kỹ nữ, thương gia. Nhiều thành viên trong gia đình Ngài trở thành người xuất gia, gồm cả vợ Ngài, Da Du Đà La (Yashodhara), và con trai Ngài, La Hầu La (Rahula). Ngài được nhiều người ở khắp trong và ngoài Ấn Độ tôn xưng là bậc tối thượng.

Nhưng Ngài không trở thành bất tử. Sau một đời dài giảng dạy, Ngài viên tịch ở một nơi gọi là Câu Thi Na (Kushinagar). Bấy giờ Ngài còn vượt cả Niết bàn để đến một trạng thái được gọi là Viên mãn Niết bàn (Parinirvana). Thiên giới: sự an nghỉ rốt ráo? Niết bàn, chứng ngộ, giải thoát, tự tại, thiên giới – đây là các từ mà nhiều người thích nêu ra nhưng ít ai có thì giờ thẩm sát. Đạt được tới một trong những trạng thái này thì sẽ ra sao?

Dù cho chúng ta có thể nghĩ rằng Niết bàn khác xa thiên giới, những diễn dịch của chúng ta về thiên giới và Niết bàn cũng hầu như có cùng những đặc tính như nhau. Thiên giới hay Niết bàn là nơi chúng ta đến khi chúng ta chết đi sau bao nhiêu năm đền đáp bổn phận, tu tập và là những công dân tốt. Chúng ta sẽ gặp nhiều bằng hữu cũ vì đó là nơi mà tất cả những người “tốt” đã chết tụ họp lại, trong khi tất cả những người đã chết mà không tốt bằng phải chịu khổ ở cõi dưới.

Cuối cùng chúng ta có được cơ may giải quyết những bí ẩn của cuộc đời, hoàn tất các công việc dang dở, thực hiện các bù đắp và có lẽ thấy nốt các đời quá khứ của mình. Những hài đồng bé nhỏ không giới tính bay quanh ủi thẳng quần áo cho chúng ta. Nhà ở của chúng ta đáp ứng mọi nhu cầu, mong muốn của chúng ta và được tọa lạc trong một cộng đồng của những cư dân Niết bàn khác là những người tuân thủ các luật lệ.

Không bao giờ chúng ta phải khóa cửa sổ và cửa lớn, và có lẽ không cần có cảnh sát. Nếu có các nhà chính trị thì họ đều đáng tin cậy và chân thực. Mọi sự đều thực sự làm chúng ta hài lòng; giống như một ngôi nhà an dưỡng rất thỏa ý.

Hoặc có lẽ vài người trong chúng ta tưởng tượng thứ ánh sáng tinh khiết nhất của ánh sáng tinh bạch, sự quảng khoát, các cầu vồng và mây, trên đó chúng ta nghỉ ngơi trong một trạng thái hạnh phúc rồi thực hiện các năng lực sáng suốt và thông tuệ của chúng ta. Không có sự chết để lo sợ vì bạn đã chết rồi và không có gì để mất. Mối quan tâm duy nhất mà chúng ta có thể có là lo lắng về một vài người bạn thân và các thành viên trong gia đình mà chúng ta đã rời bỏ.

Thái Tử Tất Đạt Đa cho rằng các diễn dịch như thế về đời sau là ảo tưởng. Bằng sự xem xét kỹ lưỡng, ta thấy sự toàn hảo đặc trưng của thiên giới không phải là điều hấp dẫn như vậy, cũng không phải là sự giác ngộ. Sự nghỉ ngơi, trăng mật, các cuộc dã ngoại… là thú vị; nhưng sẽ không thú vị nếu những thứ ấy là bất tận. Nếu kỳ nghỉ tuyệt vời của chúng ta kéo dài quá lâu, chúng ta sẽ nhớ nhà.

Nếu chính cuộc sống không bao gồm cái biết về khổ đau hay nguy cơ mất mát thì nó sẽ gây chán chường. Ngay khi bạn nhận thức rằng những thứ này hiện hữu, bạn có một lựa chọn: đoái hoài hay đồng cảm với những người khác đang khổ đau. Đấy không thuộc về thiên giới. Ở đây, trong cõi đời thường, chúng ta có thể xem phim hình sự, ly kỳ, gợi dục.

Ở thiên giới, bạn không thể thưởng thức thứ ngôn ngữ gợi tình hay y phục khêu gợi vì nếu bạn có thông tuệ, bạn sẽ biết hết những gì đằng sau nó. Chúng ta có thể mừng ngày thứ Sáu sau một tuần vất vả vì công việc. Chúng ta có thể thưởng thức sự thay đổi của các mùa và thiết lập phần mềm mới nhất trên máy vi tính của mình.

Chúng ta có thể mở tờ báo buổi sáng ra, đọc những sự việc rủi ro xảy ra trên thế giới và tưởng tượng chúng ta sẽ làm gì nếu chúng ta đổi vị trí với các nhà lãnh đạo thế giới. Tất cả là vậy, chẳng cần được che đậy, cho dù hầu hết những “thú vui đơn giản” của chúng ta đều thật sự là vấn đề.

Nếu bạn thích xem bóng bầu dục với một vại bia trong tay, rồi bạn bị cuốn vào môn chơi này trong suốt hai tiếng đồng hồ và không rỗi rảnh để làm các việc khác, bạn có thể bị phân tán, bạn phải trả tiền thuê bao truyền hình cáp và cho các cửa hàng tạp hóa, cholesterol của bạn có thể tăng cao và bạn có nguy cơ bị trụy tim nếu như đội kia ghi điểm. Trái lại, sự giác ngộ mà chúng ta tưởng tượng là một vùng bất biến, tự tại với mọi vấn đề.

Có thể nào chúng ta xử lý một trạng huống trong đó không có trở ngại nào? Chúng ta hẳn phải thực hiện mà không có bao nhiêu những rung động, thành tựu, giải trí mà chúng ta tin rằng chúng sẽ tạo nên hạnh phúc của chúng ta. Chắc chắn những người ái mộ Eminem sẽ chán ngấy âm nhạc của đàn hạc ở thiên giới – hẳn là họ muốn nghe tập album mới nhất của anh ta với tất cả ngôn ngữ chát chúa của nó.

Nếu chúng ta chấp nhận giác ngộ như chúng ta đã tưởng tượng thì chúng ta sẽ không thể thưởng thức những bộ phim hồi hộp; năng lực trí tuệ của chúng ta sẽ phá hư phần kết cuộc bất ngờ. Sẽ không còn có sự kích động ở trường đua ngựa vì chúng ta đã biết con ngựa nào thắng cuộc. Sự bất tử là một thuộc tính khác thường được gán cho giác ngộ hay thiên giới.

Một khi đến ngôi nhà mới của chúng ta ở trong mây, chúng ta sẽ không bao giờ chết nữa; do đó, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải sống trên đó mãi mãi. Chúng ta bị mắc kẹt. Không có sự thoát ra. Chúng ta có mọi sự hằng mơ ước ngoại trừ lối thoát ra, ngoại trừ những bất ngờ, thách thức, thỏa mãn và ý chí tự do vì chúng ta không còn cần đến nữa.

Lấy tất cả điều này mà suy xét từ quan điểm giờ đây của chúng ta thì sự giác ngộ rốt lại chỉ là trạng thái của sự buồn chán! Nhưng phần đông chúng ta không chịu phán xét kỹ sự diễn dịch về đời sau của chúng ta; chúng ta cứ thích để cho nó mơ hồ, với một ý nghĩ chung chung rằng đấy là một chỗ an nghỉ tối hậu tốt đẹp. Sự giác ngộ mà chúng ta mong ước là vĩnh viễn, là một loại trú xứ trường tồn.

Hoặc một số người có thể nghĩ rằng họ có thể quay trở lại (thế gian) để viếng thăm như một loại thiên nhân hay một chúng sinh thuộc cõi trên vốn có những năng lực đặc biệt mà con người bình thường chúng ta không có. Họ có tính đặc miễn của thiên thần, giống như một chính khách đi lại bằng một hộ chiếu đặc biệt. Và do sự đặc miễn và địa vị cao cấp, họ nghĩ rằng họ có thể sắp xếp các giấy thị thực và dẫn dắt những người thân yêu của họ về với họ.

Thế rồi câu hỏi khởi lên là, nếu một số trong những cư dân mới này có sẵn cách suy nghĩ của riêng họ Niết bàn có thể họ thích mang bít tất sặc sỡ gây xao lãng cho các chúng sinh cõi trời – thì thiên giới há không có vấn đề sao? Và nếu tất cả những “thiện nhân” đều được chấp nhận là thành viên của thiên giới (hay Niết bàn) thì sự diễn dịch về hạnh phúc ở thiên giới hay ở trần gian chiếm ưu thế hơn?

Dù chúng ta có định nghĩa thế nào đi nữa, mục đích tối hậu của mỗi chúng sinh vẫn là hạnh phúc. Chẳng có gì lạ khi bảo rằng hạnh phúc là một phần thiết yếu của định nghĩa về thiên giới hay giác ngộ. Đời sau phải đạt được những gì chúng ta luôn luôn nỗ lực đạt tới. Nói chung, trong sự diễn dịch cá nhân của chúng ta về thiên giới, chúng ta sống trong một hệ thống tương tự như hệ thống hiện nay của chúng ta, ngoại trừ việc nó tinh vi hơn và mọi sự vận hành tốt đẹp hơn.

Hạnh phúc không phải là mục đích Phần đông chúng ta tin rằng sự thành tựu tối hậu trên con đường tâm linh chỉ đến sau khi đời sống này chấm dứt. Chúng ta bị mắc kẹt với môi trường và thân xác bất tịnh, do đó chúng ta phải chết đi để thành tựu trọn vẹn. Chỉ sau khi chết, chúng ta mới thể nghiệm được trạng thái thiêng liêng hay giác ngộ.

Cho nên điều tốt mà chúng ta có thể làm trong đời này là chuẩn bị cho trạng thái ấy; những gì chúng ta làm bây giờ sẽ xác định chúng ta lên thiên giới hay xuống địa ngục. Một số người đã mất hy vọng. Họ cảm thấy bẩm sinh họ là tốt hoặc xấu, và không xứng đáng để lên thiên giới – họ sẽ phải xuống cõi thấp kém do tiền định. Tương tự, nhiều Phật tử thông hiểu rằng mọi người đều có cùng một tiềm năng và cùng một bản chất như Đức Phật Cồ Đàm.

Tuy vậy, về mặt cảm xúc, họ cảm thấy rằng họ không có những khả năng và phẩm chất để được quyền vào cổng vàng của giác ngộ. Ít ra cũng không ở trong đời sống này. Đối với Ngài Tất Đạt Đa, nơi an nghỉ tối hậu là thiên giới hay Niết bàn chẳng chút gì là một nơi chốn. Nó là sự thoát khỏi chiếc áo bó chẹt của xí muội. Nếu bạn đòi hỏi một nơi chốn vật lý được định rõ thì nó có thể là nơi mà bạn đang ngồi ngay đây.

Đối với Ngài Tất Đạt Đa, nó ở trên mặt một tảng đá phẳng và một vài cây cỏ kusha dưới cội bồ đề tại bang Bihar của Ấn Độ. Ngay cả ngày nay ai cũng có thể đến thăm địa điểm này. Sự diễn dịch của Ngài Tất Đạt Đa về giải thoát không phải là đặc biệt. Giải thoát có thể đạt được ngay trong đời này, tùy theo sự dũng cảm, trí tuệ và sự cần cù của mỗi người. Không ai không có tiềm năng này, kể cả những chúng sinh bị đọa trong các cảnh giới địa ngục.

Mục đích của Ngài Tất Đạt Đa không phải là hạnh phúc. Con đường của Ngài cuối cùng không đưa đến hạnh phúc. Thực sự nó là con đường trực tiếp đến giải thoát khỏi khổ đau, giải thoát khỏi si muội và mê lầm. Thế thì Niết bàn không phải là hạnh phúc cũng không phải bất hạnh – nó vượt ngoài mọi khái niệm nhị nguyên như thế. Niết bàn là an ổn. Mục đích của Ngài Tất Đạt Đa trong việc giảng pháp là giải thoát trọn vẹn cho những người như anh Jack kia khổ sở vì sợ rắn.

Điều này có nghĩa là anh Jack phải vượt qua sự căng thẳng khi nhận ra rằng anh ta không còn bị nguy hiểm vì một con rắn. Anh ta phải hiểu rằng trước tiên vốn chẳng bao giờ có con rắn nào cả, chỉ là một chiếc cà vạt hiệu Giorgio Armani mà thôi. Nói cách khác, mục đích của Ngài Tất Đạt Đa là làm dịu sự khổ sở của Jack sau đó giúp ông ta hiểu ra rằng khởi đầu không hề có nguyên nhân cố hữu của khổ.

Chúng ta có thể bảo rằng sự hiểu biết chân lý một cách đơn giản đưa đến sự chứng đắc giác ngộ. Ở chừng mực hiểu chân lý, chúng ta có thể tiến bộ quá mức giác ngộ, được gọi là “các tầng bậc Bồ tát” (Bồ tát địa). Nếu một em bé sợ hãi vì một quái vật hung hãn trong rạp hát, nỗi sợ hãi có thể được giảm đi bằng cách giới thiệu em bé với diễn viên khi người này đã thay y phục ở hậu trường.

Tương tự, ở mức độ mà bạn có thể nhìn thấy đằng sau tất cả những hiện tượng và hiểu được sự thật, bạn được giải thoát. Chỉ cần người diễn viên gỡ mặt nạ của anh ta ra, nỗi sợ hãi của em bé sẽ giảm đi. Cũng vậy, nếu một người hiểu phần nào của chân lý thì người ấy có sự giải thoát tương đương. Một nhà điêu khắc có thể tạo ra một phụ nữ đẹp từ đá tảng, nhưng ông ta nên hiểu biết hơn là say mê sự sáng tạo của mình.

Giống như Pygmalion với bức tượng Galatea của ông, chúng ta tạo ra bạn bè và cả kẻ thù nữa, nhưng chúng ta quên là như thế. Do thiếu nhiếp niệm, những sáng tạo của chúng ta bị biến thành cái gì đó rắn chắc và thực tế, và chúng ta trở nên cứ mãi rối rắm. Khi bạn hiểu tường tận, không phải chỉ bằng trí óc, rằng mọi sự vật chỉ là sự sáng tạo của bạn thì bạn sẽ được giải thoát.

Dù cho hạnh phúc được xem như chỉ là một khái niệm suông, kinh điển Phật giáo vẫn thường sử dụng các thuật ngữ như đại an lạc để miêu tả giác ngộ. Thực ra, Niết bàn có thể được hiểu là một trạng thái hỷ lạc, vì rằng không có mê lầm và không có xí muội, không có hạnh phúc và không có bất hạnh, thì an lạc. Nhìn thấy nguồn gốc của mê lầm và xí muội, giả sử như con rắn, chưa từng hiện hữu thì tốt hơn.

Bạn cảm thấy được nhẹ người đi nhiều khi bạn thức giấc khỏi một ác mộng, nhưng an lạc thì vốn từ đầu không phải mộng mị gì. Trong ý nghĩa này, an lạc không phải như hạnh phúc. Ngài Tất Đạt Đa đã lưu ý các đồ đệ của Ngài về sự vô bổ của việc tìm kiếm an ổn và hạnh phúc trong đời này hay trong đời sau nếu như các vị ấy nghiêm túc trong việc giải thoát chính mình khỏi luân hồi.

Cái bẫy của hạnh phúc Đức Phật có một người em họ tên là Nan Đà (Nanda) yêu say đắm một trong những người vợ của mình. Họ ám ảnh nhau, ngày đêm không rời nhau. Đức Phật biết đã đến lúc cho em họ Ngài thức tỉnh khỏi sự đam mê này cho nên Ngài đến lâu đài của Nan Đà để khất thực. Thường thì khách đến thăm đều bị từ chối vì Nạn Đà bận bịu việc hành lạc, nhưng Đức Phật thì lại có ảnh hưởng đặc biệt.

Trong nhiều đời sống, Ngài đã không bao giờ nói dối và do bởi công hạnh này, Ngài đã đạt được năng lực thuyết phục. Khi người bảo vệ đưa tin rằng Đức Phật đang chờ ở cửa, Nan Đà miễn cưỡng đứng lên khỏi tổ ấm tình yêu của ông. Ông cảm thấy ít ra cũng phải đón chào người anh họ của mình. Trước khi ông bước ra, người vợ ông thấm nước bọt vào ngón tay cái của bà và vạch một vòng tròn trên trán Nan Đà, bảo ông phải quay về với bà trước khi trán khô.

Nhưng khi Nan Đà đến dâng thực phẩm, Đức Phật mời ông ấy xem một sự việc thực hiếm có và kỳ lạ. Nan Đà cố tìm cách từ chối cuộc du ngoạn, nhưng Đức Phật vẫn khăng khăng yêu cầu. Hai vị đi đến một ngọn núi có loài khỉ đuôi dài ở, trong đó đặc biệt có một con khỉ cái chột mắt, lông túm từng cụm. Đức Phật hỏi Nan Đà: “Vợ em và con khỉ này ai đẹp hơn?”. Dĩ nhiên, Nan Đà đáp rằng vợ ông ta là người đẹp nhất và ông miêu tả tất cả những niềm vui thích có được ở bà ta.

Việc nói về bà ta khiến ông biết rằng nước bọt trên trán ông đã khô từ lâu và ông muốn trở về nhà. Nhưng thay vào đó, Đức Phật lại kéo ông lên cõi trời Đâu suất, tại đó hàng trăm thiên nữ và núi non đẹp đẽ của sự phong nhiêu ở thiên giới đang phô bày. Đức Phật hỏi: “Vợ em và các thiên nữ này, ai đẹp hơn?” Lần này thì Nan Đà cúi đầu và đáp rằng vợ ông giống như một con khỉ cái khi so sánh với các thiên nữ này.

Thế rồi Đức Phật chỉ cho Nan Đà một cái ngai sang trọng còn trống ở giữa tất cả các báu vật, thiên nữ, và người bảo vệ. Kinh ngạc, Nan Đà hỏi: “Ai ngồi đây?” Đức Phật bảo ông hãy hỏi các thiên nữ. Họ nói: “Ở trần gian, có một người tên là Nan Đà, chẳng bao lâu sẽ trở thành một Tỳ kheo. Do những hạnh nghiệp của ông, ông sẽ tái sinh ở thiên giới và đảm nhận các ngài này để chúng tôi có thể phục vụ ông ấy.” Ngay lúc ấy, Nan Đà xin Đức Phật chấp nhận cho ông vào giáo đoàn.

Đức Phật và Nan Đà trở về thế gian và Nan Đà trở thành một Tỳ kheo. Đức Phật bèn gọi người em họ thứ hai là A Nan (Ananda) đến và dặn dò để chắc chắn rằng tất cả chư tăng đều tránh xa Nan Đà. Chư tăng tránh mặt ông bằng mọi giá. “Chớ hòa lẫn, vì các ông có ý định khác nhau; do đó, kiến giải của các ông khác nhau và hành tác dĩ nhiên sẽ khác nhau.” Đức Phật dạy: “Các ông mong cầu giải thoát, còn ông ta thì mong cầu hạnh phúc.” Chư tăng lánh mặt Nan Đà, ông buồn bã và cô đơn.

Ông nói với Đức Phật về cảm giác bị đẩy ra ngoài. Đức Phật bảo Nan Đà lại đi với Ngài. Lần này hai vị đến cảnh giới địa ngục, ở đó hai vị chứng kiến mọi loại cực hình, chặt đứt tay chân và làm ngạt thở. Chính giữa của tất cả các hoạt động này là một cái vạc to lớn, quanh đó là các sai nha địa ngục đang chuẩn bị rất quy mô. Đức Phật bảo Nan Đà hỏi xem họ đang làm gì. “Ồ, ” họ đáp, “trên trần thế có một người tên là Nan Đà, giờ đây đã là một Tỳ kheo.

Do ông ta sẽ lên thiên giới và ở đó khá lâu, nhưng vì ông ta chưa chặt đứt gốc rễ của luân hồi nên cứ ráo riết theo đuổi các lạc thú của cõi trời và không tạo thêm thiện duyên. Công đức của ông ta sẽ cạn kiệt và ông ta sẽ bị rơi thẳng vào chiếc vạc này cho chúng tôi nấu.” Bây giờ Nan Đà hiểu ra rằng ông ta phải từ bỏ không chỉ sự bất hạnh mà cả đến hạnh phúc nữa. Câu chuyện về Nan Đà minh họa cho việc mọi người chúng ta cứ mải miết theo những bông lùng dục lạc.

Giống như Nan Đà, chúng ta nhanh chóng rời bỏ một hạnh phúc khi thấy có một hạnh phúc khác lớn hơn. Con khỉ chột mắt đã củng cố nhận thức của Nan Đà về vẻ đẹp tuyệt trần của vợ ông; nhưng ông không ngần ngại lìa bỏ bà ta khi nhìn thấy các thiên nữ. Nếu giác ngộ chỉ là hạnh phúc suông mà thôi thì nó cũng bị gạt đi khi có gì đó tốt hơn xuất hiện. Hạnh phúc là một tiền đề mong manh để ta đặt căn bản cho đời ta vào đó.

Nhưng con người chúng ta có xu hướng nghĩ đến các bậc giác ngộ trong bối cảnh riêng của chúng ta. Tưởng tượng ra một vị giác ngộ theo như ý nghĩa giả thuyết ở một nơi xa xôi mông lung thì dễ hơn là tưởng tượng một vị chứng ngộ đang hiện diện, đang sống, đang thở, vì trong trí óc chúng ta, một vị như thế phải kỳ vĩ, có hình sắc và tài năng tối thượng vượt tất cả những đức tính tốt đẹp nhất của con người.

Vài người trong chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta có thể đạt ngộ bằng sự nỗ lực thực sự mạnh mẽ. Nhưng với một hình ảnh cao vời trong tâm trí chúng ta, “nỗ lực mạnh mẽ” có thể có nghĩa là tận tụy và hy sinh mọi thứ mình ưa thích suốt hàng triệu đời sống. Những ý nghĩ này có thể khởi lên khi chúng ta quan tâm suy nghĩ về điều ấy, nhưng thường thì chúng ta không thể được nhắc nhở để quan tâm. Thật quá chán.

Khi chúng ta thấy thật khó mà thoát khỏi những thói quen trần thế thì giác ngộ có vẻ vượt quá tầm tay. Nếu như ngay cả việc ngừng hút thuốc mà tôi cũng không làm được thì làm sao tôi có thể ngưng dứt các thói quen đam mê, giận hờn và phủ nhận? Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta phải có ai đó như một vị cứu tinh hay một đạo sư để làm chỗ nương tựa cho chúng ta vì chúng ta không tự tin để thực hiện điều ấy một mình.

Nhưng tất cả sự bi quan này là không cần thiết nếu chúng ta có thông tin đúng đắn về chân lý duyên khởi và một ít phương pháp để áp dụng nó. Hy vọng và sự thanh tịnh ban sơ Giác ngộ vượt quá nghi ngờ, cũng như kiến thức đạt được bằng kinh nghiệm vượt quá nghi ngờ. Chúng ta phải hiểu cho tường tận rằng những ô nhiễm và mê lầm ngăn cản sự giác ngộ vốn không ở chỗ nào cả.

Cũng kiên cố và có vẻ thường hằng như các trở ngại của chúng ta, những ô nhiễm và mê lầm ấy thực ra là những hiện tượng hữu vi không ổn định nếu chúng ta hiểu biết được cái luận lý rằng các hiện tượng hữu vi là do duyên (do tùy thuộc nhau) và có thể điều khiển được thì sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta thấy được bản chất vô thường của chúng và đạt đến cái kết luận rằng chúng có thể bị gỡ bỏ hoàn toàn.

Bản chất thực sự của chúng ta cũng giống như một ly đựng rượu, và những ô nhiễm, mê muội của chúng ta cũng giống như bụi và dấu tay. Khi ta mua cái ly, nó vốn không có dấu tay ở đó. Khi nó bị vấy bẩn, trí óc thông thường nghĩ rằng cái ly bị dơ bẩn chứ không nghĩ rằng cái ly có bụi bám. Bản chất của nó là không dơ bẩn, nó là một cái ly có một ít bụi và dấu tay trên đó. Những thứ dơ bẩn này có thể bị loại bỏ.

Nếu cái ly là dơ bẩn thì khả năng lựa chọn duy nhất là vứt bỏ nó đi vì bụi bặm và cái ly hợp lại thành một đồ vật. Nhưng trường hợp này lại không phải thế. Bụi bặm, dấu tay và các chất khác xuất hiện trên cái ly do một số hoàn cảnh (nhân duyên). Chúng là tạm thời. Chúng ta có thể sử dụng mọi phương pháp khác nhau để rửa sạch bụi bặm đi. Ta có thể rửa cái ly trong dòng sông hoặc nhúng nó vào trong máy rửa bát; hoặc ta có thể nhờ chị giúp việc làm sạch nó.

Nhưng dù ta dùng phương pháp nào đi nữa thì ý định vẫn là loại bỏ bụi bặm chứ không phải là loại bỏ cái ly. Có một sự phân biệt rất rõ giữa rửa sạch cái ly và rửa sạch bụi. Chúng ta có thể đồng ý rằng đấy chỉ là sự phân biệt về ngữ nghĩa, rằng khi ta bảo ta rửa đĩa thì ta có ý bảo ta rửa sạch những thứ dơ bẩn khỏi mấy cái đĩa, và trong trường hợp đó thì Ngài Tất Đạt Đa sẽ chấp nhận. Nhưng nếu ta nghĩ rằng cái ly có gì đó khác với nó trước kia thì có sự nhầm lẫn.

Vì cái ly vốn không có sẵn dấu tay, khi bạn tẩy bỏ bụi bặm, cái ly vẫn không thay đổi. Đấy chính là cái ly bạn đã mua ở cửa hàng. Khi ta nghĩ rằng chính mình vốn sân hận, xí muội từ bẩm sinh và nghi ngờ khả năng chứng đạt giác ngộ của ta thì ta đang nghĩ rằng bản chất thực sự của ta là bất tịnh và ô nhiễm vĩnh viễn.

Nhưng cũng giống như các dấu tay trên ly rượu, những tình thức này không thuộc bản chất thực sự của ta; chỉ là ta đã thụ tập các ô nhiễm từ nhiều thứ hoàn cảnh không tốt như hợp tác với những kẻ bất thiện hoặc không hiểu những hậu quả của những hành động của ta. Sự vắng mặt ban sơ của các ô nhiễm (lậu hoặc), bản chất tinh ròng của cái ngã, thường được gọi là “Phật tính”.

Nhưng những ô nhiễm và những xúc cảm do chúng sinh ra đã ở đấy từ rất lâu và đã trở nên mạnh mẽ đến nỗi chúng là bản chất thứ hai của ta, luôn luôn che mờ ta. Cũng không lạ khi ta nghĩ rằng chẳng có hy vọng gì. Để có lại hy vọng, những ai theo con đường của Phật giáo có thể phát khởi suy nghĩ: Ly rượu của tôi có thể được tẩy sạch, hoặc, con người tôi có thể được tẩy tịnh khỏi tính tiêu cực.

Đây cũng là cách nhìn khá chân chất vào hoàn cảnh như anh Jack nghĩ rằng con rắn phải được loại bỏ. Tuy vậy, đôi khi đấy là một bước chuẩn bị cần thiết trước khi chúng ta có thể nhìn thấy bản chất ban sơ thực sự của các sự vật. Nếu không thể nhận thức được sự thanh tịnh nguyên sơ của tất cả các hiện tượng thì ít ra sự tin rằng một trạng thái thanh tịnh có thể đạt được sẽ giúp đưa chúng ta tiến tới.

Giống như Jack muốn thoát khỏi con rắn, chúng ta muốn thoát khỏi những mê tối và chúng ta có can đảm để tiến hành vì chúng ta biết rằng có thể tiến hành được. Chúng ta phải áp dụng một cách đơn giản các phương cách để làm yếu đi những nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên) của các ô nhiễm hoặc làm mạnh các yếu tố nghịch với chúng – ví dụ, khởi sinh tình thương và lòng từ để chế ngự sân hận.

Cũng như nhiệt tâm của ta khi rửa ly xuất phát từ niềm tin rằng chúng ta có thể có một cái ly sạch, nhiệt tâm của ta nhằm loại trừ những mê tối xuất phát từ niềm tin rằng ta có Phật tính. Chúng ta có sự tin chắc khi bỏ bát đĩa dơ vào máy rửa bát đĩa vì chúng ta biết rằng đồ ăn sẽ bị loại ra. Nếu chúng ta đòi rửa than cho trắng thì chúng ta sẽ không có nhiệt tâm và sự tin tưởng như thế.

Ánh chớp xuyên qua màn đêm giông tố Nhưng làm sao để khám phá Phật tính giữa quá nhiều xí muội, tối tăm, mê lầm? Dấu hiệu đầu tiên của hy vọng đối với các thủy thủ bị lạc trên biển cả là thấy được một vệt sáng lóe lên xuyên qua màn đêm giông tố. Lái tàu đến đó, họ sẽ được nguồn gốc của ánh sáng, thấy hải đăng. Tình thương và lòng từ giống như ánh sáng phát ra từ Phật tính.

Mới đầu, Phật tính chỉ là một khái niệm suông vượt ngoài kiến giải của chúng ta, nhưng chúng ta phát khởi tình thương và lòng từ thì cuối cùng chúng ta có thể tiến đến Phật tính. Có thể khó nhìn thấy Phật tính nơi những người đã bị lạc trong đêm tối của tham ái, sân hận và si muội. Phật tính của họ mờ nhạt quá, chúng ta có thể nghĩ rằng nó không hiện hữu.

Nhưng ngay cả ở trong những người tăm tối và bạo hành nhất cũng có những chớp sáng của tình thương và lòng từ, tuy ngắn ngủi và nhợt nhạt. Nếu những thấp thoáng hiếm hoi này được lưu tâm tới, và nếu năng lực được đầu tư để đi theo hướng của ánh sáng, thì Phật tính của họ có thể không bị che phủ. Vì lý do ấy, tình thương và lòng từ được ca ngợi như là con đường an toàn nhất đưa đến sự vắng mặt hoàn toàn của xí muội (vô minh).

Hành động đầu tiên về lòng từ của Ngài Tất Đạt Đa xảy ra trong một lần tái sinh xưa kia tại một nơi khổ ải – không phải là một Bồ tát mà là một cư dân của địa ngục, tại đó Ngài nhận thấy Ngài là kết quả của ác nghiệp do chính Ngài đã tạo. Ngài và một chúng sinh địa ngục bạn Ngài bị buộc phải kéo một chiếc xe qua những đám lửa địa ngục trong khi một chúa quỷ ngồi sau quất roi vào họ rất tàn nhẫn.

Ngài Tất Đạt Đa vẫn còn rất khỏe mạnh, nhưng người bạn của Ngài thì rất yếu lại bị nhằm quất còn dữ dội hơn nữa do yếu đuối. Việc thấy người bạn bị roi quất đã kích động lòng từ trong Ngài Tất Đạt Đa. Ngài xin với chúa quỷ: “Xin hãy để cho anh ta đi, hãy để tôi gánh chịu phần của cả hai chúng tôi.” Điên tiết, tên quỷ đập vào đầu của Tất Đạt Đa và Tất Đạt Đa chết đi, được tái sinh trong cảnh giới cao hơn.

Tia lửa từ bi vào lúc chết tiếp tục lớn lên và trở nên sáng hơn trong những lần tái sinh về sau của Ngài. Cùng với tình thương và lòng từ, còn sẵn vô số con đường đưa chúng ta đến gần hơn để thể nghiệm Phật tính. Dù cho ta chỉ thông hiểu sự thiện lành cơ bản của ta và tất cả chúng sinh, sự thông hiểu này đưa chúng ta đến gần sự thành tựu hơn.

Điều ấy cũng giống như ta để quên một chuỗi kim cương ở đâu đó, nhưng ít nhất ta cũng biết nó ở trong hòm chứa báu vật chứ không bị mất ở một vùng núi rộng lớn nào đó. Dù cho chúng ta có dùng các từ như thành tựu, mong ước, cầu xin chứng ngộ, rốt lại chúng ta cũng không đạt giác ngộ từ nguồn gốc bên ngoài. Giác ngộ là thành phần của bản chất thực sự của chúng ta.

Bản chất thực sự của chúng ta giống như một pho tượng bằng vàng; tuy nhiên, nó vẫn còn nằm yên trong khuôn đúc, giống như các ô nhiễm và xí muội của chúng ta. Vì si muội và cảm thọ không phải là thành phần của bản chất của chúng ta, cũng như khuôn đúc không phải là thành phần của pho tượng, có một thứ như thế là thanh tịnh ban sơ. Khi khuôn đúc bị phá vỡ thì pho tượng bày ra. Khi các ô nhiễm của ta bị gỡ đi thì Phật tính thực sự của ta được phát lộ.

Nhưng điều quan trọng là phải hiểu rằng Phật tính không phải là một linh hồn hay một tinh thể hiện hữu thực sự, thiêng liêng. Cảm thấy như thế nào? Có thể chúng ta còn phải tự hỏi: Giác ngộ là gì nếu không phải là hạnh phúc hay bất hạnh? Một vị giác ngộ xuất hiện và hành xử như thế nào? Chúng ta cảm thấy thế nào khi tìm thấy Phật tính?

Trong các kinh điển Phật giáo, khi các câu hỏi này được đặt ra thì câu trả lời thường là vấn đề vượt ngoài khái niệm của chúng ta, không diễn tả được. Có thể nhiều người hiểu lầm đấy là một cách khéo léo để tránh câu trả lời. Nhưng quả thực, đấy là câu trả lời.

Luận lý, ngôn ngữ và các biểu tượng của chúng ta quá bị giới hạn, thậm chí chúng ta không thể diễn tả đầy đủ một điều gì đó rất thế tục như ý nghĩa của khuây khỏa; các từ ngữ không tương đương để truyền đạt cho người khác toàn bộ kinh nghiệm về khuây khỏa. Ngay cả những nhà vật lý lượng tử cũng nhận thấy khó tìm từ ngữ để diễn tả lý thuyết của họ, thế thì làm sao ta có thể tìm ra một ngữ vựng cho giác ngộ được?

Trong khi ta bị mắc kẹt trong trạng thái hiện tại mà chỉ có một số hạn chế về luận lý, ngôn ngữ được sử dụng và các cảm thọ vẫn bám chặt ta, ta chỉ có thể tưởng tượng những gì giống như đạt giác ngộ. Nhưng đôi khi, bằng sự cần cù và sự suy luận, ta có thể có được một sự gần đúng khá tốt, giống như bạn thấy khói bốc lên từ đỉnh núi, bạn có thể dự đoán rằng ở đấy có lửa.

Sử dụng những gì ta có, ta có thể khởi sự nhìn thấy và chấp nhận rằng những u tối là do các nhân duyên mà ta có thể xử lý và cuối cùng có thể tẩy sạch chúng. Tưởng tượng ra sự vắng mặt của những cảm thọ ô nhiễm và sự chối bỏ là bước đầu tiên để hiểu bản chất của giác ngộ. Giả như bạn đang khổ sở vì một cơn đau đầu. Mong ước tức thời của bạn là được giảm đau, điều này là khả dĩ vì bạn biết rằng cơn đau đầu không thuộc cái nhân thể bẩm sinh của bạn.

Kế đến, bạn có nhận ra những gì gây nên cơn đau đầu, thiếu ngủ chẳng hạn. Thế rồi bạn áp dụng các phương cách để cắt cơn đau đầu như uống aspirin hoặc nằm chợp mắt một lát. Trong lần thuyết pháp đầu tiên ở Varanasi, Ngài Tất Đạt Đa đã giảng bốn bước sau đây, thường được biết như là bốn chân lý cao thượng (Tứ diệu đế): Nhận biết khổ; loại bỏ các nguyên nhân gây khổ; theo con đường đưa đến sự diệt khổ; nhận biết rằng khổ có thể chấm dứt.

Nhiều người có thể ngạc nhiên tại sao Ngài Tất Đạt Đa cần vạch rõ: “nhận biết khổ”. Há chúng ta không đủ thông minh để biết rằng chúng ta đang đau khổ? Rủi thay, chỉ khi nào nỗi đau ở trạng thái bùng lên trọn vẹn, ta mới nhận ra nó là đau và khổ. Thật khó thuyết phục ai đó đang thích thú thưởng thức một cây kem rằng anh ta đang khổ. Nhưng rồi anh ta nhớ đến lời cảnh báo của bác sĩ bảo phải hạ cholesterol và phải giảm cân.

Và nếu bạn khám kỹ hơn về việc có vẻ như thú vị này, toàn bộ quá trình từ khi anh ta bắt đầu thèm ăn kem đến nỗi lo bị mập và thừa cholesterol, bạn sẽ thấy đó đã là một thời gian. Thật dễ để chấp nhận rằng các cảm xúc như hờn giận có thể kiểm soát được bằng phương cách thích hợp, nhưng quả là một thách thức khi phải chấp nhận rằng một cảm xúc có thể biến mất mãi mãi.

Nếu ta tưởng tượng ai đó đã gỡ bỏ phần nào sự giận hờn và thường tỏ vẻ an bình, tĩnh lặng, ta có thể lấy đó mà tiến một bước xa hơn và tưởng tượng ra một người đã gỡ bỏ vĩnh viễn sự giận hờn. Nhưng người đã vượt qua mọi xúc cảm xử sự như thế nào? Người tín đồ mù quáng có thể hình dung một vị hiền hòa, có lẽ đang ngồi kiết già trên một đám mây.

Tuy vậy, những người đa nghi có thể nghĩ rằng nếu quả có một người như thế thì người này phải xử sự như cây cỏ, dửng dưng và buồn chán… Dù cho trạng thái giác ngộ không miêu tả được và trí óc người thường không thể định nghĩa rõ các vị giác ngộ, chúng ta vẫn có thể hỏi” “Tất Đạt Đa là ai? Ngài có làm những gì kỳ diệu và quyền năng cao vời? Ngài đã thực hiện những kỳ công thượng đẳng nào?

Trong Phật giáo, người ta không xét đoán một bậc giác ngộ theo những hành động siêu phàm như bay, hay theo theo những thuộc tính vật lý như con mắt thứ ba. Mặc dù Đức Phật thường được miêu tả là có dáng vẻ thanh thản, có màu sắc vàng ròng, có cung cách vương giả, những miêu tả này chủ yếu hấp dẫn đối với những nông dân chất phác và những người bình dân.

Các kinh điển nghiêm túc của Phật giáo không phô trương những khả năng (thần thông) hay việc thực hiện những điều kỳ diệu của Đức Phật. Thật vậy, rất nhiều lần trong những lời giáo huấn cốt lõi, các tín đồ của Đức Phật được cảnh báo chớ bị ám ảnh vì những gì không hợp lý. Dù Đức Phật có thể đã có những tài năng như thế, những tài năng này cũng không bao giờ được xem là những thành tựu lớn nhất của Ngài.

Sự thành tựu lớn nhất của Ngài là hiểu được chân lý, vì chính hiểu biết chân lý sẽ giải thoát chúng ta khỏi khổ đau, một lần và mãi mãi. Đức Phật cũng nhìn thấy già, bệnh, chết mà chúng ta thấy, nhưng Ngài lại dấn thân tìm những nguyên nhân của chúng; và điều ấy là điều kỳ diệu. Ngài thể nghiệm rằng tất cả mọi sự vật hữu vi là vô thường, đấy chính là sự chiến thắng tối hậu của Ngài.

Thay vì phô trương vinh quang trước một số kẻ thù đang có mặt bên ngoài, Ngài nhận thấy rằng kẻ thù thực sự chính là sự chấp chặt cái tự ngã của chúng ta, và đánh bại sự ngã chấp ấy là một sự kỳ diệu lớn lao hơn nhiều so với mọi pháp thần thông, dù thật hay tưởng tượng.

Dù những nhà khoa học hiện đại được ca ngợi vì đã phát hiện thời gian và không gian là tương đối, Ngài Tất Đạt Đa cũng đã kết luận như thế từ 2.500 năm trước mà chẳng cần có sự tài trợ nghiên cứu hay các phòng thí nghiệm khoa học – và điều ấy lại cũng là một sự kỳ diệu.

Không như nhiều người đương thời (và không như chúng ta ngày nay) vẫn kẹt cứng với ý niệm rằng tự do của chúng ta tùy thuộc vào ân huệ của những người khác, Ngài phát hiện rằng mọi người vốn có bản chất thanh tịnh. Có được tri thức, mọi chúng sinh đều có năng lực giải thoát chính mình.

Thay vì lui về an nghỉ trong cuộc sống thiền định, Đức Phật với lòng từ cực kỳ lớn lao muốn chia sẻ những khám phá trác tuyệt của Ngài với mọi chúng sinh, bất kể mọi khó khăn trong việc giảng dạy và lĩnh hội. Ngài vạch ra một con đường với hàng chục ngàn phương pháp, từ đơn giản như dâng hương, ngồi thẳng và theo dõi hơi thở đến những tưởng niệm hay thiền định phức tạp. Đấy là thần thông của Ngài vậy.

Những thuận lợi của sự vượt khỏi thời gian và không gian Khi Ngài Tất Đạt Đa đạt giác ngộ, Ngài được gọi là Phật. Phật không phải là tên một người, đó là một biểu hiệu cho một trạng thái của tâm. Từ Phật được định nghĩa là một tính chất gồm hai khía cạnh: “vị đã hoàn thành” và “vị đã thức tỉnh”. Nói cách khác, đấy là vị đã tẩy sạch các ô nhiễm và là vị đã đạt trí tuệ.

Do sự thể nghiệm của Ngài dưới cội bồ đề, Đức Phật đã thức tỉnh khỏi trạng thái nhị nguyên vốn bị kẹt cứng trong những khái niệm như chủ thể và đối tượng. Ngài thể nghiệm rằng không có gì được cấu thành hữu vi lại có thể hiện hữu thường hằng được. Ngài thể nghiệm rằng không có cảm thọ nào đưa người ta đến an lạc nếu như nó khởi sinh từ sự chấp ngã. Ngài thể nghiệm rằng không có cái ngã nào thực sự hiện hữu và không có hiện tượng nào thực sự hiện hữu để được cảm nhận.

Ngài thể nghiệm rằng giác ngộ vượt ngoài các khái niệm. Những thể nghiệm này là điều mà chúng ta gọi là “trí tuệ của Đức Phật”, một sự “hiểu biết về toàn bộ chân lý”. Đức Phật được nói đến như là “bậc toàn trí”. Điều ấy không có nghĩa là Đức Phật học ở mọi trường đại học trên thế giới, nhớ mọi sách vở.

Cái học như thế không tương đương với giác tri vì nó là một kiến thức nhị nguyên vốn có căn bản là đối tượng và chủ thể, và bị ràng buộc bởi những giới hạn, luật tắc và mục đích của chính nó. Như ta đã có thể thấy rõ, với mọi kiến thức khoa học ngày nay, thế giới chẳng cải thiện được gì; thực ra, còn tệ hơn nữa. Có giác tri không có nghĩa là có kiến thức rộng. Do đó, nói đến một ai đó biết mọi sự có nghĩa là người đó không có sự “không biết” và không có sự dốt nát.

Đức Phật đã đi một bước xa hơn và vạch ra sự thật của một cái tâm thức tỉnh cho những người khác biết để họ cũng thế, cũng có thể phá vòng khổ đau, và bởi lòng từ này, Ngài được tôn kính nhất. Nếu có người vô tình sắp bước qua một bãi mìn, ta có thể vội gỡ mìn mà không để cho người ấy biết. Nhưng như thế thì chỉ nhất thời bảo vệ người ấy và không cung cấp toàn bộ sự thật.

Giải thích cho anh ta rằng có mìn suốt nhiều dặm theo hướng đó sẽ cứu anh ta khỏi sự khổ đau tức thời và cả về sau nữa. Sự giải thích ấy giúp anh ta tiến bước và cả chia sẻ hiểu biết cho những người khác. Cũng vậy, Đức Phật dạy người ta trở nên quảng đại nếu người ta mong cầu giàu có và từ bi; nhưng Ngài cũng khuyên rằng nếu muốn giàu có thì trước tiên phải bằng lòng với những gì mình có; và nếu muốn chiến thắng kẻ thù thì trước tiên phải chiến thắng hận thù của chính mình.

Rốt lại, Ngài dạy rằng khổ đau có thể được đoạn trừ tận gốc bằng cách gỡ bỏ cái ngã, vì nếu không có ngã thì không khổ. Cảm kích về giáo lý của Ngài, các tín đồ của Tất Đạt Đa tôn kính Ngài bằng những bài ca và những lời cầu nguyện trong đó Ngài được ca ngợi vì năng lực cao vời đến nỗi có thể đặt toàn thể vũ trụ lên đầu một nguyên tử. Với sự tôn kính tương tự, một số tín đồ mong ước được tái sinh trong cảnh giới được gọi là “Phật độ” .

Phật độ được miêu tả là một vùng đất thanh tịnh kích cỡ của một phân tử vô cùng nhỏ, trên đó có số lượng chư Phật bằng với số nguyên tử trong vũ trụ dạy dỗ các môn đệ của chính chư vị. Giống như trường hợp truyện cái sừng bò của Milarepa, một người không phải tín đồ có thể đọc như một truyện thần thoại tôn giáo, trong khi một tín đồ có thể chấp nhận sự miêu tả mà không bàn tán gì, nghĩ rằng” Dĩ nhiên Đức Phật có thể làm như thế - Ngài là đấng toàn năng mà.

Nhưng nếu ta nghĩ đến cái chân lý gọi là không mà hiểu rằng không hề có sự vật nào nhỏ nhất, lớn nhất hay những phân biệt nhị nguyên nào thì rõ ràng rằng Đức Phật đã không cần cơ bắp và sức mạnh cơ bắp để lượm thế giới và đặt nó trên một nguyên tử. Chính sự hiểu rằng không có lớn hay nhỏ là tất cả sức mạnh cần thiết. Có thể gỡ bỏ cái thói quen ngăn ta thấy như thế, nhưng sự luận lý giới hạn của ta lại cản trở.

Chúng ta giống như một người mắc chứng sợ ăn hoặc chứng thèm ăn, mặc dù cô ta có thể đẹp đẽ mỹ miều, chỉ có điều cô ta không thể chấp nhận những gì cô ta nhìn thấy trong gương, ngay cả khi những người khác không thể thấy tại sao cô nghĩ rằng cô mập. Đức Phật đã gỡ bỏ tất cả những rắc rối ấy và thấy rằng mọi thứ – thời gian, không gian, giới tính, giá trị – đều vắng bặt tính nhị nguyên, cho nên vũ trụ có thể được đặt trên chỉ một nguyên tử thôi.

Vì hiểu như thế, các tín đồ thi sĩ của Ngài ca tụng Ngài rằng “vượt khỏi không gian và thời gian”. Ngay cả các đồ đệ thân cận nhất của Ngài Tất Đạt Đa, các vị A la hán, cũng nổi tiếng vì thấy bầu trời và lòng bàn tay đều cùng một kích cỡ, một hạt bụi và một thỏi vàng cũng cùng một giá trị. Khi Ngài Tất Đạt Đa đạt giác ngộ, Ngài không khiến thời gian ngừng lại hay đạt đến sự tận cùng của thời gian. Ngài chỉ đơn giản không còn bị ô nhiễm bởi khái niệm thời gian.

Khi ta bảo rằng Ngài Tất Đạt Đa đã gỡ bỏ mọi mê muội về thời gian và không gian, không phải là Ngài đã phá vỡ bộ máy thời gian hay tháo tung một chiếc la bàn – Ngài đã hoàn toàn vượt khỏi mọi quan niệm về thời gian và không gian.

Dù những kinh nghiệm thực sự về sự vượt ngoài thời gian và không gian là không thể dò biết được đối với chúng ta – những kẻ nô lệ của thời gian, chúng ta cũng có thể có được một ý nghĩa về sự linh động của những quan niệm này trong sự hiện hữu đời thường của chúng ta. Ngay cả một sự mê đắm lãng mạn cũng có thể kéo dài và uốn cong thời gian. Chúng ta gặp một người nào đó, chúng ta mơ tưởng mình sẽ trở thành bạn tâm giao, kết hôn, có con và thậm chí có cháu.

Thế rồi một điều gì đó như một chút nước bọt nhiểu ra khỏi miệng người yêu dấu kia xô bật chúng ta trở về thực tại, và tất cả mọi thế hệ tương lai kia tan biến mất. Vì những thuận lợi của sự vượt khỏi không gian và thời gian là quá khó hiểu, chúng ta không sẵn sàng để hiểu chúng. Chúng ta quá quen thuộc với cái thế giới vốn phụ thuộc vào thời gian và không gian nên không chịu nỗ lực vì những phần thưởng mơ hồ như vậy.

Có thể sẽ dễ dàng hơn khi ta hiểu rõ được khía cạnh của giác ngộ vốn vượt ngoài những phân biệt về tốt và xấu, thích thú và đớn đau, ca tụng và phê bác và những cảm thọ nhị nguyên khác. Sự tin cậy của chúng ta vào không gian và thời gian là có thể hiểu được – rất hữu ích trong hiện tại – nhưng những phân biệt khác nữa thì vô ích đến mức phi lý. Nhị nguyên làm cho ta bị quá vướng mắc đến nỗi phải chi hàng triệu đôla mỗi năm để duy trì dáng vẻ bên ngoài.

Nếu ta lang thang một mình trong sa mạc thì chẳng có gì có vẻ là tuyệt vời, vậy rõ ràng là ta muốn làm cho mình có vẻ tốt đẹp trong quan hệ với những người khác để lôi cuốn họ, được họ chấp nhận. Khi có người nói: “Ồ, cô ta có đôi chân đẹp”, thì ta xúc động và tiếp tục trau chuốt và săn tìm những lời khen ngợi. Những lời khen ngợi này giống như mật ngọt trên dao bén.

Nhiều người trong chúng ta quá mải mê với những khái niệm của mình về sắc đẹp đến nỗi ta không nhận thức rằng sự diễn dịch của chúng ta về những gì hấp dẫn có thể thực sự khiến những người khác khó chịu. Chúng ta trở thành nạn nhân của những khái niệm và của sự phù phiếm của chính mình. Sự phù phiếm này nuôi dưỡng nền công nghiệp toàn cầu vốn là một trong những nguyên nhân và điều kiện thực sự tàn phá môi trường.

Khi ta nhận được khá nhiều lời khen ngợi có thêm một chút gia vị là sự phê phán thì tất cả sự chú ý của ta đều đổ vào sự phê phán. Những lời khen được xem là được tưởng thưởng do sự thèm khát không bao giờ được thỏa mãn về tán thán. Người nào muốn có mãi sự ca ngợi và sự chú ý thì cũng như con bướm cố tìm bờ mé của bầu trời.

Không phân biệt, không khái niệm, không kiềm chế Cùng với những khái niệm quy ước về thời gian và không gian, Đức Phật đã vứt bỏ mọi phân biệt nhị nguyên mang tính cảm thọ tinh tế nhất. Ngài không thích được khen hơn bị chê, thắng hơn bại, hạnh phúc hơn bất hạnh, hữu danh hơn vô danh. Ngài không bị dao động vì lạc quan hay bi quan. Không ai (cái gì) có sự thu hút mạnh mẽ hơn hay đảm bảo một sự đầu tư năng lực hơn người (cái) khác cả.

Hãy tưởng tượng bạn không còn làm con mồi cho những khen chê nho nhỏ, nghe chúng như Đức Phật đã nghe – như là những âm thanh suông, như tiếng vọng mà thôi. Hoặc nghe chúng như khi chúng ta sắp chết trên giường. Chúng ta có thể thích thú khi nghe những người thân yêu khen ngợi rằng chúng ta rất đẹp đẽ và tuyệt vời, nhưng đồng thời chúng ta nên tự gạt bỏ và dửng dưng. Chúng ta nên ngưng dứt sự chấp chặt vào ngôn từ.

Hãy tưởng tượng chúng ta ở bên trên những sự hối lộ và những thuyết phục khác vì mọi quyến rũ của cuộc đời hình như chẳng hay ho gì, giống như xà lách đối với một con hổ. Nếu ta không thể bị sự khen ngợi mua chuộc hoặc bị sự phê phán đánh bại, ta sẽ có sức mạnh lớn lao không tưởng nổi. Chúng ta sẽ rất mực tự do, sẽ không còn có những hy vọng và sợ hãi, mồ hôi và máu (sweat and blood: idiom = to make a great effort). Những phản ứng cảm thọ không cần thiết nữa.

Cuối cùng, chúng ta có thể thực hiện “Tôi mặc kệ nó.” Tự tại trước sự săn đuổi, tránh né sự chấp nhận hay từ chối của những người khác, chúng ta sẽ ghi nhận được những gì chúng ta có trong thời điểm hiện tại. Chúng ta dành phần lớn thời gian để nỗ lực làm cho những điều tốt được kéo dài, hoặc chúng ta nghĩ xem thay thế chúng bằng điều gì đó tốt hơn trong tương lai, hoặc chúng ta bị chìm đắm vào quá khứ, hồi tưởng những lúc hạnh phúc hơn.

Mỉa mai thay, chúng ta đã không bao giờ thực sự ghi nhận sự trải nghiệm mà chúng ta luyến tiếc vì chúng ta quá nắm níu vào những hy vọng và sợ hãi trong hiện tại. Nơi nào chúng ta giống như trẻ con trên bãi biển, bận rộn xây những lâu đài cát, thì các chúng sinh ở cõi cao giống như những người lớn che dù mà nhìn bọn trẻ mải mê với những sáng tạo của chúng, tranh cãi về các vỏ nghêu, sò, xẻng, xúc, sợ sóng đến gần. Chúng trải qua mọi thứ tình thức.

Nhưng những người lớn nằm gần đó, nhấm nháp một ly cốc-tai dừa, nhìn, không phán xét, không cảm thấy tự hào khi một lâu đài cát được xây dựng rất đẹp và không cảm thấy tức giận hay buồn bã khi ai đó bỗng dẫm chân lên một cái tháp cát. Họ không bị thu hút vào diễn biến của trò chơi của bọn trẻ. Người ta mong gì hơn ở giác ngộ nữa chứ?

Sự ví von gần gũi nhất về giác ngộ trong thế tục là “tự do”; thật vậy, khái niệm về tự do là một sức mạnh điều hướng trong đời sống cá nhân và trong xã hội của chúng ta. Chúng ta mơ tưởng đến một lúc, một nơi mà chúng ta có thể làm bất cứ những gì chúng ta thích – Giấc mơ Mỹ. Trong các diễn văn và trong hiến pháp, chúng ta ca tụng “tự do” và “những quyền của cá nhân” giống như tụng thần chú; tuy vậy, trong thâm tâm, chúng ta không thực sự muốn các thứ ấy.

Nếu chúng ta được trao sự tự do hoàn toàn thì có thể chúng ta sẽ không biết làm gì với sự tự do ấy. Chúng ta không có can đảm hay khả năng lợi dụng sự tự do thực sự vì chúng ta không thoát ra khỏi sự tự hào, tham lam, hy vọng và sợ hãi của chính mình. Nếu mọi người bỗng biến mất khỏi trái đất chỉ còn lại một người, chúng ta có thể tưởng tượng sự tự do hoàn toàn dành cho người ấy.

Anh ta có thể la hét và đi khắp nơi, trần truồng, phá vỡ luật lệ – dù chẳng có luật lệ nào, cũng chẳng có chứng nhân nào. Nhưng sớm muộn gì anh ta cũng sẽ cảm thấy buồn chán, cô đơn và mong ước có bè bạn. Chính cái ý niệm về sự quan hệ đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ một số tự do của mình đối với người khác.

Cho nên nếu ước mong của con người cô đơn kia được thành tựu và anh ta có được một người bạn, thì có thể người bạn ấy sẽ làm những gì người ấy ưa thích và có thể vô tình hay hữu ý đụng chạm đến tự do của anh ta. Ai đáng trách? Con người cô đơn ấy, vì chính sự buồn chán của anh ta đã đem lại sự mất mát của anh ta. Nếu không có sự buồn chán và cô đơn, anh ta vẫn có thể còn tự do. Chúng ta nên hạn chế sự to do của chính chúng ta.

Dù cho ta có thể, ta cũng không trần truồng mà đi khắp nơi hay mang một con cá chết thay vì cà vạt trong cuộc phỏng vấn việc làm, vì chúng ta muốn gây ấn tượng cho mọi người và giành được bạn bè. Chúng ta có thể không khảo sát các nền văn hóa kỳ lạ hay văn họa bộ tộc tuy các nền văn hóa này cung cấp nhiều về trí tuệ, bởi vì chúng ta không muốn bị chê là dân hippy. Chúng ta sống trong nhà tù của trách nhiệm và luật lệ.

Chúng ta cho rằng quyền cá nhân, sự riêng tư, quyền được mang vũ khí, quyền tự do ngôn luận là những vấn đề quan trọng, nhưng chúng ta lại không muốn sống gần một kẻ khủng bố. Về phần những người khác thì bạn muốn áp đặt một ít luật lệ. Nếu những người khác được hoàn toàn tự do thì có thể bạn không đạt được mọi thứ bạn muốn. Tự do của họ có thể hạn chế tự do của bạn.

Khi các con tàu bị nổ tung ở Madrid và các tòa nhà ở New York chỉ còn là gạch vụn, chúng ta trách CIA để cho bọn khủng bố tự do đi đây đi đó. Chúng ta nghĩ rằng công việc của chính quyền là bảo vệ cho chúng ta khỏi những kẻ gây hại. Nhưng những kẻ gây hại và những kẻ khủng bố lại tự thấy họ là những chiến sĩ của tự do.

Trong lúc đó, chúng ta muốn là người đứng đắn về mặt chính trị và là người nắm giữ công lý, cho nên nếu người hàng xóm có vẻ là người dân tộc bị cảnh sát liên bang bắt quả tang, chúng ta liền phản đối. Đứng đắn về mặt chính trị về những vấn đề quá xa vời với chúng ta thì đặc biệt dễ dàng. Đằng nào thì cũng có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự đứng đắn về chính trị của chính chúng ta.

Nếu chúng ta nghiêm túc nhằm đạt giác ngộ, chúng ta cần có sức mạnh để từ bỏ những thứ quan trọng với mình, và chúng ta cần nhiều can đảm để bước đi một mình trên đường. Những ai không truy tìm danh lợi, những ai không lẩn tránh phê bác và thua thiệt thì có thể bị chê bai là bất bình thường hoặc thậm chí là mất trí.

Khi được quan sát dưới quan điểm đời thường, các bậc giác ngộ có vẻ như mất trí vì họ không toan tính, họ không thể bị cám dỗ hay dao động vì sự sở hữu vật chất, họ không buồn nản, họ không cầu tìm những xúc cảm, họ không thẹn thùng vì thua thiệt, họ không phù hợp với nghi thức xã giao, họ không bao giờ dùng sự đạo đức giả để kiếm chác cho mình, họ không bao giờ làm những gì để gây ấn tượng với mọi người, và họ không phô diễn tài năng chỉ vì muốn gây ấn tượng.

Nhưng nếu vì gây lợi lạc cho những người khác, các bậc thánh này sẽ làm mọi thứ cần thiết từ sự sở hữu các phép tắc ăn uống toàn hảo đến việc lãnh đạo một công ty thuộc Fortune 5001. Trong 2.500 năm lịch sử Phật giáo, có thể đã có vô số vị giác ngộ đã không được nhận biết hoặc bị tẩy chay vì mất trí. Rất ít vị được ghi nhận vì sở đắc cái mà ta gọi là “trí tuệ phóng cuồng”.

Nhưng khi chúng ta nghĩ về điều ấy, chúng ta lại là những kẻ thực sự mất trí, lăn lóc cầu tìm sự khen ngợi vốn như tiếng dội, mải bực bội vì bị phê bác, và nắm níu vào hạnh phúc. Hãy quên chuyện vượt ngoài thời gian và không gian; ngay cả chuyện vượt ngoài sự khen và chê hình như cũng đã quá tầm tay. Nhưng khi ta bắt đầu hiểu, không những chỉ bằng trí óc mà cả bằng cảm xúc, rằng tất cả các sự vật hữu vi là vô thường thì sự chấp trước của ta giảm bớt đi.

Niềm tin rằng những tư tưởng và những sở hữu của ta là có giá trị, quan trọng và thường hằng bắt đầu mềm yếu đi. Nếu ta được báo cho biết rằng ta sẽ lìa đời sau hai ngày nữa thì những hành động của ta sẽ thay đổi. Ta sẽ không bận bịu với việc đặt những chiếc giày cho ngay ngắn, ủi thẳng đồ lót, hay dự trữ các thứ nước hoa đắt tiền. Có thể ta vẫn đi mua sắm nhưng với một thái độ mới.

Nếu ta biết, dù chỉ một chút thôi, rằng những khái niệm, cảm giác và đối tượng quen thuộc của ta hiện hữu chỉ như một giấc mộng, chúng ta triển khai một ý nghĩa hài hước tốt hơn nhiều. Sự nhận biết tính hài hước trong tình trạng của ta sẽ ngăn ta khổ đau. Chúng ta vẫn trải nghiệm các cảm thọ, nhưng chúng không còn bày trò mánh khóe hay che mắt ta nữa. Chúng ta vẫn có thể yêu thương mà không sợ bị từ chối.

Chúng ta vẫn dùng nước hoa và kem bôi mặt tốt nhất thay vì cất giữ chúng dành cho dịp đặc biệt. Thế đấy, mỗi ngày trở thành một ngày đặc biệt. Các phẩm chất của Đức Phật thì không thể diễn tả được, chúng giống như bầu trời có không gian vô tận. Ngôn ngữ và các năng lực phân tích của chúng ta chỉ có thể đi xa ngang bằng quan niệm về vũ trụ.

Ở một mức độ nào đó, một con chim bay càng lúc càng cao để tìm chỗ tận cùng của bầu trời sẽ đạt đến giới hạn của nó và phải quay về trái đất. Ẩn dụ tốt nhất về kinh nghiệm của chúng ta trên đời này là một giấc mơ hùng tráng gồm có một số mẩu truyện xoắn xuýt phức tạp, những thăng trầm, những bi thương và bồi hồi. Nếu một đoạn của giấc mơ có đầy cả quỷ và quái vật, chúng ta hy vọng được chạy thoát. Khi mở mắt ra nhìn thấy quạt máy quay trên trần nhà, chúng ta được giải tỏa.

Nếu muốn thông báo, chúng ta sẽ nói: “Tôi mơ thấy con quỷ đuổi theo tôi” và chúng ta cảm thấy nhẹ người hơn khi thoát khỏi móng vuốt của con quỷ. Nhưng không phải con quỷ đã bỏ đi. Suốt đêm con quỷ không bao giờ vào phòng của bạn, và trong khi bạn đang có sự trải nghiệm hãi hùng đó, nó cũng không ở đó. Khi bạn tỉnh giác, bạn chưa từng là một chúng sinh hữu tình, bạn chưa từng đấu tranh. Từ đó trở đi, bạn không phải dè chừng sự trở lại của con quỷ.

Khi bạn đạt giác ngộ, bạn không thể nhớ lại khi bạn là một chúng sinh vô minh. Không còn cần đến thiền định nữa. Chẳng có gì để nhớ, vì bạn chưa bao giờ quên gì cả. Như Đức Phật đã dạy trong kinh Bát nhã Ba la mật đa (Prajnaparamita Sutra), tất cả các hiện tượng giống như một giấc mộng và một ảo ảnh. Và nếu có gì đó tuyệt vời hơn, lớn lao hơn giác ngộ thì đấy cũng giống như một giấc mộng và một ảo ảnh.

Đệ tử của Đức Phật Đại sĩ Long Thọ (Nagarjuna) viết: Đức Phật đã không tuyên bố rằng sau khi lìa bỏ luân hồi thì có Niết bàn . Sự không có luân hồi là Niết bàn . Một con dao trở nên sắc bén là kết quả của hai sự hao mòn – sự hao mòn của đá mài và sự hao mòn của kim loại. Cũng vậy, giác ngộ là kết quả của sự hao mòn của các ô nhiễm (lậu hoặc) và sự hao mòn của sự chống ô nhiễm. Nếu bạn vẫn là một Phật tử tự làm ô nhiễm mình, bạn chưa phải là một vị Phật.

Kết Luận

Ngày nay, chúng ta gặp phải nhiều người pha trộn hòa lẫn các tôn giáo để thích hợp với mức độ thuận lợi của họ. Cố gắng để không có tinh thần bè phái, họ nỗ lực giải thích các khái niệm Thiên Chúa giáo từ quan điểm của Đức Phật, hoặc tìm những chỗ tương tự giữa Phật giáo và Hồi giáo, hoặc giữa Thiền và Doanh nghiệp. Dĩ nhiên, người ta ít ra cũng tìm thấy những tương tự nho nhỏ giữa hai vật đang hiện hữu – nhưng tôi không nghĩ rằng những so sánh như thế là cần thiết.

Dù rằng mọi tôn giáo đều bắt đầu bằng một vài loại mục đích nhân đạo, thường là để làm vơi khổ đau, các tôn giáo đều có những khác biệt căn bản. Các tôn giáo giống như những phương thuốc; và giống như các phương thuốc, các tôn giáo thay đổi tùy theo người bệnh và cơn bệnh. Nếu bạn bị chứng nổi ban, cách chữa thích hợp là thoa thuốc nước calamine.

Nếu bạn bị bệnh bạch hầu, bạn chớ cố tìm ra những tương tự giữa thuốc nước calamine với sự hóa trị để bạn có thể bào chữa cho việc dùng thuốc nước calamine vì nó thuận tiện hơn. Tương tự, không cần phải trộn lẫn các tôn giáo. Trong những trang này, tôi đã cố gắng nêu ra một cái nhìn vào những điều căn bản của quan điểm Phật giáo. Trong mọi tôn giáo, quan điểm là căn bản của thực hành, vì quan điểm khẳng định động cơ và các hành động của chúng ta.

Quả thật là “những vẻ bên ngoài có thể đánh lừa”. Thật sự, chúng ta không thể phán xét những người hàng xóm chỉ bằng việc thấy họ có vẻ như thế nào. Thật rõ ràng rằng chúng ta không thể xét đoán thứ gì riêng tư như tôn giáo bằng hình thức bên ngoài. Chúng ta cũng không thể xét đoán tôn giáo qua các hành động, đạo đức học, phẩm hạnh, hoặc các luật tắc về hành vi mà các tôn giáo ấy khuyến dụ. Quan điểm là chốt tham khảo sau cùng Quan điểm là cốt lõi của bất cứ tôn giáo nào.

Tại một hội nghị liên tôn, chúng ta không thể có sự chọn lựa nào ngoài việc tỏ ra tế nhị trong xã giao và chấp nhận rằng mọi tôn giáo về căn bản là giống như nhau. Nhưng thực ra, các tôn giáo có những quan điểm rất khác nhau, và không ai ngoài chính bạn có thể xét xem có phải quan điểm này thì tốt hơn quan điểm kia. Chỉ có bạn với tư cách là một cá nhân, với khả năng tâm thức, sở thích, cảm thụ và sự tiếp thu của chính bạn, mới có thể chọn lựa quan điểm nào là tốt cho bạn.

Giống như một bữa tiệc buffet thịnh soạn, nhiều sự tiếp cận đưa tới nhiều sự lựa chọn cho mọi người. Chẳng hạn, thông điệp ahimsa [bất hại] của Kỳ-na giáo tốt đẹp đến nỗi người ta tự hỏi tại sao tôn giáo lớn này không phát triển như các tôn giáo khác. Và thông điệp tình thương và sự cứu rỗi của Thiên Chúa giáo đã mang lại an bình và hài hòa cho hàng triệu trái tim. Bề ngoài của các tôn giáo này có thể có vẻ xa lạ và phi lý đối với những người ngoài.

Cũng dễ hiểu khi nhiều người trong chúng ta thắc mắc về những tôn giáo cổ xưa và những mê tín vốn thiếu sự hợp lý. Ví dụ, nhiều người thắc mắc vì chiếc áo nâu và cái đầu cạo trọc của các tu sĩ Phật giáo vì những thứ ấy có vẻ không thích hợp với khoa học, kinh tế, và đời sống nói chung.

Tôi không khỏi tự hỏi những người ấy sẽ nghĩ sao nếu như họ được đưa đến một tu viện Tây Tạng và được đối mặt với những bức tranh vẽ các vị thần phẫn nộ và các phụ nữ lõa lồ trong các tư thế hành lạc. Họ có thể nghĩ rằng mình đang xem một số tiết mục kỳ lạ trong Kama Sutra, hay thậm chí còn tệ hơn, bằng chứng của sự trụy lạc hoặc sự tôn thờ ma quỷ.

Người ngoài cũng có thể kinh ngạc khi thấy các hành giả đạo Kỳ-na lõa thể mà đi hay tín đồ Ấn giáo thờ các thần giống như những con bò và con khỉ.

Nhiều người cảm thấy khó hiểu tại sao những người theo đạo Hồi dùng triết lý thâm sâu của họ là cấm thờ thần tượng như là biện minh cho sự bài bác các ảnh tượng thiêng liêng của các tôn giáo khác, trong khi ở Mecca, một trong những thánh địa thiêng liêng nhất của Hồi giáo, Ka’aba, al-Hajr e Aswad (viên đá đen thiêng liêng) là một vật thể vật lý được thờ phượng và là nơi đến hành hương mỗi năm của hàng triệu tín đồ Hồi giáo.

Đối với những ai không hiểu Thiên Chúa giáo thì có thể khó mà quan niệm tại sao các tín đồ Thiên Chúa giáo không chọn ra một câu chuyện thời hoàng kim của đấng Christ hơn là cái hồi ảm đạm trên cây thập tự. Những người ấy có thể cảm thấy khó hiểu rằng ảnh tượng trung tâm, cây thập tự, làm cho đấng cứu thế có vẻ quá cô đơn không được ai giúp đỡ. Nhưng những thứ ấy đều là vẻ bên ngoài.

Phán xét hay đánh giá một con đường hay một tôn giáo bằng những vẻ bên ngoài như thế thì không phải là có trí, và nó có thể gây thêm thành kiến. Giới hạnh nghiêm ngặt vẫn không thể được dùng để định nghĩa một tôn giáo. Sự gắn chặt vào luật lệ không làm nên một con người tốt. Nghe nói Hitler vốn là người ăn chay và rất cẩn thận trong việc trau chuốt. Nhưng kỷ luật và trang phục chỉnh tề tự chúng chẳng có gì thiêng liêng. Và lúc đầu ai định nghĩa những thứ gì là tốt chứ?

Những gì là tốt lành ở tôn giáo này thì không tốt lành hoặc chẳng là gì ở tôn giáo kia. Ví dụ, những người đàn ông theo đạo Sikh không bao giờ cắt tóc cạo râu, trong khi các tu sĩ thuộc cả hai truyền thống Đông và Tây thường cạo trọc đầu, và các tín đồ Tin lành thì có thể thích để râu tóc thế nào cũng được.

Mỗi tôn giáo đều có sự giải thích thâm sâu về những biểu tượng và những sự thực hành của tôn giáo ấy – tại sao không ăn thịt heo hay tôm, tại sao được yêu cầu cạo hay bị cấm cạo râu tóc. Nhưng bên trong những điều được làm và không được làm, mỗi tôn giáo phải có một quan điểm căn bản và quan điểm là quan trọng nhất . Quan điểm là chốt tham khảo cuối cùng để khẳng định một hành động là đúng hay không đúng.

Một hành động được đánh giá bằng cách xem nó phù hợp thế nào cho quan điểm của ta. Ví dụ, nếu bạn sống ở bãi Venice, California, và bạn có quan điểm rằng được gầy bớt đi là tốt, động cơ của bạn là giảm trọng, bạn suy nghĩ về bãi biển, hẳn là nó rất tốt và hành động của bạn có thể là để tránh được carbohydrate. Bây giờ, hãy giả dụ bạn là một nhà đô vật Sumo ở Tokyo.

Quan điểm của bạn là mập phì thì tốt, động cơ của bạn là tăng trọng và bạn suy nghĩ về việc bạn không thể nào là một võ sĩ Sumo gầy gò được. Hành động của bạn là phải ăn càng nhiều cơm và nhiều bánh rán càng tốt. Hành động ăn một cái bánh rán do đó là tốt hay xấu tùy thuộc vào quan điểm của bạn.

Cho nên, ta có thể nhầm lẫn cho rằng người nào đó kiêng thịt là một người có lòng từ; trong khi thực ra quan điểm của người ấy chỉ đơn giản rằng thịt là không tốt vì nó làm tăng cholesterol của anh ta. Rốt lại không ai có thể phán xét những hành động của những người khác mà không hiểu đầy đủ quan điểm của họ.

Mọi phương pháp của Phật giáo có thể được giải thích bằng bốn dấu ấn – mọi sự vật hữu vi đều vô thường, mọi cảm thọ đều gây khổ, mọi sự vật vốn không hiện hữu và giác ngộ thì vượt ngoài các khái niệm. Mọi động tác và hành vi mà kinh điển Phật giáo khuyến khích đều được đặt căn bản trên bốn sự thật này, hay là các pháp ấn. Trong các kinh Đại thừa, Đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài không nên ăn thịt.

Không những chỉ vì làm hại trực tiếp chúng sinh khác mà còn vì việc ăn thịt không phù hợp với bốn pháp ấn. Đấy là vì khi bạn ăn thịt, ở một bình diện nào đó, bạn làm như thế để sống còn – để duy trì chính bạn. Ước muốn được sống còn này liên hệ với việc muốn được thường hằng, muốn được sống lâu hơn bằng sự chi trả đời sống của chúng sinh khác.

Nếu đưa một con vật vào trong miệng của bạn là tuyệt đối bảo đảm cho sự kéo dài đời sống của bạn, thì, từ một quan điểm ích kỷ, sẽ có lý do để làm như thế. Nhưng dù cho bạn có tống vào miệng bao nhiêu tử thi đi nữa, một ngày nào đó bạn cũng sẽ chết thôi. Có thể còn sớm hơn nữa là khác.

Người ta có thể dùng thịt vì các lý do trưởng giả – thưởng thức món caviar (trứng cá hồi) vì nó quá đắt tiền, ăn dương vật của hổ để được cường dương, dùng yến sào luộc chín để giữ cho da dẻ có vẻ trẻ trung. Người ta không thể tìm một hành động ích kỷ nào hơn là hành động khiến cho một sinh mạng bị tiêu tan vì tính bốc đồng phù phiếm của mình.

Trong một hoàn cảnh ngược lại, con người chúng ta cả đến một đốm muỗi cắn cũng không chịu nổi, hãy đơn thân tưởng tượng chúng ta bị nhốt trong những cái lồng đông chẹt, mỏ bị chặt đứt chờ bị giết cùng với gia đình và bè bạn, hoặc bị vỗ béo trong một bãi rào để trở thành món thịt người băm. Cái thái độ do sự bốc đồng phù phiếm của chúng ta đáng giá một sinh mạng của một chúng sinh khác là sự chấp trì cái ngã. Chấp ngã là vô minh; và như ta đã thấy, vô minh dẫn đến khổ đau.

Trong trường hợp ăn thịt, ta cũng gây cho những chúng sinh khác phải trải nghiệm khổ đau. Vì vậy, các kinh Đại thừa miêu tả việc thực hành đặt mình vào địa vị của những sinh vật này và kiêng ăn thịt do bởi một ý nghĩa của từ bi. Khi Đức Phật cấm ăn thịt. Ngài muốn bảo là tất cả các loại thịt. Ngài không chọn riêng cấm thịt bò vì các lý do tình cảm, hay cấm thịt heo vì thịt heo dơ bẩn, Ngài cũng không thuận cho ăn cá vì cá không có linh hồn.

Luận lý tốt đẹp của bốn pháp ấn Hãy xem sự quảng đại như là một thí dụ về pháp ấn thứ nhất – vô thường. Khi ta bắt đầu hiểu sự thật thứ nhất này, ta thấy mọi sự đều tạm bợ và không có giá trị, như thể chúng được để trong một bao tặng vật của Đội quân Cứu trợ. Ta không cần phải cho hết chúng đi, nhưng ta không nắm giữ chúng.

Khi ta thấy rằng những sở hữu của ta đều là những thứ hữu vi vô thường, rằng ta không thể nắm giữ chúng mãi, thì bấy giờ sự hào phóng sẽ sẵn sàng được thành tựu một cách thực tiễn. Hiểu được pháp ấn thứ hai, rằng mọi cảm thọ đều là khổ đau, ta thấy rằng kẻ keo kiệt, cái ngã, là thủ phạm chính, chẳng tạo ra được thứ gì ngoài một cảm giác về sự bần cùng.

Do đó, bằng cách không chấp chặt cái ngã, chúng ta không tìm ra lý do nào để nắm giữ những sở hữu của chúng ta, và không còn có sự khổ đau vì keo kiệt. Sự hào phóng trở thành một hành động của hoan hỷ. Hiểu được pháp ấn thứ ba, rằng mọi sự vật vốn không hiện hữu, chúng ta thấy được sự vô nghĩa của sự nắm giữ, vì bất cứ những gì chúng ta nắm giữ đều không có bản chất hiện hữu thực sự.

Điều ấy cũng giống như mơ rằng bạn đang phân phát một triệu đôla cho những người lạ trên đường phố. Bạn có thể cho một cách hào phóng vì đó là tiền trong giấc mơ, và tuy vậy, bạn cũng có thể thu đạt được tất cả sự khôi hài của sự thể nghiệm ấy. Sự hào phóng được đặt căn bản trên ba quan điểm này hiển nhiên sẽ khiến chúng ta nhận ra rằng không có mục đích. Đấy không phải là một sự hy sinh phải chịu đựng để được ghi nhận hay để bảo đảm một đời sau tốt đẹp hơn.

Sự hào phóng mà không có bảng giá, những chờ đợi đền đáp, hay điều kiện yêu sách tạo ra một thoáng nhìn vào quan điểm thứ tư là sự thật rằng giải thoát, giác ngộ thì vượt ngoài khái niệm. Nếu chúng ta đo lường sự toàn hảo của một hành động đạo đức, như sự hào phóng, bằng những tiêu chuẩn vật chất – nghèo ở mức độ nào thì ta loại ra không giúp đỡ – có thể không bao giờ chúng ta đạt tới sự toàn hảo. Hoàn cảnh cơ cực và mong muốn của người cơ cực thì vô tận.

Ngay cả mong muốn của người giàu cũng vô tận; thật vậy, những mong muốn của con người không bao giờ được thỏa mãn. Nhưng theo Ngài Tất Đạt Đa, sự hào phóng nên được đo bằng mức độ chấp thủ của người cho đối với những gì được cho và đối với cái ngã đang cho. Một khi bạn nhận ra rằng cái ngã và mọi sở hữu của nó là vô thường và không có bản chất hiện hữu thực sự, thì bạn có sự vô chấp, và đấy chính là sự hào phóng.

Sự lĩnh hội sâu hơn về nghiệp, thanh tịnh và bất bạo động Khái niệm về nghiệp (karma), nhãn hiệu hiển nhiên của Phật giáo, cũng thuộc vào bốn sự thật này. Khi các nhân duyên đến với nhau và không có gì cản trở, hậu quả sẽ khởi sinh. Hậu quả là nghiệp. Nghiệp này được tích tập bởi ý thức – tâm ý, hay ngã. Nếu cái ngã này hành động vì tham lam hay sân hận thì nghiệp xấu sẽ phát sinh.

Nếu một ý tưởng hay hành động có động cơ là tình thương, sự khoan dung và một sự mong muốn những người khác được hạnh phúc thì nghiệp tốt được sinh ra. Tuy vậy, động cơ, hành động và nghiệp được hình thành vốn giống như một giấc mộng, một ảo ảnh. Vượt lên khỏi nghiệp, cả nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu, là Niết bàn. Bất cứ hành động nào được gọi là tốt mà không được đặt căn bản trên bốn quan điểm này thì chỉ là sự đúng mực; cuối cùng nó không phải là con đường của Ngài Tất Đạt Đa.

Dù cho bạn có nuôi dưỡng tất cả những người đói trên thế giới, nếu bạn hành động mà không có mặt bốn quan điểm này thì đấy chỉ là một hành vi tốt, không phải là con đường đến giác ngộ. Thực ra, đấy có thể là một hành động đúng đắn được thiết kế để nuôi dưỡng và nâng đỡ cái ngã. Chính vì bốn sự thật này (bốn pháp ấn) mà các Phật tử có thể thực hành sự thanh tịnh.

Nếu người ta nghĩ rằng người ta bị ô nhiễm vì nghiệp xấu, hay yếu kém, hay “có tội”, và chán nản khi nghĩ rằng những trở ngại này luôn luôn hiện diện trong cách hiểu biết; thế rồi người ta được an ủi khi biết rằng chúng chỉ là những thứ hữu vi và do đó vô thường; và thế thì có thể được thanh tịnh.

Mặt khác, nếu người ta cảm thấy thiếu khả năng hay công đức, người ta có thể được an ủi khi biết rằng công đức có thể được tích tập bằng cách thực hiện các hành vi tốt, vì sự thiếu công đức là vô thường và do đó có thể chuyển hóa được. Sự thực hành của Phật giáo về bất bạo động không chỉ là sự phục tùng suông với một nụ cười hay một tư duy nhu hòa. Nguyên nhân căn bản của bạo lực là khi người ta bị đặt vào một ý tưởng cực đoan, như là công chính và đạo đức.

Sự đặt định này thường nảy sinh từ một thói quen tích trữ các quan điểm nhị nguyên như xấu và tốt, xấu xí và đẹp đẽ, đạo đức và phi đạo đức. Sự cứng nhắc tự cho mình là đúng đắn chiếm hết chỗ của sự đồng cảm với những người khác. Sự sáng suốt mất đi. Khi ta hiểu rằng tất cả những quan điểm hay giá trị này đều là hữu vi và vô thường cũng như cái người nắm giữ chúng, thì bạo lực sẽ được ngăn chặn.

Khi bạn không có ngã (vô ngã), không chấp vào ngã thì không bao giờ có lý do để trở nên bạo động. Khi ta hiểu rằng những kẻ thù của ta bị giữ chặt dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của vô minh và sân hận của chính họ, rằng họ bị những thói quen của họ cài bẫy, thì ta dễ dàng tha thứ họ hơn về thái độ và những hành động bực tức của họ. Tương tự, nếu có ai đó ở bệnh viện tâm thần nguyền rủa bạn thì chẳng có chút gì để giận dỗi.

Khi ta vượt lên trên niềm tin vào các cực đoan của các hiện tượng nhị nguyên, ta đã vượt lên trên các nguyên nhân của bạo động. Bốn pháp ấn: trọn một gói Trong Phật giáo, bất cứ hành động nào xây dựng hay tăng cường bốn pháp ấn đểu là một con đường đúng đắn. Dù có vẻ là những thực hành nghi lễ, như thắp nhang, hay thực hành các thiền định và thần chú bí truyền, chúng đều nhằm giúp sự chú tâm của chúng ta hội tụ vào một hay tất cả các pháp ấn.

Những gì trái với bốn quan điểm ấy, kể cả một số hành động có thể có vẻ như thương yêu và thương xót, đều không thuộc vào con đường ấy. Ngay cả sự quán không cũng trở thành sự phủ định suông, không gì cả ngoài con đường hư vô, nếu nó không thuận hợp với bốn pháp ấn. Nhằm cho mọi người biết, chúng ta có thể bảo rằng bốn quan điểm này (bốn sự thật, bốn pháp ấn) là cốt lõi của Phật giáo. Chúng ta gọi chúng là “sự thật” vì chúng chỉ là những sự việc đơn giản.

Chúng không được tạo ra; chúng không phải là sự phát hiện bí mật của Đức Phật. Không phải chỉ sau khi Đức Phật giảng dạy chúng mới trở nên có giá trị. Sống theo những nguyên lý này không phải là một nghi thức hay một kỹ thuật. Chúng không được xem là giới hạnh học hay đạo đức học, và chúng không thể bị lấy làm nhãn hiệu hay sở hữu. Không có gì gọi là “người bất tín” hay “kẻ bổ báng” trong Phật giáo vì không có ai để kính tín, để nguyền rủa hay để nghi ngờ.

Tuy nhiên, những ai không nhận biết, không tin bốn sự việc này thì bị các Phật tử xem là vô minh. Sự vô minh ấy không phải là lý do để phán xét về đạo đức. Nếu ai đó không tin rằng con người đã đổ bộ lên mặt trăng, hoặc còn nghĩ rằng trái đất phẳng thì một nhà khoa học sẽ không gọi anh ta là một kẻ bổ báng mà chỉ gọi anh ta là kẻ ngu muội. Cũng vậy, nếu anh ta không tin vào bốn pháp ấn, anh ta không phải là một người bất tín.

Thật vậy, nếu ai đó đưa ra được bằng chứng rằng luận lý của bốn pháp ấn là sai, rằng chấp ngã thực sự là không khổ đau, hoặc rằng một thành tố nào đó cưỡng lại sự vô thường, thì bấy giờ các Phật tử sẽ sẵn sàng theo con đường ấy thế cho con đường của mình. Vì điều mà ta tìm kiếm là giác ngộ và giác ngộ nghĩa là lĩnh hội chân lý. Cho đến nay, dù qua mọi thế kỷ, không có bằng chứng nào được nêu lên để làm mất giá trị của bốn pháp ấn.

Nếu bạn không biết bốn pháp ấn nhưng cứ khăng khăng tự xem mình là một Phật tử chỉ vì một sự thương mến các truyền thống, thì đấy chỉ là sự mộ đạo hời hợt. Các bậc thầy Phật giáo tin rằng tuy bạn chọn nhãn hiệu cho chính bạn mà bạn không có niềm tin vào bốn sự thật thì bạn vẫn sẽ tiếp tục sống trong một thế giới ảo hóa và tin rằng thế giới ấy là kiên cố và thật.

Mặc dù niềm tin như thế tạm thời tạo ra sự an lạc thuộc vô minh, cuối cùng nó cũng luôn đưa đến một hình thức lo lắng nào đó. Bấy giờ bạn dành hết thời gian để giải quyết các vấn đề và cố gắng thoát khỏi sự lo lắng. Sự việc cứ mãi cần giải quyết các vấn đề sẽ trở nên giống như một sự nghiện ngập. Bạn đã giải quyết được bao nhiêu vấn đề chỉ để nhìn những vấn đề khác khởi sinh? Nếu bạn hạnh phúc với cái vòng luẩn quẩn này thì bạn không có lý do gì để phàn nàn.

Nhưng khi bạn thấy rằng bạn sẽ không bao giờ chấm dứt việc giải quyết vấn đề được thì đấy là sự khởi đầu việc tìm kiếm sự thực ở bên trong. Trong khi Phật giáo không phải là sự giải đáp cho tất cả các vấn đề thế tục và những bất công của xã hội ở khắp thế giới. Nếu tình cờ bạn đang tìm kiếm và bạn có duyên với Ngài Tất Đạt Đa, bấy giờ bạn mới có thể nhận thấy những sự thật này là đáng tán thành. Trong trường hợp này, bạn sẽ cân nhắc để nghiêm túc đi theo Ngài.

Sự giàu có ở trong sự từ bỏ Là một môn đệ của Ngài Tất Đạt Đa, bạn không nhất thiết phải noi theo mọi hành động của Ngài – bạn không phải lẻn ra đi khi vợ bạn đang ngủ. Nhiều người nghĩ rằng Phật giáo đồng nghĩa với từ bỏ, lìa bỏ nhà cửa, gia đình, công việc và đi theo con đường của một ẩn sĩ.

Hình ảnh này của sự khổ hạnh một phần là do phần lớn Phật tử tôn kính các vị khất sĩ trong kinh điển và giáo lý Phật giáo, cũng giống như những tín đồ Thiên Chúa giáo tôn kính Thánh Francis xứ Assisi. Chúng ta không khỏi bị ấn tượng bởi hình ảnh Đức Phật đi chân trần và mang bình bát ở Ma Kiệt Đà (Magadha) hay Milarepa ở trong hang mà sống được bằng cháo tầm ma. Sự thanh thản của một vị tăng Miến Điện giản dị đang nhận vật bố thí quyến rũ trí tưởng tượng của chúng ta.

Nhưng cũng có nhiều tín đồ của Đức Phật hoàn toàn khác. Vua A Dục (Ashoka) chẳng hạn, đã bước xuống khỏi chiếc xe vua, trang sức bằng ngọc và vàng, và tuyên bố ước nguyện của Ngài là quảng bá Phật pháp khắp thế giới. Ngài quỳ xuống, vốc một nắm cát và tuyên bố Ngài sẽ xây dựng số tháp bằng với số hạt cát trong tay Ngài. Và quả thật, Ngài đã giữ lời hứa.

Cho nên, người ta có thể là một vị vua, một thương gia, một gái giang hồ, một kẻ nghiện ngập, một quan chức điều hành, và vẫn chấp nhận bốn pháp ấn. Về căn bản, không phải hành động rời bỏ thế giới vật chất mà các Phật tử ấp ủ nhưng chính là cái khả năng nhìn thấy sự chấp trước quen thuộc vào thế giới này, vào chính chúng ta và từ bỏ sự chấp trước ấy.

Khi ta bắt đầu hiểu bốn quan điểm ấy, ta không cần xa lánh các sự vật; thay vào đó, ta bắt đầu thay đổi thái độ của ta đối với chúng; do đó, thay đổi giá trị của chúng. Chính là vì bạn có ít hơn ai đó không có nghĩa là về mặt tinh thần bạn trong sạch hơn hay đạo đức hơn. Thực ra, sự khiêm tốn chính nó cũng có thể là một hình thức giả dối. Khi chúng ta hiểu được tính vô bản chất và sự vô thường của thế giới vật chất, thì sự từ bỏ không còn là một hình thức tự hành xác.

Nó không có nghĩa là chúng ta khắt khe với chính mình. Từ hy sinh được hiểu theo một ý nghĩa khác. Với sự hiểu như vậy, mọi sự vật trở thành gần như đồng nghĩa với bãi nước bọt mà ta nhổ trên đất. Chúng ta chẳng có cảm xúc gì với nước bọt. Mất đi tính đa cảm ấy là con đường của an lạc, sugata. Khi từ bỏ được hiểu là an lạc, thì những câu chuyện về nhiều hoàng tử, công chúa và tướng lãnh ở Ấn Độ một thời nọ từ bỏ đời sống vương giả trở thành ít lạ lùng.

Tình yêu chân lý này và sự tôn kính những người đi tìm chân lý là một truyền thống cổ xưa ở các nước như Ấn Độ. Ngay cả ngày nay, thay vì coi thường những nhà tu hành từ bỏ mọi sự, xã hội Ấn Độ rất mực tôn kính họ như người ta tôn kính các giáo sư ở Harvard hay Yale.

Mặc dù trong thời đại này, truyền thống đang phai nhạt khi văn hóa liên hiệp ngự trị, bạn vẫn có thể tìm thấy các nhà tu khổ hạnh (sadhu) thân trần truồng phủ đầy tro đã từ bỏ việc hành nghề luật rất thành công để trở thành những khất sĩ lang thang. Tôi có ấn tượng rất mạnh mẽ khi nhìn thấy thể cách kính trọng của xã hội Ấn Độ đối với những vị này thay vì xua đuổi họ như những hành khất bẩn thỉu hay những kẻ quấy rầy.

Tôi không thể không tưởng tượng đến các vị này khi họ vào khách sạn Marriott ở Hồng Kông. Những triệu phú mới người Trung Hoa nỗ lực hết sức để sao y các thể cách phương Tây sẽ cảm thấy thế nào về các vị sadhu mình trát đầy tro ấy? Người giữ cửa có mở cửa cho các vị ấy không? Trong trường hợp này, người gác cổng khách sạn Bel Air ở Los Angeles sẽ phản ứng thế nào? Thay vì tôn thờ chân lý và cung kính vị sadhu, thời đại này tôn thờ các bảng thông báo và cung kính thuật hút mỡ.

Chọn lựa trí tuệ, loại bỏ những thứ đạo đức sai lạc Khi bạn đọc điều này, có thể bạn nghĩ: “Tôi là người hào phóng và tôi không có sự ràng buộc với những gì của tôi”. Có thể quả thật bạn không keo kiệt, nhưng giữa lúc bạn đang thực hiện hào phóng, nếu ai đó đánh cắp cây bút chì dễ thương của bạn, bạn có thể tức giận đến nỗi bạn muốn cắn đứt tai hắn ta. Hoặc bạn có thể trở nên hoàn toàn chán nản nếu ai đó bảo: “Ông chỉ cho chừng đó thôi ư?”

Khi ta cho, ta bị thu hút vào ý niệm hào phóng. Ta bám vào kết quả – nếu không phải là sự tái sinh tốt đẹp thì ít ra là sự ghi nhận ở đời này, hoặc chỉ là một tấm bảng tuyên dương treo tường. Tôi cũng đã từng gặp nhiều người nghĩ rằng họ hào phóng chỉ đơn giản vì họ đã tặng tiền cho một viện bảo tàng nào đó, hoặc ngay cả cho con cái của chính họ mà họ chờ mong chúng sẽ tận tụy với đời mình.

Nếu đạo đức không có bốn quan điểm (bốn pháp ấn) theo sau thì đạo đức có thể gần như bị méo mó. Đạo đức nuôi dưỡng cái ngã, khiến ta trở thành khắt khe và phán xét những người có đạo đức khác với đạo đức của ta. Bị gắn chặt vào sự diễn dịch của mình về đạo đức, ta coi thường những người khác và cố gắng áp đặt vào họ tư tưởng đạo đức của mình dù điều ấy có nghĩa là tước đi sự tự do của họ.

Nhà đại học giả Ấn Độ và là vị thánh Shantideva (Tịch Thiên) vốn là một hoàng tử đã từ bỏ vương quốc, đã dạy rằng chúng ta không thể tránh đối mặt với một sự việc nào đó và mọi sự việc không an lành, nhưng nếu chúng ta có thể chỉ cần áp dụng một trong bốn quan điểm này thì sẽ được bảo vệ khỏi mọi ác hạnh.

Nếu bạn nghĩ rằng toàn bộ phương Tây theo một cách nào đó là độc địa và vô đạo đức thì sẽ không thể chinh phục và phục hồi vùng đất này được, nhưng nếu có lòng khoan dung bên trong bạn, thì như vậy cũng ngang bằng với chinh phục. Bạn không thể san phẳng toàn bộ trái đất để bạn bước đi trên đó bằng đôi bàn chân trần của bạn nhưng bằng cách mang giày, bạn tự bảo vệ mình khỏi những chỗ lởm chởm, khó chịu.

Nếu ta hiểu được bốn quan điểm không chỉ bằng trí óc mà còn bằng kinh nghiệm nữa thì chúng ta bắt đầu thoát khỏi sự chấp chặt vào các sự vật vốn là ảo tưởng. Sự tự do (giải thoát) này là điều mà ta gọi là trí tuệ. Các Phật tử tôn trọng trí tuệ hơn tất cả những gì khác. Trí tuệ vượt lên trên đạo đức, tình thương, cảm nhận thông thường, lòng khoan dung, và chủ trương ăn chay. Đấy không phải là một linh thể mà ta chủ trương tìm kiếm từ đâu đó ở bên ngoài chúng ta.

Chúng ta cải tiến trí tuệ bằng cách trước tiên nghe giáo lý về bốn pháp ấn – không chấp nhận bốn sự thật này theo giá trị bên ngoài, mà tốt hơn là phân tích và quán tưởng về chúng. Nếu bạn tin rằng con đường này sẽ soi sáng phần nào sự mê lầm của bạn và mang lại một niềm tin, thì bạn có thể thực sự đưa trí tuệ vào việc thực hành.

Ở một trong những phương pháp giảng dạy cổ xưa nhất của Phật giáo, vị thầy trao cho đệ tử một cái xương và bảo họ quán tưởng nguồn gốc của nó; các đệ tử thực sự thấy cái xương là kết quả cuối cùng của sự sinh, sự sinh là kết quả cuối cùng của sự hình thành nghiệp, sự hình thành nghiệp là kết quả cuối cùng của tham ái v. v... Hoàn toàn được thuyết phục bởi luận lý về nguyên nhân, điều kiện, và kết quả, họ bắt đầu chú ý vào mọi tình trạng và mọi lúc.

Đây là điều mà ta gọi là thiền định. Những người có thể mang lại cho chúng ta loại thông tin và hiểu biết này thì được tôn kính làm thầy vì dù rằng họ có sự lĩnh hội sâu xa và có thể sống hạnh phúc trong rừng, họ vẫn sẵn sàng quanh quẩn để nêu tỏ kiến giải cho những ai còn tăm tối. Vì thông tin này giải phóng chúng ta thoát khỏi mọi loại trục trặc không cần thiết, chúng ta tự động biết ơn người nêu tỏ. Cho nên các Phật tử đảnh lễ vị thầy.

Một khi bạn chấp nhận kiến giải bằng trí óc, bạn có thể áp dụng bất cứ phương pháp nào có thể khiến sự hiểu biết và thể nghiệm của bạn trở nên thâm sâu. Nói một cách khác, bạn có thể sử dụng bất cứ kỹ thuật hay sự thực hành nào giúp bạn cải biến thói quen nghĩ rằng mọi sự vật thì ổn cố thành thói quen thấy chúng như là được cấu thành bởi nhiều yếu tố, phụ thuộc lẫn nhau, và vô thường.

Đây là thiền định và là sự tu tập thật sự của Phật giáo, chứ không phải là sự ngồi yên như thể bạn là một cái chặn giấy. Dù cho chúng ta biết bằng lý trí rằng chúng ta sắp chết, cái biết này vẫn có thể bị lu mờ vì điều gì đó nhỏ nhặt như một lời khen hờ hững. Ai đó bàn rằng các đốt ngón tay của chúng ta đẹp lắm, và việc kế tiếp chúng ta biết là chúng ta cố tìm cách giữ gìn các đốt ngón tay này. Bỗng nhiên chúng ta nhận thấy chúng ta có thứ gì đó để bị mất.

Ngày nay ta cứ mãi bị oanh tạc bằng quá nhiều thứ để mất và quá nhiều thứ để được. Hơn bao giờ hết, ta cần những phương pháp nhắc nhở ta và giúp ta quen thuộc với kiến giải, ngay cả có thể treo một cái xương người ở gương chiếu hậu của chiếc xe, nếu như bạn không cạo đầu và không rút vào hang. Kết hợp với những phương pháp này, đạo đức học và phẩm hạnh trở nên cần thiết.

Đạo đức học và giáo lý có thể là thứ yếu trong Phật giáo, nhưng những thứ này là quan trọng khi chúng đưa chúng ta gần hơn tới chân lý. Nhưng ngay cả một số hành động thiện lành và tích cực, nếu chúng đem chúng ta ra khỏi bốn sự thật thì chính Ngài Tất Đạt Đa khuyến cáo chúng ta phải rời bỏ chúng.

Trà và tách trà: trí tuệ ở trong văn hóa Bốn pháp ấn giống như trà, trong khi tất cả những phương tiện khác để thực hiện bốn sự thực này – thực hành, nghi lễ, truyền thống và các biểu hiện văn hóa – thì giống như một cái tách. Những kỹ năng và phương pháp thì có thể quan sát được và rõ ràng, nhưng chân lý không như thế. Điều thách thức là không để bị cái tách suy động.

Người ta nghiêng về việc ngồi thẳng ở một nơi tĩnh lặng trên một tọa cụ hơn là quán tưởng điều gì sẽ đến trước, ngày mai hay đời sau. Những thực hành bên ngoài thì có thể nhận thấy được, cho nên ý thức vội đặt tên cho chúng là Phật giáo; trong khi đó cái khái niệm “mọi sự vật hữu vi đều vô thường” thì lại không rõ ràng và khó đặt tên. Buồn cười là bằng chứng về vô thường thì đầy dẫy quanh ta, thế mà lại không rõ ràng đối với ta.

Bản chất của Phật giáo thì vượt ngoài văn hóa, nhưng nó lại được thực hành bởi nhiều nền văn hóa khác nhau vốn sử dụng các truyền thống của mình như cái tách đựng giáo lý. Nếu các yếu tố của những biểu hiện văn hóa giúp cho những người khác mà không gây hại, và nếu chúng không trái với bốn sự thật, thì Ngài Tất Đạt Đa khuyến khích những sự thực hành như thế.

Suốt nhiều thế kỷ, rất nhiều các nhãn hiệu và kiểu dáng tách đã được sản xuất, nhưng dù ý định đằng sau chúng là tốt, dù chúng có thể có hiệu quả, chúng cũng trở thành những thứ trở ngại nếu ta quên trà ở bên trong. Dù mục đích của chúng là chứa đựng, chúng ta lại có xu hướng tập trung vào của cải hơn là vào hiệu dụng. Cho nên người ta đi khắp nơi với những cái tách rỗng, hoặc họ quên uống trà của họ.

Con người chúng ta có thể bị làm cho mê say, ít ra cũng bị xao lãng bởi nghi lễ hay sắc màu của những thực hành văn hóa Phật giáo. Trầm hương và nến sáp thì kỳ lạ và hấp dẫn; sự vô thường và vô ngã thì không như vậy. Chính Ngài Tất Đạt Đa đã bảo rằng cách thờ phụng tốt nhất chỉ đơn giản là ghi nhớ nguyên lý vô thường, khổ vì các cảm thọ, rằng các hiện tượng vốn không hiện hữu, và rằng Niết bàn thì vượt khỏi các khái niệm.

Ở mức độ hời hợt, Phật giáo có thể có vẻ như là nghi lễ và tôn giáo. Những quy định của Phật giáo như mặc áo nâu, các nghi thức và các pháp khí, hương hoa, và cả các tu viện đều có thể cách đặc biệt – ta có thể quan sát hoặc chụp ảnh các thứ này. Chúng ta quên rằng các thứ ấy là một phương tiện đưa đến cứu cánh. Chúng ta quên rằng người ta không trở thành một tín đồ của Đức Phật bằng cách thực hiện các nghi thức hoặc tuân thủ các quy định như ăn chay, mặc y gì.

Nhưng tâm ý con người quá thích các biểu tượng và nghi thức đến nỗi những thứ ấy hầu như cần thiết và không thể bỏ qua. Các mạn-đà-la bằng cát ở Tây Tạng và các vườn Thiền ở Nhật Bản là rất đẹp, có thể gây cảm hứng nơi chúng ta và là phương tiện để hiểu chân lý. Nhưng chân lý tự nó không phải là đẹp hay không đẹp. Mặc dù chúng ta có thể thực hiện nghi thức mà không cần có các mũ đỏ, mũ vàng và mũ đen, có một số nghi thức và quy định chung cần thực hiện.

Người ta không thể khẳng định rằng sẽ là sai nếu thiền định trong khi đang nằm trên võng, hay cầm một thức uống có trang trí một chiếc dù nhỏ trong khi đang quán tưởng chân lý. Nhưng những gì chống lại sự khó chịu như ngồi thẳng, thì thực sự có lợi ích lớn. Tư thế đúng đắn không chỉ đáng chấp nhận và thuận lợi, nó còn có năng lực tước đi những cảm thọ phản xạ nhanh chóng quen thuộc của bạn vốn thu hút bạn và đưa bạn đi lang bang.

Tư thế tạo cho bạn một chút không gian để trở nên chín chắn. Những nghi lễ thể chế khác, như các cuộc lễ theo từng nhóm và các cơ cấu tôn ti tôn giáo có thể có một số lợi lạc, nhưng điều quan trọng cần ghi nhớ là chúng đã là những mục tiêu khích bác của các vị thầy xưa.

Tôi tự nghĩ rằng những nghi thức này hẳn phải là lý do tại sao nhiều người ở phương Tây xếp Phật giáo như là một tôn giáo thờ cúng dù rằng ngay cả dấu vết nhỏ nhất của sự thờ cúng cũng không có trong bốn sự thật. Ngày nay Phật giáo đang phát triển ở phương Tây, tôi từng nghe nói người ta sửa đổi giáo lý Phật giáo cho hợp với cách suy nghĩ hiện đại. Nếu có gì cần thay đổi thì đấy là các nghi thức và biểu tượng chứ không phải chính chân lý.

Chính Đức Phật đã bảo rằng giáo lý và các phương pháp của Ngài cần sửa đổi cho thích hợp với thời gian và nơi chốn. Nhưng bốn sự thật không cần phải cập nhật hóa hay bổ khuyết, và dù gì đi nữa cũng không thể làm như thế. Bạn có thể thay đổi cái tách, nhưng trà thì vẫn nguyên chất. Sau khi tồn tại 2.500 năm và đi 12.500km từ cây bồ đề ở Trung Ấn đến Quảng trường Thời Đại ở thành phố New York, khái niệm “mọi sự vật đều vô thường” vẫn còn hiệu lực.

Bạn không thể bẻ cong bốn quy tắc này được, không có những ngoại lệ xã hội hay văn hóa. Không giống như một số tôn giáo khác, Phật giáo không phải là một bộ lắp ráp còn tồn tại về cách sống tuyên đọc rằng một người vợ nên có bao nhiêu chồng, hay phải nộp thuế ở đâu, hay trừng phạt bọn trộm cắp như thế nào. Thật ra, nghiêm túc mà nói, ngay cả một nghi thức cho lễ đám cưới Phật giáo cũng không có.

Mục đích giáo lý của Ngài Tất Đạt Đa không phải nói cho người ta những gì người ta muốn nghe. Ngài giảng dạy vì sự thôi thúc mạnh mẽ của Ngài nhằm giải thoát cho những người khác khỏi những quan niệm sai lầm và sự ngộ nhận chân lý của họ. Tuy nhiên, để giải thích chân lý này một cách có hiệu quả, Ngài Tất Đạt Đa giảng dạy theo nhiều cách và nhiều phương tiện khác nhau tùy theo những nhu cầu của những người nghe khác nhau.

Ngày nay, những cách thức khác nhau này trong việc giảng dạy được gọi là “các trường phái” khác nhau của Phật giáo. Nhưng kiến giải căn bản chính cho tất cả vẫn là một mà thôi. Cũng là bình thường khi các tôn giáo có một vị lãnh đạo. Một số trường hợp, như Tòa thánh Công giáo La Mã, có một tôn ti chặt chẽ, được lãnh đạo bởi một nhân vật toàn năng để đưa ra các quyết định và thông qua các phán xét.

Trái với niềm tin thông thường, Phật giáo không có một nhân vật hay một định chế như thế. Đức Đạt lai Lạt ma là một vị lãnh đạo thế tục của cộng đồng Tây Tạng lưu vong và là vị thầy tâm linh đối với nhiều người trên khắp thế giới, nhưng không nhất thiết đối với tất cả Phật tử.

Không ai có độc quyền để quyết định ai là một Phật tử thực sự, ai là không phải, đối với mọi hình thức và trường phái Phật giáo có mặt tại Tây Tạng, Nhật Bản, Lào, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam và phương Tây. Không ai có thể tuyên bố ai đáng bị trừng phạt và ai là không như thế. Sự thiếu quyền lực trung ương này có thể mang lại hỗn độn, nhưng đó cũng là một điều hay vì mọi nguồn quyền lực trong mọi định chế của con người đều có thể bị mua chuộc.

Chính Đức Phật đã dạy: “Bạn là thầy của chính bạn”. Dĩ nhiên, nếu có một vị thầy có kiến thức cố gắng chỉ bày chân lý cho bạn, bạn là một người may mắn. Trong vài trường hợp, những vị thầy như thế cần được tôn kính thậm chí còn hơn cả Đức Phật vì dù hàng ngàn vị Phật có thể đến, đối với bạn, người này là người mang chân lý đến bậc cửa của bạn. Tìm một người hướng dẫn tinh thần là một việc hoàn toàn nằm trong tay bạn. Bạn mặc sức phân tích người ấy.

Khi bạn đã tin chắc vào sự xác thực của người ấy thì sự chấp nhận, tận tụy và vui mừng với người ấy là một phần của việc tu tập của bạn. Sự kính trọng thường bị nhầm lẫn với sự nhiệt thành mang tính tôn giáo. Do vì vẻ bên ngoài hiển nhiên và vì sự thiếu kỹ năng của một số Phật tử, những người ngoài có thể nghĩ rằng chúng ta thờ phụng Đức Phật và các vị sư kế tục như thể chư vị là những vị thần.

Trong trường hợp bạn phân vân không quyết định được con đường nào là con đường đúng, thì chỉ cần nhớ rằng con đường nào không trái với bốn chân lý là con đường an toàn. Rốt lại, không phải chư vị sư phẩm trật cao hộ trì Phật giáo, nhưng bốn chân lý là những người hộ trì. Tôi có nhấn mạnh bao nhiêu cũng không đủ, rằng sự lĩnh hội chân lý là khía cạnh quan trọng nhất của Phật giáo.

Suốt nhiều thế kỷ các học giả và nhà tư tưởng đã tận dụng sự việc Ngài Tất Đạt Đa mời gọi phân tích những phát hiện của Ngài. Hàng trăm cuốn sách phân tích tỉ mỉ, bàn luận sâu sắc những lời nói của Ngài là bằng chứng của điều ấy. Thật vậy, nếu bạn lưu tâm đến Phật giáo và không sợ bị gán là kẻ báng bổ thì bạn được khích lệ khám phá mọi nghi ngờ. Vô số những người thông tuệ đã từ lúc đầu kính trọng trí tuệ và kiến giải của Ngài Tất Đạt Đa.

Sau đó họ mới đặt niềm tin và sự tận tụy của họ vào. Đấy là lý do mà một thời các vị hoàng tử, các đại thần dứt khoát từ bỏ cung điện để cầu tìm chân lý. Thực hiện sự hài hòa Đừng nói gì đến những chân lý sâu xa, ngay cả những chân lý thực tiễn, rõ ràng người ta cũng không biết tới. Chúng ta giống như bầy khỉ ngủ trong rừng và vãi phân trên những cành cây mà chúng ta đang treo mình.

Hàng ngày chúng ta nghe người ta nói về tình hình kinh tế mà không biết đến mối liên hệ giữa sự suy thoái và sự tham lam. Bởi tham lam, đố kỵ và tự mãn, nền kinh tế sẽ không bao giờ có thể đủ mạnh để bảo đảm rằng mỗi người được quyền có được những nhu cầu căn bản trong đời sống. Nơi ở của chúng ta, trái đất, càng ngày càng trở nên ô nhiễm. Tôi đã gặp nhiều người lên án các nhà lãnh đạo, hoàng đế cổ xưa và các tôn giáo cổ xưa là nguồn gốc của mọi xung đột.

Nhưng thế giới trần tục và hiện đại đã không làm gì tốt hơn, nếu có làm thì còn làm xấu hơn nữa. Thế giới hiện đại đã làm gì tốt hơn? Một trong những hiệu quả chủ yếu của khoa học và kỹ thuật là đã tàn phá thế giới nhanh hơn. Nhiều nhà khoa học tin rằng mọi hệ thống sinh tồn và mọi hệ thống bảo vệ đời sống trên trái đất đang suy tàn.

Nay chính là lúc những con người hiện đại như chúng ta đóng góp suy nghĩ cho các vấn đề tâm linh, dù chúng ta không có thì giờ ngồi trên một tọa cụ, dù chúng ta bị những người mang tràng hạt ở cổ lánh xa, và dù chúng ta bối rối khi trình bày những kiến thức tôn giáo cho những người bạn trần thế.

Sự quán tưởng về bản chất vô thường của mọi sự vật mà chúng ta thể nghiệm và về hậu quả khổ đau của sự chấp ngã mang lại an bình và hài hòa – nếu không phải cho toàn thế giới thì ít ra cũng cho phần bên trong của chính bạn.

Hễ chừng nào bạn chấp nhận và thực hành bốn chân lý này, bạn là một “Phật tử thực hành”, bạn có thể đọc về bốn sự thật này để nhằm giải trí hay thực tập tâm thức, nhưng nếu bạn không thực hành chúng thì bạn giống như một người bệnh đọc nhãn hiệu trên chai thuốc chứ không bao giờ dùng thuốc. Mặt khác, nếu bạn đang thực hành thì cũng không cần phải tỏ ra rằng bạn là Phật tử.

Thực ra, nếu bạn được mời giữ một số chức vụ xã hội thì tốt nhất là bạn không nên để lộ bạn là một Phật tử. Nhưng bạn hãy nhớ kỹ rằng là một người Phật tử, bạn có nhiệm vụ tránh tối đa việc gây hại những người khác, và giúp đỡ tối đa những người khác. Đấy không phải là một trách nhiệm lớn lao, vì nếu bạn chấp nhận và quán tưởng một cách đích thực các sự thật này thì tất cả các hành tác này sẽ tự nhiên trôi chảy.

Cũng rất quan trọng khi hiểu rằng là một Phật tử bạn không có nhiệm vụ hay bổn phận phải cải đạo phần còn lại của thế giới sang đạo Phật. Các Phật tử và đạo Phật là hai thứ khác nhau, giống như những người ủng hộ dân chủ và chế độ dân chủ. Tôi chắc chắn rằng nhiều Phật tử đã làm nhiều điều gây phiền phức cho chính họ và cho những người khác.

Nhưng điều đáng khích lệ là cho đến nay các Phật tử đã không gây chiến hay cướp phá đền chùa của các tôn giáo với danh nghĩa Đức Phật nhằm mục đích thu phục tín đồ. Là một Phật tử, bạn phải gắn bó với chủ trương này: Một Phật tử phải không bao giờ tham gia hay khuyến khích sự đổ máu với danh nghĩa Phật giáo. Bạn không thể giết ngay cả một con côn trùng, huống hồ là một con người.

Và nếu bạn biết được một cá nhân Phật tử hay một nhóm làm điều ấy, thì là một Phật tử, bạn phải chống đối và lên án họ. Nếu bạn giữ im lặng, bạn không chỉ không làm nản lòng họ mà căn bản bạn là một người trong bọn họ. Bạn không phải là một Phật tử. Cảm tạ Nói về các sự vật hữu vi, tôi muốn nói rằng người ta không phải tìm kiếm đâu nữa một thí dụ tốt. Cuốn sách này là một thí dụ toàn hảo về các hiện tượng hữu vi.

Mặc dù một số thí dụ có thể mới mẻ, luận lý căn bản và tiền đề của những lý lẽ và những thứ tương tự là những gì vốn đã được giảng dạy. Tôi đã quyết định chẳng cần phải hổ thẹn mà lấy cắp những ý tưởng từ những giáo lý của Đức Phật và các đồ đệ xa xưa của Ngài, và nhất là của các bậc thầy như Đại sĩ Guru Rinpoche Padmasambhava, chư Đại sư Longchenpa Milarepa, Gampopa, Sakya Pandita, Rigzin Jigme Lingpa, và Patrul Rinpoche.

Do đó, những ai đã tìm thấy chút cảm hứng nên bỏ ra đôi phần cố gắng để được biết một vài tác phẩm của các bậc thầy này. Tôi phải nêu ra đây rằng nếu có những lỗi lầm hay sai lạc nghiêm trọng về từ ngữ hay về nghĩa, thì đấy là hoàn toàn do chính tôi làm nên; và trong khi có những lời bình luận thú vị về cuốn sách này, tôi cũng nghĩ rằng như thế là phí thì giờ của quý vị.

Thực ra, cuốn sách này ít nhất cũng có thể được xem là nỗ lực của Noa Jones, không chỉ với tư cách biên tập mà còn vì chị đã tình nguyện làm vật thí nghiệm “xa lạ đối với triết học Phật giáo”. Cho nên, sự ghi nhận và biết ơn to lớn của tôi xin dành cho chị. Cũng vậy, tôi phải ghi ơn Jessie Wood với đôi mắt sắc sảo như chim đại bàng, đã đảm nhận việc chấm câu.

Tôi cũng phải cảm ơn tất cả bằng hữu của tôi: những thanh thiếu niên, học giả, người từng trải, và các nhà tư tưởng – về việc đưa ra những lập luận rất thách thức giúp cuốn sách này được hình thành. Cuốn sách này được thai nghén trong một quán cà phê rất hiện đại ở Ubud Bali, một thời đã là vương quốc huy hoàng của những tín đồ Ấn giáo; và thành hình giữa cánh rừng cóc nhái và tuyết tùng trên bờ bồ Daisy; và được hoàn thành ở trong rặng Hi Malaya.

Mong sao nó mang đôi phần kỳ lạ.