Khí Công Thiền Định — Tiểu Chu Thiên
Lời Tựa và Lời Cảm Tạ
Đừng sợ hãi!
Dám thách thức…
Dám chấp nhận…
Dám mơ ước…
— Dám bước ra khỏi cái khuôn của truyền thống —
— được tự do khỏi sự trói buộc của tinh thần —
“Nhà triết học phải là một người sẵn sàng lắng nghe mọi gợi ý, nhưng quyết tâm tự mình phán xét. Người ấy không nên bị thiên vị bởi bề ngoài, không có giả thuyết nào được ưu ái, không thuộc trường phái nào, và trong học thuyết không có bậc thầy nào. Người ấy không nên nể vì con người, mà nể vì sự vật. Chân lý phải là mục tiêu hàng đầu của người ấy. Nếu vào những phẩm chất ấy lại thêm vào sự cần cù, thì người ấy thực sự có thể hy vọng được bước đi bên trong bức màn của đền thờ Tự Nhiên.”
— Michael Faraday (1791-1867)
Lưu ý của nhà xuất bản: Tác giả và nhà xuất bản của tài liệu này KHÔNG CHỊU TRÁCH NHIỆM dưới bất kỳ hình thức nào đối với bất kỳ chấn thương nào có thể xảy ra qua việc đọc hay làm theo các hướng dẫn trong sách này. Các hoạt động, dù thuộc thể chất hay không, được mô tả trong tài liệu này có thể quá sức hoặc nguy hiểm đối với một số người, và người đọc nên tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi tập luyện.
Lời Ghi Chú Của Biên Tập Viên
David Silver
Thầy Dương, Tuấn Minh (Yang, Jwing-Ming) đã lấy làm mục đích của đời mình việc nghiên cứu và dịch thuật tất cả những cổ thư hiện còn liên quan đến các đề tài khí công và sự tu dưỡng nội tại. Nền tảng khoa học sâu rộng của thầy, kết hợp với sự huấn luyện của thầy trong các môn võ thuật Nhu (Thái Cực), Cương (Trường Quyền), và Nhu-Cương (Bạch Hạc), ban cho thầy một cái nhìn toàn diện về các đề tài sinh lý học con người, năng lượng điện từ của vũ trụ, và mối quan hệ giữa chúng.
Các cổ thư về Phật giáo, Đạo giáo, khí công và võ thuật thường là những mảnh vụn; mỗi tài liệu chỉ bàn về một khía cạnh nào đó của sự tu luyện, từ nhãn quan riêng biệt của tác giả, dựa trên kinh nghiệm và sự chiêm nghiệm của người ấy. Những tài liệu này thực sự nằm trong số những di vật quý giá nhất của lịch sử nhân loại, đôi khi được truyền lại dưới dạng những bài ca, bài kệ, truyền từ thầy sang trò. Bởi vì nhiều tài liệu chỉ là một mảnh của bức tranh toàn thể, nên khí công và thiền định thường bị hiểu lầm, hoặc được truyền lại dưới một hình thức không trọn vẹn. Trong nỗ lực bảo tồn kho tri thức tích lũy này, hầu hết các tác phẩm của thầy Dương được viết như một tài liệu độc lập, cung cấp cho độc giả trên toàn thế giới một cái nhìn tổng quát hoàn chỉnh về đề tài, trong khi thầy đang hướng tới một “Lý Thuyết Thống Nhất Về Khí Công.”
Một số chương trong cuốn sách này đưa ra những thông tin đã được bàn đến trong các tác phẩm trước đây của thầy Dương. Nếu bạn đã thực sự thấm nhuần những thông tin ấy rồi, bạn được khuyến khích tiến thẳng sang các chương sau. Tuy nhiên, vì công cuộc nghiên cứu không mệt mỏi của thầy Dương vẫn tiếp tục, cái nhìn của thầy cứ mở rộng mãi, và độc giả có thể có lợi khi khiêm tốn đọc lại từng chương, lại hoàn toàn đắm mình vào đề tài, bắt đầu từ những khái niệm và lý thuyết tổng quát nhất. Thầy Dương vốn hay trách các học trò của mình vì sao lãng sự huấn luyện căn bản, thường nói: “Đừng làm Jedi quá sớm”.
Nhiều trung tâm văn hóa và tâm linh đã bị hủy diệt trong thời chiến. Không thể biết bao nhiêu tri thức và bao nhiêu tác phẩm đã bị mất đi vĩnh viễn. Không thể biết tương lai nào đang chờ đón nhân loại, nhân loại đang giữ gì cho chính mình, hay bao nhiêu phần trong kho thông tin khoa học và tâm linh ngày nay sẽ còn sống sót.
Tôi chia sẻ hy vọng của thầy Dương rằng các đề tài có liên hệ mật thiết với nhau là khí công, thiền định và điện sinh học con người sẽ tiếp tục được nghiên cứu, và sẽ trở thành một trọng tâm quan trọng của sự nghiên cứu khoa học, y học và tâm linh. Trong 100 hay 500 năm nữa, tình trạng trên Trái Đất (và trên các hành tinh khác) sẽ khác biệt đến mức gần như không thể hình dung nổi. Chúng ta phải hy vọng rằng đến lúc ấy mọi sự đã đổi thay theo hướng tốt đẹp hơn; rằng nhân loại đã tái khám phá ra nền tâm linh chung của mình, đã mở lại con mắt thứ ba, và đã tạo dựng được một xã hội toàn cầu cân bằng và hòa bình.
Nếu không, tôi hy vọng có ai đó sẽ tìm thấy cuốn sách này.
David Silver
Boston, tháng Tư năm 2005
Lời Tựa
Thomas G. Gutheil, MD
“Khí công là một khoa học của cảm giác nội tại, liên quan đến sự tu dưỡng tinh thần.”
Định nghĩa này có thể khiến độc giả Tây phương thấy hơi lạ lẫm, bởi nó kết hợp một khái niệm Đông phương về năng lượng sinh học với ý niệm về khoa học, cùng với cảm giác và tính tâm linh — những khái niệm mà trong tư duy Tây phương thường tách biệt hoàn toàn. Nhưng chính tinh túy của khí công là sự hợp nhất những vấn đề thể chất, tinh thần và tâm linh vào trong một môn phái duy nhất.
Y học Tây phương mới chỉ bắt đầu khám phá vai trò của thiền định dưới nhiều hình thức khác nhau như một phương pháp bổ trợ chính đáng cho những phương pháp khác. Khái niệm được gọi là chánh niệm (mindfulness), trong đó thiền định gồm sự tập trung vào hơi thở và nỗ lực làm rỗng tâm trí khỏi tư duy tuyến tính, là một ứng dụng hiện đại như thế. Tuy không còn phổ biến như trước, thiền siêu việt (transcendental meditation) là một hình thức khác. Thái Cực, đôi khi được mô tả như thiền trong động, dĩ nhiên là một trong những hình thức cổ xưa nhất nhưng đang hưởng một sự hồi sinh trong thời hiện đại, ngay cả trong y học thay thế, nơi nó được dùng để hỗ trợ một số vấn đề y khoa như cao huyết áp và loét dạ dày. Du-già (yoga) cũng được thực hành, đôi khi kết hợp với sự thực hành chánh niệm, để đạt được một số trạng thái an tịnh tương tự. Sau cùng, trong giới khoa học, những nghiên cứu về cái gọi là phản ứng thư giãn (relaxation response) là một hình thức khác mà phương pháp này có thể mang lấy trong thực hành hiện tại. Tạo ra những kết quả từ cảm giác hài hòa và an tịnh nội tại cho đến sự hạ huyết áp thực sự, những kỹ thuật này đã dần dần tìm được chỗ đứng trong nhận thức phổ thông và trong các lĩnh vực chữa lành.
Trong tác phẩm này, tiến sĩ Dương, Tuấn Minh tiếp tục công trình suốt đời, với năng suất đáng kinh ngạc, là khai quật những cổ thư Trung Hoa bị giấu kín, bí mật, thất lạc hoặc không thể tiếp cận bằng cách khác, và dịch chúng cho độc giả trên toàn thế giới. Cuốn sách hiện tại cũng nằm trong một loạt tác phẩm khảo sát hầu như mọi khía cạnh của khí công, từ cội nguồn cho đến những ứng dụng thực tiễn của nó (xem thư mục). Hơn nữa, tập sách này đại diện cho một sự cập nhật hóa sự hiểu biết về những nguyên lý căn bản của khí công kể từ khi các tập sách đi trước được xuất bản.
Dựa trên nền tảng của sự thực hành khí công Nội Đan (Internal Elixir), cuốn sách này đưa người đọc lên một cấp độ cao hơn của sự tu dưỡng tinh thần. Đi từ một cái nhìn tổng quát về đề tài, thầy Dương dẫn người đọc đi qua sự huấn luyện thiền định; rồi đến những chi tiết cụ thể của Tiểu Chu Thiên, và sau đó là một cái nhìn hướng về sự phát triển tương lai của đề tài.
Trong khi vẫn giữ nguyên ngôn ngữ đầy màu sắc và giàu ẩn dụ của các nguyên bản, tiến sĩ Dương làm cho đề tài phức tạp này trở nên dễ tiếp cận và hữu dụng đối với độc giả hay người thực hành có quan tâm. Một bảng thuật ngữ hữu ích càng làm tăng sự dễ tiếp cận ấy. Nhờ đó, độc giả suy tư có thể đạt được một sự hiểu biết sâu sắc về những khoa học căn bản của khía cạnh thực hành khí công này.
Thomas G. Gutheil, M.D.
Trường Y Harvard
Lời Nói Đầu
Một số bạn hữu đã hỏi làm sao tôi có thì giờ và năng lượng để đạt được sự tinh thông trong ba môn phái võ thuật Trung Hoa, đồng thời lấy được bằng Thạc sĩ Vật Lý và Tiến sĩ Cơ Khí Học. Lý do chính khiến tôi có thể đạt được mỗi mục tiêu mình đề ra là tôi đã học được cách tập trung tư tưởng qua thiền định. Tôi đã thực hành và nghiên cứu thiền định từ năm mười bảy tuổi. Tôi có thể thư giãn bất cứ khi nào căng thẳng, và có thể suy ngẫm sâu sắc khi cần đến. Thiền định đem lại cho tôi một thế giới khác — thế giới của sự nhận thức tâm linh, khiến tôi xây dựng được lòng tự tin, sự trí tuệ và một sự hiểu biết tốt đẹp hơn về thế giới.
Thiền Tiểu Chu Thiên (Tiểu Chu Thiên Tĩnh Tọa, Xiao Zhou Tian Jing Zuo) đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ nay khắp phương Đông, gồm Trung Hoa, Ấn Độ, bán đảo Đông Dương, Triều Tiên và Nhật Bản. Theo các cổ thư từ các tự viện Phật giáo và Đạo giáo, nếu một người thực hành đúng cách dưới sự hướng dẫn của một vị thầy, có thể chỉ cần 90 ngày để học cách vận chuyển Khí trên con đường Tiểu Chu Thiên của Nhâm mạch và Đốc mạch. Nhưng tôi đã không đạt được mục tiêu ấy cho đến khi 24 tuổi, bởi vì tôi còn trẻ, và không biết lý thuyết và kỹ thuật đúng đắn. Thông tin tài liệu thì thưa thớt, nên tôi đã hỏi các thầy Bạch Hạc và Thái Cực Quyền của mình. Vì thiếu kinh nghiệm giảng dạy thực tế, họ từ chối hướng dẫn tôi. Họ chỉ đơn giản khuyên tôi đừng tiếp tục vì sự nguy hiểm liên quan. Tôi không thể làm cho tâm mình tĩnh lại để thực hành, do việc học và sự tập luyện võ thuật. Từ 15 đến 19 tuổi, ngoài việc học, tôi tập Thái Cực Quyền vào sáng sớm và Bạch Hạc vào mỗi buổi tối. Sự thực hành thiền định của tôi bị thiệt thòi vì vậy.
Tôi hoàn tất bằng Thạc sĩ khoa học tại Đại học Đài Loan. Lúc ấy tôi 23 tuổi. Thông tin về thiền định bắt đầu được công bố cho công chúng, và cuối cùng tôi có thể hiểu được một phần lý thuyết. Rồi tôi bị động viên vào Không quân với tư cách giáo viên vật lý quân sự. Tôi có nhiều thì giờ và ít áp lực, nên tôi có thể làm cho tâm mình tĩnh lại và đem tất cả sự hiểu biết của mình vào việc thực hành mỗi ngày suốt cả năm. Tôi đã hoàn tất con đường Tiểu Chu Thiên vào mùa hè năm ấy, và tiếp tục cho đến khi tôi lập gia đình ở tuổi 27.
Sau khi lập gia đình, cuộc sống của tôi rất khác biệt và khó khăn, và việc thiền định của tôi bị gián đoạn. Tôi sang Hoa Kỳ năm 1974 để học tiến sĩ. Tôi có thực hành một ít, nhưng không thể tiến xa hơn, do môi trường mới và áp lực của việc học. Tôi chỉ dùng thiền định để làm dịu tâm trí đang bối rối của mình. Năm sau, vợ tôi từ Đài Loan sang đoàn tụ với tôi, và trong năm tiếp theo, chúng tôi mất đứa con đầu lòng. Một lần nữa tôi ngưng thiền định. Tôi buồn bã và thất vọng. Thiền định vốn là một phần của đời tôi và nay tôi không thể tiếp tục. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ tại Purdue năm 1978, con trai đầu của tôi ra đời, rồi đến con gái tôi, tiếp theo là con trai thứ hai. Áp lực tài chính để nuôi gia đình quá lớn, tôi hầu như quên mất niềm vui và sự bình an mà thiền định có thể đem lại. Nhưng dù không thể thực hành, tôi đã không từ bỏ, và bắt đầu sưu tầm các tài liệu khí công. Từ năm 1980, nhiều tài liệu khí công ẩn giấu bắt đầu được công bố. Tôi nghiên cứu chúng và đào sâu sự hiểu biết của mình về đề tài này.
Để theo đuổi giấc mơ của mình, tôi từ chức công việc kỹ sư năm 1984 và dồn nỗ lực vào việc viết lách và nghiên cứu. Cuộc sống thật tuyệt và áp lực công việc không còn nữa, nhưng thực tế tài chính của việc nuôi gia đình làm tôi lo lắng đến mức nhiều khi không thể ngủ được ban đêm. Tôi bị viêm phổi vào mùa xuân năm 1984. Không có bảo hiểm y tế, tôi không đi khám bác sĩ. Một học trò của tôi đang học y khoa đến thăm và bảo tôi bị viêm phổi đã gần hai tháng, và đã gần kề cái chết. Người anh nha sĩ của tôi ở Đài Loan gửi cho tôi ít thuốc kháng sinh, và hai tuần sau cơn sốt tái phát của tôi biến mất. Ba tháng sau, tôi xuất bản cuốn sách khí công đầu tiên của mình, Chi Kung—Health and Martial Arts. Ấn bản mới được gọi là Qigong for Health and Martial Arts. Thật ngạc nhiên, cuốn sách này bắt đầu mang lại một ít thu nhập, và tôi có thể mỉm cười trở lại.
Từ năm 1984, tôi tiếp tục đọc, nghiên cứu và khảo cứu. Nhiều sách và cổ thư hơn nữa được công bố tại Đài Loan và Trung Hoa lục địa. Nửa sau của thập niên 1980 trở thành giai đoạn vui sướng nhất của đời tôi, khi nhiều tài liệu ẩn giấu hơn nữa được tiết lộ. Những tài liệu quý giá nhất đối với tôi là các bí điển Dịch Cân Kinh (Yi Jin Jing, Cân/Cơ Thay Đổi) và Tẩy Tủy Kinh (Xi Sui Jing, Tủy/Não Tẩy Tẩy), được cho là do Đạt Ma (Da Mo) viết vào khoảng năm 500 sau Công nguyên tại chùa Thiếu Lâm. Những bí điển này rất thâm sâu. Đối với nhiều người thực hành khí công, lý thuyết của chúng vẫn mờ tối, nhưng đối với tôi, chúng là tri thức quý giá nhất mà tôi từng nhận được.
Khi nghiên cứu chúng, tôi khám phá ra phần bị thiếu của sự thực hành khí công, đó là mặt Âm của nó. Một phần bí mật của Dịch Cân Kinh (mặt Dương) trước đây đã được tiết lộ qua võ thuật Thiếu Lâm, nhưng Tẩy Tủy Kinh (mặt Âm) thì chưa. Hai bộ kinh điển này là hai mặt, Âm và Dương, của cùng một sự huấn luyện khí công. Cả hai đều cần thiết để đạt đến giác ngộ hay quả vị Phật. Dịch Cân Kinh xây dựng và vận chuyển Khí khắp cơ thể để làm cho nó mạnh lên (mặt Dương). Tẩy Tủy Kinh dẫn Khí tích lũy từ Hạ Đan Điền Chân (Chân Hạ Đan Điền, Zhen Xia Dan Tian) vào tủy xương, và cũng đưa lên để nuôi dưỡng các tế bào não cho sự giác ngộ tâm linh (mặt Âm).
Để tích lũy Khí dồi dào cho việc huấn luyện Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh, trước tiên phải thực hành Thiền Tiểu Chu Thiên. Đây là nền tảng của Khí Công Nội Đan (Nei Dan Qigong), thiếu nó thì Khí sẽ quá yếu để xây dựng sức mạnh thể chất hay để nuôi dưỡng sự giác ngộ tâm linh.
Để thấu hiểu trọn vẹn lý thuyết và sự huấn luyện trong những tài liệu này, tôi phải dồn tất cả nỗ lực của mình vào đó. Điều đó có nghĩa là viết sách về nó. Qua việc dịch các tài liệu, tôi bị buộc phải suy ngẫm ý nghĩa của từng chữ. Nó cũng buộc tôi phải tìm những thông tin liên quan để gỡ những nút thắt. Nỗ lực của tôi đã kết trái qua việc xuất bản các cuốn sách The Root of Chinese Qigong và Qigong—The Secret of Youth (trước đây có tên Muscle/Tendon Changing and Marrow/Brain Washing Chi Kung).
Từ năm 1984, vô số tài liệu khí công, được viết bởi hàng trăm chuyên gia khí công cổ đại trong suốt bốn ngàn năm qua, đã được biên soạn và xuất bản tại Trung Hoa lục địa. Đó là một nguồn vui sâu sắc đối với tôi. Tôi cảm thấy mình thật may mắn được sinh ra vào thời điểm này, không chỉ vì được tiếp cận với những tài liệu ấy, mà còn vì có một nền tảng khoa học vững chắc để hiểu và phân tích chúng. Nhờ sự giao lưu được tăng cường giữa Đông và Tây, sự quan tâm lớn lao đối với môn nghệ thuật năng lượng nội tại này cũng đã được khơi dậy trong xã hội Tây phương.
Càng viết nhiều sách, tôi càng hiểu sâu môn nghệ thuật này. Sứ mệnh của đời tôi là trình bày tri thức khí công của mình bằng các ngôn ngữ Tây phương. Tất cả các con tôi nay đã lớn khôn, và tình hình tài chính của tôi đã ổn định. Tôi tiếp tục trở lại thực hành thiền định vào năm 1992, và có thể áp dụng sự hiểu biết của mình về lý thuyết khí công vào sự thực hành. Trong phần đời còn lại, tôi dự định sẽ vui hưởng việc đọc và hiểu những tài liệu khí công này, thành quả của bốn ngàn năm cảm nhận và tu dưỡng tâm linh của con người. Điều đó sẽ làm cho đời tôi có ý nghĩa và hạnh phúc.
Tôi đã dạy Tiểu Chu Thiên tại Hoa Kỳ từ năm 1981. Sau hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy, tôi đã cải biến một số phương pháp thực hành truyền thống, để làm cho chúng an toàn hơn và thích hợp hơn với những người thực hành trong xã hội hiện đại. Trong cuốn sách này, tôi chia sẻ những phương pháp ấy với bạn. Tuy nhiên, bất kỳ cuốn sách nào cũng chỉ có thể đưa ra một ý kiến từ nhãn quan của người viết. Chính bạn là người phải sưu tầm thêm sách, đọc và lĩnh hội chúng, và cuối cùng đi đến một lý thuyết khoa học nhất quán và một phương pháp thực hành thích hợp với lối sống của mình.
Cuốn sách này đề cập đến những tư liệu mới mang tính sống còn, gồm những thông tin và nhận thức được cập nhật về các đề tài đã được đề cập trong những cuốn sách trước. Nó tập trung vào sự thảo luận sâu sắc về lý thuyết và thực hành của Tiểu Chu Thiên. Các phương pháp huấn luyện truyền thống và các phương pháp được cải biến đều được so sánh và phân tích. Miễn là bạn giữ được sự khiêm tốn, và chịu khó đọc và suy ngẫm cẩn thận và thành tâm, bạn sẽ đạt được mục tiêu của Tiểu Chu Thiên mà không gặp rủi ro. Bạn cũng nên thảo luận đề tài này với những người thực hành có kinh nghiệm.
Phần đầu của cuốn sách ôn lại những khái niệm và lý thuyết tổng quát của khí công. Trong phần hai, các thủ tục và lý thuyết huấn luyện thiền định truyền thống được tóm tắt, để cho thấy những người thiền định khí công truyền thống đã đạt đến mục tiêu giác ngộ như thế nào. Phần ba bàn về lý thuyết và thực hành của Tiểu Chu Thiên, đặc biệt là Thai Tức (Tai Xi), cội nguồn của mọi sự thực hành Khí Công Nội Đan. Có hơn 100 cổ thư bàn về đề tài quan trọng này. Để có một sự thảo luận sâu sắc hơn về đề tài này, xin tham khảo cuốn sách trước của tôi, Qigong Meditation—Embryonic Breathing. Trong Phần IV, chúng tôi bàn về sự liên quan của đề tài này đối với xã hội.
Dr. Yang, Jwing-Ming
Lời Cảm Tạ
Cám ơn Tim Comrie về nhiếp ảnh và dàn trang, cám ơn Kyle McCauley về sự giúp đỡ chung, và cám ơn Erik Elsemans, David Silver, Roger Whidden cùng Leslie Takao về việc đọc duyệt bản thảo và đóng góp những gợi ý quý báu. Cám ơn Tony Richard Chee về các bản vẽ và thiết kế bìa. Đặc biệt cám ơn Keith Brown về lần biên tập đầu tiên, và David Silver về lần biên tập cuối cùng. Đặc biệt cám ơn Tiến sĩ Thomas G. Gutheil về lời tựa.
Về Cách Latinh Hóa Tiếng Trung
Cuốn sách này sử dụng hệ thống latin hóa Pinyin cho tiếng Trung. Pinyin là tiêu chuẩn tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và trong nhiều tổ chức thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc. Pinyin, được giới thiệu tại Trung Hoa vào thập niên 1950, thay thế cho các hệ thống Wade-Giles và Yale. Trong một số trường hợp, cách viết thông dụng hơn của một từ có thể được dùng để cho rõ nghĩa.
| Pinyin | Cũng được viết là |
|---|---|
| Qi | Chi |
| Qigong | Chi Kung |
| Qin Na | Chin Na |
| Jin | Jing |
| Gongfu | Kung Fu |
| Taijiquan | Tai Chi Chuan |
Để biết thêm chi tiết, xin tham khảo The Peoples Republic of China: Administrative Atlas, The Reform of the Chinese Written Language, hoặc một cẩm nang về văn phong đương đại.
Tác giả và nhà xuất bản đã tự cho phép mình không in nghiêng những từ có nguồn gốc ngoại lai trong văn bản này. Quyết định này được đưa ra để làm cho văn bản dễ đọc hơn. Xin xem bảng thuật ngữ toàn diện để biết định nghĩa của các từ Trung Hoa.
Về Tác Giả
Dr. Yang, Jwing-Ming, Ph.D
Tiến sĩ Dương, Tuấn-Minh sinh ngày 11 tháng Tám năm 1946 tại Tân Trúc, Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc. Thầy bắt đầu huấn luyện Võ thuật (Wushu, Công phu) năm mười lăm tuổi dưới sự hướng dẫn của thầy Trịnh Cần-Thảo (Cheng, Gin-Gsao, 1911-1976), một vị sư phụ Bạch Hạc (Bai He) Thiếu Lâm. Hồi còn nhỏ, thầy Trịnh đã học Thái Tổ Quyền (Taizuquan) từ ông nội mình, và năm mười lăm tuổi bắt đầu học Bạch Hạc với thầy Kim Thiệu-Phong (Jin, Shao-Feng), theo thầy hai mươi ba năm cho đến khi thầy Kim qua đời.
Trong mười ba năm học tập (1961-1974) dưới thầy Trịnh, tiến sĩ Dương trở thành một chuyên gia trong môn Bạch Hạc của võ thuật Trung Hoa, gồm cả việc sử dụng tay không và các binh khí khác nhau như đao, côn, thương, xoa, hai đoản côn và nhiều binh khí khác. Cùng với vị thầy ấy, thầy cũng học Khí Công Bạch Hạc, Cầm Nã (Qin Na), Thôi Nã (Tui Na) và Điểm Huyệt (Dian Xue) xoa bóp, cùng trị liệu bằng thảo dược.
Năm mười sáu tuổi, thầy bắt đầu học Thái Cực Quyền phái Dương với thầy Cao Đào (Gao, Tao). Sau đó thầy tiếp tục học Thái Cực Quyền với nhiều vị sư phụ và các bậc tiền bối như thầy Lý Mậu-Thanh (Li, Mao-Ching) và ông Trần (Wilson Chen) tại Đài Bắc. Thầy Lý học Thái Cực Quyền với vị thầy nổi tiếng Hàn Khánh-Đường (Han, Ching-Tang), còn ông Trần học với thầy Trương Tường-Tam (Zhang, Xiang-San). Tiến sĩ Dương đã tinh thông bài quyền tay không của Thái Cực, đẩy thủ (pushing hands), bài đối luyện hai người, Thái Cực kiếm, Thái Cực đao và Thái Cực Khí Công.
Năm mười tám tuổi, thầy vào Đạm Giang Học Viện (Tamkang College) tại Đài Bắc huyện để học Vật Lý. Trong thời gian ở đại học, thầy bắt đầu học Trường Quyền (Changquan) Thiếu Lâm truyền thống với thầy Lý Mậu-Thanh tại Câu Lạc Bộ Quốc Thuật của Đạm Giang Học Viện (1964-1968), và trở thành huấn luyện viên phụ tá dưới thầy Lý. Năm 1971, thầy hoàn tất bằng Thạc sĩ Vật Lý tại Đại học Quốc gia Đài Loan, rồi phục vụ trong Không quân Trung Hoa từ 1971 đến 1972. Tại đó thầy dạy Vật Lý ở Học viện Sơ cấp của Không quân Trung Hoa trong khi cũng dạy Võ thuật. Được giải ngũ một cách danh dự năm 1972, thầy trở lại Đạm Giang Học Viện để dạy Vật Lý và tiếp tục học dưới thầy Lý Mậu-Thanh. Từ thầy Lý, thầy học được võ thuật Bắc phái, gồm kỹ thuật tay không và cước pháp, cùng nhiều binh khí.
Năm 1974, thầy sang Hoa Kỳ để học cơ khí học tại Đại học Purdue. Theo yêu cầu của một số học trò, thầy bắt đầu dạy Công phu, thành lập Câu Lạc Bộ Nghiên Cứu Công Phu Trung Hoa của Đại học Purdue vào năm 1975. Thầy cũng dạy các khóa học có tín chỉ đại học về Thái Cực Quyền. Tháng Năm năm 1978, thầy được Purdue cấp bằng Tiến sĩ Cơ Khí Học.
Năm 1980, tiến sĩ Dương chuyển đến Houston để làm việc cho Texas Instruments, và thành lập Học Viện Kung Fu Thiếu Lâm Dương Thị (Yang’s Shaolin Kung Fu Academy), hiện do đệ tử Jeffery Bolt điều hành. Năm 1982, thầy chuyển đến Boston và thành lập Học Viện Võ Thuật Dương Thị (Yang’s Martial Arts Association, YMAA). Năm 1984, thầy từ bỏ sự nghiệp kỹ sư để hiến dâng mình cho nghiên cứu, viết lách và giảng dạy. Năm 1986, thầy mua một cơ sở tại khu Jamaica Plain của Boston làm trụ sở của YMAA. Tổ chức này đã phát triển, và năm 1989 YMAA trở thành một bộ phận của Hiệp Hội Nghệ Thuật Đông Phương Dương Thị (Yang’s Oriental Arts Association, Inc., YOAA, Inc.).
Tóm lại, tiến sĩ Dương đã tham gia võ thuật Trung Hoa từ năm 1961. Thầy đã dành mười ba năm để học Bạch Hạc Thiếu Lâm (Bai He), Trường Quyền Thiếu Lâm (Changquan) và Thái Cực Quyền. Thầy đã giảng dạy hơn ba mươi sáu năm, bảy năm tại Đài Loan, năm năm tại Đại học Purdue, hai năm tại Houston, và hai mươi hai năm tại Boston.
Thầy đã trình bày các khóa tu học trên khắp thế giới để chia sẻ tri thức của mình về võ thuật và khí công Trung Hoa. Thầy đã đến thăm Argentina, Áo, Barbados, Botswana, Bỉ, Bermuda, Canada, Trung Hoa, Chile, Anh, Ai Cập, Pháp, Đức, Hà Lan, Qatar, Nam Phi, Thụy Sĩ và Venezuela.
YMAA là một tổ chức quốc tế, gồm 56 trường tại Argentina, Bỉ, Canada, Chile, Pháp, Hà Lan, Hungary, Iran, Ireland, Ý, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nam Phi, Vương quốc Anh, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ. Các cuốn sách, băng video và DVD của tổ chức này đã được dịch sang tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan, Séc, Bulgaria, Nga, Hungary và Farsi.
Tiến sĩ Dương đã xuất bản ba mươi mốt cuốn sách khác về võ thuật và khí công:
- Shaolin Chin Na; Unique Publications, Inc., 1980.
- Shaolin Long Fist Kung Fu; Unique Publications, Inc., 1981.
- Yang Style Tai Chi Chuan; Unique Publications, Inc., 1981.
- Introduction to Ancient Chinese Weapons; Unique Publications, Inc., 1985.
- Qigong for Health and Martial Arts; YMAA Publication Center, 1985.
- Northern Shaolin Sword; YMAA Publication Center, 1985.
- Tai Chi Theory and Martial Power; YMAA Publication Center, 1986.
- Tai Chi Chuan Martial Applications; YMAA Publication Center, 1986.
- Analysis of Shaolin Chin Na; YMAA Publication Center, 1987. Ấn bản thứ hai — Analysis of Shaolin Chin Na, 2004.
- Eight Simple Qigong Exercises for Health; YMAA Publication Center, 1988.
- The Root of Chinese Qigong—The Secrets of Qigong Training; YMAA Publication Center, 1989.
- Qigong—The Secret of Youth; YMAA Publication Center, 1989.
- Xingyiquan—Theory and Applications; YMAA Publication Center, 1990.
- The Essence of Taiji Qigong—Health and Martial Arts; YMAA Publication Center, 1990.
- Qigong for Arthritis; YMAA Publication Center, 1991. Ấn bản thứ ba — Arthritis Relief, 2005.
- Chinese Qigong Massage—General Massage; YMAA Publication Center, 1992. Ấn bản thứ hai — Qigong Massage, 2005.
- How to Defend Yourself; YMAA Publication Center, 1992.
- Baguazhang—Emei Baguazhang; YMAA Publication Center, 1994.
- Comprehensive Applications of Shaolin Chin Na—The Practical Defense of Chinese Seizing Arts; YMAA Publication Center, 1995.
- Taiji Chin Na—The Seizing Art of Taijiquan; YMAA Publication Center, 1995.
- The Essence of Shaolin White Crane; YMAA Publication Center, 1996.
- Back Pain—Chinese Qigong for Healing and Prevention; YMAA Publication Center, 1997. Ấn bản thứ hai — Back Pain Relief, 2004.
- Ancient Chinese Weapons; YMAA Publication Center, 1999.
- Taijiquan—Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 1999.
- Tai Chi Secrets of Ancient Masters; YMAA Publication Center, 1999.
- Taiji Sword—Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 1999.
- Tai Chi Secrets of Wu and Li Styles; YMAA Publication Center, 2001.
- Tai Chi Secrets of Yang Style; YMAA Publication Center, 2001.
- Tai Chi Secrets of Wu Style; YMAA Publication Center, 2002.
- Taijiquan Theory of Dr. Yang, Jwing-Ming; YMAA Publication Center, 2003.
- Qigong Meditation—Embryonic Breathing; YMAA Publication Center, 2004.
Thầy cũng đã xuất bản các băng video và DVD sau đây:
Băng Video
- Yang Style Tai Chi Chuan and Its Applications; YMAA Publication Center, 1984.
- Shaolin Long Fist Kung Fu—Lien Bu Chuan (Lian Bu Quan) and Its Applications; YMAA Publication Center, 1985.
- Shaolin Long Fist Kung Fu—Gung Li Chuan (Gong Li Quan) and Its Applications; YMAA Publication Center, 1986.
- Analysis of Shaolin Chin Na; YMAA Publication Center, 1987.
- Eight Simple Qigong Exercises for Health (Wai Dan Chi Kung Vol. 1) The Eight Pieces of Brocade; YMAA Publication Center, 1987. Ấn bản 2, 2004.
- The Essence of Tai Chi Chi Kung (Taiji Qigong); YMAA Publication Center, 1990.
- Qigong for Arthritis; YMAA Publication Center, 1991. Arthritis Relief, 2005.
- Qigong Massage—Self Massage; YMAA Publication Center, 1992.
- Qigong Massage—With a Partner; YMAA Publication Center, 1992.
- Defend Yourself 1—Unarmed Attack; YMAA Publication Center, 1992.
- Defend Yourself 2—Knife Attack; YMAA Publication Center, 1992.
- Comprehensive Applications of Shaolin Chin Na 1; YMAA Publication Center, 1995.
- Comprehensive Applications of Shaolin Chin Na 2; YMAA Publication Center, 1995.
- Shaolin Long Fist Kung Fu—Yi Lu Mai Fu & Er Lu Mai Fu; YMAA Publication Center, 1995.
- Shaolin Long Fist Kung Fu—Shi Zi Tang; YMAA Publication Center, 1995.
- Taiji Chin Na; YMAA Publication Center, 1995.
- Emei Baguazhang—1; Basic Training, Qigong, Eight Palms, and Applications; YMAA Publication Center, 1995.
- Emei Baguazhang—2; Swimming Body Baguazhang and Its Applications; YMAA Publication Center, 1995.
- Emei Baguazhang—3; Bagua Deer Hook Sword and Its Applications; YMAA Publication Center, 1995.
- Xingyiquan—12 Animal Patterns and Their Applications; YMAA Publication Center, 1995.
- 24 and 48 Simplified Taijiquan; YMAA Publication Center, 1995.
- White Crane Hard Qigong; YMAA Publication Center, 1997.
- White Crane Soft Qigong; YMAA Publication Center, 1997.
- Xiao Hu Yan—Intermediate Level Long Fist Sequence; YMAA Publication Center, 1997.
- Back Pain—Chinese Qigong for Healing and Prevention; YMAA Publication Center, 1997. Back Pain Relief, 2005.
- Scientific Foundation of Chinese Qigong; YMAA Publication Center, 1997.
- Taijiquan—Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 1999.
- Taiji Sword—Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 1999.
- Chin Na in Depth—1; YMAA Publication Center, 2000.
- Chin Na in Depth—2; YMAA Publication Center, 2000.
- San Cai Jian & Its Applications; YMAA Publication Center, 2000.
- Kun Wu Jian & Its Applications; YMAA Publication Center, 2000.
- Qi Men Jian & Its Applications; YMAA Publication Center, 2000.
- Chin Na in Depth—3; YMAA Publication Center, 2001.
- Chin Na in Depth—4; YMAA Publication Center, 2001.
- Chin Na in Depth—5; YMAA Publication Center, 2001.
- Chin Na in Depth—6; YMAA Publication Center, 2001.
- 12 Routines of Tan Tui; YMAA Publication Center, 2001.
- Chin Na in Depth—7; YMAA Publication Center, 2002.
- Chin Na in Depth—8; YMAA Publication Center, 2002.
- Chin Na in Depth—9; YMAA Publication Center, 2002.
- Chin Na in Depth—10; YMAA Publication Center, 2002.
- Chin Na in Depth—11; YMAA Publication Center, 2002.
- Chin Na in Depth—12; YMAA Publication Center, 2002.
- White Crane Gongfu—1; YMAA Publication Center, 2002.
- White Crane Gongfu—2; YMAA Publication Center, 2002.
- Taijiquan Pushing Hands—1; YMAA Publication Center, 2003.
- Taijiquan Pushing Hands—2; YMAA Publication Center, 2003.
- Taiji Saber and Its Applications; YMAA Publication Center, 2003.
- Taiji Yin & Yang Symbol Sticking Hands—1; YMAA Publication Center, 2003.
- Taiji Ball Qigong—1; YMAA Publication Center, 2003.
- Taiji Ball Qigong—2; YMAA Publication Center, 2003.
- Taijiquan Pushing Hands—3; YMAA Publication Center, 2004.
- Taijiquan Pushing Hands—4; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji & Shaolin Staff—Fundamental Training—1; YMAA Publication Center, 2004.
- Shaolin Kung Fu—1, Fundamental Training; YMAA Publication Center, 2004.
- Shaolin Kung Fu—2, Fundamental Training; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Ball Qigong—3; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Ball Qigong—4; YMAA Publication Center, 2004.
- Advanced Practical Chin Na—1; YMAA Publication Center, 2004.
- Advanced Practical Chin Na—2; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Yin & Yang Symbol Sticking Hands—2; YMAA Publication Center, 2004.
DVD
- White Crane Qigong—Hard & Soft; YMAA Publication Center, 2003.
- Taijiquan, Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 2003.
- Chin Na in Depth—5, 6, 7, 8; YMAA Publication Center, 2003.
- Chin Na in Depth—9, 10, 11, 12; YMAA Publication Center, 2003.
- Eight Simple Qigong Exercises for Health; YMAA Publication Center, 2003.
- Shaolin White Crane Gong Fu—1 & 2; YMAA Publication Center, 2004.
- Analysis of Shaolin Chin Na; YMAA Publication Center, 2004.
- Shaolin Long Fist Kung Fu—Basic Sequences; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Chin Na In-Depth—1; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Chin Na In-Depth—2; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Chin Na In-Depth—3; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji Chin Na In-Depth—4; YMAA Publication Center, 2004.
- White Crane Gongfu—3; YMAA Publication Center, 2004.
- Tai Chi Fighting Set; YMAA Publication Center, 2004.
- Taiji & Shaolin Staff—Fundamental Training—2; YMAA Publication Center, 2005.
- Taiji Wrestling—1; YMAA Publication Center, 2005.
- Taiji Wrestling—2; YMAA Publication Center, 2005.
- Chin Na in Depth—1, 2, 3, 4; YMAA Publication Center, 2003.
- Shaolin Kung Fu Fundamental Training 1 & 2; YMAA Publication Center, 2005.
- Taiji Sword, Classical Yang Style; YMAA Publication Center, 2005.
- The Essence of Taiji Qigong; YMAA Publication Center, 2005.
- Qigong Massage—Fundamental Techniques for Health and Relaxation; YMAA Publication Center, 2005.
- Taiji Pushing Hands 1 & 2—Yang Style Single and Double Pushing Hands; YMAA Publication Center, 2005.
- Taiji Pushing Hands 3 & 4—Yang Style Single and Double Pushing Hands; YMAA Publication Center, 2006.
- Tai Chi Fighting Set—Two Person Matching Set; YMAA Publication Center, 2006.
- Taiji Ball Qigong Courses 1 & 2—16 Circling and 16 Rotating Patterns; YMAA Publication Center, 2006.
Khái Niệm Tổng Quát
1-1 · Dẫn Nhập
Việc nghiên cứu và thực hành khí công đã trở nên rất phổ biến kể từ khi được đưa vào xã hội Tây phương vào thập niên 1970. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại:
- Chỉ có một số ít sách giải thích khí công một cách khoa học, kết hợp lý thuyết khoa học với kinh nghiệm cổ xưa. Vì vậy nhiều người vẫn hoài nghi về khoa học khí công.
- Ít học giả và nhà nghiên cứu khoa học chịu bỏ công sức theo đuổi và kiểm chứng khoa học khí công này. Khí công là một người mới đến trong xã hội Tây phương, và có ít kết quả khoa học thuyết phục được công bố trong các nghiên cứu và bài viết học thuật.
- Nhiều người vẫn còn bị trói buộc trong truyền thống và tôn giáo, ngăn cản họ mở tâm trí ra đón nhận một nền văn hóa tâm linh khác. Khí công là một khoa học của cảm giác nội tại và sự tu dưỡng tâm linh. Nếu một người không thể hay không dám nhảy ra khỏi cái khuôn truyền thống, người ấy không thể chấp nhận môn khoa học mà xã hội Trung Hoa và Ấn Độ đã nghiên cứu hơn bốn ngàn năm nay.
- Ít người thực hành khí công có đủ năng lực để đọc, hiểu và dịch chính xác kho tàng cổ thư khí công phong phú sang các ngôn ngữ Tây phương. Tôi ước tính chưa đến 1% các cổ thư đã được dịch sang ngôn ngữ Tây phương. Hầu hết đã được giấu kín trong các tự viện Phật giáo và Đạo giáo, và chỉ mới được tiết lộ trong những thập niên gần đây.
- Nhiều người thực hành khí công đã dùng khí công như một công cụ để lạm dụng và dẫn dắt sai lạc những người đi theo mình. Điều này đã đưa người ta vào mê tín và sự sùng bái mù quáng, khiến các học giả khoa học nghi ngờ tính chân thực của sự thực hành khí công.
Khí công Trung Hoa bắt nguồn từ hơn bốn ngàn năm kinh nghiệm trong việc chữa bệnh, phòng bệnh và tu dưỡng tâm linh. Bốn trường phái lớn đã xuất hiện: y học, văn nhân (nho sĩ), tôn giáo và võ thuật. Khí công là một tinh hoa lớn của văn hóa Trung Hoa, không thể tách rời khỏi dân tộc ấy.
Khoa học Tây phương phát triển từ sự tập trung vào thế giới vật chất. Điều gì chỉ có thể cảm nhận được thì bị coi là phi khoa học, trong khi cảm giác nội tại và sự phát triển nội tại lại bị bỏ qua. Nhưng đối với người Trung Hoa, cảm giác là một ngôn ngữ cho phép tâm và thân giao tiếp, vượt ra ngoài cơ thể để giao tiếp với thiên nhiên (trời và đất) hay với Đạo (道). Cảm giác này đã được nghiên cứu và trở thành cốt lõi của văn hóa Trung Hoa, và đặc biệt được tu dưỡng trong xã hội Phật giáo và Đạo giáo, nơi mục tiêu cuối cùng là đạt đến giác ngộ tâm linh, hay quả vị Phật. Qua hơn hai ngàn năm nghiên cứu và thực hành, sự tu dưỡng này đã đạt đến một mức độ cao đến nỗi khoa học vật chất hiện nay vẫn chưa thể giải thích được. Tôi tin rằng sẽ cần một thời gian để phá vỡ rào cản này, và để các nhà khoa học Tây phương chấp nhận khái niệm này.
Từ hơn 42 năm thực hành khí công của tôi, và từ việc nghiên cứu nhiều cổ thư, cuối cùng tôi tin rằng mình đã suy ra và hiểu được tấm bản đồ của môn khoa học khí công này. Miễn là một “người tìm Đạo” (Tầm Đạo Giả, Xun Dao Zhe) chịu khó nghiên cứu tấm bản đồ này, thì ngay cả không có sự hướng dẫn của một vị thầy đủ năng lực, người ấy vẫn có thể giữ được con đường nghiên cứu đúng đắn.
Tôi đã giải thích tấm bản đồ này trong một số cuốn sách:
- The Root of Chinese Qigong. Cuốn sách này thiết lập một nền tảng vững chắc để hiểu khí công Trung Hoa.
- The Essence of Shaolin White Crane. Đây là một cuốn sách về khí công võ thuật, và lý thuyết thì hoàn chỉnh. Tuy nhiên, sự biểu hiện của lý thuyết này nằm trong môn phái Bạch Hạc.
- Qigong—The Secret of Youth. Cuốn sách này giải thích những bí điển cốt yếu, Cân/Cơ Thay Đổi và Tẩy Tủy (Dịch Cân Kinh, Tẩy Tủy Kinh), do nhà sư Ấn Độ Đạt Ma truyền lại vào khoảng năm 500 sau Công nguyên.
- Qigong Meditation—Embryonic Breathing bàn về Khí Công Nội Đan (Nei Dan). Thai tức (Tai Xi) là một thực hành then chốt trong việc xây dựng và duy trì năng lượng nội tại dồi dào. Nếu thiếu sự thực hành này làm nền tảng, thành tựu của Nội Đan sẽ nông cạn.
Những sự thực hành được mô tả trong bốn cuốn sách này xây dựng một nền tảng vững chắc cho Khí Công Nội Đan (Nei Dan Qigong), làm cho bước kế tiếp trong sự tu dưỡng tâm linh, tức Tiểu Chu Thiên, có thể được hiểu rõ.
Trong cuốn sách này, tôi giới thiệu Tiểu Chu Thiên qua bốn phần. Phần I giới thiệu và tóm tắt tri thức khí công tổng quát về Tiểu Chu Thiên. Phần II bàn về các thủ tục huấn luyện truyền thống cho Tiểu Chu Thiên và sự Giác Ngộ. Phần III giới thiệu các phương pháp huấn luyện Tiểu Chu Thiên, trong khi Phần IV liệt kê những câu hỏi còn bỏ ngỏ, chờ ngày được trả lời. Lĩnh vực nghiên cứu tiếp theo của tôi sẽ là các đề tài Đại Chu Thiên và Thiền Giác Ngộ Tâm Linh, sẽ được xuất bản trong vài năm tới, dưới hình thức một hay hai cuốn sách.
1-2 · Khí Là Gì Và Khí Công Là Gì?
Trước tiên chúng ta bàn về khái niệm tổng quát của Khí, cả sự hiểu biết truyền thống lẫn các mô hình và khái niệm khoa học hiện đại giải thích về khí công.
Định Nghĩa Tổng Quát Về Khí
Khí (氣) là năng lượng hay lực tự nhiên tràn đầy vũ trụ. Người Trung Hoa tin vào Tam Tài (三才) của vũ trụ: Thiên (天), Địa (地) và Nhân (人). Trời (bầu trời hay vũ trụ) có Thiên Khí (天氣), quan trọng nhất trong ba thứ, gồm các lực do các thiên thể tác động, như ánh sáng mặt trời, ánh trăng, trọng lực và năng lượng từ các vì sao. Thời tiết, khí hậu và thiên tai đều bị chi phối bởi Thiên Khí. Mỗi trường năng lượng đều cố gắng giữ sự cân bằng, nên khi Thiên Khí mất cân bằng, nó cố gắng tái cân bằng chính nó, qua gió, mưa và thậm chí cả lốc xoáy và bão tố, nhờ đó Thiên Khí đạt được một sự cân bằng năng lượng mới.
Địa Khí (地氣) bị chi phối bởi Thiên Khí. Mưa quá nhiều buộc một con sông phải lũ lụt hay đổi dòng, nhưng không có mưa thì thảo mộc sẽ chết. Người Trung Hoa tin rằng Địa Khí được cấu thành bởi các đường và các mô hình năng lượng, cũng như từ trường của trái đất và nhiệt lượng ẩn giấu dưới lòng đất. Những năng lượng này cũng phải cân bằng, bằng không sẽ xảy ra những thảm họa như động đất. Khi Địa Khí được cân bằng và hài hòa, cây cối sinh trưởng và muông thú sinh sôi.
Sau cùng, mỗi cá nhân, con vật và cây cỏ đều có trường Khí riêng của mình, luôn đi tìm sự cân bằng. Mất cân bằng Khí, một cá thể sẽ bệnh hoạn, chết đi và phân hủy. Mọi vật tự nhiên, kể cả nhân loại và Nhân Khí (人氣) của chúng ta, đều bị quyết định bởi các chu kỳ tự nhiên của Thiên Khí và Địa Khí. Trong suốt lịch sử khí công, người ta quan tâm nhất đến Nhân Khí và mối quan hệ của nó với Thiên Khí và Địa Khí.
Tại Trung Hoa, Khí cũng được định nghĩa là bất kỳ năng lượng nào biểu hiện quyền năng và sức mạnh, bất luận là điện, từ, nhiệt hay ánh sáng. Điện năng được gọi là điện khí (電氣), và nhiệt được gọi là nhiệt khí (熱氣). Khi một người còn sống, năng lượng của cơ thể người ấy được gọi là Nhân Khí (人氣).
Khí cũng diễn tả trạng thái năng lượng của một sự vật, đặc biệt là của những vật sống. Thời tiết được gọi là Thiên Khí vì nó chỉ báo trạng thái năng lượng của bầu trời. Khi một vật còn sống, nó có sinh khí (活氣), và khi đã chết nó có tử khí (死氣) hay quỷ khí (鬼氣). Khi một người chính trực và có sức mạnh tinh thần để làm điều thiện, người ấy được nói là có chính khí (正氣). Trạng thái tinh thần hay nhuệ khí của một đội quân được gọi là khí thế (氣勢).
Khí có thể đại diện cho chính năng lượng, hoặc cho trạng thái của năng lượng ấy. Điều quan trọng là bạn phải hiểu điều này khi thực hành khí công, để tâm trí bạn không bị dẫn vào một sự hiểu biết hẹp hòi về Khí, làm giới hạn sự hiểu biết và sự phát triển tương lai của bạn.
Định Nghĩa Hẹp Về Khí
Bây giờ chúng ta hãy xem Khí được định nghĩa như thế nào trong giới khí công ngày nay. Trong Tam Tài, người Trung Hoa quan tâm nhất đến Khí ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ. Sau bốn ngàn năm nhấn mạnh vào Nhân Khí, khi người ta nhắc đến Khí, họ thường muốn nói đến Khí đang lưu hành trong cơ thể chúng ta.
Trong các cổ thư y học và khí công Trung Hoa, chữ Khí được viết là “氣”. Chữ này gồm hai chữ, phần trên có nghĩa là “không”, và phần dưới có nghĩa là “lửa”. Vì vậy Khí nguyên thủy được viết là “không có lửa”. Thời xưa, các thầy thuốc và người thực hành khí công cố gắng cân bằng Khí Âm và Khí Dương đang lưu hành trong cơ thể, để có “không lửa” trong các cơ quan nội tạng. Mỗi cơ quan nội tạng cần một lượng Khí nhất định để hoạt động đúng đắn. Nếu nó nhận một lượng không thích đáng, thường là quá nhiều, khiến nó quá Dương hay “bốc hỏa”, nó bắt đầu hoạt động sai lệch, lâu dần gây ra tổn thương thể chất. Mục tiêu của khí công là đạt đến trạng thái “không có lửa”, về sau đã trở thành chính chữ Khí.
Nhưng trong những ấn bản gần đây hơn, chữ Khí “không lửa” đã được thay bằng chữ “氣”, lại được cấu thành từ hai chữ, phần trên có nghĩa là “không khí”, và phần dưới có nghĩa là “gạo”. Những người thực hành về sau nhận ra rằng Khí hậu thiên được sản sinh bằng cách hít không khí vào và tiêu thụ thức ăn. Không khí được gọi là “không khí (空氣)”, theo nghĩa đen là “năng lượng của khoảng không”.
Trong một thời gian dài, người ta tranh luận xem loại năng lượng nào lưu hành trong cơ thể chúng ta. Nhiều người tin đó là nhiệt, người khác cho là điện, lại có người khác nữa cho là một hỗn hợp của nhiệt, điện và ánh sáng. Cuộc tranh luận này tiếp diễn cho đến thập niên 1980, khi khái niệm về Khí dần dần trở nên sáng tỏ. Ngày nay, khoa học giả định rằng, ngoại trừ có thể là trọng lực, thực sự chỉ có một loại năng lượng trong vũ trụ, đó là năng lượng điện từ. Ánh sáng và nhiệt cũng là những biểu hiện của năng lượng điện từ. Khí trong cơ thể chúng ta thực sự là điện sinh học, và cơ thể chúng ta là một trường điện từ sống.1 Như vậy, Khí bị ảnh hưởng bởi tư tưởng, cảm xúc, hoạt động của chúng ta, thức ăn chúng ta ăn, phẩm chất không khí chúng ta hít thở, lối sống của chúng ta, năng lượng tự nhiên bao quanh chúng ta, và cả năng lượng phi tự nhiên mà khoa học hiện đại áp đặt lên chúng ta.
Công thức khoa học sau đây đại diện cho phản ứng hóa sinh chủ yếu trong cơ thể chúng ta:
glucose + 6O2 → 6CO2 + 6H2O
ΔG°' = −686 Kcal
→ Nhiệt
→ Ánh sáng
→ Điện sinh học (Khí)
Như bạn có thể thấy, gạo là glucose, dưỡng khí là không khí, và điện sinh học là Khí.
Định Nghĩa Tổng Quát Về Khí Công
Tại Trung Hoa, chữ “công (功)” thường được dùng thay cho “công phu (功夫)”, có nghĩa là năng lượng và thời gian. Bất kỳ sự học tập hay huấn luyện nào đòi hỏi năng lượng và thời gian để đạt thành đều được gọi là công phu. Nó có thể được áp dụng cho bất kỳ kỹ năng hay môn học đặc biệt nào đòi hỏi thời gian, năng lượng và sự kiên nhẫn. Khí công là một khoa học nghiên cứu năng lượng trong thiên nhiên. Sự khác biệt chính giữa môn khoa học năng lượng này và khoa học năng lượng Tây phương là khí công tập trung vào năng lượng nội tại của con người, trong khi khoa học năng lượng Tây phương chú ý nhiều hơn đến năng lượng bên ngoài cơ thể con người. Khi bạn nghiên cứu khí công, bạn nên cân nhắc đến quan điểm khoa học hiện đại, và đừng tự giới hạn mình vào những tín ngưỡng truyền thống.
Người Trung Hoa đã nghiên cứu Khí hàng ngàn năm, ghi chép thông tin về các mô hình và chu kỳ của thiên nhiên trong những cuốn sách như Dịch Kinh (易經), nói về các lực tự nhiên của Thiên, Địa và Nhân. Ba quyền năng này (Tam Tài) biểu hiện thành Thiên Khí, Địa Khí và Nhân Khí, với những quy luật và chu kỳ nhất định. Các quy luật thì không thay đổi, trong khi các chu kỳ quay trở lại lặp lại chính mình. Dịch Kinh áp dụng những nguyên lý này để tính toán những biến đổi của Khí tự nhiên, qua một tiến trình gọi là Bát Quái (八卦). Từ Bát Quái suy ra 64 quẻ. Dịch Kinh có lẽ là cuốn sách đầu tiên mô tả Khí và những biến thiên của nó trong thiên nhiên và con người. Mối quan hệ của Ba Quyền Năng Tự Nhiên và những biến thiên Khí của chúng về sau được bàn luận rộng rãi trong cuốn Khí Hóa Luận (氣化論).
Hiểu Thiên Khí là rất khó, và đặc biệt khó vào thời cổ. Nhưng vì các chu kỳ tự nhiên lặp lại, kinh nghiệm tích lũy làm cho việc truy tìm các mô hình tự nhiên trở nên khả thi. Hiểu các quy luật và chu kỳ của Thiên Thời (天時) giúp mô tả những biến đổi của mùa màng, khí hậu, thời tiết và những hiện tượng tự nhiên khác. Nhiều mô hình và chu kỳ thường lệ này do sự tái cân bằng của Khí gây ra. Các chu kỳ tự nhiên khác nhau lặp lại mỗi ngày, mỗi tháng hay mỗi năm, trong khi những cái khác chỉ quay lại mỗi mười hai hay sáu mươi năm.
Địa Khí là một phần của Thiên Khí. Từ việc hiểu các quy luật và cấu trúc của trái đất, bạn hiểu được tiến trình hình thành núi sông, cây cối sinh trưởng và sông ngòi chuyển động, cũng như nơi nào tốt nhất để cất nhà và nhà nên quay về hướng nào để là một nơi ở lành mạnh. Tại Trung Hoa, các thầy Địa Lý (地理師), hay các thầy Phong Thủy (風水師), kiếm sống bằng cách này. Thuật ngữ Phong Thủy được dùng vì vị trí và tính chất của gió và nước là những yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá một địa điểm. Những chuyên gia này dùng toàn bộ tri thức địa lý đã được tích lũy và Dịch Kinh để giúp đưa ra những quyết định quan trọng như cất nhà ở đâu và như thế nào, chôn người chết ở đâu, và sắp xếp lại nhà cửa và văn phòng để trở thành những nơi tốt đẹp và thịnh vượng hơn để sống và làm việc.
Nhân Khí đã được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất, bao trùm nhiều khía cạnh khác nhau. Người Trung Hoa tin rằng Nhân Khí bị ảnh hưởng và chi phối bởi Thiên Khí và Địa Khí, và thực tế chính chúng quyết định vận mệnh của bạn. Bằng cách hiểu mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, và cả Nhân Sự (人事), người ta có thể tiên đoán chiến tranh, vận mệnh của một quốc gia, dục vọng và khí chất của một người, và thậm chí cả tương lai của người ấy. Những người hành nghề này được gọi là các thầy Toán Mệnh (算命師).
Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất trong việc nghiên cứu Nhân Khí là về mặt sức khỏe và trường thọ. Vì Khí là nguồn của sự sống, nếu bạn hiểu Khí hoạt động như thế nào và biết cách điều tiết nó một cách đúng đắn, bạn có thể sống một cuộc đời dài lâu và khỏe mạnh. Là một phần của thiên nhiên, bạn bị dẫn vào các chu kỳ của nó, và điều có lợi nhất cho bạn là đi theo cách của thiên nhiên. Đó là ý nghĩa của Đạo (道), có thể được dịch là Con Đường Tự Nhiên.
Nhiều khía cạnh khác nhau của Nhân Khí đã được nghiên cứu, gồm châm cứu, xoa bóp, trị liệu thảo dược, thiền định và các bài tập khí công. Việc sử dụng chúng để điều chỉnh dòng chảy Nhân Khí đã trở thành cội nguồn của y học Trung Hoa. Thiền định và các bài tập khí công động được dùng để cải thiện sức khỏe và chữa trị một số bệnh tật. Các Đạo sĩ và Phật tử cũng dùng thiền định và các bài tập khí công trong việc truy cầu giác ngộ.
Tóm lại, việc nghiên cứu bất kỳ khía cạnh nào của Khí, kể cả Thiên Khí, Địa Khí và Nhân Khí, đều nên được gọi là khí công. Tuy nhiên, vì ngày nay thuật ngữ này thường chỉ được dùng để chỉ sự tu dưỡng Nhân Khí qua thiền định và các bài tập, chúng ta sẽ tuân theo định nghĩa hẹp hơn này.
Định Nghĩa Hẹp Về Khí Công
Định nghĩa hẹp về Khí là năng lượng lưu hành trong cơ thể con người. Khí công nghiên cứu và huấn luyện Khí đang lưu hành trong cơ thể. Khí công bao gồm việc cơ thể chúng ta liên hệ với Thiên Khí và Địa Khí như thế nào, và các lĩnh vực chồng chéo của châm cứu, trị liệu thảo dược, khí công võ thuật, khí công xoa bóp và các bài tập, cùng khí công giác ngộ tôn giáo.
Thời xưa, khí công được gọi là “Thổ Nạp (吐納)”, có nghĩa là “thở ra và nhận vào”, tức là hô hấp có chủ định. Khí công tùy thuộc vào hơi thở đúng đắn. Trang Tử nói: “Thổi để hít thở, thở ra cái cũ và nhận vào cái mới. Sự vận động tự nhiên của con gấu, và sự vươn cổ của con chim, đều là để trường thọ. Điều này được những người sống lâu như Bành Tổ ưa chuộng, những người thực hành Đạo Dẫn (導引) (dẫn dắt và dẫn đường) và nuôi dưỡng hình thể (tu dưỡng thân thể).”1 Bành Tổ là một người thực hành khí công huyền thoại dưới triều vua Nghiêu (năm 2356 trước Công nguyên), được nói là đã sống 800 năm. Khí công cũng được gọi là Đạo Dẫn, nghĩa là dùng tâm ý và sự vận động thể chất để dẫn dắt sự lưu hành của Khí. Các động tác bắt chước những cử động tự nhiên của muông thú như gấu và chim. Một bài khí công y học nổi tiếng được truyền lại từ thời ấy gọi là Ngũ Cầm Hí (五禽戲), bắt chước các động tác của hổ, nai, gấu, vượn và chim.
Khí công định nghĩa mười hai kinh mạch chính (Thập Nhị Kinh, 十二經) trong cơ thể, chia nhánh thành nhiều kinh lạc phụ (Lạc, 絡), tương tự như hệ tuần hoàn máu. Các kinh chính giống như động mạch và tĩnh mạch, trong khi các kinh phụ giống như mao mạch. Mười Hai Kinh Khí Chính cũng giống như các con sông, trong khi các kinh phụ giống như các suối chảy vào và ra khỏi các con sông. Khí được phân bố khắp cơ thể qua mạng lưới này, nối các chi với các cơ quan nội tạng, và da với tủy xương. Các cơ quan nội tạng của y học Trung Hoa không nhất thiết tương ứng với các cơ quan vật lý như được hiểu ở Tây phương, mà đúng hơn tương ứng với một tập hợp các chức năng lâm sàng liên quan đến hệ thống cơ quan ấy.
Cơ thể cũng có Bát Mạch (八脈), được gọi là các kỳ kinh (Kinh Kỳ, 奇經), hoạt động như các hồ chứa và điều tiết sự lưu hành của Khí. Vị danh y Đạo giáo Trung Hoa nổi tiếng Lý Thời Trân đã mô tả chúng trong cuốn sách của ông, Nghiên Cứu Về Kỳ Kinh Bát Mạch: “Các kinh chính (12 Kinh Khí Chính) giống như các con sông, trong khi các kỳ kinh (Bát Mạch) giống như các hồ. Khi Khí trong các kinh chính dồi dào và thịnh vượng, nó tràn sang các kỳ kinh.”
Khi Khí trong tám hồ chứa đầy và mạnh, thì Khí trong các con sông cũng vậy. Sự ứ trệ trong bất kỳ kinh mạch nào cũng dẫn đến sự bất thường trong dòng Khí chảy đến các chi và các cơ quan, và bệnh tật có thể phát sinh. Mỗi kinh mạch có dòng Khí riêng biệt của nó, sức mạnh của nó bị ảnh hưởng bởi tâm trí bạn, thời tiết, thời gian trong ngày, thức ăn bạn đã ăn, và thậm chí cả tâm trạng của bạn. Trong thời tiết khô, Khí ở phổi có khuynh hướng tích cực và Dương hơn là trong thời tiết ẩm ướt. Khi bạn giận dữ, dòng Khí trong kinh mạch gan sẽ bất thường. Sức mạnh của Khí trong các kinh khác nhau thay đổi suốt ngày theo một chu kỳ đều đặn, và vào bất kỳ thời điểm nào cũng có một kinh mạnh nhất. Chẳng hạn, giữa 11 giờ sáng và 1 giờ trưa, Khí chảy mạnh nhất trong kinh tim. Mức Khí của cùng một cơ quan thì khác nhau giữa người này với người khác. Để biết thêm chi tiết về mối quan hệ giữa dòng Khí và thời gian trong ngày, xin tham khảo cuốn sách của YMAA, Qigong for Health and Martial Arts.
Khi dòng Khí trong mười hai kinh bất thường, tám hồ chứa sẽ điều tiết nó trở lại bình thường. Khi một người bị một cú sốc bất ngờ, Khí ở bàng quang trở nên hư hao. Hồ chứa lập tức điều tiết nó để phục hồi sau cú sốc, trừ khi Khí của hồ chứa cũng hư hao, hoặc nếu cú sốc quá lớn. Khi ấy, bàng quang co lại, gây ra sự tiểu tiện.
Khí của một người bệnh có khuynh hướng hoặc quá tích cực (Dương dư) hoặc quá tiêu cực (Âm hư). Một thầy thuốc Trung Hoa sẽ kê toa thảo dược để điều chỉnh Khí, hoặc châm kim vào các huyệt vị khác nhau để điều chỉnh dòng chảy và phục hồi sự cân bằng. Một cách khác là thực hành khí công, dùng các bài tập thể chất và tinh thần để điều chỉnh Khí.
Trong giới nho sĩ, khí công được định nghĩa khác đi, tập trung vào việc điều phục những xáo trộn của tâm tình (tâm ý cảm xúc) vào một trạng thái tĩnh lặng. Điều này làm thư giãn cơ thể và làm cho Khí có thể tái cân bằng và lưu hành trôi chảy, nhờ đó sức khỏe tinh thần và thể chất có thể đạt được.
Trong giới Đạo giáo và Phật giáo, khí công là phương pháp dẫn Khí từ Hạ Đan Điền (丹田), tức trường đan (elixir field), lên não để đạt giác ngộ tâm linh hay quả vị Phật. Chỗ này ở vùng bụng tích trữ Khí như một bình ắc-quy điện sinh học. (Chúng ta sẽ bàn chi tiết về Đan Điền trong tiết 2-3.) Khí công tôn giáo được coi là cấp độ cao nhất và nghiêm ngặt nhất của sự huấn luyện khí công Trung Hoa.
Trong giới võ thuật, khí công là lý thuyết và phương pháp biểu hiện Khí để tiếp năng lượng cho cơ thể vật lý đến mức hiệu năng và uy lực tối đa. Khí công võ thuật bắt nguồn từ khí công tôn giáo, đặc biệt là Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh, và cấp độ sâu xa nhất của sự huấn luyện khí công võ thuật cũng giống như của khí công tôn giáo, tức là sự giác ngộ tâm linh.
1-3 · Các Phân Loại Khí Công
Tôi muốn bàn về phạm vi của khí công con người, và khái niệm truyền thống về Nội Đan (內丹) và Ngoại Đan (外丹), để làm sáng tỏ những khác biệt giữa các môn phái thực hành khí công trên khắp thế giới.
Phạm Vi Thực Hành Khí Công — Thân Và Tâm
Nếu chúng ta truy ngược lịch sử khí công về trước thời Tần và Hán của Trung Hoa (255 trước Công nguyên – 223 sau Công nguyên), chúng ta thấy nguồn gốc của nhiều sự thực hành khí công nằm trong vũ điệu. Khiêu vũ thì luyện tập thân thể và giữ cho nó trong tình trạng khỏe mạnh. Phối hợp động tác với âm nhạc làm hài hòa tâm trí, hoặc để tiếp năng lượng cho nó hoặc để làm nó tĩnh lại. Điệu múa khí công này về sau được truyền sang Nhật Bản trong thời nhà Hán, và trở thành điệu múa rất tao nhã, chậm rãi và tinh tế mà ngày nay vẫn còn được thực hành trong triều đình Nhật Bản.
Những điệu múa của châu Phi và thổ dân châu Mỹ, trong đó thân thể được nhún lên xuống, cũng làm lỏng các khớp và cải thiện sự lưu hành của Khí. Bất kỳ hoạt động nào điều tiết sự lưu hành Khí trong cơ thể, thậm chí chạy bộ hay cử tạ, đều có thể được coi là khí công. Những khía cạnh của điều này gồm thức ăn chúng ta ăn, không khí chúng ta hít thở, và thậm chí cả cảm xúc và tư tưởng của chúng ta.
Trong Hình 1-1, trục dọc bên trái đại diện cho việc sử dụng Khí của cơ thể vật lý (Dương), và đỉnh bên phải là của tâm trí (Âm). Một hoạt động được biểu diễn càng về bên trái bao nhiêu, thì càng cần nhiều nỗ lực thể chất và càng ít cần đến tâm trí bấy nhiêu. Đó có thể là thể dục nhịp điệu, khiêu vũ, đi bộ hay chạy bộ, trong đó tâm được dùng ít hơn thân. Điều này không cần sự huấn luyện đặc biệt, và được xếp vào loại khí công thế tục. Ở điểm giữa của đồ thị, hoạt động tinh thần và thể chất được kết hợp với lượng bằng nhau. Đó sẽ là khí công chuyển động chậm thường được thực hành, trong đó tâm được dùng để dẫn Khí phối hợp với động tác. Với những động tác chậm rãi, thư giãn, Khí được tâm dẫn dắt có thể thấm sâu hơn vào các dây chằng, tủy và các cơ quan nội tạng.
| Thể Chất (Dương) | Tâm (Âm) |
|---|---|
| Khiêu vũ Đi bộ Chạy bộ | Thái Cực Khí Công |
| Thiền Tĩnh (Still Meditation) — nằm về phía Tâm (Âm) | |
Hình 1-1. Phạm Vi Của Khí Công Tinh Luyện
Cảm giác nội tại sâu sắc có thể dẫn Khí đến đó một cách đáng kể. Thái Cực, Bạch Hạc, Xà và Long là những hệ thống khí công tiêu biểu, được tu dưỡng một cách chuyên sâu trong giới y học và võ thuật Trung Hoa.
Ở một cấp độ thực hành sâu hơn, tâm trí trở nên tối quan trọng. Nó tham gia một cách tích cực trong khi bạn đang ở trong trạng thái thư giãn sâu. Điều này chủ yếu được tu dưỡng bởi các nho sĩ và những người thực hành khí công tôn giáo. Có thể có một ít vận động thể chất ở vùng hạ phúc, nhưng trọng tâm chính là tu dưỡng một tâm trí bình an và trung tính, và truy cầu mục tiêu cuối cùng là giác ngộ tâm linh. Sự thực hành này gồm Thiền Tĩnh Tọa (坐禪), Thai Tức Tĩnh Tọa (胎息靜坐), Tiểu Chu Thiên (小周天), Đại Chu Thiên (大周天) và Tẩy Tủy Giác Ngộ Thiền (洗髓功).
Những sự thực hành khí công khác nhau nhắm vào những mục tiêu khác nhau. Để có một cuộc đời dài lâu và hạnh phúc, bạn cần sức khỏe của cả tâm và thân. Khí công tốt nhất cho sức khỏe nằm ở giữa mô hình của chúng ta, để điều tiết cả thân lẫn tâm. Bạn có thể thực hành mặt Âm qua thiền tĩnh, và mặt Dương qua hoạt động thể chất. Điều này cân bằng Âm và Dương, và Khí dồi dào có thể được tích lũy và lưu hành.
Từ đây chúng ta có thể kết luận:
- Bất kỳ hoạt động nào có khả năng cải thiện sự lưu hành Khí đều là khí công.
- Khí công nào nhấn mạnh nhiều hơn vào thể chất sẽ cải thiện sức mạnh thể chất và sự lưu hành Khí, rèn luyện các bắp thịt, gân và dây chằng.
- Khí công kích hoạt cả thể chất lẫn tinh thần có thể thấm sâu hơn, tăng cường sức mạnh thể chất và sự lưu hành Khí. Bằng cách phối hợp cơ thể vật lý được thư giãn với tâm trí được tập trung, Khí có thể lưu hành sâu bên trong các khớp, các cơ quan nội tạng, và thậm chí cả tủy xương.
- Khí công chỉ tập trung vào việc đạt được một trạng thái thiền định sâu sắc thì lại có thể sao lãng sự vận động thể chất, khiến sức mạnh thể chất bị thoái hóa.
Ngoại Đan và Nội Đan
Các sự thực hành khí công có thể được phân chia theo lý thuyết và phương pháp huấn luyện của chúng thành hai phạm trù tổng quát, Ngoại Đan (外丹) và Nội Đan (內丹). Hiểu sự khác biệt giữa chúng cho bạn một cái nhìn tổng quát về sự thực hành khí công.
Ngoại Đan (外丹). “Ngoại” có nghĩa là bên ngoài, và “Đan” có nghĩa là đan dược (elixir). Ở đây, bên ngoài có nghĩa là da và bề mặt của cơ thể, và cũng là tứ chi, đối lại với phần thân mình ở trung tâm của cơ thể, là phần bao gồm các cơ quan trọng yếu. Đan dược là chất trường sinh mà các Đạo sĩ Trung Hoa đã tìm kiếm suốt hàng ngàn năm. Thoạt tiên họ nghĩ đó là một vật chất có thể được bào chế từ thảo dược hay từ các hóa chất được tinh luyện trong lò. Sau hàng ngàn năm thí nghiệm, họ tìm thấy đan dược ở bên trong, tức là Khí lưu hành trong cơ thể. Để kéo dài đời mình, bạn phải phát triển đan dược trong cơ thể mình, tu dưỡng, bảo vệ và nuôi dưỡng nó.
Trong sự thực hành khí công Ngoại Đan, bạn tập luyện để xây dựng Khí ở tay và chân mình. Khi đủ Khí tích lũy ở đó, nó chảy qua Mười Hai Kinh Khí Chính, dọn sạch các tắc nghẽn, và vào trung tâm cơ thể để nuôi dưỡng các cơ quan. Một người chịu khó tập luyện, hay có một công việc chân tay, nói chung khỏe mạnh hơn một người ngồi lì cả ngày.
Xoa bóp, châm cứu và trị liệu thảo dược đều là những thực hành Ngoại Đan. Xoa bóp cơ thể sản sinh Khí, kích thích các tế bào đến một trạng thái được tiếp năng lượng nhiều hơn. Khí được nâng lên và sự lưu hành được tăng cường. Sau một lần xoa bóp, bạn được thư giãn, và mức Khí cao hơn ở các bắp thịt và da chảy vào thân mình và các cơ quan nội tạng. Đó là nền tảng lý thuyết của khí công xoa bóp Thôi Nã (推拿) (đẩy và nắm). Châm cứu cũng có thể tăng cường Khí, điều tiết các cơ quan nội tạng.
Bất kỳ sự kích thích hay tập luyện nào tạo ra một mức Khí cao ở tứ chi hay trên bề mặt cơ thể, rồi từ đó chảy vào trung tâm cơ thể, đều có thể được xếp vào loại Ngoại Đan (Hình 1-2).
Nội Đan (內丹). “Nội” có nghĩa là bên trong. Nội Đan có nghĩa là xây dựng đan dược ở bên trong, bên trong cơ thể thay vì ở tứ chi, trong các mạch thay vì trong các kinh. Trong khi ở Ngoại Đan, Khí được xây dựng ở tứ chi hay da, rồi chuyển vào cơ thể qua các kinh khí chính, thì các bài tập Nội Đan xây dựng Khí bên trong cơ thể và dẫn nó ra tứ chi (Hình 1-3). Điều này được thực hiện bằng những kỹ thuật hô hấp đặc biệt trong lúc thiền định. Trước tiên, người ta xây dựng Khí dồi dào ở Hạ Đan Điền, bình ắc-quy điện sinh học, rồi dẫn nó đến Bát Mạch để tích trữ. Sau đó, Khí trong Mười Hai Kinh Chính có thể được điều tiết một cách trôi chảy và hiệu quả.
| Hình 1-2. Ngoại Đan (Wai Dan) | Hình 1-3. Nội Đan (Nei Dan) |
|---|---|
| Khí được xây dựng ở tứ chi và da, rồi chuyển vào trung tâm cơ thể qua các kinh khí chính. | Khí được xây dựng bên trong cơ thể (Đan Điền và Bát Mạch), rồi dẫn ra tứ chi. |
Nội Đan thì sâu xa hơn Ngoại Đan, và khó hiểu cùng khó thực hành hơn. Theo truyền thống, các sự thực hành khí công Nội Đan được truyền lại một cách bí mật hơn Ngoại Đan, đặc biệt ở những cấp độ cao nhất như Tẩy Tủy, vốn chỉ được truyền cho một số ít đệ tử được tín nhiệm.
Các Trường Phái Thực Hành Khí Công
Khí công có bốn phạm trù chính theo mục đích của sự huấn luyện — A. chữa bệnh, B. duy trì sức khỏe, C. giác ngộ hay quả vị Phật, và D. võ thuật. Hầu hết các môn phái phục vụ nhiều hơn một trong các mục đích này. Chẳng hạn, khí công Đạo giáo nhắm đến trường thọ và giác ngộ, nhưng bạn cũng cần duy trì sức khỏe tốt và chữa lành bệnh tật. Biết lịch sử và nguyên lý của mỗi phạm trù giúp hiểu tinh túy của chúng một cách sáng tỏ hơn.
Khí Công Y Học — để chữa lành bệnh. Ở Trung Hoa cổ đại, hầu hết các vua chúa đều tôn trọng các nho sĩ và triết học của họ. Các thầy thuốc không được coi trọng cao, bởi vì họ chẩn đoán bằng cách sờ vào thân thể bệnh nhân, được coi là đặc điểm của các giai cấp thấp kém. Tuy các thầy thuốc thường bị khinh thường, họ vẫn lặng lẽ truyền lại kết quả nghiên cứu của mình cho các thế hệ sau. Trong tất cả các nhóm nghiên cứu khí công tại Trung Hoa, các thầy thuốc là những người theo đuổi lâu đời nhất. Từ khi khám phá ra sự lưu hành Khí trong cơ thể con người khoảng bốn ngàn năm trước, các thầy thuốc Trung Hoa đã dồn nỗ lực lớn lao để nghiên cứu nó, phát triển châm cứu, ấn huyệt (acupressure) và trị liệu thảo dược.
Nhiều thầy thuốc Trung Hoa cũng sáng tạo ra các bài khí công để duy trì sức khỏe hay chữa trị những bệnh tật cụ thể. Chỉ ngồi thiền với hơi thở, như trong khí công nho sĩ hay thiền Phật giáo, thì không đủ để chữa bệnh, và họ tin vào vận động để gia tăng sự lưu hành Khí. Tuy một tâm trí bình an và tĩnh lặng rất quan trọng cho sức khỏe, việc luyện tập thân thể lại quan trọng hơn. Qua thực hành, họ học được rằng những người tập luyện đúng cách ít bệnh hơn, và cơ thể của họ thoái hóa chậm hơn những người chỉ ngồi lì một chỗ. Những động tác cụ thể làm gia tăng sự lưu hành Khí ở những cơ quan cụ thể, và được dùng để trị những bệnh tật cụ thể và phục hồi chức năng bình thường.
Một số động tác giống với cách một số loài thú di chuyển. Để một con vật sống sót trong hoang dã, nó phải theo bản năng bảo vệ cơ thể mình, đặc biệt là tích lũy Khí và giữ gìn nó. Chúng ta là con người đã đánh mất nhiều bản năng ấy theo thời gian, khi tự tách mình ra khỏi thiên nhiên.
Một bài tập tiêu biểu và nổi tiếng của loại này là Ngũ Cầm Hí (五禽戲), được Hoa Đà sáng tạo cách đây gần hai ngàn năm. (Có người nói là do Jun Qing.) Một bài nổi tiếng khác là Bát Đoạn Cẩm (八段錦), do nguyên soái Nhạc Phi sáng tạo trong thời Nam Tống (1127-1280 sau Công nguyên); ông là một người lính và một nho sĩ hơn là một thầy thuốc.
Trước khi tổn thương thể chất biểu hiện ra ở một cơ quan, trước tiên đã có một sự bất thường trong sự lưu hành Khí. Âm hay Dương dư thừa là cội nguồn của bệnh tật và tổn thương cơ quan. Trong một kinh mạch cụ thể, sự lưu hành Khí bất thường dẫn đến sự trục trặc của cơ quan. Nếu tình trạng ấy không được sửa chữa, cơ quan sẽ thoái hóa. Cách chữa lành tốt nhất là điều chỉnh và cân bằng Khí trước khi có bất kỳ vấn đề thể chất nào, đó là mục tiêu chính của trị liệu châm cứu và ấn huyệt. Thảo dược và những chế độ ăn đặc biệt cũng giúp điều tiết Khí.
Miễn là bệnh tật còn giới hạn ở sự ứ trệ Khí và chưa có tổn thương cơ quan vật lý, các bài tập khí công có thể được dùng để điều chỉnh lại sự lưu hành Khí và trị liệu vấn đề. Nhưng nếu bệnh đã nghiêm trọng đến mức các cơ quan đã bắt đầu suy yếu, tình hình là nguy kịch và cần có trị liệu đặc biệt. Đó có thể là châm cứu, thảo dược, hay thậm chí là giải phẫu. Các chứng loét, suyễn, và thậm chí một số loại ung thư, thường được trị liệu có hiệu quả bằng những bài tập đơn giản.
Qua hàng ngàn năm quan sát thiên nhiên, những người thực hành khí công đã đi xa hơn nữa. Sự lưu hành Khí thay đổi theo mùa, nên họ giúp cơ thể trong những sự điều chỉnh định kỳ này. Trong mỗi mùa, các cơ quan khác nhau có những vấn đề đặc thù.
Chẳng hạn, vào đầu mùa thu, phổi thích nghi với việc hít thở không khí lạnh hơn, khiến chúng dễ bị cảm lạnh. Các cơ quan khác cũng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi theo mùa, và bởi nhau. Tập trung vào những rối loạn Khí theo mùa này, họ phát triển các động tác để tăng tốc sự điều chỉnh của cơ thể. Những bài tập này nguyên thủy được sáng tạo để duy trì sức khỏe, và về sau cũng được dùng để chữa bệnh.
Khí Công Nho Sĩ — để duy trì sức khỏe. Trước thời nhà Hán (206 trước Công nguyên – 221 sau Công nguyên), hai xã hội nho sĩ lớn đã xuất hiện. Một do Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên) sáng lập trong thời Xuân Thu (722-484 trước Công nguyên). Triết học của ông được Mạnh Tử (372-289 trước Công nguyên) phổ biến hóa và mở rộng trong thời Chiến Quốc (403-222 trước Công nguyên). Những nho sĩ thực hành triết học của ông được gọi là các nhà Nho (Nho Gia). Triết học căn bản của họ gồm Trung (忠), Hiếu (孝), Nhân (仁), Ái (愛), Tín (信), Nghĩa (義), Hòa (和) và Bình (平). Nhân tính và tình cảm con người là những đề tài chính, và triết học Nho gia là cội nguồn của nhiều phần trong văn hóa Trung Hoa.
Xã hội nho sĩ lớn thứ hai là Đạo Gia (道家), do Lão Tử thành lập vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Bộ kinh điển của ông, Đạo Đức Kinh (道德經), mô tả đạo đức của con người. Trong thời Chiến Quốc, môn đệ của ông là Trang Chu đã viết một cuốn sách gọi là Trang Tử, dẫn đến việc hình thành một nhánh mạnh mẽ khác của Đạo giáo. Trước thời nhà Hán, Đạo giáo được coi là một nhánh của học thuật. Tuy nhiên, vào thời Đông Hán (25-168 sau Công nguyên), Đạo giáo truyền thống được kết hợp với Phật giáo được Trương Đạo-Lăng du nhập từ Ấn Độ, và bắt đầu được đối xử như một tôn giáo. Đạo giáo trước thời nhà Hán nên được coi là Đạo giáo học thuật hơn là Đạo giáo tôn giáo.
Về mặt khí công, cả hai trường phái đều nhấn mạnh việc duy trì sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Nhiều bệnh tật do sự thái quá về tinh thần và cảm xúc gây ra. Khi tâm trí một người bị xáo trộn, các cơ quan không hoạt động bình thường. Chẳng hạn, sự trầm cảm có thể gây loét dạ dày và sự khó tiêu. Sự giận dữ có thể làm gan trục trặc. Sự buồn rầu có thể dẫn đến sự ứ trệ và căng cứng ở phổi, và sự sợ hãi có thể làm xáo trộn chức năng bình thường của thận và bàng quang. Để tránh bệnh tật, bạn cần cân bằng và thư giãn tư tưởng và cảm xúc của mình. Điều này được gọi là điều tâm (調心).
Cả hai trường phái đều nhấn mạnh việc đạt được một tâm trí bình an qua thiền định. Trong thiền tĩnh, sự huấn luyện chính yếu là trừ bỏ tư tưởng, để làm sạch tâm trí. Khi dòng tư tưởng và cảm xúc chậm lại, bạn cảm thấy trung tính về mặt tinh thần và cảm xúc, dẫn đến sự tự chủ. Trong trạng thái “vô niệm” này, bạn thậm chí còn thư giãn sâu tận bên trong các cơ quan nội tạng của mình, và sự lưu hành Khí của bạn trôi chảy và mạnh mẽ.
Thiền tĩnh này rất phổ biến trong xã hội nho sĩ Trung Hoa, tập trung vào việc điều tiết tâm, thân và hơi thở, để Khí chảy trôi chảy và bệnh tật có thể được ngăn ngừa. Sự huấn luyện của họ được gọi là Tu Khí (修氣), có nghĩa là tu dưỡng Khí. Điều này rất khác với khí công Đạo giáo tôn giáo từ thời Đông Hán trở đi, được gọi là Luyện Khí (煉氣), có nghĩa là huấn luyện Khí để làm cho nó mạnh hơn.
Các tài liệu khí công của Nho gia và Đạo gia chủ yếu giới hạn ở việc duy trì sức khỏe. Mục tiêu của họ là đi theo vận mệnh tự nhiên và duy trì sức khỏe. Điều này khá khác với các Đạo sĩ tôn giáo sau thời Đông Hán, những người tin rằng vận mệnh của một người có thể thay đổi được. Họ tin rằng có thể huấn luyện Khí của mình để làm cho nó mạnh hơn, và kéo dài đời mình. Xã hội nho sĩ thì chủ trương “trong đời người, bảy mươi là hiếm”.5 Ít người bình dân thời cổ đạt đến bảy mươi tuổi do những điều kiện khắc nghiệt. Họ cũng nói “an với trời và vui với mệnh” (An Thiên Lạc Mệnh), và “tu dưỡng thân thể và chờ đợi mệnh trời” (Tu Thân Tứ Mệnh). Hãy so sánh điều này với triết học của các Đạo sĩ về sau, những người nói “một trăm hai mươi tuổi là chết trẻ”.8 Họ chứng minh bằng gương của mình rằng đời sống có thể được kéo dài, và vận mệnh có thể bị kháng cự và vượt qua.
Khí Công Tôn Giáo để Giác Ngộ hay Thành Phật. Khí công tôn giáo, tuy không phổ biến bằng các phạm trù khác tại Trung Hoa, đã đạt được những thành tựu lớn lao nhất trong tất cả các phạm trù khí công. Nó được giữ bí mật trong các tự viện, và chỉ mới được tiết lộ cho người thế tục, tức cư sĩ, trong thế kỷ trước.
Nó bao gồm chủ yếu là khí công Đạo giáo và Phật giáo. Mục đích chính của sự huấn luyện của họ là nỗ lực đạt giác ngộ hay quả vị Phật. Họ tìm cách vượt lên trên sự khổ đau thông thường của con người, và thoát khỏi vòng luân hồi tiếp diễn. Họ tin rằng mọi khổ đau của con người đều do thất tình lục dục (Thất Tình Lục Dục) gây ra. Thất tình là: hỉ (喜), nộ (怒), ai (哀), lạc (樂), ái (愛), hận (恨) và dục (欲). Lục dục là sáu khoái lạc giác quan của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nếu bạn bị trói buộc vào chúng, bạn sẽ luân hồi sau khi chết. Để tránh điều này, họ huấn luyện để tinh thần độc lập với cơ thể, và với những sự quyến luyến và hoàn cảnh vật chất. Nhờ đó họ bước vào thiên quốc và đạt được sự bình an vĩnh cửu. Sự huấn luyện nghiêm ngặt này được gọi là Thiên Nhân Hợp Nhất (天人合一). Nó cực kỳ khó đạt được trong thế giới thường nhật, nên những người thực hành thường lánh xa xã hội và chuyển vào sự tịch liêu của núi rừng, nơi họ có thể dồn tất cả năng lượng của mình vào sự tu dưỡng tâm linh.
Những người thực hành khí công tôn giáo huấn luyện để củng cố Khí nội tại, để nuôi dưỡng Thần (神) của họ cho đến khi nó có thể sống sót sau cái chết của cơ thể. Sự huấn luyện Tẩy Tủy (Marrow/Brain Washing) cho phép họ dẫn Khí lên não, nơi Thần cư ngụ, và nâng các tế bào não lên một trạng thái năng lượng cao hơn. Sự huấn luyện này xưa kia bị giới hạn chỉ cho một số ít tu sĩ cao cấp tại Trung Hoa và Tây Tạng. Trong hơn hai ngàn năm qua, Phật tử Tây Tạng và Trung Hoa, cùng các Đạo sĩ tôn giáo, đã đi theo những nguyên lý giống nhau để trở thành ba trường phái khí công tôn giáo lớn.
Sự nỗ lực tôn giáo hướng tới giác ngộ hay quả vị Phật này được nhìn nhận là cấp độ cao nhất và khó khăn nhất của khí công. Nhiều người thực hành chối bỏ sự khắc khổ của nỗ lực tôn giáo này, và chỉ thực hành Tẩy Tủy để trường thọ. Chính những người này rốt cuộc đã tiết lộ những bí mật của Tẩy Tủy ra thế giới bên ngoài, như được mô tả trong Qigong—The Secret of Youth.
Khí Công Võ Thuật — để chiến đấu. Khí công võ thuật Trung Hoa phát triển từ bộ kinh điển Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh của Đạt Ma, được viết tại chùa Thiếu Lâm trong thời nhà Lương (502-557 sau Công nguyên). Các tăng sĩ Thiếu Lâm huấn luyện khí công này đã cải thiện sức khỏe của họ và gia tăng rất nhiều uy lực võ thuật và hiệu quả của mình. Từ đó, nhiều môn phái võ thuật đã phát triển thêm các bài khí công, và nhiều môn phái võ thuật đã được sáng tạo dựa trên lý thuyết khí công. Những người theo võ đóng một vai trò lớn trong xã hội khí công Trung Hoa.
Khi lý thuyết khí công lần đầu tiên được áp dụng vào võ thuật, nó được dùng để gia tăng uy lực và hiệu năng của các bắp thịt. Ý (意), được sinh ra từ tư duy sáng suốt, dẫn Khí đến các bắp thịt để tiếp năng lượng cho chúng, khiến chúng hoạt động hiệu quả hơn. Người trung bình thường sử dụng các bắp thịt của mình ở khoảng 40% hiệu năng. Huấn luyện một Ý mạnh để dẫn Khí đến các bắp thịt một cách hiệu quả, người ta có thể tiếp năng lượng cho các bắp thịt lên một mức cao hơn, làm tăng hiệu quả chiến đấu.
Lý thuyết châm cứu làm cho các kỹ thuật chiến đấu đạt đến những cấp độ cao hơn nữa. Các võ sĩ học cách tấn công các huyệt đạo trọng yếu, làm xáo trộn dòng Khí của đối phương để gây thương tích và cái chết. Trọng tâm của việc này là hiểu lộ trình và thời điểm của sự lưu hành Khí trong cơ thể, để đánh trúng các huyệt một cách chính xác và với độ sâu đúng mức. Những kỹ thuật này được gọi là Điểm Huyệt (點穴) hay Điểm Mạch (點脈).
Trong khi hầu hết các sự thực hành khí công võ thuật cũng cải thiện sức khỏe của người thực hành, có một số, tuy xây dựng được một kỹ năng đặc biệt hữu dụng cho chiến đấu, cũng gây tổn hại cho sức khỏe của người thực hành. Một thí dụ về điều này là Thiết Sa Chưởng (鐵砂掌). Tuy nó xây dựng được một uy lực phá hoại đáng kinh ngạc, nó cũng có thể làm tổn hại đôi tay của bạn và ảnh hưởng đến sự lưu hành Khí ở tay và ở các cơ quan nội tạng.
Nhiều môn phái võ thuật đã phát triển từ lý thuyết và phương pháp khí công của Đạt Ma vào thế kỷ thứ 6. Chúng có thể được chia đại khái thành các môn phái ngoại gia và nội gia. Các môn phái ngoại gia nhấn mạnh việc xây dựng Khí ở tứ chi cho các kỹ thuật võ thuật thể chất, đi theo các thực hành của khí công Ngoại Đan. Tâm trí tập trung được dùng trong các bài tập để tiếp năng lượng cho Khí. Điều này làm gia tăng đáng kể sức mạnh bắp thịt và hiệu quả của các kỹ thuật võ thuật. Khí công huấn luyện cơ thể chống lại các cú đấm và cước, bằng cách dẫn Khí để tiếp năng lượng cho da và các bắp thịt, khiến chúng có thể chịu một cú đánh mà không bị thương. Sự huấn luyện này được gọi là Thiết Bố Sam (鐵布衫) hay Kim Chung Chiếu (金鐘罩). Những môn phái võ thuật sử dụng sự huấn luyện Ngoại Đan được gọi là ngoại gia (Vai Jia). Sự huấn luyện khí công cứng được gọi là ngạnh công (硬功). Công phu Thiếu Lâm là một thí dụ tiêu biểu về một môn phái sử dụng khí công võ thuật Ngoại Đan.
Tuy khí công Ngoại Đan gia tăng uy lực của võ sĩ, việc huấn luyện các bắp thịt có thể gây ra sự phát triển quá mức, dẫn đến sự tán công (San Gong, tán phát năng lượng). Để ngăn ngừa điều này, khi một võ sĩ ngoại gia đạt đến một cấp độ cao của sự huấn luyện ngoại tại, người ấy sẽ bắt đầu huấn luyện khí công nội tại, chuyên trị vấn đề tán phát năng lượng này. “Các môn phái ngoại gia đi từ ngoài vào trong và từ cứng đến mềm.”
Ngược lại, Khí Công Võ Thuật Nội Tại dựa trên lý thuyết của Nội Đan. Khí được phát sinh ở thân mình thay vì ở tứ chi, và về sau được dẫn đến tứ chi để gia tăng uy lực. Để dẫn Khí đến tứ chi, các kỹ thuật phải mềm mại và việc sử dụng bắp thịt phải được giữ ở mức tối thiểu. Sự huấn luyện võ thuật Nội Đan khó hơn Ngoại Đan rất nhiều. Để biết thêm chi tiết, xin tham khảo cuốn sách Tai Chi Theory and Martial Power.
Một số môn phái võ thuật nội tại đã được sáng tạo tại núi Võ Đang và núi Nga Mi. Những môn phổ biến là Thái Cực Quyền (太極拳), Bát Quái Chưởng (八卦掌), Lục Hợp Bát Pháp (六合八法) và Hình Ý Quyền (形意拳). Ngay cả các môn phái võ thuật nội tại, được gọi là nhu phái, đôi khi cũng phải dùng sức mạnh bắp thịt khi chiến đấu. Sử dụng uy lực mạnh trong một cuộc chiến đòi hỏi Khí phải biểu hiện ra bên ngoài, dùng những kỹ thuật cứng hơn, mang tính ngoại tại hơn. “Các môn phái nội gia đi từ trong ra ngoài và từ mềm đến cứng.”9
Tuy khí công được nghiên cứu rộng rãi trong giới võ thuật Trung Hoa, trọng tâm chính là gia tăng khả năng chiến đấu hơn là sức khỏe. Sức khỏe tốt được coi là một sản phẩm phụ của sự huấn luyện. Chỉ gần đây sức khỏe mới bắt đầu nhận được sự chú ý lớn hơn trong khí công võ thuật, đặc biệt là trong các môn võ thuật nội gia.
1-4 · Lý Luận Về Âm Dương, Khảm Và Ly
Những khái niệm quan trọng nhất trong sự thực hành khí công là lý luận về Âm Dương, và về Khảm Ly. Hai khái niệm khác biệt này đã bị lẫn lộn trong giới khí công, ngay cả tại Trung Hoa. Nếu bạn hiểu chúng một cách sáng tỏ, bạn đã nắm được một chiếc chìa khóa quan trọng của sự thực hành khí công.
Khảm Và Ly Là Gì?
Các thuật ngữ Khảm (坎) và Ly (離) xuất hiện thường xuyên trong các tài liệu khí công. Trong Bát Quái, Khảm đại diện cho Thủy, còn Ly đại diện cho Hỏa. Sự huấn luyện Khảm Ly từ lâu đã mang tầm quan trọng lớn đối với những người thực hành khí công.
Tuy Khảm-Ly và Âm-Dương có liên hệ với nhau, Khảm và Ly không phải là Âm và Dương. Khảm là Thủy, làm mát cơ thể bạn và làm nó Âm hơn, trong khi Ly là Hỏa, làm ấm cơ thể bạn và làm nó Dương hơn. Khảm và Ly là các phương pháp hay nguyên nhân, trong khi Âm và Dương là các kết quả. Khi Khảm và Ly được điều chỉnh đúng đắn, Âm và Dương được cân bằng và tương tác một cách hài hòa.
Những người thực hành khí công tin rằng cơ thể bạn luôn quá Dương, trừ khi bạn bị bệnh hoặc đã không ăn trong một thời gian dài. Dương dư khiến cơ thể thoái hóa và cháy kiệt, gây ra sự lão hóa. Dùng Thủy để làm mát cơ thể mình, bạn có thể làm chậm tiến trình lão hóa và kéo dài đời mình. Những người thực hành khí công cải thiện phẩm chất của Thủy trong cơ thể họ, và giảm bớt số lượng của Hỏa. Bạn nên luôn giữ đề tài này ở vị trí hàng đầu trong danh sách nghiên cứu và khảo cứu của mình. Nếu bạn thành tâm suy ngẫm và thí nghiệm, bạn sẽ nắm được mẹo để điều chỉnh chúng.
Thủy và Hỏa đại diện cho nhiều thứ trong cơ thể. Trước tiên, Khí được phân loại theo Hỏa hay Thủy. Khi Khí của bạn không thuần khiết, khiến cơ thể bạn nóng lên và tâm trí bạn trở nên bất ổn (Dương), nó được xếp vào loại Hỏa Khí (火氣). Khí nào thuần khiết và có thể làm mát cơ thể vật lý và tinh thần của bạn, làm chúng Âm hơn, là Thủy Khí (水氣). Khí của bạn không bao giờ nên thuần túy là Thủy. Nó có thể làm nguội Hỏa, nhưng không bao giờ nên dập tắt Hỏa, vì điều đó đồng nghĩa với cái chết.
Hỏa Khí khuấy động và kích thích các cảm xúc, từ đó phát sinh ra cái tâm tình cảm gọi là Tâm (心), được coi là tâm Hỏa hay tâm Dương. Mặt khác, cái tâm mà Thủy Khí phát sinh thì tĩnh lặng, vững chãi và trí tuệ. Nó được gọi là Ý (意), và được coi là tâm Thủy hay tâm trí tuệ. Nếu Thần của bạn được nuôi dưỡng chủ yếu bằng Hỏa Khí, tuy Thần của bạn có thể cao, nhưng là một Thần Dương, nó sẽ tán loạn và mê lầm. Nếu Thần được nuôi dưỡng và nâng lên chủ yếu bằng Thủy Khí, nó sẽ là một tâm trí Âm vững chắc và ổn định. Khi Ý của bạn cai quản Tâm của bạn một cách hiệu quả, ý chí của bạn, như một chủ ý tình cảm mạnh mẽ, có thể vững vàng.
Khí của bạn là nguyên nhân chính của Âm và Dương nơi cơ thể, tâm trí và Thần của bạn. Để điều tiết Âm và Dương, bạn cần điều tiết Thủy Khí và Hỏa Khí tại nguồn của chúng.
Để phân tích Khảm và Ly và điều chỉnh chúng một cách hiệu quả, hãy áp dụng khoa học hiện đại để kết hôn quá khứ với hiện tại, và để sinh ra tương lai. Sự nương cậy của y học hiện đại vào thuốc men là cách tồi tệ nhất để chữa bệnh hay đạt sức khỏe. Cách tốt nhất là giải quyết vấn đề tại cội nguồn của nó. Trung Hoa cổ đại không có nền hóa học y khoa hiện đại của chúng ta, và đã phải phát triển những cách khác để điều chỉnh Thủy và Hỏa của cơ thể. Chúng ta có thể học được nhiều điều từ họ. Chẳng hạn, ngày nay nhiều bệnh nhân viêm khớp nương cậy vào thuốc để giảm đau. Tuy điều này có thể mang lại sự giảm đau tạm thời, nó không chữa lành vấn đề. Khi thuốc hết, cơn đau lại trở lại. Khí công y học Trung Hoa chữa viêm khớp bằng cách tái xây dựng sức mạnh của các khớp. Bệnh nhân gia tăng sự lưu hành Khí bằng những bài tập chậm rãi, nhẹ nhàng, và xoa bóp để làm mạnh các khớp. Những sự thực hành này điều chỉnh lại sự cân bằng Âm Dương, cho phép cơ thể sửa chữa tổn thương và gia tăng sức mạnh của các khớp. Lối tiếp cận này giải quyết tận gốc vấn đề.
Tuy vậy, nhiều phương pháp y khoa hiện đại vẫn phù hợp với lý luận Khảm Ly. Sốt được trị bằng cách dùng thuốc và nước đá để hạ nhiệt độ. Nước đá được dùng để giảm sưng do chấn thương. Bất luận bạn đi theo y học cổ truyền hay hiện đại, lý thuyết căn bản của sự chữa lành vẫn như nhau, tức là sự điều chỉnh của Khảm và Ly. Hóa học y khoa đã đem lại cho chúng ta nhiều điều kỳ diệu, nhưng cũng mang lại nhiều vấn đề.
Chìa khóa là hiểu sự lưu hành của Khí, tức điện sinh học, trong cơ thể. Điều tiết nó làm mạnh cơ thể và duy trì sức khỏe, cho phép các thầy thuốc sửa chữa Khí bất thường ngay cả trước khi các triệu chứng thể chất xuất hiện, và gia tăng phẩm chất cũng như thời lượng của đời sống.
Các Chìa Khóa Để Điều Chỉnh Khảm Và Ly
Ở đây chúng ta bàn về việc Khảm và Ly liên hệ với hơi thở, tâm trí và Thần của bạn như thế nào, và các chìa khóa để điều tiết chúng trong sự thực hành khí công. Kết hợp chúng lại, chúng ta xây dựng một chiếc chìa khóa bí mật dẫn đến kho báu của khí công.
Khảm và Ly của hơi thở. Trong khí công, hơi thở được coi là một chiến lược để dẫn Khí. Hướng dẫn hơi thở của mình, bạn có thể dẫn Khí đến da hay đến tủy. Thở chậm có thể làm dịu dòng Khí, trong khi thở nhanh có thể làm nó hoạt động mạnh lên. Khi bạn hưng phấn, cơ thể bạn ở trạng thái Dương, và bạn thở ra lâu hơn hít vào. Điều này dẫn Khí đến da, nơi Khí dư thừa được tản ra qua mồ hôi. Khi bạn buồn, cơ thể bạn ở trạng thái Âm, và bạn hít vào lâu hơn thở ra. Điều này bảo tồn Khí bằng cách dẫn nó vào trong, và bạn cảm thấy lạnh. Qua hơi thở, bạn điều chỉnh Âm và Dương của cơ thể, vậy hơi thở có Khảm và Ly.
Hít vào là một hoạt động của Thủy (Khảm), bởi vì bạn dẫn Khí vào trong để tích trữ nó trong tủy xương. Điều này làm giảm Vệ Khí (衛氣) và Khí ở các bắp thịt và gân, làm dịu cái Dương của cơ thể. Thở ra là một hoạt động của Hỏa (Ly), bởi vì nó đem Khí ra ngoài đến các bắp thịt, gân và da để tiếp năng lượng cho chúng, làm cơ thể Dương hơn, và tăng cường Vệ Khí. Khi cơ thể Dương hơn môi trường xung quanh nó, Khí của nó bị tản ra.
Âm và Dương nên được cân bằng để cơ thể bạn hoạt động hài hòa. Mẹo ở chỗ sử dụng các chiến lược hô hấp. Thông thường, hít vào và thở ra nên bằng nhau. Khi bạn hưng phấn, cơ thể bạn quá Dương, nên bạn có thể hít vào lâu hơn và sâu hơn để làm dịu tâm trí và dẫn Khí vào trong, để làm nó Âm hơn.
Thở ra dẫn Khí đến da và đến năm đầu cực (đỉnh đầu, hai huyệt Lao Cung (勞宮, P-8) ở giữa hai lòng bàn tay, và hai huyệt Dũng Tuyền (湧泉, K-1) gần giữa hai lòng bàn chân), để trao đổi với môi trường xung quanh. Hít vào dẫn Khí sâu vào bên trong cơ thể để đến các cơ quan nội tạng và tủy. Bảng 1-1 tóm tắt việc các chiến lược hô hấp khác nhau ảnh hưởng đến Âm và Dương trong những biểu hiện khác nhau của chúng như thế nào.
| Cấp Độ | Khảm (Thủy) — Hít vào | Ly (Hỏa) — Thở ra |
|---|---|---|
| Thần (spirit) | Thần là trạm điều khiển, chính là Khí | |
| Khảm / Ly | Khảm (thủy) | Ly (hỏa) |
| Chiến lược (Strategy) | Hít vào (Inhale) | Thở ra (Exhale) |
| Phương pháp (Method) | Khí đi vào từ các kinh chính (xương và tủy) | Khí đi ra từ các kinh chính (bắp thịt và da) |
| Biểu hiện (Manifestations) | lạnh | nóng |
| nổi | chìm | |
| nhẹ | nặng | |
| tĩnh | hưng phấn | |
| tích trữ | biểu hiện | |
| ngưng tụ | giãn nở | |
| Kết quả (Results) | Âm | Dương |
Bảng 1-1. Ảnh Hưởng Của Hơi Thở Đối Với Âm Và Dương Của Cơ Thể Trong Những Biểu Hiện Khác Nhau Của Chúng
Khảm và Ly của tâm. Theo truyền thống Trung Hoa, một người có hai tâm, Tâm (心) và Ý (意). Tâm có nghĩa là trái tim, cái tâm được phát sinh bởi sự xáo trộn tình cảm, tức tâm tình cảm. Chữ Hán của Ý gồm ba chữ. Chữ trên cùng có nghĩa là thiết lập (Lập, 立), chữ ở giữa có nghĩa là nói (Viết, 曰), và chữ dưới cùng có nghĩa là tim (Tâm, 心). Điều đó có nghĩa là tâm tình cảm bị đặt dưới sự kiểm soát khi bạn thiết lập sự giao tiếp với trái tim của mình. Ý có thể được dịch là tâm trí tuệ. Tâm làm bạn hưng phấn và xáo trộn cảm xúc của bạn, làm cơ thể bạn Dương, nên nó được coi là Ly. Ý làm bạn tĩnh lặng, bình an và có khả năng suy nghĩ sáng suốt (Âm), nên nó được coi là Khảm.
Trong sự huấn luyện khí công, tâm là vị tướng chỉ huy trận đánh, quyết định chiến lược chiến đấu (hơi thở), và chỉ đạo sự di chuyển của binh lính (Khí). Như một vị tướng, bạn kiểm soát Tâm (tâm tình cảm) của mình và dùng Ý (tâm trí tuệ) để phán đoán tình hình và quyết định chiến lược thích đáng.
Trong khí công, Ý của bạn thống lĩnh tình hình và phát sinh một ý niệm. Ý niệm này phát sinh và thực thi chiến lược (hơi thở), và là lực đẩy Khí. Khi tâm trí bạn hưng phấn và được tiếp năng lượng, chiến lược (hơi thở) mang tính tấn công hơn (nhấn mạnh vào thở ra), và sự lưu hành Khí mạnh mẽ và giãn nở hơn. Cái tâm hung hăng này được coi là tâm Hỏa, làm cơ thể bạn Dương hơn. Khi chiến lược mang tính phòng thủ hơn (nhấn mạnh vào hít vào), sự lưu hành Khí sẽ tĩnh lặng và ngưng tụ hơn. Một cái tâm tĩnh lặng hay trầm cảm là tâm Thủy, vì nó làm cơ thể bạn Âm hơn.
Khảm và Ly của tâm quan trọng hơn hơi thở, vì tâm quyết định chiến lược. Điều tiết tâm và hơi thở là hai kỹ thuật căn bản để kiểm soát Âm và Dương của cơ thể bạn. Điều tiết tâm và hơi thở không thể tách rời nhau. Khi tâm được điều tiết, hơi thở cũng có thể được điều tiết, và khi hơi thở được điều tiết, tâm đi vào một cấp độ tĩnh lặng sâu hơn.
Khảm và Ly của Thần. Giờ đây chúng ta hãy xem xét yếu tố quyết định nhất trong việc thắng một trận đánh, đó là Thần (神). Thần là nhuệ khí của các sĩ quan và binh lính của vị tướng. Trong suốt lịch sử có nhiều trường hợp những đạo quân đã thắng những trận đánh với những tỷ lệ chênh lệch rất lớn vì nhuệ khí của binh lính họ cao.
Trong sự huấn luyện khí công cũng vậy, Thần quyết định sự thực hành khí công của bạn sẽ thành công đến mức nào. Ý của bạn, vị tướng lập chiến lược, phải quan tâm đến việc nâng cao nhuệ khí chiến đấu (Thần) của binh lính (Khí). Khi nhuệ khí cao, binh lính được dẫn dắt một cách hiệu quả và chiến lược được thực thi một cách hiệu nghiệm.
Dùng Ý để nâng cao Thần là chìa khóa chính yếu của sự huấn luyện khí công thành công. Thần là bộ tư lệnh cai quản Khí, cùng với Ý. Ý và Thần liên hệ mật thiết và không thể tách rời nhau.
Khi Ý được tiếp năng lượng, Thần cũng được nâng lên. Bạn muốn nâng Thần của mình lên nhưng không muốn làm nó hưng phấn. Khi Thần được nâng lên, chiến lược được thực thi một cách hiệu quả, nhưng nếu Thần bị hưng phấn, cơ thể trở nên quá Dương, điều không mong muốn trong sự thực hành khí công. Khi bạn thực hành khí công, bạn muốn giữ Thần của mình luôn ở mức cao, để cai quản chiến lược và Khí. Điều này giúp bạn điều tiết Khảm và Ly.
Thần là tháp điều khiển điều chỉnh Khảm và Ly, nhưng bản thân nó không có Khảm và Ly. Một số người thực hành coi Thần được nâng cao là Ly (Hỏa), và Thần tĩnh lặng là Khảm (Thủy).
Bây giờ, chúng ta hãy rút ra một vài kết luận quan trọng từ cuộc thảo luận này:
- Khảm (Thủy) và Ly (Hỏa) không phải là Âm và Dương. Khảm và Ly là những phương pháp điều tiết Âm hay Dương.
- Bản thân Khí chỉ là một dạng năng lượng và không có Khảm và Ly. Khi Khí dư thừa hay hư hao, nó có thể làm cơ thể quá Dương hay quá Âm.
- Khi bạn điều chỉnh Khảm và Ly trong cơ thể, tâm là mối quan tâm hàng đầu. Tâm có thể là Khảm hay Ly. Nó quyết định chiến lược (hơi thở) để thu hồi Khí (Khảm) hay để giãn nở nó (Ly).
- Hơi thở có Khảm và Ly. Hít vào là Khảm vì nó làm cơ thể Âm hơn, trong khi thở ra, làm cơ thể Dương hơn, là Ly.
- Thần không có Khảm và Ly. Thần là chìa khóa làm cho sự điều chỉnh Khảm và Ly có hiệu quả.
Các Chìa Khóa Để Điều Chỉnh Khảm Và Ly
Các chìa khóa để điều chỉnh Khảm và Ly được nhắc đi nhắc lại trong các cổ thư. Chìa khóa thứ nhất là Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau. Chìa khóa thứ hai là Thần và Khí kết hợp với nhau.
Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau (Thần Tức Tương Y, 神息相依). Hơi thở là chiến lược hướng dẫn Khí theo nhiều cách khác nhau, kiểm soát và điều chỉnh Khảm và Ly, đến lượt chúng lại kiểm soát Âm và Dương của cơ thể. Thần là ảnh hưởng điều khiển làm cho chiến lược hoạt động một cách hiệu quả nhất. Thần cai quản chiến lược một cách trực tiếp, và kiểm soát Khảm Ly cùng Âm Dương của cơ thể một cách gián tiếp. Sự thành công của việc điều chỉnh Khảm Ly của bạn tùy thuộc vào Thần của bạn.
Khi Thần phù hợp với hô hấp, nó dẫn Khí trực tiếp để ngưng tụ và giãn nở theo cách hiệu quả nhất. Thần phải phù hợp với hơi thở để nó có thể được nâng lên hay làm dịu xuống, và hơi thở phải nương dựa vào Thần để làm cho chiến lược hoạt động. Dường như Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau và không thể tách rời. Sự huấn luyện này được gọi là Thần Tức Tương Y, có nghĩa là Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau. Khi Thần và hơi thở phù hợp với nhau, nó được gọi là Thần Tức (神息) hay hơi thở của Thần, vì dường như chính Thần của bạn đang thực sự hô hấp.
Thần Tức Tương Y là một kỹ thuật trong đó, khi Thần và hơi thở được hợp nhất, Thần kiểm soát Khí một cách trực tiếp.
Thần và Khí kết hợp với nhau (Thần Khí Tương Hợp, 神氣相合). Khi Thần và hơi thở phù hợp với nhau như một, Khí được dẫn dắt trực tiếp, nên Thần và Khí trở thành một. Điều này được gọi là Thần Khí Tương Hợp, có nghĩa là Thần và Khí hài hòa với nhau. Thần cai quản Khí một cách trực tiếp và hiệu quả. Sự hài hòa của Thần và Khí là kết quả của việc Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau.
Đạt Ma tin rằng để có một cuộc đời dài lâu và bình an, Thần và Khí phải phối hợp và hài hòa với nhau. Ngài nói: “Nếu người ta không giữ mẹ (Khí) và con (Thần) ở bên nhau, tuy Khí hô hấp ở bên trong, Thần vẫn nhọc nhằn và khao khát những điều bên ngoài, nên Thần luôn trụy lạc và ô uế, do đó không thanh tịnh. Nếu Thần không thanh tịnh, nguyên khí hài hòa sẽ dần dần tán đi, và chúng không thể được giữ ở bên nhau.” Tinh thần rất quan trọng, và việc điều tiết Thần là một trong những cấp độ cao nhất của sự thực hành khí công. Để đạt đến một mức độ hài hòa cao, trước tiên hãy điều tiết tâm tình cảm của bạn, điều khó đạt được trong xã hội thế tục.
1-5 · Khí Công Và Sức Khỏe
Khi chúng ta bàn về mối quan hệ giữa sự thực hành khí công và sức khỏe, trước tiên chúng ta nên định nghĩa sức khỏe. Có hai khía cạnh của sức khỏe, mặt Dương của sức khỏe thể chất, có thể thấy được, và mặt Âm của sức khỏe tinh thần, chỉ có thể cảm nhận được. Hơn một nửa số bệnh tật ngày nay do những vấn đề tinh thần gây ra như trầm cảm, căng thẳng và sự mệt mỏi tinh thần. Có một số lý do:
- Do cấu trúc xã hội của chúng ta đang thay đổi, áp lực của việc sống trong xã hội ngày nay lớn hơn bao giờ hết. Lối sống hiện đại của chúng ta chỉ mới bắt đầu vào thế kỷ 20. Trước đó, kỹ nghệ không chi phối nặng nề cấu trúc xã hội, và nhiều người sống như nông dân. Cuộc đấu tranh để sống trong một xã hội đòi hỏi nhiều tiền hơn và nhiều hưởng thụ vật chất hơn chi phối tư duy của chúng ta và phát sinh áp lực lớn lao. Chỉ trong vài thập niên ngắn ngủi, chúng ta đã trở thành nô lệ của đồng tiền. Chúng ta đã đánh mất lối sống nguyên thủy vốn nối kết chúng ta với thiên nhiên và với cảm giác tâm linh. Chúng ta đang đối diện với một cuộc cách mạng đang đổi thay lối sống cũ thành lối sống mới, phát sinh nhiều vấn đề tinh thần.
- Khoa học y khoa đã tiến đến một mức độ cao và kiểm soát được hầu hết các bệnh thông thường, nhưng vẫn bị giới hạn trong sự hiểu biết về mặt Dương. Nó thiếu sự quan tâm đến và sự hiểu biết về khía cạnh năng lượng sinh học của cơ thể, tâm trí và tinh thần. Vì vậy, chúng ta bỏ lỡ một nửa của khoa học con người, và không thể giải quyết được một số vấn đề và bệnh tật. Chúng ta không thể chữa trị hiệu quả những vấn đề như ung thư và AIDS. Cũng vậy, vì thiếu sự hiểu biết về trung tâm tinh thần và tâm linh của mình, chúng ta không thể giải quyết bệnh tâm thần. Nhiều nhà khoa học tin rằng chúng ta hiểu chưa đến 12% chức năng của bộ não.
- Do sự suy giảm của đức tin tôn giáo, những người thế tục đã đánh mất người hướng dẫn của mình trong việc hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Đó là vì tri thức của công chúng nói chung đã gia tăng, và giáo điều tôn giáo bị chất vấn một cách nghiêm túc hơn bao giờ hết. Các giới chức tôn giáo không thể đưa ra một chương trình giáo dục có sức thuyết phục đối với thế hệ mới có tư duy cởi mở. Hầu hết các nhà thờ vẫn giảng dạy bằng những phương pháp đã được dùng hàng ngàn năm nay. Điều này thật đáng tiếc, vì nhiều người đã bị lạc lối trong xã hội mới ngày nay. Nhiều người Tây phương không thể tìm thấy ý nghĩa mới trong đời mình từ tôn giáo truyền thống, nên quay sang các tôn giáo và triết học Đông phương, hy vọng tìm được câu trả lời và sự bình an.
- Sự tu dưỡng nội tại, như thiền định, đã phần lớn bị sao lãng. Nhiều người dựng lên một bề mặt giả tạo để che giấu cái ngã thật của mình với những người xung quanh. Chúng ta nói dối, và giấu kín những nỗi sợ hãi và mặc cảm tội lỗi của mình sâu trong tiềm thức. Đi xưng tội (cách Tây phương), hay cởi bỏ chiếc mặt nạ của mình qua thiền định (cách Đông phương), là những cách thức truyền thống để giải tỏa những cảm xúc dồn nén và cân bằng cảm giác của chúng ta. Ngày nay, nhiều người đã đánh mất hai phương pháp hữu hiệu nhất để giải tỏa sự mất cân bằng tinh thần do những cảm xúc bị đè nén và những mặc cảm tội lỗi gây ra.
Tình trạng tinh thần của chúng ta liên hệ mật thiết với sức khỏe của chúng ta. Nhiều bệnh tật do sự mất cân bằng tinh thần gây ra, dẫn đến sự lưu hành Khí trong cơ thể không hài hòa. Để có sức khỏe tốt, bạn cần một cơ thể mạnh mẽ nhưng cũng cần một tâm trí khỏe mạnh. Khí công để chữa lành bệnh và để duy trì sức khỏe được dựa trên khái niệm này.
Để duy trì sức mạnh thể chất, các bài tập khí công rèn luyện các bắp thịt, gân, dây chằng và xương đã được phát triển. Trước thời Đạt Ma (483 đến 536 sau Công nguyên), nhiều bài tập đã được các thầy thuốc phát triển để điều tiết bệnh tật và tạo điều kiện cho sự chữa lành. Đạt Ma mang đến một khái niệm khác, được ghi lại trong bộ kinh điển Dịch Cân Kinh. Từ đó, dựa trên sự huấn luyện này, vô số môn phái khí công Ngoại Đan đã được sáng tạo.
Thiền định được các trường phái khác nhau phát triển để điều tiết tâm trí vào sự bình an và hài hòa. Thiền định không chỉ mang lại một tâm trí bình an, mà còn xây dựng Khí dồi dào để lưu hành trong cơ thể, qua các kinh và mạch của Khí.
Khoa học y khoa hiện đại đã cải thiện sức khỏe và kéo dài đời sống một cách đáng kể. Nhưng thành tựu khoa học ngày nay vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Nhiều vấn đề mới đã phát sinh do cấu trúc xã hội và môi trường mới. Áp lực được phát sinh trong xã hội ngày nay đã gây ra nhiều vấn đề tinh thần, và nhiều căn bệnh mới đã xuất hiện. Chẳng hạn, sự gia tăng của ung thư vú do đi ngược lại tiến trình của thiên nhiên. Ngay cả năm mươi năm trước, nhiều phụ nữ có thể mong đợi sinh ít nhất mười đứa con. Đã có một sự trao đổi Khí liên tục giữa các bà mẹ và các em bé. Ngày nay chúng ta kiểm soát việc sinh đẻ và hầu hết phụ nữ sẽ không sinh quá ba đứa con trong suốt đời. Khí bị kẹt lại ở vùng ngực và phát sinh các tế bào ung thư. Chúng ta nên hiểu một điều quan trọng. Cơ thể mà chúng ta có hiện nay đã phát triển qua hàng triệu năm tiến hóa. Không thể nào chúng ta thích nghi được với lối sống mới chỉ được tạo ra trong vài thập niên qua.
Tương tự như vậy, chứng đau lưng dưới do thiếu vận động gây ra. Lao động chân tay là cách truyền thống để duy trì sức mạnh và sức khỏe, nhưng nay máy móc đã thay thế hầu hết công việc ấy, và đương nhiên phần thân mình thoái hóa một cách nhanh chóng. Cũng vậy, những vấn đề thông thường về đầu gối được phát sinh bởi việc thiếu đi bộ, vốn là điều bắt buộc trong xã hội cho đến năm mươi năm trước. Sự giao thông bằng ô tô đã gây ra sự thoái hóa của đầu gối chúng ta.
Ngoài ra, sự sản xuất tinh trùng của con người đã giảm đáng kể trong hai thập niên qua, do lối sống mới của chúng ta gây ra.* Theo truyền thống, người ta đi ngủ một thời gian ngắn sau khi mặt trời lặn và thức dậy lúc bình minh. Cơ thể chúng ta đã thích nghi với thiên nhiên qua hàng triệu năm. Trong lối sống mới của mình, chúng ta thường không đi ngủ trước nửa đêm. Theo lý thuyết khí công, Khí trong cơ thể chúng ta biểu hiện thành hành động thể chất vào ban ngày. Khí nuôi dưỡng não bộ và các cơ quan sinh dục của chúng ta qua tủy sống vào ban đêm. Nếu chúng ta đi ngủ trước 9 giờ tối, cần hai đến ba tiếng đồng hồ hô hấp tự nhiên trong lúc ngủ để dẫn Khí từ bề mặt vào nuôi dưỡng sâu bên trong. Đến nửa đêm, nó đã sẵn sàng để nuôi dưỡng não bộ và các cơ quan sinh dục. Năng lượng não được nạp lại, và tinh trùng cùng các hormone sinh dục được sản xuất. Lối sống hiện đại đã đưa vào một thời khóa biểu mới, ngăn cản sự sản xuất tự nhiên của các hormone. Đương nhiên, sự sản xuất tinh trùng đã giảm đi trong hai thập niên qua. Nếu cứ tiếp tục như thế, vấn đề sẽ càng nghiêm trọng hơn nữa.
Vô số vấn đề khác đã được phát sinh bởi những sản phẩm mới gây ra sự ô nhiễm vật chất và năng lượng. Do thiếu sự hiểu biết về năng lượng con người và sự dễ bị tổn thương của nó đối với sự ô nhiễm này, chúng ta đang sống trong một thế giới có nguy cơ mất cân bằng thể chất và tinh thần rất lớn. Để giải quyết những vấn đề này, trước tiên chúng ta phải đạt được sự nhận thức trước khi có thể đánh thức những người khác. Cần phải có một sự nghiên cứu sâu sắc và đáng kể được tiến hành và được đem ra thực hành.
1-6 · Khí Công Và Trường Thọ
Đối với nhiều người thế tục, trường thọ có nghĩa là sống lâu, bất kể sức khỏe hay ý nghĩa của cuộc đời. Hầu hết mọi người ngày nay muốn sống lâu về mặt thể chất, mặc dù họ đang đau khổ về mặt tinh thần. Trường thọ là điều quan trọng đối với họ, chứ không phải hạnh phúc.
Những người khác tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời để làm cho sự trường thọ có ý nghĩa hơn. Họ tìm một con đường để kéo dài đời sống thể chất và đồng thời giữ cho sự bình an tinh thần được hài hòa với cơ thể vật lý. Cho họ, khí công trường thọ đã được phát triển.
Đối với các Đạo sĩ tôn giáo, trường thọ được coi là rất quan trọng và mang tính then chốt để đạt đến giác ngộ. Họ tin rằng cần nhiều kiếp sống mới đạt đến giác ngộ để được tái hợp với Đạo. Họ tin, cũng như các Phật tử, rằng cơ thể vật lý chỉ sinh ra để tinh thần tạm trú ngụ cho việc tu dưỡng tâm linh tiếp theo. Cơ thể vật lý không có mục đích hay ý nghĩa nào hơn thế. Đối với các Phật tử, cơ thể vật lý không quan trọng và họ thường sao lãng tình trạng của nó, chỉ nhấn mạnh vào việc tu dưỡng tâm và Thần. Nhưng các Đạo sĩ tin rằng nếu bạn sống lâu hơn trong mỗi kiếp, bạn sẽ có nhiều thì giờ hơn cho sự tu dưỡng tâm linh, và không cần phải luân hồi quá nhiều lần trước khi đạt đến giác ngộ. Vì vậy họ chăm sóc cơ thể vật lý của mình cách tử tế. Vậy nên đối với một số người tôn giáo, ý nghĩa của trường thọ là cung cấp một thời gian dài hơn cho sự tu dưỡng tâm linh.
Vậy thì, những chìa khóa hay những đòi hỏi để đạt đến trường thọ là gì? Làm sao chúng ta đạt được mục tiêu này? Những câu hỏi ấy đã được tìm kiếm trong mọi thế hệ của con người. Bây giờ chúng ta hãy tóm tắt một số điểm then chốt về trường thọ từ kinh nghiệm của con người trong quá khứ.
Những điểm then chốt:
1. Sự cân bằng và hài hòa của Khí thân (Âm) với cơ thể vật lý (Dương). Khi có sự cân bằng và hài hòa của Âm và Dương, năng lượng dư thừa được giảm đến mức tối thiểu. Sức khỏe được duy trì và trường thọ được đạt đến qua một lối sống lành mạnh, và bằng cách giữ Âm và Dương ở trong sự cân bằng qua sự huấn luyện khí công.
2. Đi theo đường lối của Đạo, điều chỉnh cơ thể mình để thích nghi với những chu kỳ tự nhiên như thời gian trong ngày và sự thay đổi của các mùa. Tránh sự ô nhiễm vật chất hay năng lượng nhân tạo.
3. Hiểu cơ thể vật lý và Khí thân một cách khoa học. Qua đó chúng ta có thể tìm ra một con đường để làm chậm tiến trình lão hóa, và chìa khóa để đạt đến sự giác ngộ tâm linh.
Những khái niệm này cũng đã được bàn đến trong giới khí công y học. Một trong những bộ kinh điển y học cổ xưa nhất, Hoàng Đế Nội Kinh: Tố Vấn, nói: “Những người xưa biết Đạo, noi theo Âm và Dương, phù hợp với những cách thức của thiên nhiên, kiểm soát việc ăn uống của mình, sống có quy củ, không lao động mà không biết giới hạn của mình, và vì thế có thể giữ cho hình (thân thể) và Thần (tinh thần) ở bên nhau. Bởi vậy, họ trọn vẹn kết thúc những năm trời (tuổi thọ do trời ban cho) của mình và qua khỏi một trăm năm, rồi mới ra đi.”7 Để có một cơ thể khỏe mạnh, hãy quan tâm đến sự hài hòa của Âm và Dương và đi theo Con Đường Tự Nhiên. Chỉ khi ấy bạn mới có thể đạt đến trường thọ.
Chúng ta hãy tóm tắt cách chúng ta đạt được những mục tiêu này với khí công.
Cơ Thể Vật Lý
- Giữ cho tủy xương được sạch sẽ. Đa số các tế bào máu được sản xuất bởi tủy xương. Một khi chúng ta đến tuổi ba mươi, tủy xương bắt đầu thoái hóa nhanh chóng và phẩm chất cùng số lượng của sự sản xuất máu giảm đi. Các tế bào máu chuyên chở dưỡng chất, dưỡng khí và Khí cần thiết để thay thế các tế bào cũ bằng các tế bào mới. Nếu không có đủ các tế bào máu khỏe mạnh, sự thay thế tế bào bị ứ trệ và sự thoái hóa của cơ thể bắt đầu.
Sự thoái hóa của tủy xương là kết quả của sự hư hao Khí. Nếu không có Khí dồi dào, sự sản xuất máu từ tủy xương sẽ chậm chạp và thiếu hụt. Khí công tẩy tủy dạy cách dẫn Khí đến tủy xương, như được mô tả trong cuốn sách Qigong—The Secret of Youth.
2. Duy trì sức khỏe của cơ thể, đặc biệt là phần thân mình. Để có sức khỏe và trường thọ, chúng ta cần sức khỏe thể chất và tinh thần. Nếu không có một cơ thể khỏe mạnh vững chắc, dù bạn có năng lượng dồi dào, bạn vẫn không thể biểu hiện năng lượng ấy thành hình thức vật lý.
Một cơ thể vật lý khỏe mạnh tùy thuộc vào tình trạng của phần thân mình bạn, đặc biệt là cột sống. Qua tủy sống, não bộ của chúng ta kiểm soát toàn bộ cơ thể. Bất kỳ vấn đề nào ở cột sống cũng làm xáo trộn sự kiểm soát trôi chảy của não bộ bạn. Dọc theo cột sống có hai mạch Khí, một là tủy sống (Xung Mạch), và mạch kia ở ngoài cột sống, dưới da (Đốc Mạch). Chúng phân phối Khí đến hệ thần kinh trung ương và ra đến tứ chi. Nếu cột sống của bạn khỏe mạnh, sự lưu hành Khí sẽ không bị ứ trệ. Hầu hết các tế bào máu được sản xuất trong tủy sống và khung chậu. Khi Khí lưu hành dồi dào, sự thoái hóa của tủy xương bị làm chậm lại, và sự sản xuất các tế bào máu khỏe mạnh được duy trì.
- Cung cấp thức ăn và không khí với phẩm chất tốt nhất cho sự thay thế tế bào. Khoảng một ngàn tỷ tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi mỗi ngày. Để thay thế chúng, chúng ta phải cung cấp thức ăn và không khí có phẩm chất tốt, bằng không các tế bào mới sẽ không khỏe mạnh và chúng ta sẽ già đi nhanh hơn. Hít thở sâu là một trong những chìa khóa chính để giữ cho các tế bào khỏe mạnh.
- Thúc đẩy sự sản xuất hormone trong cơ thể. Các hormone (Nguyên Tinh) hoạt động như những chất xúc tác để làm cho sự trao đổi chất diễn ra trôi chảy. Khi sự sản xuất hormone chậm lại, sự thay thế tế bào cũng vậy, và cơ thể chúng ta thoái hóa nhanh hơn.
Khí Và Tâm
- Tích lũy Khí tại Hạ Đan Điền Chân, nơi sản xuất Khí đan dược và cũng là nơi tích trữ nó. Từ trung tâm năng lượng này, Khí được phân phối khắp cơ thể. Hạ Đan Điền có một cấu trúc tương tự như não bộ, với khả năng ký ức.10 Chúng được nối kết qua tủy sống và hệ thần kinh trung ương, nơi tính dẫn điện cao nhất và điện trở thấp nhất. Tuy có hai bộ não, chức năng của chúng có thể được coi là một. Bộ não dưới có thể tích trữ điện sinh học. Khi tâm phát sinh một ý niệm (EMF, lực điện động), Khí được dẫn đến cơ thể để hành động. Khi Khí được tích trữ tại Hạ Đan Điền Chân dồi dào, lực sống mạnh mẽ; bằng không chúng ta yếu ớt và chết trẻ. Chúng ta bàn đề tài này chi tiết hơn trong Chương 2.
- Tích lũy Khí trong Bát Mạch. Với một mức Khí dồi dào ở Hạ Đan Điền, hãy phân phối nó đến Bát Mạch, tức các hồ chứa Khí, và điều tiết nó trong Mười Hai Kinh Khí Chính, tức các con sông Khí. Thiền tiểu chu thiên là một trong những cách quan trọng nhất để gia tăng Khí và lưu hành nó. Để biết thêm thông tin về các kinh và mạch, xin tham khảo tiết 2-2.
- Lưu hành Khí một cách trôi chảy trong Mười Hai Kinh Khí Chính. Chỉ khi Khí được phân phối khắp nơi một cách trôi chảy, các tế bào trong cơ thể mới nhận được sự nuôi dưỡng Khí thích đáng và lực sống của chúng ta mới mạnh mẽ. Để đạt mục tiêu này, hãy cân bằng sự tập luyện (Dương) với sự thư giãn (Âm).
- Duy trì một trạng thái tình cảm trung tính. Đối với khí công nho sĩ Trung Hoa, việc điều tiết tâm tình cảm là quan trọng nhất. Sự lão hóa do sự mất cân bằng của Khí được phân phối trong cơ thể gây ra, một phần do sự xáo trộn tình cảm. Hãy giải phóng chính mình khỏi sự trói buộc tình cảm để sống bình an và hài hòa.
- Nâng cao tinh thần sinh lực. Khi tinh thần của bạn cao, lực sống của bạn mạnh mẽ. Để nâng cao tinh thần sinh lực, sau khi đã tích trữ Khí dồi dào tại Hạ Đan Điền Chân, hãy dẫn nó lên não để nuôi dưỡng tinh thần. Điều này nâng tinh thần lên và dẫn đến giác ngộ.
- Hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Hãy phân tích đời mình và cố gắng hiểu ý nghĩa của nó. Nếu không hiểu, bạn như chiếc thuyền mất bánh lái và bối rối, dẫn đến trầm cảm và tinh thần sa sút. Khi bạn có một mục tiêu trong đời, tư duy và hoạt động của bạn sẽ có ý nghĩa.
Những Phương Pháp Hiện Đại Khả Dĩ Cho Sự Trường Thọ
Đây là bản tóm tắt về việc khí công liên hệ với trường thọ như thế nào. Nếu chúng ta mượn tri thức và kinh nghiệm của quá khứ, chúng ta có thể tìm ra một con đường khoa học hiện đại dẫn đến trường thọ. Sau đây là một vài gợi ý cho các nhà khoa học y khoa ngày nay.
Về mặt thể chất:
- Khảo cứu điện năng của cơ thể con người. Nghiên cứu các tính chất điện của cơ thể để hiểu mạch điện của nó. Điều này sẽ xác định chính xác những sự mất cân bằng và ứ trệ của Khí, và cho phép các trường điện từ bên ngoài sửa chữa chúng. Khi ấy chúng ta có thể ngăn ngừa bệnh tật trước khi nó biểu hiện. Chỉ trong năm mươi năm nữa, mỗi gia đình sẽ có một máy quét để quét tình trạng năng lượng của cơ thể và sửa chữa nó. Chúng ta sẽ có thể bảo tồn sức mạnh thể chất một cách đáng kể.
- Duy trì mức hormone thích đáng. Các hormone nhân tạo có thể duy trì những đòi hỏi của chúng ta. Nhiều người đã kéo dài đời sống của mình bằng hormone tăng trưởng nhân tạo.12
- Duy trì sự sản xuất máu trong tủy xương. Cần có một sự cung cấp Khí dồi dào cho tủy. Trong tương lai chúng ta sẽ làm sạch tủy xương bằng sự can thiệp điện từ bên ngoài. Chúng ta sẽ có nhiều tế bào máu khỏe mạnh để chuyên chở dưỡng khí, Khí và dưỡng chất đi khắp nơi cho sự thay thế tế bào.
- Làm chậm tiến trình lão hóa của tế bào. Phát minh một cái máy hay một buồng năng lượng để làm chậm tiến trình lão hóa của các tế bào, nhằm kéo dài đời sống.
- Gia tăng sự tích trữ Khí ở Hạ Đan Điền Chân. Trong tương lai, chúng ta có thể tìm ra một cách cơ học để tăng cường sự tích trữ Khí ở Hạ Đan Điền Chân; trước tiên là rèn luyện chính bình ắc-quy, rồi sau đó nạp điện cho nó từ bên ngoài.
Về mặt tinh thần:
- Khiêm tốn học hỏi từ những kinh nghiệm cổ xưa, vốn đưa ra những đường hướng cho tương lai. Chúng đã cho thấy điều gì là khả dĩ và vấn đề có thể nằm ở đâu. Nếu sự kiêu hãnh khoa học của chúng ta phớt lờ kinh nghiệm được tích lũy này, chúng ta có thể lặp lại những sai lầm của họ. Người trí tuệ nhớ đến cả những thành công lẫn thất bại trong quá khứ.
- Làm cho cuộc đời có ý nghĩa. Nhiều người không có ý nghĩa trong đời mình, khiến họ trầm cảm và không khỏe mạnh. Để hướng dẫn họ, chúng ta phải thiết lập những trung tâm tâm linh phi tôn giáo, nơi họ có thể thiền định và nhận ra vai trò tâm linh của sự hiện hữu của mình. Qua thiền định, tâm trí có thể sáng suốt và bình an, cung cấp một môi trường cho sự tự nhận thức. Đây là bước đầu tiên dẫn đến sự tự hiểu và con đường giác ngộ tâm linh, và tâm trí của họ sẽ hướng dẫn họ đi theo con đường đúng đắn trong đời.
- Nâng cao tinh thần sinh lực. Khi một người nhận ra chính mình, người ấy sẽ thấy làm sao để hội nhập vào xã hội này, và nâng cao tinh thần sinh lực của mình. Dùng các phương pháp khoa học để kích hoạt thêm các tế bào não và mở con mắt thứ ba, chúng ta có thể rút ngắn con đường đến giác ngộ. Tinh thần sinh lực của chúng ta sẽ cao, yếu tố vô hình quan trọng nhất trong sự trường thọ.
Trường Thọ Và Sự Tu Dưỡng Tâm Linh
Theo Phật giáo, một người có thể cần hàng trăm hay thậm chí hàng ngàn kiếp sống để tu dưỡng tinh thần, và thấy được bản tính chân thật của thực tại, để đạt đến giác ngộ. Trong mỗi kiếp sống, người ấy có thể chỉ tiến bộ được một chút. Trước khi hai mươi tuổi, người ấy bắt đầu cảm thấy căn tính tâm linh của mình, bước đầu tiên của sự nhận thức tâm linh. Suốt đời, người ấy thu thập thông tin và kinh nghiệm, sàng lọc chúng, và cuối cùng hiểu được ý nghĩa của chúng. Tinh thần học hỏi những ý niệm mới. Nếu bạn chết ở tuổi đôi mươi, bạn chỉ có vài năm để tu dưỡng. Thời gian tốt nhất cho sự tu dưỡng tâm linh là từ tuổi ba mươi, khi người ấy có một vài thuận lợi cho sự tu dưỡng tâm linh:
- Hiểu thế giới tốt hơn. Đến tuổi này, người ấy đã được giáo dục và đã kinh nghiệm thế giới. Người ấy có thể điều chỉnh hoàn cảnh của mình và trở nên nghiêm túc về đời sống tâm linh.
- Tình hình tài chính tốt hơn. Với sự an ninh tài chính, tâm trí tĩnh lặng hơn, và không bị kẹt trong vòng luẩn quẩn của sự sinh tồn hằng ngày, nên nó có thể tập trung vào mặt tâm linh nhiều hơn là mặt vật chất.
- Sự chuẩn bị tinh thần tốt hơn. Đến tuổi ba mươi, người ấy chín chắn hơn cả về mặt tinh thần lẫn tâm linh, và sẵn sàng hơn cho sự tu dưỡng tâm linh.
- Một tâm trí lô-gic hơn. Đến tuổi ba mươi, tri thức và sự phán đoán của người ấy đã phát triển được tư duy lô-gic, điều mang tính then chốt cho sự phát triển tâm linh đúng đắn. Sự tu dưỡng tâm linh được hướng dẫn bởi trí tưởng tượng chỉ có thể dẫn bạn ra xa khỏi bản tính chân thật của thực tại, và vào sự trói buộc sâu hơn của sự mê lầm tình cảm.
Bạn sống càng lâu, bạn càng có nhiều thì giờ để tu dưỡng và phát triển sự hiểu biết tâm linh của mình lên một mức độ cao hơn. Nếu bạn chết trẻ, bạn chỉ có một thời gian ngắn để tu dưỡng, và sự tiến bộ sẽ bị giới hạn trong kiếp sống này.
1-7 · Khí Công Và Giác Ngộ Tâm Linh
Mặc dù cả văn hóa Tây phương lẫn Đông phương trong quá khứ đều đã kinh nghiệm và ghi chép sự hiện hữu của tinh thần, cả hai đều chưa thể giải thích nó một cách rõ ràng và thỏa đáng. Vậy thì, tinh thần là gì? Chúng ta định nghĩa nó như thế nào? Vì tôi quen thuộc hơn với các khái niệm Trung Hoa từ nhãn quan Phật giáo và Đạo giáo, tôi sẽ tập trung vào khái niệm và sự hiểu biết của họ.
Khái niệm Trung Hoa cổ đại bắt nguồn từ Kinh Dịch, tin rằng có hai cực hay hai chiều kích cùng hiện hữu trong không gian. Một được gọi là không gian Âm (Âm Gian), và cái kia là không gian Dương (Dương Gian). Khi hai cực hay hai không gian này cùng hiện hữu, năng lượng Âm và Dương tương tác và trao đổi, từ tiến trình ấy sự sống được sinh ra. Sự sinh ra đầu tiên là sự sống tâm linh, và từ đó sự sống vật lý được hình thành. Một khi các sự sống vật lý được phát sinh, các sự sống tâm linh có thể cư ngụ trong chúng, hợp nhất thân tâm linh Âm và cơ thể vật lý Dương. Vũ trụ là sống động, mang cả sự hiện hữu tâm linh lẫn vật lý cùng một lúc. Mỗi sự sống được hình thành hay phát sinh từ không gian Âm-Dương này đều đi theo những mô hình của thiên nhiên và là một tiểu vũ trụ trong chính nó. Người ta nói: “Vũ trụ là một trời đất lớn, con người là một trời đất nhỏ.”18 Mỗi sự sống, ngay cả côn trùng và muông thú, đều có trời và đất riêng của mình.
Trong không gian, có hàng triệu vũ trụ, và trong mỗi vũ trụ có hàng triệu thiên hà. Trong mỗi thiên hà có vô số hệ mặt trời. Các nhà khoa học giả định rằng vũ trụ của chúng ta có thể có hình dáng như một quả trứng với hai cực (Hình 1-4).17 Người ta tin rằng sự sống phát sinh từ sự tương tác năng lượng của hai cực này.
Chúng ta cũng có hai cực trong cơ thể mình để duy trì đời sống của mình. Từ thời cổ, người Trung Hoa đã biết rằng cơ thể có hai cực, một được gọi là Hạ Đan Điền Chân, ở trung tâm trọng lực, và cái kia được gọi là Thượng Đan Điền, ở trong não, nơi Thần cư ngụ. Hai cực này liên hệ với nhau. Khi năng lượng ở Hạ Đan Điền dồi dào, Thần ở Thượng Đan Điền sẽ cao. Từ thời cổ, các Đạo sĩ đã tìm kiếm những cách để xây dựng Khí dồi dào ở Hạ Đan Điền Chân. Khoa học ngày nay đã công nhận rằng chúng ta có hai bộ não, một ở đầu và một ở vùng bụng.18 Điều này phù hợp với kinh nghiệm cổ xưa.
Vậy thì, tinh thần là gì? Tinh thần là bản tính chân thật, hay Đạo (Thái Cực), của vũ trụ này. Nó là năng lượng thiết yếu mà từ đó các sự sống được sinh ra. Nó là nguồn gốc của mọi chúng sinh. Đạo có thể là cái được gọi là Thượng Đế trong xã hội Tây phương. Cũng như vũ trụ, chúng ta cũng có tinh thần này ở bên trong mình.
Nguyên Thần của chúng ta, trước khi sinh ra, thì thuần khiết và chân thật. Nhưng sau khi sinh ra, môi trường của chúng ta điều kiện hóa chúng ta và chúng ta xây dựng một tâm thức. Chúng ta bước vào sự trói buộc của bùn lầy tình cảm, và kinh nghiệm khổ đau và hạnh phúc trong đời.
Các Đạo sĩ và Phật tử tin rằng để đưa tinh thần lên một mức độ cao hơn, chúng ta phải được sinh ra trong hình tướng vật lý và mượn các giác quan của cơ thể để thu thập thông tin về thiên nhiên. Tiến trình này phát sinh sự mê lầm, nhưng sau khi sàng lọc thông tin qua tâm trí tuệ, chúng ta dần dần hiểu được thiên nhiên. Để kích thích tinh thần học hỏi và trở nên nhận thức, chúng ta nói dối, lừa gạt, phạm lỗi lầm, kinh nghiệm khoái lạc và khổ đau, và bị kẹt trong sự trói buộc tình cảm. Chậm rãi và dần dần, qua sự kích thích tình cảm, chúng ta học được cách thông minh và chân thật, và cách giữ một cái tâm trung tính. Đó là con đường đưa tinh thần của chúng ta trở về trạng thái trung tính, về sự hợp nhất với tinh thần tự nhiên; vì thiên nhiên không có sự trói buộc tình cảm này. Bạn có thể đạt đến mức độ hợp nhất của trời và người (Thiên Nhân Hợp Nhất), và sẽ không luân hồi nữa, đã đạt được đời sống tâm linh vĩnh cửu.
Hình 1-4. Một Vũ Trụ Có Thể Có Hình Dáng Như Một Quả Trứng Với Hai Cực
Bằng cách tìm kiếm nguồn gốc của tinh thần, chúng ta có thể lĩnh hội ý nghĩa của tinh thần. Cũng theo cách ấy, các nhà khoa học vật chất tìm kiếm cấu trúc căn bản nhất của vật chất, để gỡ ra những điều bí ẩn của khoa học vật chất.
Từ hơn hai ngàn năm kinh nghiệm tu dưỡng tâm linh, các Đạo sĩ và Phật tử đã khám phá ra con đường để đạt được sự hợp nhất của tinh thần con người với tinh thần vũ trụ này. Bước đầu tiên là nhận ra thân tâm linh của chúng ta và hiểu nó, bằng cách trước tiên hiểu thân năng lượng, vốn liên kết với tinh thần. Trong quá khứ, Khí chỉ có thể được cảm nhận, nhưng nay qua sự nghiên cứu điện sinh học, nó có thể được thử nghiệm và đo lường, thay vì được coi là một khái niệm thần bí và mờ tối.
Để hợp nhất tinh thần của chúng ta với tinh thần tự nhiên, chúng ta cũng phải mở con mắt thứ ba (Thượng Đan Điền hay Thiên Nhãn) ở trung tâm phía dưới của trán. Điều này mở ra tâm thức tâm linh để nó sáng suốt và thấy được bản tính chân thật của thực tại, và để có thể tiếp cận tinh thần tự nhiên mà không bị trở ngại. Bước này được gọi là giác ngộ tâm linh.
Để mở con mắt thứ ba này, trước tiên người ta tích lũy Khí dồi dào ở Hạ Đan Điền Chân. Chỉ khi ấy người ta mới có đủ năng lượng để được dẫn lên qua tủy sống đến não, để kích hoạt và tiếp năng lượng cho nó đến một mức độ cộng hưởng cao. Vì Thần cư ngụ trong não, nó cũng có thể được nâng lên một mức độ cao hơn. Khi nhiều tế bào não hơn được kích hoạt, một vầng hào quang sẽ được thấy. Nhiều năm tu dưỡng Khí tập trung năng lượng ở phía trước não, để con mắt thứ ba có thể mở ra. Để biết thêm về điều này, xin tham khảo Qigong—The Secret of Youth, và cả Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
Luyện Tinh Hóa Khí (煉精化氣). Người ta hấp thụ thức ăn và không khí khỏe mạnh (tinh hậu thiên) và chuyển hóa nó thành Khí, đồng thời phát sinh sự sản xuất hormone (tinh tiên thiên) từ các tuyến của mình bằng khí công. Với mức hormone cao hơn, bạn có thể chuyển hóa tinh chất của thức ăn thành Khí một cách hiệu quả hơn. Một khi Khí dồi dào đã được chuyển hóa, bạn tích trữ nó ở Hạ Đan Điền Chân, được coi là sự hình thành của Thánh Thai (聖胎). Sau đó là mười tháng mang thai (Thập Nguyệt Hoài Thai).
Luyện Khí Hóa Thần (煉氣化神). Kế tiếp, bạn dẫn Khí lên não để nuôi dưỡng các tế bào não, và nâng cao tinh thần sinh lực. Bạn cũng dẫn Khí đến phía trước não qua các tuyến yên và tuyến tùng. Điều này thúc đẩy sự sản xuất trôi chảy của hormone tăng trưởng và melatonin, những chìa khóa của sự trường thọ.
Sau nhiều năm, hay nhiều kiếp sống, thiền định, cuối cùng bạn có thể mở con mắt thứ ba, cho phép tinh thần của bạn rời khỏi cơ thể trong khi bạn vẫn còn sống. Tâm trí của bạn kinh nghiệm sự hợp nhất dần dần với tinh thần tự nhiên, mà nó tiếp xúc một cách trực tiếp. Trong sự tu dưỡng của Đạo giáo, đây là sự ra đời của thánh thai, khi tinh thần đạt đến giác ngộ.
Sau khi thánh thai được sinh ra, thoạt tiên nó phải ở gần cơ thể bạn để sống sót. Dần dần nó lớn mạnh hơn. Bước này được gọi là ba năm ẵm bồng (Tam Niên Bộ Nhũ).
Luyện Thần Phản Hư (煉神返虛). Để đạt được sự hợp nhất với tinh thần tự nhiên, bạn phải hoàn toàn giải phóng chính mình khỏi sự trói buộc tình cảm và giữ được sự trung tính, điều có thể mất một thời gian dài. Thánh thai tiếp tục lớn mạnh cho đến khi nó trưởng thành và có thể sống sót độc lập với bạn. Người ta nói rằng cần ít nhất chín năm nỗ lực để làm được như vậy. Để giữ cho tâm thức tâm linh của mình được trung tính, theo truyền thống người ta phải thiền định quay mặt vào vách trong một hang động, được gọi là “chín năm diện bích” (Cửu Niên Diện Bích). Khi ấy, tinh thần có thể có đời sống độc lập mà không cần đến cơ thể vật lý.
Tinh thần độc lập ở lại một cách bình an trong không gian Âm (Âm Gian) trong một thời gian mà không bị xáo trộn tình cảm. Đó là giấc ngủ tâm linh, tức trạng thái Vô Cực (無極).
Phấn Toái Hư Không (粉碎虛空). Tinh thần có thể quyết định ở lại trong trạng thái trung tính của Vô Cực, nhưng cũng có thể muốn tái sinh trong hình tướng vật lý để đón nhận thách thức mới. Tinh thần đối diện với một môi trường mới để huấn luyện nó lên một mức độ cao hơn. Đó là “phấn toái hư không” (trạng thái Vô Cực). Sau sự tu dưỡng lặp đi lặp lại, cuối cùng tinh thần của bạn được hợp nhất vĩnh viễn với tinh thần tự nhiên.
Đây chỉ là một bản tóm tắt ngắn gọn về sự huấn luyện tu dưỡng tâm linh. Chúng tôi sẽ giải thích nó chi tiết trong các chương sau, và trong những ấn phẩm tương lai về các đề tài Đại Chu Thiên và Thiền Giác Ngộ Tâm Linh.
1-8 · Các Khái Niệm Khí Công Phật Giáo Và Đạo Giáo
Bởi vì nó được giữ kín đến thế, khí công tôn giáo đã không trở nên phổ biến bằng các phạm trù khác tại Trung Hoa trước thời nhà Thanh (1644-1912 sau Công nguyên). Chỉ vào thế kỷ 20 những bí mật mới dần dần được tiết lộ cho công chúng, và khí công tôn giáo trở nên phổ biến tại Trung Hoa. Khí công tôn giáo phần lớn là Đạo giáo và Phật giáo, và mục đích chính của nó là hỗ trợ việc đạt đến giác ngộ, hay cái mà các Phật tử gọi là quả vị Phật.
Khí Công Phật Giáo
Ba trường phái chính của khí công Phật giáo đã phát triển tại châu Á trong hai ngàn năm qua: Ấn Độ, Trung Hoa và Tây Tạng. Phật giáo được một hoàng tử Ấn Độ tên là Cồ Đàm sáng lập tại Ấn Độ trong khoảng từ 558 đến 478 trước Công nguyên. Vì vậy, khí công Phật giáo Ấn Độ có lịch sử lâu đời nhất. Phật giáo được du nhập vào Trung Hoa trong thời Đông Hán (58 sau Công nguyên), và các Phật tử Trung Hoa dần dần học được những phương pháp tu dưỡng tâm linh của nó. Sự thực hành của họ bị ảnh hưởng bởi khí công nho sĩ và khí công y học truyền thống của Trung Hoa, vốn đã phát triển khoảng hai ngàn năm. Kết quả là một hệ thống huấn luyện độc đáo, khác với những gì đi trước nó.
Theo những ghi chép rời rạc hiện có, trong vài thế kỷ đầu tiên sau khi Phật giáo được tiếp nhận, chỉ có triết học và giáo lý của Phật giáo được truyền lại cho người Trung Hoa. Những phương pháp tu dưỡng và huấn luyện khí công thực sự thì không được biết đến. Có một số lý do cho điều này:
- Vì sự khó khăn của việc giao thông và liên lạc vào thời ấy, việc chuyển giao các tài liệu Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa bị giới hạn. Tuy một vài tu sĩ Ấn Độ được mời sang Trung Hoa thuyết pháp, những vấn đề vẫn còn tồn tại.
- Ngay cả nếu các tài liệu đã được chuyển giao, vì lý thuyết và triết học của Phật giáo quá sâu sắc, có rất ít người đủ năng lực để thực sự dịch chúng một cách chính xác từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Vấn đề này càng trầm trọng thêm vì những bối cảnh văn hóa khác biệt. Ngay cả ngày nay, những bối cảnh văn hóa khác biệt vẫn luôn là vấn đề chính trong việc dịch thuật chính xác từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
- Lý do chính có lẽ là hầu hết các phương pháp huấn luyện thực sự cần phải được một vị thầy có kinh nghiệm giảng dạy và hướng dẫn tận mặt. Chỉ một lượng giới hạn có thể học được từ tài liệu. Vấn đề này càng bị làm cho phức tạp thêm bởi truyền thống truyền lại thông tin một cách bí mật từ thầy sang đệ tử.
Tiến trình này rất chậm chạp và đau đớn, đặc biệt về mặt những phương pháp huấn luyện thực sự. Trong nhiều thế kỷ, người ta tin rằng miễn là bạn thanh tịnh hóa tâm trí mình và thành tâm nỗ lực để thành Phật, sớm muộn gì bạn cũng sẽ thành công. Tình hình này không được cải thiện cho đến khi Đạt Ma viết bộ kinh điển Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh. Khi ấy cuối cùng mới có một phương hướng vững chắc trong sự huấn luyện để đạt đến quả vị Phật.
Trước thời Đạt Ma, sự huấn luyện khí công Phật giáo Trung Hoa rất giống với khí công nho sĩ Trung Hoa. Sự khác biệt chính là trong khi khí công nho sĩ nhắm đến việc duy trì sức khỏe, thì khí công Phật giáo nhắm đến việc trở thành một vị Phật. Thiền định là một tiến trình cần thiết trong việc huấn luyện một tu sĩ giữ được sự trung tính về tình cảm. Phật giáo tin rằng mọi khổ đau do thất tình lục dục gây ra. Thất tình là: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, hận và dục. Lục dục là sáu khoái lạc giác quan phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Các Phật tử cũng tu dưỡng bên trong mình một trạng thái trung tính tách biệt khỏi bốn cái không của đất, nước, lửa và gió (Tứ Đại Giai Không). Họ tin rằng sự huấn luyện này cho phép họ giữ cho tinh thần độc lập để nó có thể thoát khỏi vòng tuần hoàn của luân hồi, được biết đến như “bánh xe sinh tử”.
Phật giáo Tây Tạng luôn được giữ bí mật và cô lập với thế giới bên ngoài. Vì vậy, rất khó xác định chính xác khi nào Phật giáo Tây Tạng được thành lập. Vì Tây Tạng ở gần Ấn Độ, có lý để giả định rằng sự huấn luyện khí công Tây Tạng chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ nhiều hơn là khí công Trung Hoa. Tuy nhiên, qua hàng ngàn năm nghiên cứu và khảo cứu, người Tây Tạng đã thiết lập một phong cách thiền khí công độc đáo của riêng mình. Các tu sĩ Tây Tạng được gọi là Lạt Ma, và nhiều người trong số họ cũng học võ thuật. Vì bối cảnh văn hóa khác biệt, không chỉ những kỹ thuật thiền định của các Lạt Ma khác với của các Phật tử Trung Hoa hay Ấn Độ, mà cả những kỹ thuật võ thuật của họ cũng vậy. Thiền khí công và võ thuật Tây Tạng được giữ kín với thế giới bên ngoài, được gọi là Mật Tông (密宗), có nghĩa là “môn phái bí mật”. Vì vậy, và vì ngôn ngữ khác biệt, chỉ có rất ít tài liệu hiện có bằng tiếng Hán. Khí công và võ thuật Tây Tạng đã không lan truyền vào xã hội Trung Hoa cho đến gần thời nhà Thanh, nhưng từ đó đã trở nên phổ biến.
Khí Công Đạo Giáo
Cũng như các Phật tử, các Đạo sĩ tin vào việc xây dựng Thần (神) để nó trở nên độc lập và mạnh mẽ, hầu thoát khỏi vòng luân hồi. Khi một Đạo sĩ đạt đến giai đoạn giác ngộ này, người ta nói rằng người ấy đã đạt được đời sống vĩnh cửu.
Các Đạo sĩ nhận thấy rằng để tăng cường Thần của mình, họ phải tu dưỡng Khí, được chuyển hóa từ Tinh (精) của họ. Cũng vậy, tiến trình huấn luyện khí công Đạo giáo là: 1. Chuyển hóa Tinh thành Khí (Luyện Tinh Hóa Khí), 2. Nuôi dưỡng Thần bằng Khí (Luyện Khí Hóa Thần), 3. Luyện Thần và đưa nó trở về hư không (Luyện Thần Phản Hư), và 4. Phấn toái hư không (Phấn Toái Hư Không).
Bước đầu tiên bao gồm việc làm vững chắc và củng cố Tinh (Cố Tinh), chuyển hóa nó thành Khí qua thiền định hay các phương pháp khác. Khí này sau đó được dẫn đến đỉnh đầu để nuôi dưỡng não bộ và nâng cao Thần. Khi một Đạo sĩ đã đạt đến giai đoạn này, nó được gọi là “tam hoa tụ đỉnh” (Tam Hoa Tụ Đỉnh). Tam hoa là Tinh, Khí và Thần. Giai đoạn này đạt được sức khỏe và sự trường thọ cần thiết cho sự tu dưỡng tiếp tục. Sau cùng, Đạo sĩ bắt đầu huấn luyện để đạt đến giác ngộ. Trở ngại lớn nhất là tình cảm, ảnh hưởng đến tư tưởng và làm xáo trộn sự cân bằng tâm linh. Đó là lý do tại sao các Đạo sĩ lui về núi rừng, xa lánh người khác và những sự xao lãng. Thông thường họ cũng kiêng ăn thịt, vì cảm thấy điều đó làm đục tư duy và làm tăng cường cảm xúc, dẫn tinh thần ra xa khỏi sự tự tu dưỡng.
Một phần quan trọng của sự huấn luyện này là khí công Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh. Khí công Dịch Cân Kinh xây dựng Khí dồi dào ở Hạ Đan Điền và làm mạnh cơ thể. Khí công Tẩy Tủy Kinh dẫn Khí lên não để nâng cao tinh thần, và giữ cho Khí lưu hành trong tủy để tủy luôn sạch sẽ và khỏe mạnh. Tủy của bạn sản xuất hầu hết các tế bào máu, đem dưỡng chất đến toàn bộ cơ thể, và loại bỏ các sản phẩm thải. Khi máu của bạn khỏe mạnh, toàn bộ cơ thể bạn được nuôi dưỡng tốt và bạn có thể chống lại bệnh tật một cách hiệu quả. Khi tủy sạch sẽ và tươi mới, nó sản xuất nhiều tế bào máu khỏe mạnh, làm công việc của chúng một cách hiệu quả. Toàn bộ cơ thể bạn giữ được khỏe mạnh, và sự thoái hóa bị làm chậm lại một cách đáng kể.
Tuy lý thuyết đơn giản, sự huấn luyện lại rất khó khăn. Người ta tích lũy Khí tại Hạ Đan Điền Chân và đổ đầy tám mạch Khí của mình, rồi dẫn nó vào xương để tẩy tủy. Ngoại trừ một số Đạo sĩ, có rất ít người sống quá 120 tuổi, vì sự huấn luyện quá khắc khổ. Bạn cần một tâm trí thuần khiết và một lối sống đơn giản để cho phép bạn tập trung hoàn toàn vào sự huấn luyện.
Nhiều môn phái khí công Đạo giáo được dựa trên lý thuyết tu dưỡng cả tinh thần lẫn cơ thể vật lý. Người ta nói: “Nói về nhân tính (tinh thần) và mạng sống, hãy tu dưỡng cả hai. Đặt chì (Pb, Âm) và thủy ngân (Hg, Dương) ở bên nhau. Bí mật này khó mà lĩnh hội. Tu dưỡng nhân tính để luyện tự ngã trong khi tu dưỡng mạng sống để hoàn tinh (chuyển tinh thành khí). Tâm là nhà của Thần, trong khi cơ thể là chỗ ở của Khí. Mạng sống là Khí. Những người tu dưỡng nhân tính pha trộn cơ thể và Tâm thành một gia đình. Tinh, Khí và Thần phải kết hợp thành một đơn vị. Khi ấy sự tu dưỡng mạng sống mới có thể được tiếp cận.”18 Điều này nhấn mạnh rằng để đạt đến giác ngộ, bạn phải tu dưỡng cả thân lẫn Thần. Chìa khóa là làm cho Âm và Dương hài hòa. Âm là thân tâm linh, trong khi Dương là cơ thể vật lý. Chỉ khi chúng hài hòa và tam bảo (tinh, khí và thần) đã lên đến não, bạn mới có thể đạt đến giác ngộ.
Trong Đạo giáo, nói chung có ba cách huấn luyện: Kim Đan Đại Đạo (金丹大道), Song Tu (雙修), và Đạo Ngoại Thái Dược (道外採藥).
Kim Đan Đại Đạo dạy việc huấn luyện khí công bên trong chính mình, để tìm ra đan dược của trường thọ và giác ngộ bên trong cơ thể của chính mình.
Trong lối tiếp cận thứ hai, Song Tu, một bạn đồng tu được dùng để cân bằng Khí của mình nhanh hơn. Khí của hầu hết mọi người không hoàn toàn cân bằng. Một số người quá tích cực, người khác quá tiêu cực, và từng kinh mạch cũng tích cực hay tiêu cực. Nếu bạn trao đổi Khí với một bạn đồng tu, bạn có thể tăng tốc sự huấn luyện của mình. Song Tu có hai nghĩa: một là tu dưỡng Khí với một bạn đồng tu, và nghĩa kia là tu dưỡng cả nhân tính lẫn cơ thể vật lý của mình.
Cách thứ ba, Đạo Ngoại Thái Dược, dùng thảo dược để đẩy nhanh và điều tiết sự tu dưỡng. Thảo dược có thể là các loài thực vật như nhân sâm, hay các sản phẩm động vật như xạ hương từ con hươu xạ. Đối với nhiều Đạo sĩ, chữ “thảo dược” cũng có thể có nghĩa là Khí có thể thu được từ các thực hành tình dục.
Theo những phương pháp huấn luyện được sử dụng, khí công Đạo giáo lại có thể được chia thành hai trường phái lớn: Thanh Tu Phái (清修派) và Tài Tiếp Phái (栽接派). Sự phân chia này đặc biệt rõ rệt sau thời Tống và Nguyên (960-1368 sau Công nguyên). Sự thiền định và các phương pháp của Thanh Tu Phái tương tự như của các Phật tử. Họ tin rằng con đường duy nhất để đạt đến giác ngộ là Kim Đan Đại Đạo, theo đó người ta xây dựng đan dược bên trong cơ thể. Dùng một bạn đồng tu để tu dưỡng bị coi là vô đạo đức, và gây ra những vấn đề tình cảm có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự tu dưỡng.
Tuy nhiên, Tài Tiếp Phái cho rằng lối tiếp cận của họ, dùng Song Tu và Đạo Ngoại Thái Dược, ngoài Kim Đan Đại Đạo, làm cho sự tu dưỡng nhanh hơn và thực tế hơn. Vì lý do này, sự huấn luyện khí công Đạo giáo cũng thường được gọi là Đan Đỉnh Đạo Công (丹鼎道功), có nghĩa là Sự Tu Luyện Đạo Trong Lò Đan. Các Đạo sĩ nguyên thủy tin rằng họ có thể tìm thấy và tinh luyện đan dược từ thảo dược, nhưng về sau nhận ra rằng đan dược thật sự duy nhất ở trong cơ thể bạn. Chúng ta hãy bàn chi tiết hơn về hai môn phái này.
Thanh Tu Phái (清修派). “Thanh” có nghĩa là trong sạch, thuần khiết và bình an. “Tu” có nghĩa là tu dưỡng, học tập và huấn luyện. “Phái” có nghĩa là môn phái hay phân bộ. Những quy tắc căn bản của các Đạo sĩ Thanh Tu là đi theo truyền thống theo các kinh điển Đạo giáo. Mọi sự huấn luyện và học tập đều dựa trên những nguyên lý căn bản mà Lão Tử đã diễn giải: “Vạn vật tuy nhiều, mỗi vật trở về cội nguồn của nó. Khi nó trở về cội nguồn của nó, điều đó có nghĩa là tĩnh lặng. Nó cũng có nghĩa là lặp lại sự sống.”19 Mọi sự vật đều có nguồn gốc của chúng, và rốt cuộc trở về với chúng. Khi ấy chúng tĩnh lặng và bình an. Từ trạng thái ấy, sự sống lại bắt nguồn. Ngài cũng nói: “Tụ Khí để đạt được sự nhu nhuyễn, có thể nhu nhuyễn như một đứa trẻ sơ sinh chăng?” Hai câu nói này của Lão Tử chứng minh sự nhấn mạnh vào việc tu dưỡng sự tĩnh lặng, bình an, hài hòa và nhu nhuyễn. Đó là những quy tắc căn bản của Đạo giáo truyền thống, vốn bắt nguồn từ sự quan sát các chu kỳ tự nhiên. Mọi sự sống đều bắt nguồn từ cội rễ của sự tĩnh lặng và bình an.
Các Đạo sĩ Thanh Tu nhấn mạnh: “phương pháp của Âm và Dương, sự hài hòa của các con số (theo Kinh Dịch), và hình tướng đi theo và kết hợp với tinh thần.”21 Âm và Dương phải ở trong sự hài hòa và cân bằng lẫn nhau, và bề ngoài của cơ thể sẽ đi theo sự dẫn dắt của tinh thần. Môn phái này tin rằng riêng sự tu dưỡng tâm linh cũng có thể dẫn họ đến giác ngộ, nên một cơ thể vật lý mạnh mẽ không quan trọng. Cơ thể chỉ là một cái thang tạm thời để đạt đến mục tiêu giác ngộ tâm linh. Họ nhấn mạnh thiền tĩnh tọa, qua đó họ Điều Thân (調身), Điều Tâm (調心), Điều Tức (調息), Ngưng Thần (凝神), Phục Khí (伏氣), Nhiếp Tinh (攝精) và Khai Khiếu (開竅). Đó là bảy bước của Nội Công của họ, nhờ đó họ tu dưỡng và truy ngược trở về cội nguồn của mình, điểm tĩnh lặng và bình an bên trong họ, và sau cùng tu dưỡng cho đời sống tâm linh vĩnh cửu. Qua đó họ nỗ lực đạt đến sự trường sinh bất tử và giác ngộ.
Những nguyên lý và sự huấn luyện của Thanh Tu Phái tương tự như của thiền Thiền (禪, Zen) trong Phật giáo. Một khi tâm trí tĩnh lặng và bình an, họ tìm kiếm cội nguồn và ý nghĩa của đời sống, trở nên trung tính về tình cảm khi họ huấn luyện để đạt đến giác ngộ.
Tài Tiếp Phái (栽接派). “Tài” có nghĩa là trồng, nuôi hay nuôi dưỡng. “Tiếp” có nghĩa là nối, kết nối hay ghép. “Phái” có nghĩa là môn phái hay phân bộ. Các Đạo sĩ Tài Tiếp đi theo hướng ngược lại với các Đạo sĩ Thanh Tu. Họ chủ trương rằng những phương pháp được Thanh Tu Phái sử dụng, như chỉ thiền tĩnh, hơi thở, và nuốt nước bọt, dùng Ý để dẫn Khí vượt qua các cửa và mở các mạch, thì kém hiệu quả và không thực tế. Quan điểm này được diễn đạt trong cuốn Ngộ Chân Thiên: “Bên trong Dương, phẩm chất của tinh chất Âm không bền chắc. Chỉ tu dưỡng một thứ thì lãng phí. Chỉ làm việc trên hình tướng (cơ thể) hay dẫn dắt (Khí) thì không phải là Đạo. Phục Khí và ăn mây hồng rốt cuộc cũng chỉ là hư không.”24 Thiền định là mặt Âm của sự tu dưỡng, và tinh chất Âm trong Dương thì không mạnh mẽ. Bạn cũng cần những phương pháp huấn luyện Dương, khác với thiền tĩnh. Lời tuyên bố này chỉ trích các Đạo sĩ Thanh Tu vì tìm kiếm trường thọ và giác ngộ chỉ qua thiền định. Tập trung độc nhất vào sự huấn luyện Âm, như sự phục Khí và hưởng thụ những cảnh đẹp trong thiền định, rốt cuộc chỉ là huyễn hoặc hư không.
Tài liệu Đạo giáo Bão Phác Tử của Cát Hồng nói: “Đấng Thái Cực (hoàng đế) biết những kỹ thuật thế tục của Đạo giáo, mà ngài cẩn thận giữ gìn và tôn trọng, về việc nghiên cứu thấu đáo cái hư không tột cùng, làm cho vạn vật sống động, rồi xem xét sự lặp lại của nó, cuối cùng đạt được Đạo và bước vào cõi trời.”25 Những kỹ thuật thế tục là những kỹ thuật được các Đạo sĩ Tài Tiếp sử dụng. Khi cái hư không tột cùng được đạt đến, mọi sự vật lại bắt đầu từ điểm khởi thủy và sống lại. Khi bạn hiểu những chu kỳ diễn ra liên tục khắp thiên nhiên, bạn lĩnh hội được Đạo chân thật. Câu này nhấn mạnh rằng ngay cả hoàng đế cũng thực hành những kỹ thuật thế tục của Đạo giáo để đạt đến giác ngộ.
Vậy thì, những kỹ thuật thế tục của bộ phái Tài Tiếp là gì? Họ nói: “Nếu cái cây không có rễ, hoa sẽ ít. Nếu cái cây đã già và bạn nối nó với một cái cây tươi, đào được ghép vào liễu, dâu được nối với mận. Để truyền lại những gương mẫu cho những người đang tìm kiếm cái chân thật (Đạo), đây là phương pháp ghép cây của các tiên nhân cổ xưa. Người đang già đi có thuốc để chữa sau cùng. Hãy viếng vị thầy danh tiếng, xin những toa thuốc, lập tức bắt đầu học tập và tu dưỡng, đừng trì hoãn.”26 Điều này nói rằng khi bạn đang già đi, bạn có thể nhận được sự sống mới từ sự chuyển vận Khí lẫn nhau qua những thực hành tình dục đặc thù và những loại thiền định đặc biệt.
“Khi quần áo rách, dùng vải để vá. Khi cái cây già cỗi, hãy bồi dưỡng đất. Khi con người suy yếu, nên dùng cái gì để vá? Dùng Trời và Đất để tạo ra cơ hội của những biến hóa.”27 Điều này hỏi rằng một người suy yếu phải lấy lại năng lượng của mình bằng cách nào, nếu không phải từ một người khác? Mục đích của sự huấn luyện Tài Tiếp là “những loại tương đồng làm việc cùng nhau, sự giao tiếp tâm linh giữa những cơ thể tách biệt.”28 Những người cùng huấn luyện với nhau có thể giúp đỡ lẫn nhau. Sự giao tiếp tâm linh (Thần Giao) dùng cảm giác được chia sẻ để hướng dẫn tinh thần của bạn và kích thích sự sản xuất hormone. Khí được trao đổi trong việc giao tiếp với bạn đồng tu của bạn. Một số thực hành tình dục kích thích sự sản xuất hormone trong khi bảo vệ và tích trữ Khí, được coi là “thảo dược” để chữa sự lão hóa. Khi được thực hiện đúng cách, không người nào trong hai bên mất Khí, và cả hai đều đạt được những lợi ích của sự trường thọ.
Môn phái Đạo giáo này khuyến khích một đời sống tình dục đúng mực. Với lối tiếp cận này thì khó đạt được sự trung tính tình cảm và giác ngộ hơn. Do đó, nó chủ yếu nhấn mạnh vào một cuộc đời dài lâu và hạnh phúc. Sách Hán Thư Nghệ Văn Chí nói: “Hoạt động trong phòng ngủ là tột cùng của nhân cách và cảm xúc, là tột cùng của việc đạt đến Đạo. Để kiềm chế khoái lạc bên ngoài, là để cấm đoán cảm xúc bên trong. Sự hòa hợp giữa vợ chồng là học vấn của sự trường thọ.”29 Tính dục đúng mực thúc đẩy sự trường thọ, cho phép bạn cân bằng Khí và Thần của mình.
Ngoài Song Tu có tính tình dục, họ cũng nhấn mạnh Song Tu phi tình dục. Mỗi người có một mức Khí khác nhau, và không ai có Khí hoàn toàn cân bằng. Trong tuổi thiếu niên, Khí của bạn mạnh hơn và dồi dào hơn là về sau. Một khi bạn qua tuổi bốn mươi, nguồn cung cấp Khí của bạn có khuynh hướng suy yếu và trở nên thiếu hụt. Để khỏe mạnh, Khí của bạn không nên dư thừa cũng như không nên thiếu hụt. Thiền Song Tu giúp cân bằng Khí của nhau. Điều này có thể được thực hiện bởi hai người nam, hai người nữ, hay một nam một nữ. Người ta nói: “Âm và Dương không nhất thiết là nam và nữ, sự mạnh yếu của Khí trong cơ thể là Âm và Dương.”30 “Hai người nam có thể trồng và ghép, và phụ nữ có thể hấp thu và nuôi dưỡng.”31
Đối với các Đạo sĩ Tài Tiếp, có bốn đòi hỏi để đạt đến Đạo: tiền bạc, bạn đồng tu, kỹ thuật và nơi chốn. Không có tiền, bạn dành quá nhiều thì giờ để kiếm sống, và bạn sẽ không có thì giờ để học tập và tu dưỡng. Không có bạn đồng tu thích hợp, bạn không thể tìm thấy “thảo dược” để cân bằng Khí của mình. Không có kỹ thuật đúng đắn, bạn lãng phí thì giờ. Không có nơi chốn thích hợp để huấn luyện, bạn không thể thiền định để tiêu hóa “thảo dược”.
Là một Đạo sĩ Tài Tiếp, để cân bằng Khí với bạn đồng tu của mình, bạn thực hành những kỹ thuật giữ lại tinh dịch, chuyển hóa nó thành Khí, và dùng Khí để nuôi dưỡng Thần của mình. Thần được tiếp năng lượng của bạn hướng Khí vào ngũ tạng Âm, tức tim, phổi, gan, thận và tỳ, để tăng cường chức năng của chúng. Khí này được gọi là Dinh Khí (營氣). Thần của bạn cũng hướng Khí đến da, nơi nó bảo vệ bạn chống lại những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Khí này được gọi là Vệ Khí (衛氣), có thể là cái được biết đến ở Tây phương như “hào quang” (aura) của một người. Thần của bạn cũng dẫn Khí vào tủy xương của bạn (Tủy Khí).
Các Đạo sĩ Tài Tiếp cũng dùng thảo dược để giúp việc tu dưỡng Khí, tin rằng chúng mang lại những lợi ích đáng kể. Các Đạo sĩ Thanh Tu và các Phật tử cũng dùng thảo dược, nhưng thường chỉ để chữa bệnh.
Những Đạo sĩ ở mức độ này có thể có những cuộc đời dài lâu và khỏe mạnh. Nhưng để đạt đến mức cao hơn và đạt giác ngộ, người ta phải thiết lập một thai Thần (Thần Thai, Thần Anh) hay linh thai (Linh Thai), cho nó ăn, và dạy nó trở nên độc lập. Để đạt đến mức độ cao hơn này, người ta chậm rãi điều tiết cảm xúc của mình. Người ta thường phải rời bỏ xã hội bình thường và trở thành một ẩn sĩ để có thể tu dưỡng tâm trí.
Mặc dù các kỹ thuật Tài Tiếp mang lại kết quả nhanh chóng, nhiều Đạo sĩ và Phật tử phản đối và thậm chí khinh miệt chúng. Vì bạn là con người, thật dễ rơi trở lại vào sự trói buộc tình cảm trong lúc huấn luyện, ngăn cản bạn làm sạch tâm trí mình. Cũng vậy, nhiều người thực hành những kỹ thuật này không cân bằng Khí cho lợi ích chung của cả hai bên, mà chỉ đơn giản lấy cái mà bạn đồng tu cung cấp, mà không cho lại cái gì. Điều này dễ xảy ra với một bạn đồng tu không biết khí công, và loại ích kỷ này bị coi là vô đạo đức.
Những Khác Biệt Tổng Quát Giữa Khí Công Phật Giáo Và Đạo Giáo
- Về mặt triết học huấn luyện, Phật giáo bảo thủ trong khi Đạo giáo cởi mở. Đạo giáo tôn giáo đã hấp thu nền văn hóa Phật giáo được du nhập vào Đạo giáo nho sĩ truyền thống, tức giáo lý của họ, vốn nói chung cởi mở. Bất cứ khi nào họ tìm thấy phương pháp hay lý thuyết nào có thể tăng cường sự tu dưỡng của mình, họ chấp nhận nó. Điều này không thể đối với các Phật tử, những người tin rằng bất kỳ triết học nào khác ngoài Phật giáo đều không chân thật. Trong xã hội Phật giáo, những ý niệm mới về sự tu dưỡng sẽ bị coi là sự phản bội. Tổ sư thứ sáu của Thiền tông là Huệ Năng, sống trong thời nhà Đường (713-907 sau Công nguyên), đã thay đổi một số phương pháp thiền định và triết học, và đã bị coi là kẻ phản bội trong một thời gian dài. Vì vậy, Thiền tông chia thành Bắc tông và Nam tông. Điều này được biết đến rộng rãi trong giới Phật tử, và được gọi là “Lục tổ phá hoại pháp môn được truyền lại” (Lục Tổ Loạn Truyền Pháp). Các Đạo sĩ đã có nhiều cơ hội hơn để học hỏi, so sánh và kinh nghiệm, và trong nhiều mặt đã tiến nhanh hơn các Phật tử. Trong khí công về sức khỏe và trường thọ, các phương pháp của Đạo giáo được tổ chức tốt hơn và hiệu quả hơn các phương pháp của Phật giáo.
- Tuy cả Phật tử lẫn Đạo sĩ đều giữ bí mật sự huấn luyện của mình trong một thời gian dài, các Phật tử, đặc biệt là người Tây Tạng, nghiêm ngặt hơn các Đạo sĩ. Trước thời nhà Thanh, tuy cả khí công Phật giáo lẫn Đạo giáo đều được giữ kín với người thế tục, ít ra các Đạo sĩ có thể học từ các sư phụ của họ dễ dàng hơn các Phật tử. Trong xã hội Phật giáo, chỉ một số ít đệ tử được tín nhiệm mới được chọn để học những khía cạnh sâu xa hơn của sự huấn luyện khí công.
- Các Đạo sĩ và Phật tử có những thái độ huấn luyện khác nhau. Khí công Phật giáo nhấn mạnh việc tu thân (Tu Thân) và tu Khí (Tu Khí). “Tu dưỡng” bao hàm ý nghĩa duy trì và giữ gìn. Tuy nhiên, các Đạo sĩ tập trung vào việc luyện thân (Luyện Thân) và luyện Khí (Luyện Khí). “Luyện tập” có nghĩa là cải thiện, xây dựng và củng cố. Các Đạo sĩ tìm kiếm những cách để kháng cự vận mệnh, để tránh bệnh tật, và để kéo dài những giới hạn thông thường của tuổi thọ.
- Khí công Phật giáo nhấn mạnh việc nỗ lực thành Phật, trong khi khí công Đạo giáo tập trung vào trường thọ và giác ngộ. Trong khi nỗ lực thành Phật, hầu hết các tăng sĩ Phật giáo dồn tất cả sự chú ý của mình chỉ vào việc tu dưỡng tinh thần, coi cơ thể như một “cái túi da hôi hám” (Xú Bì Nang). Cơ thể được dùng cho sự tu dưỡng tâm linh, và không quan trọng bằng tinh thần, nên sức khỏe thể chất phần lớn bị sao lãng trong xã hội Phật giáo. Ngược lại, các Đạo sĩ đòi hỏi một cơ thể vật lý khỏe mạnh để đạt được mục tiêu cuối cùng, nhấn mạnh cả mạng sống lẫn đức hạnh tự nhiên. Điều này được gọi là Tính Mệnh Song Tu (性命雙修), song tu nhân tính và mạng sống. Đó là lý do tại sao có nhiều Đạo sĩ sống rất lâu hơn là Phật tử. “Nếu chỉ tu nhân tính mà không tu (mạng) sống, đó là bệnh thứ nhất của sự tu dưỡng.”32 “Nhân tính là Âm trong khi mạng sống là Dương. Nếu chỉ tu Khí Âm mà không tu Khí Dương, thì giống như con gà trống tự ấp trứng một mình, con gà con sẽ không được trọn vẹn.”33 “Nhân tính ở trên đỉnh (đầu) (Nê Hoàn) trong khi mạng sống ở rốn.”34 Các Đạo sĩ đã tìm ra những cách để làm mạnh cơ thể và làm chậm sự thoái hóa của các cơ quan, để đạt được đời sống dài lâu. Họ nói: “Một trăm hai mươi tuổi là chết trẻ.”35 Các Phật tử cũng tập luyện thể chất, nhưng nói chung chỉ những người theo võ thuật, như các tăng sĩ Thiếu Lâm.
- Sự tu dưỡng tâm linh của Phật giáo nói chung đã đạt đến một mức độ cao hơn của các Đạo sĩ. Chẳng hạn, các kỹ thuật thiền của Thiền tông đã được phát triển ở mức độ cao, và các Đạo sĩ có thể học hỏi từ chúng.
- Hầu như tất cả các tăng sĩ Phật giáo đều chống lại những phương pháp huấn luyện như Song Tu hay hái thảo dược từ bên ngoài Đạo qua những thực hành tình dục. Dùng Khí của người khác để nuôi dưỡng mình dẫn đến sự vướng mắc tình cảm, có thể làm xáo trộn sự tu dưỡng của bạn. Tâm trí sẽ không đủ thuần khiết và tĩnh lặng cho sự tu dưỡng tâm linh. Nhưng nhiều Đạo sĩ huấn luyện chủ yếu cho sức khỏe và trường thọ thay vì giác ngộ, nên họ coi những phương pháp này là có lợi.
1-9 · Tầm Quan Trọng Của Việc Nghiên Cứu Khí Công Đối Với Nhân Loại
Khí công là một môn khoa học quan trọng đã phát triển qua hàng ngàn năm quan sát, suy ngẫm, nghiên cứu và thí nghiệm. Nó là sản phẩm của việc nghiên cứu sức khỏe, trường thọ và sự tăng trưởng tâm linh, dựa trên lý thuyết Âm Dương của Đạo giáo, vốn có thể áp dụng một cách tổng quát.
Trước thế kỷ 18, người ta nói chung đi theo Con Đường Tự Nhiên (Đạo) trong lối sống của mình. Họ đi ngủ một thời gian ngắn sau khi mặt trời lặn và thức dậy lúc bình minh. Họ đi bộ rất nhiều và có tứ chi vững chãi. Lao động liên tục làm cho phần thân mình mạnh mẽ. Cơ thể con người đã phát triển qua hàng triệu năm hòa hợp với thiên nhiên thành hình tướng hiện tại của nó.
Mọi sự đã thay đổi nhanh chóng với cuộc cách mạng kỹ nghệ từ thế kỷ 18, khi máy móc bắt đầu thay thế lao động qua sự sản xuất hàng loạt. Lối sống nay rất khác với Con Đường Tự Nhiên mà từ đó chúng ta đã tiến hóa, và từ thập niên 1950 chúng đã thay đổi với một nhịp độ nghẹt thở. Sự tiến bộ vĩ đại của khoa học vật chất đã để lại tâm lý và xã hội của chúng ta trong tình trạng rách nát, và đã phát sinh nhiều vấn đề. Chúng ta cần tái đánh giá tiến trình này một cách khách quan để tìm ra một con đường khôn ngoan và hợp lý hơn cho tương lai.
Sự khám phá ra điện đã thay đổi lối sống một cách đáng kể. Nó đem lại sự tiện lợi lớn lao, nhưng cũng mang lại nhiều vấn đề. Với ánh sáng nhân tạo, những mô hình giấc ngủ của chúng ta đã thay đổi. Lối sống mới này đã ảnh hưởng đến cấu trúc thể chất và tinh thần của chúng ta ở mức độ nào? Sự mất cân bằng Khí nào do làm việc theo ca đêm gây ra? Có thể giải thích được tại sao số lượng tinh trùng của con người tiếp tục suy giảm chăng?
Với sự phát minh ra máy bay, chúng ta có thể di chuyển mình từ phía này của trái đất sang phía kia trong vài giờ đồng hồ. Điều này ảnh hưởng đến sự lưu hành Khí như thế nào? Điều này có gây ra cho chúng ta những vấn đề thể chất hay tinh thần chăng?
Bởi vì chúng ta dùng ô tô, chúng ta đi bộ ít hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại. Đầu gối của chúng ta đã thoái hóa nhanh chóng, với những chấn thương đầu gối trở nên rất phổ biến ngày nay. Những chấn thương bàn chân cũng gia tăng đáng kể. Nay, với sự tạo ra giày có đệm khí, bàn chân được bảo vệ quá mức và các gân bị yếu đi vì thiếu tập luyện. Việc sử dụng phần thân mình đã giảm đi nghiêm trọng, khiến nó cũng suy yếu và thoái hóa. Một vấn đề rất phổ biến là đau lưng dưới và chấn thương cột sống.
Một vấn đề nghiêm trọng khác do lối sống mới gây ra là sự gia tăng của ung thư vú. Chỉ vài thập niên trước, một phụ nữ thường sinh khoảng mười đứa con trong suốt đời mình. Qua một triệu năm tiến hóa, phụ nữ đã phát triển bộ ngực để sản xuất sữa cho con mình. Có một lượng Khí rất lớn ở ngực của một người phụ nữ. Nay, qua việc sử dụng các biện pháp kiểm soát sinh đẻ, người phụ nữ trung bình chỉ có một hay hai đứa con, và thường không cho con bú. Kết quả là một sự tích lũy và ứ trệ lớn lao của Khí ở vùng ngực, thường khởi phát ung thư. Nhiều người không nhận ra rằng lối sống của con người đã thay đổi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, và không biết những hậu quả cũng như cách giải quyết những vấn đề đã gây ra.
Có nhiều vấn đề khác do sự phát triển nhanh chóng của khoa học vật chất gây ra. Lò vi ba, đèn huỳnh quang và các đường dây cao thế là những phát triển gần đây, tạo ra những sóng điện từ nhân tạo. Cơ thể chúng ta là một trường điện từ sống, có thể bị ảnh hưởng bởi các trường bên ngoài. Một bộ não con người chứa 2,5 triệu tinh thể từ tính nhỏ xíu. Bộ não là một đơn vị từ tính giống như một cái đĩa mềm máy tính, với khả năng tư duy và ký ức. Khi bộ não bị phơi ra trước một từ trường bên ngoài hay thay đổi, nó thay đổi tâm trạng, tư tưởng của chúng ta, và chúng ta thậm chí có thể mất trí nhớ.36
Từ những khám phá ngày càng nhiều, chúng ta nhận ra mình đã phơi bày mình trước bao nhiêu rủi ro trong môi trường điện từ mới do con người tạo ra. Làm sao chúng ta có thể tự bảo vệ mình khỏi sự ô nhiễm năng lượng của môi trường điện từ mới này, vốn ảnh hưởng đến tư duy, sự phán đoán, và thậm chí cả sức khỏe của chúng ta?
Chúng ta cũng đã kinh nghiệm một sự mất mát lớn lao của tinh thần con người, do sự ngu dốt trên quy mô rộng lớn, sự tập trung vào khoa học vật chất và của cải vật chất. Con người bị mắc kẹt trong sự trói buộc tình cảm, đã đánh mất trung tâm tâm linh của mình. Để phục hồi tính tâm linh bị mất mát này, chúng ta phải học hỏi từ quá khứ, hiểu nó, và đem nó trở lại vào đời sống hằng ngày.
Chúng ta phải giáo dục thế hệ mới về tầm quan trọng của tinh thần. Ở tuổi lên ba, một đứa trẻ đã quen thuộc với sự thăng bằng của cơ thể, và đã học đi và chạy. Đó là tuổi tốt nhất để dạy chúng cảm nhận trung tâm tinh thần của sự hiện hữu của mình. Chẳng hạn, dạy chúng đi bộ với mắt nhắm lại, chúng thiết lập được một cảm giác nội tại và sự nhận thức về cơ thể mạnh mẽ hơn. Kế tiếp, dạy chúng định vị chỗ ở của tinh thần và giao tiếp với nó. Điều này phát triển sự nhạy cảm đối với tiềm thức. Loại cảm giác nội tại này được gọi là Nội Thị Công Phu (內視功夫), có nghĩa là công phu của thị giác nội tại. Loại huấn luyện này dễ dàng hơn cho trẻ em so với người lớn, vì tâm trí của đứa trẻ chưa bị ô nhiễm bởi thế giới tình cảm phức tạp, và tư duy của nó có thể đơn giản và thuần khiết. Nếu chúng ta dạy thế hệ mới thiền định này, chúng ta có thể đem chúng đến một mức độ nhạy cảm và hiểu biết cao hơn về thế giới tâm linh. Từ sự nhận thức về căn tính tâm linh này, trẻ em sẽ ít mê lầm hơn và đời sống của chúng sẽ có ý nghĩa hơn. Những phương pháp nào dẫn người ta đến sự sùng bái mù quáng nên bị ngăn cản. Sự sùng bái mù quáng chỉ có thể dẫn chúng ta trở lại quá khứ của chế độ độc tài và sự lạm dụng tinh thần.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng sự phát triển của khoa học vật chất cũng đã cải thiện đời sống con người một cách đáng kể. Chẳng hạn, tuổi thọ trung bình của nam giới đã tăng từ 47 tuổi vào năm 1900 lên 76 tuổi vào năm 1998. Chúng ta sẽ sớm có thể sống đến 120 tuổi với sự trợ giúp của hormone tăng trưởng của con người.37 Nhưng chúng ta cũng nên hiểu những tác dụng phụ từ việc tiêm hormone tăng trưởng của con người. Nếu có bất kỳ tế bào ung thư nào ẩn giấu trong cơ thể, hormone tăng trưởng có thể giúp chúng lan rộng. Các hormone là những chất xúc tác trong cơ thể, làm tăng cường phản ứng hóa sinh của nó, kể cả sự trao đổi chất của các tế bào xấu. Nếu sự tuần hoàn máu không dồi dào như nó cần phải có, hormone tăng trưởng có thể giữ cho các bắp thịt và bề mặt của cơ thể trẻ trung, nhưng những chỗ sâu như các khớp vẫn tiếp tục già đi. Sự tập luyện và thư giãn khí công đúng cách có thể giảm thiểu vấn đề này.
Từ đây chúng ta có thể tóm tắt tầm quan trọng của khí công đối với xã hội.
- Đem lại cho chúng ta sự nhận thức tốt hơn. Khi chúng ta hiểu trường điện từ của con người tốt hơn, chúng ta có thể tránh phơi bày mình trước những trường điện từ bên ngoài có hại.
- Cảnh báo chúng ta về những sự phát triển có hại trong tương lai. Nhiều hóa chất và các chất phóng xạ là có hại và nên bị cấm đoán, và chúng ta phải ngăn ngừa sự tạo ra những sản phẩm có hại như thế trong tương lai. Nếu chúng ta sửa chữa con đường sai lầm của mình ngay bây giờ, chúng ta có thể dẫn mình đến một môi trường an toàn và hòa bình hơn.
- Giáo dục thế hệ tiếp theo về tinh thần. Dạy chúng cách thiền định và phát triển tâm thức tâm linh. Nay chúng ta đã đạt đến một mức độ tốt của khoa học vật chất và đã giải phóng mình khỏi sự thiếu hụt vật chất. Tuy nhiên, điều này cũng gây ra mối nguy hiểm của các vũ khí hiện đại. Chúng ta đối diện với sự hủy diệt hoàn toàn của trái đất và văn hóa nhân loại. Nếu chúng ta không thể giáo dục thế hệ tiếp theo để được tự do khỏi sự trói buộc tình cảm, chúng ta chắc chắn sẽ tự hủy diệt. Chúng ta phải thức tỉnh và giác ngộ tinh thần của mình, trước khi có thể mong đợi sự hài hòa và hòa bình trên trái đất.
- Áp dụng khí công để giải quyết những vấn đề của ngày nay. Nhiều căn bệnh không thể được chữa trị bởi y học hiện đại lại đáp ứng với những phương pháp khí công truyền thống. Những trường hợp ung thư hay viêm khớp đã được chữa khỏi bằng khí công. Chứng đau cột sống và đau lưng dưới thường được chữa khỏi bằng khí công, thứ cũng tái xây dựng sức mạnh của phần thân mình. Lợi ích lớn nhất trong việc thực hành khí công là gia tăng sức mạnh của hệ miễn dịch của bạn và giữ cho bạn khỏe mạnh.
- Giúp lấy lại trung tâm tâm linh của chúng ta và hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Qua sự thực hành khí công, vô số người đã đưa chính mình trở về từ sự mê lầm và vô căn cước, đến một trạng thái tự nhận thức. Họ lấy lại trung tâm tâm linh của mình và nhận ra vai trò của đời mình trong xã hội. Đó là con đường giải phóng chúng ta khỏi sự trói buộc tình cảm và sự nô lệ vật chất.
- Từ việc nghiên cứu khí công, chúng ta hiểu và phát triển mặt Âm của khoa học, tức mặt năng lượng và tinh thần. Chúng ta mở cánh cửa dẫn đến sự hiểu biết về mặt tâm linh của con người và lĩnh hội sứ mệnh của sự hiện hữu của chúng ta trong vũ trụ này.
- Bằng cách hiểu sự thực hành khí công trong quá khứ, chúng ta tạo ra một con đường khả dĩ cho sự tu dưỡng tâm linh trong tương lai. Điều này sẽ tu dưỡng sự giác ngộ cho nhân loại, sự hợp nhất của Trời và Người (Thiên Nhân Hợp Nhất), của tinh thần tự nhiên và tinh thần con người.
1-10 · Về Cuốn Sách Này
Khí công giống như một khu vườn vô hạn chứa đựng mọi thứ trong thiên nhiên, cả vật chất lẫn tâm linh, nhưng chúng ta chưa bao giờ có một tấm bản đồ chi tiết về nó. Các bậc thầy khí công, mỗi người khám phá ra một số con đường dẫn đến sự hiểu biết khu vườn này, và những nơi ẩn giấu huyền bí biểu hiện vẻ đẹp của thiên nhiên đã dần dần được tìm thấy. Họ truyền lại sự hiểu biết của mình qua việc dạy học trò hay qua việc viết lách. Tuy mỗi tài liệu có thể chỉ cung cấp một ít thông tin về cách đến được một khu vực nhỏ xíu của khu vườn, nhưng điều đó đã phải mất cả một đời của một bậc thầy khí công để đạt được. Mỗi tài liệu là một dấu hiệu đường lộ khả dĩ dẫn đến mục tiêu của chúng ta. Khi chúng được kết hợp lại, chúng ta có thể xây dựng một tấm bản đồ, một lý thuyết có thể đưa chúng ta đến những nơi trong khu vườn khí công của chúng ta mà chưa có ai từng đặt chân đến. Có lẽ phải mất hàng ngàn năm nỗ lực mới có được một tấm bản đồ chi tiết về thiên nhiên.
Cho đến nay chúng ta chỉ có thông tin giới hạn về thiên nhiên vật chất, và biết rất ít về thiên nhiên tâm linh. Chúng ta vẫn còn bối rối về ý nghĩa của cuộc đời, và còn xa mới hiểu được chân lý của thiên nhiên.
Chúng ta cần những tâm trí cởi mở để giải phóng mình khỏi sự nhồi sọ và trói buộc của truyền thống. Chúng ta nên khiêm tốn đối diện với thách thức và sẵn sàng chấp nhận chân lý và những sai lầm mà chúng ta đã vấp phạm. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể thực hiện giấc mơ của mình về tương lai. Khi ấy chúng ta sẽ có thể tư duy với một tâm trí cởi mở. Nếu không ai có thể chứng minh những ý niệm của họ về vũ trụ, chúng ta nên dám giả định một lý thuyết và một sự giải thích được phát sinh bởi trí tưởng tượng. Chúng ta cố gắng chứng minh những giả định của mình, và nếu bị chứng minh là sai lầm, chúng ta quay lại sửa đổi lý thuyết và thử lại. Đó là phương pháp khoa học: dám mơ ước, dám đón nhận thách thức, và dám chấp nhận các sự kiện và chân lý.
Cuốn sách này đưa ra những phương pháp để thiết lập một nền tảng vững chắc của Tiểu Chu Thiên, một bước trên con đường hướng tới mục tiêu tối hậu là sự giác ngộ tâm linh.
Nhiều sự giải thích ở đây bắt nguồn từ sự hiểu biết cá nhân và nền tảng khoa học của tôi. Tôi không thể bảo đảm tính chính xác của những giả định của mình. Rất có thể một người nào đó có sự hiểu biết sâu sắc hơn về đề tài này sẽ bước vào để sửa đổi, hay thậm chí hoàn toàn thay đổi lý thuyết của tôi. Đó là tiến trình tự nhiên của sự nghiên cứu khoa học. Sau khi lý thuyết được giả định đã được thử nghiệm lặp đi lặp lại, chúng ta sẽ có thể xác nhận cái gì đúng và cái gì không, và tấm bản đồ sẽ trở nên sáng tỏ.
Lý thuyết và các phương pháp thực hành được giới thiệu trong cuốn sách này chỉ bắt nguồn từ sự nghiên cứu của Trung Hoa. Bạn nên giữ một tâm trí cởi mở và nghiên cứu cùng một đề tài trong những nền văn hóa khác. Một cái nhìn khác về cùng một đề tài có thể dẫn bạn đến một sự phán đoán sáng tỏ hơn. Điều này đặc biệt đúng đối với sự tu dưỡng tâm linh, vì chúng ta vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu của việc hiểu đề tài này. Bất kỳ kinh nghiệm nào trong quá khứ cũng có thể cung cấp cho bạn thêm thông tin và hướng dẫn bạn đi theo một con đường tốt hơn để đạt đến mục tiêu. Cuốn sách này không phải là một thẩm quyền về đề tài này, và chỉ có thể cung cấp cho bạn một nhãn quan văn hóa.
Mặc dù chúng ta vẫn chưa thể chứng minh sự hiện hữu của tinh thần trong vũ trụ này bằng phương pháp khoa học, điều đó không có nghĩa là nó không hiện hữu. Chúng ta nên tiếp tục sự nghiên cứu của mình để gỡ nút thắt này và mở cánh cửa của khoa học tâm linh, vốn đã được những người trong mọi nền văn hóa khác nhau kinh nghiệm.
Trong chương thứ hai của Phần I, tôi đưa ra một nền tảng lý thuyết của sự thực hành khí công liên quan đến thiền Tiểu Chu Thiên. Trong Phần II, những phương pháp huấn luyện được truyền lại từ quá khứ được giới thiệu. Từ Phần I và Phần II, bạn sẽ có một ý niệm sáng tỏ về cách tiếp cận tinh túy của sự huấn luyện này. Những phương pháp thiền định được giới thiệu trong Phần III. Nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ được liệt kê trong Phần IV.
Nền tảng lý thuyết trong sự thực hành này giống như một tấm bản đồ có thể dẫn bạn đến mục tiêu cuối cùng. Trước tiên bạn nên nghiên cứu nó và hiểu nó một cách sáng tỏ. Nếu bạn vội vã lao vào thực hành mà không lĩnh hội lý thuyết, bạn có thể đi vào con đường sai lầm và trở nên bối rối, và tự gây nguy hiểm cho mình qua sự thực hành không đúng đắn.
Cơ Sở Lý Thuyết
2-1 · Dẫn Nhập
Kinh Dịch (易經) cũng nói:
"Cho nên Dịch (Biến) có Thái Cực (太極) (Grand Ultimate), và do đó sinh ra hai Cực (Âm Dương). Hai Cực sinh ra Bốn Tượng. Bốn Tượng sinh ra Bát Quái (Tám Quẻ). Bát Quái có thể định được cát hung (vận may); từ cát hung mà sự nghiệp lớn (những sáng tạo biến hóa của tự nhiên) được tạo ra."
Chính vì có Thái Cực nên mới có biến hóa. Từ Thái Cực, hai Cực (Âm và Dương) được tạo ra từ Vô Cực (無極) (không cực hay hư không), và hai Cực lại sinh thành bốn tượng (Tứ Tượng, 四象). Bốn tượng này sinh ra Tám Quẻ (Bát Quái, 八卦). Từ Bát Quái, các khuôn mẫu của chu kỳ tự nhiên có thể được thấu hiểu, và cát hung có thể được dự đoán. Để thịnh vượng trong công việc, hãy theo những khuôn mẫu cát tường và tránh những khuôn mẫu hung của tự nhiên. Mọi sự sinh khởi đều bắt nguồn từ Thái Cực. Thái Cực là Đạo hay lực tự nhiên khiến sự phân chia và hợp nhất xảy ra.
Một kinh điển Đạo gia, Cận Tư Lục (近思錄) (Jin Si Lu), nói:
Vô Cực sinh Thái Cực; (khi) Thái Cực động (khởi động), Dương sinh; (khi) động đến cực, lại tĩnh; (khi) tĩnh, sinh Âm. (Khi) tĩnh đến cực, lại động. Một động một tĩnh, lấy nhau làm gốc (nguồn sinh thành). Âm Dương phân biệt và hai Cực hoàn tất.
Chính qua chu kỳ Âm Dương lặp lại này mà vạn loài được sinh ra. Lực khởi nguồn của sự phân chia và hợp nhất Âm Dương này gọi là Thái Cực. Một kinh điển Đạo gia cổ, Chư Tử Ngữ Loại (諸子語類) (Glossary Talking of Zhu Zi), nói: "Cái gọi là Thái Cực, chính là cái làm gốc rễ của vạn vật trong trời đất."
Vương Tông Nhạc (王宗嶽) (khoảng 1750 CN) mô tả Thái Cực:
Thái Cực là gì? Nó sinh ra từ Vô Cực và là chức năng then chốt của động và tĩnh. Nó là mẹ của Âm Dương. Khi động (hành động), nó phân chia. Khi tĩnh, nó hợp nhất lại.
Thái Cực không phải là Vô Cực cũng không phải là Âm Dương, mà là lực tự nhiên hay Đạo khiến sự phân chia và hợp nhất xảy ra. Nó là nguyên nhân và nguồn gốc của sự sống và cái chết, là con đường của chu kỳ tự nhiên.
Văn hóa Trung Hoa được xây dựng trên lý thuyết Thái Cực và lý thuyết Âm Dương. Khi lý thuyết này được áp dụng vào Khí Công, mục tiêu quan trọng đầu tiên của thực hành là sự hài hòa và cân bằng của Âm Dương (Âm Dương Hiệp Điều, 陰陽協調). Để đạt được trạng thái cân bằng hài hòa này, bạn điều chỉnh Âm và Dương qua phương pháp của Khảm (坎) (Thủy) và Ly (離) (Hỏa).
Khi lý thuyết này được áp dụng vào sức khỏe con người, thân xác được coi là Dương, còn thân tinh thần và thân tâm linh được coi là Âm. Để có một cuộc sống khỏe mạnh và trường thọ, bạn cũng phải quan tâm đến tình trạng tâm linh của mình. Tâm và Thần là nền tảng của sự sống; dù không thể thấy được, chúng vẫn là nguồn gốc và nguyên nhân của sự biểu hiện thể chất. Khi nền tảng này vững và mạnh, sự biểu hiện của sự sống có thể mạnh mẽ. Để đạt được sức khỏe và trường thọ, hãy tu luyện cả thân tinh thần lẫn thân thể chất. Đó gọi là "song tu tánh mệnh" (Tánh Mệnh Song Tu, 性命雙修). Tánh người (khí chất) ở đây nghĩa là bản tánh nội tại, tinh thần nguyên sơ mà chúng ta mang theo từ khi sinh ra. Mệnh ở đây nghĩa là mạng sống thể chất có giới hạn.
Khi bạn điều chỉnh mình vào trạng thái hài hòa cả nội tại lẫn ngoại tại, điều đó được gọi là "cân bằng thân tâm" (Thân Tâm Bình Hành, 身心平衡). Điều này cho phép bạn sống lâu hơn, giúp việc tu luyện tâm linh đạt tới giác ngộ hay Phật quả — mục tiêu cuối cùng của tu luyện.
May thay, khoa học vật chất ngày nay đã phát triển cao, cho phép chúng ta kiểm chứng những điều trước đây không thể giải thích được. Tuy vậy, vẫn còn nhiều bí ẩn đang chờ được khảo cứu từ quan điểm khoa học. Chúng ta đang sống trong một thời đại rất thú vị và đầy thách thức, khi những bí ẩn và trải nghiệm cổ xưa có thể được thấu hiểu bằng khoa học ngày nay. Những tài liệu do hàng ngàn chuyên gia Khí Công truyền lại cung cấp cho chúng ta nhiều manh mối, có manh mối hữu ích hơn những manh mối khác.
Tôi giống như người đang chơi trò xếp hình. Trước mặt tôi là hàng ngàn mảnh ghép của trò xếp hình thực hành Khí Công. Tôi cố chọn ra những mảnh hữu ích và quý giá, gạt bỏ những mảnh dẫn đi sai lạc. Qua nỗ lực của mình, tôi đã biên soạn được một tấm bản đồ về Khí Công — không chi tiết như tôi mong muốn, nhưng dù sao cũng là một hướng dẫn rõ ràng để ngăn sự bối rối và nỗi sợ lạc đường.
Một tấm bản đồ rõ ràng và chi tiết là cần thiết, nhưng tôi không thể một mình hoàn thành công việc khổng lồ này trong một đời người.
- Hàng ngàn tài liệu cổ còn đang chờ được dịch, giải thích và luận giải. Điều này đòi hỏi những học giả đủ trình độ, vừa quen thuộc với thực hành Khí Công, vừa là bậc thầy về văn tự Trung Hoa cổ, để hiểu được thuật ngữ chuyên biệt được dùng trong đó.
- Chúng ta cần những người thực hành Khí Công giàu kinh nghiệm để dịch đúng những tài liệu cổ này sang các ngôn ngữ khác. Đây không phải việc dễ, vì một từ Hán có thể mang nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào nơi, cách và thời điểm nó được dùng.
- Chúng ta cần những nhà khoa học và chuyên gia y học có tư tưởng cởi mở để đưa ra ý kiến về giá trị của những thực hành cổ này. Họ cần phải thách thức và cố gắng kiểm chứng trải nghiệm cổ xưa trong bối cảnh khoa học.
- Chúng ta cần một nền tảng với sự hỗ trợ tài chính vững mạnh để quy tụ các chuyên gia khác nhau cùng thảo luận mọi phương diện của thực hành Khí Công. Từ những hội nghị này, thông tin sẽ được biên soạn, nghiên cứu, thực nghiệm và cuối cùng được xuất bản. Nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ hay sự quan tâm của các nhóm khoa học khác nhau, sẽ rất khó hoàn thành công việc này.
Trong chương này, tôi cố gắng giải thích nhiều điều huyền bí trong thực hành Khí Công dựa trên nền tảng khoa học cá nhân có hạn của mình. Những giải thích khả dĩ này vẫn còn chờ được kiểm chứng, nhưng cho đến lúc đó, chúng vẫn là những giả thuyết có xác suất đúng cao nhất.
Trước hết chúng ta ôn lại khái niệm kinh mạch và mạch Khí của y học Trung Hoa. Với nền tảng đó, chúng ta dùng quan điểm khoa học để bàn về khái niệm Khí Công Trung Hoa ở mục 3. Ở mục 4, ý nghĩa và mục đích của Khí Công thiền định được thảo luận.
Lý thuyết huấn luyện của Dịch Cân (Muscle/Tendon Changing) và Tẩy Tủy (Marrow/Brain Washing) Khí Công được tóm tắt ở mục 5, tiếp theo là Tiểu Chu Thiên, Đại Chu Thiên và Thiền Giác Ngộ ở các mục 6, 7 và 8 tương ứng.
2-2 · Mạch Khí Và Kinh Lạc
Chúng ta có hai thân thể: thân thể vật lý và thân thể Khí (năng lượng sinh học). Thân thể vật lý có thể thấy được, còn Khí phải được cảm nhận. Thân thể Khí là nền tảng của thân thể vật lý, của các tế bào sống và của sự sống chúng ta. Thân thể Khí không chỉ liên quan đến các tế bào, mà còn liên quan đến tư duy và tinh thần của chúng ta, vì nó là nguồn năng lượng chính duy trì hoạt động của não bộ. Do đó, sự mất cân bằng hay ứ trệ của Khí là gốc rễ của mọi bệnh tật thể chất hay rối loạn tinh thần.
Khoa học y học phương Tây từ lâu đã nghiên cứu thân thể vật lý, trong khi phần lớn phớt lờ thân thể Khí. Điều này đã bắt đầu thay đổi trong hai thập kỷ qua, nhưng sự hiểu biết khoa học về thân thể Khí, và cách nó ảnh hưởng đến sức khỏe cùng tuổi thọ, vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta vẫn có thể chấp nhận sự hiểu biết cổ xưa của người Trung Hoa về mạng lưới Khí trong cơ thể.
Mười Hai Kinh Khí Chính Và Tám Mạch
Từ quan điểm của y học Trung Hoa, hệ thống tuần hoàn Khí trong cơ thể có Tám Mạch (Bát Mạch, 八脈), Mười Hai Kinh Khí Chính (Thập Nhị Kinh, 十二經), và hàng ngàn kinh phụ (Lạc, 絡) rẽ nhánh từ các kinh chính.
Hình 2-1. Đốc Mạch (Du Mai). Hình 2-2. Đới Mạch (Dai Mai).
Trên hai trong số các mạch (Đốc Mạch và Nhâm Mạch) cùng mười hai kinh Khí chính, có hơn bảy trăm huyệt châm cứu qua đó Khí có thể được điều chỉnh. Bằng cách này, sự lưu hành Khí trong cơ thể, đặc biệt là trong các nội tạng, có thể được điều hòa vào trạng thái hài hòa, bệnh tật được chữa lành và sức khỏe được duy trì. Ở đây, chúng ta sơ lược ôn lại ba mạng lưới tuần hoàn này. Muốn biết thêm về mạng lưới Khí này, hãy tham khảo các sách châm cứu Trung Hoa hay các sách của tôi, The Root of Chinese Qigong và Qigong Massage.
Tám Mạch (Bát Mạch, 八脈)
- Tám mạch gồm bốn Dương mạch và bốn Âm mạch, cân bằng lẫn nhau.
- Bốn Dương Mạch là:
- Đốc Mạch (督脈) (Du Mai) (Hình 2-1)
- Đới Mạch (hay Mạch Đai) (帶脈) (Dai Mai) (Hình 2-2)
- Dương Kiêu Mạch (陽蹻脈) (Yangqiao Mai) (Hình 2-3)
- Dương Duy Mạch (陽維脈) (Yangwei Mai) (Hình 2-4)
- Nhâm Mạch (任脈) (Ren Mai) (Hình 2-5)
- Xung Mạch (衝脈) (Chong Mai) (Hình 2-6)
- Âm Kiêu Mạch (陰蹻脈) (Yingiao Mai) (Hình 2-3)
- Âm Duy Mạch (陰維脈) (Yinwei Mai) (Hình 2-4)
Hình 2-3. Dương Kiêu Mạch (Yangqiao Mai) và Âm Kiêu Mạch (Yinqiao Mai).
Hình 2-4. Dương Duy Mạch (Yangwei Mai) và Âm Duy Mạch (Yinwei Mai).
Hình 2-5. Nhâm Mạch (Ren Mai).
Hình 2-6. Xung Mạch (Chong Mai).
- Theo y học Trung Hoa, các mạch hoạt động như những bể chứa, nối với mười hai kinh Khí chính và điều tiết Khí lưu hành trong các kinh này. Khi mức Khí trong một kinh cụ thể nào đó quá cao, một hay nhiều bể chứa sẽ hấp thụ phần dư thừa; và nếu Khí quá thấp, phần thiếu hụt sẽ được cung cấp từ các mạch này. Bằng cách đó, sự hài hòa được duy trì.
- Hai Dương mạch là Đốc Mạch và Đới Mạch, cùng hai Âm mạch là Nhâm Mạch và Xung Mạch, nằm ở thân mình. Bốn mạch còn lại nằm thành từng cặp, ở hai chân. Không có mạch nào ở cánh tay.
- Trong tám mạch, Đốc Mạch và Nhâm Mạch là quan trọng nhất, vì chúng điều tiết mười hai kinh Khí chính. Đốc Mạch điều tiết Khí trong sáu kinh chính Dương, còn Nhâm Mạch điều tiết Khí trong sáu kinh chính Âm. Trên hai mạch này có các huyệt châm cứu, còn sáu mạch kia thì không có huyệt nào. Tuy nhiên, có nhiều huyệt trên sáu mạch kia thuộc về mười hai kinh Khí chính, được coi là những cửa ngõ nơi Khí đi qua giữa các mạch và các kinh.
- Các phương pháp làm đầy các mạch bằng Khí rất quan trọng. Khi Khí trong chúng sung mãn, tiềm năng điều tiết của các kinh Khí chính sẽ cao. Đốc Mạch và Nhâm Mạch là quan trọng nhất, vì chúng điều tiết mười hai kinh Khí chính. Khí lưu hành trong hai mạch này và được phân phối đến mười hai kinh Khí chính suốt cả ngày.
- Trong Khí Công tôn giáo để tu giác ngộ, Xung Mạch (tủy sống) rất quan trọng. Nó nối não bộ và đáy chậu, và Khí sung mãn trong mạch này vào khoảng nửa đêm. Trong những giờ đó chúng ta ngủ, và cơ thể rất thư giãn. Cơ thể không cần nhiều Khí để hỗ trợ các hoạt động của mình, và Khí lưu hành sung mãn trong tủy sống để nuôi dưỡng não bộ và các cơ quan sinh dục. Sự sản xuất hoóc-môn tăng lên vào ban đêm. Khi não được nuôi dưỡng, Thần được nâng lên và có thể đạt giác ngộ. Muốn biết thêm chi tiết, hãy tham khảo cuốn sách của tôi, Qigong — The Secret of Youth.
- Đốc Mạch, đi lên dọc giữa lưng, là mạch chính cung cấp Khí cho hệ thần kinh rẽ nhánh từ tủy sống. Hệ thần kinh gồm những tế bào vật lý cần được nuôi dưỡng bằng Khí để hoạt động và sống sót. Để duy trì sự lưu hành Khí sung mãn trong mạch này, sức khỏe thể chất của bạn rất quan trọng. Chấn thương hay tổn thương dọc theo đường đi của mạch này sẽ khiến việc cung cấp Khí cho hệ thần kinh bị ứ trệ và bất thường. Để có Khí sung mãn lưu hành trong mạch này, hãy tăng lượng Khí tích trữ ở Hạ Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田), vốn là bể chứa Khí chính hay cục pin sinh học trong cơ thể chúng ta. Chúng ta sẽ bàn chủ đề này chi tiết hơn ở Chương 6.
- Đới Mạch (Dương) rất quan trọng, và là mạch duy nhất mà Khí lưu hành theo chiều ngang. Chính từ mạch này mà chúng ta cảm nhận được sự cân bằng của mình. Khí trong mạch này là Dương và mở rộng ra ngoài. Cũng như người đi trên dây, cái sào cân bằng càng dài thì giữ thăng bằng càng dễ. Người thực hành Khí Công và võ thuật luyện mạch này để cải thiện sự cân bằng và ổn định của thân và tâm. Khi đó bạn có thể tìm thấy trung tâm của mình và được bén rễ, để Thần có thể được nâng lên.
- Lý Thời Trân (李時珍) (1518–1593 CN) nói trong cuốn sách của ông, Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo (奇經八脈考) (The Study of Strange Meridians and Eight Vessels): "Dương Duy Mạch chủ Khí ở bề mặt (Vệ Khí), còn Âm Duy Mạch chủ Khí ở bên trong cơ thể. Dương Kiêu Mạch chủ phần Dương ở hai bên trái phải của cơ thể, còn Âm Kiêu Mạch chủ phần Âm ở hai bên trái phải của cơ thể. Đốc Mạch chủ phần Dương ở phía sau cơ thể, còn Nhâm Mạch và Xung Mạch chủ phần Âm ở phía trước. Đới Mạch điều tiết tất cả các mạch theo chiều ngang."
Mười Hai Kinh Khí Chính Và Các Nhánh Của Chúng (Thập Nhị Kinh Lạc, 十二經絡)
- Sáu kinh Dương và sáu kinh Âm cân bằng lẫn nhau.
- Sáu kinh Dương là:
- Kinh Đại Trường Thủ Dương Minh (手陽明大腸經) (Shou Yang Ming Da Chang Jing) (Hình 2-7)
- Kinh Vị Túc Dương Minh (足陽明胃經) (Zu Yang Ming Wei Jing) (Hình 2-8)
- Kinh Tiểu Trường Thủ Thái Dương (手太陽小腸經) (Shou Tai Yang Xiao Chang Jing) (Hình 2-9)
- Kinh Bàng Quang Túc Thái Dương (足太陽膀胱經) (Zu Tai Yang Pang Guang Jing) (Hình 2-10)
- Kinh Tam Tiêu Thủ Thiếu Dương (手少陽三焦經) (Shou Shao Yang San Jiao Jing) (Hình 2-11)
- Kinh Đởm Túc Thiếu Dương (足少陽膽經) (Zu Shao Yang Dan Jing) (Hình 2-12)
- Kinh Phế Thủ Thái Âm (手太陰肺經) (Shou Tai Yin Fei Jing) (Hình 2-13)
- Kinh Tỳ Túc Thái Âm (足太陰脾經) (Zu Tai Yin Pi Jing) (Hình 2-14)
- Kinh Tâm Thủ Thiếu Âm (手少陰心經) (Shou Shao Yin Xin Jing) (Hình 2-15)
- Kinh Thận Túc Thiếu Âm (足少陰腎經) (Zu Shao Yin Shen Jing) (Hình 2-16)
- Kinh Tâm Bào Lạc Thủ Quyết Âm (手厥陰心包絡經) (Shou Jue Yin Xin Bao Luo Jing) (Hình 2-17)
- Kinh Can Túc Quyết Âm (足厥陰肝經) (Zu Jue Yin Gan Jing) (Hình 2-18)
- Một đầu của mỗi kinh nối với một đầu chi, đầu kia nối với một nội tạng. Mỗi kinh có nhiều huyệt châm cứu, qua đó Khí của nó có thể được điều chỉnh. Đó là lý thuyết cơ bản của châm cứu.
- Hàng ngàn kinh phụ (Lạc, 絡) rẽ nhánh ra từ mỗi kinh chính. Chúng dẫn Khí đến bề mặt da và đến tủy xương. Điều này rất giống với hệ thống động mạch và mao mạch. Chỉ khác là thứ được phân phối ở đây là Khí chứ không phải máu.
Hình 2-7. Kinh Đại Trường của Thủ Dương Minh. Hình 2-8. Kinh Vị của Túc Dương Minh.
Hình 2-9. Kinh Tiểu Trường của Thủ Thái Dương. Hình 2-10. Kinh Bàng Quang của Túc Thái Dương.
Hình 2-11. Kinh Tam Tiêu của Thủ Thiếu Dương. Hình 2-12. Kinh Đởm của Túc Thiếu Dương.
Hình 2-13. Kinh Phế của Thủ Thái Âm. Hình 2-14. Kinh Tỳ của Túc Thái Âm.
Hình 2-15. Kinh Tâm của Thủ Thiếu Âm. Hình 2-16. Kinh Thận của Túc Thiếu Âm.
Hình 2-17. Kinh Tâm Bào của Thủ Quyết Âm. Hình 2-18. Kinh Can của Túc Quyết Âm.
Ghi chú về các ký hiệu trong hình: điểm thuộc kinh (Points Belonging to Channels), điểm giao hội (Points of Intersection), đường nối (Connecting Lines), kinh chính có huyệt (Primary Channels on Which There are Points), kinh chính và nhánh không có huyệt (Primary Channels and Branches without Points).
2-3 · Khoa Học Khí Công Con Người
Khoa học hiện đại đã bắt đầu chấp nhận các khái niệm của Khí Công, nhưng còn một chặng đường dài mới đạt tới sự thấu hiểu sâu sắc. Những quan sát trong mục này xuất phát từ sự hiểu biết cá nhân của tôi và từ những thông tin đã được công bố. Để có một sự giải thích thỏa đáng, cần có nhiều giả định, vì vậy hãy dùng logic và một tâm trí khoa học để phán xét. Hãy đặt câu hỏi về mọi giả định và giải thích. Chỉ khi nào chúng ta đã kiểm chứng được lý thuyết, chúng ta mới có thể tin tưởng nó hoàn toàn.
Trong mục này, một mạng lưới điện sinh học ở người được giả định và so sánh với các khái niệm y học Trung Hoa cổ. Chúng ta định nghĩa cục pin sinh học của con người, cả theo khái niệm truyền thống Trung Hoa lẫn từ quan điểm của khoa học phương Tây hiện đại.
Định Nghĩa Hiện Đại Về Khí
Ở Trung Hoa cổ, người ta không có kiến thức về điện. Họ chỉ biết từ châm cứu rằng khi kim được châm vào các huyệt, một loại năng lượng nào đó khác với nhiệt được sinh ra, thường gây ra cảm giác giật hay tê rần. Khi người Trung Hoa làm quen với điện từ học, họ nhận ra rằng năng lượng lưu hành trong cơ thể này, mà họ gọi là Khí, có thể chính là điều mà khoa học ngày nay gọi là điện sinh học.
Cơ thể người được cấu tạo từ nhiều vật liệu dẫn điện khác nhau, và hình thành một mạch điện từ sống. Năng lượng điện từ liên tục được sinh ra trong cơ thể qua phản ứng sinh hóa, vốn đồng hóa thức ăn và không khí, và lưu hành lực điện động (EMF) bên trong cơ thể.
Nó luôn bị ảnh hưởng bởi các điện từ trường bên ngoài như từ trường của trái đất hay các điện trường do mây sinh ra. Khi bạn thực hành Khí Công, bạn cần nhận biết những yếu tố bên ngoài này và tính đến chúng.
Vô số thí nghiệm đã được tiến hành ở Trung Hoa và Nhật Bản để nghiên cứu cách điện từ trường bên ngoài ảnh hưởng đến trường Khí của cơ thể. Nhiều thầy châm cứu dùng nam châm và điện trong điều trị của họ. Họ gắn một nam châm lên da phía trên một huyệt và để đó một thời gian, tại đó từ trường của nó dần dần tác động đến sự lưu hành Khí trong kinh đó. Hoặc họ châm kim vào huyệt rồi cho một dòng điện chạy qua kim để tác động trực tiếp đến các kinh Khí. Dù các nhà nghiên cứu tuyên bố thành công trong các thí nghiệm của mình, họ vẫn chưa thể giải thích lý thuyết đằng sau chúng. Bằng chứng xác thực vẫn còn khó nắm bắt, và nhiều câu hỏi chưa được trả lời vẫn còn đó. Đương nhiên, lý thuyết này còn mới, và cần thêm nghiên cứu trước khi nó được kiểm chứng và thấu hiểu. Hiện nay, nhiều thầy châm cứu bảo thủ vẫn giữ thái độ hoài nghi.
Để tháo gỡ nút thắt này, chúng ta hãy nhìn những gì khoa học phương Tây hiện đại đã khám phá về năng lượng điện sinh học. Nhiều báo cáo nghiên cứu về điện sinh học đã được công bố, và thường xuyên các kết quả liên hệ chặt chẽ với những gì được trải nghiệm trong huấn luyện Khí Công và y học Trung Hoa. Trong nghiên cứu điện sinh lý của thập niên 1960, các nhà điều tra phát hiện rằng xương có tính áp điện. Nói cách khác, khi chúng bị tác động lực, cơ năng được chuyển thành điện năng dưới dạng dòng điện. Điều này có thể giải thích một trong những thực hành của Tẩy Tủy Khí Công, trong đó lực tác động lên xương được tăng lên để tăng sự lưu hành Khí.
Tiến sĩ Robert O. Becker đã có những công trình quan trọng trong lĩnh vực này. Cuốn sách của ông, The Body Electric, báo cáo về nhiều nghiên cứu liên quan đến điện trường của cơ thể. Hiện nay người ta tin rằng thức ăn và không khí là những nhiên liệu sinh ra điện trong cơ thể qua phản ứng sinh hóa. Điện này được lưu hành khắp cơ thể nhờ các mô dẫn điện, một trong những nguồn năng lượng chính giữ cho các tế bào sống.
Khi bạn bị thương hay bệnh, sự lưu hành điện của cơ thể bị ảnh hưởng. Nếu sự lưu hành điện này ngừng lại, bạn chết. Năng lượng điện sinh học không chỉ duy trì sự sống, nó còn sửa chữa tổn thương. Các nhà nghiên cứu tìm cách dùng điện từ trường bên ngoài để đẩy nhanh sự hồi phục sau chấn thương. Richard Leviton báo cáo: "Các nhà nghiên cứu tại Trường Y thuộc Đại học Loma Linda ở California đã phát hiện, sau các nghiên cứu ở mười sáu quốc gia với hơn 1.000 bệnh nhân, rằng năng lượng từ tính tần số thấp, cường độ thấp đã thành công trong điều trị chứng đau mãn tính liên quan đến thiếu máu cục bộ mô, và cũng hoạt động tốt trong việc làm sạch các vết loét chậm lành. Trong 90 phần trăm bệnh nhân được thử nghiệm, nó làm tăng lưu thông máu đáng kể."
Ông báo cáo rằng mỗi tế bào hoạt động như một cục pin điện, có khả năng tích trữ điện tích. "Những nhà điều tra sinh từ học khác còn nhìn gần hơn nữa để tìm ra điều đang xảy ra, cho đến tận cấp độ máu, các cơ quan, và từng tế bào riêng lẻ, mà họ coi là một cục pin điện nhỏ." Điều này thuyết phục tôi rằng toàn bộ cơ thể chúng ta về cơ bản là một cục pin lớn được lắp ráp từ hàng triệu cục pin nhỏ. Tất cả chúng cùng nhau kích hoạt điện từ trường của con người.
Nhiều nghiên cứu liên quan đến châm cứu. Tiến sĩ Becker báo cáo rằng độ dẫn điện của da cao hơn nhiều tại các huyệt châm cứu, và hiện nay có thể định vị chúng chính xác bằng cách đo độ dẫn điện của da (Hình 2-19). Nhiều báo cáo cho thấy một cơ sở khoa học cho châm cứu, vốn đã được thực hiện ở Trung Hoa hàng ngàn năm nay.
Hình 2-19. Bản đồ độ dẫn điện của bề mặt da phía trên các huyệt châm cứu.
Một số nhà nghiên cứu dùng lý thuyết điện sinh học để giải thích những phép màu cổ xưa được gán cho việc thực hành Khí Công. Albert Huebner báo cáo: "Những minh chứng về điện cơ thể ở con người cũng có thể đưa ra một lời giải thích mới cho một thực hành chữa bệnh cổ xưa. Nếu các điện trường yếu bên ngoài có thể tạo ra những tác động sinh lý mạnh mẽ, thì có thể các điện trường từ mô của người này có khả năng tạo ra những cải thiện lâm sàng ở người khác. Tóm lại, phương pháp chữa bệnh được gọi là đặt tay có thể là một hình thức kích thích điện đặc biệt tinh tế."
Một hiện tượng khác được báo cáo là vầng hào quang thấy được quanh đầu của một người thực hành Khí Công đạt tới mức cao trong thiền định. Điều này thường được vẽ trong các bức họa về Chúa Giê-su, Phật, các thánh Chính thống giáo và Công giáo, cùng các vị tiên phương Đông khác nhau. Thông thường ánh sáng được vẽ bao quanh toàn bộ cơ thể. Hiện tượng này có thể được giải thích bằng lý thuyết điện cơ thể. Khi một người tu luyện Khí tới mức cao, Khí có thể tích tụ ở đầu. Nó có thể tương tác với các phân tử ô-xy trong không khí, ion hóa chúng và khiến chúng phát sáng.
Dù mối liên hệ giữa lý thuyết của The Body Electric và lý thuyết Khí của Trung Hoa ngày càng được chấp nhận, vẫn còn nhiều câu hỏi cần trả lời. Ví dụ, làm thế nào tâm trí thực sự tạo ra EMF để lưu hành điện trong cơ thể? Điện từ trường của con người bị ảnh hưởng ra sao bởi vô số điện trường khác đang bao quanh chúng ta, như sóng radio hay các thiết bị điện? Làm sao chúng ta có thể tái điều chỉnh điện từ trường của mình và sống sót trong không gian bên ngoài hay trên các hành tinh khác, nơi các từ trường hoàn toàn khác với từ trường trên trái đất? Tương lai của Khí Công và khoa học điện sinh học đầy thách thức và thú vị. Chúng ta cần dùng công nghệ hiện đại để hiểu thế giới năng lượng nội tại, vốn phần lớn đã bị xã hội phương Tây phớt lờ.
Định Nghĩa Hiện Đại Về Khí Công
Nếu chúng ta chấp nhận rằng năng lượng nội tại (Khí) lưu hành trong cơ thể chúng ta là điện sinh học, chúng ta có thể hình thành một định nghĩa về Khí Công dựa trên các nguyên lý của vật lý.
Hãy giả định rằng mạch điện được vẽ ở Hình 2-20 tương tự như mạch trong cơ thể chúng ta. Dù hiện nay chúng ta đã có đôi chút hiểu biết về mạch này từ châm cứu, chúng ta vẫn chưa biết chi tiết chính xác mạch của cơ thể trông như thế nào. Chúng ta biết có Mười Hai Kinh Khí Chính (những con sông Khí) và Tám Mạch (những bể chứa Khí). Cũng có hàng ngàn kinh Khí nhỏ (Lạc, 絡) cho phép Khí đến được da và tủy xương. Trong mạch này, mười hai nội tạng được nối và tương quan với nhau qua các kinh đó. Cũng có một Đan Điền (丹田) (elixir field) — cục pin sinh học — để tích trữ Khí.
Trong hình minh họa, bạn thấy rằng:
- Các kinh Khí giống như những sợi dây dẫn dòng điện.
- Các nội tạng giống như những linh kiện điện như điện trở và cuộn dây (solenoid).
- Các mạch Khí giống như các tụ điện, điều tiết dòng điện trong mạch.
- Đan Điền giống như một cục pin, tích trữ điện tích và cung cấp EMF.
Hình 2-20. Mạch điện sinh học của con người tương tự như một mạch điện.
Làm sao bạn giữ cho mạch điện này hoạt động hiệu quả? Mối quan tâm đầu tiên của bạn là điện trở của những sợi dây mang dòng điện. Trong một cỗ máy, hãy dùng dây có độ dẫn điện cao và điện trở thấp, nếu không dòng điện có thể làm nó nóng chảy. Nên dùng vật liệu như đồng hay thậm chí vàng. Trong cơ thể bạn, hãy giữ cho dòng điện chảy trơn tru, loại bỏ bất cứ thứ gì gây ứ trệ. Mỡ có độ dẫn điện thấp, vì vậy hãy dùng chế độ ăn và vận động để loại bỏ phần dư thừa khỏi cơ thể. Sự thư giãn để mở các kinh Khí là thực hành đầu tiên trong Thái Cực Quyền và nhiều bài tập Khí Công.
Làm sao bạn bảo trì các linh kiện điện, tức các nội tạng của mình? Các cơ quan của bạn sẽ cháy hỏng vì dòng điện quá nhiều (Dương) hay quá ít (Âm). Để tránh những vấn đề này trong một cỗ máy, bạn dùng một tụ điện để điều tiết dòng điện. Khi dòng điện quá mạnh, tụ điện hấp thụ và tích trữ phần dư; và khi nó yếu, tụ điện cung cấp dòng điện cho mạch. Tám mạch Khí chính là các tụ điện của cơ thể bạn. Khí Công nâng mức Khí của chúng lên để cung cấp dòng điện khi cần, và giữ cho các nội tạng hoạt động trơn tru. Điều này đặc biệt quan trọng khi bạn lớn tuổi, khi mức Khí của bạn nói chung thấp hơn.
Để có một mạch khỏe mạnh, bạn cũng phải lo cho chính các linh kiện. Nếu chúng yếu hay kém phẩm chất, mạch sẽ bị ảnh hưởng. Khí Công bảo trì và tái thiết các nội tạng. Có một điểm khác biệt quan trọng giữa mạch trong sơ đồ và mạch Khí trong cơ thể chúng ta. Cơ thể là một cơ thể sống, và với sự nuôi dưỡng Khí thích đáng, tất cả các tế bào có thể được tái sinh và tình trạng sức khỏe được cải thiện. Ví dụ, nếu hôm nay bạn chạy bộ ba dặm và cứ chạy đều đặn, bạn có thể dần dần tăng khoảng cách lên năm dặm, khi cơ thể bạn tái thiết và thích nghi với hoàn cảnh.
Nếu chúng ta tăng lưu lượng Khí qua các nội tạng, chúng sẽ mạnh và khỏe hơn. Sự gia tăng phải chậm và dần dần để chúng có thể thích nghi. Để tăng lưu lượng Khí, bạn làm việc với EMF. Hãy tưởng tượng hai bình chứa đầy nước và được nối với nhau bằng một ống. Nếu cả hai có cùng mức nước, nước sẽ không chảy. Tuy nhiên, nếu một bên cao hơn bên kia, nước sẽ chảy từ bình đó sang bình kia. Trong điện học, sự chênh lệch thế năng này được gọi là lực điện động. EMF càng cao, dòng điện càng mạnh.
Chìa khóa của thực hành Khí Công hiệu quả là giảm điện trở trong các kinh Khí và tăng EMF trong cơ thể bạn. Có sáu nguồn EMF trong cơ thể có thể làm tăng dòng chảy của điện sinh học.
- Năng lượng tự nhiên. Cơ thể bạn được làm bằng vật liệu dẫn điện, nên điện từ trường của nó bị ảnh hưởng bởi mặt trời, mặt trăng, mây, trọng lực và các năng lượng khác xung quanh bạn. Mặt trời, mặt trăng và trọng lực của trái đất ảnh hưởng đáng kể đến sự lưu hành Khí. Hiện nay chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm năng lượng do công nghệ hiện đại, như radio, TV, lò vi sóng, máy tính và các mạng điện thoại di động.
- Thức ăn và không khí. Để duy trì sự sống, chúng ta hấp thụ thức ăn và không khí qua miệng và mũi. Chúng được chuyển hóa thành Khí qua phản ứng sinh hóa ở ngực và hệ tiêu hóa (trong y học Trung Hoa gọi là Tam Tiêu). EMF được sinh ra, lưu hành Khí khắp cơ thể. Một phần lớn của Khí Công dành cho việc có thức ăn thích hợp và không khí trong lành.
- Tư duy. Tâm trí là nguồn EMF sinh học quan trọng nhất. Bất cứ lúc nào bạn cử động để làm điều gì đó, trước tiên bạn sinh ra một ý niệm (Ý, 意). Ý niệm này sinh ra EMF và dẫn Khí qua hệ thần kinh, để tiếp năng lượng và cử động các cơ thích hợp. Bạn càng tập trung, EMF càng mạnh, và dòng Khí bạn dẫn đến các cơ để tiếp năng lượng cho chúng càng mạnh. Tâm trí là yếu tố quan trọng nhất trong huấn luyện Khí Công.
- Vận động. Vận động chuyển hóa tinh chất thức ăn được tích trữ (mỡ) thành Khí, xây dựng EMF. Nhiều môn phái Khí Công dùng chuyển động cho mục đích này.
- Chuyển hóa Tiên Thiên Tinh thành Khí. Các hoóc-môn do các tuyến nội tiết sinh ra được gọi là Tiên Thiên Tinh (Original Essence) trong y học Trung Hoa. Chúng được chuyển hóa thành Khí để kích thích chức năng của cơ thể, làm tăng sinh lực. Cân bằng sản xuất hoóc-môn khi bạn còn trẻ, và tăng sản xuất khi bạn già, là những chủ đề quan trọng trong Khí Công Trung Hoa.
- Các phương pháp y học. Trong y học Trung Hoa, các phương pháp như châm cứu, cứu ngải và xoa bóp sinh ra EMF để điều chỉnh Khí bất thường trong cơ thể. Chúng đã trở thành những phương pháp điều trị quan trọng của y học Trung Hoa.
Ba Đan Điền — Cục Pin Sinh Học Của Con Người
Cơ thể người có một mạch điện. Để lưu hành điện sinh học cần có một cục pin hay nguồn cung cấp điện. Có ba nơi tích trữ Khí, được gọi là Đan Điền (丹田) (elixir field). Một cái gọi là Hạ Đan Điền (下丹田), nằm khoảng một hay hai inch dưới rốn. Cái thứ hai ở phần dưới xương ức, gọi là Trung Đan Điền (中丹田). Cái thứ ba ở phần dưới trung tâm trán, hay con mắt thứ ba, gọi là Thượng Đan Điền (上丹田).
Hạ Đan Điền là nơi ngự trị của Thủy Khí, gọi là Nguyên Khí (元氣), được sinh ra từ Nguyên Tinh (元精). Trong vùng này có một huyệt gọi là Khí Hải (氣海) (Co-6), nghĩa là biển Khí. Nó sinh ra Khí đan, sung mãn như biển.
Để tích lũy Khí ở Hạ Đan Điền, bạn chuyển động vùng bụng (Hạ Đan Điền) qua hô hấp bụng. Bài tập này gọi là Khởi Hỏa (起火), nghĩa là nhóm lửa, cũng gọi là "hô hấp trở về thời thơ ấu" (Phản Đồng Hô Hấp, 返童呼吸). Sau khi tập vùng Hạ Đan Điền khoảng mười phút, bạn cảm thấy ấm ở vùng bụng dưới, khi Khí tích lũy ở đó. Người Đạo gia gọi vùng bụng là Đan Lô (丹爐), nghĩa là lò đan.
Điều gì xảy ra khi bụng chuyển động? Vùng bụng có khoảng sáu lớp cơ và mỡ được kẹp giữa các lớp cân (Hình 2-21). Khi tâm trí bạn chuyển động các cơ bụng, sẽ có sự co và giãn cơ, biến mỡ thành điện sinh học. Khi điện sinh học gặp điện trở từ các cân, nó biến thành nhiệt. Mỡ và cân là những chất dẫn điện kém, còn cơ dẫn điện tương đối tốt. Khi những vật liệu này được kẹp cùng nhau, chúng hoạt động như một cục pin. Qua chuyển động vùng bụng, năng lượng được tích trữ và biểu hiện thành sự ấm áp.
Hình 2-21. Cấu trúc giải phẫu của vùng bụng.
Hạ Đan Điền Thật
Phía trước bụng không phải là Đan Điền thật, mà thực ra là một Giả Đan Điền (假丹田). Nó sinh Khí lên mức cao, nhưng không tích trữ nó lâu. Nó nằm trên đường đi của Nhâm Mạch, nên bất cứ Khí nào được tích lũy đều lưu hành trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Nó không thể là một cục pin theo như chúng ta hiểu thuật ngữ này, vì một cục pin thật phải tích trữ Khí. Vậy thì Hạ Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田) ở đâu?
Người Đạo gia dạy rằng Hạ Đan Điền thật nằm ở trung tâm bên trong khoang bụng, tại trọng tâm vật lý của ruột già và ruột non (Hình 2-22).
Sự sống bắt đầu khi tinh trùng của cha đi vào trứng của mẹ, hình thành tế bào người nguyên thủy (Hình 2-23). Tế bào này phân chia thành hai tế bào, rồi bốn, cứ thế tiếp tục. Khi nhóm tế bào này bám vào thành trong của tử cung, dây rốn bắt đầu phát triển. Dinh dưỡng và năng lượng cho sự nhân lên của tế bào được hấp thụ từ người mẹ qua dây rốn này. Bụng của thai nhi chuyển động lên xuống, bơm dinh dưỡng và năng lượng vào cơ thể nó. Ngay sau khi sinh, không khí và dinh dưỡng được đưa vào qua mũi và miệng, qua động tác mút của miệng và hô hấp của phổi. Đứa trẻ dần dần quên đi chuyển động tự nhiên của vùng bụng. Đó là lý do hô hấp bụng được gọi là "hô hấp trở về thời thơ ấu".
Hình 2-22. Đan Điền thật và Giả Đan Điền — Huyệt Âm Giao, Mệnh Môn, Đan Điền thật, Khí Hải (Co-6) (Giả Đan Điền).
Hình 2-23. Tế bào người nguyên thủy đầu tiên.
Nếu tế bào người đầu tiên của bạn vẫn còn sống, nó sẽ ở đâu? Rất có thể nó đã chết từ lâu. Khoảng một nghìn tỷ tế bào chết trong cơ thể mỗi ngày. Nhưng nếu tế bào đầu tiên này vẫn còn sống, nó sẽ nằm ở trọng tâm của chúng ta. Từ trung tâm này, các tế bào nhân lên đều đặn ra bên ngoài cho đến khi cơ thể được xây dựng hoàn tất. Để duy trì quá trình này, Khí phải được tập trung ở đây và tỏa ra bên ngoài. Trong trạng thái phôi thai, đây là trung tâm của trọng lực và của Khí. Khi chúng ta lớn lên sau khi sinh, trung tâm này vẫn còn đó.
Trọng tâm vật lý được chiếm giữ bởi ruột già và ruột non (Hình 2-24). Có ba loại cơ trong cơ thể chúng ta, được phân loại theo khả năng kiểm soát của chúng ta. Loại thứ nhất là cơ tim, trong đó độ dẫn điện là cao nhất. Tim đập mọi lúc, bất kể sự chú ý của chúng ta, và qua thực hành và kỷ luật, chúng ta chỉ có thể điều tiết nhịp đập của nó, chứ không thể khởi động hay ngừng nó. Loại cơ thứ hai là những cơ co tự động, nhưng chúng ta có thể kiểm soát đáng kể nếu nỗ lực. Cơ hoành điều khiển hô hấp, mí mắt của chúng ta, và một số đáp ứng sinh dục nhất định là những ví dụ của loại cơ này, và độ dẫn điện của chúng thấp hơn loại thứ nhất. Loại cơ thứ ba được tâm thức của chúng ta kiểm soát trực tiếp. Độ dẫn điện của chúng là thấp nhất trong ba nhóm.
Hình 2-24. Cấu trúc giải phẫu của Đan Điền thật — ruột già và ruột non.
Tổng chiều dài của ruột già và ruột non của bạn xấp xỉ sáu lần chiều cao cơ thể bạn (Hình 2-25). Với một mô dẫn điện dài như vậy được kẹp giữa các lớp lót, mà có lý do để tin là những chất dẫn điện kém, nó hoạt động như một cục pin khổng lồ trong cơ thể chúng ta (Hình 2-26). Vì vậy, trọng tâm, chứ không phải Giả Đan Điền, mới là cục pin thật trong cơ thể chúng ta.
Bộ não thứ hai. Theo một báo cáo năm 1996 trên The New York Times, cơ thể người có hai bộ não: một ở đầu, và cái kia ở hệ tiêu hóa, được biết đến là Hệ Thần Kinh Ruột (Enteric Nervous System). Dù hai bộ não này tách biệt về mặt vật lý, chúng hoạt động như một nhờ sự nối kết của tủy sống, vốn là mô dẫn điện cao (Hình 2-27).
Hình 2-25. Ruột già và ruột non dài khoảng sáu lần chiều cao của bạn.
Hình 2-26. Các vật liệu dẫn điện kém như mạc treo ruột, vỏ ngoài, và nước ở trong và quanh ruột làm cho toàn bộ vùng này hoạt động như một cục pin.
Hình 2-27. Hai cực (hai bộ não) của một cơ thể người — Não trên (đầu) (Thượng Đan Điền), Tủy sống (Xung Mạch), Não dưới (ruột) (Hạ Đan Điền thật).
Bài báo giải thích rằng não trên suy nghĩ và ghi nhớ, tích trữ dữ liệu, và dùng các điện tích hóa-điện. Não dưới có trí nhớ nhưng không có năng lực tư duy. Khám phá này xác nhận niềm tin của người Trung Hoa rằng Hạ Đan Điền thật, nằm ở ruột già và ruột non, tích trữ Khí, còn Thượng Đan Điền cai quản tư duy và chỉ đạo Khí. Não trên suy nghĩ, nên nó có thể tạo ra EMF, còn não dưới nên có dung lượng lớn để tích trữ điện tích này. Nói cách khác, não dưới là cục pin của con người, nơi sinh lực ngự trị. Một khi não trên sinh ra một ý niệm (EMF), điện tích được chỉ đạo từ não dưới, qua tủy sống và hệ thần kinh, để kích hoạt phần thích hợp của cơ thể.
Theo Định luật Ohm trong vật lý:
ΔV = i × R
trong đó ΔV là hiệu điện thế hay EMF, i là cường độ dòng điện, và R là điện trở.
Nếu R không đổi, thì thế năng hay EMF càng cao, dòng điện sinh ra càng mạnh. Nếu ta giả định điện trở của cơ thể chúng ta không đổi, thì chúng ta càng tập trung EMF, dòng Khí càng mạnh. Điều này song hành với khái niệm Khí Công rằng bạn càng tập trung, mức năng lượng của bạn càng cao. Khí Công huấn luyện những mức tập trung cao hơn qua tĩnh tọa. Nếu EMF không đổi, nghĩa là sự tập trung của tâm trí vẫn như nhau. Khi đó, R càng thấp, dòng điện càng cao. Theo Khí Công, bạn càng thư giãn, Khí càng có thể lưu thông.
Chúng ta cũng xét công thức biểu hiện của lực vật lý:
Công suất = ΔV × i = i² × R
Công suất sinh ra phụ thuộc vào cường độ dòng điện và điện trở. Khi một người biểu hiện sức mạnh thể chất, người đó căng cơ thể mình. Điều này làm tăng điện trở của cơ thể, năng lượng (dòng điện) bị giữ lại trong các cơ và lực được biểu hiện. Điều này cũng giống như trong các môn võ cứng ngoại gia, như Hổ và Ưng, vốn tập trung xây dựng cơ bắp và gân để biểu hiện lực đến mức cao nhất.
Cách tiếp cận của các môn võ nội gia nhu và của Nội Đan Khí Công thì khá khác. Dòng điện là năng lượng được biểu hiện, và ảnh hưởng của nó lên công suất lớn hơn nhiều, vì cường độ dòng điện được bình phương trong công thức, do đó người thực hành chú ý nhiều hơn đến việc tu dưỡng một dòng Khí mạnh hơn. Thiền định là yếu tố sống còn cho điều này, vì nó sinh ra EMF để làm chuyển động dòng điện. Sự lưu hành Khí trơn tru đòi hỏi điện trở hay sự căng thẳng thể chất phải ở mức tối thiểu, vì vậy sự thư giãn là chìa khóa của các môn nội gia.
Sự biểu hiện công suất tập trung nhất có thể được sinh ra nên đến từ cả năng lượng lẫn cơ bắp, tức cả dòng điện lẫn điện trở. Hy sinh một trong hai, công suất sẽ giảm. Các môn Khí Công võ thuật nhu-cứng, như Bạch Hạc, Hình Ý Quyền, và Đạt Ma Dịch Cân Kinh, đều nhấn mạnh cả Khí (dòng điện) lẫn sự căng (điện trở). Họ làm điều đó bằng cách giữ cơ thể thư giãn tối đa, trong khi dùng tâm trí tập trung để dẫn Khí đến cơ thể. Một khi Khí được dẫn từ Hạ Đan Điền đến các chi, ngay trước lúc tiếp xúc, họ đột ngột căng cơ thể. Đó gọi là các môn nhu-cứng, nhấn mạnh cả sự biểu hiện nội tại lẫn ngoại tại của công suất.
Trung Đan Điền Và Thượng Đan Điền
Trung Đan Điền. Trung Đan Điền nằm ở cơ hoành, vốn là một vách ngăn màng-cơ phân chia khoang bụng và khoang ngực (Hình 2-28). Nó hoạt động trong hô hấp và là một vật liệu dẫn điện cao. Phía trên và phía dưới nó là các cân, vốn cô lập các nội tạng khỏi cơ hoành. Ở đây lại là một chất dẫn điện tốt được cô lập bởi những chất dẫn điện kém, do đó có khả năng tích trữ điện hay Khí. Vì nó nằm giữa phổi và dạ dày — nơi đồng hóa Hậu Thiên Tinh, tức không khí và thức ăn, thành năng lượng — nên Khí được tích lũy ở Trung Đan Điền được xếp loại là Hỏa Khí (火氣). Đương nhiên, Hỏa Khí này cũng có thể khuấy động tâm tình cảm của bạn.
Hình 2-28. Trung Đan Điền được nối với cơ hoành.
Thượng Đan Điền. Não bộ là Thượng Đan Điền. Não bộ và tủy sống hợp thành hệ thần kinh trung ương, có độ dẫn điện cao nhất trong cơ thể. Não bộ được phân tách thành những phần riêng biệt bởi màng nhện (arachnoid mater), một màng tinh tế của tủy sống và não bộ, nằm giữa màng mềm (pia mater) và màng cứng (dura mater) (Hình 2-29). Có lý do để giả định rằng những mô này là những chất dẫn điện kém. Đây là một trung tâm năng lượng khổng lồ khác, tiêu thụ một lượng lớn Khí, dù tự nó không sinh ra Khí nào.
Hình 2-29. Thượng Đan Điền — bộ não con người.
Bằng cách này, chúng ta có thể so sánh trải nghiệm cổ xưa với sự hiểu biết khoa học hiện đại. Giờ đây, chúng ta cũng hãy nhìn Khí Công từ một quan điểm khoa học khác, lần này là hóa học.
Thay Thế Tế Bào
Khi chúng ta thở, chúng ta hít ô-xy vào và thở ra rất nhiều các-bon dưới dạng khí các-bô-níc (Hình 2-30). Các-bon này đến từ đâu, và thực sự có bao nhiêu được xử lý ra ngoài qua hô hấp? Nguồn các-bon đầu tiên là từ thức ăn (glucose) chúng ta ăn. Thức ăn được chuyển thành năng lượng, tạo ra khí các-bô-níc.
glucose + 6O₂ → 6CO₂ + 6H₂O ΔG°' = −686 Kcal (hàm lượng năng lượng)
Nguồn các-bon thứ hai là từ các tế bào chết. Cơ thể được cấu tạo chủ yếu từ các-bon, hy-đrô, ô-xy và ni-tơ, còn các nguyên tố khác như can-xi (Ca), phốt-pho (P), clo (Cl), lưu huỳnh (S), ka-li (K), na-tri (Na), ma-giê (Mg), i-ốt (I) và sắt (Fe) chiếm phần nhỏ hơn nhiều trong trọng lượng cơ thể chúng ta.
Hình 2-30. Chúng ta hít vào để hấp thụ ô-xy và thở ra để đẩy khí các-bô-níc ra.
Có đến một nghìn tỷ tế bào chết trong cơ thể mỗi 24 giờ. Tuổi thọ trung bình của một tế bào da là 28 ngày. Những tế bào khác nhau như tế bào xương, tủy hay gan, mỗi loại có tuổi thọ riêng. Chúng ta dựa vào hô hấp để đẩy các-bon từ các tế bào chết ra ngoài và cung cấp cho các tế bào sống ô-xy mới. Các-bon và các khoáng chất khác được bổ sung từ thức ăn chúng ta ăn. Quá trình này là yếu tố sống còn cho việc hình thành tế bào mới và sự tiếp diễn của sự sống.
Quá trình thay thế tế bào diễn ra liên tục và không ngừng. Sức khỏe trong suốt cuộc đời chúng ta phụ thuộc vào việc quá trình này được thực hiện trơn tru và nhanh chóng đến mức nào. Nếu có nhiều tế bào khỏe mạnh mới thay thế tế bào cũ, bạn sống và lớn lên. Nếu các tế bào được thay thế khỏe mạnh như các tế bào nguyên thủy, bạn giữ được trẻ. Nếu có ít tế bào được sinh ra hơn, hay tế bào mới không khỏe mạnh như tế bào nguyên thủy, thì bạn lão hóa.
Để sinh ra tế bào khỏe mạnh cần có hy-đrô, ô-xy, các-bon và các khoáng chất khác mà chúng ta hấp thụ từ không khí hay thức ăn. Chất lượng không khí, độ tinh khiết của nước và việc chọn thức ăn trở thành những yếu tố then chốt khi xét đến sức khỏe và tuổi thọ của bạn.
Không khí và nước đang bị ô nhiễm, đặc biệt là ở các thành phố và vùng công nghiệp. Chất lượng thức ăn chúng ta ăn phụ thuộc vào nguồn gốc và phương pháp chế biến. Không dễ tìm được môi trường nguyên sơ như thời cổ. Tuy nhiên, chúng ta phải thích nghi với môi trường mới của mình và chọn lối sống một cách khôn ngoan.
Vì các-bon chiếm phần lớn như vậy trong cơ thể chúng ta, hấp thụ các-bon chất lượng tốt là một vấn đề quan trọng trong sức khỏe hiện đại. Bạn có thể lấy nó từ sản phẩm động vật hay từ thực vật. Các-bon từ thực vật nói chung tinh khiết hơn so với các-bon lấy từ động vật.
Thịt đỏ bị ô nhiễm nhiều hơn thịt trắng, nên có nhiều khả năng khuấy động và kích thích quá mức tâm tình cảm của bạn, làm rối loạn tư duy của bạn. Cá là một nguồn các-bon tốt khác, nhưng đương nhiên một số loại cá tốt hơn những loại khác. Tôm có hàm lượng cholesterol cao, có thể làm tăng nguy cơ huyết áp cao.
Do mức tạp chất cao trong hầu hết sản phẩm động vật, những người thực hành Khí Công đã dành nhiều thời gian và công sức tìm kiếm cách hấp thụ hiệu quả chất đạm họ cần từ thực vật, như đậu Hà Lan và các loại đậu. Đậu nành là một trong những nguồn tốt nhất. Chúng rẻ và dễ trồng, nhưng với một người không ăn chay, cơ thể có thể khó sinh ra các enzyme cần thiết để tiêu hóa một chế độ ăn toàn thực vật. Con người tiến hóa thành loài ăn tạp, và cơn thèm thịt có thể rất mạnh. Ngay nay, chúng ta vẫn còn răng nanh, vốn được dùng để xé thịt sống thời cổ. Các enzyme tự nhiên trong cơ thể phù hợp hơn với việc tiêu hóa thịt. Nếu ta đặt thịt và bắp vào enzyme tiêu hóa của người, thịt sẽ tan trong vài phút, còn bắp có thể mất hàng giờ. Vì vậy, nói chung cơ thể dễ hấp thụ các-bon cần thiết từ thịt hơn là từ thực vật.
Điều này không có nghĩa là chúng ta không thể hấp thụ đạm thực vật một cách hiệu quả. Điểm mấu chốt là nếu một enzyme đã hiện diện từ đầu, thì việc sản xuất nó có thể được tăng lên trong cơ thể bạn, nhưng sẽ cần thời gian. Nếu bạn muốn trở thành người ăn chay, bạn phải giảm dần lượng sản phẩm thịt và để cơ thể thích nghi với nó; nếu không, bạn có thể bị thiếu đạm.
Chúng ta phải tiêu thụ nhiều loại thức ăn thay vì chỉ tập trung vào những thức ăn giàu đạm, để đảm bảo chúng ta hấp thụ được tất cả các loại vitamin và khoáng chất vi lượng mà cơ thể cần. Dù chúng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ thể chúng ta, chúng vẫn thiết yếu để cơ thể vận hành trơn tru. Can-xi quan trọng cho sự phát triển của xương, và sắt rất quan trọng cho máu khỏe mạnh.
Dinh dưỡng chỉ là một mặt của đồng tiền. Khi một người lão hóa nhanh, đó có thể là do sự tích trữ và lưu hành Khí kém chứ không phải do suy dinh dưỡng. Không có nguồn cung sung mãn, sự lưu hành Khí sẽ không được điều tiết hiệu quả và thân thể vật lý của bạn sẽ bắt đầu thoái hóa. Khí Công xây dựng Khí trong Tám Mạch của bạn và giúp bạn lưu hành nó trong cơ thể. Việc huấn luyện Khí Công này bao gồm thực hành Ngoại Đan (外丹) và Nội Đan (內丹), mà chúng ta sẽ bàn ở mục kế tiếp.
Dù dinh dưỡng và sự lưu hành Khí rất quan trọng, hiệu quả của toàn bộ quá trình thay thế tế bào phụ thuộc vào các tế bào máu, vốn mang nước, ô-xy và chất dinh dưỡng đến mọi nơi trong cơ thể qua mạng lưới tuần hoàn máu. Từ động mạch và mao mạch, các thành phần cho tế bào mới được đưa đến cả những nơi xa xôi nhất trong cơ thể. Các tế bào cũ hấp thụ mọi thứ cần thiết từ dòng máu và phân chia để sinh ra tế bào mới. Vật liệu còn lại từ các tế bào chết được đưa trở lại qua tĩnh mạch đến phổi. Qua hô hấp, các tế bào chết được đẩy ra ngoài dưới dạng khí các-bô-níc. Khí là yếu tố sống còn cho quá trình phân chia tế bào. Mỗi tế bào máu thực ra là một lưỡng cực hay một cục pin nhỏ, tích trữ điện sinh học và giải phóng nó. Trong y học Trung Hoa, người ta hiểu rằng máu và Khí luôn đi cùng nhau. Ở đâu có máu, ở đó có Khí, và ngược lại. Thuật ngữ Khí Huyết (氣血) thường được dùng trong y học Trung Hoa.
Động mạch nằm sâu bên dưới các cơ, còn tĩnh mạch nằm gần bề mặt da. Màu máu trong động mạch đỏ, vì có mặt ô-xy. Trong tĩnh mạch nó trông xanh, do không có ô-xy này và có mặt các-bon. Việc thay thế tế bào bắt đầu từ bên trong cơ thể, đi ra bên ngoài. Nếu chúng ta căng hơn, tuần hoàn máu sẽ ứ trệ và quá trình thay thế tế bào chậm hơn. Phần lớn việc thay thế tế bào xảy ra vào ban đêm, khi chúng ta thư giãn trong giấc ngủ. Vì vậy, tầm quan trọng của giấc ngủ đối với việc tăng cường sức khỏe và trường thọ là hiển nhiên.
Chúng ta phải xét đến cách đảm bảo sự sản xuất ổn định các tế bào máu khỏe mạnh để duy trì sức khỏe và ngăn ngừa lão hóa sớm. Nếu không có đủ tế bào máu, quá trình thay thế tế bào sẽ ứ trệ, và bạn thoái hóa nhanh chóng.
Tế bào máu có một tuổi thọ nhất định. Khi tế bào cũ chết, tế bào mới phải được sinh ra từ tủy xương để thay thế chúng. Tủy xương là nhà máy máu chính của cơ thể. Khi một người đến tuổi ba mươi, tủy gần đầu các khoang xương bắt đầu chuyển vàng, khi mỡ tích tụ ở đó. Hồng cầu không còn được sinh ra ở vùng đã chuyển vàng (Hình 2-31). Những người thực hành Khí Công tin rằng sự thoái hóa của tủy xương là do cung cấp Khí không đủ, và vì vậy Khí Công Tẩy Tủy được phát triển.
Hình 2-31. Cấu trúc của một xương dài — tủy xương đỏ và tủy xương vàng.
Sản xuất hoóc-môn cũng ảnh hưởng đến việc thay thế tế bào. Hoóc-môn hoạt động như những chất xúc tác trong cơ thể. Khi mức hoóc-môn cao, chúng ta tràn đầy năng lượng hơn, và việc thay thế tế bào diễn ra nhanh hơn và trơn tru hơn. Khi sản xuất hoóc-môn thấp, việc thay thế tế bào sẽ chậm và chúng ta già nhanh. Bằng cách tăng mức hoóc-môn, chúng ta kéo dài tuổi thọ đáng kể.
Duy trì sản xuất hoóc-môn khỏe mạnh là mối quan tâm chính trong thực hành Khí Công. Các tuyến sinh ra hoóc-môn đã được nhận biết từ thời cổ, nhưng bản thân hoóc-môn thì chưa được hiểu rõ. Họ hiểu rằng tinh chất của sự sống được tích trữ ở thận. Ngày nay, chúng ta biết tinh chất này thực ra là các hoóc-môn do tuyến thượng thận trên đỉnh thận sinh ra. Họ tin rằng qua kích thích tinh hoàn và buồng trứng, sinh lực có thể được tăng lên. Từ thực hành tĩnh tọa, họ học cách dẫn Khí lên não để nâng cao Thần của sinh lực. Khí được dẫn đến tuyến yên để kích thích sản xuất hoóc-môn tăng trưởng. Những thực hành này là những con đường hiệu quả đến trường thọ. Mức hoóc-môn giảm đáng kể một khi xương của chúng ta hoàn tất, khoảng tuổi 30. Một khi cơ thể đã hoàn tất việc xây dựng chính mình, nó kích hoạt sự giảm mức hoóc-môn.
Để ngăn bệnh tật, chúng ta cũng phải xét đến hệ miễn dịch. Khi sự tích trữ Khí sung mãn, bạn ít bệnh hơn. Mỗi bạch cầu giống như một người lính chiến đấu, cần thức ăn để duy trì sức mạnh của mình. Khi Khí mạnh, hệ miễn dịch mạnh. Hô hấp da được phát triển để dẫn Khí đến bề mặt da và tăng cường Vệ Khí (衛氣), thành phần năng lượng của hệ miễn dịch gần bề mặt da.
2-4 · Ý Nghĩa Và Mục Đích Của Thiền Định
Nhiều trường phái thiền định khác nhau đã phát triển để phục vụ một phổ rộng các mục đích. Thiền định đã tồn tại dưới một hình thức nào đó trong hầu như mọi nền văn hóa trên thế giới, đặc biệt là trong các xã hội tôn giáo. Trong một số xã hội này, thiền định tôn giáo đã đạt tới một mức rất cao.
Ở Trung Hoa, những trường phái thiền định khác nhau tồn tại ở hầu như mọi tầng lớp xã hội. Trong giới y học và học giả, thiền định được gọi là Tĩnh Tọa (靜坐), nghĩa là ngồi yên lặng. Nó được dùng để đưa tâm trí vào trạng thái trung dung, hài hòa và tĩnh lặng. Nhiều bệnh tật và vấn đề tinh thần bị gây ra bởi những xáo trộn cảm xúc, vì vậy nếu chúng ta trung hòa những mất cân bằng cảm xúc này, chúng ta loại bỏ được nguyên nhân của bệnh tật và nỗi đau tinh thần. Loại thiền định này được coi là thích hợp cho xã hội thế tục, và được thiết kế để điều tiết tâm trí chứ không tích cực theo đuổi việc điều tiết tinh thần.
Giới võ thuật Trung Hoa cũng dùng thiền định để tìm ý nghĩa của sự sống và nâng cao tinh thần. Khi ý nghĩa của sự sống được thấu hiểu trong thiền định, một tâm trí bình an sẽ đạt được, tức là sự tĩnh lặng của Âm. Khi đó, Khí được dẫn một cách hiệu quả đến cơ thể để biểu hiện sức mạnh Dương. Cân bằng Âm và Dương này, một người võ thuật đạt tới một mức võ công sâu sắc và sự thấu hiểu sâu xa về hài hòa và bình an. Hầu hết các môn võ Trung Hoa nổi tiếng như Thiếu Lâm (少林), Thái Cực (太極), Võ Đang (武當), Nga Mi (峨嵋), Thiên Sơn (天山), Thanh Thành (青城), và Côn Lôn (崑崙) đều được phát triển trong các tự viện. Các phương pháp thiền định của họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thiền định tôn giáo và theo nhiều cách không thể tách rời.
Thiền định tôn giáo được gọi là Tọa Thiền (坐禪) trong Phật giáo, nghĩa là ngồi để Thiền, và Đả Tọa (打坐) trong Đạo giáo, nghĩa là ngồi. Thiền nghĩa là tu luyện, tinh luyện hay theo đuổi trạng thái Phật quả. Trong A Hàm Kinh (阿含經) của Phật giáo có nói: "Ngồi Thiền và suy ngẫm về nguồn gốc, chớ giải đãi và lười biếng." Qua thiền định, bạn tìm kiếm nguồn gốc của đời sống tâm linh.
Mục tiêu cuối cùng của thiền định tôn giáo là giác ngộ (Đạo giáo) hay Phật quả (Phật giáo). Thiền định tôn giáo là mức cao nhất của thiền định trong xã hội Trung Hoa. Những người tu tập không chỉ nỗ lực đạt được bình an và hài hòa bằng cách trung hòa tâm tình cảm, mà còn là sự hợp nhất với tinh thần tự nhiên (Thiên Nhân Hợp Nhất, 天人合一). Để đạt điều này, sự tích trữ Khí sung mãn ở Hạ Đan Điền thật phải củng cố thân thể vật lý và nuôi dưỡng não bộ đến trạng thái giác ngộ. Khi thân thể mạnh, sự sống sẽ dài, cho bạn nhiều thời gian hơn cho việc tu luyện tâm linh. Khi não bộ được nuôi dưỡng đầy đủ, con mắt thứ ba có thể được mở. Khi đó Thần được hợp nhất lại với tinh thần tự nhiên, và mục đích của đời sống được đạt tới.
Trước hết hãy xác lập mục tiêu của việc huấn luyện thiền định của bạn. Bạn đang tu dưỡng một tâm trí bình an, hay võ thuật, hay giác ngộ? Sau đó hãy xác định con đường để đạt mục tiêu của mình. Làm sao bạn tìm được cách đúng? Bạn cam kết đến mức nào? Bạn có đủ kiên nhẫn, bền chí và một ý chí đủ mạnh để tích cực theo đuổi các mục tiêu của mình không? Nếu không có một ý niệm rõ ràng về nơi bạn đang đi và cách đến đó, bạn sẽ sớm lạc đường và bỏ cuộc.
Thiền định Tiểu Chu Thiên được giới thiệu trong cuốn sách này bắt nguồn từ xã hội tôn giáo Trung Hoa. Mục tiêu đầu tiên của nó là tích trữ Khí sung mãn ở Hạ Đan Điền thật. Mục tiêu thứ hai là dẫn Khí lưu hành trong hai mạch Khí chính, Nhâm Mạch và Đốc Mạch (任脈 · 督脈). Khi Khí mạnh và lưu hành trơn tru trong hai mạch này, Khí lưu hành trong Mười Hai Kinh Khí Chính sẽ mạnh, và cơ thể mạnh khỏe.
Ở mục kế tiếp, chúng ta tóm tắt các mục đích của thiền định nói chung. Tiểu Chu Thiên, Đại Chu Thiên và Thiền Giác Ngộ sẽ được bàn sau trong chương này.
Các Mục Đích Của Thiền Định Nói Chung
Tìm kiếm một tâm trí bình an. Mục đích phổ biến nhất của thiền định là huấn luyện tâm trí để được thư giãn, tĩnh lặng và hài hòa. Nếu không có thiền định, tâm trí nói chung bị xáo động về mặt cảm xúc bởi hoàn cảnh xung quanh, trở nên tán loạn, bối rối và kích động. Qua thiền định với hô hấp sâu, chúng ta có thể làm dịu và làm trong sáng tâm trí.
Dùng điện não đồ (EEG — Electroencephalogram), bốn nhóm sóng não riêng biệt (những dòng điện dao động) đã được phân loại theo các dải tần số của chúng, với những hoạt động khác nhau liên quan đến mỗi dải.
Bốn loại này là (Hình 2-32):
- Hoạt động Beta (trên 13 Hz): xảy ra thành từng đợt ở phần trước của não và liên quan đến hoạt động tinh thần.
- Hoạt động Alpha (8–13 Hz): thư giãn, mơ màng ban ngày.
- Hoạt động Theta (từ 4 đến dưới 8 Hz): buồn ngủ hay đang ngủ.
- Hoạt động Delta (dưới 4 Hz): ngủ sâu và hôn mê.
Khi chúng ta thức và suy nghĩ sâu (Beta), có rất nhiều hoạt động, nhưng biên độ của nó thấp. Trung bình, có 13 ý nghĩ hay nhiều hơn đi qua não chúng ta mỗi giây. Ngược lại, trong trạng thái Alpha của sự thư giãn, dù các tín hiệu vẫn gần như yếu như vậy, số lần dao động giảm đi đáng kể. Điều này hàm ý rằng một tâm trí tĩnh lặng có sự trong sáng và tập trung nhiều hơn. Trong trạng thái Theta của buồn ngủ hay ngủ, số lần dao động cũng giảm, nhưng các ý nghĩ thì bất quy tắc hơn. Trong giấc ngủ sâu, êm (Delta), số lần dao động giảm đi đáng kể, trong khi biên độ tăng lên đáng kể. Theo thuật ngữ khoa học, công suất của dao động như sau:
P ∝ Tần số² × Biên độ²
"Công suất tỷ lệ thuận với bình phương tần số nhân với bình phương biên độ."
Hình 2-32. Các mẫu sóng não điển hình từ trạng thái kích thích đến trạng thái hôn mê sâu — delta, theta, alpha, beta; thang tần số 1–4–8–13 Hz; bước sóng 1000 – 250 – 125 – 77 ms; kích thích / thư giãn / buồn ngủ / ngủ sâu.
Trong giấc ngủ sâu, dù tâm thức của bạn không tham gia sâu vào tư duy (tần số giảm), các tế bào não nhận được một nguồn cung lớn dinh dưỡng, ô-xy và sự nuôi dưỡng của Khí. Trong trạng thái tĩnh lặng này, có ít sự quấy nhiễu trong não hơn. Trong những điều kiện cực kỳ tĩnh lặng và thư giãn này, nếu bạn có thể kiểm soát được tâm thức của mình mà không rơi vào giấc ngủ, bạn có thể xây dựng một sự nhạy cảm tốt hơn cho sự tương ứng năng lượng với thế giới bên ngoài. Đây là một trong những trạng thái được mong muốn trong thực hành thiền định.
Trong thiền định, bạn cố đạt tới giai đoạn mà sóng não nằm giữa Theta và Delta. Dường như bạn đang ngủ, thế mà tâm thức của bạn vẫn đang cai quản bản thể. Trong trạng thái bán ngủ hay tự thôi miên này, sự nhạy cảm của não bộ hay sự tương ứng năng lượng với các sóng não khác hay các rung động tự nhiên đạt tới đỉnh cao. Chính trong trạng thái này mà người thiền tìm kiếm sự kết nối giữa bản thể tâm linh của mình và tinh thần của tự nhiên.
Cải thiện sức khỏe và chữa bệnh. Khi tâm trí thư giãn và tĩnh lặng, cơ thể cũng sẽ như vậy. Trạng thái thiền định càng sâu mà tâm trí đạt tới, cơ thể càng có thể thư giãn sâu hơn. Khi cả tâm và thân đều thư giãn, Khí lưu hành trơn tru và tự nhiên. Bằng cách này, sự lưu hành Khí bất thường do bệnh tật hay bất cứ lý do nào khác có thể được điều chỉnh về trạng thái hài hòa khỏe mạnh. Đây là phương pháp chính được dùng trong y học Trung Hoa để chữa bệnh và duy trì sức khỏe. Trong thiền định sâu và sự thư giãn, sự giao tiếp tâm-thân hiệu quả, sự lưu hành Khí mạnh hơn, và quá trình chữa lành nhanh hơn.
Trong thiền định sâu, hô hấp sẽ sâu, mềm và mảnh, giúp bạn hấp thụ ô-xy và đẩy khí các-bô-níc ra hiệu quả hơn. Mỗi tế bào não tiêu thụ khoảng mười hai lần lượng ô-xy so với các tế bào khác, vì vậy một nguồn cung ô-xy ổn định là tối quan trọng để giữ cho não khỏe mạnh. Sự thở ra sâu khí các-bô-níc sẽ thải bỏ chất thải từ những phần xa xôi của cơ thể. Điều này quan trọng cho việc thay thế tế bào trong cơ thể.
Tìm trung tâm của bản thể. Khi bạn tĩnh lại, tâm trí bạn trở nên trong sáng hơn và các quá trình tư duy của bạn logic hơn. Bạn phải ngăn tâm trí mình đi lang thang vào ký ức hay vào ảo tưởng, điều được gọi là nhập ma (Nhập Ma, 入魔). Tốt nhất là chú ý vào hơi thở, và giữ cho tâm trí trung thực và chân thật.
Có bốn bước để đạt mục tiêu cuối cùng là sự tự do tâm linh. Bước thứ nhất là tự nhận thức (Tự Thức, 自識), khi chiếc mặt nạ bạn đeo bắt đầu rơi xuống, cho phép bạn nhận ra bản thể tâm linh của mình rõ ràng hơn. Những lỗi lầm bạn đã phạm và những lời nói dối bạn đã nói được chôn giấu trong tiềm thức của bạn và sẽ dần dần nổi lên trong nhận thức ý thức của bạn. Tâm trí tiềm thức của bạn luôn chân thật và gắn liền với bản thể tâm linh. Một khi bạn đã vứt bỏ chiếc mặt nạ mình đang đeo, bạn phải đối diện với con người thật của mình. Bạn đối diện với quá khứ và phân tích nó. Không chỉ thế, để đạt được sự cân bằng cảm xúc sâu sắc, bạn tìm cách giải phóng những cảm giác tội lỗi ẩn sâu bên trong. Quá trình này làm bạn khiêm nhường, giúp bạn hiểu mình hơn, và cuối cùng giúp bạn tìm thấy trung tâm của bản thể mình.
Bước kế tiếp là tự giác (Tự Giác, 自覺). Bằng cách chú ý, bạn trở nên nhận biết về bản thể tâm linh của mình và những vấn đề hiện hữu bên trong chính mình. Bạn trở nên nhận biết hơn về tư duy và hành vi của mình, cũng như của người khác. Bạn phân tích sự tồn tại của mình, những vấn đề của mình, và vai trò bạn nên đóng trong xã hội. Qua quá trình thiền định tự giác này, bạn thiết lập một tâm trí tĩnh lặng và bình an, hài hòa bạn với người khác và với tự nhiên.
Tìm kiếm và thấu hiểu ý nghĩa của đời sống chúng ta. Giai đoạn thứ ba của tu luyện được gọi là tự tỉnh (Tự Tỉnh, Tự Ngộ, 自省 · 自悟). Qua giai đoạn này, bạn chú ý, thu thập thông tin, và hiểu về bản thân mình cùng môi trường của mình. Nhiều người, sau quá trình tỉnh thức này, thấy bản tính con người xấu xí ra sao và quyết định tách khỏi xã hội thế tục để trở thành ẩn sĩ hay tăng sĩ. Những người khác xây dựng sự tự tin của mình và làm cho đời sống của họ ý nghĩa hơn.
Tìm kiếm sự tự do tâm linh. Nhận ra rằng chúng ta đang bị những người lãnh đạo chính trị và tâm linh lạm dụng, cuộc tìm kiếm bắt đầu cho sự tự do khỏi sự trói buộc tâm linh (Giải Thoát, 解脫), được biết đến là sự độc lập tâm linh. Khi bạn đạt tới giai đoạn này, bản thể tâm linh của bạn có thể độc lập và không cần phải nương tựa vào người khác.
Thấu hiểu ý nghĩa của vũ trụ. Nhiều người không theo tôn giáo cố gắng qua thiền định để thấu hiểu ý nghĩa, gốc rễ hay nguồn gốc của tự nhiên, tìm kiếm chân lý của Đạo. Bước đầu tiên là tìm gốc rễ của đời sống chúng ta (Sinh Mệnh Chi Bản, 生命之本). Vì đời sống của chúng ta là một phần của tự nhiên, từ việc hiểu gốc rễ của đời sống mình, chúng ta thấu hiểu ý nghĩa của tự nhiên. Giữ gìn và trân quý gốc rễ này được gọi là ôm giữ nguồn gốc (Bão Nguyên, Bão Nhất, 抱元 · 抱一).
Ba nguồn gốc của đời sống chúng ta là Nguyên Tinh (元精), Nguyên Khí (元氣) và Nguyên Thần (元神). Nguyên Thần là nguồn gốc của hai cái kia, vì nó tồn tại trước khi đời sống thể chất bắt đầu. Tìm kiếm gốc rễ tâm linh là việc tu luyện quan trọng nhất trong xã hội Trung Hoa. Người Đạo gia nói: "Tu tâm (tâm tình cảm) để tu bản thể tự nhiên. Giữ trung tâm và ôm giữ nguồn gốc." Giới học giả nói: "Chú ý vào tâm để tu bản thể tự nhiên. Duy trì trung tâm để thấu triệt nguồn gốc."
Ngược lại, Phật gia nói: "Hiểu rõ tâm để nắm bắt bản tính con người. Muôn pháp trở về một." Y gia nói: "Hư tâm (tâm khiêm nhường) để ổn định bản thể tự nhiên của con người, trân quý nguồn gốc và giữ lấy nó." Chữ "nhất" (一) được giải thích trong một kinh điển mang tên Thái Bình Kinh (太平經). Kinh này nói: "Suy ngẫm để giữ lấy nhất, tại sao? Nhất là gì? Là khởi đầu của những con số đếm. Nhất là gì? Là Đạo của sự sinh thành. Nhất là gì? Là khởi đầu của việc nâng Khí lên? Nhất là gì? Là nguyên lý gốc rễ của vũ trụ." Chữ "nhất" có nghĩa là chính nguồn gốc nguyên sơ của mọi vật chất và năng lượng. Theo Kinh Dịch (易經), chữ "nhất" này có nghĩa là trạng thái Vô Cực (無極), của không cực. Sách Đạo gia, Tánh Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư (性命圭旨全書) nói: "Điều mà người học giả muốn nói qua chữ nhất, là dùng bản thể nguyên sơ để hiểu bản tính con người." Trong Đạo gia cũng nói rằng: "Đạo, dùng nhất để thấu triệt."
Ngay cả trong thực hành thiền định thế tục, các mục tiêu của thiền định cũng có thể được chia thành những mức từ sơ cấp đến sâu xa. Tất cả những quá trình điều tiết tâm linh này cũng được theo đuổi bởi những nhóm Khí Công khác, như những người võ thuật.
2-5 · Khí Công Dịch Cân (Cân Cơ Đổi Gân) Và Tẩy Tủy (Rửa Tủy Não)
Chúng ta nên quen thuộc với thực hành Khí Công Dịch Cân (Dịch Cân Kinh, 易筋經) và Tẩy Tủy (Tẩy Tủy Kinh, 洗髓經). Thiền định Tiểu Chu Thiên đóng một vai trò chính trong thực hành này.
Hai thân thể của chúng ta là thân thể vật lý (Dương) và thân thể năng lượng (Âm). Thân thể vật lý gồm da, cơ, gân, dây chằng, xương và tủy. Thân thể năng lượng ám chỉ cấu trúc cung cấp Khí cho thân thể vật lý và não bộ.
Nhiều người thực hành Khí Công coi thân thể Âm (Khí) là một loại thân thể tinh thần hay tâm linh nào đó. Khí là trung tính, cung cấp năng lượng cho thân thể vật lý để cử động, và cho não bộ để hỗ trợ tư duy và hành vi. Nhưng vì tư duy và hành vi tinh thần liên hệ chặt chẽ với việc tu luyện tâm linh như vậy, xã hội tôn giáo Trung Hoa coi thân thể tâm linh cũng chính là thân thể Âm. Thân thể vật lý được gọi là Mệnh (命), nghĩa là sự sống, còn thân thể tâm linh được gọi là Tánh (性), nghĩa là bản tính con người, tức tinh thần tự nhiên mà chúng ta sinh ra đã có.
Dịch Cân và Tẩy Tủy Khí Công là những phương pháp huấn luyện Khí Công tôn giáo, được sáng tạo và truyền lại bởi một tăng sĩ Ấn Độ, Đạt Ma, tại một tự viện Phật giáo Trung Hoa gọi là Thiếu Lâm Tự (少林寺) (Hình 2-33 và 2-34). Trong kinh điển của Đạt Ma, ông nhấn mạnh rằng để đạt giác ngộ tâm linh, chúng ta cần một cuộc sống dài và khỏe mạnh, điều sẽ cho chúng ta nhiều thời gian hơn cho việc tu luyện tâm linh. Dịch Cân Khí Công mô tả cách điều kiện hóa thân thể, còn Tẩy Tủy Khí Công dạy cách xây dựng một nguồn cung Khí sung mãn để nuôi dưỡng não bộ và thăng hoa chức năng của nó lên mức cao hơn. Khi đó, mục tiêu cuối cùng của giác ngộ tâm linh mới có thể đạt tới.
Tẩy Tủy Kinh nói:
Thân thể con người bị động chạm bởi ái dục, và được hình thành với hình tướng, bị ô nhiễm bởi cặn lắng và sự nhơ bẩn. Nếu ngươi muốn tu ý nghĩa chân thật của Phật pháp, (Thần) động và tĩnh theo ý muốn, thì ngũ tạng lục phủ, tứ chi và trăm xương phải được rửa sạch hoàn toàn, từng cái một. (Khi ngươi) thanh khiết và có thể thấy sự tĩnh lặng và bình an, (ngươi) có thể tu và vào cõi Phật quả. Nếu ngươi không tu theo cách này, (sự tu của ngươi) sẽ không có nền tảng và nguồn gốc. Đọc đến đây, thì biết rằng những người tín đồ nghĩ rằng "đắc tủy" không chỉ là một sự so sánh.
Dịch Cân Kinh nói:
Bên ngoài xương và tủy, dưới da và thịt (cơ), không có gì khác ngoài gân và mạch, vốn nối kết thân thể và vận chuyển máu cùng Khí. Tất cả những thứ này là thân thể hậu thiên, và phải được thăng tiến (huấn luyện). Mượn chúng để tu lấy cái chân (Đạo). Nếu ngươi không thăng tiến chúng, ngươi thấy sự suy yếu và héo mòn ngay lập tức. Nếu ngươi xem đây chỉ là sự huấn luyện tầm thường, làm sao ngươi có thể đạt được mục tiêu chân thật? Nếu ngươi bỏ cuộc và không huấn luyện chúng, sẽ không có sức mạnh cho việc tu luyện, và không gì có thể đạt được. (Khi ta) đọc đến đây, thì ta biết rằng những gì được gọi là da, thịt và xương cũng không phải là một sự so sánh và không phải là một lời bình luận tùy tiện.
Từ hai đoạn này, bạn có thể thấy rằng Dịch Cân là để phát triển thân thể, còn Tẩy Tủy là để thăng tiến tâm linh. Khái niệm này rất quan trọng đối với những người thiền Khí Công tôn giáo. Mục tiêu tối hậu của cả Phật giáo lẫn Đạo giáo là đạt Phật quả hay giác ngộ. Họ tin rằng thường phải mất hàng trăm kiếp để tu Thần, và rằng dần dần kiếp này qua kiếp khác, bạn tiến tới đích cuối cùng. Nếu mỗi kiếp sống dài, bạn có nhiều thời gian hơn cho việc tu luyện tâm linh. Việc điều kiện hóa thể chất là tối quan trọng, đặc biệt vì thời kỳ hiệu quả nhất cho việc tu luyện tâm linh là sau tuổi bốn mươi. Thông thường, trước đó, Thần của đời sống mới của bạn vẫn đang chín muồi để có thể tiếp xúc với Thần tiền thiên của bạn. Nếu bạn sống một cuộc đời dài và khỏe mạnh, bạn có đủ thời gian để phát triển Thần của mình lên mức cao hơn. Đời sống của bạn càng dài, mức tu luyện, độ chín muồi và trí tuệ mà Thần của bạn có thể đạt tới càng cao.
Hình 2-33. Đạt Ma.
Tầm quan trọng của trường thọ đối với việc tu luyện tâm linh được người Đạo gia hiểu rõ, nhưng phần nào bị người Phật giáo sao nhãng. Người Đạo gia tin rằng cả thân thể vật lý lẫn thân thể tâm linh đều quan trọng ngang nhau và nên được tu luyện cùng nhau. Trong xã hội Đạo gia, điều đó được gọi là song tu tánh mệnh (Tánh Mệnh Song Tu, 性命雙修). Điều này không phải như vậy trong xã hội Phật giáo. Người Phật giáo tin rằng thân thể vật lý của chúng ta chỉ là một chỗ trú tạm thời cho Thần, và dành thời gian để xây dựng sức mạnh thể chất là phí phạm thời gian quý báu đáng lý có thể dành cho việc tu luyện tâm linh. Chúng ta hãy tóm tắt những khác biệt trong cách tiếp cận việc huấn luyện Dịch Cân và Tẩy Tủy trong xã hội Phật giáo và Đạo giáo.
- Dù người Phật giáo đã phát triển hai kinh điển huấn luyện này, họ giữ chúng nghiêm ngặt bí mật, không có nhiều cơ hội để phát triển và tiến hóa. Một khi người Đạo gia học được chúng, họ tiếp tục nghiên cứu và phát triển chúng, và dường như phương pháp và lý thuyết của Đạo gia hoàn chỉnh và có hệ thống hơn của Phật giáo.
- Người Đạo gia đã công khai việc huấn luyện của họ nhiều hơn người Phật giáo. Việc huấn luyện của Đạo gia có thể tạo ra sức khỏe và trường thọ nhanh hơn việc huấn luyện của Phật giáo, và có thể được thực hành bởi những người thế tục không muốn từ bỏ cuộc sống bình thường của mình để sống đời ẩn dật. Vì lý do này, nhiều tài liệu huấn luyện của Đạo gia được tìm thấy hơn của Phật giáo. Tuy nhiên, lý thuyết, nguyên lý và phương pháp huấn luyện nguyên thủy đã được ghi chép trong các kinh điển của Phật giáo.
- Do sự nghiên cứu và phát triển liên tục này, nhiều kỹ thuật huấn luyện do người Đạo gia phát triển hiệu quả và hiệu lực hơn các phương pháp thay thế của Phật giáo, để cải thiện sức khỏe và tăng tuổi thọ. Tuy nhiên, khi việc huấn luyện đạt tới những mức cao hơn của tu luyện tâm linh được thấy trong Tẩy Tủy Kinh, dường như các phương pháp huấn luyện của Phật giáo lại hiệu quả hơn. Người Phật giáo tập trung huấn luyện cho tương lai thay vì hiện tại, còn người Đạo gia ở một mức độ nào đó chú ý nhiều hơn đến hiện tại.
- Người Đạo gia đã phát triển nhiều kỹ thuật như song tu hay "hái thuốc ngoài Đạo" để hỗ trợ việc huấn luyện Tẩy Tủy Kinh. Một số người Đạo gia khuyến khích đạt sự cân bằng Khí qua song tu thiền định hay các thực hành tình dục. Khí Công tình dục luôn bị cấm trong các tự viện Phật giáo. Đây có lẽ là khác biệt đáng kể nhất giữa hai trường phái huấn luyện này.
- Việc huấn luyện Tẩy Tủy Kinh của Đạo gia bao gồm cả thực hành thể chất lẫn tâm linh, trong khi cách tiếp cận của Phật giáo chủ yếu là tâm linh. Việc huấn luyện của Đạo gia bắt đầu với nhiều bài tập thể chất, như xoa bóp tinh hoàn. Sự kích thích thể chất sinh ra tinh dịch, được chuyển hóa thành Khí bằng cách thể chất hay tinh thần. Các tài liệu Đạo gia bàn về nhiều kỹ thuật huấn luyện thể chất, trong khi việc huấn luyện của Phật giáo nhấn mạnh thiền định.
- Người Đạo gia đã nghiên cứu việc dùng thảo dược để hỗ trợ việc huấn luyện Khí Công, trong khi người Phật giáo chưa bao giờ chú ý nhiều đến điều này. Các tài liệu Đạo gia có nhiều toa thuốc thảo dược hơn các tài liệu Phật giáo.
Khảm Và Ly Trong Dịch Cân Kinh Và Tẩy Tủy Kinh
Trong bất cứ môn phái Khí Công nào, bạn cân bằng Âm và Dương bằng cách kiểm soát Khảm (坎) (Thủy) và Ly (離) (Hỏa). Thái Cực Quyền huấn luyện những chuyển động thể chất chậm rãi mang tính thiền định, vốn là những ví dụ của Ly, và có thể làm cơ thể bạn quá Dương. Bạn cân bằng điều này bằng tĩnh tọa, vốn là Khảm và trung hòa phần Dương dư thừa. Trong các bài quyền Thái Cực chuyển động, cũng có sự điều chỉnh Khảm và Ly. Trong khi sự chuyển động là Ly và gây ra Dương, thì tâm trí tĩnh lặng là Khảm, vốn trung hòa cái Dương đó. Trong tĩnh tọa, trong khi sự tĩnh lặng của thân thể vật lý là Khảm và gây ra Âm, thì Khí phải được tích cực dẫn để lưu hành trong cơ thể, đó là Ly và đưa đến Dương, vốn cân bằng cái Âm. Trong mọi thực hành Khí Công, nếu có Âm, phải có Dương để cân bằng nó, và ngược lại.
Việc huấn luyện Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh cũng như vậy. Chúng dựa trên khái niệm Âm Dương này. Dịch Cân Kinh là Ly vì nó sinh ra Khí và gây ra Dương, còn Tẩy Tủy Kinh là Khảm, sử dụng và tích trữ Khí, và gây ra Âm. Dịch Cân Kinh xử lý các cơ, gân và da, vốn có thể thấy từ bên ngoài, còn Tẩy Tủy Kinh xử lý tủy và não, vốn phải được cảm nhận từ bên trong. Trong khi việc huấn luyện Dịch Cân Kinh nhấn mạnh thân thể vật lý, thì việc huấn luyện Tẩy Tủy Kinh tập trung vào tâm linh. Nhờ đó Âm và Dương được cân bằng và cùng tồn tại hài hòa.
Trong Dịch Cân Kinh, sự kích thích thể chất và các bài tập được coi là Ly, và làm cơ thể trở nên Dương, trong khi tĩnh tọa cho Tiểu Chu Thiên là Khảm, làm dịu Ly và làm cơ thể Âm hơn. Trong việc huấn luyện kích thích thể chất Ly, sức mạnh bên ngoài là Ly, còn sức mạnh tinh thần nội tại là Khảm. Trong tĩnh tọa, thân thể vật lý tĩnh lặng và là Khảm, còn Khí được tâm trí dẫn và chuyển động bên trong là Ly.
Cùng lý thuyết đó cũng chiếm ưu thế trong việc huấn luyện Tẩy Tủy Kinh. Sự kích thích thể chất để tăng sản xuất Nguyên Tinh là Ly, còn những kỹ thuật tu luyện nội tại, được dùng để dẫn Khí đến tủy và não, là Khảm.
Chìa khóa của việc huấn luyện Khí Công thành công là sự cân bằng Âm Dương, và phương tiện để đạt điều đó là sự điều chỉnh Khảm và Ly. Lý thuyết nền tảng này là cơ sở của thực hành Khí Công.
Vai Trò Của Tiểu Chu Thiên Trong Dịch Cân Kinh Và Tẩy Tủy Kinh
- Tích trữ và tăng cường Khí ở Hạ Đan Điền thật đến mức sung mãn. Để tái điều kiện hóa thân thể từ yếu thành mạnh, và để dội đầy não bộ bằng Khí cho việc rửa não, bạn cần Khí sung mãn, không có nó bạn không thể tiến bộ. Cách để xây dựng Khí và tích trữ nó ở Hạ Đan Điền thật là qua các kỹ thuật Thai Tức (胎息), sẽ được bàn sau.
- Nâng mức lưu hành Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Một khi Khí đã sung mãn ở Hạ Đan Điền thật, mục tiêu thứ hai của việc huấn luyện Tiểu Chu Thiên là dẫn nó đến Nhâm Mạch và Đốc Mạch (任脈 · 督脈). Khí lưu hành trơn tru trong hai mạch này, vốn hoạt động như những bể chứa Khí, và trong mười hai kinh, vốn hoạt động như những con sông. Với Khí sung mãn trong các bể chứa, Khí trong các con sông có thể được điều tiết hiệu quả. Nhâm Mạch điều tiết mức Khí của sáu kinh chính Âm, còn Đốc Mạch điều tiết sáu kinh chính Dương. Mười hai kinh này nối Khí từ các chi với Khí của các nội tạng. Một khi Khí sung mãn và lưu hành trơn tru trong mười hai kinh này, thân thể vật lý của bạn sẽ mạnh và khỏe hơn.
Tiểu Chu Thiên thực ra là một thực hành Dịch Cân để tái điều kiện hóa thân thể, trong khi Thai Tức giúp thiết lập sự tích trữ Khí cần thiết cho thực hành Tẩy Tủy.
2-6 · Tiểu Chu Thiên Là Gì?
Trong mục này, chúng ta bàn về ba đường Khí thông thường trong thực hành thiền Khí Công (Hình 2-35). Từ đó chúng ta có thể định nghĩa Tiểu Chu Thiên. Mỗi đường trong ba đường này có lý thuyết huấn luyện, mục đích và phương pháp riêng của nó. Nói chung, Hỏa Lộ được mô tả dưới đây được công nhận là Tiểu Chu Thiên.
Hình 2-35. Các đường Hỏa, Thủy và Phong của sự lưu hành Khí — Thượng Đan Điền, Thủy Lộ, Trung Đan Điền (đan điền mặt trời), Phong Lộ, Hạ Đan Điền, Hỏa Lộ, Hội Âm (Co-1).
Ba Đường
Hỏa Lộ (Thiền Tiểu Chu Thiên) (火路). Trong sự lưu hành của Hỏa Lộ, sau khi đã xây dựng Khí sung mãn ở Hạ Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田) qua Thai Tức, bạn dùng tâm trí dẫn Khí đến Nhâm Mạch và Đốc Mạch (任脈 · 督脈). Bạn tăng cường Khí trong hai bể chứa Khí này rồi lưu hành nó lên Đốc Mạch và xuống Nhâm Mạch, qua đó điều tiết sự lưu hành Khí trong Mười Hai Kinh Khí Chính, nối kết các nội tạng và các chi. Điều này củng cố và tiếp năng lượng cho thân thể vật lý, và tăng cường Vệ Khí (衛氣), làm cơ thể bạn trở nên Dương. Vì vậy thiền Hỏa Lộ là Ly (離, Hỏa) và sinh ra lửa trong cơ thể.
Có một số tài liệu liên quan đến thực hành lưu hành Hỏa Lộ. Trong cuốn sách Châm Cứu Đại Thành (針灸大成) (Great Attainment of Acupuncture and Moxibustion), có nói: "Từ từ nuốt một ngụm khí và dẫn Khí vào Đan Điền. Xung lực bắt đầu tại Mệnh Môn (命門) (rốn hay Khí Hải), dẫn nó vào Đốc Mạch, đi qua Vĩ Lư (尾閭) (xương cùng), thăng lên đến Nê Hoàn (泥丸) (đỉnh đầu), để đuổi theo và chuyển động (khởi động hay đánh thức) nguồn gốc của bản tính con người. Rồi dẫn nó xuống Nhâm Mạch, đi qua Trùng Lâu (重樓) (họng) và xuống để trở về Khí Hải (Co-6). Hai mạch xoay lên xuống. Phía trước giáng xuống và phía sau thăng lên, liên tục và không ngừng... Sau khi thực hành một thời gian dài, những cửa khó mở ra tự động. Khí lưu hành trơn tru trong hàng trăm kinh mạch và hàng trăm bệnh tật sẽ không được khởi phát." Trong cuốn sách, Điều Tức Tiên (調息箋) (Antithetic Writing of Regulating the Path), có nói: "Nhắm mắt lại và ngồi yên lặng. Mũi hít vào không khí trong sạch. Mở rộng bụng để giúp nội Khí giáng xuống Hạ Đan Điền dưới rốn. Vận chuyển Khí qua đáy chậu, dọc theo Đốc Mạch và qua Vĩ Lư (尾閭), Giáp Tích (夾脊) (giữa hai xương bả vai) và Ngọc Chẩm (玉枕) — ba cửa. Đến huyệt Bách Hội (百會) (Gv-20) trên đỉnh đầu, đi theo mặt đến lưỡi và nối với Nhâm Mạch, giáng xuống dọc theo phía trước ngực, để cuối cùng đến Đan Điền và lại lưu hành trong đường nguyên thủy. Ở đâu có Khí ứ trệ hay đau, hít vào và nghĩ đến chỗ đó, rồi thở ra để dẫn Khí trở lại Đan Điền. Điều này có thể củng cố thân thể và đẩy lui bệnh tật. Nó cũng được gọi là Tam Muội Ấn (三昧印) (Samadhi)."
Từ hai tài liệu cổ này, chúng ta có thể giả định rằng Thiền Tiểu Chu Thiên cũng chính là thiền Hỏa Lộ.
Thủy Lộ (Thiền Giác Ngộ) (水路). Thủy Lộ là phương pháp khó nhất nhưng hiệu quả nhất để dùng Khảm (坎, Thủy) trung hòa cái Dương của cơ thể. Nó được huấn luyện trong Tẩy Tủy Kinh (洗髓經). Tâm trí chỉ đạo Khí từ Hạ Đan Điền thật qua Hội Âm (會陰) (Co-1) đi lên qua Xung Mạch (衝脈) (tủy sống) để nuôi dưỡng não bộ. Khi não được nuôi dưỡng tốt, Thần có thể được nâng lên để giác ngộ. Việc huấn luyện Thủy Lộ làm dịu tâm trí, nhưng cũng giúp dẫn Khí vào trung tâm của cơ thể cho việc rửa tủy. Vì tủy xương là nơi cơ thể bạn sản xuất bạch cầu và hồng cầu, Khí sung mãn ở đó thúc đẩy việc sản xuất chúng. Hồng cầu mang ô-xy và các chất dinh dưỡng khác cần cho việc thay thế tế bào, làm chậm sự thoái hóa của cơ thể bạn. Khi bạch cầu sung mãn và khỏe mạnh, hệ miễn dịch mạnh, ngăn ngừa bệnh tật. Thiền Khí Công Thủy Lộ là để giác ngộ hay Phật quả. Chúng ta sẽ bàn chi tiết điều này trong những ấn phẩm tương lai về các chủ đề Đại Chu Thiên và Thiền Giác Ngộ.
Phong Lộ (Thiền Khảm Ly) (風路). Phong Lộ được coi là một Tiểu Chu Thiên đảo ngược. Trong Phong Lộ, Thủy Khí được tích lũy ở Hạ Đan Điền thật được tâm trí dẫn để lưu hành trong đường đi đảo ngược chính xác đường đi lưu hành Khí của Hỏa Lộ. Có nhiều lý do cho sự lưu hành Khí Phong Lộ này. Thứ nhất, qua việc đảo ngược sự lưu hành Khí tự nhiên, có thể làm nguội đi thân thể tinh thần và vật lý bị kích thích quá mức của bạn. Đó là vì khi bạn thực hành lưu hành Khí Phong Lộ, bạn đang làm chậm lại sự lưu hành Khí tự nhiên. Thứ hai, qua đó bạn có thể dẫn Thủy Khí từ Hạ Đan Điền thật đi lên để làm nguội Hỏa Khí tích lũy ở Trung Đan Điền (中丹田) (cơ hoành). Bằng cách này, thân thể tinh thần và vật lý cũng có thể được làm nguội. Quá trình này thường được gọi là "Khảm-Ly". Tuy nhiên, đối với những người thực hành Thiền Giác Ngộ, Phong Lộ là tối quan trọng để thụ thai một Linh Thai (靈胎) tại huyệt Hoàng Đình (黃庭), nằm giữa Trung Đan Điền và Hạ Đan Điền thật. Trong thực hành này, như đã nói ở trên, Thủy Khí được dẫn đi lên để gặp Hỏa Khí được dẫn đi xuống từ Trung Đan Điền, và chúng gặp nhau tại Hoàng Đình. Quá trình này cũng được gọi là "Khảm-Ly" (坎離), vốn gây ra sự tương tác của Âm và Dương. Từ sự tương tác Âm Dương này, với sự chú ý tập trung của Thần, một Linh Thai mới có thể được sinh ra.
Thiền Tiểu Chu Thiên nói chung được thực hành như thiền Khí Công Hỏa Lộ. Hai mục đích chính của nó là tăng cường Khí (Sung Khí, 充氣) ở Hạ Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田) và dẫn Khí (Dẫn Khí, 引氣) để lưu hành trơn tru trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
Trong xã hội Đạo gia, tên gọi của Tiểu Chu Thiên là "Âm Dương Tuần Hoàn Nhất Tiểu Chu Thiên" (陰陽循環一小周天) (Yin-Yang Circulation Small Heavenly Cycle). Trong xã hội Phật giáo, nó được gọi là Tam Muội Ấn (三昧印) hay Tam Ma Địa (三摩地), được nhận từ chữ Phạn Samadhi. Vì cả hai xã hội có những tên gọi rất khác nhau cho cùng một thực hành, điều đó cho thấy Tiểu Chu Thiên đã được thực hành ráo riết bởi cả xã hội Đạo gia lẫn Phật giáo.
Trong Đạo Gia Thôn Văn Tập (道家村文集) (Anthology of Daoist Village), có nói: "Tuần Hoàn Thiên (Tiểu Chu Thiên) của Đạo gia cũng giống như Chuyển Pháp Luân (轉法輪) của Phật gia. Các nguyên lý thì giống nhau dù các cách tiếp cận khác nhau. Chính những người hậu thế đã tự tách rời chúng." Tiểu Chu Thiên được gọi là Tiểu Chu Thiên (小周天), nghĩa là Chu Thiên Nhỏ. Vì con người là một phần không thể tách rời của tự nhiên, sự lưu hành Khí trong cơ thể con người nên giống với và chịu ảnh hưởng bởi sự lưu hành Khí giữa trời và đất. Vì vậy, đầu được gọi là Thiên Linh Cái (天靈蓋), nghĩa là "nắp linh hồn thiêng liêng của trời", còn đáy chậu được gọi là Hải Đế (海底), nghĩa là "đáy biển". Sự lưu hành Khí giữa Trời và Đất được gọi là Đại Chu Thiên (大周天), hay Chu Thiên Lớn. Sự lưu hành Khí trong cơ thể con người giữa đầu và đáy chậu được gọi là Tiểu Chu Thiên (小周天), hay Chu Thiên Nhỏ. Sự lưu hành Khí qua Nhâm Mạch và Đốc Mạch liên hệ chặt chẽ với và chịu ảnh hưởng bởi sự lưu hành Khí của Trời và Đất trong các chu kỳ 24 giờ.
Xã hội Phật giáo cũng gọi thiền Tiểu Chu Thiên là Chuyển Pháp Luân (轉法輪), nghĩa là Chuyển Bánh Xe Luật Tự Nhiên. Pháp Luân (法輪) được dịch từ chữ Ấn Độ Dharmachakra, vốn là một tên gọi thông thường của Phật giáo. Trong cuốn sách, Tánh Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư (性命圭旨全書) (The Complete Book of Principal Contents of Life and Human Nature), có nói: "Phật gia gọi nó là Pháp Luân (法輪), Đạo gia gọi nó là Chu Thiên (周天), và Nho gia gọi nó là Hành Đình (行庭) (đi quanh sân trời). Nhưng tất cả đều có cùng một cơ sở." Tài liệu này cũng mô tả các phương pháp thực hành trong việc chuyển các Pháp Luân. Sự tương tác của Âm và Dương cai quản tự nhiên, và hợp thành những Pháp Luân tự nhiên vốn ảnh hưởng đến các biến thiên của sự lưu hành Khí trong Trời và Đất.
Lý Thời Trân (李時珍) (1518–1593 CN) viết trong cuốn sách của ông, Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo (奇經八脈考): "Nhâm Mạch và Đốc Mạch là Tý (子) (nửa đêm) và Ngọ (午) (giữa trưa) của cơ thể. Đó là Đạo (Con Đường Tự Nhiên) của việc tăng Hỏa Dương và giảm Thủy Âm. Đó cũng là nơi Khảm và Ly tương tác." Khi một người lưu hành Khí trơn tru trong hai mạch này, nó chảy trơn tru khắp phần còn lại của cơ thể, không bị ứ trệ. Đây là cơ sở của trường thọ.
Có một số điểm mà ông đặc biệt nhấn mạnh.
- Dòng chảy của Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch liên hệ chặt chẽ với thời gian trong ngày.
- Chúng ta điều chỉnh Âm và Dương qua việc thực hành Khảm và Ly không ngừng.
- Khảm và Ly tương tác trên đường đi của Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
- Dòng chảy trơn tru của Khí trong hai mạch này ảnh hưởng đến dòng chảy trong mười hai kinh chính (những con sông, Kinh, 經) và vô số kinh Khí phụ (những con suối, Lạc, 絡).
- Dòng chảy Khí trơn tru trong hai mạch này là nền tảng của trường thọ.
Tóm Tắt
- Có nhiều trường phái thực hành thiền định khác nhau. Thông thường, Tiểu Chu Thiên ám chỉ sự lưu hành của Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
- Tiểu Chu Thiên ví dòng Khí trong Nhâm Mạch (Âm) và Đốc Mạch (Dương) với dòng Khí giữa Trời và Đất, trong tự nhiên nói chung.
- Tiểu Chu Thiên ở một mức độ nào đó là một quá trình xảy ra tự nhiên. Nó chỉ dùng tâm trí để tăng cường quá trình đó qua thiền định.
- Dòng chảy tự nhiên của Khí Nhâm và Đốc theo thời gian trong ngày, điều sẽ được bàn chi tiết hơn sau này.
- Tên đầy đủ của Tiểu Chu Thiên là "Âm Dương Tuần Hoàn Nhất Tiểu Chu Thiên" (陰陽循環一小周天) trong xã hội Đạo gia. Trong xã hội Phật giáo, nó được gọi là Tam Muội Ấn (三昧印) hay Tam Ma Địa (三摩地), từ chữ Phạn Samadhi, nghĩa là sự vững chắc. Người Phật giáo gọi nó là Chuyển Pháp Luân (轉法輪), hay Chuyển Bánh Xe Luật Tự Nhiên.
2-7 · Đại Chu Thiên Là Gì?
Thiền Đại Chu Thiên Nội Tại
Qua thiền Đại Chu Thiên nội tại, tâm trí của bạn dẫn Khí đến bất cứ phần nào của cơ thể. Trước hết bạn phát triển sự nhạy cảm để cảm nhận từng phần của cơ thể mình từ bên trong, từ da cho đến tủy xương. Tâm trí bạn vươn tới càng sâu trong thiền định, thực hành này sẽ càng sâu sắc và hiệu quả.
Với sự thực hành, bạn dẫn Khí đến những nơi xa xôi nhất bên trong cơ thể để chữa lành. Nếu Khí của bạn mạnh, bạn cũng có thể dùng nó để chữa lành và nuôi dưỡng người khác, thường được gọi là Khí Án Ma (氣按摩) (Qi Massage) hay Ngoại Khí Liệu Pháp (外氣療法) (External Qi Healing). Những người võ thuật dùng Đại Chu Thiên để tiếp năng lượng cho cơ thể.
Thiền Tuần Hoàn Mười Hai Kinh Khí Chính (十二經大周天). Mục đích chính của thiền này là tăng cường sự lưu hành trong Mười Hai Kinh Khí Chính, để các nội tạng trở nên mạnh và khỏe. Sự phân phối Khí đến tay và chân cũng được cải thiện, điều này củng cố thân thể vật lý.
Có một trật tự tự nhiên cụ thể của sự lưu hành Khí từ kinh này sang kinh khác, với những thời điểm nhất định trong ngày khi Khí của một kinh là mạnh nhất. Chu kỳ này được gọi là Tý Ngọ Lưu Chú (子午流注), hay dòng Khí chính từ nửa đêm đến giữa trưa. Nếu bạn hiểu thời điểm dòng Khí tự nhiên này, bạn có thể chọn đường đi và thời điểm đúng cho việc thực hành của mình.
Thiền Đại Chu Thiên Khớp (關節大周天). Mục đích ở đây là lưu hành Khí trong tủy xương và bên trong các khớp, cũng như trong các kinh chính. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người chữa bệnh bằng Khí, giúp họ phóng Khí ra ngoài cơ thể.
Tuần Hoàn Hô Hấp Bốn Cửa (四門呼吸大周天). Mục đích của Hô Hấp Bốn Cửa là dẫn Khí từ Hạ Đan Điền thật đến bốn cửa. Hai trong số các cửa này được gọi là Lao Cung (勞宮) (P-8), nghĩa là Cung Lao Động, thuộc Kinh Tâm Bào và nằm ở trung tâm lòng bàn tay (Hình 2-36). Hai cửa kia được gọi là Dũng Tuyền (湧泉) (K-1), nghĩa là Suối Phun. Chúng thuộc Kinh Thận và nằm ở trung tâm phía trước lòng bàn chân (Hình 2-37).
Bốn huyệt này là những cửa chính điều tiết mức Khí của tim và thận. Khi Khí chảy trơn tru đến chúng, cơ thể khỏe mạnh, và một sức mạnh lớn được sinh ra ở các chi. Thiền Bốn Cửa được nhấn mạnh trong võ thuật Trung Hoa, đặc biệt là trong các môn nội gia. Nó đã được bàn khá dài trong các sách của YMAA, The Essence of Taiji Qigong và The Essence of Shaolin White Crane.
Hình 2-36. Huyệt Lao Cung (P-8). Hình 2-37. Huyệt Dũng Tuyền (K-1).
Tuần Hoàn Hô Hấp Da/Tủy (皮膚骨髓呼吸大周天). Lại nữa, thực hành này dẫn Khí đến bề mặt da để tăng cường Vệ Khí (衛氣) của bạn, và tích trữ Khí trong tủy xương như Tủy Khí (髓氣). Khi Vệ Khí mạnh, hệ miễn dịch của bạn hoạt động hiệu quả. Khi Tủy Khí mạnh, tủy xương sản xuất một nguồn cung đều đặn các tế bào máu khỏe mạnh.
Thiền Đại Chu Thiên Với Một Bạn Đồng Tu
Một khi Khí sung mãn được tích trữ ở Hạ Đan Điền thật của bạn, và bạn lưu hành nó trơn tru khắp cơ thể mình, bạn có thể chữa lành và nuôi dưỡng người khác. Song tu (雙修), như nó được gọi, là nền tảng của việc chữa bệnh bằng Khí. Đó là phương pháp hiệu quả nhất để những người chữa bệnh bằng Khí Công huấn luyện việc trao đổi Khí với người khác. Qua thực hành này, hai người khỏe mạnh có thể nuôi dưỡng lẫn nhau và nâng cao đáng kể tinh thần huấn luyện của mình. Song tu là một trong những cách hiệu quả nhất để đẩy nhanh sự giác ngộ tâm linh. Chúng ta sẽ bàn chủ đề này trong những ấn phẩm tương lai.
Thiền Đại Chu Thiên Với Đại Tự Nhiên
Thiền Đại Chu Thiên Với Đất (與地大周天). Trong thiền này, bạn phóng Khí của mình ra ngoài cơ thể và trao đổi nó với môi trường của mình, như với đất, cây cối, muông thú và không khí — tất cả đều có những trường Khí riêng của chúng. Có thể hấp thụ Khí từ xung quanh bạn, làm tăng mức Khí của chính mình. Ở Trung Hoa, cây cối thường xuyên được dùng cho các mục đích điều tiết Khí. Sự khác biệt giữa việc trao đổi Khí này và việc trao đổi với một bạn đồng tu là những đối tượng này không có một tâm trí mà chúng ta có thể nhận biết, nên chúng không thể dùng tâm trí của mình để dẫn Khí khi trao đổi nó với bạn.
Thiền Đại Chu Thiên Với Trời (與天大周天). Thiền Đại Chu Thiên Với Trời cũng được gọi là Thiền Cửa Thứ Năm. Mục đích của nó là đạt sự hợp nhất tâm linh với vũ trụ, Thiên Nhân Hợp Nhất (天人合一). Bạn dẫn Khí đi lên qua Xung Mạch (衝脈) đến não bộ, nuôi dưỡng và tiếp năng lượng cho nó đến trạng thái năng lượng cao. Thần lớn lên và dần dần con mắt thứ ba được mở. Điều này được gọi là giác ngộ (Ngộ Chân, 悟真). Sau khi đã mở con mắt thứ ba, không còn chướng ngại nào cho sự giao tiếp giữa bạn và môi trường xung quanh, và bạn thấu hiểu nhiều điều mà người khác không thể hiểu được. Bạn giao tiếp với người khác mà không cần nói, khi các năng lực thấu cảm của bạn phát triển. Bạn thấu hiểu ý nghĩa của sự sống và của tự nhiên.
2-8 · Thiền Giác Ngộ Là Gì?
Để nắm bắt ý nghĩa của vũ trụ, chúng ta hợp nhất Khí của mình với Khí của tự nhiên. Muông thú vẫn còn sự kết nối tâm linh này, nhưng con người đã đánh mất nó từ lâu. Do sự phát triển của trí tuệ và cảm xúc con người, Thần của chúng ta tách rời khỏi Thần của tự nhiên, và tư duy của chúng ta bị ô nhiễm bởi cảm xúc và dục vọng. Muông thú không phát triển như chúng ta, nên chúng vẫn còn kết nối với tự nhiên, và hành vi của chúng phù hợp với lối sống tự nhiên. Khi mới sinh, chúng ta có một sự kết nối tương tự với Khí và Thần tự nhiên. Nhưng khi chúng ta lớn lên, tâm trí chúng ta bị đúc khuôn bởi môi trường mang mặt nạ do chính tâm trí con người tạo ra. Để sống sót trong xã hội, chúng ta che đậy khuôn mặt mình, đè nén những bản năng tâm linh tự nhiên của mình. Nhiều người lui về núi non để tu luyện tâm linh, nhằm giải thoát mình khỏi sự trói buộc cảm xúc này, đạt một trạng thái tâm trí trung dung, và cảm nhận tinh thần tự nhiên rõ ràng hơn.
Để đạt sự hợp nhất với tinh thần tự nhiên, người ta phải mở con mắt thứ ba (Thượng Đan Điền, Thượng Đan Điền, 上丹田) bằng cách tập trung Khí bên trong nó. Trước hết hãy xây dựng Khí ở Hạ Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田), rồi dẫn nó lên để nuôi dưỡng não bộ. Xây dựng Khí ở đó, dùng Thai Tức (胎息). Chỉ khi nào Khí được tích trữ ở Hạ Đan Điền thật đã đạt tới mức sung mãn, mới có đủ Khí để mở con mắt thứ ba.
Để đạt giác ngộ, người Đạo gia và Phật giáo nói rằng bạn đi qua bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là Tự Nhận Thức, trong đó bạn gỡ bỏ chiếc mặt nạ mình đang đeo. Bạn thấy mình rõ ràng, nhận ra và hiểu các quá trình tư duy của mình, và thừa nhận mình thực sự là loại người nào. Giai đoạn thứ hai là Tự Giác, trong đó bạn phân tích những sự kiện trong quá khứ và trở nên nhận biết về sự tương tác của mình với môi trường. Giai đoạn thứ ba, Tự Tỉnh, liên quan đến việc tìm kiếm sự tự do khỏi sự trói buộc cảm xúc. Cuối cùng, bạn đạt tới giai đoạn Giải Thoát Khỏi Sự Trói Buộc Tâm Linh, trong đó cái ngã và dục vọng của bạn biến mất. Thần của bạn thiết lập sự tiếp xúc với tinh thần tự nhiên, và bạn đạt được Chân Lý của Tự Nhiên, hay Đạo.
Người Đạo gia còn phân loại bốn giai đoạn tu luyện này thành mười sáu bước, được mô tả trong tài liệu Nội Đan Tu Luyện Trình Tự — Kim Đan Tâm Pháp (The Golden Elixir Methods of Regulating the Inner Mind — Procedures of Training Internal Elixir).
- Lập chí (Lập Chí, 立志). Bước đầu tiên hướng tới giác ngộ là thiết lập một ý chí mạnh mẽ; nếu không có nó, bạn sẽ không hoàn tất việc huấn luyện.
- Giữ gìn phẩm hạnh tốt (Đoan Phẩm, 端品), bao gồm cả tinh thần lẫn thể chất. Dù bạn biết đúng sai, bạn có thể phớt lờ nó và đi theo con đường tội lỗi. Khi tà niệm biểu hiện, bạn làm hại mình và người khác. Tư duy và hành vi gây tổn hại cho người khác được coi là vô đạo đức trong xã hội Phật giáo và Đạo giáo.
- Sám hối (Hối Quá, 悔過). Một khi bạn đã sửa lại các đường lối tư duy và hành động của mình, bạn quán chiếu những việc xấu mình đã làm trong quá khứ. Người Phật giáo và Đạo giáo tin rằng những lỗi lầm trong quá khứ để lại một vết nhơ trên lương tâm của bạn. Trừ khi bạn nhận ra và thừa nhận những lỗi lầm trong quá khứ, bạn sẽ tiếp tục lặp lại chúng. Ở giai đoạn này, bạn vứt bỏ chiếc mặt nạ mình đã đeo.
- Chuyển hóa thành thiện (Thiên Thiện, 遷善). Giờ đây bạn nhận ra những đặc điểm nhân cách tốt và xấu của mình, khi bạn làm nổi bật những mặt tích cực và gạt bỏ những mặt tiêu cực. Một khi tâm trí bạn đã sẵn sàng, bạn mở con mắt thứ ba. Nếu bạn vẫn còn điều gì để giấu giếm, bạn sẽ không thể mở nó, e rằng người khác sẽ nhìn thấu vào tâm trí mình.
- Xây dựng nền tảng tâm linh vững chắc (Trúc Cơ, 築基), khi tâm trí trí tuệ (Ý) của bạn giành được ưu thế trước tâm tình cảm (Tâm). Sự phán đoán của bạn trở nên trong sáng, được hướng dẫn bởi trí tuệ thay vì bởi cảm xúc.
- Tự luyện mình (Luyện Kỷ, 煉己). Giai đoạn kế tiếp là tinh luyện tư duy của bạn, khi bạn thấu hiểu ý nghĩa của đời sống tâm linh mình, và thân thể tâm linh của bạn phát triển nhanh chóng. Tư duy của bạn phân kỳ khỏi xã hội chính thống, và bạn có thể quyết định tách khỏi xã hội thế tục để tránh những sự xao lãng. Khi bạn thiền định, dường như thân thể vật lý của bạn biến mất, và bạn cảm thấy trong suốt và nhẹ nhàng. Trong Phật giáo điều này được gọi là "xả bỏ cái thấy về thân thể".
- An lò (An Lô, 安爐), và củng cố Thần của bạn để sống sót sự tách rời khỏi thân thể vật lý. Nếu không, một khi thân thể chết đi, Thần của bạn phải tìm một chỗ thay thế để đầu thai vào đó, để ngăn nó dần dần suy thoái và ngừng tồn tại. Người Phật giáo và Đạo giáo tìm cách phát triển những thân thể tâm linh của họ để có đời sống vĩnh hằng độc lập mà không phải quay trở lại con đường luân hồi.
- Hái thuốc (Thái Dược, 採藥) liên quan đến việc chuyển hóa tinh chất, cả Nguyên Tinh (元精) lẫn Hậu Thiên Tinh, thành Khí. Nguyên Tinh gồm những hoóc-môn được quyết định bởi gen. Hậu Thiên Tinh bắt nguồn từ không khí và thức ăn của chúng ta. Để tăng cường quá trình chuyển hóa, hãy thực hành những phương pháp làm tăng sản xuất hoóc-môn trong cơ thể, dùng những thảo dược có thể dễ dàng chuyển hóa thành Khí, và đảm bảo rằng bạn đang tiêu thụ thức ăn chất lượng tốt và không khí trong lành.
- Khởi hỏa (Khởi Hỏa, 起火) liên quan đến việc xây dựng Khí ở Hạ Đan Điền qua hô hấp bụng. Có hai phương pháp thay thế của hô hấp bụng. Phương pháp thứ nhất được gọi là Hô Hấp Bụng Thuận (Chính Phúc Hô Hấp, 正腹呼吸) hay Hô Hấp Phật Gia (Phật Gia Hô Hấp, 佛家呼吸). Phương pháp thứ hai được gọi là Hô Hấp Bụng Nghịch (Phản Phúc Hô Hấp hay Nghịch Phúc Hô Hấp, 反腹呼吸 · 逆腹呼吸), hay Hô Hấp Đạo Gia (Đạo Gia Hô Hấp, 道家呼吸).
- Tắt lửa (Tức Hỏa, 熄火) liên quan đến việc tích trữ Khí mà bạn đã xây dựng, thay vì biểu hiện nó trong thân thể vật lý. Chỉ khi đó bạn mới có thể kiểm soát Khí của cơ thể và duy trì sự cân bằng Âm Dương của nó. Bạn tích trữ Khí ở Đan Điền thật (Chân Hạ Đan Điền, 真下丹田), cục pin sinh học của con người, qua Thai Tức (胎息).
- Kết thai (Kết Thai, 結胎). Nguyên Tinh được gọi là Nguyên Khí (元氣), hay Thủy Khí (水氣). Nó tinh khiết và làm dịu. Tuy nhiên, Khí ở Trung Đan Điền, hay xương ức, bắt nguồn từ Hậu Thiên Tinh, tức không khí và thức ăn. Nó được gọi là Hậu Thiên Khí (後天氣) và được coi là Hỏa Khí (火氣), vốn bị ô nhiễm và có khuynh hướng khuấy động và kích thích tâm tình cảm của bạn. Vì vậy Thủy Khí, hay Khảm (坎), có thể làm bạn Âm hơn, còn Hỏa Khí, hay Ly (離), có thể làm bạn Dương hơn.
Để sinh ra sự sống mới, dưới hình thức một Linh Thai (Thần Thai, 神胎), Âm và Dương phải tương tác, qua phương pháp Khảm và Ly (坎離). Dẫn Thủy Khí đi lên từ Hạ Đan Điền hay Hạ Đan Điền thật, và Hỏa Khí đi xuống từ xương ức, để gặp nhau tại huyệt Hoàng Đình (黃庭) giữa xương ức và rốn. Với sự thực hành liên tục, một Linh Thai được sinh ra. Điều này chuyển hóa Khí thành Thần, và được gọi là Mười Tháng Mang Thai (Thập Nguyệt Hoài Thai, 十月懷胎). - Nuôi con (Dưỡng Anh, 養嬰). Sau mười tháng mang thai, Linh Thai được sinh ra, nghĩa là con mắt thứ ba đã mở, và Thần có thể rời khỏi cơ thể và trở lại nó theo ý muốn. Điều này được biết đến là Luyện Thần Phản Hư (煉神返虛) — tinh luyện Thần và đưa nó trở về hư không — hay Ba Năm Nuôi Dưỡng (Tam Niên Bố Nhũ, 三年哺乳).
- Tích lũy thiện hạnh (Tích Hạnh, 積行). Giờ đây bạn huấn luyện Thần của mình trong những khác biệt tinh tế giữa thiện và ác. Đến giai đoạn này, bạn đã thăng tiến Thần của mình lên một mức rất cao.
- Hành công (Hành Công, 行功) để thiết lập một sự kết nối giữa Thần mới của bạn và tinh thần tự nhiên. Bằng cách huấn luyện Thần tách rời khỏi thân thể vật lý trong những khoảng thời gian dài hơn và đi xa hơn, nó sẽ dần dần trở nên độc lập.
- Diện bích (Diện Bích, 面壁). Điều này được gọi là Phấn Toái Hư Không (粉碎虛空) (Crushing the Nothingness), hay Chín Năm Diện Bích (Cửu Niên Diện Bích, 九年面壁). Bạn chuẩn bị tách rời thân thể tâm linh của mình khỏi thân thể vật lý vĩnh viễn. Bạn đối diện với bức tường và suy ngẫm về đời sống mình thêm một lần nữa, để đảm bảo rằng bạn thực sự muốn giải thoát mình khỏi mọi sự trói buộc của con người.
- Phi thăng (Phi Thăng, 飛昇). Giờ đây bạn đã sẵn sàng tách rời thân thể tâm linh và thân thể vật lý của mình, bạn chọn ngày để tách rời chúng vĩnh viễn. Đây là giai đoạn cuối cùng của tu luyện, Thiên Nhân Hợp Nhất (天人合一).
Giờ đây việc hiểu những bước đầu tiên của tu luyện tâm linh nên dễ dàng hơn, dù các phương pháp huấn luyện và ý nghĩa của việc tu luyện có thể vẫn còn ẩn giấu cho đến khi người ta đạt tới một giai đoạn sâu xa hơn. Nó cũng giống như cách cái nhìn của chúng ta về thế giới thay đổi khi chúng ta trưởng thành.
Tóm Tắt Về Tu Luyện Giác Ngộ Tâm Linh
- Bước thứ nhất là Thiền Tiểu Chu Thiên, nền tảng của thực hành Nội Đan (內丹) Khí Công. Bằng cách huấn luyện nó, bạn xây dựng Khí và tích trữ nó ở Hạ Đan Điền thật, cục pin điện sinh học của con người. Bạn cũng dùng năng lực của tâm trí để sinh ra EMF nhằm lưu hành Khí trong hai mạch chính, vốn cung cấp Khí cho Mười Hai Kinh Khí Chính. Điều này đưa đến một nguồn cung Khí sung mãn cho thân thể vật lý, và là chìa khóa để củng cố thân thể cho sức khỏe và trường thọ.
- Sau Tiểu Chu Thiên, bạn huấn luyện Thiền Đại Chu Thiên, với những phương pháp cải thiện sự lưu hành Khí khắp toàn bộ cơ thể, và trao đổi Khí với người khác và với môi trường của bạn. Từ sự giao tiếp Khí này, bạn bắt đầu hiểu tinh thần tự nhiên, vốn là bước đầu tiên trong việc hiểu tự nhiên với mục đích hợp nhất với tinh thần của trời.
Bạn dùng EMF của tâm trí, dẫn Khí đến bề mặt da để củng cố Vệ Khí, bao gồm hệ miễn dịch. Bạn cũng dẫn Khí đến tủy để duy trì sức khỏe và chức năng đúng đắn của nó, điều tối quan trọng cho trường thọ.
Bạn dẫn Khí đến bốn cửa, hai Lao Cung và hai Dũng Tuyền. Đó là bốn trong năm cửa được dùng để thiết lập sự kết nối với môi trường. Cửa thứ năm là con mắt thứ ba của bạn, vốn liên quan đến thực hành giác ngộ.
Cuối cùng, bạn trao đổi Khí với muông thú và những người khác hay những đối tượng tự nhiên. Bạn có thể điều chỉnh Khí của người khác vào một trạng thái hài hòa và cân bằng hơn, đó là chìa khóa của việc chữa bệnh bằng Khí Công. - Mục tiêu cuối cùng của thiền định là sự giác ngộ tâm linh, đạt được bằng cách mở con mắt thứ ba. Thần có thể rời khỏi và đi vào cơ thể theo ý muốn, và sống sót mà không cần sự hỗ trợ của thân thể vật lý. Cuối cùng, thân thể vật lý bị bỏ lại phía sau và người thực hành đạt được đời sống tâm linh vĩnh hằng.
Tài Liệu Tham Khảo
- (11) "Life's Invisible Current," Albert L. Huebner, East West Journal, tháng 6 năm 1986.
- (12) The Body Electric, Robert O. Becker, M.D. và Gary Selden, Quill, William Morrow, New York, 1985.
- (13) "Healing with Nature's Energy," Richard Leviton, East West Journal, tháng 6 năm 1986.
- (14) A Child is Born, Lennart Nilsson, A DTP/Seymour Lawrence Book, 1990.
- (20) Nghiên cứu Sinh lý Giải phẫu (Study of Anatomic Physiology), Đài Bắc, 1986.
- (21) Grant's Atlas of Anatomy, James E. Anderson, ấn bản thứ 7, Williams & Wilkins Co., 9-92, 1978.
- (22) "Complex and Hidden Brain in the Gut Makes Stomachaches and Butterflies," Sandra Blakeslee, The New York Times, khoa học, ngày 23 tháng 1 năm 1996.
- (23) The Second Brain: The Scientific Basis of Gut Instinct and a Groundbreaking New Understanding of Nervous Disorders of the Stomach and Intestine, Michael D. Gershon, New York: Harper Collins Publications, 1998.
- (24) Fundamentals of Physics, Holliday và Resnick, tr. 512–514, John Wiley & Sons, Inc., 1972.
- (25) Bioenergetics, Albert L. Lehninger, tr. 5–6, W. A. Benjamin, Inc., Menlo Park, California, 1971.
- (26) Đài Loan, 1984.
- (27) "Restoring Ebbing Hormones May Slow Aging," Jane E. Brody, The New York Times, ngày 18 tháng 7 năm 1995.
- (28) The New Encyclopedia Brittanica, Tập 4, Encyclopedia Brittanica Inc., 1993.
- (29) Fundamentals of Physics, David Holliday và Robert Resnick, tr. 308, John Wiley & Sons, Inc., New York, NY, 1970.
- (30) Photographic Anatomy of the Human Body, J. W. Rohen, Đài Bắc.
Tứ Luyện — Bốn Sự Tinh Luyện
3-1 · Tinh (精)
…ở sát Hạ Đan điền (下丹田) và sát trọng tâm của cơ thể. Dây rốn dài, và thai nhi hút dưỡng chất vào bằng động tác bơm của vùng bụng.
Một khi bạn đã chào đời, bạn hít ô-xy qua mũi và nhận thức ăn qua miệng. Bạn không còn cần động tác bụng để bơm dưỡng chất qua dây rốn nữa, nên động tác ấy dần dần ngưng lại và bạn quên mất cách sử dụng nó. Hạ Đan điền (Hạ Đan điền, 下丹田), hay vùng bụng, là nguồn của Nguyên Khí (元氣) được chuyển hóa liên tục từ Nguyên Tinh (元精). Hạ Đan điền nằm trên Nhâm Mạch (任脈), một trong tám kho chứa Khí của cơ thể, có nhiệm vụ điều tiết dòng Khí trong các kinh mạch khác. Khí ở Hạ Đan điền là Thủy Khí (水氣), có khả năng làm nguội Hỏa Khí (火氣) sinh ra từ Tinh của thức ăn và không khí, vốn cư trú tại Trung Đan điền, tức vùng xương ức.
Muốn mạnh khỏe, hãy tiết kiệm Nguyên Tinh của bạn. Nó giống như số tiền vốn trong tài khoản tiết kiệm — một khoản đầu tư ban đầu sẽ tiếp tục sinh lãi chừng nào nó còn được giữ gìn. Tinh sinh ra Khí, và bằng cách giữ gìn nó, bạn sẽ tiếp tục có cả Tinh lẫn Khí. Một lối sống không lành mạnh có thể làm tổn hại và làm suy giảm Nguyên Tinh của bạn.
Để giữ gìn Nguyên Tinh, hãy kiểm soát hoạt động tình dục. Tuyến sinh dục được gọi là Ngoại Thận (外腎), vì tinh trùng là sản phẩm của Nguyên Tinh và của Tinh từ thức ăn và không khí. Xuất tinh làm cạn kiệt Nguyên Tinh và rút ngắn tuổi thọ của bạn.
Bạn không cần phải dứt bỏ hẳn hoạt động tình dục. Một lượng tình dục thích đáng được khuyến khích, để làm Tinh sinh động và hoạt hóa, đồng thời chuyển Tinh thành Khí một cách hiệu quả hơn. Tinh giống như nhiên liệu, còn Khí giống như năng lượng sinh ra từ nhiên liệu ấy. Bạn chuyển hóa nhiên liệu thành năng lượng càng hiệu quả, bạn càng có nhiều năng lượng.
Hoạt động tình dục thích đáng làm Khí sinh động để nuôi dưỡng Thần, cân bằng tâm trí, và tăng cường dũng khí cùng tinh thần của bạn. Lượng bao nhiêu là thích đáng tùy thuộc vào tuổi tác và tình trạng sức khỏe của mỗi người. Tinh ở Ngoại Thận là nguồn Khí chính trong bốn mạch Khí Âm lớn ở chân (mạch Âm Kiệu và mạch Âm Duy ở mỗi bên chân). Bốn kho chứa Khí này giữ cho đôi chân mạnh mẽ và khỏe mạnh. Nếu chân bạn yếu đi vì hoạt động tình dục, tức là bạn đang mất quá nhiều Tinh.
Khí (氣)
Khí mô tả mối quan hệ mật thiết giữa Khí và sự tuần hoàn của máu. Khí đi tới đâu, máu theo tới đó. Đó gọi là Khí Huyết (氣血). Khí cung cấp năng lượng mà các tế bào máu cần để sống và di chuyển. Máu chứa Khí, và giúp vận chuyển Khí của không khí đến từng tế bào của cơ thể.
Các tế bào và mô giống như những cái máy, mỗi thứ có một chức năng riêng biệt, và nếu thiếu dòng điện thì chúng sẽ chết. Các tuyến đường của hệ tuần hoàn máu, hệ thần kinh và hệ bạch huyết tương ứng với đường đi của các kinh mạch Khí, bởi vì Khí chính là năng lượng mà chúng cần để hoạt động. Các cơ quan chế biến nguyên liệu thô thành thành phẩm. Một số nguyên liệu thô được đưa vào để cung cấp năng lượng dùng chuyển hóa những nguyên liệu thô khác thành thành phẩm. Nguyên liệu thô của cơ thể bạn là thức ăn và không khí, còn thành phẩm là sự sống.
Khí trong cơ thể bạn giống như dòng điện mà nhà máy nhận được từ than đá hay dầu lửa. Nhà máy có nhiều dây dẫn nối nhà máy điện với các máy móc, và những dây khác nối điện thoại, bộ đàm và máy vi tính. Cũng có nhiều băng chuyền, thang máy, xe goòng và xe tải để chở vật liệu từ nơi này sang nơi khác. Trong cơ thể bạn cũng không khác gì: có hệ ruột, mạch máu, những mạng lưới thần kinh phức tạp và các kinh mạch Khí để phân phối máu, thông tin cảm giác và năng lượng. Không như hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương — tất cả các mạch nâng đỡ của những hệ này đều có thể quan sát được như những cấu trúc vật chất trong cơ thể — các kinh mạch Khí không thể quan sát được như những vật thể vật lý. Tất cả các hệ này đều có cấu hình tương tự nhau khắp cơ thể.
Trong một nhà máy, những máy khác nhau cần mức dòng điện khác nhau. Các cơ quan của bạn cũng vậy, chúng cần những mức Khí khác nhau. Nếu một cái máy được cấp điện ở mức không thích hợp, nó sẽ không hoạt động bình thường và thậm chí có thể bị hỏng. Cũng theo cách ấy, khi mức Khí trong các cơ quan của bạn quá dương hoặc quá âm, chúng sẽ bị tổn thương và thoái hóa nhanh hơn. Để một nhà máy vận hành trơn tru và năng suất, nó không chỉ cần máy móc chất lượng cao mà còn cần một nguồn điện đáng tin cậy. Cơ thể bạn cũng thế. Chất lượng các cơ quan của bạn phần lớn tùy thuộc vào những gì bạn thừa hưởng từ cha mẹ. Để duy trì chúng trong trạng thái khỏe mạnh và bảo đảm chúng hoạt động tốt lâu dài, bạn phải có một nguồn cung cấp Khí thích hợp.
Khí bị ảnh hưởng bởi chất lượng không khí bạn hít vào, thức ăn bạn ăn, lối sống của bạn, và cả cảm xúc cùng tính cách của bạn. Thức ăn và không khí là nguồn nhiên liệu, lối sống của bạn là cách bạn vận hành các máy móc, còn tính cách của bạn là ban quản lý của nhà máy.
Điều này làm sáng tỏ vai trò của Khí trong cơ thể bạn. Tuy nhiên, phép ẩn dụ vừa dùng là một sự đơn giản hóa quá mức. Hành vi và chức năng của Khí phức tạp hơn nhiều so với nguồn điện trong một nhà máy. Bạn không phải là một nhà máy hay một cái máy móc, mà là một con người với cảm giác và tình cảm, và những thứ ấy ảnh hưởng đến sự tuần hoàn Khí của bạn. Chẳng hạn, khi bạn véo vào mình, Khí ở vùng đó bị xáo động. Điều này được cảm nhận qua hệ thần kinh và được não bộ diễn dịch là sự đau đớn. Không một cái máy nào làm được điều này. Hơn nữa, sau khi bạn cảm thấy đau, không như một cái máy, bạn phản ứng hoặc qua bản năng hoặc qua suy nghĩ có ý thức. Cảm giác và suy nghĩ của con người tác động đến sự tuần hoàn Khí trong cơ thể, trong khi một cái máy không thể tác động đến nguồn điện của nó. Để hiểu và kiểm soát Khí của mình, bạn phải cảm nhận được dòng chảy của nó, chứ không chỉ dùng trí năng.
Hai loại Khí: Tiên Thiên và Hậu Thiên
Cơ thể có hai loại Khí nói chung. Loại thứ nhất gọi là Khí Tiên Thiên, Nguyên Khí (元氣), hay Tiên Thiên Khí (先天氣, Pre-Heavenly Qi). Nó được chuyển hóa từ Nguyên Tinh mà bạn nhận được lúc thụ thai, đó là lý do Nguyên Khí còn được gọi là Khí Tiên Thiên.
Loại thứ hai là Khí Hậu Thiên, hay Hậu Thiên Khí (後天氣, Post-heaven Qi). Nó được rút ra từ Tinh (tinh hoa) của thức ăn và không khí mà chúng ta tiếp nhận. Nơi cư trú của nó là Trung Đan điền, tức cơ hoành. Nó tuần hoàn và hòa trộn với Nguyên Khí Tiên Thiên. Cùng nhau, chúng tuần hoàn qua Đốc Mạch (督脈) và Nhâm Mạch (任脈), từ đó được phân phối đi khắp cơ thể.
| Loại Khí | Nguồn gốc | Nơi cư trú | Đặc tính |
|---|---|---|---|
| Tiên Thiên Khí / Nguyên Khí (先天氣 · 元氣) | Chuyển hóa từ Nguyên Tinh nhận được lúc thụ thai | Hạ Đan điền, dưới rốn | Thủy Khí (水氣) — làm mát, làm tâm trí trong sáng, trung tính và định tâm |
| Hậu Thiên Khí (後天氣) | Rút từ Tinh của thức ăn và không khí | Trung Đan điền, cơ hoành | Hỏa Khí (火氣) — đưa cơ thể vào trạng thái Dương tích cực, kích thích tình cảm, làm tâm trí tán loạn |
Khí Tiên Thiên là Thủy Khí (水氣), vì nó có thể làm nguội Khí Hậu Thiên, vốn là Hỏa Khí (火氣). Hỏa Khí đưa cơ thể vào trạng thái Dương tích cực, kích thích tình cảm, và làm tâm trí tán loạn, mê hoặc. Thủy Khí làm cơ thể bạn nguội xuống, và giúp tâm trí trở nên trong sáng, trung tính và định tâm. Hỏa Khí nâng đỡ phần tình cảm, còn Thủy Khí nâng đỡ phần trí tuệ.
Khi Hỏa Khí và Thủy Khí hòa trộn, chúng không chỉ tuần hoàn đến Đốc Mạch và Nhâm Mạch, mà còn đến Xung Mạch (衝脈), dẫn Khí đi thẳng lên qua tủy sống để nuôi dưỡng não bộ và làm sinh động Thần cùng linh hồn. Những điều này rất quan trọng trong tập luyện Khí công.
Phân loại Khí theo chức năng: Doanh Khí và Vệ Khí
Chiếu theo chức năng, Khí được chia thành hai loại lớn. Loại thứ nhất là Doanh Khí (營氣, Managing Qi), vì nó quản lý và kiểm soát các chức năng của cơ thể. Điều này bao gồm các chức năng của não bộ và các cơ quan, và cả sự vận động của cơ thể. Doanh Khí lại được chia thành hai loại. Loại thứ nhất tuần hoàn trong các kinh mạch và chịu trách nhiệm về chức năng của các cơ quan. Sự tuần hoàn của Khí đến các cơ quan và các chi tiếp diễn một cách tự động chừng nào bạn còn đủ Khí trong các kho chứa và bạn còn giữ cơ thể ở tình trạng tốt. Loại Doanh Khí thứ hai gắn liền với Ý (Ý, tâm ý) của bạn. Khi Ý của bạn quyết định làm điều gì đó, chẳng hạn nhấc một cái hộp, loại Doanh Khí này tự động chảy đến các bắp thịt cần thiết để thực hiện công việc. Khí này được suy nghĩ của bạn hướng dẫn, và liên hệ mật thiết với cảm giác cùng tình cảm của bạn.
Loại lớn thứ hai của Khí là Vệ Khí (衛氣, Guardian Qi). Nó tạo thành một tấm khiên trên bề mặt cơ thể để bảo vệ bạn khỏi những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Nó cũng tham gia vào sự mọc tóc, sự hàn gắn các vết thương ở da, và nhiều chức năng khác của da. Nó được dẫn qua hàng triệu kinh mạch nhỏ li ti ra bề mặt da, và thậm chí có thể vươn ra ngoài cơ thể. Khi cơ thể bạn ở trạng thái Dương, Vệ Khí mạnh và lỗ chân lông mở ra. Khi cơ thể bạn ở trạng thái Âm, Vệ Khí yếu và lỗ chân lông khép lại để ngăn Khí bị thất thoát.
Vào mùa hè, cơ thể bạn ở trạng thái Dương và Khí của bạn mạnh, nên tấm khiên Khí của bạn có thể vươn xa ra ngoài thể xác, với các lỗ chân lông mở rộng. Vào mùa đông, cơ thể bạn tương đối Âm, và bạn tiết kiệm Khí để giữ ấm và ngăn các mầm bệnh xâm nhập. Tấm khiên Khí thu hẹp lại, sát với bề mặt da.
| Chức năng | Doanh Khí (營氣) | Vệ Khí (衛氣) |
|---|---|---|
| Vị trí | Tuần hoàn trong kinh mạch, đến các cơ quan và các chi | Trên bề mặt cơ thể, qua hàng triệu tiểu mạch ra da, có thể vượt ra ngoài cơ thể |
| Nhiệm vụ | Quản lý và kiểm soát chức năng não bộ, cơ quan và vận động; loại thứ hai do Ý hướng dẫn | Tạo khiên che chắn khỏi ảnh hưởng tiêu cực bên ngoài; mọc tóc, hàn gắn da |
| Điều kiện | Phải vận hành trơn tru để duy trì sức khỏe | Phải mạnh mẽ để bảo vệ khỏi ngoại tà như hàn khí |
| Ảnh hưởng | Liên hệ mật thiết với cảm giác và tình cảm | Tự động ứng đáp với thay đổi môi trường, nhưng cũng chịu ảnh hưởng lớn của tình cảm: vui hay giận thì khiên mở hơn buồn hay sợ |
Chìa khóa là huấn luyện và nâng cao Thần (神) — cái hướng dẫn và kiểm soát Khí. Khi bệnh tật hoặc đối diện với cái chết, những người có Thần mạnh, biểu thị một ý chí sống mãnh liệt, thường sống sót. Những người lãnh đạm hay trầm uất nói chung không tồn tại lâu. Một ý chí sống mãnh liệt nâng Thần lên, làm Khí sinh động và giữ bạn sống sót và khỏe mạnh. Để nâng Thần, trước hết hãy nạp Khí cho não bộ để có thể tập trung hữu hiệu hơn. Tâm trí bạn sẽ vững vàng, ý chí bạn mạnh mẽ, và Thần của bạn được nâng lên.
Điều quan trọng là phải sinh ra Thủy Khí và học sử dụng nó một cách hữu hiệu. Nó có thể làm nguội Hỏa Khí, làm chậm sự thoái hóa của cơ thể. Nó cũng giúp làm dịu tâm trí và giữ tâm trí được định tâm, cho phép bạn phán đoán sự việc một cách khách quan. Tập luyện Khí công sẽ giúp bạn cảm nhận và hướng dẫn nó một cách hữu hiệu. Thủy Khí đến từ sự chuyển hóa Nguyên Tinh, và cả hai đều lấy thận làm gốc rễ. Một khi đã được sinh ra, nó cư trú tại Hạ Đan điền bên dưới rốn. Để giữ gìn nó, hãy giữ cho thận của bạn vững chắc và mạnh mẽ.
Thần (神)
Rất khó tìm được một từ tiếng Anh diễn đạt chính xác chữ Thần. Như trong rất nhiều trường hợp khác, ngữ cảnh quyết định cách dịch. Thần có thể được dịch là spirit (thần, linh hồn), god (thần linh), immortal (bất tử), soul (linh hồn), mind (tâm), divine (thần thánh), và supernatural (siêu nhiên).
Khi bạn còn sống, Thần là phần linh hồn được tâm trí của bạn hướng dẫn. Khi tâm trí bạn không vững vàng, người ta nói Tâm Thần Bất Ninh (心神不寧), nghĩa là tâm tình cảm và linh hồn không được an tịnh. Tâm tình cảm (Tâm, 心) có thể làm sinh động và kích thích Thần của một người lên trạng thái cao hơn, nhưng đồng thời người đó phải kìm chế tâm tình cảm bằng tâm trí tuệ (Ý, 意). Nếu Ý có thể kiểm soát được Tâm, thì toàn bộ tâm trí sẽ được tập trung, và Ý sẽ có thể cai quản Thần. Tuy nhiên, khi Thần của một người bị kích động, tức là nó không được Ý kiểm soát, nên chúng ta nói Thần Chí Bất Thanh (神志不清), nghĩa là linh hồn và ý chí (được sinh ra từ Ý) không được trong sáng. Trong Khí công, điều rất quan trọng là bạn phải huấn luyện Ý trí tuệ của mình để kiểm soát Tâm tình cảm một cách hữu hiệu. Để đạt được điều này, Phật gia và Đạo gia tự rèn luyện để thoát khỏi tình cảm và sự vướng mắc, vì chỉ có cách đó họ mới xây dựng được một Thần mạnh mẽ hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của mình.
Khi khỏe mạnh, bạn dùng Ý để bảo vệ Thần và giữ nó tại nơi cư trú của nó: Thượng Đan điền. Ngay cả khi được nạp đầy năng lượng, nó vẫn được Ý của bạn kiểm soát. Tuy nhiên, khi bạn bệnh nặng hoặc gần kề cái chết, Ý của bạn suy yếu, và Thần rời bỏ nơi cư trú để đi lang thang. Khi bạn chết, Thần tách rời hoàn toàn khỏi thể xác. Bấy giờ nó được gọi là Hồn (魂), hay linh hồn. Người ta thường dùng từ Thần Hồn (神魂), vì Hồn bắt nguồn từ Thần. Đôi khi Thần Hồn cũng chỉ linh hồn của một người đang hấp hối, vì linh hồn của người ấy đang ở khoảng giữa Thần và Hồn.
Khi Thần của bạn mạnh hơn và đạt tới trạng thái cao hơn, bạn có thể cảm nhận sắc bén hơn, và tâm trí bạn thông minh và linh cảm hơn. Thế giới của người sống thường được xem là thế giới Dương (Dương Gian, 陽間), và thế giới linh hồn sau khi chết được xem là thế giới Âm (Âm Gian, 陰間). Khi Thần của bạn đạt tới trạng thái cao hơn, nhạy cảm hơn này, tâm trí bạn vượt qua năng lực bình thường của nó. Những ý tưởng vượt ngoài tầm hiểu biết thông thường của bạn có thể được lĩnh hội và kiểm soát, và bạn có thể phát triển khả năng cảm nhận hoặc thậm chí giao tiếp với thế giới Âm. Thần siêu nhiên này được gọi là Linh (靈), để diễn tả một người sắc sảo, thông minh, nhanh nhẹn, và có thể nhanh chóng đồng cảm với người và vật. Khi bạn chết, Thần siêu nhiên này (Linh Thần, 靈神) không chết theo thể xác ngay lập tức, mà vẫn giữ năng lượng của bạn lại với nhau thành một vong hồn (Quỷ, 鬼). Vì vậy, một vong hồn cũng được gọi là Linh Quỷ (靈鬼), nghĩa là quỷ linh thiêng, hay Linh Hồn (靈魂), nghĩa là linh hồn thiêng liêng.
Linh là phần siêu nhiên của linh hồn. Nếu đủ mạnh, nó sống rất lâu sau khi thể xác chết và có nhiều cơ hội để đầu thai. Tuy nhiên, một khi đã đạt tới giai đoạn giác ngộ hoặc thành Phật khi còn sống, thì sau khi chết linh hồn sẽ rời khỏi vòng luân hồi để sống mãi mãi. Những linh hồn này được gọi là Thần Minh (神明), nghĩa là những chúng sinh đã giác ngộ về mặt tâm linh, hay đơn giản là Thần (神), ở đây hàm ý rằng linh hồn này đã trở thành thần thánh. Thông thường, nếu bạn chết mà phần linh hồn siêu nhiên không đủ mạnh, nó chỉ có một thời gian ngắn để tìm một chỗ cư trú mới để được tái sinh, trước khi năng lượng của nó tan rã. Trong trường hợp này, linh hồn được gọi là Quỷ (鬼), tức vong hồn.
Tinh và Khí của bạn có thể nuôi dưỡng Thần (Dưỡng Thần, 養神) và làm mạnh thêm Linh. Khi Linh Thần (靈神) này đủ mạnh, bạn có thể tách rời khỏi thể xác theo ý muốn. Đạt tới giai đoạn này, cơ thể bạn có thể sống hàng trăm năm. Những người làm được điều này được gọi là Tiên (仙), nghĩa là thần, hay tiên nhân bất tử. Vì Tiên bắt nguồn từ Thần, nó đôi khi được gọi là Thần Tiên (神仙), hay linh hồn bất tử. Tiên là một người còn sống mà Thần của người ấy đã đạt tới giác ngộ hoặc thành Phật. Sau khi chết, linh hồn của người ấy được gọi là Thần Minh (神明).
Nền tảng của sự tập luyện Khí công là làm Thần của bạn vững chắc, nuôi dưỡng và làm nó lớn lên cho đến khi đủ chín muồi để tách rời khỏi thể xác. Để làm được điều này, bạn phải biết Thần cư trú ở đâu, và cách giữ gìn, bảo vệ, nuôi dưỡng cùng huấn luyện nó. Cũng thiết yếu là phải biết gốc rễ hay nguồn gốc của Thần mình.
Thần của bạn cư trú tại Thượng Đan điền, tức não bộ. Khi bạn tập trung vào con mắt thứ ba, Thần có thể được làm vững chắc. Ở đây, chữ vững chắc có nghĩa là giữ gìn và bảo vệ. Khi tâm trí một người tán loạn và mê hoặc, Thần của người ấy đi lang thang. Đó gọi là Thần Bất Thủ Xá (神不守舍), nghĩa là linh hồn không được giữ tại nơi cư trú của nó.
Theo lý luận Khí công, tuy Tâm (Tâm tình cảm, 心) của bạn có thể làm linh hồn bốc lên, nhưng nó cũng có thể làm Thần của bạn mê hoặc, khiến Thần rời bỏ nơi cư trú. Ý (tâm trí tuệ) của bạn phải thường xuyên kìm chế và kiểm soát Thần tại nơi cư trú của nó.
Khi Thần được nạp năng lượng ở mức cao, nó dẫn dắt Khí một cách hữu hiệu. Nó là lực giữ bạn sống, và là tháp kiểm soát của Khí. Khi nó mạnh, Khí của bạn mạnh và bạn có thể dẫn Khí một cách hiệu quả. Khi nó yếu, Khí của bạn yếu và cơ thể thoái hóa nhanh chóng. Tương tự như vậy, Khí nâng đỡ Thần, làm nó sinh động và giữ nó sắc bén, trong sáng và mạnh mẽ.
Bạn phải hiểu gốc rễ của Thần mình và cách nuôi dưỡng sự lớn lên của nó. Nguyên Tinh (元精) là tinh hoa sự sống thừa hưởng từ cha mẹ bạn, nguồn năng lượng quan trọng nhất của bạn. Nguyên Khí (元氣) của bạn được tạo ra từ Nguyên Tinh, và nó hòa trộn với Khí từ thức ăn và không khí để cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng và hoạt động. Khí đã hòa trộn này cũng nuôi dưỡng Thần. Trong khi Hỏa Khí làm Thần của bạn sinh động, thì Thủy Khí làm mạnh thêm tâm trí tuệ để kiểm soát cái Thần đang được nạp năng lượng ấy. Thần được Ý giữ tại nơi cư trú và được Nguyên Khí nuôi dưỡng, được gọi là Nguyên Thần (元神). Vậy nên gốc rễ của Nguyên Thần chính là Nguyên Tinh của bạn. Khi Thần được nạp năng lượng nhưng được Ý kìm chế, nó được gọi là Tinh Thần (精神), nghĩa là Thần của Tinh, hay linh hồn của sinh lực.
Nguyên Thần là trung tâm của bản thể bạn, làm bạn an tĩnh, làm tâm trí bạn trong sáng, và làm ý chí bạn vững vàng. Khi bạn tập trung làm một việc gì đó, điều ấy được gọi là Tụ Tinh Hội Thần (聚精會神, tụ họp Tinh để gặp gỡ Thần). Hãy dùng Nguyên Tinh để nâng Nguyên Thần lên. Vì Thần này được nuôi dưỡng bằng Nguyên Khí, tức Thủy Khí, nên nó được xem là Thủy Thần.
Ở mức tu luyện cao hơn, việc tu dưỡng Thần trở thành quan trọng nhất. Mục tiêu cuối cùng là sinh ra một Thánh Thai (Tiên Thai, 仙胎), nuôi dưỡng nó cho đến khi nó chào đời và trở nên độc lập. Tuy nhiên, đối với người tu tập bình thường, mục tiêu cuối cùng của việc tu dưỡng Thần là nâng nó lên qua sự nuôi dưỡng của Khí, trong khi vẫn duy trì sự kiểm soát bằng Ý. Cái Thần được nâng lên này hướng dẫn và cai quản Khí một cách hiệu quả, và giúp đạt được sức khỏe cùng trường thọ.
Thần và não bộ
Thần và não bộ không thể tách rời. Thần là khía cạnh tinh thần của bản thể bạn, được tâm trí sinh ra và kiểm soát. Tâm trí sinh ra ý chí, cái giữ cho Thần được vững chắc. Người Trung Quốc thường dùng chung Thần (Thần, 神) và Chí (Ý chí, 志) thành Thần Chí (神志), vì chúng liên hệ mật thiết với nhau đến thế. Khi Thần được nâng lên và vững chắc, cái linh hồn được nâng lên này làm mạnh thêm ý chí. Chúng tương quan với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Vậy nên nền tảng vật chất của linh hồn bạn chính là não bộ của bạn. Nuôi dưỡng Thần nghĩa là nuôi dưỡng não bộ. Nguồn nuôi dưỡng nguyên thủy là Tinh của bạn, được chuyển hóa thành Khí, và được dẫn lên não để nuôi dưỡng và làm não sinh động. Trong tập luyện Khí công, quá trình này được gọi là Phản Tinh Bổ Não (返精補腦), nghĩa là đưa Tinh trở lại để bồi bổ não bộ.
Bốn bước tu luyện
Giờ đây, với sự hiểu biết rõ ràng về Tinh, Khí và Thần, bạn có thể nắm bắt được sự tương tác của ba kho báu này trong tập luyện Khí công, và cách dùng chúng để đạt tới sự giác ngộ tâm linh. Có bốn bước cần thiết trong sự tu luyện:
- Tinh luyện Tinh và chuyển hóa nó thành Khí — Luyện Tinh Hóa Khí (煉精化氣)
- Một trăm ngày xây dựng nền tảng (Bách Nhật Trúc Cơ, 百日築基)
- Thanh lọc Khí và chuyển hóa nó thành Thần — Luyện Khí Hóa Thần (煉氣化神)
- Mười tháng mang thai (Thập Nguyệt Hoài Thai, 十月懷胎)
- Tinh luyện Thần và đưa nó trở về cõi Hư Không — Luyện Thần Phản Hư (煉神返虛)
- Ba năm ẵm bế (Tam Niên Bộ Nhũ, 三年哺乳)
- Đập nát cõi Hư Không — Phấn Toái Hư Không (粉碎虛空)
- Chín năm đối diện vách đá (Cửu Niên Diện Bích, 九年面壁)
Đạo để đạt tới giác ngộ, hay thành Phật, đòi hỏi nhiều năm tu luyện. Một trăm ngày xây dựng nền tảng nói đến sự hình thành bào thai của một đứa bé tâm linh, thường được gọi là Thánh Thai (聖胎, Holy Embryo) hay Linh Thai (靈胎, Spiritual Embryo). Tiếp theo đó là mười tháng nuôi dưỡng và làm nó lớn lên, ba năm ẵm bế, và cuối cùng là giáo dục cái linh hồn này khi nó lớn mạnh hơn và trở nên độc lập. Điều này xây dựng nên một thân thể tâm linh độc lập. Sau khi thể xác chết đi, thân thể tâm linh này tiếp tục sống, không cần phải quay trở lại con đường luân hồi.
Sau khi bí mật tu luyện Tẩy Tủy Kinh (洗髓經) này được tiết lộ cho người tại gia, một sự thay đổi đã diễn ra trong cách tu luyện. Bởi vì mục tiêu cuối cùng là giác ngộ hay thành Phật không phải là lý do chính để họ tu tập và lại quá khó đạt tới, nên nhiều người tu tại gia chỉ tìm cầu trường thọ đã chỉ tu ba bước đầu của sự tu luyện và bỏ qua bước cuối cùng. Vì vậy, có rất ít tài liệu mô tả bước cuối cùng này.
3-2 · Luyện Tinh Hóa Khí (煉精化氣)
Một trăm ngày xây dựng nền tảng (Bách Nhật Trúc Cơ, 百日築基)
Một trăm ngày xây dựng nền tảng là bước thứ nhất trong việc hình thành một Linh Thai (靈胎), hay Thánh Thai (聖胎). Nhiều người tu tại gia chỉ tìm cầu trường thọ xem đứa bé tâm linh này như một thứ kim đan trường thọ. Sự tương tác hài hòa, lành mạnh giữa Âm Khí và Dương Khí là điều cần thiết để hình thành nó. Âm là mẹ, còn Dương là cha. Âm Khí và Dương Khí phải dồi dào, mỗi bên đủ mạnh để cân bằng bên kia. Để xây dựng Âm Khí và Dương Khí dồi dào trong cơ thể, bạn phải luyện tập những phương pháp đúng đắn. Để Âm và Dương tương tác hài hòa, bạn cũng phải điều chỉnh Khảm và Ly (坎離) (Hình 3-1). Bạn dẫn Âm Khí và Dương Khí đến Hoàng Đình (黃庭, yellow yard) để chúng tương tác hài hòa.
Thế nào là Thánh Thai, hay Linh Thai? "Bào thai đứa bé, nghĩa là kim đan. Sản sinh kim đan tức là mang bào thai đứa bé." Kim đan là Khí kéo dài sinh mệnh của bạn. Vì nó quý giá như vàng, nên nó thường được gọi là kim đan (金丹). Lập nên một Bào Thai nghĩa là xây dựng và tích trữ Khí tại huyệt Hoàng Đình.
Đạo sĩ Tiết Đạo Quang (薛道光) viết: "Thế nào là đứa bé? Đó là kim đan. Kim đan là độc nhất, và là chân khí duy nhất thực sự. Nó là khí của mẹ từ trời và đất. Người mẹ nuốt khí, thuộc năm tạng nội phủ, sinh ra khí của đứa bé. Nó giống hệt như một con mèo canh giữ một con chuột không thể chạy thoát. Khí của mẹ và con yêu thương nhau trong bụng mẹ và cuối cùng kết hợp để sinh ra một đứa bé. Vì vậy mới nói: 'Thái Cực duy nhất chứa đựng chân khí. Cách chứa đựng chân khí độc nhất thực sự giống như một con người mang một bào thai, sinh nở khi mười tháng đã hoàn mãn.'"
Vậy để sinh ra sự sống tâm linh, bạn cần thiên khí (Dương Khí) và địa khí (Âm Khí). Khi hai thứ này kết hợp và tương tác, sự sống được hình thành. Để sản sinh kim đan, bạn hấp thu Khí từ thức ăn và không khí (Dương Khí) và cả từ Nguyên Tinh (Âm Khí). Bấy giờ Khí có thể được tích trữ đến mức cao và nền tảng của trường thọ được thiết lập.
Góc nhìn khoa học: não thứ hai
Từ quan điểm khoa học, điều bạn đang làm là tích trữ điện tích tại Hoàng Đình, bộ não thứ hai của con người. Bộ não thứ hai này nối với não bộ qua tủy sống, vốn là trung tâm của hệ thần kinh con người và là mô dẫn điện rất cao. Vì vậy, tuy được xem là tách biệt, hai bộ não vẫn hoạt động như một. Não trên sinh ra tư tưởng (EMF), trong khi não dưới hoạt động như một cái ắc-quy, cung cấp điện tích cho toàn bộ cơ thể. Bất cứ khi nào EMF được sinh ra, điện tích được dẫn đến vùng cần thiết để kích hoạt thể xác, biểu hiện tâm ý và Khí thành hành động vật lý.
Muốn có Khí mạnh mẽ và dồi dào, bạn cần một tâm ý tập trung mãnh liệt (EMF cao) và một cái ắc-quy tốt có khả năng tích trữ Khí một cách dồi dào. Khi cả hai bộ não đều khỏe mạnh và hoạt động hài hòa, hệ miễn dịch của bạn được tái thiết, kéo dài sinh mệnh một cách đáng kể.
Khí dồi dào được tích trữ tại Hoàng Đình được dẫn lên não để nuôi dưỡng và kích hoạt các tế bào của nó tới một mức chức năng đủ cao để nâng linh hồn lên. Điều này mô tả những gì xảy ra khi Thánh Thai được hình thành và chín muồi tại Hoàng Đình, rồi được dẫn lên não để lớn lên, trong giai đoạn thứ hai của sự tu luyện.
Hình 3-1. Thụ thai Linh Thai. Sơ đồ gồm các yếu tố: Hỏa Khí (Ly, Dương) ở trên; Thủy Khí (Kan, Âm) ở dưới; sự giao hội Khảm–Ly tại vị trí trung tâm là Hoàng Đình; và sự hợp nhất của Thần với hơi thở.
Hoàng Đình là gì?
Thế nào là Hoàng Đình, và làm sao nó có thể tích trữ Khí và sinh ra Linh Thai? Huyệt này trước tiên được gọi là Ngọc Hoàn Huyệt (玉環穴, Jade Ring Cavity) trong cuốn Đồng Nhân Du Huyệt Châm Cứu Đồ (銅人腧穴針灸圖, Illustration of Brass Acupuncture and Moxibustion) của Vương Duy Nhất (王惟一) tiên sinh. Về sau, sách Đạo gia Vương Lộc Sư Ngữ nói: "Trong Đồng Nhân Du Huyệt Châm Cứu Đồ có ghi chép rằng, trong các huyệt vị của tạng phủ trong cơ thể, có một Ngọc Hoàn (玉環). Nhưng ta không biết Ngọc Hoàn là gì." Sau này, đạo sĩ Trương Tử Dương (張紫陽) giải thích về nơi mà các bậc tiên dùng để luyện thành kim đan:
"Tim ở trên, thận ở dưới, lá lách bên trái, và gan bên phải. Cửa sinh mệnh ở phía trước, cửa đóng kín ở phía sau, chúng được nối với nhau như một chiếc vòng, nó trắng như bông, đường kính một tấc. Nó bao trùm Tinh hoa và sự tinh luyện của toàn bộ cơ thể. Đây chính là Ngọc Hoàn."
Cửa sinh mệnh ở phía trước có nghĩa là cửa Khí mở ra phía trước và khép kín ở phía sau. Để dẫn Âm Khí và Dương Khí đến đó, bạn nên tiếp cận huyệt này từ phía trước.
Hoàng Đình nối với Nhâm Mạch và Xung Mạch qua huyệt Âm Giao (Co-7, 陰交). Qua Xung Mạch, nó nối với não trên và với Đốc Mạch tại Hội Âm (Co-1, 會陰). Ruột là bộ não thứ hai, với cấu trúc tương tự bộ não trong đầu, và có khả năng tích trữ một lượng Khí rất lớn. Hoàng Đình (黃庭, Yellow Yard) nằm giữa xương ức (Trung Đan điền), nơi chứa Hỏa Khí Dương, và Hạ Đan điền, nơi chứa Thủy Khí Âm. Các mạc trong vùng Hoàng Đình tích trữ một lượng Khí dồi dào, làm gia tăng lượng Khí sẵn có cho Thánh Thai.
Cho rằng ruột được thừa nhận rộng rãi là một bộ não thứ hai với cấu trúc tương tự não trên, thì làm sao nó có thể tạo ra một bào thai tâm linh được? Tuy các nhà khoa học tin rằng bộ não thứ hai có khả năng ghi nhớ, họ không chắc liệu nó có thể tư duy hay không. Nếu không, thì không có EMF nào được sinh ra, và linh hồn không thể được nuôi lớn ở đây. Vì vậy, nơi này chỉ có thể được dùng cho mục đích để Dương Khí và Âm Khí tương tác và nâng chúng lên một mức cao.
Kích thích sản sinh tinh dịch và nội tiết tố
Trong tu luyện Dịch Cân Kinh (易筋經), bạn sinh ra Khí bằng cách chuyển hóa Nguyên Tinh ở Nội Thận. Tuy nhiên, điều này không cung cấp đủ Khí cho sự tu luyện Tẩy Tủy Kinh. Để bù đắp sự thiếu hụt này, nhiều Tinh hơn phải được rút ra từ Ngoại Thận (tinh hoàn) bằng cách kích thích chúng và chuyển hóa tinh hoa mà chúng sản sinh thành Khí. Từ lập trường của y học hiện đại, một phần lợi ích sức khỏe của Khí công Tẩy Tủy Kinh đến từ việc sử dụng sự kích thích để gia tăng sản sinh nội tiết tố (hormone). Chúng được tiết ra bởi các tuyến nội tiết, kể cả tinh hoàn. Đó là những hợp chất hóa học phức tạp được máu hoặc bạch huyết vận chuyển, với những tác động mạnh mẽ và đặc hiệu lên các chức năng của cơ thể.
Nội tiết tố có thể kích thích hoạt động, tư duy và sự tăng trưởng. Chúng liên hệ trực tiếp với sức mạnh của sinh lực bạn, quyết định chiều dài của sinh mệnh và tình trạng sức khỏe của bạn. Chúng có thể kích thích tình cảm và làm tâm trạng bạn phấn chấn lên, hoặc làm bạn suy sụp cả về thể xác lẫn tinh thần. Truy ngược đủ xa, chúng chính là nguồn gốc nguyên thủy nhất của tư duy và ý tưởng của một người, thậm chí sinh ra cả nhiệt tình cho những hoạt động tràn đầy năng lượng. Nếu bạn sinh ra các nội tiết tố này và sử dụng chúng đúng cách, bạn có thể tự nạp năng lượng cho mình tới một mức độ mà người bình thường hoàn toàn không thể có được.
Nhiều nội tiết tố quan trọng hiện nay có thể được sản xuất tổng hợp, nhưng việc dùng nội tiết tố tổng hợp là một quá trình không tự nhiên và gián đoạn, không giống như việc tự sinh ra chúng bên trong cơ thể. Khi bạn tự sản sinh nội tiết tố, cơ thể bạn điều chỉnh thích nghi với sự gia tăng sản xuất dần dần. Tuy nhiên, nếu chúng đến từ bên ngoài, cơ thể bạn phải chịu đựng những thay đổi đột ngột sinh ra những tác dụng phụ không mong muốn. Nhiều nội tiết tố có được từ một số thức ăn nhất định, nhưng lại không cung cấp đủ Khí để lấp đầy các kinh mạch. Đạo gia nói: "Thức ăn tốt hơn thuốc trong việc gia tăng sức khỏe. Dùng Khí để cải thiện sức khỏe lại tốt hơn ăn thức ăn."
Tẩy Tủy Kinh kích thích sự sản sinh và bài tiết các nội tiết tố. Chúng được dùng để gia tăng Khí, và Khí lại nuôi dưỡng não bộ và nâng cao linh hồn của sinh lực.
Bạn chỉ có thể phát triển một đứa bé tâm linh khỏe mạnh khi bạn có đủ Khí. Để hình thành bào thai, bạn cần ít nhất một trăm ngày ăn uống điều độ, điều chỉnh Khảm–Ly chính xác, kích thích cơ quan sinh dục đúng cách để gia tăng Tinh (tinh dịch), và kiêng giao hợp, để xây dựng một thể Khí mạnh mẽ kết hợp Âm và Dương. Trong Khí công Tẩy Tủy, quá trình tinh luyện Tinh và chuyển hóa nó thành Khí trong một trăm ngày đầu tiên đặt nền móng (Bách Nhật Trúc Cơ, 百日築基). Linh Thai sẽ chỉ khỏe mạnh nếu nó có được nền móng vững chắc này.
Tinh của tinh hoàn là một trong những nguồn năng lượng chính của người đàn ông. Khi nó dồi dào, sinh lực của người ấy cao và sức sống mạnh mẽ. Khi người ấy đánh mất sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu hao tinh dịch, tình cảm của người ấy cũng mất cân bằng. Điều này dẫn đến trầm uất và sự thoái hóa nhanh chóng của cơ thể. Một phần Tinh này là cần thiết cho não bộ, để kích thích tư duy và làm cơ thể sinh động cho các hoạt động. Khi sự sản sinh tinh dịch không đủ, não bộ không nhận đủ Khí, và sự kiểm soát của linh hồn đối với tuần hoàn Khí suy yếu. Điều này dẫn đến bệnh tật.
Vậy nên bước thứ nhất trong tu luyện Tẩy Tủy Kinh là gia tăng sản xuất tinh dịch và chuyển hóa nó thành Khí nhanh hơn và hiệu quả hơn so với điều cơ thể thường làm. Với một người đàn ông trưởng thành trung bình, nguồn cung tinh dịch tự lấp đầy mà không cần kích thích. Thường mất từ hai đến ba tuần để bổ sung lại nguồn cung tinh dịch một khi nó đã bị mất. Khi tinh dịch của một người đàn ông đã đầy, nội tiết tố kích thích não bộ và sinh ra dục vọng tình dục, làm người ấy sinh động và trở nên nóng nảy, dễ mất bình tĩnh.
Thời gian cần thiết để tinh dịch tự bổ sung thay đổi tùy người. Nếu một người giao hợp thường xuyên, tinh dịch được bổ sung nhanh hơn. Tuy nhiên, nếu một người kiêng cữ trong một thời gian, tinh hoàn bắt đầu hoạt động chậm lại. Nếu một người giao hợp quá thường xuyên, mức tinh dịch sẽ thấp phần lớn thời gian, ảnh hưởng đến việc chuyển hóa nội tiết tố thành Khí. Bốn mạch Khí ở chân nhận phần lớn Khí của chúng từ sự chuyển hóa tinh dịch. Nếu bạn giao hợp quá nhiều, bạn sẽ thấy chân mình yếu đi do Khí hư trong các mạch này.
Cơ thể sản sinh tinh dịch trong lúc ngủ, từ nửa đêm cho đến sáng, bởi vì tuần hoàn Khí bắt đầu ở đầu (Bách Hội, 百會, Gv-20) và tuần hoàn xuống phía trước cơ thể, đi theo Nhâm Mạch rồi Đốc Mạch, lại đến Bách Hội. Hội Âm và Bách Hội, được nối với nhau bởi Xung Mạch, đều là những điểm chính của dòng Khí vào lúc nửa đêm. Khi tuần hoàn Khí đến Hội Âm, nó kích thích cơ quan sinh dục và tương tác với Nguyên Khí từ Đan điền để sinh ra Tinh Khí (精氣).
Nam giới khỏe mạnh thường cương cứng khi thức dậy vào buổi sáng. Điều này bắt đầu khá sớm sau khi chào đời. Dĩ nhiên, ở tuổi này các bé trai chưa thể sinh ra tinh trùng, và chúng không có những thôi thúc tình dục. Giới y học Trung Quốc tin rằng một khi một bé trai đã thành hình, tinh hoàn của nó liên tục sinh ra tinh dịch. Tinh dịch này tương tác với Nguyên Khí (元氣) tại Đan điền và sinh ra Tinh Khí (精氣), được vận chuyển lên não bộ, kể cả tuyến yên, để kích thích sự tăng trưởng. Khi Nguyên Khí của một bé trai khỏe mạnh và mạnh mẽ, sự tương tác giữa tinh dịch và Nguyên Khí cũng hữu hiệu, và bé trai lớn lên bình thường. Một khi đến tuổi thiếu niên, tinh hoàn của bé cũng sẽ bắt đầu sinh ra tinh trùng. Thông thường, lượng sản sinh ra nhiều hơn mức cần thiết cho sự tăng trưởng, nên Khí đầy đủ và dồi dào, làm bé khỏe mạnh và cường tráng.
Bắt đầu từ nửa đêm, khi bạn đang ngủ và cơ thể được thư giãn, Tinh Khí từ tinh hoàn nuôi dưỡng não bộ và tái cân bằng năng lượng của nó. Chính sự tái cân bằng này sinh ra những giấc mơ.
Trong tu luyện Tẩy Tủy Kinh, có hai phương pháp tổng quát để kích thích sản xuất tinh dịch. Một là Ngoại Đan (外丹), dùng kích thích vật lý, và phương pháp kia là Nội Đan (內丹), dùng kích thích tinh thần. Vùng háng được kích thích càng nhiều, tinh dịch được sản sinh càng nhiều và cơ quan này sẽ hoạt động bình thường càng lâu. Bạn phải chuyển hóa tinh dịch này thành Khí hiệu quả hơn so với điều cơ thể bạn thường làm. Nếu bạn không chuyển hóa hữu hiệu lượng tinh dịch dư thừa thành Khí, dẫn nó lên não, và phân tán nó trong mười hai kinh mạch, thì lượng tinh dịch dồi dào sẽ làm dục vọng tình dục của bạn gia tăng và tình cảm của bạn mất cân bằng.
Về mặt lý thuyết, phương pháp chuyển hóa Tinh–Khí rất đơn giản. Bạn dẫn Khí từ bốn mạch ở chân đi lên huyệt Hoàng Đình và cũng lên não bộ. Điều này khiến Khí trong bốn mạch này trở nên hư thiếu, và nhiều Tinh hơn phải được chuyển hóa để bổ sung nguồn cung. Trong trường hợp này, bạn đang tiêu dùng lượng Tinh dư thừa đang được sinh ra. Quá trình dẫn Khí đi lên được gọi là Luyện Khí Thăng Hoa (鍊氣昇華), nghĩa là luyện tập để Khí thăng hoa. Khi Khí được dẫn lên để nuôi dưỡng não bộ, điều ấy được gọi là Hoàn Tinh Bổ Não (還精補腦), nghĩa là đưa Tinh trở lại để bồi bổ não bộ.
Bạn càng luyện tập, bạn càng chuyển hóa tinh dịch thành Khí một cách hiệu quả hơn. Có hai phong cách lớn của sự chuyển hóa tinh dịch: Phật gia và Đạo gia. Phật gia nhấn mạnh sự chuyển hóa Nội Đan, nói chung chậm hơn nhiều so với Đạo gia, những người ngoài Nội Đan còn luyện thêm sự chuyển hóa Ngoại Đan. Trong sự chuyển hóa Nội Đan, Ý và hơi thở là những chìa khóa để dẫn Khí lên. Phối hợp tư thế và các động tác tại Hội Âm, Khí được dẫn lên Hoàng Đình và não bộ.
Sự chuyển hóa Ngoại Đan cũng dẫn Khí ở chân lên Hoàng Đình và não bộ. Các phương pháp kích thích tinh hoàn của Đạo gia nhanh hơn, bởi vì chúng gia tăng sản xuất tinh dịch và sự chuyển hóa Tinh–Khí theo kiểu Ngoại Đan. Chúng được gọi là Cao Hoàn Vận Động (睪丸運動, Testicle Exercises) hay Khước Lão Hoàn Cơ Vận Động (卻老還機運動, bài tập làm chậm sự già hóa và phục hồi chức năng). Bạn càng có nhiều tinh dịch, bạn càng có thể chuyển nó thành nhiều Khí hơn, và càng có thể làm việc đó hiệu quả hơn.
3-3 · Luyện Khí Hóa Thần (煉氣化神)
Mười tháng mang thai (Thập Nguyệt Hoài Thai, 十月懷胎)
Trong giai đoạn thứ nhất, Linh Thai được hình thành tại Hoàng Đình. Đây là hạt giống từ đó đứa bé lớn lên. Giai đoạn thứ hai là mười tháng mang thai (28 ngày cho mỗi tháng âm lịch Trung Quốc), trong đó bạn cung cấp cho nó Khí đã được thanh lọc, cũng giống như một người mẹ cung cấp dinh dưỡng và ô-xy cho bào thai. Bạn luyện tập việc chuyển hóa tinh dịch thành Khí một cách hiệu quả trong khi Linh Thai lớn lên và phát triển. Nếu quá trình này không đầy đủ, sự phát triển của đứa bé sẽ khiếm khuyết, và nó có thể chết. Bạn đang phát triển nó thành một thực thể có sự sống riêng của nó.
Bạn dẫn Âm Khí và Dương Khí đến Hoàng Đình, nơi chúng tương tác hài hòa, hình thành Linh Thai. Trong giai đoạn thứ hai, bạn tích lũy thêm Khí tại Hoàng Đình của mình. Phải mất mười tháng luyện tập tích cực để tích lũy đủ cho giai đoạn thứ ba của sự tu luyện, trong đó bạn kích hoạt thêm các tế bào não và cải thiện chức năng của chúng. Điều này nâng linh hồn của bạn lên một mức cao.
Khi bào thai lớn lên, linh hồn của nó cũng phát triển để trở thành một thực thể khỏe mạnh, hoàn chỉnh. Bạn nuôi dưỡng nó bằng Khí và cũng bằng thần, giống như một người mẹ tập trung tinh thần và sự chú ý của mình vào bào thai để có được một đứa bé khỏe mạnh về mặt tinh thần. Những suy nghĩ và thói quen của người mẹ được truyền sang đứa bé. Cũng theo cách ấy, Linh Thai phát triển thần của nó, và giai đoạn tu luyện này được gọi là Thanh lọc Khí và chuyển hóa nó thành Thần. Đạo sĩ Lý Thanh Am (李清庵) nói: "Thần và Khí kết hợp để tạo ra phẩm chất siêu linh. Tâm (心) và hơi thở nương tựa lẫn nhau để sinh ra Thánh Thai." Để phú bẩm cho Bào Thai một linh hồn, bạn kết hợp Thần và Khí của mình tại Hoàng Đình, ban cho Thánh Thai một phẩm chất siêu nhiên, thuộc về tinh thần. Tâm là tâm tình cảm của bạn, và hơi thở là chiến lược tu luyện. Hãy phối hợp tình cảm và hơi thở của bạn, và tập trung vào Thánh Thai này, để thần của nó có thể lớn lên và chín muồi.
Một số người tu tập tin rằng một khi Bào Thai đã được hình thành, nó nên được chuyển lên Thượng Đan điền để lớn lên, nhưng đây là một vấn đề tùy chọn. Trước tiên bạn cần thật nhiều Khí, rồi bạn dùng nó để nuôi dưỡng Bào Thai, và cuối cùng, bạn xác lập thần của nó. Với Khí dồi dào để kích hoạt và làm sinh động các tế bào não của bạn và nâng linh hồn lên, việc Bào Thai lớn lên ở đâu không phải là điều quan trọng. "Khi kim đan được thành tựu trong mười tháng, Thánh Thai được hoàn tất, và chân nhân xuất hiện." Sau mười tháng tĩnh tọa, Khí được tích trữ dồi dào tại Hoàng Đình. Rồi bạn dẫn nó lên để nuôi dưỡng não bộ của mình. Giờ đây bạn có thể vứt bỏ chiếc mặt nạ mà bạn đã đeo, vì đây là giai đoạn của sự tự nhận thức.
3-4 · Luyện Thần Phản Hư (煉神返虛)
Ba năm ẵm bế (Tam Niên Bộ Nhũ, 三年哺乳)
Sau khi đã mang Linh Thai mười tháng, nó đã sẵn sàng chào đời. Khí đã được tích trữ dồi dào tại Hoàng Đình, và Thần của Bào Thai đã được xác lập. Giờ đây bạn dẫn Bào Thai lên Thượng Đan điền để nó chào đời. Thượng Đan điền, với huyệt Ấn Đường (M-HN-3, 印堂, con mắt thứ ba), là nơi bạn cảm nhận và giao tiếp với năng lượng của Tự nhiên, và với thế giới tâm linh. Nơi này được gọi là Thần Cốc (神谷, Spiritual Valley), vì cấu trúc vật lý của nó trông giống như lối vào của một thung lũng sâu được tạo thành bởi hai thùy não. Khi bạn giao tiếp với năng lượng tự nhiên, dường như việc ấy đang diễn ra trong một thung lũng sâu vươn tới trung tâm của tư duy bạn và còn vượt xa những gì bạn có thể thấy.
Não bộ chứa đựng nhiều điều bí ẩn mà khoa học ngày nay vẫn chưa thể giải thích. Tôi tin rằng thung lũng được tạo thành bởi hai thùy não là chìa khóa của độ dài sóng não. Năng lượng cộng hưởng trong thung lũng này và được truyền ra bên ngoài như những làn sóng từ ăng-ten của một đài phát thanh. Thượng Đan điền là cánh cửa cho phép chúng ta giao tiếp với Tự nhiên và để tư tưởng của chúng ta được truyền đến người khác.
Nếu một người có thể kích hoạt thêm nhiều tế bào não thông qua Khí công, người ấy có thể gia tăng độ nhạy của não đối với một dải bước sóng rộng hơn. Người ấy có thể cảm nhận sự vật rõ ràng hơn, và có một độ nhạy bén cao hơn đối với năng lượng tự nhiên. Người ấy thậm chí có thể trực giác cảm nhận được tư tưởng của người khác mà không cần giao tiếp bằng lời. Với Khí dồi dào và sự tập trung mạnh mẽ, cũng có thể chữa bệnh cho người khác bằng tâm ý và Khí của mình. Đây là giai đoạn của sự tự nhận biết và tỉnh thức.
Sau khi đã dẫn Khí đến để kích hoạt não bộ, chướng ngại tiếp theo là mở cánh cửa con mắt thứ ba. Cánh cửa này bị da, xương sọ và xoang trán che chắn. Chúng ngăn chặn phần lớn năng lượng do não bộ phát ra hoặc tiếp nhận, đó là lý do cánh cửa này được xem là đang đóng kín. Tuy nhiên, xương là chất bán dẫn. Thông qua tĩnh tọa tập trung, chúng ta có thể sinh ra một sự chênh lệch điện thế đáng kể, hay EMF, giữa não bộ và bên ngoài đầu. Một khi sự chênh lệch điện thế này đạt tới mức ngưỡng, xương trở thành một chất dẫn điện. Bấy giờ bạn có thể giao tiếp với thế giới bên ngoài mà không bị che chắn. Cánh cửa này được gọi là Huyền Quan (玄關, Tricky Gate). Khi Khí tập trung mở ra nó, quá trình này được gọi là Khai Khiếu (開竅, mở cửa huyền quan). Một khi cánh cửa này đã được mở, nó sẽ luôn mở.
Một cánh cửa khác nằm trên đỉnh đầu, được gọi là Bách Hội (百會, Gv-20) trong châm cứu hay Nê Hoàn Cung (泥丸宮) trong Khí công, nơi não bộ của bạn có thể giao tiếp với năng lượng tự nhiên. Đây không phải là trung tâm tâm linh, mà đơn giản là một cánh cửa có khả năng trao đổi Khí với tự nhiên. Cánh cửa này thường được dùng để hấp thu thiên khí từ mặt trời và các vì sao, và địa khí từ từ trường của trái đất.
Trong giai đoạn thứ ba của thiền giác ngộ này, bạn dẫn Khí dồi dào lên não để kích hoạt những tế bào não chưa được sử dụng và qua đó gia tăng dung lượng của não bộ. Rồi bạn tập trung Khí dồi dào để mở cánh cửa. Điều này có nghĩa là đứa bé tâm linh được sinh ra tại Thượng Đan điền, và giờ đây bạn ẵm bế nó. Điều này có nghĩa là bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng nó khi nó phát triển, và được gọi là Dưỡng Thần (養神, nuôi dưỡng Thần). Bằng cách gia tăng mức Khí của não bộ, bạn có thể cảm nhận và giao tiếp với tự nhiên một cách hiệu quả hơn. Khi linh hồn bạn giao cảm với tự nhiên, nó trở nên quen thuộc với việc ở lại cùng năng lượng tự nhiên và dần dần quên đi thể xác. Vì linh hồn tự nhiên không thể thấy được, nó là cõi hư không, điều này cũng chỉ sự vắng mặt của tình cảm và dục vọng. Vì vậy, giai đoạn tu luyện này được gọi là Tinh luyện Thần và đưa nó trở về cõi Hư Không. Vì thân thể tâm linh của bạn bắt nguồn từ sự hư không về mặt vật lý và tình cảm, nên trong sự tu luyện này, bạn đang trở về với hư không. Phật gia gọi điều này là Tứ Đại Giai Không (四大皆空), hay Bốn Đại Đều Không. Điều này có nghĩa là bốn đại (đất, lửa, nước và gió) vắng mặt trong tâm trí, để bạn hoàn toàn dửng dưng với những cám dỗ của thế tục.
Bạn ẵm bế đứa bé tâm linh của mình ít nhất ba năm. Cũng giống như một đứa bé thật sự, nó cần được bảo vệ và nuôi dưỡng cho đến khi nó có thể tự túc. Nếu nó đi ra ngoài, nó không thể đi quá xa, giống như một đứa trẻ nhỏ dần dần làm quen với môi trường mới của nó. Đây là giai đoạn thứ nhất của giác ngộ hay thành Phật.
Bài ca Đại Đạo
Tôi xin dịch một bài ca của Đạo gia về giai đoạn tu luyện này.
Bài ca Đại Đạo
Đại Đạo không xa mà ở ngay trong thân. Vạn vật đều là không, nhưng bản tính con người thì không phải là không. Nếu bản tính con người không phải là không, và có thể ở cùng nhau hài hòa với Khí, thì Khí sẽ trở về biển cả nguyên thủy (Hạ Đan điền thực), và tuổi thọ là vô hạn. Để giữ linh hồn ở lại trong thân, đừng để lại dù chỉ một vật ở Linh Đài (靈台, đài tâm linh). Nếu còn bất cứ vật gì ở trong tim, linh hồn sẽ không được trong sáng. Điều này phung phí chân tinh và làm tổn hại gân cốt (thể xác). Linh hồn hướng dẫn Khí, và qua Khí, hình thể được tồn tại bền lâu. Bấy giờ bạn sẽ sống lâu mà không cần đến thuốc. Các kỹ thuật thì dễ, nhưng bí mật thì khó gặp được. Con đường chính xác luôn luôn bị đổi thay và tách rời khỏi chính đạo. Vì vậy, cho dù một ngàn hay một vạn người học, không một người nào hoàn thành được sự tu luyện. Khi linh hồn rời khỏi thân, lập tức đưa nó trở lại. Khi linh hồn trở về, Khí cũng sẽ tự động trở về. Hãy luyện tập như thế mỗi sớm mỗi chiều, và Linh Thai sẽ tự nhiên và tự động được sinh ra.
Đại đạo của trường thọ và giác ngộ ở ngay trong chúng ta, để đạt tới thông qua sự tu dưỡng. Tâm trí không nên dính mắc vào những đối tượng vật chất, rốt cuộc đều là không và vô thường. Hãy luyện tập để vượt qua ảnh hưởng của những đối tượng được sinh ra từ đất, lửa, nước và gió. Tu dưỡng chân tính của bạn, và nâng linh hồn của bạn lên. Một khi bạn hài hòa với Khí, nó có thể được giữ tại Hạ Đan điền thực. Bạn sống lâu dài, vì bạn không phung phí Khí của mình.
Hãy giữ tâm trí bạn trong sạch, thoát khỏi những đối tượng vật chất xung quanh bạn và khỏi sự trói buộc của tình cảm. Giữ linh hồn bạn ở trung tâm tâm linh của nó. Nếu nó đi lang thang, nó dẫn Khí đi theo và phung phí Khí. Khi linh hồn được giữ vững chắc bên trong cơ thể, Khí sẽ ở lại. Khi Khí dồi dào và ở lại, cơ thể sẽ mạnh mẽ và khỏe mạnh. Đây là chìa khóa của trường thọ. Chìa khóa để sản sinh Linh Thai là giữ linh hồn ở bên trong cơ thể.
Để phát triển Linh Thai, hãy tu dưỡng và nâng linh hồn của bạn lên, với Khí dồi dào được tích trữ tại Hạ Đan điền thực. Nhưng nếu tâm trí bạn bị lung lay bởi những sự lôi cuốn vật chất, bạn không thể tích trữ đủ Khí để sinh ra Linh Thai. Đây là giai đoạn tu dưỡng chân tính để được tự do khỏi sự trói buộc của thể xác và tình cảm.
3-5 · Phấn Toái Hư Không (粉碎虛空)
Chín năm diện bích (Cửu Niên Diện Bích, 九年面壁)
Ở giai đoạn này, bạn thấy thế giới tâm linh thực hơn thế giới vật lý. Phấn toái hư không có nghĩa là tiêu diệt ảo ảnh nối kết thế giới vật lý với cõi tâm linh. Theo Phật giáo, linh hồn của bạn không thể tách rời hoàn toàn khỏi thể xác, bởi vì nó vẫn còn bị nối kết với cõi người bởi tình cảm và dục vọng. Chỉ khi bạn tự giải thoát khỏi những sự trói buộc này, linh hồn của bạn mới có thể tách rời và độc lập. Chín năm tĩnh tọa cho linh hồn của bạn thời gian để trải nghiệm thế giới năng lượng tự nhiên và học cách sống độc lập. Bấy giờ nó có thể tách rời khỏi thể xác của bạn và tiếp tục sống mà không cần đến nó. Nó sống trong năng lượng tự nhiên và tiếp tục tồn tại ngay cả khi thể xác đã chết.
Mục tiêu cao nhất của một nhà sư Phật giáo là đạt tới giác ngộ hay thành Phật. Vị ấy phát triển Thần của mình để trở nên độc lập và tồn tại ngay cả sau khi thể xác chết đi. Khí của vị ấy nạp năng lượng cho não bộ mạnh mẽ đến mức nó tương tác với điện tích trong không khí và sinh ra một vầng sáng quanh đầu vị ấy. Điều này thậm chí có thể xảy ra ở những giai đoạn sớm hơn. Nó thường được thể hiện trong các bức họa về Đức Phật, đặc biệt khi Ngài được vẽ đang tĩnh tọa trong bóng tối. Nó đồng nhất với vầng hào quang trong các bức họa về các vị thánh phương Tây.
Giai đoạn này được gọi là Luyện Thần (鍊神), hay luyện tập linh hồn. Linh hồn của bạn nhận sự giáo dục từ năng lượng tự nhiên. Điều này nói chung mất hơn mười hai năm, trên thực tế, thường là nhiều kiếp sống. Bạn làm mạnh thêm Thần của đứa bé trong mỗi kiếp sống, và một ngày nào đó bạn đạt tới giác ngộ. Tuy nhiên, nhiều Phật tử và Đạo sĩ tin rằng toàn bộ sự tu luyện tùy thuộc vào sự lĩnh hội của một người. Nếu một người thực sự có thể lĩnh hội được nó, người ấy có thể đạt tới giác ngộ hầu như trong nháy mắt. Tôi có khuynh hướng đồng ý với họ. Trong hầu như mọi lĩnh vực nỗ lực, nếu một người suy ngẫm và lĩnh hội được những nguyên lý, người ấy sẽ tìm ra những cách để đạt tới mục tiêu nhanh hơn nhiều so với mong đợi.
Tôi muốn nêu ra rằng có nhiều tài liệu về hai giai đoạn đầu, nhưng rất ít điều được viết về hai giai đoạn cuối của sự tu luyện giác ngộ. Tuy nhiên, nếu ước vọng của bạn chân thành và tâm trí bạn tập trung vào mục tiêu, bạn sẽ hiểu được những gì mình cần làm để đạt tới mức tiếp theo. Không ai có thể hiểu bạn hơn chính bản thân bạn.
Ngũ Điều — Năm Phép Điều Hòa
4-1 · Dẫn Nhập
Dù bạn tu luyện Nội Đan (Nei Dan, 內丹) hay Ngoại Đan (Wai Dan, 外丹) khí công, đều có năm quá trình điều hòa để đạt tới mục tiêu cuối cùng của sự tu tập. Đó là: điều thân (Tiao Shen, 調身 — điều chỉnh thân thể), điều tức (Tiao Xi, 調息 — điều chỉnh hơi thở), điều tâm (Tiao Xin, 調心 — điều chỉnh tâm tình), điều khí (Tiao Qi, 調氣 — điều chỉnh khí), và điều thần (Tiao Shen, 調神 — điều chỉnh thần). Năm điều này thường được gọi là Ngũ Điều (Wu Tiao, 五調).
Chữ Hán Tiao (調), mà tôi dịch là “điều hòa”, gồm hai chữ: Yan (言), nghĩa là nói năng hay thương thuyết, và Chu (周), nghĩa là trọn vẹn, hoàn hảo hay tròn đầy. Tiao nghĩa là chỉnh sửa, tinh chỉnh cho đến khi trọn vẹn và hài hòa với những cái khác. Cũng như người ta lên dây đàn piano để các nốt hòa hợp với nhau. Tiao nghĩa là phối hợp, hợp tác và hài hòa bằng sự điều chỉnh liên tục. Cả năm phương diện — thân, hơi thở, tâm, khí và thần — đều phải được điều hòa cho đến khi đạt được sự hài hòa.
Chìa khóa của sự điều hòa là ở cảm giác, tức ngôn ngữ của tâm và thân. Bạn cảm nhận càng sâu và càng tinh tế, bạn càng điều hòa được sâu xa, và ngược lại. Cần nỗ lực đáng kể mới đạt được mức cảm giác và điều hòa tinh vi nhất. Sự huấn luyện cảm giác bên trong này được gọi là công phu nội thị (Nei Shi Gongfu, 內視功夫 — cảm giác hay nhận thức bên trong). Công phu của bạn càng tinh vi, bạn càng hài hòa sâu xa với những cái khác.
Lúc ban đầu, tâm bạn tập trung vào việc điều hòa và làm cho nó xảy ra, nên nó chưa tự nhiên hay trôi chảy. Về sau nó trở thành điều mà không điều. “Điều chân chính là không điều.” Giống như học lái xe, tâm bạn để trên mặt đường và trên các tay điều khiển của xe. Đó là giai đoạn điều. Một khi bạn đã thuần thục, tâm bạn không cần phải điều nữa. Bạn lái mà như không lái, và mọi sự xảy ra tự nhiên và trôi chảy. Với năm phép điều hòa của khí công, bạn tập cho đến khi sự điều hòa trở nên không cần thiết. Bấy giờ cảm giác của bạn sâu xa, và sự điều hòa đạt được một cách tự nhiên và tự động.
Tiếp theo chúng ta sẽ bàn về năm phép điều hòa này, và tầm quan trọng của việc phối hợp chúng với nhau, trong sự liên hệ tới tĩnh tọa.
4-2 · Điều Thân (調身 — Tiao Shen)
Một tư thế căng thẳng trong tĩnh tọa ảnh hưởng tới sự tuần hoàn của khí và làm xao động tâm.
“Khi hình (tư thế) không đúng, khí sẽ không trôi chảy. Khi khí không trôi chảy, ý (Ý, trí tuệ) không an. Khi ý không an, thì khí rối loạn.”
Mục đích của Điều Thân là để:
- Tìm tư thế tự nhiên và thoải mái nhất cho tĩnh tọa. Điều này cho phép khí và hơi thở lưu thông trôi chảy, để tâm được thư giãn và tập trung vào việc nâng cao Thần.
- Tạo những điều kiện tốt nhất cho sự tự cảm nhận bên trong. Khi thân thể được điều hòa tốt, cảm giác của bạn có thể đạt tới mức sâu xa. Khi tâm và thân giao tiếp với nhau, sự phán đoán của bạn sẽ chính xác, và tâm bạn tuần hoàn khí một cách hữu hiệu.
- Phối hợp thân và tâm, dùng Ý (Ý — trí tuệ) và cảm giác đúng đắn.
Ba Giai Đoạn Thư Giãn
Thư giãn là chìa khóa chính dẫn tới thành công trong tu tập khí công. Nó mở các kinh mạch của bạn, và cho phép khí lưu thông trôi chảy và dễ dàng.
Mỗi giai đoạn có hai mặt: tinh thần và thể xác. Sự thư giãn tinh thần đi trước sự thư giãn thể xác. Có hai tâm: tâm tình (Xin, 心) và tâm trí tuệ (Yi, 意). Tâm Tình ảnh hưởng tới cảm giác và tình trạng thân thể của bạn. Ý dẫn bạn tới trạng thái an tĩnh và thanh bình, cho phép bạn thực hành sự phán đoán lành mạnh. Tâm trí tuệ của bạn phải thư giãn trước, để nó có thể kiểm soát được tâm tình và để tâm tình cũng được thư giãn. Khi tâm trí tuệ thanh bình và tâm tình phối hợp với hơi thở của bạn, thì thể xác cũng thư giãn theo.
Có ba giai đoạn thư giãn. Thứ nhất là thư giãn thể xác nông cạn (bề mặt), mà hầu hết mọi người đều có thể đạt được. Hãy chọn một tư thế thoải mái và tránh những căng thẳng không cần thiết. Bạn có thể trông có vẻ thư giãn, nhưng bên trong vẫn còn căng. Tâm bạn không cần phải đạt tới mức rất sâu để đạt được giai đoạn này.
Giai đoạn thứ hai liên quan tới việc thư giãn các bắp thịt, gân và dây chằng. Tâm tĩnh tọa của bạn cảm nhận sâu bên trong các bắp thịt, gân và dây chằng. Từ cảm giác này bạn có thể ước lượng được mức độ thư giãn của mình. Mức này mở các kinh mạch của bạn để cho phép khí tích tụ tại Chân Hạ Đan Điền.
Giai đoạn cuối cùng là sự thư giãn đạt tới các tạng phủ nội tạng, tủy xương, và từng lỗ chân lông của bạn. Tâm bạn phải đạt được sự an tĩnh và thanh bình sâu xa để cảm nhận được các tạng phủ và tủy, và để dẫn khí tới bất cứ điểm nào trong cơ thể. Bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và trong suốt, dường như thân thể bạn đã biến mất. Bạn cũng có thể dẫn khí để tăng cường Khí Vệ (Wei Qi, 衛氣 — khí bảo vệ) nhằm bảo vệ bạn khỏi những ảnh hưởng từ bên ngoài. Bạn có thể điều chỉnh khí trong các tạng phủ để điều hòa những rối loạn về khí, bảo vệ chúng và làm chậm sự thoái hóa của chúng.
Một phương diện quan trọng của sự tu tập khí công là dẫn ngũ khí trở về nguồn (Wu Qi Chao Yuan, 五氣朝元). Điều này liên quan tới việc điều chỉnh khí trong ngũ tạng (năm tạng âm), tức là phổi, tim, thận, gan và lá lách. Người ta thường có thể cảm nhận phổi dễ dàng hơn, vì chúng di động khi bạn hít vào và thở ra. Một khi bạn đã thư giãn chúng, bạn có thể cảm nhận nhịp tim của mình. Sau đó, thận có thể được cảm nhận dễ dàng hơn gan và lá lách, bởi vì chất lỏng luôn luôn lưu thông qua chúng. Gan sẽ là kế tiếp, rồi đến lá lách. Bởi vì gan lớn hơn lá lách rất nhiều, nên dễ cảm nhận sự di chuyển của máu bên trong nó hơn.
Âm Dương Trong Điều Thân
Để điều hòa thân thể tới một trạng thái mong muốn, bạn áp dụng khái niệm âm dương trong sự tu tập của mình, điều chỉnh chúng bằng cách dùng Khảm (Kan, 坎 — Thủy) và Ly (Li, 離 — Hỏa). Khi tâm bạn an tĩnh và hơi thở dài nhẵn nhụi, thân thể bạn thư giãn sâu hơn và khí có thể tuần hoàn trôi chảy. Tâm an tĩnh sâu và hơi thở dài là Khảm (Thủy), làm cho thể xác của bạn âm nhiều hơn, và thể khí của bạn dương nhiều hơn. Thể xác mát hơn, trong khi thể khí quyết đoán hơn.
Trái lại, khi bạn bị kích động, với hơi thở ngắn và nặng, thể xác của bạn cũng sẽ căng thẳng, nóng và được nạp năng lượng. Khí bị ứ trệ để nó có thể biểu hiện thành hình thể vật chất. Tâm bị kích động và hơi thở nặng là Ly (Hỏa), làm cho thể xác của bạn thuộc dương, và thể khí âm nhiều hơn. Thể xác bị kích động và sự tuần hoàn khí chậm chạp và ứ trệ. Tùy theo mục đích của bạn, bạn điều hòa thân thể mình cho phù hợp. Để làm cho thân thể dương hơn và xây dựng sức mạnh bên ngoài, hãy dùng Ly. Để hướng nội và làm cho thể khí của bạn dương hơn, hãy dùng Khảm để làm điều đó xảy ra.
Khi bạn thực hành tiểu chu thiên tĩnh tọa, vì bạn đang tập trung vào thể khí thay vì thể xác, nên hãy đưa thể xác của bạn tới trạng thái âm thư giãn tối đa để khí có thể được dẫn đi tuần hoàn trôi chảy và dồi dào.
Điều Thân Và Thần
Khi bạn tĩnh tọa, hãy thư giãn thân thể nhiều nhất có thể, để tâm bạn có thể an tĩnh, khí có thể tuần hoàn trôi chảy, và cảm giác của bạn có thể tập trung và quân bình. Hãy hài hòa tâm và thân của bạn, và xây dựng một cái rễ vững chắc. Bấy giờ thần mới có thể được nâng lên. Thư giãn thân thể là bước thứ nhất trong việc nâng cao thần.
4-3 · Điều Tức (調息 — Tiao Xi)
Một khi việc điều thân đã đạt tới giai đoạn điều mà không điều, bạn hãy tập trung vào hơi thở. Thân thể có thể được xem như một chiến trường, với khí là binh lính, tâm là vị tướng, và thần là tinh thần chiến đấu. Hơi thở được xem như sách lược. Khi các phương pháp hơi thở đúng đắn, khí được dẫn đi một cách hữu hiệu. Từ thời cổ, các phương pháp hơi thở khí công đã được nghiên cứu và thực hành, và được giữ kín bằng cách chỉ truyền miệng trong từng môn phái. Thai Tức (Tai Xi, 胎息 — hơi thở bào thai) là chìa khóa then chốt để tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田) và để tu dưỡng sự giác ngộ tâm linh. Thai Tức quan trọng đến mức trong Nội Đan khí công (Nei Dan Qigong, 內丹氣功), nó được bàn luận rất chi tiết trong cuốn sách thứ nhất của bộ sách này, Qigong Meditation—Embryonic Breathing (Khí Công Tĩnh Tọa — Thai Tức). Nó được duyệt lại ngắn gọn trong Chương 6 của cuốn sách này. Trong phần này, chúng tôi chỉ tóm lược những khái niệm tổng quát của Điều Tức, mục đích, lý thuyết và một vài kỹ thuật của nó.
Mục Đích Của Điều Tức
- Chuyển hóa dinh dưỡng, hay tinh chất thức ăn, thành khí một cách hữu hiệu. Nguồn của khí hậu thiên chủ yếu đến từ thức ăn. Theo công thức hóa sinh, chúng ta hít vào càng nhiều oxy thì phản ứng hóa sinh càng hữu hiệu, và càng nhiều năng lượng được tạo ra. Cơ thể chuyển hóa năng lượng này thành nhiệt, ánh sáng và điện sinh học (khí).
glucose + 6O2 → 6CO2 + 6H2O
ΔG° = −686 Kcal - Cải thiện sự trao đổi chất, tức hiệu suất thay thế tế bào. Khoảng một ngàn tỷ tế bào chết đi mỗi ngày trong một người khỏe mạnh. Để làm chậm tiến trình lão hóa, chúng phải được thay thế mỗi ngày, và oxy là một trong những yếu tố cần thiết cho việc đó. Thiếu nó, các tế bào mới sẽ biến dạng và không khỏe mạnh. Các tế bào chết (carbon) cũng phải được thải bỏ. Hệ hô hấp cung cấp oxy và loại bỏ các tế bào chết. Hít vào và thở ra sâu cho phép sự thay thế tế bào tiến hành trôi chảy.
- Phục vụ mục đích chiến lược của việc điều hòa âm dương. Hơi thở là một phương pháp Khảm–Ly mà nhờ đó bạn có thể điều chỉnh âm dương của cơ thể. Hít vào làm cho cơ thể âm hơn, trong khi thở ra làm cho nó dương hơn.
- Phối hợp và hài hòa thân, tâm, khí và thần. Hơi thở, như một trong năm phép điều hòa quan trọng, đóng vai trò quan trọng là phối hợp và hài hòa các phép kia. Tập trung trong một hơi hít vào sâu và thâm sâu có thể làm bạn an tĩnh và ngưng tụ thần của bạn. Tập trung trong hơi thở ra có thể nâng cao năng lượng của cơ thể, kích thích tâm và nâng thần lên. Hơi thở đúng đắn hỗ trợ việc dẫn khí một cách hữu hiệu hơn.
Hơi Thở Và Khí Công
Có Bát Mạch (Mai, 脈 — tám mạch khí), hoạt động như những hồ chứa, và Thập Nhị Kinh Chính (Jing, 經 — mười hai kinh mạch chính), hoạt động như những con sông trong cơ thể bạn. Ngoài ra, còn có hàng triệu kinh mạch nhỏ gọi là Lạc (Luo, 絡) phân nhánh từ mười hai kinh mạch ra tới bề mặt da, để tạo ra một tấm khiên của Khí Vệ (Wei Qi, 衛氣). Khí này chịu trách nhiệm về sự mọc tóc và về việc phòng ngự chống lại những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Những kinh mạch nhỏ này cũng đi vào tủy xương (Tủy Khí, Sui Qi, 髓氣) để giữ cho nó khỏe mạnh và sản xuất các tế bào máu. Chúng cũng thiết lập những lộ trình cho sự trao đổi khí và sự giao tiếp giữa các tạng phủ nội tạng.
Khí tuần hoàn tự nhiên và tự động mà không cần sự tu tập khí công. Sự tu tập khí công phối hợp tâm và hơi thở để tạo ra lực điện động, nhằm kiểm soát sự tuần hoàn của khí một cách hữu hiệu hơn. Khi người ta thở ra, người ta khuếch trương khí và dẫn nó từ các kinh mạch chính ra tới da, và cơ thể trở nên dương hơn. Khi người ta hít vào, người ta thu hút khí vào và dẫn nó từ các kinh mạch chính vào tủy xương, và cơ thể trở nên âm hơn (Hình 4-1). Khi hít vào và thở ra được quân bình, thì âm dương được quân bình.
Khi bạn già đi, hơi thở của bạn trở nên ngắn hơn, và ít khí được dẫn tới da và tủy xương hơn. Khí bị ứ trệ ở đó, và da bắt đầu nhăn nheo, trong khi tóc chuyển sang bạc hoặc rụng đi. Ít tế bào máu được sản xuất hơn, và chúng không khỏe mạnh như trước. Bởi vì chúng mang ít dinh dưỡng và oxy đi khắp cơ thể hơn, nên bạn thường hay bệnh hơn và lão hóa nhanh hơn. Chìa khóa thứ nhất của việc duy trì tuổi thanh xuân là điều hòa hơi thở để kiểm soát Khảm và Ly, và do đó kiểm soát âm dương của cơ thể bạn.
Bảng 4-1. Quy luật tổng quát của Khảm–Ly và Âm–Dương trong hơi thở
| Phương pháp Khảm–Ly | Hệ quả |
|---|---|
| Khảm — Hít vào | Âm* |
| Ly — Thở ra | Dương* |
| Khảm — Hít vào rồi nín thở | Âm |
| Ly — Thở ra rồi nín thở | Dương |
| Khảm — Hơi thở nhẹ, chậm, tĩnh và dài | Âm |
| Ly — Hơi thở nặng, nhanh và ngắn | Dương |
| Khảm — Hô hấp bụng thuận (hơi thở Phật gia) | Âm |
| Ly — Hô hấp bụng nghịch (hơi thở Đạo gia) | Dương |
*Âm và dương là tương đối, không phải tuyệt đối. Sau khi xác định một tiêu chuẩn hay mức tham chiếu, hãy so sánh chúng với nhau.
Âm*: lạnh, tĩnh, thân thể thư giãn, và thể khí được nạp năng lượng.
Dương*: nóng, kích động, thể xác căng thẳng và được nạp năng lượng.
Các Phương Pháp Hơi Thở
1. Hơi thở bình thường (Bình Thường Hô Hấp, Pin Chang Hu Xi)
Hơi thở bình thường cũng được gọi là hơi thở ngực (Hung Bộ Hô Hấp, Xiong Bu Hu Xi), trong đó hơi thở bị chi phối bởi cảm xúc. Hãy điều hòa nó bằng cách thư giãn phổi. Tập trung cho đến khi sự tu tập trở nên trung tính, tĩnh lặng và thanh bình. Hơi thở có thể dài và sâu trong khi thân thể thư giãn, và nhịp tim chậm lại. Bạn có thể thực hành ở bất cứ tư thế thoải mái nào, mười phút mỗi sáng và mỗi tối cho đến một ngày bạn nhận thấy tâm mình không cần phải chú ý tới lồng ngực nữa. Bấy giờ hãy tập trung vào việc cảm nhận kết quả của sự tu tập. Khi bạn thở ra, bạn cảm thấy các lỗ chân lông mở ra, và khi bạn hít vào, các lỗ chân lông khép lại. Dường như tất cả các lỗ chân lông đều đang thở cùng với bạn. Đây là một mức thấp của hơi thở da hay hơi thở toàn thân. Cảm giác này rất thoải mái. Khi bạn có thể làm điều này một cách thoải mái và tự động, bạn đã điều hòa được hơi thở ngực của mình.
Bạn nên thực hành cho đến khi đạt mức điều mà không điều (Vô Điều Nhi Điều, Wu Tiao Er Tiao), được gọi là “sự điều hòa chân thực”. Bấy giờ bạn sẽ thực hành mọi lúc, vì bạn đã xây dựng được một thói quen tự nhiên cho hơi thở của mình. Sự tu tập khí công mạnh mẽ nhất là sự tu tập mà bạn đã hội nhập vào lối sống của mình, kể cả hành vi hô hấp của bạn.
Bạn nên thực hành cho đến khi đạt mức “điều mà không điều” (Vô Điều Nhi Điều) — “điều chân chính là không điều”.
2. Hô hấp bụng thuận (Chính Phúc Hô Hấp, Zheng Fu Hu Xi)
Hô hấp bụng thuận được gọi là hơi thở Phật gia (Phật Gia Hô Hấp, Fo Jia Hu Xi). Hãy kiểm soát các bắp thịt vùng bụng và phối hợp chúng với hơi thở. Khi bạn hít vào, bụng phình ra, và khi bạn thở ra, bụng thụt vào. Thực hành cho đến khi tiến trình trở nên trôi chảy, với thân thể thư giãn. Ban đầu hãy tập trung vào vùng bụng để kiểm soát các bắp thịt bụng. Về sau tiến trình trở nên tự nhiên và trôi chảy, và bạn đã sẵn sàng để xây dựng khí tại Giả Hạ Đan Điền (Jia Xia Dan Tian, 假下丹田 — Khí Hải, Qihai, Co-6).
Rồi hãy phối hợp hơi thở của bạn với sự di chuyển của Hội Âm (Huiyin, 會陰 — Co-1, đáy chậu). Khi bạn hít vào, hãy nhẹ nhàng đẩy Hội Âm xuống, và khi bạn thở ra, hãy nâng nó lên (Hình 4-2). Bạn nhẹ nhàng nâng Hội Âm lên mà không căng thẳng, và nó vẫn được thư giãn. Sự căng thẳng cản trở sự tuần hoàn khí và gây ra sự căng cứng trong vùng bụng, điều này có thể sinh ra những vấn đề khác. Ban đầu, hãy dùng tâm để kiểm soát các bắp thịt của bụng và đáy chậu. Về sau, tâm bạn không cần phải ở đó để làm cho điều đó xảy ra, và bạn điều mà không điều. Bạn cảm thấy một cảm giác thoải mái tuyệt diệu tại Hội Âm, và khí được dẫn ra da mạnh hơn so với khi bạn làm “hơi thở ngực”. Nó sẽ cho cảm giác dường như toàn thân bạn đang thở cùng với bạn.
Bảng 4-2. Hô hấp bụng thuận
| Trạng thái cơ thể | Hơi thở |
|---|---|
| Trung tính (hít vào và thở ra bằng nhau) | Âm — Hít vào (Bụng phình, Hội Âm đẩy ra nhẹ nhàng) Dương — Thở ra (Bụng thụt, Hội Âm nâng lên nhẹ nhàng) |
| Âm | — Hít vào dài hơn (Bụng phình, Hội Âm đẩy ra nhẹ nhàng) — Thở ra (Bụng thụt, Hội Âm thư giãn) |
| Dương | — Hít vào (Bụng phình, Hội Âm đẩy ra nhẹ nhàng) — Thở ra dài hơn (Bụng thụt, Hội Âm nâng lên mạnh) |
3. Hô hấp bụng nghịch (Phản Phúc Hô Hấp, Ni Phúc Hô Hấp, Fan Fu Hu Xi)
Hô hấp bụng nghịch được gọi là hơi thở Đạo gia (Đạo Gia Hô Hấp, Dao Jia Hu Xi), mà bạn bắt đầu huấn luyện một khi đã thấu triệt hơi thở Phật gia. Nó được gọi là hô hấp bụng nghịch vì sự di chuyển của vùng bụng ngược lại với hơi thở Phật gia. Bụng thụt vào khi bạn hít vào và phình ra khi bạn thở ra (Hình 4-3). Hơi thở Phật gia thư giãn hơn, trái với hơi thở Đạo gia, vốn quyết liệt hơn. Hơi thở Đạo gia làm cho cơ thể dương hơn, trong khi hơi thở Phật gia làm cho nó âm hơn.
Nhiều người lầm tưởng rằng hơi thở nghịch đi ngược lại với Đạo, hay con đường của tự nhiên. Điều này không đúng. Nó đơn giản chỉ được dùng cho những mục đích khác nhau. Nếu bạn quan sát các kiểu mẫu hô hấp của mình, bạn sẽ thấy chúng ta dùng hơi thở nghịch trong hai loại tình huống.
Thứ nhất, khi bị xao động về tình cảm, chúng ta thường dùng hơi thở nghịch. Khi bạn cười, bạn phát ra âm thanh “Ha” (哈), dùng hơi thở nghịch. Bụng của bạn phình ra, hơi thở ra dài hơn hơi hít vào, Khí Vệ (Wei Qi) khuếch trương, và bạn thấy nóng. Đó là cách tự nhiên để giải phóng năng lượng dư thừa từ sự kích động hay hạnh phúc. Khi bạn khóc, bạn phát ra âm thanh “Hen” (哼) trong khi hít vào, bụng bạn thụt vào, và hơi hít vào dài hơn hơi thở ra. Khí Vệ co lại và bạn thấy lạnh. Đó là cách tự nhiên để ngăn ngừa sự thất thoát năng lượng từ bên trong cơ thể. Khi bạn buồn, thần và năng lượng của cơ thể bạn đều thấp.
Trường hợp thứ hai mà chúng ta dùng hơi thở nghịch là để nạp năng lượng cho cơ thể, như khi đẩy hay nâng một vật nặng. Bạn hít vào sâu để thu nhận nhiều oxy hơn rồi thở ra trong khi đẩy vật đó, đó chính là hơi thở nghịch. Khi chúng ta bị xao động về tình cảm hoặc có những ý muốn quyết liệt hay mạnh mẽ, chúng ta dùng hơi thở nghịch một cách tự nhiên.
Với sự thực hành, bạn có thể dẫn khí ra da hữu hiệu hơn so với hơi thở Phật gia. Bạn cũng có thể dẫn nó vào tủy xương để tăng cường tủy khí (Tủy Khí, Sui Qi). Hãy so sánh Hô hấp bụng thuận với Hô hấp bụng nghịch để thấy khí được dẫn đi như thế nào trong hai chiến lược hô hấp khác nhau này.
Trong Hô hấp bụng thuận, khí tuần hoàn chủ yếu trong các kinh mạch chính (Kinh, Jing), nối kết các tạng phủ nội tạng với các chi. Một phần cũng lan ra qua các kinh mạch phụ (Lạc, Luo) để tới da và tủy xương (Hình 4-4). Vì phần lớn khí còn ở lại trong các kinh mạch chính, nên cơ thể không được nạp năng lượng và vẫn thư giãn, cho phép một trạng thái thư giãn sâu. Hô hấp bụng thuận (Khảm) làm cho cơ thể âm, trong khi Hô hấp bụng nghịch (Ly) làm cho nó dương.
Trong Hô hấp bụng nghịch, phần lớn khí được dẫn đi ngang qua các kinh Lạc tới da và tủy xương, trong khi rất ít tuần hoàn trong các kinh mạch chính (Hình 4-5). Hơi thở da (Thể Tức, Phúc Tức, Ti Xi, Fu Xi) và hơi thở tủy (Tủy Tức, Sui Xi) có thể đạt được một cách quyết liệt hơn thông qua Hô hấp bụng nghịch.
Bảng 4-3. Hô hấp bụng nghịch
(Tình cảm bất an, tâm có ý hướng âm hay dương)
| Trạng thái cơ thể | Hơi thở |
|---|---|
| Trung tính* | Âm — Hít vào (Bụng thụt, Hội Âm nâng lên nhẹ nhàng) Dương — Thở ra (Bụng phình, Hội Âm đẩy ra nhẹ nhàng) *Hít vào và thở ra bằng nhau. |
| Âm | — Hít vào Dài hơn (Bụng thụt, Hội Âm nâng lên vững) — Thở ra (Bụng phình, Hội Âm thư giãn) *Âm thanh Hen có thể tăng cường phần âm của cơ thể. |
| Dương | — Hít vào (Bụng thụt, Hội Âm nâng lên nhẹ nhàng) — Thở ra (Bụng phình, Hội Âm đẩy ra vững) *Âm thanh Ha có thể tăng cường phần dương của cơ thể. |
Trong Hô hấp bụng nghịch, khi bạn hít vào, bạn thụt bụng lại và nâng Hội Âm lên, trong khi đẩy cơ hoành xuống dưới. Sự căng thẳng phát sinh tại vùng dạ dày có thể gây đau, giống như khi bạn cười lớn tiếng hay khóc. Vì vậy trước khi thực hành nó, trước tiên hãy tập Hô hấp bụng thuận một thời gian để thư giãn và kiểm soát các bắp thịt vùng bụng. Hãy dùng những động tác nhỏ lúc ban đầu, trước khi tăng quy mô của sự di chuyển vùng bụng.
4. Thai Tức (Tai Xi, 胎息 — Hơi thở bào thai)
Thai Tức luôn luôn là một đề tài đồ sộ trong sự tu tập Nội Đan khí công. Đó là phương pháp hơi thở cho phép bạn tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田) và nạp điện cho bình điện sinh học của bạn lên một mức cao. Sinh lực của bạn được nâng lên, hệ miễn dịch được tăng cường, và cơ thể được tái điều kiện. Quan trọng hơn, một khi khí đã được tích trữ dồi dào, bạn có thể dẫn nó đi lên qua tủy sống (Xung Mạch, Chong Mai, 衝脈) để nuôi dưỡng não bộ và nâng cao thần. Đây là chìa khóa then chốt của sự giác ngộ tâm linh. Thai Tức cũng là yếu tố then chốt trong hơi thở da và hơi thở tủy, vốn liên hệ mật thiết với hệ miễn dịch và tuổi thọ của chúng ta.
Vì Thai Tức cũng thiết yếu cho Tiểu Chu Thiên, nên chúng tôi bàn riêng về nó trong Chương 6, cùng với hơi thở da và hơi thở tủy. Một lần nữa, để biết thêm chi tiết, xin tham khảo cuốn sách trước, Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
5. Hơi thở da–tủy (Phúc Tủy Tức, Fu Sui Xi)
Hơi thở da (Phúc Tức, Fu Xi) đôi khi được gọi là hơi thở toàn thân (Thể Tức, Ti Xi). Thật ra, hơi thở toàn thân liên quan tới việc thở bằng toàn bộ cơ thể, chứ không chỉ bằng da. Khi bạn thở ra, bạn dẫn khí tới các bắp thịt và da, và khi bạn hít vào, bạn dẫn khí tới tủy và các tạng phủ nội tạng. Bạn cảm thấy toàn thân mình trong suốt đối với khí, dường như nó đã biến mất. Hơi thở da–tủy liên hệ mật thiết với Thai Tức. Khi khí được dẫn tới Chân Hạ Đan Điền, bạn cũng đang dẫn nó tới tủy xương, và khi nó được dẫn tới Đới Mạch (Dai Mai, 帶脈), bạn cũng đang dẫn nó ra da.
6. Hơi thở Ngũ Môn (Ngũ Tâm Hô Hấp, Wu Xin Hu Xi)
Năm cửa là: đầu (Thượng Đan Điền và Bách Hội, Baihui, 百會 — Gv-20), hai huyệt Lao Cung (Laogong, 勞宮 — P-8) trên hai lòng bàn tay, và hai huyệt Dũng Tuyền (Yongquan, 湧泉 — K-1) trên hai lòng bàn chân (Hình 4-6 tới 4-8). Người mới bắt đầu dùng cửa Bách Hội ở đỉnh đầu, bởi vì ở đó dễ giao tiếp với thiên khí hơn. Về sau, con mắt thứ ba (Thiên Nhãn, Tian Yan, 天眼) được dùng thay vào đó.
Sau khi đã xây dựng khí tại Chân Hạ Đan Điền, bạn hài hòa hơi thở của mình và dẫn khí tới các huyệt Dũng Tuyền. Đối với hơi thở Dũng Tuyền (Dũng Tuyền Hô Hấp, Yongquan Hu Xi), bạn có thể dùng bất cứ tư thế nào, thậm chí nằm xuống và dùng Hô hấp bụng thuận. Hít vào, dẫn khí từ Dũng Tuyền tới Chân Hạ Đan Điền, và thở ra, dẫn nó trở lại Dũng Tuyền (Hình 4-9). Khi bạn hít vào, bụng và Hội Âm (Co-1) phình ra, và khi bạn thở ra, chúng thụt vào. Mặc dù có sự tham gia của tâm, nó không quyết liệt dẫn khí, và sự thư giãn là tối quan trọng.
Để dẫn khí tới Dũng Tuyền một cách quyết liệt, Hô hấp bụng nghịch hữu hiệu hơn, và tư thế tốt nhất là đứng. Hít vào, dẫn khí từ các huyệt Dũng Tuyền tới Chân Hạ Đan Điền, và khi bạn thở ra, tâm bạn dẫn khí trở lại Dũng Tuyền, trong khi bạn hơi khuỵu người xuống và tưởng tượng đang đẩy bàn chân mình xuống đất (Hình 4-10). Khi bạn hít vào, bụng thụt vào trong khi Hội Âm được nâng lên, và khi bạn thở ra, chúng phình ra.
Hơi thở huyệt Dũng Tuyền cũng được gọi là hơi thở lòng bàn chân (Chung Tức, Zhong Xi), được học giả Đạo gia nổi tiếng Trang Tử (Zhuang Zi) mô tả trong thời Chiến Quốc của Trung Hoa (403–222 trước Công nguyên). Ngài nói: “Hơi thở của những chân nhân (Chân Nhân, Zhen Ren — những người Đạo giáo) thời xưa thì sâu và thâm. Họ dùng lòng bàn chân để thở, trong khi kẻ phàm tục dùng cổ họng.” Vì vậy hơi thở Dũng Tuyền đã được tu tập hơn hai ngàn năm. Đối với y liệu khí công, hơi thở Dũng Tuyền là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để điều hòa khí bất thường trong ba tạng âm, đó là gan, thận và lá lách.
Với hơi thở Dũng Tuyền đã được thiết lập vững chắc, và đã đạt tới sự điều hòa chân thực của không điều, hãy thêm vào hơi thở Lao Cung ở trung tâm hai lòng bàn tay của bạn. Hai cửa này điều hòa tim và phổi. Dùng hoặc Hô hấp bụng thuận hoặc Hô hấp bụng nghịch. Hít vào, dẫn khí từ bốn cửa tới Chân Hạ Đan Điền, và thở ra, dẫn nó trở lại (Hình 4-11).
Hơi thở bốn cửa là một phương pháp thông thường của Đại Chu Thiên (Da Zhou Tian, 大周天). Một khi bạn đạt tới mức thâm sâu, hãy thêm cửa thứ năm, điều này nâng sự tu tập lên thành Thần Tức (Shen Xi, 神息 — hơi thở thần).
7. Thần Tức (Shen Xi, 神息 — Hơi thở thần)
Thần Tức cũng được gọi là hơi thở cửa thứ năm (Đệ Ngũ Tâm Hô Hấp, Di Wu Xin Hu Xi), hơi thở Bách Hội (Bách Hội Hô Hấp, Baihui Hu Xi), hay hơi thở Thượng Đan Điền (Thượng Đan Điền Hô Hấp, Shang Dan Tian Hu Xi). Nó có nghĩa là thở qua con mắt thứ ba, và là điều then chốt trong việc mở con mắt thứ ba để đạt giác ngộ.
Đạt tới mức hơi thở thần đòi hỏi trước tiên bạn đã điều hòa được thân, hơi thở, tâm và khí, và giờ đây là thần. Sự tu tập khí công của bạn và cuộc tìm kiếm giác ngộ tâm linh đã đạt tới giai đoạn cuối cùng và đang tiến tới chỗ thành thục. Theo Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý (The Complete Book of Principal Contents of Life and Human Nature): “Thế nào là thần tức? Nghĩa là sự thành thục của công phu tu dưỡng.” Nghĩa là sự tu dưỡng sự tương tác của Khảm và Ly đã đạt tới giai đoạn điều mà không điều, và mọi sự tu dưỡng đều đã trở thành tự nhiên. Chúng tôi sẽ bàn thêm về đề tài này trong những cuốn sách sắp tới về các đề tài Khí Công Tĩnh Tọa và Giác Ngộ Tâm Linh.
Có một vài phương pháp hơi thở khác được tu tập trong Đạo gia khí công như hơi thở rùa (Quy Tức, Gui Xi) và hơi thở đông miên (Đông Miên Tức, Dong Mian Xi). Vì chúng không liên quan tới Tiểu Chu Thiên, và tôi không có sự hiểu biết sâu xa về sự thực hành của chúng, nên chúng không được bàn ở đây.
Mục Tiêu Tối Hậu Của Điều Tức
Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý nói: “Điều hòa hơi thở, bạn phải điều cho đến khi sự điều hòa chân thực chấm dứt. Tu luyện thần, bạn phải luyện cho đến cái thần của sự không có thần.” Hãy thực hành Thai Tức cho đến khi bạn đạt được điều mà không điều. Cũng vậy trong việc tu dưỡng thần của bạn. Trước tiên hãy nhắm tới sự trung tính tâm linh và giác ngộ. Sau đó, không cần thêm sự giác ngộ nào nữa. Chính Lý Thành Tiên, Trực Luận Phục Khí (The Correct Theory of Becoming a Heavenly Fairy, A Frank Discussion of Taming the Breathing) nói: “Khi người xưa nói về cách điều hòa hơi thở, đó là tuân theo quy luật của sự đi tới đi lui (tuần hoàn) của tự nhiên mà không cố chấp giữ lấy hình tướng của sự đi tới đi lui. Điều này có nghĩa là phù hợp với hơi thở như thể không có hơi thở.” Mục tiêu của việc điều hòa hơi thở là tuân theo tự nhiên mà không ứ trệ và thực hành cho đến khi sự điều hòa trở nên không cần thiết.
Một Số Tài Liệu Cổ Về Điều Tức
1. Câu hỏi của một vị khách Phật giáo về lắng nghe trái tim
Mở rộng cái bễ (ống thổi lửa) nghĩa là điều hòa hơi thở chân thực. Khi thở ra, không khí đi ra, và khi hít vào, không khí đi vào. Khi đi ra, thì nó giống như khí của đất đi lên, và khi đi vào, nó giống như khí của trời đi xuống. Hơi thở này cũng giống như trời và đất. Chẳng phải khoảng không gian giữa trời và đất cũng giống như cái bễ thổi gió sao?
Thác Dược (Tuo Yue, 橐籥) nghĩa là cái bễ, dùng để trợ giúp sự lưu thông không khí. Chúng ta biết rằng hơi thở là một sách lược trong tu tập khí công, có khả năng làm cho khí tuần hoàn trôi chảy trong cơ thể. Phổi là cái bễ của không khí, trong khi Hạ Đan Điền là cái bễ của khí. Khi phổi thu nhận không khí, khí chìm xuống Hạ Đan Điền như khí đi xuống trong tự nhiên. Khi không khí bị phổi đẩy ra, khí ở Hạ Đan Điền đi lên qua cơ thể như khí đi lên trong tự nhiên. Thân thể con người là một tiểu vũ trụ của trời và đất. Chìa khóa tế nhị để thu nhận không khí và đẩy nó ra là cái mũi, trong khi pít-tông của cái bễ khí ở Hạ Đan Điền là tại Hội Âm (Co-1, đáy chậu). Một khi bạn điều hòa hơi thở của mình cho tới tự nhiên (điều mà không điều), nó được gọi là Chân Tức (Zhen Xi, 真息 — hơi thở chân thực).
2. Một bài luận về điều hòa hơi thở
(Toàn Thư Chu Tử, Chu-tzu; đời Tống)
Đầu mũi có màu trắng, tôi luôn luôn và ở mọi nơi quan sát nó. Hãy để cho nó mềm, nhẹ và nhu. Khi sự tĩnh lặng tột cùng đã đạt được, nó xì xầm như con cá mùa xuân trong ao. Khi hành động đã đạt tới chỗ tột cùng, nó được hài hòa như sự ngủ đông của trăm loài côn trùng. Mở và đóng một cách hài hòa, và sự kỳ diệu của nó thì vô hạn. Cái gì khác có thể làm chủ? Nó đạt được bằng cách không làm chủ. Những đám mây trên trời và trời xoay vần như nó vốn thế. Ai dám chất vấn điều đó? Giữ ở một chỗ một cách hài hòa. Bấy giờ, có thể sống một ngàn hai trăm năm.
Màu trắng ở đầu mũi nghĩa là không khí. Hãy điều hòa hơi thở cho đến khi nó mềm, nhẹ và nhu. Khi tôi cực kỳ tĩnh lặng, hít vào sâu, rồi tôi thở ra như con cá trong mùa xuân. Khi tôi cực kỳ hoạt động, thở ra hữu hiệu, rồi tôi giữ nó lại một cách tĩnh lặng và hài hòa như sự ngủ đông của loài côn trùng. Thở một cách hài hòa như thế này, cái gì khác có thể sánh được? Thành công tùy thuộc vào việc điều mà không điều. Bấy giờ nó giống như những đám mây trên trời, và tự nhiên lặp lại những chu kỳ của nó; ai khác dám tranh với bạn? Hãy giữ tâm tại Chân Hạ Đan Điền một cách hài hòa, và bạn có thể sống tới một ngàn hai trăm tuổi.
Để đạt được trường thọ, thứ nhất, hãy điều hòa hơi thở của bạn cho đến khi không cần điều hòa nữa. Thứ hai, hãy giữ khí tại nơi cư trú của nó là Chân Hạ Đan Điền. Đó là Thai Tức (Tai Xi).
3. Điều hòa hơi thở
(Nguyên Chân Bất Dược Dụng — Original Truth of Using No Herbs; đời Thanh)
Điều hòa hơi thở đã được ba nhóm nghiên cứu kỹ lưỡng: Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Dựa vào đó mà đạt được thành tựu lớn, người ta có thể nhập Đạo, và đạt được thành tựu nhỏ thì giữ gìn sức khỏe. Các tài liệu Phạn ngữ từ Ấn Độ dạy nhìn vào đầu mũi, đếm các hơi thở vào và ra ở bên trong. Đây là sự tu tập ban đầu của Chỉ Quán (Zhi Guan, 止觀 — thu hút các đối tượng thị giác). Trang Tử trong sách Nam Hoa Kinh của ông nói: “Một vị thánh thở bằng lòng bàn chân.” Kinh Dịch (Yi Jing, The Book of Changes) giải thích trong quẻ của nó: “Khi trời tối, quân tử nhập vào Yến Tức (Yan Xi, 燕息 — tĩnh tọa hay hô hấp thâm sâu).” Vương Long Khê (Wang, Long-Xi) nói: “Các vị thánh nhân thời xưa có hơi thở sâu mà không ngủ. Vì vậy người ta nói, khi trời tối, hãy nhập vào Yến Tức.” Phương pháp của Yến Tức là, khi trời đang tối dần, tai không nghe, mắt không thấy, tứ chi không di động, và tim không có ý nghĩ hay lo âu. Nó giống như một mầm lửa. Tiên Thiên Nguyên Thần và Nguyên Khí tụ tập để nuôi dưỡng lẫn nhau. Chân ý mềm như bông, mở và đóng một cách tự nhiên. Cái tự thể tồn tại trong cùng một thân (không gian hay chiều kích) với sự trống không vô thể chất, nên nó có thể sống lâu như sự trống không ấy. Những người thế tục (phàm nhân) thì bị quấy rầy bởi sự quản lý việc hằng ngày, thần bị trói buộc và mệt mỏi. Họ trông cậy vào giấc ngủ một đêm để dùng ban ngày. Một điểm sáng tâm linh (cái thể tâm linh tiềm thức tự ngã) bị bao phủ hoàn toàn bởi Hậu Thiên ô trọc chi khí. Đó là, dương rơi vào âm.
Những kỹ thuật khí công của việc điều hòa hơi thở đã được nghiên cứu và thực hành trong ba trường phái triết học lớn, đó là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Nếu bạn thực hành hơi thở đúng đắn, bạn đạt được sức khỏe tốt và trường thọ. Trong các cộng đồng Phật giáo và Đạo giáo, qua sự thực hành hơi thở đúng đắn, khí được tích trữ và dẫn lên não để nuôi dưỡng Thần (神) hầu đạt giác ngộ. Nhập Đạo (Ru Dao) nghĩa là bước vào con đường tìm kiếm chân lý. Những người Đạo giáo liễu ngộ chân lý của tự nhiên được gọi là Chân Nhân (Zhen Ren, 真人).
Điều hòa hơi thở trong cộng đồng Phật giáo được xem là then chốt đối với việc điều hòa tâm. Để ngăn tâm khỏi sự phân tán liên tục và đi lang thang trong tĩnh tọa, hãy tập trung vào hơi thở của bạn (nhìn đầu mũi, Nhãn Quan Tỵ, Yan Guan Bi) và đếm các hơi thở. Làm cho hơi thở sâu hơn và tĩnh hơn. Từ từ, những ý nghĩ nối kết với môi trường chung quanh và với quá khứ, hiện tại, vị lai bị chặn đứng. Trong Phật giáo tĩnh tọa, điều này được gọi là Chỉ Quán (Zhi Guan). “Dùng mắt nhìn đầu mũi” không có nghĩa là dùng mắt vật lý nhìn vào mũi. Nó đơn giản có nghĩa là thu tóm sự chú ý của bạn và tập trung vào hơi thở của bạn.
Như Trang Tử đã nói, “Một vị thánh thở bằng lòng bàn chân,” tức là hơi thở Hai Cửa qua các huyệt Dũng Tuyền (K-1). Về sau nó phát triển thành hơi thở Bốn Cửa, và cuối cùng đạt tới sự thực hành hơi thở Ngũ Môn (Ngũ Tâm Hô Hấp, Wu Xin Hu Xi). Kinh Dịch nói: “Khi trời tối, quân tử nhập vào Yến Tức (hô hấp thâm sâu tĩnh tọa).” Thời điểm tốt nhất để điều hòa hơi thở là sau khi mặt trời lặn. Bấy giờ tự nhiên và cơ thể chuyển từ dương sang âm. Nếu bạn thực hành điều hòa hơi thở vào lúc này, bạn có thể dễ dàng làm cho thân và tâm an tĩnh để đạt tới một mức tĩnh tọa thâm sâu. Điều này cũng được Đạo sĩ Vương Long Khê nhắc tới. Ông ngụ ý rằng các thánh nhân thời xưa, nhờ điều hòa hơi thở, không cần ngủ nhiều, vì họ đạt được một mức nghỉ ngơi sâu từ tĩnh tọa.
Cách thức của Yến Tức là, sau khi mặt trời lặn, đóng tai lại đối với những tiếng ồn chung quanh bạn. Khép một phần đôi mắt lại để chặn thị giác và tăng cường cảm giác của bạn. Giữ cho cơ thể cực kỳ tĩnh lặng và thư giãn. Tâm không nên có lo âu hay bận tâm. Nó giống như một mầm lửa nhỏ, chút dương trong âm, trong bóng tối. Tâm âm tiềm thức thức tỉnh trong khi tâm dương ý thức thì tĩnh lặng. Nguyên Thần (Yuan Shen, 元神) được nâng lên và hài hòa với Nguyên Khí (Yuan Qi, 元氣). Trong trạng thái tĩnh tọa thâm sâu này, thần của bạn hợp nhất với thiên thần. Người bình thường phải trông cậy vào giấc ngủ ban đêm để khắc phục sự mệt mỏi. Ngay cả trong lúc ngủ, tâm của họ bị xáo trộn bởi những giấc mơ phát sinh từ tình cảm và dục vọng, nên tâm và thân thoái hóa nhanh chóng. Theo cách này, dương rơi vào âm.
4. Phương pháp điều hòa hơi thở
(Nguyên Chân Bất Dược Dụng; đời Thanh)
Phương pháp điều hòa hơi thở là, đừng bị hạn chế bởi thời gian, hãy ngồi bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào bạn muốn. Thân thể quân bình và ngay thẳng, hãy để cho nó thoải mái và tự nhiên. Đừng nghiêng và cúi về phía trước. Nới lỏng y phục và nới lỏng dây lưng để điều hòa thân thể cho đúng cách. Xoay lưỡi trong miệng vài lần. Nhẹ nhàng và chậm chạp thở không khí ô trọc ra, rồi nhẹ nhàng và chậm chạp hít vào qua mũi. Lặp lại điều này, và khi nước bọt được sinh ra, hãy nuốt nó. Sau khi nghiến răng vài lần, lưỡi chạm vào vòm miệng. Môi và răng khép lại, và mắt khép lại như trăng non. Rồi dần dần bắt đầu điều hòa hơi thở. Đừng thở hổn hển và đừng thô. Hoặc đếm hơi thở ra hoặc hơi hít vào, từ một tới mười, từ mười tới một trăm. Kềm chế tâm trong việc đếm và đừng để rối loạn. Nếu tâm và hơi thở hài hòa, và những ý nghĩ ngẫu nhiên không còn sinh ra nữa, hãy ngưng đếm và để cho nó tự nhiên. Bạn ngồi được càng lâu càng kỳ diệu. Khi bạn đứng dậy, hãy chậm rãi và thoải mái duỗi tay và chân ra, đừng đột ngột. Nếu bạn thực hành điều này một cách thông minh, những cảnh tượng kỳ lạ sẽ xuất hiện trong sự tĩnh lặng. Điều này có thể hướng dẫn bạn tới chỗ khai mở tâm trí và liễu ngộ Đạo. Nó không chỉ để giữ gìn sức khỏe và kéo dài sự sống.
Từ cùng một nguồn như đoạn trước, đoạn này mô tả việc điều hòa hơi thở. Có nhiều phương pháp, dù các nguyên lý và lý thuyết vẫn như nhau. Điều quan trọng là giữ cho thân thể thư giãn (điều thân), giữ cho tâm tĩnh lặng (điều tâm), và thở nhẹ nhàng, sâu và tự nhiên (điều tức). Để điều hòa hơi thở của bạn tới một mức thâm sâu, bạn cũng phải điều hòa thân và tâm của mình. Chúng phải hài hòa và phối hợp với nhau. Chìa khóa của việc điều hòa hơi thở không phải là nín thở, mà là điều hòa nó, cho đến khi nó có thể tự nhiên, trôi chảy và mảnh mai.
5. Bốn dáng vẻ của việc điều hòa hơi thở
(Nguyên Chân Bất Dược Dụng; đời Thanh)
Có bốn dáng vẻ trong việc điều hòa hơi thở. Những người khi họ thở, có tiếng động, được xếp loại là hơi thở gió. Nếu gió tiếp diễn, thì khí và tâm bị tản mạn. Những người khi họ thở, không có tiếng nhưng mũi bị tắc, được xếp loại là hơi thở hổn hển. Nếu sự hổn hển tiếp diễn, thì khí và tâm bị ứ trệ. Những người khi họ thở, không có tiếng và không ứ trệ nhưng sự đi tới đi lui có hình tướng, được xếp loại là hơi thở khí. Nếu tâm tập trung vào khí, thì nó bị mệt mỏi. Những người khi họ thở, không có tiếng cũng không ứ trệ, không khí đi ra và đi vào một cách nhẹ nhàng, như thể nó có tồn tại và như thể nó không tồn tại. Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau. Đây là sự điều hòa chân thực của hơi thở. Khi hơi thở thực sự được điều hòa, thì tâm vững vàng, và chân khí có thể tuần hoàn tự nhiên. Điều này cho phép bạn nắm bắt được những biến hóa. Mỗi hơi thở trở về nguồn của nó. Đây là gốc rễ của sự sống.
Đoạn này giải thích làm thế nào, từ dáng vẻ của một người tĩnh tọa, chúng ta có thể biết hơi thở của người ấy đúng đắn đến mức nào. Những người thở nặng nề gây ra tiếng động, cho thấy khí bị tản mạn. Những người thở không trôi chảy và không đều đặn, sự tuần hoàn khí của họ bị ứ trệ. Những người chú ý quá nhiều tới hơi thở của mình thì bị mệt mỏi. Chỉ nơi những người có hơi thở nhẹ nhàng, mảnh mai, đều đặn, sâu, tự nhiên và trôi chảy, thì thần của họ mới được hài hòa thanh bình với sự tuần hoàn khí. Nguyên Thần thức tỉnh, cho phép bạn trở về nguồn của sự sống mình.
6. Mười sáu chữ bí yếu trường thọ của Lý Chân Nhân (Li Zhen Ren)
(Bát Ký Trường Thọ — Eight Notes on Longevity; đời Minh)
Một khi hít vào, lập tức nâng lên (đáy chậu) để đưa khí trở về rốn (Hạ Đan Điền). Một khi nâng lên, lập tức nuốt nước bọt, để cho thủy và hỏa hòa quyện.
Khảm (坎) nghĩa là thủy khí được sản sinh từ Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精), trong khi Ly (離) nghĩa là hỏa khí được phát sinh từ Hậu Thiên Tinh, tức là thức ăn và không khí. Khi hai thứ này hòa quyện, Thần có thể được nâng lên một mức cao hơn.
Những lời này tiết lộ bí mật về cách làm cho hỏa khí và thủy khí hòa quyện và tương tác với nhau. Bí mật này nằm tại Hội Âm (Co-1), hay đáy chậu. Khi bạn hít vào, hãy nhẹ nhàng nâng đáy chậu của bạn lên, và dẫn khí tới Hạ Đan Điền. Ngay sau khi hít vào, hãy nuốt nước bọt để dẫn khí đi xuống Hạ Đan Điền. Hô hấp bụng nghịch nên được dùng cho sự thực hành này.
Những tài liệu trên cung ứng cho bạn một vài tài liệu tham khảo. Trong Chương 6, chúng tôi bàn luận chi tiết hơn về các kỹ thuật hơi thở, đặc biệt là Thai Tức (Tai Xi).
4-4 · Điều Tâm (調心 — Tiao Xin)
Hãy điều hòa tâm tình (Tâm, Xin, 心) cho đến khi nó nằm dưới sự kiểm soát. Đây là đề tài khó huấn luyện nhất trong Nội Đan khí công. Nó bắt tâm của bạn phải đối phó với chính nó, và vì mỗi người có cách suy nghĩ riêng của mình, nên nó cũng là đề tài khó giải thích nhất.
Các phương pháp điều hòa tâm đã được nghiên cứu rộng rãi, thảo luận và thực hành trong mọi cộng đồng khí công Trung Hoa, bao gồm các nhóm học giả, y học, tôn giáo và võ thuật. Trước tiên chúng ta định nghĩa tâm và rồi đến các mục đích của việc điều hòa nó. Chúng tôi bàn về quan điểm của Phật giáo và Đạo giáo, và cuối cùng chúng tôi phân tích các phương pháp thực hành.
Hai Tâm: Tâm và Ý
Xã hội Trung Hoa mô tả hai tâm. Tâm (心), tâm tình (trái tim), là dương, làm cho bạn bối rối, tản mạn, chán nản hay kích động. Ý (意), tâm kia (ý chí), liên quan tới tư duy lý tính và lô-gích. Nó là âm, làm cho bạn tĩnh lặng, tập trung, và có khả năng cảm nhận và suy ngẫm sâu xa. Chữ Ý (意) gồm ba chữ. Chữ Lập (立) ở trên nghĩa là thiết lập, chữ Viết (曰) ở giữa nghĩa là nói, và chữ Tâm (心) ở dưới nghĩa là trái tim. Vậy Ý nghĩa là thiết lập sự giao tiếp trong khi tâm tình nằm dưới sự kiểm soát.
Tâm và Ý được điều khiển bởi những phần khác nhau của não bộ. Chụp cộng hưởng từ (MRI) đã xác định rằng vỏ não trước trán kiểm soát lô-gích và sự phán đoán, trong khi hệ viền gần trung tâm não bộ chi phối tư duy tình cảm. Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Não bộ và Khoa học Thông tin tại Đại học Radford ở Virginia, vỏ não trước trán kiểm soát các chức năng điều hành, và là chỗ ngự của văn minh.
Vào tuổi hai mươi, hệ viền đã hoạt động đầy đủ, trong khi vỏ não trước trán vẫn còn đang được hình thành. Ở người lớn, những đáp ứng tình cảm được điều hòa bởi vỏ não trước trán, phần não nằm ngay sau trán, hoạt động như một viên cảnh sát giao thông tinh thần, theo dõi nhiều phần khác của não bộ, kể cả hệ viền.
Cái Ý do vỏ não trước trán tạo ra quyết định tư duy và phán đoán sáng suốt, rõ ràng, cùng hành vi tĩnh lặng, lô-gích, trong khi cái Tâm từ hệ viền dẫn tới sự bối rối và hành vi tình cảm. Chìa khóa để làm cho vỏ não trước trán thành thục sớm hơn và nhanh hơn bình thường là sử dụng nó càng sớm càng tốt. Học toán học, vật lý học, triết học, hay nghe nhạc cổ điển, dẫn khí tới phần trước của não bộ để nó phát triển nhanh hơn. Những người tĩnh tọa để mở con mắt thứ ba thì tập trung tâm trí của họ ở phần trước của não bộ và trở nên sáng suốt hơn.
Chúng ta dùng Ý để kiểm soát, phối hợp và hài hòa cái Tâm. Theo thuật ngữ khoa học, chúng ta phát triển vỏ não trước trán tới một mức mạnh mẽ, để kiểm soát và hướng dẫn tư duy do hệ viền của não bộ tạo ra.
Mục Đích Của Việc Điều Tâm
Mục đích của việc điều hòa tâm thì khác nhau tùy trường phái. Những người thực hành khí công trong các cộng đồng học giả và y học nhắm tới một cái tâm tĩnh lặng, thanh bình và hài hòa để các tình cảm không quấy nhiễu sự tuần hoàn khí. Ý nghĩ ảnh hưởng tới sự tuần hoàn khí trong các tạng phủ. Hạnh phúc và kích động ảnh hưởng tới tim, trong khi giận dữ ảnh hưởng tới gan. Thận bị ảnh hưởng bởi sợ hãi và phổi bởi buồn rầu (Bảng 4-4). Điều hòa tâm tình của bạn tới chỗ hài hòa và thanh bình mang lại lợi ích cho sức khỏe của bạn.
Theo sách y học cổ, Thiên Kim Yếu Phương (Thousand Golden Prescriptions for Emergencies): “Suy nghĩ quá nhiều, thì thần mệt mỏi. Ám ảnh quá nhiều, thì chí hướng tản mạn. Dục vọng quá nhiều, thì ý chí bối rối. Dính líu quá nhiều vào công việc, thì thân thể mệt nhọc. Nói quá nhiều, thì khí suy. Cười quá nhiều, tạng phủ nội tạng có thể bị thương. Lo âu quá nhiều, thì tim sợ hãi. Vui quá nhiều, thì sự mong đợi chấm dứt. Khoái lạc quá nhiều, thì (người ta) phạm lỗi và rối loạn. Giận dữ quá thường xuyên, thì sự tuần hoàn trong trăm mạch không ổn định. Quá nhiều sủng ái, thì mê hoặc và bỏ bê công việc thường lệ. Quá nhiều tà ác, thì gầy mòn mà không hạnh phúc. Nếu không trừ khử được mười hai điều ‘quá nhiều’ này, thì sự kiểm soát của sự thịnh vượng và bảo hộ (thần và sức khỏe) bị đánh mất, và sự tuần hoàn của huyết và khí bị rối loạn. Đó là gốc rễ của sự đánh mất sự sống.” Những tình cảm sai lầm là gốc rễ của bệnh tật. Trong khí công y liệu và học giả, điều hòa tâm để nó tĩnh lặng, trung tính và không bị tình cảm xao động, là nhiệm vụ chính của sự tu tập.
Các nhóm tôn giáo Đạo giáo và Phật giáo, sau khi đã điều hòa tâm tình tới trạng thái thanh bình, cũng nhắm tới Phật quả và giác ngộ. Sau khi đã kiểm soát được tâm tình và phát triển tâm trí tuệ của mình tới một giai đoạn thâm sâu, họ tìm kiếm ý nghĩa của sự sống và của tự nhiên.
Bảng 4-4. Tình cảm và các tạng phủ nội tạng
| Phạm trù | Đông | Nam | Trung tâm | Tây | Bắc |
|---|---|---|---|---|---|
| Mùa | Xuân | Hạ | Trường hạ | Thu | Đông |
| Điều kiện khí hậu | Gió | Nhiệt (thử) | Thấp | Táo | Hàn |
| Tiến trình | Sinh | Trưởng | Hóa | Thu | Tàng |
| Màu sắc | Xanh lục | Đỏ | Vàng | Trắng | Đen |
| Vị | Chua | Đắng | Ngọt | Cay | Mặn |
| Mùi | Mùi dê (ôi) | Khét | Thơm | Tanh | Thối |
| Tạng âm | Can | Tâm | Tỳ | Phế | Thận |
| Tạng dương | Đởm | Tiểu trường | Vị | Đại trường | Bàng quang |
| Khai khiếu | Mắt | Lưỡi | Miệng | Mũi | Tai |
| Tổ chức | Gân | Mạch máu | Thịt | Da/lông | Xương |
| Tình cảm | Giận | Vui | Lo nghĩ | Buồn | Sợ |
| Âm thanh | Hét | Cười | Hát | Khóc | Rên |
Cuối cùng, những người thực hành khí công võ thuật nâng cao tinh thần sinh lực và xây dựng một cái tâm tập trung cao độ để dẫn khí hữu hiệu và để phát triển cảm giác về đối phương, điều cốt yếu trong chiến đấu. Trong khi tâm bạn tĩnh lặng và sáng suốt, thần của bạn được nâng lên trạng thái cảnh giác cao độ.
Dù mục tiêu của mỗi trường phái là gì, thì các nguyên lý của sự huấn luyện vẫn như nhau.
1. Hài hòa Thân và Tâm.
Để đạt được một cái tâm tĩnh tọa tĩnh lặng, trước tiên hãy chăm sóc tình trạng của cơ thể bạn. Khi nó căng thẳng và được nạp năng lượng, hơi thở nhanh và tâm bạn bị kích động. Thân và tâm phải phối hợp và hài hòa với nhau. Điều này được gọi là sự quân bình của thân và Tâm (Thân Tâm Bình Hằng, Shen Xin Ping Heng). Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý nói: “Khi thân không di động, Tâm được thanh bình. Khi Tâm không di động, thần tự nó an trú.” Bước thứ nhất trong việc điều hòa tâm là làm cho thân tĩnh lặng, để tâm có thể tĩnh lặng. Khi các tình cảm tĩnh lặng, tâm trí tuệ có thể hoạt động hữu hiệu, và tinh thần sinh lực có thể được nâng lên.
2. Hài hòa Hơi Thở và Tâm.
Việc điều hòa tâm tình (Tâm) được thực hiện bởi tâm trí tuệ (Ý). Tâm được ví như con khỉ hay con vượn trong khi Ý được ví như con ngựa (Tâm Viên Ý Mã, Xin Yuan Yi Ma). Con khỉ thì yếu, không vững, và hay quấy nhiễu, tạo ra sự bối rối và kích động. Con ngựa, dù mạnh mẽ, có thể tĩnh lặng, vững vàng và được kiểm soát.
Hàng ngàn năm kinh nghiệm tĩnh tọa đã khám phá rằng, để ‘thu phục cái tâm khỉ’ và dẫn nó vào lồng, người ta cần một quả chuối. Quả chuối này chính là hơi thở. Khi bạn tập trung vào hơi thở của mình, tâm tình của bạn bị kềm chế và trở nên tĩnh lặng. Khi hơi thở của bạn trở nên dài, mảnh mai, nhẹ nhàng và tĩnh lặng, tâm bạn trở nên tĩnh lặng, và ngược lại. Tâm và hơi thở ảnh hưởng lẫn nhau, hoạt động hài hòa để đạt tới một mức tĩnh tọa cao. Điều này được gọi là Tâm và hơi thở nương tựa lẫn nhau (Tâm Tức Tương Y, Xin Xi Xiang Yi).
Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý nói: “Để phù hợp với hơi thở thâm sâu của Đạo gia, Tâm và hơi thở nương tựa vào nhau. Khi hơi thở được điều hòa, Tâm có thể tĩnh lặng.” Để có một tâm tình tĩnh lặng, trước tiên hãy điều hòa hơi thở của bạn qua các phương pháp hơi thở của Đạo gia.
Câu hỏi của một vị khách Phật giáo về lắng nghe trái tim giải thích: “Tâm đã nương tựa vào công việc và sự vật từ lâu; bị lìa khỏi chỗ ở của nó, nó không thể độc lập. Vì vậy, hãy dùng công phu điều hòa hơi thở để kềm chế Tâm. Bấy giờ Tâm và hơi thở có thể nương tựa lẫn nhau. Điều hòa không có nghĩa là dùng Ý, mà chỉ là một ý nghĩ về một hơi hít vào và một hơi thở ra. Một khi Tâm lìa khỏi chỗ ở của nó, nó không có người khác và không có tự ngã, và hơi thở không thể được điều hòa. Hãy giữ hơi thở mềm mại và liên tục như thể có tồn tại, lại như thể không tồn tại (điều mà không điều). Sau một thời gian dài, nó sẽ tự nhiên trở nên thuần thục.” Đoạn này giải thích rằng tâm tình của chúng ta bận tâm tới công việc của con người và những sự vật chung quanh và bị chúng ảnh hưởng. Bấy giờ nó bị bối rối và không thể độc lập. Cách để kềm chế nó là điều hòa hơi thở, cho đến khi tâm tình và hơi thở phụ thuộc vào nhau. Bạn không nên có một ý hướng (Ý), mà chỉ đơn giản chú ý tới hơi thở. Sau khi bạn đã thực hành một thời gian, bạn sẽ có thể thở nhẹ nhàng, tự nhiên, trôi chảy và liên tục. Cái Tâm sẽ ở tại chỗ cư trú của nó mà không bị xao động.
3. Dùng Tâm để Xây Dựng, Tích Trữ và Dẫn Sự Tuần Hoàn Khí.
Trong khí công tôn giáo và võ thuật, một trong những mục tiêu chính là dùng tâm để xây dựng khí, tích trữ nó, và dẫn sự tuần hoàn của nó. Để xây dựng và tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền, hãy thực hành Thai Tức (Tai Xi) và giữ tâm của bạn tại nơi khí cư trú này. Nếu tâm bạn rời xa trung tâm này, khí bị dẫn đi xa khỏi nó và bị tiêu hao, không được tích trữ và xây dựng lên mức cao hơn. “Giữ Ý tại Đan Điền” (Ý Thủ Đan Điền, Yi Shou Dan Tian).
Sau khi đã xây dựng khí dồi dào, hãy dùng tâm để dẫn nó. “Dùng Ý để dẫn khí” (Dĩ Ý Dẫn Khí, Yi Yi Yin Qi). Trong sự tu tập Nội Đan, trước tiên dẫn khí tuần hoàn trong Nhâm Mạch (Ren Mai, 任脈) và Đốc Mạch (Du Mai, 督脈) để hoàn tất Tiểu Chu Thiên (Xiao Zhou Tian, 小周天). Rồi dẫn khí tới các chi, da, tủy xương và não bộ để thực hiện Đại Chu Thiên (Da Zhou Tian, 大周天).
4. Nâng Cao Tinh Thần Sinh Lực Để Đạt Giác Ngộ.
Một lần nữa, mục tiêu cuối cùng của khí công Phật giáo và Đạo giáo là giác ngộ hay Phật quả. Nhằm mục đích đó, hãy xây dựng và tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền, rồi dẫn nó đi lên qua Xung Mạch (Chong Mai, 衝脈 — tủy sống) tới não bộ, để nuôi dưỡng não và nâng cao thần. Mục tiêu là mở con mắt thứ ba. Vì đã nói dối và lừa gạt để che giấu những bí mật của mình sau một cái mặt nạ qua hàng ngàn năm, con người đã đóng con mắt thứ ba của mình lại. Làm như vậy, chúng ta đánh mất năng lực thần giao cách cảm và sự giao tiếp với thần của tự nhiên. Để mở lại con mắt thứ ba này, chúng ta phải chân thật, không che giấu điều gì, rồi tích lũy khí ở phần trước của não bộ.
Để nâng thần lên tới giác ngộ, hãy điều hòa Tâm của bạn tới một trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, trong sáng và vững vàng. Đạo Kinh (Dao Scriptures) nói: “Tâm là chủ của toàn thân, vị chỉ huy của trăm thần. Khi tĩnh, trí tuệ được sinh ra; khi hành động, sự bối rối khởi nguồn. Sự vững vàng và bối rối của nó nằm trong sự di động và sự tĩnh lặng.”
Chúng ta hãy tóm lược các phương pháp khí công được thực hành trong cộng đồng Phật giáo và Đạo giáo, trước tiên bàn về nguồn gốc của các ý nghĩ. Bằng cách nhận ra gốc rễ của sự xao động và bối rối về tình cảm, chúng ta có thể tìm ra cách để chặn đứng nó.
Nguồn Gốc Của Các Ý Nghĩ
Những người Phật giáo tu dưỡng một trạng thái tâm trung tính và trống không, tách khỏi Tứ Đại (Si Da, 四大), tức là đất (Địa, Di), nước (Thủy, Shui), lửa (Hỏa, Huo) và gió (Phong, Feng) (Tứ Đại Giai Không, Si Da Jie Kong). Họ tin điều này làm cho thần của họ độc lập, để họ có thể thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử tiếp diễn.
Hầu hết ý nghĩ được phát sinh từ tình cảm, bởi thất tình và lục dục. Sau khi các ý nghĩ đi qua tâm trí tuệ, thì hành động được thực hiện. Khi tâm trí tuệ của một người mạnh mẽ, hành động sẽ hợp lý và hợp tình. Nhưng nếu tâm tình của người ấy mạnh đến mức tâm trí tuệ không thể giải thích được ý nghĩ tình cảm trước khi khởi sự hành động, thì hành động sẽ mang tính tình cảm và vô lý. Chẳng hạn, khi bạn gặp phải nạn kẹt xe, ban đầu bạn cảm thấy không có vấn đề gì. Nếu sự kẹt xe kéo dài một giờ, tâm tình của bạn trở nên bất an và nóng nảy, biến thành giận dữ và thất vọng. Tâm tình của bạn đã bị xao động và kích động. Nhưng nếu tâm trí tuệ của bạn can thiệp và hỏi xem giao thông có cải thiện hơn không nếu bạn nổi cơn thịnh nộ, thì câu trả lời là không. Trong trường hợp này, tâm trí tuệ của bạn tiếp quản để kiểm soát tâm tình của bạn.
Quán Sát Các Ý Nghĩ
Để ngăn ý nghĩ tình cảm khởi sự, hãy giữ tâm bạn trong trạng thái trung tính, điều không phải là cách thường tình của nhân tính. Những ý nghĩ cũ thường hay lẩn quẩn trong tâm một người, và người ấy cứ tiếp tục nghĩ về chúng, luôn luôn bị quấy nhiễu và xao động. Loại ý nghĩ này được gọi là Niệm (Nian), nghĩa là “ý nghĩ cũ luôn được mang trong tâm.” Để chặn đứng ý nghĩ quấy nhiễu này, trước tiên hãy nhận ra nó. Nhiều người sợ phải đối mặt với nó và chỉ đơn giản trốn sau một cái mặt nạ, nhưng sớm hay muộn, nó sẽ xuất hiện lại để quấy nhiễu họ.
Để giữ cho ý nghĩ cũ khỏi lẩn quẩn trong tâm bạn, trước tiên hãy tỉnh thức. Bước này được gọi là quán sát các ý nghĩ (Quán Niệm, Guan Nian). Từ sự quán sát này, bạn tỉnh thức. Trí Du Tử (Zhi You Zi) nói: “Đừng sợ sự khởi đầu của một ý nghĩ, mà hãy sợ sự tỉnh thức quá trễ.” Thông thường, nếu hành động tình cảm đã xảy ra trước khi bạn tỉnh thức, thì lỗi lầm đã được phạm phải. Khi bạn hối tiếc vào lúc này, thì đã quá trễ để có thể hoàn tác hành động của bạn.
Đạt tới một mức quán sát ý nghĩ và hiểu chúng một cách thâm sâu không phải là việc dễ dàng. Có ba cảnh giới (Tam Giới, San Jie) của sự tu dưỡng tinh thần này. Đạo Kinh nói: “Cảnh giới dục, cảnh giới sắc, và cảnh giới vô sắc. Khi Tâm quên lo âu và ý nghĩ, nó vượt qua dục. Khi nó quên môi trường chung quanh, nó vượt qua sắc. Khi nó không thấy gì cả, nó vượt qua vô sắc.” Điều này tương đương với câu nói của Phật giáo rằng tâm nên được tách khỏi Tứ Đại: đất (Địa), nước (Thủy), lửa (Hỏa) và gió (Phong) (Tứ Đại Giai Không). Điều này có nghĩa là ý nghĩ tự do, không bị các sự vật chung quanh trói buộc.
Những người Phật giáo có ba cách quán sát ý nghĩ, được gọi là “tam quán” (Tam Quán, San Guan). Đó là: quán không (Không Quán, Kong Guan), quán giả (Giả Quán, Jia Guan), và quán trung (Trung Quán, Zhong Guan — không không cũng chẳng giả).
Trong Không Quán (quán sát tính không), bạn quán sát và rồi liễu ngộ ý nghĩa của các sự kiện. Sau một thời gian dài suy ngẫm, bạn thấy mọi điều làm phiền chúng ta về mặt tình cảm chỉ là tạm thời và nhỏ bé so với đời sống của chúng ta hay với tuổi của vũ trụ. Mọi xao động tình cảm đều là không và vô nghĩa. Đời sống của chúng ta đến từ sự trống không và kết thúc bằng nó. Điều thực sự quan trọng là chúng ta chân thật đến mức nào, để thần của chúng ta có thể lớn lên. Mỗi đời sống vật lý phục vụ sự giáo dục và sự lớn lên của thần chúng ta. Bất cứ sự xao động nào cũng chỉ là ý nghĩ không. Một khi bạn nắm bắt được điều này, bạn có thể phân tích sự kiện từ quan điểm chân thật của tiềm thức.
Một câu chuyện có thể gợi hứng cho sự suy nghĩ của bạn về điều này. Ở Trung Hoa cổ, có hai nhà sư đi trên một con đường lầy lội thì họ đi tới một vũng nước lớn chắn ngang hoàn toàn con đường. Một người phụ nữ rất xinh đẹp trong bộ váy duyên dáng đứng ở bên bờ vũng nước, không thể đi tiếp nếu không làm hư quần áo của mình.
Không do dự, một trong hai nhà sư bồng nàng lên và mang nàng qua vũng nước, đặt nàng xuống bên kia, và tiếp tục đi. Vài giờ sau, khi hai nhà sư đang chuẩn bị cắm trại qua đêm, nhà sư thứ hai quay sang nhà sư thứ nhất và nói: “Tôi không thể kềm chế được nữa. Tôi rất giận thầy! Chúng ta không được phép nhìn phụ nữ, đặc biệt là những người xinh đẹp, chưa nói chi tới việc đụng chạm họ. Tại sao thầy lại làm như vậy?” Vị sư thứ nhất đáp: “Tôi đã để nàng lại ở vũng bùn, tại sao thầy vẫn còn mang nàng?” Sự trống không trong tâm của bạn tùy thuộc vào cách bạn suy nghĩ.
Trong Giả Quán (quán sát tính giả dối), bạn chú ý tới việc truy tìm ngược trở lại gốc rễ của mỗi sự kiện. Bạn nhận ra chúng ta tranh đấu vì vinh quang, phẩm giá, tình yêu, tài sản và quyền lực, được tạo ra từ ảo ảnh của tâm. Chúng ta là con người đã tạo ra tất cả những tình cảm này như một cái ma trận và bước vào đó. Về sau, hầu hết chúng ta không hưởng thụ nó và luôn luôn mang nỗi đau của ảo ảnh. Mỗi kiếp sống giống như một vở kịch trên sân khấu, với mọi người đeo một cái mặt nạ, đóng vai trò được phân công của mình, và che giấu căn cước tâm linh chân thật của họ. Chúng ta nói dối, lừa gạt, mỉm cười và khóc, không có sự tham gia của căn cước tâm linh thực sự của mình, vốn chân thật và thuần khiết. Các sự kiện và vấn đề là giả, không có thực, chỉ là một ảo ảnh của đời sống. Một khi bạn liễu ngộ điều này, mọi ý nghĩ do tâm tình tạo ra đều trở nên vô nghĩa.
Hãy suy ngẫm một câu chuyện từ cộng đồng Thiền Nhật Bản, về một chiến binh Samurai trẻ tuổi táo bạo và điển trai đứng trước một vị Thiền sư già, hỏi: “Thưa sư phụ, con đã đạt tới một mức cao về lý thuyết và thực hành Thiền, nhưng con muốn hỏi một câu hỏi nghiêm túc.”
Vị sư phụ khiêm nhường đáp: “Ta có thể hỏi câu hỏi nào mà con muốn hỏi?”
“Xin hãy dạy con về thiên đường và địa ngục?” Chàng Samurai đáp.
Vị sư phụ đứng bất động trong một khoảnh khắc rồi đột ngột quay phắt đầu lại với vẻ ghê tởm và sôi sục: “Dạy ngươi về thiên đường và địa ngục? Ta nghi ngờ rằng ngươi thậm chí còn chẳng giữ nổi thanh kiếm của mình khỏi han rỉ, hỡi kẻ ngu dốt ngu xuẩn. Sao ngươi dám cho rằng mình có thể hiểu bất cứ điều gì ta muốn nói?”
Ông già tiếp tục, càng thêm lăng mạ, trong khi sự ngạc nhiên của chàng kiếm sĩ trẻ tuổi chuyển trước tiên thành bối rối, rồi thành sự kinh hoảng và cơn giận sôi sục. Bất kể là sư phụ hay không, kẻ nào lăng mạ một Samurai mà còn sống được? Cuối cùng, nghiến răng và máu sôi lên trong cơn thịnh nộ mù quáng, người chiến binh rút kiếm ra để chấm dứt bài diễn thuyết và mạng sống của ông già.
Vị sư phụ nhìn thẳng vào mắt chàng và nhẹ nhàng nói: “Đó là địa ngục.”
Ở đỉnh điểm của cơn thịnh nộ, chàng Samurai nhận ra đây quả thực là sự dạy dỗ của ông, rằng vị sư phụ đã đẩy chàng vào một địa ngục sống động của cơn giận không thể kiểm soát và của bản ngã. Người thanh niên, vô cùng hổ thẹn, tra kiếm vào vỏ và cúi đầu trước vị thầy tâm linh vĩ đại này. Nhìn vào khuôn mặt rạng rỡ, già nua và đầy trí tuệ của bậc hiền nhân, chàng cảm thấy nhiều tình thương và lòng trắc ẩn hơn bao giờ hết trong đời. Vị sư phụ, cảm nhận được sự thay đổi trong dáng vẻ của chàng, giơ ngón tay trỏ lên và nói: “Và đó là thiên đường.”
Những xao động tình cảm được tạo ra từ ảo ảnh giả dối trong tâm. Có phải chúng ta tạo ra thiên đường và địa ngục trong tâm mình, và tự giam mình trong ma trận này, hay thiên đường và địa ngục thực sự hiện hữu? Có phải chúng ta tạo ra Thượng đế trong trí tưởng tượng của mình hay Thượng đế tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài? Bằng chứng nào có đó, và nó chân thật đến mức nào?
Trong Trung Quán (quán sát trung tính), bạn không phủ nhận tính không của sự việc, cũng không phủ nhận sự hiện hữu giả dối của nó. Bạn có thể, qua sự quán sát, dẫn các ý nghĩ của mình vào điểm trung tính rằng mọi sự đều là không và cũng là giả. Đó là sự quán sát của sự phản chiếu kép (Song Chiếu, Shuang Zhao) hay sự so sánh tương đối.
Tại một ngôi làng nhỏ ở miền nam Trung Hoa sống một người lao động cần cù nhất trong cộng đồng của mình. Ngày đêm anh ta làm lụng vất vả, và năm qua năm sự giàu có của anh ta lớn lên. Thời gian trôi qua, kho tiền của anh ta tăng lên, và nỗi lo về thất bại hay mất mát cũng tăng theo. Anh ta lo lắng về việc làm thế nào để kiếm thêm tiền và làm thế nào để giữ cả bạn bè lẫn kẻ thù xa khỏi khối tài sản khổng lồ mà mình đã tích lũy được.
Anh ta làm hàng rào cao hơn quanh nhà và gia cố các bức tường, với những ổ khóa chắc chắn trên các cửa và song sắt trên các cửa sổ, cho đến khi ngôi nhà giống như một nhà tù. Anh ta cảm thấy an toàn và tin mình là người hạnh phúc nhất trên đời khi suốt ngày đếm tiền.
Một người qua đường tò mò nhìn vào và thấy anh ta ngồi đó mỉm cười trong khi đếm tiền. Người ấy gọi to: “Tại sao anh lại hạnh phúc như vậy? Có vẻ như anh đang ở trong tù!”
Người đàn ông đáp: “Không! Không phải là tôi ở trong tù, mà là các người ở bên ngoài nó.”
Nhiều người trong chúng ta mơ ước tiền bạc, biến nó thành nỗi ám ảnh của mình. Những bức tường vô hình được xây lên và những nhà tù cá nhân được tạo ra, nơi chúng ta hưởng thụ, thế nhưng tình bằng hữu thì bị giữ ở xa. Hạnh phúc thực sự, giàu có thực sự cả về vật chất lẫn tinh thần, có nghĩa là gì? Những người thực sự giàu có là những người biết làm ra tiền mà cũng biết chia sẻ với người khác. Điều này giải thoát bạn khỏi sự trói buộc của sự ám ảnh vật chất.
Một thương nhân giàu có từ miền bắc trông thấy một người đánh cá, đang tựa lưng vào chiếc xuồng của mình và hút tẩu. Vị thương nhân thất vọng: “Tại sao anh không ra khơi đánh cá?”
“Tôi đã bắt đủ cho hôm nay rồi.”
“Mặt trời vẫn còn cao trên bầu trời, anh có thể bắt nhiều hơn nữa, phải không?” vị thương nhân nài nỉ.
“Tại sao tôi phải làm vậy?” người đánh cá đáp trả.
“Tiền! Anh sẽ có nhiều tiền hơn!” vị thương nhân kêu lên. “Với một động cơ tốt hơn trên thuyền của anh, anh có thể ra vùng nước sâu hơn và bắt nhiều cá hơn. Chẳng bao lâu anh có thể mua một cái lưới tốt hơn và bắt nhiều cá hơn nữa và kiếm nhiều tiền hơn nữa. Cuối cùng, anh có thể trở nên giàu có đủ để mua cả một đội thuyền mới, thậm chí trở nên giàu có như tôi.”
“Rồi tôi sẽ làm gì?”
“Ngồi xuống và hưởng thụ cuộc sống của mình.”
“Đó là điều tôi đang làm bây giờ,” người đánh cá nói.
Khi bạn mong muốn điều gì đó, hãy biết khi nào nên dừng lại. Hãy giữ tâm bạn trung tính, và thấy hai đầu thay vì chỉ một hướng. Để tự giải thoát khỏi sự trói buộc tình cảm, hãy thực hành ba phép quán sát này cho đến khi bạn liễu ngộ ý nghĩa của cuộc sống từ đáy lòng mình. Bạn sẽ thấy lý do của mọi sự xảy ra, trong tiến trình học hỏi tâm linh, mà không bám víu vào các sự kiện. Sau khi xem một vở kịch trên sân khấu chạm tới tình cảm của bạn, nếu bạn bám víu vào nó về mặt tình cảm, bạn đang ở trong sự trói buộc tình cảm. Thay vì thế, hãy học từ nó về ý nghĩa của cuộc sống, để tâm bạn nhìn xa thay vì nhìn gần.
Vì tất cả chúng ta đều ở trên sân khấu của cuộc đời, mỗi người mang một cái mặt nạ cho phép chúng ta hòa nhập vào vở kịch. Tuy nhiên, sâu bên trong, tất cả chúng ta đều biết rằng đó chỉ là một vở kịch chứ không phải căn cước chân thật của mình. Nếu không có mặt nạ trong xã hội đeo mặt nạ này, chúng ta không thể sống sót.
Bà nội tôi kể cho tôi nghe một câu chuyện về một vị vua, người luôn luôn đeo một chiếc mặt nạ nghiêm nghị và trang trọng mỗi khi gặp các quan của mình. Vì thế, các quan lại kính trọng, yêu mến, sợ hãi và vâng lời ông, nên ông có thể cai trị đất nước một cách hữu hiệu. Một ngày kia, vợ ông nói với ông rằng điều các quan lại kính trọng và yêu mến không phải là ông, mà là cái mặt nạ của ông. Để chứng minh vợ mình sai, ông tháo nó ra. Từ đó trở đi, các quan lại có thể thấy khuôn mặt thật của ông và nhận biết tư duy của ông qua nét mặt. Họ bắt đầu cãi cọ với nhau trước mặt ông, và thậm chí tranh cãi các chính sách và quyết định của ông. Trong một thời gian ngắn, đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn. Nhà vua nhận ra quyền lực của chiếc mặt nạ. Ông ra lệnh chém đầu tất cả những quan lại nào đã nhìn thấy mặt ông. Ông đeo lại chiếc mặt nạ lên mặt mình và một lần nữa có thể cai trị đất nước một cách hữu hiệu.
Bạn có thể thấy tại sao nhiều người tâm linh (những chân nhân) khó sống sót trong xã hội đeo mặt nạ này và tại sao họ lánh xa xã hội thế tục để lên núi.
Chặn Đứng Các Ý Nghĩ
“Chặn đứng các ý nghĩ” có nghĩa là chặn đứng những ý nghĩ cũ còn lẩn quẩn trong tâm bạn. Chúng có thể gây phiền muộn về tình cảm, làm xao động trạng thái tĩnh lặng của bạn. Chặn đứng các ý nghĩ cũng có nghĩa là ngăn một ý nghĩ mới khởi sự. Cái tâm bị xao động về tình cảm là nguồn gốc của hỏa dương trong cơ thể. Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý nói rằng: “Nếu một ý nghĩ khởi lên, thì khắp nơi đều là lửa. Ở nơi tĩnh lặng mà các ý nghĩ chấm dứt, mùa xuân có thể nở hoa.” Mùa xuân nở hoa nghĩa là sự hài hòa của tâm, thân, hơi thở và thần.
Để chặn đứng các ý nghĩ, trước tiên hãy chặn sự quán sát bên trong của bạn khỏi việc quán sát, đó là giai đoạn của Chỉ Quán (Zhi Guan). Hãy tỉnh thức và liễu ngộ gốc rễ của các ý nghĩ qua sự quán sát để tìm ra cách chặn đứng chúng. Bấy giờ, sự quán sát trở nên cần thiết, bởi vì nó đã được điều hòa.
Kinh Duy Ma (Wei Mo Classic) nói: “Kềm chế cái Tâm khỏi sự quyến luyến tình cảm được gọi là chỉ. Thấy sâu và tới xa một cách rõ ràng, được gọi là quán.” Kinh này cũng nói: “Mỗi ý nghĩ trở về nguồn của nó, được gọi là chỉ. Mọi sự có thể được phân biệt rõ ràng, được gọi là quán.”
Câu thứ nhất giải thích rằng để đạt tới Chỉ Quán, trước tiên bạn chặn đứng sự quyến luyến tình cảm với thế giới bên ngoài. Đó là ý nghĩa của “chỉ” (Chỉ, Zhi). Khi tâm bạn rõ ràng và thâm sâu đến mức bạn phân tích được tình huống qua sự quán sát, và do đó có thể chặn đứng cả ý nghĩ cũ lẫn sự khởi đầu của một ý nghĩ mới, thì nó được gọi là quán (Quán, Guan).
Câu thứ hai giải thích “chỉ” là đem mọi ý nghĩ quấy nhiễu trở lại tập trung vào Đan Điền, nơi chúng khởi nguồn. Hãy chú ý tới Đan Điền, hoặc Thượng Đan Điền đối với Thần hoặc Chân Hạ Đan Điền đối với Khí, và phối hợp với hơi thở sâu của bạn. Bấy giờ mọi ý nghĩ quấy nhiễu có thể bị chặn đứng và được thay thế bằng một ý nghĩ. Thấy sâu xa tới gốc rễ của thực tại được gọi là quán.
Các Phương Pháp Chặn Đứng Ý Nghĩ
Các cộng đồng Phật giáo và Đạo giáo đã phát triển nhiều phương pháp điều hòa ý nghĩ. Bước thứ nhất là kềm chế tâm tình đang đi lang thang khỏi sự lôi cuốn của thế giới bên ngoài. Hãy nhắm mắt lại và tập trung vào hơi thở đều đặn, sâu và nhẹ, điều này làm cho tâm tình tĩnh lặng. Như đã nói ở trên, người ta nói: “Mắt quán sát (Quán) hơi thở, và hơi thở quán sát cái Tâm.”
Một khi bạn đã đạt tới Chỉ Quán, bạn ngăn chặn những ý nghĩ mới khởi sự. Hãy chú ý tới hơi thở của bạn, và giữ tâm bạn tại Đan Điền. Trong sách Trang Tử, thiên Nhân Gian Thế (Secular World), có nói: “Với một ý chí thống nhất, đừng nghe bằng tai mà hãy nghe bằng Tâm. Đừng nghe bằng Tâm, mà hãy nghe bằng khí. Sự nghe chấm dứt ở tai, và Tâm chấm dứt khi sự hài hòa (Phù) đạt được. Khí là gì? Nó vô thể chất và hiện hữu trong mọi sự vật. Chỉ bằng cách tuân theo Đạo, bạn mới có thể tụ tập được khí vô thể chất này, điều thu nhận được từ sự thanh tịnh hóa cái Tâm (Tâm Trai, Xin Zhai).”
Để điều hòa tâm tình (Tâm) của bạn, hãy ngừng lắng nghe thế giới bên ngoài, và chú ý tới tâm tình của bạn. Một khi bạn đem các ý nghĩ của mình từ bên ngoài vào bên trong cơ thể, hãy chú ý tới khí qua hơi thở. Phù (符) nghĩa là phù hợp, hài hòa, phối hợp hay hợp tác. Việc chặn đứng hoạt động của Tâm được thực hiện qua sự phối hợp của hơi thở.
Để tụ tập khí tại Chân Hạ Đan Điền, trước tiên hãy làm cho Tâm tĩnh lặng. Tâm Trai (心齋) nghĩa là cái Tâm được thanh tịnh và ngụ ý một cái tâm tĩnh lặng và chân thành. Theo cách này, khí có thể được giữ tại nơi cư trú của nó. Đó là con đường của Đạo.
Trong Đạo Hương Tập (Anthology of a Daoist Village), có nói: “Hôm nay, ta muốn dạy ngươi phương pháp chấm dứt ý nghĩ. Chẳng hạn, khi Tâm của ta nhìn vào nước, ý nghĩ của ta sẽ ở trên nước. Khi Tâm của ta nhìn vào mặt trăng, ý nghĩ của ta sẽ ở trên mặt trăng. Nếu mắt ta tập trung nhìn vào khí huyệt (Khí Huyệt, Qi Xue — Đan Điền), Tâm của ta sẽ ở tại khí huyệt.” Điều này định nghĩa chìa khóa của việc chặn đứng ý nghĩ là chú ý tới Khí Huyệt. Khí Huyệt có nghĩa là Thượng Đan Điền hoặc Chân Hạ Đan Điền. Một khi bạn chú ý tới hơi thở và giữ tâm tại Đan Điền, ý nghĩ biến mất.
Chấm Dứt Hoạt Động Của Tâm
Mục tiêu cuối cùng trong việc điều hòa tâm là làm cho nó ổn định khỏi sự xao động tình cảm, và giữ cho nó khỏi đi lang thang, cũng được gọi là Định Tâm (Ding Xin). Nhưng trước tiên bạn phải chấm dứt hoạt động của Tâm (Tức Tâm, Xi Xin). Trung Hòa Tập (The Collection of Neutral Harmony) nói: “Hãy nghiên cứu cẩn thận các trước tác của những thánh nhân trong Tam Giáo (San Jiao, ba trường phái), chữ tức (Tức, Xi) là đơn giản nhất và trực tiếp nhất. Nếu ngươi đặt công phu vào sự chấm dứt, ngươi sẽ không cần nhiều nỗ lực để đạt tới Phật quả và sự bất tử. Chấm dứt cảm giác quyến luyến (Tức Duyên, Xi Yuan) để đạt tới công năng then chốt của thiền nguyên thủy. Chấm dứt cái Tâm (Tức Tâm, Xi Xin) để liễu ngộ và hiểu sâu sắc lý thuyết của Nho giáo. Chấm dứt hơi thở (Tức Khí, Xi Qi) để đạt tới Đạo kỳ diệu của việc ngưng tụ Thần. Ba sự chấm dứt này đòi hỏi lẫn nhau mà không có sự chinh phục nào cả.”
Tam Giáo (三教) nghĩa là ba sự dạy dỗ hay ba trường phái, tức là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Tất cả đều mô tả các phương pháp của sự chấm dứt (Tức, Xi). Tức có nghĩa là chặn đứng hay chấm dứt bất cứ hành động nào hoặc ngăn nó khởi sự. Ở đây nó có nghĩa là điều mà không điều (Bất Điều Nhi Điều, Bu Tiao Er Tiao). Khi sự điều hòa không còn cần thiết nữa, mọi tiến trình điều hòa đều chấm dứt.
Sự thực hành then chốt của Phật tử là chấm dứt sự quyến luyến (Tức Duyên) nối kết với công việc thế tục. Bấy giờ tâm tình sẽ tĩnh lặng và thanh bình, Thần của tâm tiềm thức sẽ thức tỉnh, và Phật quả có thể đạt được. Sự tu dưỡng này được gọi là Thiền. Trí Độ Viên Âm (The Transliteration of Wisdom Garden) nói: “Thiền, nó có nghĩa là làm cho Tâm tĩnh xuống để suy ngẫm.” Đó là sự tĩnh tọa của việc ổn định hóa hoạt động của Tâm.
Sự tu dưỡng của sự “chấm dứt” trong trường phái Nho giáo là chấm dứt hoạt động của Tâm, để các triết lý của học giả có thể được liễu ngộ. Chúng bao gồm các mối quan hệ giữa con người với nhau, và giữa con người với tự nhiên. Khi những triết lý này được hiểu rõ, tâm có thể được thanh bình và tĩnh lặng.
Nhưng đối với những người Đạo giáo, “chấm dứt” có nghĩa là chấm dứt việc điều hòa hơi thở, bằng cách thực hành Thai Tức với cái tâm được ngưng tụ. Đây là con đường tất yếu để đạt tới giác ngộ.
Ổn Định Hóa Cái Tâm
Điều hòa tâm để giữ cho nó tĩnh lặng và ổn định được gọi là Định (Ding), sự ổn định hóa của Tâm. Bạn đem tâm và thân vào sự hài hòa, để bạn có thể suy ngẫm sâu xa và cuối cùng liễu ngộ Đạo. Trong Tứ Thư, thiên Đại Học (Great Study), Khổng Tử nói: “Chỉ khi biết làm thế nào để chấm dứt, thì mới có thể có sự vững vàng (Định). Khi có sự vững vàng, tâm của bạn có thể tĩnh lặng. Rồi bạn có thể thanh bình, và có khả năng suy ngẫm. Khi bạn suy ngẫm, bạn sẽ đạt được.” Đối với cộng đồng học giả Nho giáo, mục tiêu cuối cùng của tĩnh tọa là đạt được, hay hiểu được, ý nghĩa của cuộc sống và các quy luật của tự nhiên (Đạo). Để liễu ngộ triết lý sâu xa này, bạn trải qua những thủ tục cần thiết. Thứ nhất là chấm dứt (Chỉ, Zhi) sự khởi đầu của ý nghĩ, để tâm của bạn trở nên vững vàng, được kiểm soát, tĩnh lặng và thanh bình, và sáng suốt để bạn suy ngẫm. Qua sự suy ngẫm sâu xa, bạn liễu ngộ những lý do của các sự kiện.
Chúng ta định nghĩa Định (Định, 定 — sự ổn định hóa) như thế nào? Trong Luận Trí Huệ (Theory of Evaluating Wisdom), có nói: “Điều hòa cái Tâm tới nơi nó nên ở. Chấm dứt lo âu và ngưng tụ (ổn định hóa) cái Tâm. Khi Tâm vững vàng tại một chỗ mà không di động, nó được gọi là sự vững vàng (Định). Điều hòa cái Tâm để chấp nhận giải pháp qua sự quán sát. Đó được gọi là sự tiếp nhận (Thụ, Shou). Để điều hòa sự bạo liệt của Tâm, để uốn thẳng chỗ cong (sự rắc rối) của nó và ổn định hóa sự tản mạn của nó, điều này được gọi là điều hòa, uốn thẳng và ổn định hóa. Để điều hòa các hành động của Tâm và cho phép nó như nó nên có, được gọi là điều hòa cái Tâm tới nơi nó nên ở. Để chấm dứt sự quyến luyến và lo âu của tâm, nhằm ngưng tụ và tập trung ý nghĩ của Tâm, được gọi là chấm dứt lo âu và ngưng tụ cái Tâm.”
Trong Phật giáo tĩnh tọa, Định (sự vững vàng của Tâm và thân) luôn luôn được nhấn mạnh. Bước vào sự vững vàng này được gọi là Nhập Định (Ru Ding). Trước tiên cắt đứt mọi xao động tình cảm và giữ tâm bạn tại Thượng Đan Điền và Chân Hạ Đan Điền. Thượng Đan Điền (não bộ) là nơi cư trú của Thần, trong khi Chân Hạ Đan Điền (não bộ thứ hai) là nơi cư trú của Khí. Khi khí được giữ tại nơi cư trú của nó, cơ thể có thể được làm cho tĩnh lặng mà không bị kích thích hay phấn khích. Khi Thần được ngưng tụ tại nơi cư trú của nó, tâm trở nên tĩnh lặng và sáng suốt.
Hãy học đối mặt với tâm tình của mình, phân tích và hiểu nó, và tháo bỏ cái mặt nạ khỏi khuôn mặt của bạn. Chỉ khi những sự quyến luyến của Tâm này có thể được loại bỏ, thì tâm của bạn mới có thể được giữ vững tại một chỗ. Đó là cách để đạt tới sự vững vàng (Định).
Mục tiêu cuối cùng là sự ổn định hóa sâu xa của Tâm, được gọi là Đại Định (Da Ding). Đại Định nghĩa là, “Khi Tâm đối với Phật pháp trong sáng và rạng rỡ, nó được gọi là Đại Định.” Tâm thanh bình và tĩnh lặng, thân thể cực kỳ thư giãn, khi Thần và thân hài hòa và phối hợp với nhau. Điều này định nghĩa sự vững vàng và sự tĩnh lặng của cả thể tâm lẫn thể xác. Một khi bạn đạt tới giai đoạn này, bạn đã thiết lập một nền tảng vững chắc cho sự tu dưỡng giác ngộ tâm linh.
Tôi muốn chia sẻ với bạn một câu chuyện Samurai.
Một cậu bé mười tuổi đang chơi trong nhà thì một kiếm sĩ Samurai bước vào và bắt đầu giết người. Cậu trốn sau một cái tủ quần áo lớn. Qua một khe hở, cậu nhìn rõ mồn một những gì đang xảy ra. Kiếm sĩ là kẻ thù chính trị của cha cậu, và cậu bé là người duy nhất còn sống sót của gia đình. Kẻ kiếm sĩ giết xong, rồi bỏ đi mà không tìm kiếm cái tủ.
Cậu bé đi khắp đất nước để tìm vị Thiền sư giỏi nhất. Cậu thề sẽ trở thành kiếm sĩ Samurai nổi tiếng và khéo léo nhất, để có thể báo thù cho vụ sát hại gia đình mình. Cậu tìm được một vị sư phụ và thực hành ngày đêm, với lòng báo thù trong tim.
Vào đầu tuổi hai mươi, cậu trở thành một trong những kiếm sĩ Samurai nổi tiếng nhất ở Nhật Bản. Cậu đi tới mọi góc của Nhật Bản, tìm kiếm kẻ thù của mình. Nhưng sau hai mươi lăm năm tìm kiếm, mọi nỗ lực đều vô ích, và kẻ thù của cậu dường như đã biến mất khỏi xã hội.
Sự thất vọng của chàng thật lớn, một ngày kia chàng đi vào một thung lũng sâu, nơi chỉ có vài bộ lạc sinh sống. Chàng tới một con sông nhỏ, nơi một ông già đang xây lại một cây cầu, chậm chạp và vất vả di chuyển từng miếng gỗ một. Cây cầu cũ đã bị một cơn lũ cuốn trôi, và dân làng phải đi xa xuôi dòng để qua sông.
Khi nói chuyện với ông già, chàng không thể tin vào mắt mình. Ông già chính là người đã giết gia đình chàng hơn ba mươi năm trước. Không do dự, chàng rút kiếm ra để chém đầu ông. Trước khi làm vậy, chàng giải thích lý do. Ông già thú nhận thật thà đã giết gia đình chàng, nhưng có một yêu cầu cuối cùng.
“Cây cầu này là hy vọng duy nhất của ngôi làng. Hãy cho phép tôi xây xong nó trước khi giết tôi,” ông già yêu cầu.
Vì yêu cầu của ông già là chính đáng, chàng đồng ý cho phép ông xây xong cây cầu. Nhưng chàng sẽ canh chừng ông ngày đêm, để ông không thể chạy trốn. Người báo thù dựng một cái lều bên cạnh ông già và canh chừng ông xây cầu. Tiến độ chậm chạp và tốn thời gian, và sau sáu tháng, chàng tham gia giúp ông già xây xong cây cầu, để đẩy nhanh ngày báo thù của mình.
Cùng ăn, cùng nói chuyện và giúp đỡ lẫn nhau, dần dà họ trở thành bạn tốt. Cây cầu được hoàn thành vào năm thứ ba. Khi hoàn tất công việc, ông già tới lều của chàng Samurai. Ông đã tắm rửa sạch sẽ thân thể. Ông quỳ trước người báo thù, và nói: “Đã tới lúc ngài lấy mạng sống của tôi để báo thù cho gia đình ngài.”
Chàng Samurai thấy mình không thể rút kiếm ra để báo thù. Chàng quỳ trước ông già và nói: “Đời thứ nhất của tôi là lòng thù hận như địa ngục. Đời thứ hai của tôi là lòng nhân từ và thanh bình như thiên đường. Tôi không thể giết ngài, bằng không tôi cũng sẽ giết luôn đời thứ hai của mình.” Vì vậy họ cùng đi với nhau và đối xử với nhau như cha con.
4-5 · Điều Khí (調氣 — Tiao Qi)
Mục đích của việc điều khí là: 1. Sinh khí (Sheng Qi, 生氣); 2. Nuôi dưỡng và bảo vệ khí (Dưỡng Khí, Yang Qi, 養氣); 3. Tích trữ khí (Tích Khí, Xu Qi, 蓄氣); và 4. Vận chuyển khí (Hành Khí, Xing Qi, 行氣). Tiếp theo, chúng ta bàn về lý thuyết và những sự thực hành then chốt của bốn điều này.
1. Sinh Khí (Sheng Qi)
Có ba cách để sinh khí, đó là: dược thảo, hơi thở và mát-xa.
Dược thảo. Khí khởi nguồn chủ yếu từ phản ứng hóa sinh của thức ăn chúng ta ăn và oxy chúng ta hít vào, điều này giải phóng năng lượng. Những thức ăn khác nhau tạo ra số lượng và phẩm chất năng lượng khác nhau, vì vậy dược thảo đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trong khoa y học Trung Hoa. Những loại dược thảo khác nhau được dùng để điều hòa tình trạng năng lượng của cơ thể.
Khí từ thức ăn và không khí được gọi là Hậu Thiên Khí (Hou Tian Qi, 後天氣) hay Hỏa Khí (Huo Qi, 火氣), bởi vì thức ăn và không khí không thuần khiết và sạch sẽ. Khí được tạo ra từ chúng có thể gây ra sự xao động tình cảm và những vấn đề thể chất. Đây là nguyên nhân chính của lửa trong thể tâm và thể xác của chúng ta.
Hô hấp bụng. Qua hô hấp bụng sâu, oxy và thán khí được trao đổi một cách hữu hiệu, thúc đẩy sự trao đổi chất của cơ thể. Năng lượng từ phản ứng hóa sinh mạnh hơn. Hô hấp bụng sâu cũng giúp chuyển hóa mỡ bụng thành khí, làm gia tăng số lượng khí trong cơ thể.
Loại hơi thở này được gọi là Tiên Thiên Hô Hấp (Xian Tian Hu Xi, 先天呼吸) và khí được tạo ra được gọi là Tiên Thiên Khí (Xian Tian Qi, 先天氣), vốn sạch sẽ và thuần khiết, có khả năng làm cho tâm bạn tĩnh xuống và làm cho thể xác của bạn khỏe mạnh.
Mát-xa vùng bụng. Kinh điển Cân Cốt Dịch Cân và Tẩy Tủy (Muscle/Tendon Changing and Marrow/Brain Washing) mô tả cách đúng đắn để mát-xa vùng bụng. Những kỹ thuật sai lầm làm cho cơ thể, đặc biệt là ruột, trở nên quá dương, kích phát chứng táo bón. Nếu khí được gia tăng quá nhanh, nó cũng có thể đi lên và làm tổn thương tim. Nếu bạn không biết các kỹ thuật này, bạn không nên thử gia tăng khí theo cách này. Hô hấp bụng an toàn hơn mát-xa rất nhiều. Để biết thêm về khí công Dịch Cân và Tẩy Tủy, xin tham khảo cuốn sách Qigong—The Secret of Youth, của YMAA.
Ngoài ba phương pháp này, bạn cũng có thể cố gắng duy trì mức kích thích tố của mình (Nguyên Tinh, Yuan Jing, 元精). Các kích thích tố hoạt động như những chất xúc tác trong việc điều hòa sự trao đổi chất của cơ thể và thúc đẩy các phản ứng hóa sinh, để khí có thể được sinh ra một cách trôi chảy và dồi dào.
2. Bảo Vệ và Nuôi Dưỡng Khí (Dưỡng Khí, Yang Qi)
Bảo vệ có nghĩa là giữ gìn và duy trì, và nuôi dưỡng có nghĩa là tu dưỡng và nâng cao. Sau khi đã tạo ra khí, hãy duy trì nó, và tu dưỡng nó lên một mức mạnh hơn. Cũng giống như nuôi một đứa con. Sau khi bạn đã tạo ra sự sống, bạn bảo vệ nó và nuôi nó để nó có thể lớn lên mạnh hơn.
Bảo vệ Nguyên Tinh. Hãy bảo vệ khí bằng cách bảo vệ Nguyên Tinh (Yuan Jing) của bạn. Một người đàn ông điều hòa các hoạt động tình dục của mình, sự lạm dụng làm cho thận suy yếu. Theo y học Trung Hoa, đây là nguyên nhân chính của sự đánh mất khí đối với nam giới.
Cũng hãy điều hòa lối sống của bạn. Nếu bạn mệt mỏi về tinh thần hay thể xác, sự tiêu hao khí gia tăng, vì vậy hãy điều hòa các hoạt động tinh thần và thể chất của bạn. Hãy ngủ và nghỉ ngơi đầy đủ, và có một thời khóa biểu hằng ngày đều đặn.
Điều hòa hơi thở. Để giữ khí trong cơ thể, hãy thở sâu và nhẹ nhàng mà không nín thở. Thở quá nhanh làm gia tăng nhịp tim, làm căng thẳng thân và tâm, và tiêu hao khí.
Nhưng việc duy trì sức mạnh thể chất đòi hỏi sự tập luyện, trong đó hơi thở và nhịp tim tăng tốc. Chìa khóa là biết khi nào nên dừng lại và cần bao nhiêu sự tập luyện để duy trì sức khỏe. Sự tập luyện dương là cần thiết để duy trì sự sống thể chất, và sự nghỉ ngơi âm cũng được đòi hỏi để giữ gìn và phục hồi sự sống, qua sự tiết kiệm khí. Cả hai đều quan trọng như nhau, và bạn cần cả hai.
Khi bạn tập luyện, hãy thở đúng cách mà không nín thở. Bạn cần một số lượng lớn oxy để chuyển hóa đường glucose thành năng lượng cần thiết. Nín thở quá nhiều tiêu hao khí.
Điều hòa cái Tâm. Sự mệt mỏi tinh thần, đặc biệt là sự xao động tình cảm, tiêu dùng khí. Để bảo vệ khí của bạn, chìa khóa quan trọng nhất là điều hòa tâm tình của bạn. Trong trạng thái trung tính, khí có thể ở tại nơi cư trú của nó mà không biểu hiện, vì vậy nó được giữ gìn và bảo vệ. Có một tài liệu nhấn mạnh việc điều hòa tâm để giữ gìn khí, mà tôi dịch tiếp sau đây và đưa ra vài lời bình.
Bách Tự Minh (Steel with One Hundred Words) — Lữ Nham (Lu, Yan)
Khi tu dưỡng khí, đừng chỉ nói về việc giữ gìn nó. Khi làm cho tâm tĩnh xuống, nó nên là làm mà không làm. Nếu bạn biết nguồn gốc của sự di động (dương) và sự tĩnh lặng (âm), thì không có gì để bạn phải hỏi ai khác nữa. Hãy đối mặt với thực tại chân thực, bạn phải đối phó với công việc hằng ngày, nhưng bạn không nên bị chúng mê hoặc. Bấy giờ khí chất của bạn có thể vững vàng và tự chủ, và khí sẽ tự nhiên được giữ gìn. Rồi đan có thể được thụ thai, và Khảm và Ly có thể tương tác dưới sự kiểm soát bên trong cái ấm. Sự tương tác của âm và dương khởi sự chu kỳ lặp lại, và điều này sẽ mang lại một sự sinh thành tự nhiên của sự sống mới, được giác ngộ như sấm sét. Mây trắng di chuyển lên trên, và sương ngọt rưới xuống Tu Di (sự viên mãn của nhân đức). Ta tự mình uống rượu trường thọ, làm sao người khác biết được ta tự do và không bị trói buộc đến mức nào? Ta ngồi xuống nghe những bài ca bằng nhạc khí không dây. Ta liễu ngộ rõ ràng công năng then chốt của sự sáng tạo tự nhiên. Những câu này dâng tặng cái thang để bước lên Thiên đàng (giác ngộ).
Tu dưỡng khí không chỉ là việc duy trì nó. Quan trọng nhất là điều hòa cái Tâm (tâm tình) của bạn. Nó phải được điều hòa cho đến khi không cần điều hòa nữa và nó trở thành tự nhiên. Tâm của bạn trở nên sáng suốt và sự phán đoán của bạn trung tính và chính xác. Dù hoạt động hay tĩnh lặng, bạn biết các nguồn gốc ở đâu. Nếu bạn biết rõ ràng điều gì đang xảy ra, tại sao bạn cần phải hỏi ai khác? Để sống trong cõi người này, bạn đối phó với những công việc cần thiết, nhưng không bị tiền tài, vinh quang, phẩm giá, kiêu hãnh, đố kỵ, quyền lực hay những dục vọng và tình cảm khác của con người cám dỗ. Nếu tâm của bạn tách khỏi những cám dỗ này, nó có thể tĩnh lặng và vững vàng. Khí trở về nguồn của nó (Chân Hạ Đan Điền), hình thành đan (Thai Thần, Spiritual Embryo). Bạn kiểm soát sự sống một cách dễ dàng qua việc điều chỉnh Khảm và Ly. Qua Khảm và Ly, âm và dương của thần và thân của bạn được điều hòa theo ý muốn của bạn. Qua việc tu dưỡng âm dương, khi thời cơ chín muồi, bạn mở con mắt thứ ba để đạt giác ngộ như một tiếng sấm. Khi điều này xảy ra, bạn không còn nghi ngờ gì về cuộc sống của mình, nó sẽ giống như những đám mây trắng tinh khiết trôi trên bầu trời và sương ngọt trên Tu Di (Tu Di). Tu Di là thuật ngữ của Đạo giáo chỉ cái thể tâm linh trong sự viên mãn của nhân đức. Bạn sống lâu và hưởng thụ cuộc sống một cách trọn vẹn nhất. Bạn giao tiếp với tự nhiên như đang nghe những bài ca không có âm thanh, thấu hiểu những công năng then chốt của nó.
Thu Thập và Trao Đổi Khí Với Tự Nhiên và Bạn Đồng Tu
Năng lượng từ mặt trời, mặt trăng, trái đất, cây cối và bất cứ nguồn năng lượng tự nhiên nào khác đều có thể nuôi dưỡng cơ thể. Bằng cách tĩnh tọa hướng về mặt trời lúc bình minh, người ta hấp thụ năng lượng mặt trời để tăng cường khí của cơ thể. Thực hành khí công hướng về mặt trăng vài ngày trước khi trăng tròn, cũng là một cách tốt để hấp thu khí. Định hướng một ngôi nhà bằng cách phối hợp các từ trường của mặt trời và trái đất được biết đến như Phong Thủy (Feng Shui, 風水 — gió-nước), điều quyết định năng lượng tốt cho sự sống. Dùng năng lượng tự nhiên để nuôi dưỡng khí của mình là rất quan trọng trong sự tu tập khí công.
Để hài hòa và quân bình khí, và để nuôi dưỡng lẫn nhau, nhiều Đạo sĩ dùng bạn đồng tu để trao đổi khí qua tĩnh tọa hay những sự thực hành khí công đặc biệt. Điều này được biết đến như song tu (Shuang Xiu, 雙修), cũng được mô tả trong Qigong—The Secret of Youth, và trong những ấn phẩm tương lai.
3. Tích Khí (Xu Qi)
Sau khi tiết kiệm, bảo vệ và tu dưỡng khí, bạn phải tích trữ nó vào bình điện sinh học tại Chân Hạ Đan Điền. Bạn dẫn khí tới đó và giữ nó ở đó.
Để giữ khí ở đó, bạn giữ tâm của mình ở đó. Khi tâm bạn đi lạc, bạn đang dẫn khí đi xa và tiêu hao nó. Giữ tâm tại trung tâm này được gọi là Ý Thủ Đan Điền (Yi Shou Dan Tian), được thực hiện qua Thai Tức (Tai Xi). Có một tài liệu giải thích tầm quan trọng của Thai Tức, mà tôi dịch ở đây với lời bình. Để biết thêm về đề tài này, xin tham khảo cuốn sách trước của tôi, Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
Kinh Thai Tức (Classic of Embryonic Breathing)
Bào thai được thụ thai từ khí ẩn tàng. Khí được phát triển qua (sự điều hòa) hơi thở của bào thai. Khi khí hiện diện, cơ thể có thể sống. Khi Thần từ bỏ cơ thể và khí tản mạn, thì cái chết theo sau. Biết thần và khí làm cho trường thọ có thể thực hiện được. Hãy giữ vững cái trống không (Thai Thần, Spiritual Embryo) để tu dưỡng thần và khí. Khi thần di động, khí di động. Khi thần ngừng, khí ngừng. Để trường thọ, thần và khí phải phối hợp hài hòa với nhau. Khi Tâm không bị các ý nghĩ đến và đi mê hoặc, thì Thần và Khí sẽ không đi ra và đi vào, và do đó sẽ ở lại. Thực hành một cách thông minh là con đường chân thực.
Không ai biết kinh này được viết khi nào hay bởi ai, nhưng nó đã được truyền lại qua nhiều thế hệ và được xem là một trong những tài liệu quan trọng nhất về Thai Tức.
Thánh Thai (Sheng Tai, 聖胎) hay Thần Thai (Shen Tai, 神胎) được thụ thai từ khí được tích trữ tại Chân Hạ Đan Điền. Để có được khí ẩn tàng này, hãy thực hành Thai Tức. Một khi bạn đã tích trữ nó một cách dồi dào, sinh lực của bạn trở nên mạnh mẽ, mang lại cho bạn sức khỏe tốt và trường thọ. Nhưng để biểu hiện khí này thành sinh lực vật lý, bạn cần một cái thần mạnh mẽ, để tập trung sự tuần hoàn và sự biểu hiện của khí. Nếu không có sinh thần này, bạn đánh mất sức khỏe và chết. Người nào tu dưỡng thần và khí của mình thì sống lâu và khỏe mạnh. Phần đầu của kinh này giải thích làm thế nào để điều hòa mối quan hệ giữa sự sống vật lý, khí và Thần.
Hãy giữ tâm của bạn vững chắc tại Chân Hạ Đan Điền, được gọi là Hư Vô (Xu Wu, 虛無), nghĩa là sự không có gì. Tâm của bạn ở lại tại Chân Hạ Đan Điền là trạng thái Vô Cực (Wuji, 無極), trạng thái không phân biệt, hay sự không có gì. Chỉ ở đây bạn mới thực sự có thể ở trong một trạng thái tâm trung tính. Hãy dọn sạch các tình cảm và dục vọng. Điều này được mô tả trong Đạo Đức Kinh như sau: “Hãy tiến tới sự không có gì tới chỗ tột cùng của nó, và duy trì sự tĩnh lặng với lòng chân thành.” Tâm dẫn khí. Khi bạn tích cực suy nghĩ, bạn đang dẫn khí đi xa khỏi nơi cư trú của nó và tiêu hao nó. Để tích trữ khí dồi dào, bạn phải tiết kiệm, bảo vệ và xây dựng nó. Ba điều quan trọng này được nhấn mạnh trong Nội Đan khí công (Nei Dan Qigong).
Để xây dựng khí dồi dào, bạn không những giữ tâm tại Chân Hạ Đan Điền, mà còn thực hành Thai Tức. Để biểu hiện khí một cách hữu hiệu cho đời sống hằng ngày, bạn cần một cái Thần mạnh mẽ và được kiểm soát cao độ. Sự tiêu hao khí được hạn chế và hiệu suất cao. Chìa khóa của trường thọ là phối hợp và hài hòa Thần và Khí. Để giữ Thần thuần khiết và mạnh mẽ, hãy làm cho Tâm tĩnh lặng. Tâm giống như con khỉ, trong khi Ý giống như con ngựa (Tâm Viên Ý Mã). Để giữ con khỉ vững vàng, hãy nhốt nó trong ‘cái lồng’ của nó, trạng thái Vô Cực. Điều này là then chốt cho sự thành công.
4. Hành Khí (Xing Qi — Vận Chuyển Khí)
Sau khi đã giữ gìn, bảo vệ, tu dưỡng và tích trữ khí, bạn cần phải tuần hoàn nó một cách hữu hiệu. “Dùng tâm để dẫn khí” (Dĩ Ý Dẫn Khí, Yi Yi Yin Qi). Chìa khóa của điều này là sự “dẫn” (Dẫn, Yin). Tâm không nên ở trong khí, mà ở phía trước nó. Nếu tâm của bạn chú ý tới khí, nó bị ứ trệ. Nếu bạn muốn di chuyển từ chỗ bạn đang đứng, tâm của bạn phải ở tại điểm mà bạn muốn di chuyển tới. Nếu tâm của bạn ở lại tại chỗ bạn đang đứng, thì không có sự di chuyển nào có thể xảy ra. “Ý không nên ở trên khí, nếu ở trên khí, thì bị ứ trệ.”
Các phương pháp dẫn và điều bạn muốn hoàn thành tùy thuộc vào việc bạn nắm bắt lý thuyết, các nguyên lý của âm dương, và mục tiêu của sự huấn luyện của mình một cách rộng rãi và sâu xa đến mức nào. Có năm mục tiêu thông thường đối với một người thực hành khí công, thay đổi tùy theo chiều sâu của sự huấn luyện.
Sự nối kết của Ý và Khí. Trước khi bạn có thể nối kết Ý của mình với khí, bạn phải nhận ra sự hiện hữu của khí, khởi nguồn từ cảm giác về sự hiện hữu của nó. Khí là năng lượng không thể thấy mà chỉ có thể cảm nhận. Bạn huấn luyện để thiết lập một cảm giác nhạy bén về nó. Khi cảm giác này tập trung vào cơ thể bên trong, nó được gọi là công phu nội thị (Nội Thị Công Phu, Nei Shi Gongfu).
Sau đó, bạn thiết lập sự nối kết giữa Ý và Khí. Cảm giác này giống như một sợi dây bạn cầm, nối vào mũi của con bò. Nếu không có sợi dây này, bạn sẽ không thể dẫn được khí.
Một khi bạn đã thiết lập được sự nối kết này, thì bạn cũng phải biết mình cần bao nhiêu nỗ lực và lực để dẫn con bò. Quá mạnh hay quá yếu, con bò hoặc sẽ chống cự hoặc đứng yên. Sự phối hợp này được gọi là sự hài hòa của Ý và Khí (Ý Khí Tương Hợp, Yi Qi Xiang He).
Dẫn Khí Tới hay Rời Khỏi Một Điểm Cụ Thể Của Cơ Thể. Một khi bạn có thể dẫn được khí, bạn dẫn nó từ nơi này tới nơi khác trong cơ thể cho những mục đích khác nhau. Để trị liệu, bạn có thể dẫn nó tới một nơi suy yếu để bồi bổ khí (Bổ, Bu). Bạn cũng có thể dẫn khí bị ứ trệ ra khỏi một nơi cụ thể để giải tỏa (Tả, Xie). Nếu thận của bạn bị suy trong mùa đông, bạn có thể dẫn khí tới đó để bồi bổ. Nếu bạn bị thương ở một khớp xương, bạn có thể dẫn khí đi để làm dịu cơn đau và thư giãn khớp, nhằm thúc đẩy tiến trình chữa lành.
Những người thực hành khí công cũng dẫn khí lên trên cơ hoành để nạp năng lượng và kích thích tâm và thân (dương), và dẫn nó xuống dưới cơ hoành để làm mát (âm). Người ta dẫn khí tới các huyệt Lao Cung (P-8) và tới các đầu ngón tay để trị liệu, bằng cách trao đổi khí với một bệnh nhân. Những người thực hành khí công võ thuật dẫn khí tới các huyệt Dũng Tuyền (K-1) để thiết lập một cái rễ vững chắc cho chiến đấu.
Có nhiều ứng dụng một khi bạn có thể dẫn khí một cách hữu hiệu bằng Ý của mình. Bạn càng thực hành nhiều, kết quả sẽ càng tốt hơn. Thành công tùy thuộc vào Ý của bạn, nó mạnh đến mức nào và bạn tập trung trong tĩnh tọa đến mức nào.
Tiểu Chu Thiên Tuần Hoàn. Để có một cơ thể khỏe mạnh và có sức chống chịu, người ta xây dựng khí, rồi tuần hoàn nó trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch (Ren, Du Mai). Điều này được gọi là Tiểu Chu Thiên tuần hoàn (Xiao Zhou Tian) hay đơn giản là Tiểu Chu Thiên. Khi sự tuần hoàn khí dồi dào trong hai mạch này, khí trong Thập Nhị Kinh Chính có thể được điều hòa một cách trôi chảy. Điều này duy trì nguồn cung cấp khí dồi dào cho toàn bộ cơ thể, làm cho nó mạnh mẽ và khỏe mạnh.
Đại Chu Thiên Tuần Hoàn. Một khi bạn đã hoàn tất Tiểu Chu Thiên, bạn có một nền tảng vững chắc cho sự thực hành Đại Chu Thiên (Da Zhou Tian). Nó bao gồm: A. Đại Chu Thiên Thập Nhị Kinh Chính; B. Đại Chu Thiên Võ Thuật; C. Đại Chu Thiên Trao Đổi Khí Hỗ Tương; và D. Đại Chu Thiên Giác Ngộ Tâm Linh.
Vì đây là những đề tài rất lớn, nên chúng tôi giới thiệu lý thuyết và sự thực hành của chúng trong những cuốn sách riêng biệt. Đại Chu Thiên Võ Thuật được bàn trong cuốn sách The Essence of Shaolin White Crane.
Giác Ngộ Tâm Linh. Mặc dù sự thực hành Giác Ngộ Tâm Linh là một phần của Đại Chu Thiên Tuần Hoàn, do lý thuyết thâm sâu của nó và sự khó khăn trong thực hành, nó được bàn riêng. Nó được những Phật tử và Đạo sĩ nhắm tới Phật quả hay giác ngộ tâm linh quan tâm nhiều hơn.
Trong Đại Chu Thiên Tuần Hoàn Giác Ngộ Tâm Linh, bạn thực hành Thai Tức để tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền, và điều kiện hóa bình điện sinh học ở đó. Rồi dẫn khí đi lên qua tủy sống (Xung Mạch, Chong Mai) để nạp năng lượng cho các tế bào não và kích hoạt chức năng của chúng. Khi mức năng lượng của não đạt tới một mức nào đó, khí di chuyển dọc theo Thần Cốc (Shen Gu, 神谷) để mở lại con mắt thứ ba hầu đạt giác ngộ. Chúng tôi sẽ bàn chi tiết hơn về điều này trong Spiritual Enlightenment Meditation.
Ngọc Bội Minh Về Hành Khí (Jade Pendant Inscription of Transporting Qi)
Khi vận chuyển khí, nếu sâu, thì tích lũy. Nếu khí được tích lũy, nó có thể được mở rộng. Khi được mở rộng, nó có thể được chìm xuống dưới. Nếu chìm xuống dưới, thì vững vàng. Nếu vững vàng, thì vững chắc. Nếu vững chắc, thì có thể nảy mầm. Đã nảy mầm, nó có thể lớn lên. Khi lớn lên, nó rút lui. Khi rút lui, nó trở về trời. Nền tảng của trời là ở trên (Thượng Đan Điền) và nền tảng của đất là ở dưới (Chân Hạ Đan Điền). Tuân theo các quy luật này, người ta có thể sống, bằng không sẽ chết.
Khi tuần hoàn khí trong cơ thể, hơi thở sâu làm thư giãn cơ thể và làm tĩnh tâm. Sự tuần hoàn khí có thể sâu và sự tích trữ khí dồi dào. Chỉ bấy giờ khí mới có thể đủ mạnh để được phân bố khắp nơi trong cơ thể. “Hãy vận chuyển khí như thể qua một viên ngọc có lỗ chín khúc, ngay cả nơi nhỏ nhất cũng sẽ tới được.” Sự trao đổi chất của cơ thể trở nên trôi chảy, tự nhiên và khỏe mạnh. Khí dồi dào được dẫn xuống và tích trữ tại Chân Hạ Đan Điền để ổn định hóa và tăng cường sự sống.
Việc dẫn và tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền là tiến trình của Thai Tức (Tai Xi). Nó đem sự sống tinh thần và thể chất trở về nguồn của nó, trong trạng thái Vô Cực. Bấy giờ sự sống mới có thể nảy mầm và lớn lên. Sau khi hoàn tất mục đích của sự biểu hiện khí, hãy rút lui và trở về nguồn, tức Chân Hạ Đan Điền. Tiến trình này là con đường của thiên đạo (Đạo, Dao). Tiết kiệm và tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền, bạn biểu hiện nó một cách hữu hiệu trong cuộc sống của mình. Sau khi đã hoàn tất sự biểu hiện, bạn đem khí trở lại và lại tiết kiệm nó tại Chân Hạ Đan Điền. Việc biểu hiện khí tới mức tối đa tùy thuộc vào việc bạn thanh lọc thần của mình kỹ lưỡng đến mức nào và nâng nó lên để cai quản sự tuần hoàn khí. Đầu là trời (Thiên, Tian) trong khi bụng là đất (Địa, Di) trong sự thực hành khí công. Thượng Đan Điền là nơi cư trú của thần trong khi Hạ Đan Điền là nơi cư trú của khí. Hãy tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền và giữ thần của bạn cao và tập trung tại Thượng Đan Điền để đạt được trường thọ.
4-6 · Điều Thần (調神 — Tiao Shen)
Trước khi bạn đọc phần này, bạn nên đọc lại định nghĩa về Thần trong Chương 3, để hiểu ý nghĩa thâm sâu của các tài liệu cổ và các phương pháp tu dưỡng Thần.
Ở đây chúng tôi bàn về hai thuật ngữ khí công quan trọng: Thần Cốc (Shen Gu, 神谷 — Thung Lũng Thần) và Cốc Thần (Gu Shen, 谷神 — Thần Thung Lũng), vốn xuất hiện trong nhiều tài liệu cổ. Rồi chúng tôi giới thiệu năm phép huấn luyện then chốt để điều hòa Thần, tiếp theo là hai chìa khóa huấn luyện chính. Cuối cùng chúng tôi tóm lược các mục tiêu của sự huấn luyện Thần.
Cốc Thần và Thần Cốc
Trong Chương 6 của Đạo Đức Kinh (Dao De Jing), có nói: “Cốc Thần (Gu Shen) không chết, nên nó được gọi là Huyền Tẫn (Xuan Pin). Cái then chốt để đạt tới Huyền Tẫn này là gốc rễ của trời và đất. Nó rất mềm mại và liên tục như thể nó đang hiện hữu. Khi nó được dùng, nó sẽ không bị cạn kiệt.”
Thần (Shen, 神) cư trú tại khoảng không gian giữa hai bán cầu não. Nó giống như một thung lũng giữa các ngọn núi, giam giữ năng lượng và tạo ra những rung động cộng hưởng tương ứng với năng lượng bên ngoài thung lũng. Cái Thần trong thung lũng này được gọi là Cốc Thần (Gu Shen) và thung lũng được gọi là Thần Cốc (Shen Gu). Cái Thần cư trú trong thung lũng này cai quản sự rung động năng lượng của toàn bộ cơ thể và do đó cai quản tình trạng khí và sự biểu hiện của nó. Khi Thần này mạnh mẽ, sự biểu hiện khí trong cuộc sống của bạn sẽ mạnh mẽ, và cuộc sống của bạn sẽ dài lâu và khỏe mạnh.
Huyền (玄) nghĩa là nguyên thủy (Nguyên, Yuan). Tẫn (牝) chỉ những con vật giống cái và có nghĩa là những người mẹ. Vì vậy, Huyền Tẫn có nghĩa là Nguồn gốc hay Rễ của các sự sống. Khi Cốc Thần được tập trung (ngưng tụ) và hoạt động một cách tích cực, sinh lực mạnh mẽ. Huyền Tẫn được gọi là Thái Cực (Taiji, 太極 — Cực Lớn) trong Kinh Dịch (Yi Jing, The Book of Change). Thái Cực này là Đạo của các sự sống trong đại tự nhiên. Huyền Tẫn có thể được tóm lược như sau: “Gốc rễ của sự sáng tạo, biến hóa, sinh thành và nuôi dưỡng hàng triệu sự sống. Nó là mẹ của hàng triệu sự vật ở trời và đất. Nó là một tên khác của Đạo.”
Cánh cửa để đạt tới Huyền Tẫn này là đi qua thiên thần (trời và đất). Nó rất mềm mại và liên tục như thể có hiện hữu, mà lại như thể không hiện hữu. Nó không thể thấy được, nhưng được cảm nhận qua sự tu dưỡng. Khi được dùng, nó sẽ không bị cạn kiệt.
Để đạt tới thiên thần này, bạn phải mở con mắt thứ ba của mình, được gọi là Thiên Mục (Tian Mu, 天目 — thiên nhãn), hay Ngọc Môn (Yu Men, 玉門 — cửa ngọc) bởi các cộng đồng tôn giáo, và Ấn Đường (Yintang, M-HN-3 — ấn đường) bởi cộng đồng y học. Võ Đang Tu Chân Đồ (Wudang's Illustration of Cultivating Truth) nói: “Chỗ dưới Minh Đường (Mingtang — Ấn Trung, Ezhong, M-HN-2, trung tâm của trán), phía trên trung điểm của đường nối hai lông mày, nơi ánh sáng tâm linh phát ra, được gọi là thiên nhãn (Thiên Mục).” Nó cũng được nhắc tới trong tài liệu Vân Cấp Thất Thiêm (Seven Bamboo Slips of the Bamboo Bookcase): “Khoảng không gian giữa hai lông mày là Ngọc Môn của Nê Hoàn (Ni Wan).” Nê Hoàn là một thuật ngữ Đạo giáo, nghĩa là Hoàn Nê (viên hoàn bùn), tức là não bộ, hay Thượng Đan Điền. Trung tâm phía dưới của Thần Cốc (Shen Gu) giữa hai bán cầu não được gọi là Nê Hoàn Cung (Ni Wan Gong), hay Cung Hoàn Nê (Mud Pill Palace) (Hình 4-13 và 4-14).
Điều hòa Thần có nghĩa là tu dưỡng nó cho đến khi nó đạt tới trạng thái siêu nhiên thần thánh. Trong cộng đồng Đạo giáo, có một bài ca nói rằng: “Có một Thần trong mỗi thân thể con người. Có một ánh sáng siêu nhiên thần thánh (Linh Quang, Ling Guang) có thể được phát triển trong Thần này. Chỉ riêng ánh sáng siêu nhiên thần thánh này có thể chiếu rọi vào hàng ngàn thung lũng. Đạo biến hóa của nó là vô hạn, lan tỏa hàng triệu cách.” Một khi bạn tu dưỡng Thần tới mức giác ngộ, nó có thể tới được mọi nơi trong vũ trụ.
Có một bài ca trong cộng đồng Phật giáo nói rằng: “Đừng tìm Phật ở xa xôi, vì Ngài ở trong Linh Sơn (núi tâm linh). Linh Sơn ở đâu? Thực ra nó ở trong tâm của bạn. Mỗi người nên có một ngôi tháp tại Linh Sơn, để dưới đó tu dưỡng cái thể của mình.” Tháp (Tháp, Ta) ngụ ý những việc thiện bạn đã làm, và sự liễu ngộ về tự nhiên mà bạn đã tích lũy trong sự tu dưỡng tâm linh.
Để kết thúc tiết này, tôi dịch một vài tài liệu cổ về Thần. Hãy tiếp tục đọc đi đọc lại chúng, và bạn sẽ đột nhiên liễu ngộ ý nghĩa của sự tu dưỡng tâm linh.
Quán Mạch (Observing Vessels)
Não là Thượng Đan Điền, cung điện nơi Nguyên Thần (Yuan Shen) cư trú. Nếu một người nắm bắt được Nguyên Thần này và làm cho nó ở lại tại Cung Nguyên Thủy này, thì kim khí tự động phát sinh, và Chân Tức có thể được ổn định hóa một cách tự nhiên. Nếu một đường được mở, thì hàng trăm đường sẽ đều được mở. Khi cửa lớn được mở, thì hàng trăm cửa đều được mở.
Não là Thượng Đan Điền (Shang Dan Tian), nơi cư trú của Thần. Thần cư trú tại Thượng Đan Điền từ lúc sinh ra và được gọi là Nguyên Thần (Yuan Shen). Tài liệu Bản Thảo Cương Mục (Detailed Outline of Galenical) nói: “não là nơi cư trú của Nguyên Thần.” Nếu bạn ngưng tụ Thần của mình và chứa nó trong nơi cư trú của nó, khí trong cơ thể của bạn sẽ được giữ gìn. Hãy giữ tâm bạn tĩnh lặng và thanh bình, và tránh bị phân tâm bởi công việc của con người và những xao động tình cảm. Bấy giờ sự tích trữ khí tại Chân Hạ Đan Điền sẽ dồi dào và có thể được dẫn lên để nuôi dưỡng não và Thần. Hơi thở trở nên mảnh mai, nhẹ nhàng và vững vàng. Điều này dọn sạch những chướng ngại đối với khí trong toàn bộ cơ thể, và mang lại sức khỏe và trường thọ.
Bí Mật Ẩn Tàng Của Gia Đình Họ Phùng (Concealed Secret of Fong's Family)
Có một điểm then chốt trong cơ thể tên là Huyền Tẫn, điều làm cho sự sống có thể sống bằng cách thu nhận khí. Đây là nơi cư trú của Thần, nơi Tam Nguyên (San Yuan) được tụ tập. Đó là huyệt nơi Tinh (tinh chất), Thần (thần), Hồn (linh hồn) và Phách (sinh khí) gặp nhau. Đó là gốc rễ nơi Kim Đan (Jin Dan) trở về, và nơi các vị tiên nhân thụ thai Thánh Thai của họ.
Tài liệu này mô tả Thần Cốc (Shen Gu) hay Cung Hoàn Nê (Ni Wan Gong), nơi Thần cư trú. Có Thần, và với cơ thể được nuôi dưỡng bởi khí, thì có sự sống vật lý. Khi Thần rời khỏi cơ thể, là cái chết. Để nuôi dưỡng Thần này, hãy tụ tập Tam Nguyên (San Yuan), tức là Tinh (Tinh), Khí (Khí), và Thần (Thần) tại nơi này. Bấy giờ Thần có thể được nâng lên một mức cao.
Phách (魄) là sinh thần được khí hỗ trợ trong khi một người còn sống. Khi một người chết, Phách trở thành Hồn (魂), nghĩa là linh hồn sau khi chết. Kim Đan (金丹) nghĩa là Kim Đan và ngụ ý khí quý giá. Khi khí quý giá này được dẫn lên để nuôi dưỡng Thần, bạn có thể đạt tới sự bất tử. Hãy nhớ bài ca nói rằng: “Có một Thần trong mỗi thân thể con người. Có một ánh sáng siêu nhiên thần thánh (Linh Quang) có thể được phát triển trong Thần này. Chỉ riêng ánh sáng siêu nhiên thần thánh này có thể chiếu rọi vào hàng ngàn thung lũng. Đạo biến hóa của nó là vô hạn, lan tỏa hàng triệu cách.” Một khi bạn tu dưỡng Thần tới mức giác ngộ, nó có thể tới được mọi nơi trong vũ trụ.
Bài Ca Về Cốc Thần — 1
Tôi có một thung lũng trống không vô thể chất ở bên trong. Khi nói về nó, nó dường như có đó, rồi lại dường như không có đó. Khi nói về nó, dù nó không có đó, chúng ta cũng không thể phớt lờ nó. Khi nói về nó, dù nó có đó, nó cũng không thể bị cư trú.
Thung lũng, thung lũng, kỳ diệu thay. Thần, Thần, đó là Đại Đạo chân thực. Giữ nó, bảo vệ nó, bạn có thể có tên trong danh sách những người không chết. Tu dưỡng và luyện nó, bạn có thể được gọi là một vị thần tiên (Tiên Nhân, Xian Ren).
Bài ca này mô tả tầm quan trọng của Thần Cốc (Shen Gu) và nó then chốt đến mức nào đối với sự tu dưỡng Cốc Thần (Gu Shen). Thần Cốc này nằm giữa hai thùy não (Nê Hoàn Cung, Ni Wan Gong). Nó không thể thấy mà chỉ có thể cảm nhận. Trong đó, Cốc Thần cư trú. Để đạt tới Đạo của giác ngộ, bạn phải cảm nhận sự hiện hữu của Thần Cốc, giữ Thần ở đó một cách vững chắc, và tu dưỡng nó. Đó là con đường để đạt tới sự bất tử. Tiên Nhân (仙人) là những người đã đạt được sự bất tử tâm linh và giác ngộ.
Bài Ca Về Cốc Thần — 2
Khi Cốc Thần đạt được Nhất (Yi — sự đơn nhất) của nó, thì Linh (sự khéo léo tinh tế) có thể được phát triển. Khi Thần Cốc đạt được Nhất (trung tâm) của nó, thì sự viên mãn có thể đạt được. Nếu một người giữ được sự đơn nhất này, thì từ riêng điều đó người ấy có thể đạt được trường thọ.
Đạt được trường thọ không quá khó. Tuy nhiên, nó không thể đạt được nếu một người bỏ bê thân thể. Nếu được huấn luyện và sự thành tựu đạt được, thì những cái xương tầm thường tự nhiên được thay đổi.
Nhất (一) ở đây có nghĩa là một, sự đơn nhất, hay sự giản đơn. Nếu Thần có thể ngưng tụ thành sự đơn nhất tại nơi cư trú của nó mà không tản mạn, thì sự rung động tâm linh mạnh mẽ cho phép bạn phát triển Linh (靈), nghĩa là sự khéo léo tinh tế, thông minh, sự khéo tay, sự lanh lẹ và sự liễu ngộ.
Khi Thần Cốc đạt được cái Thần tập trung này, năng lượng cộng hưởng gắn kết trở nên đầy đủ và mạnh mẽ, và khí được Thần cai quản một cách hữu hiệu. Để đạt trường thọ, cũng hãy chăm lo sức khỏe thể chất của bạn chứ không chỉ sự tu dưỡng tinh thần và tâm linh. Chìa khóa là cả thể xác lẫn tinh thần. Chỉ nếu hai điều này quân bình lẫn nhau và có một nền tảng vững chắc, thì bạn mới có thể sống một cuộc đời dài lâu và khỏe mạnh. Những người Đạo giáo thường tu dưỡng cả thân lẫn tâm. Sự song tu này được gọi là Tính Mệnh Song Tu (Xing Ming Shuang Xiu) và có nghĩa là song tu khí chất và sự sống.
Bài Ca Về Cốc Thần — 3
Nếu Cốc Thần không chết, bạn đã đạt được cánh cửa của Huyền Tẫn. Đi ra và đi vào mềm mại như Đạo hiện hữu bên trong. Khi tu dưỡng Thần để đưa nó trở về sự trống không vô thể chất vào lúc nửa đêm, hãy dùng con sông để chuyên chở khí tới Côn Lôn.
Con rồng đang hát và con cọp cũng đang gầm, gió và mây gặp nhau và bà lão vàng đang la hét. Thiếu nữ trong lửa thì e thẹn và duyên dáng. Hãy nhìn vào trong để thấy đứa bé trong nước.
Huyền (玄) nghĩa là Nguyên thủy (Nguyên, Yuan), và Tẫn (牝) nghĩa là những người mẹ. Vậy Huyền Tẫn có nghĩa là nguồn gốc hay gốc rễ của các sự sống, chìa khóa của trường thọ. Để giữ Thần tại nơi cư trú của nó, hãy tuân theo Đạo, một cách mềm mại, nhẹ nhàng và kiên trì. Hãy cắt đứt những sự phân tâm bên ngoài và những xao động tình cảm, dần dần và nhẹ nhàng. Nếu bạn cố ép buộc, tâm tình sẽ càng bị xao động hơn. Để dẫn khí đi lên qua Xung Mạch để nuôi dưỡng não bộ, bạn phải huấn luyện vào lúc nửa đêm, bởi vì khí mạnh nhất vào lúc đó.
Rồng (Long, 龍) và Cọp (Hổ, Hu, 虎) có nghĩa là âm khí và dương khí trong cơ thể. Bà Lão Vàng (Hoàng Bà, Huang Po) là người mai mối đem âm và dương lại với nhau. Qua sự tương tác của âm và dương, thai nhi tâm linh được thụ thai. Hoàng Bà là Thần và hơi thở, điều đem âm và dương lại với nhau.
Đứa bé (Anh Nhi) và thiếu nữ e thẹn (Cha Nữ) gặp bà lão vàng (Hoàng Bà), và con trai với mẹ gặp nhau với cùng một Ý (tâm). Trong Kim Điện (cung vàng) và Ngọc Đường (điện ngọc), có mười hai cánh cửa. Kim Công (nam vàng) và Mộc Mẫu (mẹ gỗ) đang tới.
Sau khi đi qua những tầng cửa then chốt, lập tức khóa cửa lại. Hãy kiểm tra những con bò ở Bắc Đẩu (Đẩu Ngưu, Dou Niu), và lập tức khởi hỏa. Hãy tiến hỏa để tiêu trừ âm và khởi sự dương thuần nhất. Cây đào ngàn năm đã bắt đầu kết trái.
Đứa bé (Thần) và thiếu nữ e thẹn (Khí) giờ đây được bà lão vàng (Hoàng Bà — tâm và hơi thở) đem lại với nhau trong sự hài hòa với nhau. Chúng được dẫn từ Hoàng Đình (Huang Ting) lên Thượng Đan Điền, đi qua mười hai cánh cửa (vùng cổ họng). Nguyên Tinh và Thần trở thành một. Anh Nhi có nghĩa là đứa bé (con trai) và ngụ ý Thai Thần (Spiritual Embryo). Cha Nữ (thiếu nữ e thẹn, mẹ) ngụ ý Khí. Điều này có nghĩa là Tâm đã được làm cho tĩnh lặng và hợp nhất với Thần tại Hoàng Đình. Thai nhi được thụ thai và được dẫn lên Thượng Đan Điền.
Kim Điện cũng được gọi là Kim Thất (Kim Thạch), hay Cung Vàng, và ngụ ý phổi. Ngọc Đường có nghĩa là Điện Ngọc, vòm miệng. Mười hai cánh cửa có nghĩa là vùng cổ họng. Kim Công có nghĩa là Nam Vàng, tức Nguyên Tinh (Yuan Jing), và Mộc Mẫu có nghĩa là Mẹ Gỗ, tức gan. Gan (Thần) thuộc mộc trong Ngũ Hành (Wu Xing) và sinh ra tâm hỏa (Tâm, Xin). Khi Thần và Tâm được hài hòa, tâm tĩnh lặng và thần ngưng tụ.
Sau khi đi qua cổ họng tới Thượng Đan Điền, lập tức giam giữ Thai Thần ở đó. Đẩu Ngưu có nghĩa là Bắc Đẩu, ngụ ý tiến trình ngưng tụ Thần tại Thượng Đan Điền. Sau một thời gian dài thực hành, Thai Thần có thể được sinh ra.
Chim Vàng (Kim Điểu, Jin Niao) bay trên bờ phía đông của con sông cong (Khúc Giang, Qu Jiang). Con Thỏ Ngọc (Ngọc Thố, Yu Tu) chiếu sáng rực rỡ trên bờ phía tây. Con chim và con thỏ đi tới đỉnh núi. Thiếu nữ trong lò lấy tấm vải xanh của mình ra.
Sau khi cởi bỏ tấm vải xanh, thân thể thuần khiết sạch sẽ lộ ra. Đứa bé rồi được dẫn tới những tầng màn. Sau mười tháng tình cảm mạnh mẽ và nặng nề, một đứa bé trai được sinh ra. Hãy nói rằng nó có thể sống lâu và sẽ không chết.
Khúc Giang có nghĩa là Con Sông Cong (ruột, Chân Hạ Đan Điền). Kim Điểu có nghĩa là Chim Vàng (Nguyên Thần, Yuan Shen). Ngọc Thố có nghĩa là Thỏ Ngọc (Nguyên Tinh, Yuan Jing). Câu đầu tiên có nghĩa là Nguyên Thần và Nguyên Tinh trở thành một, được dẫn lên cái lò, tức Thượng Đan Điền. Thiếu nữ cởi bỏ bộ áo xanh của mình, để sinh ra đứa bé. Áo xanh ngụ ý sự biểu hiện của Thần qua gan. Màu của gan ở giữa xanh lam và xanh lục trong y học Trung Hoa. Thần được biểu hiện qua sự sinh ra của thai nhi tâm linh.
Đứa bé được sinh ra sau mười tháng mang thai và được giữ sau bức màn để nuôi dưỡng. Đó là sự khởi đầu của sự sống tâm linh vĩnh cửu. Anh Châu (Ying Zhou) là ngọn núi thánh ở biển đông, nơi các vị tiên nhân của truyền thuyết Trung Hoa cư ngụ.
Tôi khuyên bạn hãy thực hành và tu dưỡng. Nếu Cốc Thần không chết, mục tiêu của sự bất tử có thể đạt được. Hãy liễu ngộ lý thuyết và cẩn thận áp dụng những chi tiết kỳ diệu ấy. Một ngày nào đó, tôi sẽ tới cõi Tiên để gặp bạn.
Luận Về Sự Bất Tử Của Cốc Thần (Thesis of Valley Spirit's Immortality)
Thế nào là thung lũng? Nó có nghĩa là Thiên Cốc (Heavenly Valley). Thế nào là Thần? Nó có nghĩa là Nguyên Thần của cơ thể. Thiên Cốc có năng lực sáng tạo và biến hóa, dù nó nắm giữ sự hư vô vô thể chất. Một thung lũng trên trái đất chứa đựng hàng triệu sự vật và có núi và sông. Con người có cùng thiên tính với trời và đất, vì vậy chúng ta cũng có một thung lũng. Có một sự đơn nhất chân thực được thụ thai trong thung lũng này, nơi Nguyên Thần cư trú. Có chín cung điện trong đầu tương ứng với chín tầng trời ở trên. Trong số đó, có một cung điện ở trung tâm được gọi là Nê Hoàn (Hoàn Nê), hay Hoàng Đình (Sân Vàng), cũng được gọi là Côn Lôn, hay Thiên Cốc. Các tên gọi thì nhiều. Đó là nơi Nguyên Thần cư trú. Nó trống không như một thung lũng, và Thần sống trong đó. Thần này được gọi là Cốc Thần (Gu Shen).
Khoảng không gian giữa hai bán cầu não được gọi là Thiên Cốc (Tian Gu). Đầu được xem là Trời, trong khi Hội Âm (đáy chậu, Co-1) được xem là Hải Để (Hai Di — Đáy Biển). Thiên Cốc này có nhiều tên gọi khác, chẳng hạn như Thần Cốc (Shen Gu), Sân Vàng (Hoàng Đình, Huang Ting), Hoàn Nê (Nê Hoàn, Ni Wan) hay Côn Lôn (Kunlun).
Nó được gọi là Thần Cốc vì Thần sống ở đó. Nó được gọi là Sân Vàng vì đó là một nơi quan trọng cho sự tu dưỡng. (Hoàng Đình ở vùng dạ dày, nơi Thai Thần được thụ thai, cũng được gọi là Sân Vàng). Nó được gọi là Hoàn Nê do sự xuất hiện của các tuyến tùng và tuyến yên. Nó được gọi là Côn Lôn vì đó là một trong những ngọn núi cao nhất ở Trung Hoa.
Mặc dù Thần Cốc thì trống không và không chứa đựng những sự vật vật chất như những thung lũng trên trái đất, vốn chứa đựng sông ngòi, cây cối và nhiều sự vật khác, nhưng nó có năng lực của sự sáng tạo và biến hóa. Những người Đạo giáo tin rằng có chín tầng của sự tu dưỡng tâm linh, với một cung điện trong mỗi tầng. Não bộ cũng có chín cung điện tương ứng với chín cung điện của trời. Trong số đó, cung ở trung tâm là quan trọng nhất. Đây là nơi Nguyên Thần (Yuan Shen) cư trú. Cung trung tâm này được gọi là Nê Hoàn Cung (Cung Hoàn Nê). Khi bạn tập trung tâm mình ở đó, các tuyến tùng và tuyến yên được kích hoạt bởi khí dồi dào. Điều này gia tăng đáng kể sự sản xuất melatonin và kích thích tố tăng trưởng của con người (HGH), hai loại kích thích tố then chốt đối với trường thọ và sinh lực.
Khi Thần hiện hữu, thì có sự sống. Khi Thần ra đi, là cái chết. Vì bị gắn bó với các sự vật (công việc của con người) ban ngày và với những giấc mơ ban đêm, Thần không thể an trú thanh bình tại nhà. Ngô vàng chưa chín, giấc mơ chưa tỉnh, toàn bộ sự vinh quang, huy hoàng, tài sản và địa vị của cuộc đời. Một trăm năm đau khổ, lo âu, hạnh phúc và hoan lạc, chẳng phải nó đang xảy ra như trong một giấc mơ sao? Một khi đã chết, sự sống không thể đảo ngược. Thần đi lang thang và không thể trở về. Sự sống và cái chết bị chia lìa, con đường giữa sự sống và cái chết bị cắt đứt. Vì vậy chúng ta thấy rằng nếu Thần không sống, người ta không thể tự mình sống, và nếu Thần đã chết, người ta cũng tự nhiên chết theo. Nếu Thần an trú trong thung lũng của nó mà không chết, thì làm sao người ta có thể chết? Lý do Cốc Thần (Gu Shen) không chết là vì Huyền Tẫn.
Nếu tâm của bạn luôn luôn bị phân tâm bởi công việc của con người và các tình cảm, thì Thần của bạn không thể ở tại nơi cư trú của nó. Đời sống con người ngắn ngủi và trôi qua như một giấc mơ. Nếu bạn phí thời gian khao khát vinh quang, phẩm giá, quyền lực và tài sản, mà bỏ bê việc tu dưỡng Thần của mình và giữ nó vững vàng tại nơi cư trú của nó, thì một ngày nào đó bạn thức dậy trong sự nhận ra rằng mọi điều bạn hằng khao khát chỉ là một giấc mơ. Để có một Thần bất tử, hãy giữ Cốc Thần tại Thần Cốc. Lão Tử nói: “Nếu Cốc Thần không chết, nó được gọi là Huyền Tẫn. Cánh cửa để đạt tới Huyền Tẫn này là gốc rễ của trời và đất. Nó rất mềm mại và liên tục như thể nó có hiện hữu. Khi được dùng, nó sẽ không bị cạn kiệt.”
Huyền là gì? Nó là dương và là trời. Tẫn là gì? Nó là âm và là đất. Tuy nhiên, hai khí Huyền và Tẫn, đều có những hàm ý thâm sâu. Nếu không gặp được những thánh nhân để chỉ dạy những bí quyết truyền miệng, thì nó không thể được hiểu một cách dễ dàng. Nội Kinh của Hoàng Đế nói: “Nguyên Thần cư trú trong Thiên Cốc. Hãy bảo vệ nó, thì sự tu dưỡng mới có thể chân thực.” Có một Thiên Cốc gọi là Nê Hoàn ở đỉnh của cơ thể, là nơi cư trú của Thần ẩn tàng. Một thung lũng tương ứng tên là Giáng Cung (tim) ở giữa cơ thể là nơi cư trú của khí ẩn tàng. Một thung lũng thần thánh khác gọi là Quan Nguyên (Nguồn Then Chốt) ở dưới cùng của cơ thể là nơi cư trú của Tinh ẩn tàng.
Huyền Tẫn ở đây có nghĩa là sự tương tác của âm và dương, để khởi sự sự sống. Huyền Tẫn là mẹ của sự sống (sáng tạo và biến hóa). Thật khó để hiểu và tu dưỡng âm khí và dương khí, và làm cho chúng tương tác với nhau. Thông thường, bạn cần một vị thầy có kinh nghiệm để trực tiếp hướng dẫn bạn đi trên con đường đúng đắn.
Tài liệu này nhắc tới ba thung lũng trong cơ thể để tu dưỡng. Thần Cốc (Thượng Đan Điền), nơi Cốc Thần cư trú, ở trong đầu. Trong lồng ngực là Giáng Cung (Trung Đan Điền), nơi thu thập Hậu Thiên Khí được chuyển hóa từ thức ăn và không khí. Thung lũng thứ ba là Quan Nguyên (Hạ Đan Điền), nơi Tiên Thiên Nguyên Khí được chuyển hóa từ Nguyên Tinh (Yuan Jing).
Những thung lũng này che giấu tinh chất của sự sống.
Thiên Cốc là một cung điện huyền bí, nơi cư trú của Nguyên Thần, ngôi nhà của thiên tính tâm linh tự nhiên của con người, và con đường sinh tử của sự tu dưỡng tâm linh. Những thánh nhân tuân theo quy luật của trời và đất và biết nguồn gốc của các biến hóa. Họ bảo vệ Thần và giữ nó tại cung điện huyền bí này, và tích trữ khí một cách dồi dào tại nơi cư trú của Tẫn. Thần và Khí tương tác lẫn nhau, cho phép bạn hoàn tất sự tu dưỡng Đạo chân thực một cách tự nhiên, hợp nhất với Đạo, và bước vào cõi không chết và không sinh. Vì vậy, người ta nói rằng khi Thần Cốc không chết, nó được gọi là Huyền Tẫn. Những thánh nhân này biết cách áp dụng sự tu dưỡng của mình vào Huyền Tẫn, biết cách sáng tạo và biến hóa trong một cái chớp mắt. Khi khí của Huyền Tẫn đi vào gốc rễ này (Chân Hạ Đan Điền), nếu bạn nín thở quá nhiều, nó trở nên cấp bách. Nếu bạn để cho hơi thở hoạt động tự do, thì nó vượt khỏi sự kiểm soát. Vì vậy hãy giữ nó rất mềm mại và liên tục mà không có bất cứ kẽ hở hay sự gián đoạn nào.
Thần Cốc (Shen Gu) cũng được gọi là Nê Hoàn Cung (Ni Wan Gong). Nguyên Thần (Yuan Shen) cư trú trong cung điện này thì mạnh mẽ và kỳ diệu, và là nguồn gốc của sự sáng tạo và biến hóa. Nó hướng dẫn tâm và tư duy của bạn và là Thái Cực (Cực Lớn) của vũ trụ con người.
Những người đắc Đạo tuân theo cả thái cực của con người lẫn của tự nhiên và do đó có thể biết được Đạo của Tự Nhiên. Họ hợp nhất và cộng hưởng Thần của mình với thiên thần tại nơi cư trú của nó, và nuôi dưỡng nó liên tục bằng khí. Đó là con đường để đạt được sự bất tử của Thần, được gọi là Huyền Tẫn, mẹ của sự sáng tạo và biến hóa.
Hãy giữ Thần ở đó qua hơi thở đúng đắn, mềm mại như một đứa bé. Hãy có trái tim của một đứa bé (tâm thuần khiết) không bị lôi cuốn từ bên ngoài, điều cho phép bạn cảm nhận bên trong. Chỉ bấy giờ bạn mới có thể có hơi thở mềm mại như thể nó có đó và như thể nó không có đó, được điều hòa mà không bị điều hòa. Lão Tử nói: “Khi tập trung khí để đạt tới sự mềm mại của nó, có thể nó mềm mại như một đứa bé chăng?”
“Như thể nó có hiện hữu” có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là giữ nó lại bằng cách tuân theo tự nhiên. Sau khi giữ Thần (tại nơi cư trú của nó) một thời gian dài, nó sẽ tự nhiên thanh tĩnh. Sau khi thực hành hơi thở một thời gian dài, nó sẽ tự nhiên được ổn định hóa. Khi khí chất đã trở nên tự nhiên, thì nó có thể được dùng một cách kỳ diệu. Bấy giờ không cần phải cố gắng hay ép buộc nó một cách cấp bách, và “Khi được dùng, nó không thể bị cạn kiệt.” Huyền và Tẫn là hai nguồn gốc ở trên và ở dưới, và là những con đường chính xác để mẹ của khí đi lên và đi xuống. Những kẻ phàm tục thế gian không biết những gốc rễ này hay nghiên cứu nguồn gốc của chúng, và nói rằng mũi và miệng là Huyền và Tẫn. Nếu mũi và miệng là Huyền và Tẫn, làm sao chúng có thể được gọi là những cửa ngõ của Huyền Tẫn? Tất cả đều vì những người này không thể liễu ngộ sự kỳ diệu của sự huấn luyện. Làm sao họ có thể hiểu được nếu họ không phải là những thánh nhân vĩ đại?
Đoạn cuối cùng này nói về khái niệm của Lão Tử trong sự tu dưỡng tâm linh. Trong Đạo Đức Kinh, Chương 6, có nói: “Cốc Thần (Gu Shen) không chết, thì nó được gọi là Huyền Tẫn. Cái then chốt để đạt tới Huyền Tẫn này là gốc rễ của trời và đất (tự nhiên). Nó rất mềm mại và liên tục như thể nó có hiện hữu. Khi được dùng, nó sẽ không bị cạn kiệt.”
Ý nghĩa của “như thể nó có hiện hữu” (Nhược Tồn, Ruo Cun) là thực hành việc giữ Thần tại nơi cư trú của nó và duy trì cùng tiết kiệm khí tại Chân Hạ Đan Điền cho đến khi nó trở thành tự nhiên, tức là điều mà không điều (Bất Điều Nhi Điều, Bu Tiao Er Tiao).
Huyền Tẫn là sự tương tác giữa Thần tại Thượng Đan Điền và Khí tại Chân Hạ Đan Điền, tức là sự hợp nhất và hài hòa của Thần và Khí. Đây là mẹ của sự sáng tạo và biến hóa, và là con đường để đạt được sự bất tử. Nhiều kẻ phàm tục lầm tưởng Huyền Tẫn là mũi và miệng (hơi thở).
Năm Phép Tu Luyện Thần
Có năm phép tu luyện để điều hòa Thần:
- Nâng cao Thần (Dưỡng Thần, Yang Shen);
- Bảo vệ Thần (Thủ Thần, Shou Shen);
- Củng cố Thần (Cố Thần, Gu Shen);
- Ổn định Thần (Định Thần, Ding Shen); và
- Ngưng tụ Thần (Ngưng Thần, Ning Shen). Những điều này được gọi là Luyện Thần (Lian Shen). Luyện (煉) có nghĩa là tinh luyện, huấn luyện hay kỷ luật. Cũng có hai chìa khóa huấn luyện và hai mục đích của việc huấn luyện Thần.
Nâng cao Thần (Dưỡng Thần, Yang Shen). Dưỡng (養) có nghĩa là nuôi dưỡng, nâng cao hay chăm sóc. Dưỡng Thần là nhiệm vụ huấn luyện chính đối với các học giả và Phật tử. Thần cần được nuôi dưỡng bằng khí. Hỏa Khí từ thức ăn và không khí có thể nâng Thần lên dễ dàng, nhưng cũng gia tăng sự xao động tình cảm, dẫn Thần đi xa khỏi nơi cư trú của nó. Dùng Ý được nuôi dưỡng bởi Thủy Khí để nâng Thần của bạn lên thì khó hơn, nhưng Thần này mạnh mẽ và tập trung hơn so với Thần từ Hỏa Khí. Hãy điều chỉnh Tâm (dương) và Ý (âm) để nâng Thần của bạn lên một cách đúng đắn, để nó được nâng lên mà không bị kích động và ở lại nơi cư trú của nó.
Nâng cao Thần một cách đúng đắn cũng giống như nuôi một đứa con. Bạn cần sự kiên nhẫn và bền chí lớn lao. Một cách là kềm chế sự chú ý của nó khỏi thất tình và lục dục. Cách khác là để nó giữ sự tiếp xúc này với nhân tính của nó, thế nhưng giáo dục trí tuệ của nó để đưa ra những phán đoán sáng suốt, điều là một tiến trình dài, đòi hỏi sự hiểu biết và kiên nhẫn. Nâng cao Thần không phải là việc gia tăng sự kích động tình cảm. Điều này làm tản mạn Ý, và Thần trở nên bối rối và đánh mất trung tâm của nó. Dưỡng Thần xây dựng một trung tâm tâm linh mạnh mẽ và giúp nó kiểm soát cuộc sống của bạn.
Bảo vệ Thần (Thủ Thần, Shou Shen). Sau khi nâng cao Thần của bạn, hãy giữ nó tại nơi cư trú của nó và huấn luyện nó. Một đứa con cần giữ tâm của nó với gia đình thay vì đi lạc ra ngoài và chạy rông. Bấy giờ bạn mới có thể giáo dục nó.
Thủ (守) có nghĩa là giữ và bảo vệ. Sự huấn luyện bao gồm việc giữ Thần tại nơi cư trú của nó, điều khó hơn nhiều so với việc nâng nó lên. Sự huấn luyện Thủ Thần dùng cái tâm đã được điều hòa để hướng dẫn, chăm sóc, theo dõi và giữ Thần ở đó. Cũng giống như giữ con của bạn ở nhà thay vì để nó ra khỏi nhà và chạy rông. Hãy kiên nhẫn và kiểm soát cơn nóng giận của bạn, điều hòa Tâm và Ý của bạn. Nếu bạn nổi cơn thịnh nộ, bạn chỉ làm cho đứa con lại muốn ra khỏi nhà. Chỉ khi nào bạn đã điều hòa được Tâm và Ý của mình, thì bạn mới có thể giữ được Thần của mình một cách hữu hiệu.
Củng cố Thần (Cố Thần, Gu Shen). Cố (固) có nghĩa là kết tụ và củng cố. Sau khi giữ Thần tại nơi cư trú của nó, bạn củng cố và kết tụ nó (Cố Thần). Cố Thần có nghĩa là huấn luyện Thần để nó sẵn lòng ở tại nơi cư trú của nó. Sau khi bạn kiểm soát được đứa con trong nhà, hãy làm cho nó từ trong tâm muốn ở lại. Chỉ bấy giờ tâm của nó mới vững vàng và tĩnh lặng. Để đạt tới điều này, bạn cần nhiều tình thương và kiên nhẫn hơn cho đến khi nó hiểu được tầm quan trọng của việc ở nhà và lớn lên một cách bình thường. Bước thứ ba của sự huấn luyện Thần này là làm cho Thần sẵn lòng ở lại nơi cư trú của nó trong sự thanh bình, bằng cách điều hòa các ý nghĩ và tình cảm.
Ổn định Thần (Định Thần, Ding Shen). Định Thần có nghĩa là ổn định hóa và làm cho Thần tĩnh lặng. Khi đứa con của bạn ở trong sự thanh bình, nó sẽ không bị lôi cuốn bởi những sự phân tâm bên ngoài. Hãy điều hòa Thần của bạn để làm cho nó tĩnh xuống, để nó được nạp năng lượng nhưng không bị kích động, với tâm thanh bình và vững vàng.
Ngưng Tụ Thần (Ngưng Thần, Ning Shen). Ngưng (凝) có nghĩa là ngưng tụ, tập trung, tinh luyện, hội tụ và tăng cường. Bốn tiến trình đầu tiên là nâng cao, giữ gìn, củng cố và ổn định hóa, là những nền tảng của sự tu dưỡng Thần. Sau đó, bạn ngưng tụ và hội tụ Thần của mình vào một điểm nhỏ xíu. Đây là nơi bạn huấn luyện Thần tới một trạng thái tâm linh cao hơn. Khi được hội tụ vào một điểm nhỏ xíu, nó giống như một chùm tia mặt trời được hội tụ qua một thấu kính. Điểm càng nhỏ, chùm tia càng mạnh. Sau đây là bản dịch và lời bình về một bài cổ luận về việc ngưng tụ Thần.
Đạo Hương Tập (Anthology of Daoist Village)
Ngưng tụ có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là thu thập. Thần là gì? Nó là ý nghĩ chính trực trong cái Tâm. Thế nào là Tức (hơi thở)? Nó là để dẫn nhập Tiên Thiên Chân Khí (Nguyên Khí). Nó không có hình thể hay hình tướng. Tiên Thiên Khí được phát sinh tại điểm của sự hư vô tột cùng và sự tĩnh lặng chân thành. Huyết huyệt (Chân Hạ Đan Điền) là gốc rễ nguyên thủy của việc sản sinh Tiên Thiên Khí. Tại sao phải ngưng tụ Thần tại khí huyệt này? Đó là để đặt và ngưng tụ ý nghĩ chính trực tại đó và không cho phép Thần bị phân tâm hay di chuyển đi xa. Khi Thần được ngưng tụ, hỏa (khí) có thể được thu thập. Khi hỏa được thu thập và dẫn đi xuống, nước tự động dâng lên. Đó là sự phối hợp hỗ tương của hỏa và thủy, để ngưng tụ Thần tại khí huyệt. Thế nào là Tức? Đó là hơi thở. Thế nào là Tức Tức (hơi thở liên tục)? Hơi thở rất mềm mại và không bị đứt đoạn. Thế nào là Quy (trở về)? Đảo ngược con đường của sự sống và trở về nguồn của nó. Thế nào là Căn (gốc rễ)? Gốc rễ và nền tảng của sự sống. Mỗi hơi thở đều mềm mại và liên tục và đưa nó trở về gốc rễ này. Hơi thở không tách rời khỏi nền tảng cơ bản của khí. Nó như thể có hiện hữu mà lại bị lãng quên và dường như có đó mà lại không có đó. Đó là cách Thai Tức đã được thực hành từ thời cổ, tuân theo con đường tự nhiên. Nếu Thần ngưng tụ tại khí huyệt, hơi thở cũng được ổn định hóa tại gốc rễ nguyên thủy này.
Điều này mô tả sự hợp nhất, phối hợp và hài hòa hỗ tương của Thần với Tiên Thiên Khí (Xian Tian Qi — Nguyên Khí), vốn được thụ thai tại Chân Hạ Đan Điền. Thần là hỏa (dương, con trai) trong khi Tiên Thiên Khí (mẹ) là thủy (âm). Hãy dẫn Thần đi xuống để hợp nhất với Tiên Thiên Khí, để tâm và thân có thể tĩnh lặng và thanh bình. Bấy giờ khí ở lại nơi cư trú của nó và được tích trữ ở đó.
Hãy đạt tới mục tiêu này qua hơi thở mềm mại, mảnh mai và liên tục, tập trung Thần của bạn tại Chân Hạ Đan Điền. Điều này là then chốt trong Thai Tức, gốc rễ của sự sống, để Thai Thần có thể được thụ thai. Hãy điều hòa Thần qua việc huấn luyện Thai Tức, điểm then chốt của Nội Đan khí công (Nei Dan). Xin tham khảo cuốn sách trước, Qigong Meditation—Embryonic Breathing, để biết thêm chi tiết.
Hai Chìa Khóa Huấn Luyện
Hãy nhớ, có hai chìa khóa trong việc điều hòa Thần: 1. Sự nương tựa hỗ tương của Thần và hơi thở (Thần Tức Tương Y, Shen Xi Xiang Yi); và 2. Sự hài hòa hỗ tương của Thần và Khí (Thần Khí Tương Hợp, Shen Qi Xiang He).
Sự nương tựa hỗ tương của Thần và hơi thở (Thần Tức Tương Y). Sau khi Thần đã được huấn luyện tới một mức độ cao, hãy đem nó ra làm việc. Nhiệm vụ thứ nhất là phối hợp với hơi thở của bạn. Trong sự huấn luyện khí công, hơi thở được xem như sách lược. Khi nó được hướng dẫn bởi Thần của bạn, nó đạt được những kết quả tối ưu. Sách lược này được gọi là Thần Tức Tương Y, có nghĩa là Thần và hơi thở nương tựa lẫn nhau. Thần Tức có nghĩa là hơi thở của Thần. Thần và hơi thở của bạn trở thành một, và khí được dẫn đi một cách hữu hiệu. Nhiệm vụ khó khăn này đòi hỏi bạn đã điều hòa được thân, hơi thở và tâm của mình.
Đạo Hương Tập
“Hãy tĩnh lặng, rồi tập trung vào Chân Hạ Đan Điền. Đó là nơi Tâm của bạn nên đi theo. Khi Tâm và mắt đã tới nơi và chấm dứt, thì Tâm và hơi thở nên phù hợp với nhau và dần dần bước vào Đại Định.” “Thần được ổn định hóa trong sự phối hợp với hơi thở. Hơi thở thanh bình trong sự phối hợp với Thần. Khi chúng phù hợp với nhau, thì Đại Định có thể đạt được.”
Sự tập trung của mắt có nghĩa là Ý (Ý). Các tài liệu cổ thường nói: “Mắt quán sát (Quán) mũi (hơi thở), và mũi quán sát cái Tâm.” Hãy kềm chế đôi mắt của bạn, và tập trung vào hơi thở, qua đó Tâm có thể được quán sát và điều hòa.
Cộng đồng khí công thường nói: Tâm-vượn và Ý-ngựa (Tâm Viên Ý Mã). Tâm có nghĩa là trái tim, liên quan tới sự xao động tình cảm. Hãy dùng con ngựa Ý để cai quản con khỉ Tâm, dùng hơi thở làm sách lược. Với Tâm đã nằm dưới sự kiểm soát, hãy ổn định hóa Thần tại nơi cư trú của nó. Thần và hơi thở hài hòa và phù hợp với nhau. Điều này được gọi là Đại Định (Da Ding).
Trong cộng đồng Phật giáo, Đại Định có nghĩa là: “Khi Tâm đối với Phật pháp trong sáng và rạng rỡ, nó được gọi là Đại Định.” Tâm ở trong sự thanh bình và thân thể cực kỳ thư giãn. Thần và thân hài hòa và phối hợp với nhau.
Sự hài hòa hỗ tương của Thần và Khí (Thần Khí Tương Hợp). Chìa khóa huấn luyện Thần thứ hai dùng Thần để hướng dẫn sự tuần hoàn và sự phân bố của khí, được gọi là Thần Khí Tương Hợp (Thần và Khí kết hợp). Trong chiến đấu, tinh thần chiến đấu của những người lính quyết định khả năng chiến đấu và thực thi sách lược của họ. Thần là Con (Tử, Zi), trong khi Khí là Mẹ (Mẫu, Mu). Khi mẹ và con hợp nhất trong sự hài hòa với nhau, nó được gọi là Mẫu Tử Tương Hợp (sự hài hòa hỗ tương của mẹ và con). Một vài tài liệu cổ mô tả sự thực hành này:
Bí quyết ứng dụng tâm linh của mọi Thánh Thai chân thực
(Các phương pháp vận chuyển khí)
Hãy đi lên đỉnh tới Nê Hoàn (Cung Hoàn Nê) và xuống dưới tới Mệnh Môn (Chân Hạ Đan Điền). Hai cảnh tượng nối tiếp nhau một cách hỗ tương, để cứu vãn những ngày còn lại và gia tăng tuổi thọ. Nếu Thần không kiểm soát việc thở ra, thì hơi thở không trọn vẹn. Nếu Thần không cai quản việc hít vào, thì hơi thở cũng không trọn vẹn. Hãy phối hợp và hài hòa Thần và Khí với nhau, trong mỗi hơi thở, thì thai nhi có thể được thụ thai từ khí ẩn tàng, và khí có thể được sinh ra qua Thai Tức. Thai khí kết tụ bên trong và không bao giờ chết.
Nê Hoàn ngụ ý Thượng Đan Điền. Thần Cốc giữa hai bán cầu não được gọi là Nê Hoàn Cung (Cung Hoàn Nê), chỉ các tuyến tùng và tuyến yên. Khi hai tuyến này sản xuất các kích thích tố dồi dào, chúng thúc đẩy sự trao đổi chất trôi chảy. Sinh lực mạnh mẽ và Thần cao. Mệnh Môn (Mingmen, 命門 — Cửa Sống) ở đây có nghĩa là Chân Hạ Đan Điền thay vì huyệt Mệnh Môn của châm cứu. Chân Hạ Đan Điền tích trữ khí, tức sinh lực.
Hãy tuần hoàn khí, được kiểm soát bởi Thần, qua Thượng Đan Điền và Chân Hạ Đan Điền. Thần và Khí phối hợp và hài hòa với nhau một cách hỗ tương, qua Thai Tức, để Thai Thần có thể được thụ thai. Hai cực trở thành một. Đó là trạng thái Vô Cực, sự khởi đầu của sự sống.
Mười cuốn sách tu chân: lối tắt của tạp văn
(Thập Thư Tu Chân)
Khí được nuôi dưỡng bởi khí, và khí rồi gặp Thần. Khi Thần và Khí không bị chia lìa, thì đó là sự tu dưỡng chân thực. Con không rời mẹ, mẹ cũng không rời con. Khi con và mẹ ở cùng nhau, thì sống lâu mà không chết.
Để tích lũy khí dồi dào, bạn phải tìm ra khí dư thừa và tích trữ nó tại Chân Hạ Đan Điền bằng cách giữ Thần của bạn ở đó. Khi Thần và Khí hợp nhất trong sự hài hòa, thì Thai Thần có thể được thụ thai. Thần và Khí, như con và mẹ, sẽ không lìa xa nhau. Đó là con đường để đạt tới trường thọ.
Những ứng dụng kỳ diệu của việc giữ gìn hình thể và tu dưỡng chân lý bên trong của Đại Sư Đạt Ma
Nếu không giữ con và mẹ (Thần và Khí) ở cùng nhau, mặc dù khí được tích trữ bên trong qua hơi thở, thế mà Thần luôn luôn bị lao dịch bên ngoài, trở nên ô trọc và bối rối. Một khi Thần bị ô trọc, thì Nguyên Khí hài hòa nguyên thủy dần dần tản mạn và không thể ở lại. Những người Đạo giáo thường mắc lỗi này, không biết rằng Khí và Thần là cốt lõi của sự thực hành. Nếu một người không giữ Khí và Thần ở bên trong mà giữ chúng ở bên ngoài, thì những nơi cư trú của chúng sẽ nguy hiểm và dần dần thối rữa. Những người không theo Đạo thì lao dịch Thần của họ và làm mệt mỏi tư duy của họ. Thậm chí không có một hơi thở nào dẫn Khí và Thần tới Khí Hải (Chân Hạ Đan Điền). Nếu họ mong đợi trường thọ, chẳng phải là quá xa vời để đạt tới sao?
Thần và Khí phải kết hợp và không lìa xa nhau. Trước tiên hãy chặn đứng tâm khỏi mọi sự phân tâm bên ngoài và những xao động tình cảm, kẻo Thần của bạn trở nên ô trọc. Qua Thai Tức đúng đắn, giữ Thần và Khí tại Chân Hạ Đan Điền, bạn đạt được trường thọ.
Chương của sự liễu ngộ rõ ràng
(Mao, Nhật Tân — Mao, Ri-Xin; đời Tống)
Khí đi theo Thần và Thần đi theo Khí. Thần và Khí đi theo nhau một cách hỗ tương và thâm nhập vào Nê Hoàn. Hãy giữ Kim Quan (Cửa Vàng) khóa kín và niêm phong liên tục. Một khi đã bắt được Kim Tân (Chất Liệu Vàng), thì có niềm vui bên trong. Hãy thực hành công phu này một cách siêng năng và thiết lập ý chí mạnh mẽ, suốt cả ngày (mười hai thời). Khi âm chấm dứt và dương đã hoàn tất, Thần có thể rời khỏi cơ thể. Khi công phu này đã được hoàn tất, tên của bạn sẽ có trong danh sách bất tử.
Bài thơ này mô tả sự nương tựa hỗ tương của Thần và Khí. Một khi Thần và Khí đi vào Nê Hoàn Cung (Thượng Đan Điền), hãy giữ nó ở đó một cách vững chắc. Kim Quan có nghĩa là Cửa Vàng, tức Thượng Đan Điền. Kim Tân (Chất Liệu Vàng) ngụ ý Thai Thần. Thập Nhị Thời (mười hai thời) là những sự phân chia truyền thống của Trung Hoa trong một ngày.
Bí quyết ứng dụng khí với Thần tập trung
Thần được thu thập từ sự vô thể chất và được làm cho thanh bình với sự hữu thể. Thần là trí tuệ của cái Tâm. Khi Tâm thanh bình không có dục vọng, Thần có thể giống như một vị vua với sự hài hòa và chính khí. Đã đạt tới giai đoạn này, hãy để Thần tự do không bị kềm chế, càng lâu càng tốt. Hãy thực hành không ngừng nghỉ, để khí trong cơ thể đạt tới sự thanh bình tột cùng. Điều này làm vui lòng trời, vì vậy bạn sống lâu. Khi bên ngoài cơ thể (thế giới vật chất) là sự trống không có thực chất, thì điều đó cũng (vui lòng) trời. Khi bên trong cơ thể trống không và bao quát (không có sự trói buộc tình cảm hay dục vọng), thì điều đó cũng (vui lòng) trời. Thực hành một thời gian rất dài, thì giác ngộ có thể đạt được. Tất cả những bí mật này được tích lũy ở bên trong. Sau khi thực hành một thời gian dài, sự hiểu biết sâu xa và tinh vi, phù hợp với sự giác ngộ của trời. Bấy giờ khí có thể được chuyển hóa từ Tinh ở bên trong. Đạo có thể đạt được và Đạo này sẽ tương ứng với Đức (đức hạnh của tự nhiên). Sự trọn vẹn của Đức là, khi nó được dùng, nó biểu hiện Nhân (lòng nhân từ). Khi được phân chia (mở rộng), nó biểu hiện Nghĩa (sự chính trực).
Thần là vô thể chất và không thể thấy được. Tuy nhiên, nó có thể được cảm nhận và ngưng tụ tới một mức tâm linh cao. Dù vô thể chất, nó phải phù hợp với thế giới vật chất của xã hội thế tục. Thần liên hệ với tâm trí tuệ (Ý) và tâm tình (Tâm). Tâm tình mang lại sự bối rối và kích động, trong khi tâm trí tuệ hướng dẫn bạn tới tư duy tập trung và các quyết định. Thần có thể được nâng lên và ngưng tụ, để tâm tình nằm dưới sự kiểm soát trở thành thanh bình và tĩnh lặng. Điều này dẫn tới sự hài hòa của Thần và sự tuần hoàn của Khí, giai đoạn hợp nhất của Thần và Khí (Thần Khí Tương Hợp). Hãy thực hành thường xuyên để đạt được điều mà không điều, mang lại sức khỏe và trường thọ. Tâm của bạn trở nên trung tính và sáng suốt, trong sáng và trí tuệ, vươn tới xa và rộng. Bên trong thì trí tuệ, bên ngoài bạn áp dụng Đạo của tự nhiên trong hành động, điều được gọi là “Đức”. Khi Đạo và Đức được áp dụng trong xã hội loài người, đó là nhân (Nhân) và nghĩa (Nghĩa).
Tinh Khí rời khỏi đầu vào ban ngày và cư trú tại bụng (Chân Hạ Đan Điền) vào ban đêm. Vì vậy, hãy tôn trọng đầu và bụng. Hãy định tĩnh các màu sắc (vật chất) ở bên ngoài, trong khi tôn trọng sự chính trực ở bên trong. Bất cứ khi nào có một cơ hội (để trục lợi), thì không có một ý nghĩ nhỏ nhất (về việc lấy nó). Tất cả trong tâm đều là điều thiện. Như vậy, Thần và Khí đảm nhận phẩm chất và hài hòa thành một thân thể duy nhất. Điều này được gọi là Đại Thuận (sự trôi chảy lớn). Trời sẽ bảo vệ (bạn) và (làm cho bạn) được cát tường mà không có bất cứ bất lợi nào. Đó là vì tất cả những (sự biểu hiện của tự nhiên) kỳ diệu đều có gốc rễ của chúng. Sự trống không vô thể chất của Thần, bên trong Tâm, nối kết với hệ thống của nó. Khí được che giấu vững chắc trong ruột nên được nuôi dưỡng một cách ấm áp và kiên nhẫn. Trong đời sống hằng ngày, hãy nhắm mắt lại và quán sát nguồn gốc bên trong của khí. Bất cứ khi nào một sự kiện gây ra sự xao động của Linh (tâm linh), hãy vui vẻ nhắm mắt lại và quán sát cái Tâm ở bên trong. Hãy chối bỏ nó như thể nói rằng: “Thần và Khí của tôi được che giấu và phát triển từ cơ thể của tôi, làm cho tôi có thể đạt tới Đạo.” Bấy giờ trời sẽ ban cho sự cát tường, bởi vì trời là Linh của khí vô thể chất. Hãy dùng nó để đạt tới chỗ tột cùng của Đạo.
Vào ban ngày, chức năng não bộ dẫn khí đi lên, và vào ban đêm, trong lúc ngủ, khí trở về Chân Hạ Đan Điền để nạp lại. Khi bạn tu dưỡng sự bất tử, bạn phải tu dưỡng cả Thần ở trên (phẩm chất) lẫn Khí ở dưới (số lượng).
Nhiều sự phân tâm gây ra sự xao động tình cảm và gia tăng dục vọng. Bất cứ tư duy và hành động nào của bạn, hãy để chúng ở trong điều thiện của Đạo và Đức. Bạn cảm thấy chính trực và giác ngộ ở bên trong, thần của bạn trong sự hài hòa và thanh bình. Điều này tuân theo con đường của tự nhiên, và tự nhiên sẽ bảo vệ bạn.
Hai Mục Đích Của Việc Điều Thần
Có hai mục đích chính của việc điều hòa Thần trong sự tu tập khí công. Đối với xã hội thế tục, đó là để cải thiện sức khỏe và kéo dài sự sống, nhưng đối với Phật tử và Đạo sĩ, mục tiêu là đạt tới Phật quả hay giác ngộ.
Sức Khỏe và Trường Thọ. Ý liên hệ với Thần. Khi Ý mạnh mẽ và tập trung, Thần có thể được nâng lên cao. Mục đích phổ biến và thiết yếu nhất của sự tu tập khí công là đạt được sức khỏe, dùng Ý để dẫn khí (Dĩ Ý Dẫn Khí). Nếu Ý tập trung nâng Thần lên, khí tuần hoàn trôi chảy, và cơ thể khỏe mạnh. Tiểu Chu Thiên tĩnh tọa gia tăng khí đang tuần hoàn trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch, và trong Thập Nhị Kinh Chính.
Khí công cũng tăng cường tuổi thọ. Nó nâng thần lên một mức cao, rồi dùng nó để cai quản khí (Dĩ Thần Ngự Khí, Yi Shen Yu Qi) và để tăng cường sự tuần hoàn khí trong tủy xương và não bộ. Khí được ví như binh lính trong chiến đấu, trong khi Thần là tinh thần chiến đấu của họ. Khi tinh thần của vị tướng cao, thì nhuệ khí của binh lính của ông ta cũng cao, và các mệnh lệnh của ông ta được thi hành một cách hữu hiệu. Cũng theo cách đó, khí nuôi dưỡng tủy xương và não bộ. Tủy khỏe mạnh gia tăng sự sản xuất các tế bào máu, thúc đẩy sự trao đổi chất và dẫn tới trường thọ.
Tài liệu cổ sau đây mô tả tiến trình này.
Sử Ký: Tự truyện của Thái Sử Công
(Historical Record: Autobiography of Tai Shi Gong)
Làm sao một người có thể sống? Đó là vì sự hiện hữu của Thần. Làm sao Thần này có thể được nương tựa để hiện hữu? Đó là vì hình thể. Khi Thần được dùng nhiều, thì bị kiệt quệ. Khi hình thể bị lao dịch nhiều, thì bị hao mòn. Khi hình thể và Thần bị chia lìa, thì họ chết. Kẻ chết không thể được hồi sinh, và những kẻ đã bị chia lìa không thể được tái hợp. Vì vậy, các thánh nhân rất xem trọng sự tu dưỡng tâm linh. Thần là gốc rễ của sự sống trong khi hình thể là cỗ xe của nó.
Những người Phật giáo xem tinh thần là gốc rễ của đời sống con người, trong khi thể xác chỉ là cỗ xe cho sự tu dưỡng của nó. Để đạt tới Phật quả, họ tu dưỡng tinh thần nhiều hơn thân thể. Nhưng những người Đạo giáo xem sự tu dưỡng của tinh thần và thân thể là quan trọng như nhau. Phải mất nhiều năm để tu dưỡng Thần hầu đạt tới giác ngộ. Nếu thể xác yếu đuối và không khỏe mạnh, thì cuộc sống của bạn sẽ quá ngắn ngủi cho sự tu dưỡng tâm linh.
Đối với Phật tử, thế giới vật chất không hiện hữu, vì vậy không có gì để tu dưỡng hay xem xét. Tài liệu Phật giáo, Lục Tổ Đàn Kinh (Altar Classic of the Sixth Ancestor) nói: “Bồ-đề vốn không có cây, cũng chẳng có tấm gương sáng ở phía trước. Vốn không có sự vật nào ở đó, vậy làm sao chúng có thể bị bụi hay bùn (sự vật hay tình cảm) làm ô nhiễm?” Bồ-đề có nghĩa là một cái tâm đã giác ngộ. Đức Phật được giác ngộ dưới cây bồ-đề. Gương sáng có nghĩa là một cái Thần thuần khiết và sạch sẽ. Khi bạn tu dưỡng Thần, thế giới vật chất biến mất, vì vậy không có cây hay giá gương. Với không có khái niệm vật chất nào trong tâm bạn, làm sao nó có thể được lau sạch khỏi các tình cảm và dục vọng thế tục?
Một tài liệu Đạo giáo, Dưỡng Sinh Luận (The Thesis of Nourishing Life), đối chiếu điều này: “Thổ và nạp khí (Thổ Nạp, Tu Na) qua hơi thở, hấp thụ thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể, do đó cho phép hình thể (thể xác) và Thần được hài hòa. Điều này có nghĩa là sự phối hợp hỗ tương của bên ngoài và bên trong.” Thổ Nạp có nghĩa là thổ ra và thu nhận, một thuật ngữ cổ để tu dưỡng khí qua hơi thở.
Giác Ngộ. Đối với những người tu dưỡng tâm linh, mục tiêu cuối cùng của việc điều hòa Thần là đạt tới giác ngộ. Điều đó có nghĩa là liễu ngộ ý nghĩa của tự nhiên và của đời sống con người, rồi hợp nhất tinh thần con người với tự nhiên để trở thành một. Đó là mục tiêu cuối cùng của sự hợp nhất Trời và Người (Thiên Nhân Hợp Nhất, Tian Ren He Yi).
Để đạt tới điều này, người ta phải mở con mắt thứ ba để giao tiếp. Trước tiên hãy xây dựng khí dồi dào tại Chân Hạ Đan Điền. Khí này được dẫn lên qua Xung Mạch để kích hoạt não bộ, và tăng cường sự cộng hưởng của Thần Cốc. Khi năng lượng tâm linh đạt tới một mức nào đó, con mắt thứ ba mở lại.
Để đạt tới mức tu dưỡng cao này, trước tiên hãy điều hòa tâm của bạn. Nếu nó bị mắc kẹt trong sự trói buộc tình cảm, làm sao bạn có thể xây dựng tinh thần của mình và giữ nó trung tính? Những người Phật giáo và Đạo giáo định nghĩa bốn bước trong sự tu dưỡng tâm linh.
Bốn Bước Để Tu Dưỡng Giác Ngộ Tâm Linh
Tự nhận thức (Tự Thức, Zi Shi). Trước tiên hãy giải thoát tinh thần của bạn khỏi sự trói buộc tình cảm, bằng không tinh thần sẽ ở lại trong bùn tình cảm của xã hội thế tục. Một khi tinh thần được tự do khỏi sự trói buộc này, nó có thể đạt tới trạng thái trung tính và cuối cùng hợp nhất với tinh thần tự nhiên. Tự nhận thức có nghĩa là quán sát trái tim (Quán Tâm, Guan Xin), tức là quán sát sự khởi đầu của các ý nghĩ và tình cảm để khám phá ra căn cước chân thật của bạn.
Đồng Thư Yếu Chỉ (Important Script of Similar Contents) nói: “Mọi trường phái tôn giáo, qua nhiều thế hệ, đều xem việc quán sát cái Tâm (Quán Tâm) là quan trọng nhất trong sự tu dưỡng.”
Toàn Thư Tính Mệnh Chỉ Ý nói: “Khi học Đạo, trước tiên hãy liễu ngộ cái Tâm của chính mình. Nơi ẩn giấu sâu xa của cái Tâm của chính mình là nơi khó tìm nhất. Một khi bạn đã tìm thấy nó và không nơi nào khác có thể tìm thấy được nữa, bạn nhận ra rằng cái Tâm của một kẻ phàm tục cũng có thể giống như của một vị Phật.” Điều này mô tả sự khó khăn của việc khám phá ra cái tự ngã chân thật của bạn đang ẩn sau cái mặt nạ. Một khi bạn đã khám phá ra cái Tâm ẩn giấu này, bạn nhận ra nó và tu dưỡng nó. Cái Tâm được tu dưỡng này có thể đạt tới cùng mức như của Đức Phật.
Tự giác (Tự Giác, Zi Jue). Sau khi đã nhận ra căn cước chân thật của mình, hãy suy ngẫm sâu xa, và phân biệt rõ ràng chân lý khỏi ảo ảnh. Từ việc phân biệt giữa chân và giả, sự nhận thức phát sinh. Tâm của bạn thiết lập sự tiếp xúc với các sự kiện và hiện tượng trong cuộc sống của mình. Cảm giác của sự tự giác có thể thâm sâu.
Đối với cộng đồng Phật giáo, đây là giai đoạn mà sự quán sát bị chặn đứng. Đó là sự khởi đầu của việc điều hòa khí chất và tinh thần hướng tới điều thiện. Đạo Hương Tập nói: “Ý nghĩa chân thực của Phật quả đã được truyền lại là: sự quán sát bị chặn đứng. Thế nào là quán? Nó có nghĩa là đặt nhãn quan của ta một cách ấm áp vào điều thiện tối thượng. Thế nào là chỉ? Nó có nghĩa là tập trung ý hướng chân thực của ta vào điều thiện tối thượng.” Cộng đồng Phật giáo có ba phép quán (Tam Quán): 1. Quán Không, là quán sát tính không của mọi quy luật tự nhiên và sự kiện; 2. Quán Giả, là quán sát tính giả dối của mọi quy luật tự nhiên; 3. Quán Trung Gian, là quán sát tính không-không và không-giả của các quy luật tự nhiên, giữ quan điểm trung tính. Nó cũng có nghĩa là sự quán sát kép. Chỉ Quán là con đường để đạt tới Quán Chỉ (Quán sát bị Chặn đứng). Hãy quán sát và phân tích các sự kiện và những sự xảy ra. Một khi bạn nhìn thấu qua các sự kiện trong tâm mình, thì không có gì làm phiền bạn nữa. Đó là giai đoạn của Quán Chỉ, được đạt tới bằng cách tu dưỡng tâm của bạn tới giai đoạn của điều thiện tối thượng. Hãy chú ý tới mọi điều thiện, thì không có gì làm phiền bạn. Bạn tử tế, chính trực và nhẹ nhàng, không có xung đột bên trong. Bạn được tự do khỏi sự quyến luyến của các tình cảm và dục vọng.
Sự tĩnh lặng và thanh bình tột cùng bên trong là chìa khóa của sự tự giác này, được đạt tới qua việc thực hành Thai Tức, như được mô tả trong cuốn sách Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
Tự tỉnh (Tự Tỉnh, Zi Xing)(Tự Ngộ, Zi Wu). Qua Thai Tức, bạn đạt tới sự tự tỉnh. Tâm của bạn trong sáng và cho phép bạn liễu ngộ một cách chính xác chân lý của cuộc sống và của tự nhiên. Giai đoạn này được gọi là nhập vào sự quán sát (Nhập Quán, Ru Guan). Nhập vào có nghĩa là liễu ngộ sự quán sát và khí chất (Ngũ Hành, Wu Xing). Đây là giai đoạn của giác ngộ và Phật quả (Phật, Fo), được gọi là hiểu được trái tim và thấy thấu qua khí chất (Minh Tâm Kiến Tánh, Ming Xin Jian Xing). Sự liễu ngộ không còn cần thiết nữa (Liễu Ngộ, Liao Wu).
Phật quả được định nghĩa như thế nào? Nó có nghĩa là đạt được sự nhận thức và trí tuệ, tỉnh thức qua sự hiểu biết và quán sát, tỉnh thức qua việc biết những lý do đằng sau các quy luật tự nhiên, và phân biệt chúng một cách rõ ràng. Nó giống như được đánh thức từ giấc ngủ và được gọi là ‘tỉnh thức qua sự thể nghiệm’. Hãy liễu ngộ những phiền não qua sự quán sát để chúng không có hại. Cũng giống như việc quán sát và cảm nhận những ‘kẻ trộm’ (những ý nghĩ ô nhiễm) trong xã hội thế tục, nên nó được gọi là tỉnh thức qua sự quán sát. Phật Địa Luận (Thesis of Buddha Ground) nói: “Mọi quy luật và mọi sự biểu hiện của tự nhiên có thể nở hoa và được tự chúng đánh thức. Chúng ta cũng có thể nở hoa và được đánh thức khỏi sự trói buộc tình cảm, như được đánh thức từ giấc ngủ và giống như sự nở hoa của đóa sen. Điều này được gọi là Phật.”
Đối với Phật tử, chúng ta được sinh ra và lớn lên trong bùn tình cảm (Trần Thổ, Chen Tu — ma trận con người). Chúng ta tạo ra phẩm giá, vinh quang, kiêu hãnh, hạnh phúc, buồn rầu, đố kỵ và dục vọng. Chúng ta nói dối và che mặt mình bằng những cái mặt nạ, và tất cả chúng ta đều trải qua nỗi đau tâm linh đáng kể khi sống trong ma trận con người này. Bùn làm cho chúng ta mù và điếc, và không có gì rõ ràng trong tâm chúng ta. Tâm ý thức thì hoạt động, trong khi Thần tiềm thức thì ngủ. Chúng ta đang mơ trong ma trận con người và không tỉnh thức.
Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta đều có một hạt sen, tức Nguyên Thần của chúng ta. Qua tĩnh tọa, nó đâm chồi và lớn lên từ sâu trong bùn. Tâm tiềm thức lớn lên, và sau một thời gian dài thực hành, đóa sen trồi ra khỏi ma trận, và bạn thấy mọi sự một cách rõ ràng. Để đánh thức Thần của bạn, hãy đem mọi ý nghĩ tới trung tâm Thần của bạn và giữ Thần ở đó. Thượng Đan Điền hay Linh Sơn (Ling Shan) này, trong đó có Thần Cốc, là nơi Cốc Thần sống.
Hãy nhớ bài ca nói rằng: “Đừng tìm Phật ở xa xôi, vì Ngài ở trong Linh Sơn. Linh Sơn ở đâu? Trong tâm của bạn.”
Trong một trạng thái tĩnh lặng và trống không tột cùng, tâm của bạn trong sáng để liễu ngộ chân lý của tự nhiên. Thiên Tiên Chính Lý Trực Luận: Tiên Thiên Hậu Thiên Nhị Khí (The Righteous Rules of Heavenly Immortality: Straight Discussion of Two Qi's Pre-Heaven and Post-Heaven) nói: “Những người ứng dụng khí, làm sao họ biết đó là sự thực hành tiên thiên chân thực? Khi sự tĩnh lặng (Tĩnh, Jing) và sự trống không (Hư, Xu) đã đạt tới chỗ tột cùng của chúng, thì không có một ý nghĩ nhỏ bé nào dính líu tới ý thức. Đó là sự thực hành tiên thiên chân thực.” Tiên Thiên chân lý (Tiên Thiên Chi Chân, Xian Tian Zhi Zhen) có nghĩa là trạng thái chân thật trước khi sinh ra, nơi tâm giản đơn và thuần khiết, cực kỳ tĩnh lặng và chân thành. Tuy nhiên, làm sao bạn biết mình đã đạt tới trạng thái này trong sự thực hành? Khi không có dù là ý nghĩ nhỏ nhất hiện hữu hay khởi sự trong tâm bạn. Tâm tiềm thức của bạn (tâm chân thật tiên thiên) thức tỉnh để hoạt động.
Cộng đồng khí công xếp loại tâm ý thức là dương, được não bộ tạo ra từ khi sinh ra. Tâm tiềm thức là âm và sinh ra cùng với bạn. Tâm ý thức và ký ức được tạo ra từ sự điều kiện hóa của môi trường và không chân thật. Một bề mặt dày che đậy sự giả dối của tâm ý thức này. Tuy nhiên, tâm tiềm thức là chân thật, được nối kết với ký ức tâm linh, vốn chỉ hoạt động khi cơ thể bạn tĩnh lặng và các hoạt động của tâm ý thức đã chấm dứt.
Để trở về giai đoạn Tiên Thiên, hãy chấm dứt hoạt động thể chất và tinh thần. Bấy giờ tâm tiềm thức hành động, và hướng dẫn bạn đi trên con đường chân thực của sự tu dưỡng tâm linh.
Tự giải thoát khỏi sự trói buộc tự ngã (Tự Thoát, Zi Tuo). Giai đoạn cuối cùng của sự tu dưỡng tâm linh là tự giải thoát mình khỏi sự trói buộc thể chất, tinh thần và tâm linh. Một khi bạn đã tỉnh thức về mặt tâm linh, bạn thấy rõ ràng mình là ai và mình muốn như thế nào. Hãy tự giải thoát mình khỏi sự trói buộc của ma trận con người. Theo thuật ngữ Phật giáo, con mắt thứ ba mở ra. Đóa sen lớn lên, và bông hoa trồi ra khỏi bùn. Thần của bạn được tái hợp nhất với thần của tự nhiên.
Tự do khỏi sự trói buộc vật chất. Hãy tự giải thoát mình khỏi sự trói buộc của thể xác và mọi sự lôi cuốn vật chất chung quanh bạn. Cơ thể của bạn chỉ là vật liệu tái chế, và vẻ đẹp chỉ là tạm thời. Những mối bận tâm vật chất kích phát sự trói buộc tinh thần. Hãy chăm sóc vật liệu tái chế này, bảo vệ nó và nuôi dưỡng nó, nhưng hãy tự giải thoát mình khỏi việc gắn bó với nó.
Điều bạn cần từ thế giới vật chất là đủ nguồn cung cấp năng lượng cho sức mạnh thể chất của mình, mà không chìm vào bùn của chủ nghĩa duy vật và đánh mất cảm giác về cuộc sống của mình. Hầu hết những vật chất bạn sở hữu sẽ tồn tại lâu hơn bạn, và bạn chỉ sở hữu chúng chừng nào bạn còn sống. Nếu bạn theo đuổi sự hưởng thụ vật chất, tâm của bạn ở lại tập trung vào những mối bận tâm duy vật. Để tự giải thoát mình khỏi sự trói buộc vật chất, bước thứ nhất là đạt được đủ cho một cuộc sống thoải mái. Bất cứ điều gì vượt quá đó sẽ quấn bạn sâu hơn vào bùn. Để đạt tới sự tu dưỡng tâm linh thâm sâu, Phật tử tin rằng bạn phải tu dưỡng một trạng thái trung tính tách khỏi bốn sự trống không của đất, nước, lửa và gió (Tứ Đại Giai Không — thế giới vật chất). Họ tin điều này là then chốt để đạt tới Phật quả.
Tự do khỏi sự trói buộc tinh thần. Sự trói buộc tinh thần có nghĩa là những ý nghĩ được phát sinh từ ma trận tình cảm, và những dục vọng đối với cả thế giới tinh thần lẫn vật chất. Một lần nữa, sự khổ đau của con người là do thất tình và lục dục (Thất Tình Lục Dục, Qi Qing Liu Yu) gây ra. Thất tình là: vui mừng (Hỷ, Xi), giận dữ (Nộ, Nu), bi ai (Ai), khoái lạc (Lạc, Le), yêu thương (Ái, Ai), căm ghét (Hận, Hen) và dục vọng (Dục, Yu). Lục dục là những khoái lạc giác quan phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
Chúng ta là con người, để sống sót trong thực tại khắc nghiệt của thế giới này, nói dối và lừa gạt lẫn nhau. Chân lý bên trong bị che giấu sau cái mặt nạ chúng ta đeo, được trang hoàng bằng vinh quang, phẩm giá và danh dự, vốn là những công cụ để nô lệ hóa linh hồn và thể xác của người khác. Lòng tham muốn tài sản và quyền lực đã trở thành nền giáo dục cốt lõi thông thường cho thế hệ kế tiếp. Một ma trận tình cảm của con người đã được tạo ra và tất cả chúng ta đều khổ đau trong đó.
Để thoát khỏi ma trận này, trước tiên hãy tỉnh thức từ sâu trong tim bạn. Với một cái tâm trung tính và cởi mở, hãy nhìn thấu qua ma trận mà chúng ta đã tạo ra. Chân lý phải luôn luôn ở trong tâm bạn, bằng không cuộc tìm kiếm Đạo sẽ là vô ích. Hãy suy ngẫm những lời của Michael Faraday (1791–1867): “Nhà triết học nên là một người sẵn sàng lắng nghe mọi đề nghị, nhưng quyết tâm tự mình phán đoán. Ông ta không nên bị thiên vị bởi những bề ngoài, không có giả thuyết ưa thích nào, không thuộc trường phái nào, và trong giáo lý thì không có sư phụ nào. Ông ta không nên là người tôn trọng cá nhân, mà là tôn trọng sự vật. Chân lý nên là mục tiêu hàng đầu của ông ta. Nếu thêm vào những phẩm chất này sự cần cù, ông ta thực sự có thể hy vọng bước vào bên trong bức màn của ngôi đền của Tự nhiên.” Một khi bạn có chân lý này trong tâm, bạn đã đạt được một cái tâm thanh bình, và thần của bạn có thể tỉnh thức và được tu dưỡng.
Tự do khỏi sự trói buộc tâm linh. Bạn cần phải được tự do khỏi sự trói buộc tinh thần trước khi khởi sự thoát khỏi sự trói buộc tâm linh. Tinh thần bị che khuất và làm mù quáng bởi những giáo điều tôn giáo truyền thống, dựa trên các tình cảm của quá khứ.
Những tôn giáo khác nhau trói buộc chúng ta trong ma trận tôn giáo tâm linh của họ, được tạo ra bởi những người được xem là thánh nhân trong quá khứ. Những khái niệm về Thượng đế, thiên đường và địa ngục được tạo ra trong tâm trí con người và sự thờ phụng được khởi sự. Thời gian trôi qua, chúng ta đã bị dẫn đi ngày càng xa khỏi chân lý, và bị mắc kẹt trong sự trói buộc tâm linh do con người tạo ra. Lão Tử, Chương 1, nói: “Đạo, nếu nó có thể được nói ra (mô tả), thì nó không phải là Đạo thường hằng chân thực. Danh, nếu nó có thể được đặt tên, thì nó không phải là danh thường hằng chân thực.” Chúng ta là con người, trước khi thực sự biết Đạo, đã nói về Đạo. Ngay cả khi chúng ta biết con đường chân thực để tìm kiếm nó, chúng ta vẫn bám chặt một cách cố chấp vào con đường cũ và không dám thay đổi nó.
Để đạt được Đạo chân thực này, chúng ta phải tiếp tục tìm kiếm nó, nói năng và trao đổi các ý kiến. Hãy luôn luôn ghi nhớ rằng Đạo mà chúng ta đang nói tới có thể vẫn chưa chân thực. Đã thấy chân lý, chúng ta không nên sợ phải đối mặt với nó, thách thức những tư duy và tín ngưỡng cũ của mình, và dám chấp nhận những sai lầm và dám mơ ước về tương lai. Khoa học nên tìm kiếm Đạo chân thực, giúp chúng ta thoát khỏi ma trận tôn giáo truyền thống.
Hãy thoát khỏi ma trận truyền thống và tự giải thoát mình khỏi sự trói buộc và các giáo điều tâm linh. Hãy đánh thức tâm linh tiềm thức của bạn, bằng cách đem tâm và cảm giác tâm linh của bạn tới ngày bạn được thụ thai. Từ nguyên lý Đạo giáo này, lý thuyết và các kỹ thuật của Thai Tức đã được rút ra.
Để trở về trạng thái bào thai, trước tiên hãy loại bỏ ma trận tình cảm của con người. Hãy tập trung tâm vào các tuyến tùng và tuyến yên tại Nê Hoàn Cung (Cung Hoàn Nê). Ở đâu có các tế bào não, thì ở đó tư duy ý thức và ma trận con người có thể được tạo ra. Tuy nhiên, trung tâm phía dưới của Thần Cốc không có tế bào não, nên không có ma trận nào có thể được tạo ra. Qua trung tâm này, nơi tâm tiềm thức cư trú, chúng ta có thể cộng hưởng hay giao tiếp với tinh thần tự nhiên. Bằng cách làm cho hoạt động của não bộ tĩnh lặng qua sự vắng mặt của ý nghĩ, chúng ta đem nhận thức tâm linh của mình tới một mức cao.
Để có sự cộng hưởng mạnh mẽ giữa tinh thần của bạn và tinh thần tự nhiên, bạn cần năng lượng tâm linh mạnh mẽ tại Nê Hoàn Cung này. Hãy tích trữ khí dồi dào tại Chân Hạ Đan Điền của bạn, và dẫn nó lên để nuôi dưỡng Nê Hoàn Cung, nâng năng lượng tâm linh lên một mức cao. Sự tu dưỡng tâm linh được bàn chi tiết hơn trong cuốn sách trước của tôi, Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
Một khi bạn đem năng lượng tâm linh của mình tới một mức rất cao, bạn mở lại con mắt thứ ba, được gọi là Thiên Nhãn (thiên nhãn) bởi cộng đồng Đạo giáo và Ấn Đường (M-NH-3, ấn đường) bởi y học Trung Hoa. Sau khi đã mở lại con mắt thứ ba, thần của bạn có thể hợp nhất với tinh thần tự nhiên mà không có chướng ngại. Đây là giai đoạn cuối cùng của sự tu dưỡng tâm linh, tức sự Hợp Nhất Trời và Người (Thiên Nhân Hợp Nhất).
Tài Liệu Tham Khảo
- Nghiên cứu Sinh lý Giải phẫu Học (Study of Anatomic Physiology), Đài Bắc, 1986.
- Chinese Qigong Dictionary (Trung Quốc Khí Công Từ Điển), của Lư Quang Vinh (Lu, Guang-Rong), Bắc Kinh, Trung Hoa, 1988.
- Teens' Troubles Tied to Brain, Michael Lasalandra, Boston Herald, ngày 12 tháng 6 năm 1998.
- Inside the Teen Brain, của Shannon Brownlee, trang 44–54, U.S. News, ngày 9 tháng 8 năm 1999.
- The Great Completion of Chinese Qigong (Trung Quốc Khí Công Đại Thành), của Phương Xuân Dương (Fang, Chun-Yang), Cát Lâm, Trung Hoa, 1989.
- The Complete Book of Nourishing the Life in Chinese Daoist Qigong (Trung Quốc Đạo Gia Khí Công Dưỡng Sinh Toàn Thư), của Lý Viễn Quốc (Li, Yuan-Guo), Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Hoa, 1991.
Cội Rễ Lý Thuyết Của Thiền Tiểu Chu Thiên
5-1 · Dẫn Nhập
Vị thiền sư già đặt ấm trà xuống và mỉm cười nhìn chàng trai. Ngài nói: “Đó là ngươi. Ngươi đã quá đầy rồi. Ta không thể dạy ngươi. Nếu ngươi muốn học, trước hết ngươi phải làm rỗng cái chén của mình.” Bạn có thể khiêm cung như một cái chén rỗng không?
Khi bạn tìm được một vị thầy hoặc một nguồn học tập tốt và đủ tư cách, hãy trân trọng nó, để khỏi lỡ mất cơ hội học hỏi. Cơ hội này có thể sẽ không đến lần nữa. Xưa kia, tìm được một vị thầy đủ tư cách là việc vô cùng khó khăn. Dẫu có tìm được, bạn cũng chưa chắc đã được nhận.
Ngày nay, thu thập thông tin dễ dàng hơn, vì có biết bao sách, băng video và đĩa DVD. Nhưng sự hướng dẫn của một vị thầy giàu kinh nghiệm nói chung vẫn là điều tối quan trọng để đạt tới mục tiêu cuối cùng. Một lời chỉ dạy tinh tế có thể tiết kiệm cho bạn rất nhiều thời gian và công sức. Khi bạn lạc đường trong một thành phố lớn, dù đã đọc bản đồ, một lời chỉ đường của người qua đường vẫn có thể giúp bạn đỡ tốn bao công sức.
Một chàng trai trẻ đã bỏ ra hơn bảy năm để tìm kiếm một vị thầy giỏi. Chàng đến nơi một vị thầy lớn sinh sống, sâu trong núi xa với vài học trò. Chàng được tiếp đón tử tế và bày tỏ ý nguyện được học với vị thầy. Vị thầy nhìn chàng một lát, rồi mang ra một ấm trà và một chén trà. Ngài rót trà vào chén, dừng lại khi trà đã tới miệng chén. Ngài đặt ấm trà xuống, mỉm cười, ngụ ý với chàng trai rằng nơi đây đã chật chỗ rồi. Ngài không thể nhận thêm học trò.
Chàng trai nhìn vào chén và hiểu ý nghĩa của nó. Chàng cúi đầu buồn bã. Nhìn thấy một cọng rơm trên sàn, chàng nhặt lên và cẩn thận cắm vào chén trà. Trà không tràn ra. Chàng nhìn gương mặt vị thầy với hy vọng, như muốn nói với ngài: “Thầy xem, chỗ cho con vẫn còn đó. Trà đã không tràn ra.”
Qua sự giao tiếp không lời ấy, vị thầy già nhận ra chàng trai là một trong số ít người thông minh hiếm hoi có thể lĩnh hội được cảm nhận sâu xa của môn nghệ thuật này. Ngài vui vẻ nhận chàng. Tìm được một học trò thông minh, có khả năng lĩnh hội sâu sắc và phát triển môn học, là việc vô cùng khó. Khi một vị thầy tìm được loại học trò này, đó sẽ như một viên ngọc quý trong tay ngài.
Trong phần kế tiếp, tôi điểm lại lịch sử của sự tập luyện Tiểu Chu Thiên (小周天). Sau đó, ở phần 5-3, tôi tóm tắt những huyệt đạo có liên quan đến sự tập luyện. Chúng ta sẽ thảo luận lý thuyết của Tiểu Chu Thiên ở phần 5-4. Ở phần 5-5, những chướng ngại then chốt của Tiểu Chu Thiên — Tam Quan (三關) — sẽ được giải thích. Chúng ta sẽ bàn về các đường đi khác nhau của Tiểu Chu Thiên ở phần 5-6. Sau cùng, một bức minh họa về thiền Nội Đan (內丹) được truyền lại từ đời Đường (618–907 sau Công nguyên) sẽ được giới thiệu và giải nghĩa.
5-2 · Tiểu Chu Thiên — Xưa và Nay
Sau hơn 1500 năm nghiên cứu và phát triển, sự tập luyện thiền khí công Tiểu Chu Thiên đã dần dần tiến hóa, từ chỗ hiểu biết ban đầu còn hạn hẹp tới một giai đoạn cho phép người tập có sự hiểu biết rõ ràng về pháp môn này.
Sự Tập Luyện Tiểu Chu Thiên Trong Quá Khứ
Sự tập luyện Tiểu Chu Thiên (Tiểu Chu Thiên, Tiểu Chu Thiên (小周天)) phần lớn bắt đầu tại Trung Hoa vào khoảng năm 500 sau Công nguyên, khi Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh (易筋經, 洗髓經 — Kinh Thay Đổi Gân Cơ và Kinh Rửa Tủy/Não) của Đạt Ma trở nên phổ biến. Có vài lý do cho kết luận này:
- Hầu như không có tài liệu Trung Hoa nào về đề tài này từ trước năm 500 sau Công nguyên.
- Tiểu Chu Thiên là điều kiện tiên quyết cần thiết để đạt tới thành tựu cao cấp trong Dịch Cân (thay đổi gân cơ).
- Đạt Ma (483–536 sau Công nguyên) nguyên quán ở Ấn Độ. Khi ngài đến Trung Hoa vào thời nhà Lương (502–557 sau Công nguyên), Yoga Ấn Độ đã tồn tại được 800 năm. Sự tập luyện Tiểu Chu Thiên là một cấp độ tiến bộ trong Yoga Ấn Độ, được gọi là thiền Vi Quỹ Đạo (Microcosmic Orbit Meditation).
- Sự tập luyện Tiểu Chu Thiên của Đạo gia nguyên thủy xuất phát từ xã hội Phật giáo, được gọi là Chuyển Pháp Luân (轉法輪 — xoay bánh xe luật tự nhiên). Mặc dù Phật giáo được du nhập vào Trung Hoa dưới triều Minh Đế Đông Hán (58–76 sau Công nguyên), tài liệu về sự tu chứng giác ngộ tâm linh của khí công lại rất khan hiếm. Mãi cho đến khi Đạt Ma đến, những pháp môn khí công thực sự mới được truyền lại.
Về sau, lý thuyết và thực hành của thiền Tiểu Chu Thiên và Đại Chu Thiên (大周天) được nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển tại Trung Hoa. Chúng hòa nhập với lý thuyết Đạo gia truyền thống Trung Hoa dựa trên Đạo Đức Kinh (道德經), do Lão Tử (604–531 trước Công nguyên) soạn, và một sự hiểu biết cùng phương pháp thực hành mới hình thành. Ảnh hưởng quan trọng nhất từ Đạo Đức Kinh là lý thuyết về Thai Tức (胎息 — hơi thở bào thai). Thiếu nó, việc đạt tới mục tiêu cuối cùng của giác ngộ tâm linh sẽ rất khó khăn.
Với sự bổ sung của tri thức y học Trung Hoa về kinh mạch và mạch đạo của Khí (氣), lý thuyết và thực hành của Tiểu Chu Thiên không ngừng được tu chỉnh và đạt tới mức độ thâm sâu vào thời nhà Thanh (1644–1912 sau Công nguyên). Nhiều tài liệu về Tiểu Chu Thiên đã được viết ra trong thời kỳ này. Ở đây tôi trình bày một số tài liệu ấy cùng lời bình.
Một Tiểu Chu Thiên Của Sự Tuần Hoàn Âm Dương
(Bài tả thực về việc điều chỉnh đường đi — Ngô, Thế-Cơ, đời Thanh)
Nó (Tiểu Chu Thiên) thực ra được gọi là “Tiểu Chu Thiên của sự tuần hoàn âm dương.” Nhắm mắt lại và ngồi yên lặng. Mũi hít vào không khí trong sạch. Mở rộng bụng để Khí nội đi xuống Hạ Đan điền dưới rốn. Vận Khí qua Hội Âm và đi lên Đốc Mạch. Vượt qua Vĩ Lư, Giáp Tích (khoảng giữa hai xương bả vai) và Ngọc Chẩm — ba cửa ải. Tới huyệt Bách Hội (Đốc-20) trên đỉnh đầu, theo mặt tới lưỡi và nối với Nhâm Mạch, đi xuống dọc theo phía trước ngực, cuối cùng tới Đan điền rồi lại tuần hoàn qua đường cũ. Chỗ nào có vấn đề (Khí ứ trệ hoặc đau), hít vào và nghĩ tới chỗ đó, rồi thở ra để dẫn Khí trở về Đan điền.
Điều này làm mạnh thân thể và đẩy lùi bệnh tật. Nó cũng được gọi là Tam Muội Ấn.
Tài liệu này, do Ngô, Tế-Thời viết năm 1864, bàn về vài điểm then chốt.
- Thứ nhất, để nhập thiền, hãy nhắm mắt để cắt đứt sự nối kết giữa đôi mắt và môi trường chung quanh.
- Thứ hai, để Khí tuần hoàn được trôi chảy, hãy ngồi yên với thân thể tĩnh lặng và thư giãn. Đây là điều kiện tiên quyết cho sự tuần hoàn của Khí.
- Thứ ba, hô hấp cho đúng cách. Hô hấp là sách lược của sự tập khí công. Khi hô hấp đúng, Khí có thể được dẫn dắt hiệu quả.
- Thứ tư, sinh ra và tích lũy Khí tại Hạ Đan điền. Nếu không có Khí dồi dào được chứa ở đó, đường đi của Khí tuần hoàn trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch sẽ không thể mở rộng, nên việc điều chỉnh Khí trong Thập Nhị Chính Kinh sẽ không hiệu quả.
- Thứ năm, đường đi của Khí tuần hoàn là từ Hạ Đan điền, qua Hội Âm, vượt qua xương cùng (Vĩ Lư, hay Trường Cường), Giáp Tích (hay Linh Đài) và Ngọc Chẩm (hay Não Hộ) — Tam Quan — rồi qua đỉnh đầu, và đi xuống theo đường trung tuyến phía trước trở về Hạ Đan điền. Sự tập luyện Tiểu Chu Thiên là nền tảng của Dịch Cân, có thể biến đổi thân thể từ yếu thành mạnh. Trong xã hội Phật giáo nó cũng được gọi là Tam Muội Ấn, hay Tam Ma Địa (Samadhi) — một thuật ngữ Phật giáo đặc biệt có nghĩa là sự an định của thân và tâm (Định).
Tiểu Chu Thiên (Chân lý nguyên thủy của việc không dùng thuốc)
(Vương Ngang, đời Thanh)
Trước hết, dừng các Niệm (những ý nghĩ vương vấn trong tâm), làm yên thân và tim, mặt hướng đông, ngồi xếp bằng (Già Tọa). Hơi thở thanh bình và điều hòa. Dùng Tam Muội Ấn và giữ nó dưới rốn. Gõ răng sáu mươi sáu lần và thu gom thần của toàn thân. Lưỡi quay quanh miệng sáu mươi sáu lần cả trong lẫn ngoài, trong khi ấy bạn cũng đảo cả hai mắt theo những vòng quay của lưỡi. Lưỡi chạm lên hàm ếch, đếm hơi thở một cách tĩnh lặng cho tới ba trăm sáu mươi lần. Chờ cho đến khi thần thủy (nước miếng) đầy, súc (miệng) vài lần. Dùng Tứ Tự Quyết (Bốn Chữ Bí Mật), dẫn Khí từ Nhâm Mạch, qua cốc đạo (Hội Âm), và tới xương cùng (Trường Cường). Dùng Ý để vận chuyển, từ từ dắt Khí lên tới cửa giữa — Giáp Tích (huyệt Linh Đài). Dần dần tăng tốc. Nhắm mắt và ngước lên, hít vào nhưng không thở ra bằng mũi, xông qua Ngọc Chẩm (huyệt Não Hộ). Dùng mắt dẫn nó tới phía trước và qua Côn Lôn (Bách Hội), đi xuống tới Thước Kiều (cầu thước, tức lưỡi), rồi chia nước miếng và đưa nó xuống Trùng Lâu (cổ họng), vào Ly cung (tim, Trung Đan điền), và cuối cùng tới Khí Hải (Hạ Đan điền). Ngưng một lát, dùng cùng phương pháp ấy và lặp lại ba lần. Chia nước miếng trong miệng làm ba ngụm và đưa nó xuống. Đó là điều được gọi là “nước sông trời chảy ngược.”
Tài liệu này do Vương, Ngang viết năm 1682 sau Công nguyên vào đời nhà Thanh (1644–1912 sau Công nguyên). Đường đi của Khí giống như tài liệu trước, nhưng tài liệu này còn mô tả sự chuẩn bị cho Tiểu Chu Thiên.
Niệm (念) là ý nghĩ còn vương vấn trong tâm và khó gột bỏ. Già Tọa (跏坐) là một thuật ngữ thiền Phật giáo đặc biệt, có nghĩa là ngồi xếp bằng. Tam Muội Ấn xuất phát từ chữ Samadhi của Ấn Độ và có nghĩa là trạng thái an định lớn lao của tâm và thân.
Tứ Tự Quyết (四字訣) có nghĩa là Bốn Chữ Bí Mật, đó là Thố (撮), Để (抵), Bế (閉) và Hấp (吸). Thố có nghĩa là ngưng tụ, tập trung, chuyên chú — nó hàm ý sự tập trung của tâm và Khí. Để có nghĩa là ấn lên, tức là lưỡi ấn lên hàm ếch của miệng. Bế có nghĩa là đóng lại, như đóng hay nâng Hội Âm (đáy chậu) lên. Hấp có nghĩa là hút vào, như “dẫn Khí lên dọc theo xương sống phối hợp với hơi thở vào.”
Thước Kiều (鵲橋) có nghĩa là cầu thước, tức cái lưỡi, bắc cầu nối Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Trùng Lâu (重樓) có nghĩa là nhiều tầng lớp, tức vùng cổ họng. Ly Cung (離宮) có nghĩa là cung Ly, tức quả tim. Trong Bát Quái (八卦), Ly tượng trưng cho lửa, và tim thuộc hỏa trong Ngũ Hành (五行). Khí Hải (氣海) là Hạ Đan điền (下丹田), vốn thuộc thủy, và được gọi là cung Khảm (坎宮) trong Bát Quái.
Dẫn Khí từ Hội Âm (Nhâm-1, đáy chậu, đáy biển) đi lên dọc lưng tới đỉnh đầu được gọi là thiên hà thủy nghịch lưu (天河逆流) — nước sông trời chảy ngược.
Ngồi yên một lát. Để tay trái và tay phải mỗi bên xoa Hạ Đan điền một trăm linh tám lần, kể cả rốn. Rồi lấy áo che rốn lại để tránh gió. Xoa mu bàn tay ngón cái cho tới khi chúng ấm lên, và dùng chúng lau mắt mười bốn lần để trừ bỏ tâm hỏa (dương dư thừa). Xoa mũi ba mươi sáu lần để làm ẩm phổi. Xoa tai mười bốn lần để nuôi dưỡng thận. Xoa mặt mười bốn lần để làm mạnh lá lách. Lấy tay che tai và gõ trống trời (Minh Thiên Cổ). Từ từ nâng hai tay lên như thể bái trời, và lặp lại ba lần. Chậm rãi thở ra khí dơ và hít vào khí trong sạch. Nắm lấy vai, xoay chuyển gân cốt vài lần. Xoa cửa Ngọc Chẩm hai mươi bốn lần, xoa mắt thận một trăm linh tám lần, và cũng xoa lòng bàn chân mỗi bên một trăm linh tám lần.
Tài liệu này mô tả những bài tập khí công phục hồi ngay sau thiền Tiểu Chu Thiên. Minh Thiên Cổ (鳴天鼓) có nghĩa là “gõ trống trời.” Che hai tai bằng lòng bàn tay, dùng các ngón tay gõ vào đáy sọ và hai bó cơ lớn ở cổ. Xin tham khảo sách của YMAA: Fight Simple Qigong Exercises (Bát Đoạn Cẩm, 八段錦).
Những tài liệu này mô tả vắn tắt sự tập luyện Tiểu Chu Thiên, nhưng không cho chi tiết về cách xây dựng Khí và những nguy hiểm kèm theo. Lý thuyết cơ bản thì vẫn như nhau, dù có những lối tiếp cận khác nhau hướng tới mục tiêu cuối cùng.
Tiểu Chu Thiên Trong Xã Hội Võ Thuật Trung Hoa
Thiền Tiểu Chu Thiên thường được tập luyện trong xã hội võ thuật Trung Hoa, như nền tảng của Dịch Cân, điều làm gia tăng đáng kể sức mạnh võ học. Những thủ tục thường lệ được học từ một vị thầy là:
- Xây dựng Khí dồi dào. Một vị thầy sẽ dạy cách xây dựng Khí tới mức rất cao tại Hạ Đan điền thông qua hơi thở bụng. Người học trò có thể dành tới mười năm để xây dựng Khí này và tôi luyện Hạ Đan điền.
- Tuần hoàn Khí trên đường đi của Tiểu Chu Thiên. Bởi vì Khí đã dồi dào, nó có thể nguy hiểm nếu không có kỹ thuật đúng. Những chìa khóa then chốt thường được vị thầy giữ bí mật, đó là kiểm soát huyệt Hội Âm phối hợp với hơi thở và để lưỡi chạm vào hàm ếch của miệng. Chỉ khi người học trò đã giành được lòng tin của thầy, những bí mật này mới được tiết lộ. Có ba chỗ, gọi là Tam Quan (三關), là những nơi nguy hiểm trong khi tập. Người học trò sẽ tuân theo lệnh của thầy từng bước một để vượt qua ba cửa ải này. Sự nguy hiểm của việc không kiểm soát nổi lượng Khí dồi dào này là nó có thể đi vào đường sai, được gọi là “tẩu hỏa” (走火 — đi vào lửa). Chúng ta sẽ bàn cặn kẽ về ba cửa ải này và những nguy hiểm của chúng trong phần 5-5.
Một điểm quan trọng là Thai Tức (胎息) là mặt Âm của sự tập luyện Nội Đan (內丹). Đó là chìa khóa then chốt trong việc tập Tẩy Tủy/Não và không được biết đến trong xã hội thế tục. Ngay cả trong các tự viện Phật giáo và Đạo giáo, cũng chỉ có vài vị tăng nhân đạt tới mức độ thâm sâu để hiểu được nó.
Mỗi khi Khí được chứa đựng xây dựng tới mức dồi dào tại Giả Hạ Đan điền, phần dư thừa lập tức được phân phối qua Nhâm Mạch, Đốc Mạch và Thập Nhị Chính Kinh. Thân thể, kể cả mười hai cơ quan nội tạng, trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là khái niệm căn bản của Dịch Cân.
Với sự tập luyện Tiểu Chu Thiên đã hoàn tất, thân thể và sự biểu hiện của sức mạnh võ học được tăng cường đáng kể. Nhưng sự tập luyện Dịch Cân quá nhiều cũng có thể gây ra một vấn đề nghiêm trọng gọi là tán công (散功) — năng lượng tán mát. Khi thân thể vật lý bị nạp năng lượng quá mức, nó có thể dẫn tới cao huyết áp và đột quỵ. Để cân bằng điều này, hãy tập mặt Âm của sự tập luyện — khí công Tẩy Tủy/Não. Bước đầu tiên là Thai Tức (胎息), được mô tả chi tiết trong cuốn trước của loạt sách này, Qigong Meditation—Embryonic Breathing.
Sự Tập Luyện Được Tu Chỉnh Trong Thời Nay
Tuy Tiểu Chu Thiên đã được biết đến trong Yoga Ấn Độ, trong xã hội Thiền (禪) Phật giáo Trung Hoa (Zen Nhật Bản) và trong xã hội Đạo giáo Trung Hoa, nhưng vẫn chỉ có một số ít người tập khí công dám thực hành nó, vì những lý do sau đây:
- Thiếu hiểu biết về lý thuyết và thực hành. Có rất ít thông tin để đọc và nghiên cứu.
- Sự nguy hiểm trong khi tập. Tam Quan (三關) là những nơi nguy hiểm.
- Thiếu một vị thầy giàu kinh nghiệm. Thường thì kinh nghiệm là điều thiết yếu cho sự hướng dẫn, đặc biệt khi có vấn đề xảy ra.
Những phương pháp tập luyện sau đây đã phát triển từ sự thực hành, giảng dạy và nghiên cứu của riêng tôi trong hơn 25 năm. Tôi tin rằng lối tiếp cận mới này đã giảm sự nguy hiểm tới mức tối thiểu.
- Dạy lý thuyết trước. Lý thuyết giống như bản đồ của một thành phố. Thiếu nó, người học dễ bị lạc, đặc biệt trong môi trường ngày nay khi người học không sống và tập cùng với thầy. Hầu hết người tập trong quá khứ không biết lý thuyết, nhưng ngày nay lý thuyết đã được hiểu và tiết lộ. Với bất cứ người mới bắt đầu nào, hiểu lý thuyết đã trở thành điều tối quan trọng cho sự tập luyện thành công.
- Dạy Thai Tức trước. Để ngăn ngừa sự phát triển quá nhiều Dương và vấn đề tán công, người học trước hết nên học mặt Âm của sự tập luyện, tức là lý thuyết và phương pháp của Thai Tức. Với công cụ này, người học có thể xoay xở tình huống và cân bằng Âm Dương của thân thể một cách dễ dàng và hiệu quả.
- Chỉ xây dựng Khí ở mức cần thiết. Theo truyền thống, người học xây dựng Khí tới mức rất dồi dào, và gặp phải những nguy hiểm kèm theo. Trước khi tích lũy quá nhiều Khí, người học nên học cách tuần hoàn nó. Như vậy, sẽ không có đủ Khí để gây ra vấn đề “tẩu hỏa” (走火 — đi vào lửa).
- Dùng tâm để tuần hoàn trước khi lượng Khí chứa đựng đạt tới mức có hại. Theo truyền thống, người ta tích lũy Khí dồi dào rồi mới học cách tuần hoàn nó. Nếu chúng ta đảo ngược thủ tục này, trước khi Khí của người học đạt tới mức có hại, họ đã có thể dẫn nó một cách trôi chảy. Điều đó giống như dạy một người lái xe mới bằng một chiếc xe nhỏ. Chỉ khi họ đã là người lái xe lành nghề, mới cung cấp cho họ một chiếc xe lớn và mạnh hơn. Điều bất lợi của phương pháp này là Khí yếu hơn cần nhiều thời gian hơn để vượt qua các chỗ bế tắc và mở rộng đường đi của nó. Nó giống như việc mở một ống nước bị nghẹt.
- Trước hết tập Tiểu Tiểu Chu Thiên (小小周天) để tránh nguy hiểm, đặc biệt là ở vùng xương cùng, và tuần hoàn Khí phối hợp với hơi thở, bụng và đáy chậu.
- Cẩn thận chọn những điểm rẽ của Khí để tránh vấn đề Khí ứ trệ. Trước khi hoàn tất toàn bộ tiểu chu thiên, trước hết hãy tập những điểm rẽ đúng nơi Khí có thể được đưa trở về Hạ Đan điền. Nếu các điểm rẽ sai, Khí ứ trệ có thể xảy ra, và cả “tẩu hỏa” nữa. Những điểm rẽ này đã được giữ bí mật trong quá khứ. Tôi đã tu chỉnh chúng, và tin rằng chúng an toàn hơn những điểm truyền thống được dùng trong quá khứ. Một khi bạn đã hiểu lý thuyết, bạn có thể tu chỉnh đường tập luyện mà không gây ra vấn đề gì.
5-3 · Tiểu Chu Thiên Và Mạng Lưới Khí
Mạng Lưới Khí
1. Cơ Hoành (膈膜, Heng Ge Mo — Chỗ Nối Khí Của Thượng Tiêu Và Hạ Tiêu)
- A. Cơ hoành là một vật dẫn điện tốt, kẹp giữa các màng cân vốn là vật dẫn kém. Vùng này hoạt động như một cái pin để chứa hỏa khí (火氣) và được gọi là Trung Đan điền (中丹田).
- B. Về mặt Khí, nó chia thân thể thành phần trên và phần dưới. Vùng ngực ở phía trên là nơi trao đổi Ngoại Khí (外氣 — dưỡng khí và thán khí). Cơ hoành bơm không khí vào và ra. Bao tử và bụng ở dưới cơ hoành tạo thành pin sinh học nơi Nội Khí (內氣 — điện sinh học) được chứa đựng. Hạ Đan điền (下丹田) này sản sinh Khí và chứa nó. Bụng là cái bơm Khí, còn Hội Âm (Nhâm-1, đáy chậu) là cửa kiểm soát điều tiết dòng chảy của nó.
- C. Ngoại Khí (không khí) và Nội Khí (điện sinh học) liên hệ mật thiết với nhau. Dưỡng khí (không khí) và điện sinh học tỷ lệ với nhau. Khi sự cung cấp dưỡng khí dồi dào hơn, nhiều đường glucose sẽ được chuyển hóa thành Khí để biểu hiện thành hành động vật lý, nhiệt và ánh sáng.
- D. Khi quá nhiều Khí tích tụ tại Trung Đan điền, nhịp tim sẽ nhanh hơn và hơi thở nặng hơn, làm xáo động tâm tình (tâm ý xúc cảm).
2. Kinh (經 — Các Kinh Khí Chính)
- A. Có mười hai kinh Khí chính, sáu âm và sáu dương. Chúng hoạt động như những con sông chạy dọc theo tay chân và phân phối Khí khắp toàn thân. Ba kinh dương (đại tràng, tam tiêu và tiểu tràng) và ba kinh âm (phổi, tâm bào và tim) nối sáu cơ quan nội tạng với hai tay trên. Ba kinh dương khác (bao tử, bàng quang và đảm) và ba kinh âm khác (lá lách, thận và gan) nối sáu cơ quan nội tạng còn lại với hai chân dưới. Khi sự tuần hoàn Khí bị ứ trệ trong những con sông này, bệnh tật bắt đầu phát sinh.
- B. Tim, phổi và tâm bào cùng tồn tại và được cơ hoành cách ly khỏi các cơ quan khác. Ba tạng âm này liên hệ mật thiết và điều hòa với nhau. Chẳng hạn, khi tim đập nhanh hơn, hơi thở cũng nhanh hơn. Khi hơi thở chậm hơn, nhịp tim chậm lại. Tâm bào hoạt động như bộ phận làm mát cho quả tim, vốn giống như động cơ xe hơi, cần một bộ tản nhiệt để duy trì chức năng của nó. Ba tạng âm này được nối với ngón tay cái (phổi), ngón giữa (tâm bào) và ngón út (tim), và với ba tạng dương, tức đại tràng (ngón trỏ), tam tiêu (ngón giữa) và tiểu tràng (ngón út).
3. Lạc (絡 — Các Kinh Khí Phụ)
- A. Có hàng triệu kinh phụ, gọi là Lạc, phân nhánh ra như những dòng suối từ các kinh chính và phân phối Khí khắp toàn thân. Chúng giống như các mao mạch trong hệ thống máu. Chúng tỏa ra từ các kinh chính, tuần hoàn Khí theo chiều ngang.
- B. Lạc nối các kinh chính với mặt da và tủy xương, và với các cơ quan. Khi nhiều Khí được dẫn ra ngoài qua Lạc từ các kinh Khí chính (Kinh), Vệ Khí (衛氣) được tăng cường, Khí biểu hiện ra bên ngoài nhiều hơn, nên thân thể trở nên ấm hơn. Khi nhiều Khí được dẫn vào trong qua Lạc từ các kinh Khí chính, Tủy Khí (髓氣) được tăng cường. Nhiều Khí được chứa đựng bên trong hơn và sự biểu hiện vật lý bị suy yếu, nên bạn cảm thấy lạnh.
- C. Khi thở ra dài hơn thở vào, nhiều Khí được dẫn ra và biểu hiện. Khi thở vào dài hơn thở ra, nhiều Khí được dẫn vào và được chứa đựng. Với âm thanh Ha (哈) và Heng (哼), sự biểu hiện và sự chứa đựng trở nên hiệu quả hơn.
4. Mạch (脈 — Các Mạch)
Các mạch (Mạch, 脈) giống như những hồ chứa điều tiết Khí trong Thập Nhị Chính Kinh. Một trong những sách y học Trung Hoa cổ nhất, Nạn Kinh (難經), nói: “Mạch bao gồm các kinh kỳ lạ — tám mạch — vốn không thuộc về Thập Nhị Kinh.” Lý Thời Trân cũng giải thích trong cuốn Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo (奇經八脈考 — Nghiên Cứu Về Các Kinh Kỳ Lạ Và Tám Mạch) của ông: “Các kinh kỳ lạ bao gồm tám mạch không bị câu thúc như mười hai kinh. Không có sự xứng hợp và phối hợp trên bề mặt hay bên trong, nên chúng được gọi là kỳ lạ.”
Y học Trung Hoa nhìn nhận tầm quan trọng của Nhâm Mạch và Đốc Mạch (任脈, 督脈) được dùng trong thực hành châm cứu. Do sự hiểu biết hạn chế về sáu mạch kia, châm cứu thường không thao tác trên chúng. Đó là lý do tại sao, cùng với Thập Nhị Chính Kinh (十二經), chúng thường được gọi chung là Thập Tứ Kinh (十四經) trong châm cứu Trung Hoa. Trong cuốn Thực Dụng Trung Y Khí Công Học, có viết:
“Đốc Mạch phát nguyên từ Hội Âm, Khí đi lên dọc lưng thân thể, và là tổng quản của các mạch dương. Vì vậy nó được gọi là biển của mạch dương. Nhâm Mạch khởi đầu từ Hội Âm, (Khí) tuần hoàn dọc theo bụng đi lên phía trước thân thể và chịu trách nhiệm về tất cả các mạch âm. Vì vậy nó được gọi là biển của các mạch âm. Nếu người ta tuần hoàn Khí trôi chảy trong hai mạch này, thì hàng trăm mạch đều vận chuyển. Khí tuần hoàn khắp thân thể không bị trở ngại hay ứ trệ. Đạo trường thọ tùy thuộc vào điều này.”
Làm thế nào hai mạch này kiểm soát tình trạng Khí của toàn thân? Chúng ta hãy kết luận điều này từ những tài liệu sẵn có.
Nhâm Mạch — Biển Của Các Mạch Âm
- Nó tuần hoàn ở chính giữa ngực và bụng để gặp ba kinh Khí chính âm của chân (gan, lá lách và thận) tại các huyệt Trung Cực (Nhâm-3) và Quan Nguyên (Nhâm-4). Nó nhập vào Dương Duy Mạch (陽維脈) tại các huyệt Thiên Đột (Nhâm-22) và Liêm Tuyền (Nhâm-23), và nối với Xung Mạch (衝脈) tại huyệt Âm Giao (Nhâm-7).
- Ba kinh Khí chính âm của chân nhập vào ba kinh Khí chính âm của tay (tim, phổi và tâm bào). Qua mạng lưới này, Nhâm Mạch điều tiết cả sáu kinh âm.
Đốc Mạch — Biển Của Các Mạch Dương
- Mạch này tuần hoàn ở chính giữa lưng. Nó gặp nhiều lần sáu kinh Khí chính dương của tay và chân. Chỗ trung tâm nhất là huyệt Đại Chùy (Đốc-14). Tất cả ba kinh dương của tay và chân đều gặp nhau ở đây.
- Đới Mạch (帶脈) bắt đầu bên dưới vùng hông sườn ở mức độ của đốt sống thắt lưng thứ 2, nối Mệnh Môn (Đốc-4) và bao quanh eo lưng như một cái đai. Dương Duy Mạch cũng nối với Đốc Mạch tại Phong Phủ (Đốc-16) và Á Môn (Đốc-15). Như vậy, Đốc Mạch cai quản chức năng của các mạch dương.
Mạch Và Thiền Nội Đan
Các mạch quan trọng tới mức nào đối với sự tập luyện Nội Đan (內丹)? Lý Thời Trân (1518–1593 sau Công nguyên) giải thích điều này trong cuốn Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo của ông:
“Tám Mạch được giới thiệu trong tất cả các sách hiện có đều quá sơ lược và không được hiểu chi tiết. Vì vậy, đối với những thầy thuốc không biết chúng, sẽ khó hơn trong việc dò tìm nguồn gốc của bệnh tật. Đối với những người thuộc tiên gia (những người tập khí công để giác ngộ) không biết chúng, sẽ khó mà an trí được lò và đỉnh (định vị thần và khí). Thời Trân không phải là người khôn ngoan, nên tham khảo mọi luận bàn sẵn có và thu thập thông tin ở đây, để tiên gia và thầy thuốc có thể dùng nó. Nếu những thầy thuốc ấy biết Tám Mạch này, thì nội dung chính của Thập Nhị Chính Kinh và mười lăm kinh Khí phụ có thể được hiểu. Nếu những nhà nghiên cứu tiên đạo ấy biết Tám Mạch này, thì sự kỳ diệu của thăng và giáng, hổ và long, cùng chi tiết sâu xa tiềm ẩn của Huyền Tẫn (玄牝) có thể đạt được.”
Huyền Tẫn (玄牝) là điều được gọi là Thái Cực (太極, Cực Lớn) trong Dịch Kinh (Kinh Dịch). Thái Cực này là Đạo (道) của sự sống trong thiên nhiên lớn lao. Vì vậy, Huyền Tẫn có thể được gọi là cội rễ của sự sáng tạo, biến hóa, mang nặng và nuôi dưỡng của hàng triệu sinh mệnh. Nó là mẹ của hàng triệu sự vật của trời đất, một tên gọi khác của Đạo.
Sau cùng, tôi tóm tắt những điểm then chốt của Tám Mạch.
1. Nhâm Mạch (任脈)
- a. Một mạch âm cân bằng tình trạng Khí của Đốc Mạch mang tính dương.
- b. Chịu trách nhiệm điều tiết Khí trong sáu kinh chính âm. Khi Khí dồi dào, nó tuần hoàn trôi chảy trong sáu kinh Khí chính âm.
- c. Cùng với Đốc Mạch dương, nó hoàn tất Tiểu Chu Thiên. Khi Khí tuần hoàn trôi chảy trong Tiểu Chu Thiên, thân thể vật lý có thể được tôi luyện và sức khỏe được cải thiện. Tiểu Chu Thiên là Hỏa Lộ (火路) của sự tập luyện Nội Đan (內丹). Khí tuần hoàn mạnh mẽ trong hỏa lộ vào ban ngày.
2. Đốc Mạch (督脈)
- a. Một mạch dương cân bằng Khí của Nhâm Mạch mang tính âm.
- b. Cai quản và điều tiết Khí trong sáu kinh Khí chính dương. Khi Khí dồi dào trong mạch này, nó tuần hoàn trôi chảy trong sáu kinh Khí chính dương.
- c. Cùng với Nhâm Mạch âm, nó hoàn tất Tiểu Chu Thiên.
3. Xung Mạch (衝脈)
- a. Đoạn chính của Xung Mạch là tủy sống, nối bộ não (Thượng Đan điền) với bộ não thứ hai (Chân Hạ Đan điền), tạo thành hệ thống Khí trung tâm. Não trên và não dưới là hai cực của hệ thống này.
- b. Khí tuần hoàn mạnh mẽ vào ban đêm, và bộ não nhận được sự nuôi dưỡng năng lượng vào thời điểm này. Do sự cung cấp Khí dồi dào ban đêm, sự sản xuất nội tiết tố được tăng cường và các tuyến yên, tuyến tùng, tuyến thượng thận, tinh hoàn và buồng trứng hoạt động đầy đủ.
- c. Đường này chịu trách nhiệm về sự tăng trưởng tâm linh, trong khi Tiểu Chu Thiên đảm nhiệm đời sống vật lý. Vì vậy, tuần hoàn Khí trong Xung Mạch (thủy lộ) là để tu dưỡng tâm linh (tẩy tủy/não), còn tuần hoàn nó trong Tiểu Chu Thiên (hỏa lộ) là để tôi luyện thân thể (dịch cân).
- d. Trong số Tám Mạch, mạch này được phân loại là cực âm và cân bằng với Đới Mạch vốn được phân loại là cực dương. Khi Khí tích tụ ở đây, thân thể tĩnh lặng, và tủy cùng não nhận được sự nuôi dưỡng (tẩy tủy).
- e. Đường năng lượng trung tâm này cho ta một cảm giác được định tâm.
4. Đới Mạch (帶脈)
- a. Khí của nó tuần hoàn mạnh mẽ bất cứ khi nào bạn đứng lên. Điều này cho cảm giác cân bằng về thể chất lẫn tinh thần, từ đó bạn tìm thấy trung tâm của mình. Mạch này được phân loại là cực dương và cân bằng Xung Mạch. Mạch này cung cấp sự cân bằng, còn mạch kia cung cấp cảm giác định tâm. Điều đó có nghĩa là tuy có hai mạch, chúng hoạt động như một.
- b. Khí tuần hoàn trong mạch này chịu trách nhiệm về Vệ Khí (衛氣) của thân thể. Khi Khí này mở rộng dồi dào, bạn cân bằng hơn và hệ miễn nhiễm hoạt động tốt.
- c. Mức độ mà Vệ Khí có thể mở rộng tùy thuộc vào sự dồi dào của Khí được chứa trong Chân Hạ Đan điền. Khí được chứa trong Chân Hạ Đan điền càng nhiều, bạn càng khỏe mạnh, cân bằng và định tâm.
5. Âm Kiều Mạch (陰蹻脈) và Âm Duy Mạch (陰維脈)
- a. Hai mạch này nối tại Hội Âm (Nhâm-1) với Nhâm Mạch và Xung Mạch. Ở phía dưới, chúng nối với vùng lõm của bàn chân. Khi năng lượng tình dục mạnh, Khí được chứa trong hai mạch này mạnh, biểu hiện thành sức mạnh của đôi chân. Khi năng lượng tình dục cạn kiệt, đôi chân yếu đi.
- b. Hai mạch này cân bằng tình trạng Khí của Dương Kiều Mạch và Dương Duy Mạch. Trong khi các mạch âm chứa Khí, các mạch dương biểu hiện nó.
6. Dương Kiều Mạch (陽蹻脈) và Dương Duy Mạch (陽維脈)
- a. Hai mạch này cân bằng tình trạng Khí của Âm Kiều Mạch và Âm Duy Mạch. Trong khi các mạch âm chứa Khí, các mạch dương biểu hiện nó. Khi Khí mạnh, phần dưới thân thể sẽ mạnh.
- b. Hai mạch dương này cân bằng hai mạch âm nói trên. Tuy về mặt vật lý chúng là hai, về chức năng thì chúng là một.
Tý Ngọ Lưu Chú (子午流注 — Dòng Khí Lớn Tý và Ngọ)
Để hiểu mạng lưới Khí, hãy nhận biết rằng thân thể đang sống và sự tuần hoàn Khí trong nó bị thiên nhiên chi phối. Mối quan hệ với các chu kỳ của thiên nhiên này được gọi là Tý Ngọ Lưu Chú (子午流注), mà bạn cần đi theo để tuần hoàn Khí một cách hiệu quả.
Tý (子) là khoảng thời gian giữa 11 giờ đêm và 1 giờ sáng, còn Ngọ (午) là giữa 11 giờ trưa và 1 giờ chiều. Lưu (流) có nghĩa là dòng chảy, còn Chú (注) có nghĩa là khuynh hướng. Vậy Tý Ngọ Lưu Chú có nghĩa là “khuynh hướng dòng Khí lớn đi theo sự biến thiên của thời gian.”
Nội Kinh gọi đây là sự tương ứng của trời và người. Những dòng Khí lớn của Thập Nhị Chính Kinh khác biệt nhau. Khí chảy trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch (hỏa lộ) cũng bị chu kỳ tự nhiên chi phối. Khi nó tuần hoàn, mức Khí ở một phần của đường đi luôn luôn cao hơn ở những chỗ khác. Vùng có Khí mạnh hơn này di chuyển vòng quanh đường đi một cách đều đặn mỗi hai mươi bốn giờ. Chính vùng có điện thế Khí cao hơn này giữ cho Khí tiếp tục chảy. Cũng như nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, Khí chỉ di chuyển từ nơi có điện thế cao hơn tới nơi có điện thế thấp hơn.
Đại Tập Thành Kim Đan nói: “Tý và Ngọ là những điểm giữa của trời và đất. Trên trời, chúng là mặt trời và mặt trăng; nơi con người, chúng là tim và thận; về thời gian, chúng là Tý (nửa đêm) và Ngọ (giữa trưa); trong Bát Quái, chúng là Khảm (坎, Thủy) và Ly (離, Hỏa); về phương hướng, chúng là nam và bắc.”
Tiến sĩ Dương, Kế-Châu (1522–1620 sau Công nguyên) cũng giải thích trong cuốn Châm Cứu Đại Thành của ông:
“Nhâm Mạch và Đốc Mạch của thân thể con người, lưng và bụng trước, được ví với Tý-Ngọ của tự nhiên. Nếu ví với nam và bắc, chúng có thể được chia và hợp. Khi chia, âm dương không loạn; khi hợp, chúng phối hợp với nhau không kẽ hở. Một là hai và hai là một.”
Trong hỏa lộ của Tiểu Chu Thiên, Khí tuần hoàn mạnh hơn trong Nhâm Mạch so với Đốc Mạch vào ban ngày, trong khi về ban đêm nó tuần hoàn mạnh hơn trong Đốc Mạch. Dường như chúng là hai mạch, nhưng về chức năng thì chúng là một, vì chúng thuộc về cùng một mạch điện.
Lý Thời Trân (1518–1593 sau Công nguyên) bàn về điều này trong Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo:
“Nhâm Mạch và Đốc Mạch là Tý-Ngọ của thân thể. Đó là Đạo của sự thăng và giáng của Dương Hỏa (陽火) và Âm Phù (陰符), được Đan Gia (丹家 — xã hội khí công) sử dụng. Đó là nơi then chốt của Khảm và Ly.”
Dương Hỏa (陽火) có nghĩa là con đường gia tăng lửa của thân thể để làm cho nó thêm dương. Âm Phù (陰符) là con đường tăng cường thủy của thân thể, làm cho cái dương của nó thêm âm. Phù (符) là thần thủy (符水, nước phép) để chữa bệnh.
Trong Hỏa Lộ, dòng Khí lớn vào giữa trưa ở tại Trung Đan điền (中丹田). Nó đi xuống Khí Hải (Nhâm-6) — Hạ Đan điền — trong khoảng từ 2 tới 4 giờ chiều. Nó đi xuống Hội Âm (Nhâm-1) lúc mặt trời lặn và di chuyển ra phía lưng vào buổi chiều tối, tới đỉnh Bách Hội (Đốc-20) vào lúc nửa đêm. Lúc mặt trời mọc, Khí ở trên mặt, và tới giữa trưa, nó đã tới Trung Đan điền để hoàn tất chu kỳ. Chu kỳ này được các võ sư dùng cho các đòn đánh huyệt (Điểm Huyệt, 點穴).
| Thời điểm | Vị trí dòng Khí lớn trong Hỏa Lộ |
|---|---|
| Giữa trưa (Ngọ) | Trung Đan điền (Trung Đan Điền) |
| 2–4 giờ chiều | Khí Hải (Nhâm-6) — Hạ Đan điền |
| Lúc mặt trời lặn | Hội Âm (Nhâm-1) |
| Buổi chiều tối | Di chuyển ra phía lưng |
| Nửa đêm (Tý) | Bách Hội (Đốc-20) |
| Lúc mặt trời mọc | Trên mặt (Âm Giao, Đốc-28) |
Những Huyệt Đạo Liên Quan Đến Thiền
Chúng ta hãy tóm tắt những huyệt đạo quan trọng được dùng trong sự tập luyện Tiểu Chu Thiên, để việc theo dõi phần thảo luận còn lại của cuốn sách được dễ dàng hơn.
1. Thượng Đan Điền (上丹田)
Toàn bộ bộ não được xem là Thượng Đan điền. Các tế bào não có tính dẫn điện cao và có thể chứa đựng cũng như tiêu thụ rất nhiều điện. Khoảng không giữa hai bán cầu não được gọi là Thần Cốc (神谷) nơi Thần Cốc (Cốc Thần, 谷神) ngự trị. Ở trung tâm đáy của thung lũng ấy, nơi tuyến yên và tuyến tùng tọa lạc, là Nê Hoàn Cung (泥丸宮). Bộ não chịu trách nhiệm về tư duy ý thức, trong khi khoảng không không có tế bào não này liên hệ với tiềm thức của bạn. Đó là nơi bạn nối kết với thiên nhiên từ khi sinh ra. Trong khi tâm ý thức của bạn ở trong cái ma trận con người giả tạo, thì tiềm thức của bạn tự do và chân thực.
Bách Hội (Đốc-20) ở đỉnh đầu và Ấn Đường (M-NH-3, con mắt thứ ba) là hai cửa nơi thần của bạn giao tiếp với năng lượng và thần của thiên nhiên. Tuy Bách Hội thì mở, nhưng Ấn Đường đã bị niêm phong nơi con người từ lâu.
2. Trung Đan Điền (中丹田)
Có những ý kiến khác nhau về vị trí của Trung Đan điền. Một số tài liệu tin rằng Thiện Trung (Nhâm-17) là Trung Đan điền, vì phía sau nó là tuyến ức, liên hệ với quả tim (tâm tình cảm) của bạn. Những người khác cho rằng chính quả tim là Trung Đan điền, vì nó liên hệ với tâm tình cảm của bạn và chứa hỏa khí hậu thiên. Lại có những người khác tin rằng Cựu Vĩ (Nhâm-15, chỗ dưới cùng xương ức) là nơi nó tọa lạc.
Nhìn vào cấu trúc của thân thể, chúng ta thấy cơ hoành, một vật dẫn điện tốt, được kẹp giữa các màng cân (vật dẫn kém) ở cả hai bên. Điều này giống như một cái pin, có khả năng chứa điện tới mức dồi dào. Nó nằm giữa hai lá phổi nơi không khí được trao đổi và bao tử nơi thức ăn được chuyển hóa, nên Khí Hậu Thiên có thể được chứa đựng tới mức cao. Khí được chứa ở vùng này cũng ảnh hưởng tới tâm tình cảm.
3. Giả Hạ Đan Điền (假下丹田)
Giả Hạ Đan điền nằm cách rốn khoảng hai inch trong vùng bụng. Đó là Khí Hải (Nhâm-6, biển Khí) trong y học Trung Hoa. Các Đạo sĩ gọi nó là Đan Lô (丹爐, lò đơn). Những tên gọi này cho thấy vùng này có thể sản sinh Khí (nuôi lớn đơn dược) dồi dào như biển cả.
Khi bạn chuyển động bụng lên xuống qua hơi thở bụng, bạn sản sinh Khí. Chuyển động này được gọi là Khởi Hỏa (起火) và có nghĩa là châm lửa. Có hai cách thở để xây dựng lửa và chứa Khí. Một là Hơi Thở Bụng Thuận (正腹呼吸), cách kia là Hơi Thở Bụng Nghịch (反逆腹呼吸). Hơi thở bụng cũng được gọi là Hơi Thở Trở Về Thuở Ấu Thơ (返童呼吸) hay Hơi Thở Hậu Thiên (後天呼吸). Một bào thai dùng chuyển động bơm này để hút dinh dưỡng và dưỡng khí từ người mẹ qua dây rốn. Hầu hết trẻ nhỏ vẫn giữ thói quen chuyển động bụng này. Hai cách thở này đã được bàn ở phần 4-3 và sẽ được phân tích một cách khoa học trong phần kế tiếp.
4. Chân Hạ Đan Điền (真下丹田)
Các Đạo sĩ coi Hạ Đan điền thông thường ở bụng là cái giả. Cái thật thì ở bên trong thân thể, dưới bao tử, phía trước hai quả thận (Nội Thận, 內腎) và phía trên Ngoại Thận (外腎 — tinh hoàn). Chân Hạ Đan điền là đại tràng và tiểu tràng, nơi bộ não thứ hai hay pin sinh học tọa lạc, như các nhà khoa học ngày nay đã hiểu. Các Đạo sĩ coi Hạ Đan điền thông thường là giả, vì khi Khí tích tụ ở đó, nó tự động đi vào Nhâm Mạch và tán mát vào Thập Nhị Chính Kinh. Vì vậy, tuy nó sinh ra Khí và chứa nó tới một mức độ nào đó, nó không thể đạt tới mức dồi dào. Dẫu Khí được chứa tại Giả Hạ Đan điền có lợi cho sức khỏe, nó vẫn chưa đủ cho sự giác ngộ tâm linh.
Chân Hạ Đan điền là cực dưới của đường năng lượng trung tâm, nối với bộ não (Thượng Đan điền) qua tủy sống (Xung Mạch). Để có đủ Khí nuôi dưỡng bộ não cho sự giác ngộ tâm linh, trước hết hãy tôi luyện pin sinh học của bạn, và chứa Khí ở đó tới mức dồi dào.
Tài liệu Quan Mạch (觀察脈) nói: “(Chân) Đan điền là cội rễ của sự sống. Đó là lý do tại sao các Đạo sĩ nhập thiền để tu dưỡng tâm linh và các Phật tử nhập thiền để thành Phật đều tụ chân khí (Nguyên Khí) dưới rốn. Có một con Thần Quy (神龜) ở trong Đan điền, hít vào và thở ra Chân Khí (真氣) này. Sự hô hấp này không phải là thở bằng miệng và mũi, vốn chỉ là những cửa của hô hấp. Đan điền là nguồn gốc của Khí và là chỗ để những bậc thánh nhân ấy bắt đầu sự tu luyện của họ. Đó là nơi họ giữ và chứa Chân Nhất (真一), nên nó được gọi là Thai Tức.”
Chân Nhất (真一) có nghĩa là Một Thật hay Sự Đơn Nhất Chân Thực, tức hệ thống Khí trung tâm được cấu thành bởi Lưỡng Cực. Cực dương tại Chân Hạ Đan điền cung cấp số lượng Khí, còn cực âm tại Thượng Đan điền kiểm soát phẩm chất của sự biểu hiện của nó thành sự sống (thần). Về mặt vật lý có Lưỡng Cực, nhưng về chức năng thì chỉ có một, vì chúng là âm và dương của cùng một sự vật. Nếu bạn giữ tâm mình trong Chân Nhất hay Sự Đơn Nhất Chân Thực này, bạn nâng cao Tinh Thần (精神) của mình và thiết lập sự chứa đựng Khí dồi dào.
5. Hoàng Đình (黃庭 — Sân Vàng)
Hoàng Đình có thể hàm ý nhiều chỗ khác nhau trong thân thể. Lương, Khâu-Tử giải thích Hoàng Đình trong Hoàng Đình Nội Cảnh Kinh:
“Hoàng (vàng), là màu ở giữa của các màu. Đình (sân) là trung tâm của một hình vuông. Bên ngoài, nó có nghĩa là trung tâm của trời (Thiên Trung), trung tâm của con người (Nhân Trung), và trung tâm của đất (Địa Trung). Bên trong, nó có nghĩa là trung tâm của bộ não (Não Trung), trung tâm của quả tim (Tâm Trung), và trung tâm của lá lách (Tỳ Trung).”
Vậy Hoàng Đình có thể hàm ý trung tâm của nhiều sự vật.
Thạch, Hòa-Dương giải thích Hoàng Đình trong Hoàng Đình Ngoại Cảnh Kinh:
“Phía trên Mệnh Môn, có hai lỗ huyền diệu bí mật, bên trái là Huyền (玄) và bên phải là Tẫn (牝 — hai quả thận bên trong). Có một chỗ trống không ở giữa, được gọi là Hoàng Đình.”
Tài liệu Dưỡng Sinh Bí Lục nói: “Rốt cuộc Hoàng Đình ở đâu? Phía trên bàng quang, dưới lá lách, trước hai quả thận, bên trái lá gan, và bên phải hai lá phổi.”
Vậy Hoàng Đình là trung tâm của nơi các cơ quan nội tạng tọa lạc (tức là trọng tâm). Hoàng Đình cũng được gọi là Ngọc Hoàn Huyệt (玉環穴), cái tên đầu tiên được dùng trong Đồng Nhân Châm Cứu Đồ của Tiến sĩ Vương, Duy-Nhất. Sách Đạo gia Vương Lục Thị Ngữ nói: “Trong Đồng Nhân Châm Cứu Đồ có ghi rằng trong các huyệt của tạng phủ trong thân thể, có một Ngọc Hoàn (vòng ngọc), nhưng ta không biết Ngọc Hoàn là gì.” Về sau, Trương, Tử-Dương mô tả nơi các bậc tiên dùng để thành tựu đơn dược:
“Tim ở trên, thận ở dưới, lá lách ở bên trái, và lá gan ở bên phải. Cửa sinh (Sinh Môn, 生門 — rốn) ở phía trước, cửa đóng ở phía sau, chúng nối với nhau như một cái vòng, trắng như bông, đường kính một tấc. Nó bao gồm Tinh Hoa và sự tinh luyện của toàn thân. Nó đối diện với rốn và là cội rễ của sự sống. Đó là Ngọc Hoàn.”
Cửa sinh ở phía trước có nghĩa là cửa Khí mở ở phía trước và đóng ở phía sau. Khái niệm này cũng được xác nhận trong tài liệu Dịch Cân Kinh; Phụ lục B-12.
Mật Hộ (密戶) có nghĩa là Cửa Kín (Mệnh Môn, Đốc-4), nằm giữa đốt sống L2 và L3. Vậy Hoàng Đình thực ra là bộ não thứ hai, Chân Hạ Đan điền (真下丹田) hay pin sinh học của thân thể. Chỗ này là trọng tâm chứa đựng Khí hay điện sinh học dồi dào.
Những tài liệu khác cho rằng Hoàng Đình ở giữa hai quả thận, trong khi những tài liệu khác đặt nó dưới quả tim. Tôi tin rằng Hoàng Đình có nghĩa là chỗ ở phía trên Chân Hạ Đan điền, sau rốn, và trước hai quả thận. Trong sự tu tập giác ngộ tâm linh của Đạo gia, đây là nơi Khảm và Ly tương tác. Thủy khí được chứa tại Chân Hạ Đan điền trong khi hỏa khí được tích tụ tại Trung Đan điền. Thủy và hỏa khí tương tác tại Hoàng Đình để thụ thai Thánh Thai.
6. Bách Hội (Đốc-20, 百會 — Trăm Hội Tụ)
Bách Hội nằm trên đỉnh đầu và là nơi Khí của toàn thân tụ họp (trăm cuộc hội tụ). Đây là phần dương nhất của thân thể, cũng như Hội Âm (Nhâm-1, đáy chậu) là phần âm nhất của thân thể. Qua Xung Mạch, hai huyệt này liên hệ với nhau. Khi Khí biểu hiện tại Bách Hội, thần (Thần, 神) có thể được nâng cao và Khí của thân thể được tâm cai quản một cách hiệu quả.
Bách Hội là cửa nơi thần đi ra và đi vào. Qua đó, thần rời khỏi thân thể và đi vào để trở về chỗ ngự của nó, Nê Hoàn Cung.
7. Ấn Đường (M-NH-3, 印堂 — Phòng Đóng Ấn)
Huyệt Ấn Đường trong y học Trung Hoa được gọi là Thiên Nhãn hay Thiên Mục (天眼, 天目 — mắt trời) trong xã hội Đạo gia và là con mắt thứ ba ở phương Tây. Nó được gọi là mắt trời vì khi nó mở, bạn có thể giao tiếp với Khí và thần của trời. Bạn có thể giao tiếp bằng thần giao cách cảm với những sinh vật sống khác. Bạn được giác ngộ, biết được nhiều bí mật của tự nhiên và thấy được thực tại chân thực.
Đây là một huyệt thành cặp với Cường Gian (Đốc-18). Hai huyệt này nằm ở đầu của Thần Cốc (神谷).
8. Âm Giao (Đốc-28, 齦交)
Đây là huyệt cuối cùng trong Đốc Mạch và nối với Nhâm Mạch. Huyệt Âm Giao là chỗ nối hay chiếc cầu nối giữa Nhâm Mạch âm và Đốc Mạch dương.
9. Nhân Trung (Đốc-26, 人中) hay Thủy Câu (水溝)
Huyệt này ở dưới mũi, cũng được gọi là Thủy Câu (rãnh nước). Nó là một huyệt xứng cặp với Não Hộ (Đốc-17) ở đỉnh cổ. Nó nối với tâm ý thức, và khi một người bị bất tỉnh, ấn huyệt này có thể làm người ấy tỉnh lại.
10. Thiên Đột (Nhâm-22, 天突 — Chỗ Lồi Của Trời)
Thiên Đột ở đáy cổ họng. Khi bị đánh, khả năng hô hấp có thể bị ảnh hưởng. Khí của nó tương ứng với khí của Đại Chùy (Đốc-14) ở phía lưng.
11. Cựu Vĩ (Nhâm-15, 鳩尾) hay Tâm Khảm (心坎)
Cựu Vĩ ở đáy xương ức. Nó nối với quả tim và với Linh Đài (Đốc-10), huyệt xứng cặp của nó ở phía lưng. Khi hai huyệt này bị đánh vào giữa trưa, cơn đau tim có thể xảy ra. Cựu Vĩ được gọi là Tâm Khảm trong xã hội võ thuật Trung Hoa.
12. Trung Quản (Nhâm-12, 中脘 — Huyệt Giữa, Đám Rối Thần Kinh Mặt Trời)
Trung Quản ở đám rối thần kinh mặt trời và được gọi là “trung tâm” trong xã hội khí công. Phía sau nó là huyệt Hoàng Đình. Qua sự tương tác âm dương của hỏa khí và thủy khí tại Hoàng Đình, Thánh Thai được thụ thai.
Huyệt này là một trong những huyệt yếu hại trong xã hội võ thuật. Khi bị đánh hướng lên trên với lực, cơn đau tim có thể xảy ra. Khi bị đánh thẳng về phía trước, buồn nôn có thể xảy ra. Khi bị đánh hướng xuống dưới, hai lá phổi có thể bị bế và hô hấp bị ngăn chặn.
13. Âm Giao Bụng (Nhâm-7, 陰交 — Chỗ Nối Âm)
Không nên nhầm lẫn huyệt này với Âm Giao (Đốc-28) ở miệng. Huyệt này là chỗ nối của Nhâm Mạch âm và Xung Mạch âm. Nó nối với Chân Hạ Đan điền và cho phép Khí đi vào và đi ra từ pin sinh học của con người. Nó là một huyệt xứng cặp với Mệnh Môn (Đốc-4, cửa sinh) nằm giữa đốt sống L2 và L3.
14. Khí Hải (Nhâm-6, 氣海 — Biển Khí)
Khí Hải nằm cách rốn khoảng hai inch và được xem là Giả Hạ Đan điền trong xã hội Đạo gia. Nó cũng được gọi là Đan Lô (lò đơn), vì nó sản sinh Khí. Khi được chuyển động lên xuống, mỡ (tinh hoa của thức ăn) được chuyển hóa thành Khí.
15. Long Môn (M-CA-24, 龍門 — Cửa Rồng) hay Hạ Âm (下陰)
Vùng bẹn được gọi là Long Môn. Nó cũng được gọi là Hạ Âm (Âm Dưới) vì Khí ở đây là âm. Nó và Trường Cường (Đốc-1, Vĩ Lư, xương cùng) được xem là một cặp huyệt Khí tương ứng.
16. Hội Âm (Nhâm-1, 會陰 — Gặp Âm, Đáy Chậu)
Hội Âm có nghĩa là gặp âm, vì nó nối bốn mạch âm chính: Nhâm, Xung, Âm Kiều và Âm Duy. Nó được xem là một cửa bí mật (Xảo Môn, 竅門) trong khí công Nội Đan. Khi được mở (đẩy ra), Khí được chứa trong thân thể có thể được phóng thích; khi được đóng (nâng lên), Khí có thể được giữ lại và chứa đựng. Cửa này là cái bơm của nội khí trong thân thể, kiểm soát sự chứa đựng và biểu hiện của Khí. Huyệt này và Bách Hội (Đốc-20) là cặp cửa tương ứng trong hệ thống Khí trung tâm của thân thể.
17. Trường Cường (Đốc-1, 長強) hay Vĩ Lư (尾閭 — Xương Cùng)
Trường Cường là cửa ải thứ nhất ngăn trở đường đi của thiền Tiểu Chu Thiên. Đường đi của Khí ở đây hẹp do cấu trúc của vùng này. Vì có ít cơ hay gân dẫn điện ở đây, đường đi của vùng này càng hẹp hơn khi người ta lớn tuổi. Mở rộng cửa ải này là nhiệm vụ đầu tiên của Tiểu Chu Thiên.
Đây là cửa ải nguy hiểm thứ nhất. Khi người ta không biết cách đúng để dẫn Khí vượt qua nó, Khí có thể chảy vào hai chân thay vì thế, làm tổn thương hệ thần kinh.
18. Mệnh Môn (Đốc-4, 命門 — Cửa Sinh)
Mệnh Môn có nghĩa là cửa sinh, nối với Chân Hạ Đan điền. Không nên nhầm lẫn nó với Đốc-10 ở phía sau lưng, được gọi là Linh Đài trong giới y học nhưng được gọi là Mệnh Môn trong giới võ thuật. Mệnh Môn là một huyệt tương ứng với Âm Giao (Nhâm-7) ở vùng bụng. Khí được chứa tại Chân Hạ Đan điền có thể được dẫn từ Âm Giao hoặc từ Mệnh Môn để đi vào quỹ đạo Tiểu Chu Thiên.
19. Tích Trung (Đốc-6, 脊中 — Giữa Xương Sống)
Tích Trung nằm ở giữa xương sống. Đó là một điểm rẽ của Khí dành cho người mới bắt đầu trong sự tập luyện Tiểu Chu Thiên.
20. Linh Đài (Đốc-10, 靈台 — Đài Linh) hay Giáp Tích (夾脊, Ép Xương Sống) hay Mệnh Môn (命門)
Linh Đài là một tên gọi y học Trung Hoa. Do vị trí của nó ở giữa hai xương bả vai, nó được gọi là Giáp Tích (Ép xương sống) trong xã hội Đạo gia. Nó thường được gọi là Mệnh Môn (cửa sinh) trong xã hội võ thuật, vì khi nó bị đánh đúng lúc, quả tim có thể bị chấn động.
Linh Đài là cửa ải hay chướng ngại nguy hiểm thứ hai trong thiền Tiểu Chu Thiên. Không có cấu trúc giải phẫu nào gây ra sự ứ trệ Khí ở đây, nhưng nó nối với quả tim. Khi Khí dư thừa được dẫn tới đó, nó có thể đi tới tim và làm cho tim quá dương, gây ra nhịp tim nhanh hơn. Điều này có thể khiến người ta chú ý tới quả tim và do đó dẫn nhiều Khí hơn tới đó, làm phát sinh cơn đau tim. Vì vậy nó là một huyệt nguy hiểm. Khi bạn tập, hãy cẩn thận với nó. Nếu nhịp tim gia tăng, cứ phớt lờ nó và tiếp tục dẫn Khí lên dọc theo xương sống.
21. Thân Trụ (Đốc-12, 身柱) và Đại Chùy (Đốc-14, 大椎)
Cả hai huyệt Thân Trụ và Đại Chùy đều có thể được dùng làm điểm rẽ, vì chúng nối đường đi của xương sống với đường đi của hai tay. Bất cứ sự ứ trệ Khí nào cũng có thể được gỡ bỏ dễ dàng.
22. Á Môn (Đốc-15, 啞門 — Cửa Câm)
Á Môn ở trung tâm phía sau cổ. Sự chuyển động của cổ dễ dàng gỡ bỏ Khí ứ trệ ở vùng này, nên nó cũng có thể được dùng làm điểm rẽ của Khí.
23. Phong Phủ (Đốc-16, 風府 — Nơi Gió Ngự)
Phong Phủ là một huyệt thành cặp với Nhân Trung (Đốc-26) và nằm chính xác đối diện với nó. Đó là một huyệt chính để trị chứng cứng cổ, tê bì tay chân, cảm mạo thông thường, nhức đầu, đột quỵ và bệnh tâm thần.
24. Não Hộ (Đốc-17, 腦戶 — Nhà Của Não) hay Ngọc Chẩm (玉枕, Gối Ngọc)
Não Hộ nằm cách Phong Phủ khoảng một inch về phía trên, cũng được xã hội Đạo gia gọi là Ngọc Chẩm (Gối ngọc). Nó là cửa ải thứ ba của sự tập luyện Tiểu Chu Thiên. Khi Khí dồi dào tới huyệt này, Khí dư thừa có thể đi vào và gây tổn thương não, nên người ta cần thận trọng ở đây. Chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về Tam Quan (三關) về sau.
25. Cường Gian (Đốc-18, 強間)
Cường Gian đối diện với mắt trời (Thiên Nhãn, 天眼 — con mắt thứ ba). Hai huyệt này là những huyệt tương ứng, mặc dù Não Hộ (Đốc-17) cũng thường được xem là một huyệt thành cặp của Con Mắt Thứ Ba.
Bảy Cặp Cửa Khí Tương Ứng
Thân thể con người có bảy cặp cửa Khí lớn tương ứng, từ đó cấu trúc Khí của nó được tạo thành:
- Hội Âm (Nhâm-1) và Bách Hội (Đốc-20);
- Ấn Đường (M-HN-3) và Cường Gian (Đốc-17) [hoặc Não Hộ (Đốc-18)];
- Nhân Trung (Đốc-26) và Phong Phủ (Đốc-16);
- Thiên Đột (Nhâm-22) và Đại Chùy (Đốc-14);
- Cựu Vĩ (Nhâm-15) và Linh Đài (Đốc-10);
- Âm Giao (Nhâm-7) và Mệnh Môn (Đốc-4); và
- Long Môn (M-CA-24) [hay Hạ Âm] và Trường Cường (Đốc-1) [hay Vĩ Lư].
Trong bảy cặp này, có hai cặp quan trọng nhất: Hội Âm (Âm) và Bách Hội (Dương), và Âm Giao (Âm) và Mệnh Môn (Dương). Hội Âm được nối với Bách Hội qua Xung Mạch, thiết lập sự cân bằng trung tâm của sự phân phối Khí trong thân thể. Âm Giao cũng được nối với Mệnh Môn qua Xung Mạch và nhập Nhâm Mạch ở phía trước cùng Đốc Mạch ở phía sau, cung cấp sự cân bằng Khí trước và sau cho thân thể. Bốn huyệt này là những cửa Khí chính.
Thiên Đột kiểm soát sự rung động của giọng nói và phát sinh các âm thanh Heng (哼, Âm) và Ha (哈, Dương) để biểu hiện Khí. Nó là một cửa của sự biểu đạt, và năng lượng của nó được cân bằng với Ấn Đường, nơi thần ngự trị. Khi thần cao ở Ấn Đường, năng lượng được biểu hiện mạnh, và sự tỉnh thức cùng nhận biết cao. Cựu Vĩ và Linh Đài nối với quả tim (tâm tình cảm) và cung cấp lực đẩy mạnh để nâng cao thần. Bốn cửa phụ này kiểm soát sự biểu hiện của Khí trong thân thể. Như vậy, Tám Cửa được xác định.
5-4 · Lý Thuyết Của Thiền Tiểu Chu Thiên
Trong phần này, tôi đề xuất một lý thuyết về sự tập luyện Tiểu Chu Thiên từ cả sự hiểu biết Đông phương lẫn Tây phương. Nếu một sự thực hành cổ xưa nào đó đã tồn tại qua hàng ngàn năm với chức năng và hiệu quả được kiểm chứng, thì nó hẳn phải đúng. Khi ấy chúng ta phải có thể diễn giải nó theo lô-gích khoa học hiện đại. Lý thuyết và thực hành cổ xưa phải phù hợp với sự diễn giải khoa học hiện đại, bằng không thì hoặc lý thuyết hoặc thực hành cần được tu chỉnh. Tôi đề nghị trình bày mối nối kết này và đưa ra một khái niệm lý thuyết mới về sự thực hành này.
Những Khái Niệm Tổng Quát
- Từ y học Trung Hoa và khí công, chúng ta hiểu rằng dòng Khí lớn vào ban ngày là trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch, còn ban đêm là trong Xung Mạch. Nhâm Mạch điều tiết sự tuần hoàn Khí trong sáu kinh chính âm, trong khi Đốc Mạch điều tiết sáu kinh chính dương. Thập Nhị Chính Kinh (十二經) này phân phối Khí khắp toàn thân qua hàng triệu kinh Khí phụ (Lạc, 絡). Ban ngày, khi có hoạt động thể chất, Khí tuần hoàn mạnh mẽ trong hai mạch này. Thở ra dài hơn thở vào và Vệ Khí (衛氣) mở rộng.
Về ban đêm, thân thể bạn thư giãn và nghỉ ngơi. Thở vào dài hơn thở ra, dẫn Khí vào Xung Mạch và tủy xương. Não và các tuyến được nuôi dưỡng bằng Khí, trong khi sự sản xuất nội tiết tố gia tăng.
Chúng ta kết luận rằng Khí trên đường đi Tiểu Chu Thiên nuôi dưỡng thân thể (dịch cân), trong khi Khí trong Xung Mạch thúc đẩy sự trường thọ và tu dưỡng tâm linh (tẩy tủy/não).
- Khí mạnh hơn trong Nhâm Mạch vào ban ngày và trong Đốc Mạch vào ban đêm. Vào ban ngày, thiên nhiên chung quanh bạn là dương, và Khí âm trong Nhâm Mạch cân bằng cái dương bên ngoài. Về ban đêm, môi trường bên ngoài là âm, và Khí trong Đốc Mạch dương cân bằng cái âm của tự nhiên.
- Có ba chướng ngại lớn đối với sự tuần hoàn Khí trong quỹ đạo Tiểu Chu Thiên, tất cả đều nằm trong Đốc Mạch. Không có chướng ngại nào trong Nhâm Mạch.
- Nhâm Mạch và Đốc Mạch được cấu tạo từ nhiều lớp gân và màng cân khác nhau. Vì tính dẫn điện của gân cao hơn của các bắp cơ chung quanh, chúng ta có thể giả định rằng sự tuần hoàn Khí tại đường trung tuyến này dồi dào hơn ở các vùng chung quanh. Nhiều lớp gân và màng cân (vật dẫn kém) được kẹp lại ở hai mạch này như một cái pin, có khả năng chứa Khí tới mức dồi dào.
Chúng ta giả định rằng tính dẫn điện của gân cao hơn của cơ, vì những lý do sau đây:
- a. Diện tích mặt cắt ngang của một sợi gân nối với một bắp cơ nhỏ hơn rất nhiều so với của chính bắp cơ ấy. Vì cả hai đều được cách điện bằng màng cân vốn là vật dẫn kém, và cùng một dòng điện chạy qua cả hai vùng, dòng điện phải chảy nhanh hơn qua sợi gân so với qua bắp cơ. Vậy tính dẫn điện của gân cao hơn của cơ.
- b. Gân mạnh hơn cơ, nên Khí của nó hẳn phải tuần hoàn mạnh hơn trong cơ.
- c. Sau khi tập luyện thể chất, gân lạnh hơn cơ. Nhiều Khí hơn bị kẹt lại trong cơ và biểu hiện thành nhiệt, điều đó có nghĩa là cơ có điện trở lớn hơn.
Những kết luận này được rút ra từ sự phân tích lô-gích, nhưng cần được kiểm chứng bằng thiết bị khoa học hiện đại.
Sinh Khí (生氣 — Sản Sinh Khí)
Chúng ta hãy tóm tắt những phương pháp sản sinh và gia tăng Khí trong thân thể.
- Từ sự trao đổi chất của thức ăn và không khí. Phản ứng hóa sinh là:
glucose + 6O2 → 6CO2 + 6H2O
ΔG = -686 Kcal (hàm lượng năng lượng)
Từ sự tiêu hóa thức ăn và sự hít vào dưỡng khí, năng lượng được tạo ra. Những thức ăn khác nhau sản sinh ra số lượng và phẩm chất Khí khác nhau, và đặc biệt các vị thuốc được dùng để xoay xở tình trạng Khí của thân thể. Điều này được gọi là Hỏa Khí (火氣) hay Khí Hậu Thiên (後天氣).
- Từ sự tập luyện vùng bụng. Hạ Đan Điền (下丹田), được y học Trung Hoa gọi là Khí Hải (氣海, Nhâm-6), nằm ở phía trước bụng, cách rốn vài inch. Khí được sinh ra ở đây dồi dào như biển cả. Trung tâm này cũng được gọi là Đỉnh Lô (鼎爐) hay Đan Lô (丹爐), nhưng bị các Đạo sĩ cho là Giả Đan Điền (假丹田). Dẫu nó sản sinh Khí, nó không thể chứa Khí tới mức dồi dào.
Những chuyển động lên xuống của “hơi thở trở về thuở ấu thơ” tạo điều kiện cho phản ứng hóa sinh chuyển hóa mỡ được chứa đựng thành Khí. Điều này được gọi là Thủy Khí (水氣), Khí Tiên Thiên (先天氣), hay Nguyên Khí (元氣). Nó thuần khiết và trong sạch như nước, để làm bạn tĩnh lặng cả về thể chất lẫn tinh thần. Mỡ là tinh hoa của thức ăn, được chế biến, tinh luyện và chứa đựng trong thân thể. Mỡ có hàm lượng nhiệt lượng cao và có thể được chuyển hóa thành năng lượng một cách hiệu quả.
Nó cũng được gọi là Khí Tiên Thiên hay Nguyên Khí vì Khí của bạn được chuyển hóa từ Nguyên Tinh (元精, nội tiết tố) của bạn. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, vì các nội tiết tố hoạt động như chất xúc tác trong những phản ứng hóa sinh của thân thể, chúng không thể được chuyển hóa thành Khí. Tất cả những gì chúng làm là tạo điều kiện cho quá trình chuyển hóa mỡ thành Khí.
Làm thế nào Khí được sinh ra tại Hạ Đan điền? Bụng có sáu lớp cơ và màng cân. Rất nhiều mỡ được chứa trong các lớp màng cân. Khi bạn chuyển động bụng lên xuống, tâm bạn kiểm soát sự co và thư giãn của các bắp cơ. Điều này khiến tinh hoa của thức ăn được chuyển hóa thành Khí qua phản ứng hóa sinh. Khi những chỗ chứa mỡ được tập luyện, mỡ dần dần biến mất và biến thành năng lượng, nên hợp lý khi giả định điều tương tự xảy ra khi chúng ta chuyển động vùng bụng.
Vì các bắp cơ là vật dẫn tốt, trong khi màng cân là vật dẫn kém, vùng này có thể hoạt động như một cái pin để chứa Khí. Mọi loài vật đều chứa mỡ (tinh hoa của thức ăn) để sống sót trong tự nhiên. Bằng cách này, thức ăn dư thừa được chứa lại cho lúc không có sẵn. Chỗ chứa lớn nhất là vùng bụng. Khí được chuyển hóa và chứa đựng dồi dào hơn ở đây so với bất cứ chỗ nào khác trong thân thể, và được phân phối hiệu quả tới toàn thân qua Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
Sự chuyển động của bụng được phối hợp với hơi thở trong sự tập khí công. Điều này được gọi là “Khởi Hỏa” (起火), và có hai cách thực hiện. Một là Hơi Thở Bụng Thuận (正腹呼吸), và cách kia là Hơi Thở Bụng Nghịch (反逆腹呼吸).
Theo cường độ của việc sản sinh Khí, sự tập luyện được phân loại thành Võ Hỏa (武火), hay Văn Hỏa (文火). Hơi thở nhanh chóng sinh ra Hỏa Khí Võ Hỏa tới mức dồi dào, được dùng để nạp năng lượng cho thân thể trong chiến đấu, hoặc cho sự tập Ngoại Đan khí công. Khó mà chứa Khí này trong Chân Hạ Đan điền. Nếu bạn dự định chứa Khí bên trong, hãy thở nhẹ nhàng và mảnh mai, rồi dẫn nó tới Chân Hạ Đan điền và chứa nó ở đó. Đây được gọi là hơi thở Văn Hỏa (文火).
- Từ việc xoa bóp vùng bụng. Trong dịch cân, sự xoa bóp kết hợp với thuốc chuyển hóa mỡ thành Khí, như được mô tả trong Qigong—The Secret of Youth.
Tích Khí (蓄氣 — Chứa Khí Tới Mức Dồi Đào)
Sau khi đã sản sinh Khí dư thừa tại Giả Hạ Đan điền, hãy dẫn nó vào trong và chứa nó tại Chân Hạ Đan điền. Khi nó bị bỏ lại tại Giả Hạ Đan điền trên Nhâm Mạch, nó được phân phối qua đường đi Tiểu Chu Thiên tới Thập Nhị Chính Kinh. Điều này cải thiện sức mạnh và sức khỏe, nhưng khi ấy nó không còn sẵn sàng để nuôi dưỡng bộ não cho sự giác ngộ. Hãy nhớ, mỗi tế bào não đòi hỏi nhiều Khí gấp tới mười hai lần so với các tế bào khác. Để đạt được giác ngộ, cùng với sự tôi luyện tinh thần, bạn cần dẫn một lượng Khí đáng kể lên não từ sự chứa đựng tại Chân Hạ Đan điền. Cuốn Qigong Meditation—Embryonic Breathing của tôi bàn chi tiết về điều này. Ở đây, tôi tóm tắt những lý thuyết then chốt và phương pháp tập luyện.
- Tôi luyện pin tại Hạ Đan điền để chứa Khí dồi dào, mạnh hơn xa so với của người khác. Sự tôi luyện được thực hiện qua xoa bóp và kích thích vật lý (đấm và vỗ) vùng bao tử và bụng (Hoàng Đình). Điều này chuyển hóa mỡ thành Khí và làm giảm mỡ giữa các lớp cơ, cho phép nhiều điện tích hơn được chứa đựng. Yếu tố quan trọng nhất là tôi luyện hệ thần kinh ở vùng này để nâng cao ngưỡng đau của nó. Khí nói chung không thể được chứa đựng một cách dồi dào, vì nó gây đau và căng thẳng khi sự chứa đựng đạt tới ngưỡng chịu đựng, khiến Khí tán mát. Sự tôi luyện làm gia tăng sức chịu đựng của các dây thần kinh, cho phép sự chứa đựng Khí gia tăng.
- Gia tăng hiệu suất chuyển hóa mỡ thành Khí, vốn tùy thuộc vào các nội tiết tố (Nguyên Tinh) điều tiết sự trao đổi chất. Các nội tiết tố hoạt động như chất xúc tác cho phản ứng hóa sinh chuyển hóa thức ăn thành Khí. Khi chúng đầy đủ, phản ứng diễn tiến trôi chảy.
Có ba tuyến lớn bao quanh vùng bụng (Hoàng Đình), đó là tuyến thượng thận ở phía sau, tuyến tụy ở phía trước, và tinh hoàn hay buồng trứng ở phía dưới. Để gia tăng sự sản xuất nội tiết tố của chúng, hãy cung cấp cho chúng thêm Khí qua xoa bóp.
Có hai cách xoa bóp tuyến thượng thận nằm trên hai quả thận. Một là qua áp lực luân phiên lên lưng dưới. Cách kia là xoa bóp trực tiếp hai quả thận. Khi bạn đạt tới mức độ cao của sự tập luyện, bạn có thể dẫn Khí trực tiếp tới hai quả thận bằng tâm ý.
Xoa bóp tuyến tụy qua sự tập luyện và xoa bóp vùng bụng. Trong quá khứ, những người tập khí công hiếm khi dùng tâm để dẫn Khí tới tuyến tụy, vì họ không nhận ra khả năng sản sinh Nguyên Tinh của nó.
Tinh hoàn và buồng trứng được xoa bóp trực tiếp, hoặc tâm được tập trung dẫn Khí tới đó với sự hỗ trợ của hơi thở đúng cách. Khí cũng được dẫn tới đó bằng cách căng và thư giãn Hội Âm (Nhâm-1, đáy chậu).
- Chứa Khí tới mức dồi dào tại Chân Hạ Đan điền để đạt tới sự giác ngộ tâm linh. Thai Tức (胎息) là con đường để đạt được điều này. Hãy định vị lưỡng cực của thân thể — Nê Hoàn Cung và Chân Hạ Đan điền — và tập trung tâm bạn ở đó. Tập trung tại Nê Hoàn Cung để tâm bạn tĩnh lặng, định tâm và tập trung, và thần được nâng cao. Tập trung tại Chân Hạ Đan điền để bảo tồn Khí và dẫn nó trở về chỗ ngự của nó.
Một khi bạn đồng bộ hóa hai trung tâm này, sức mạnh của hệ thống Khí trung tâm được thiết lập vững chắc. Kế tiếp, đem tâm bạn tới Hoàng Đình, nơi thần và Khí được hợp nhất, đưa con người bạn trở về điểm khởi đầu của sự sống. Điều này được gọi là Mẫu Tử Tương Thủ (母子相守) — sự hợp nhất của Mẹ (Khí) và Con (Thần) — hay Hơi Thở Vô Cực (無極呼吸).
Hành Khí (行氣 — Tuần Hoàn Khí)
Có hai lý do chính để tập Tiểu Chu Thiên. Một là tích lũy Khí dồi dào trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch, và lý do kia là tuần hoàn nó một cách trôi chảy trong hai mạch này để điều tiết Khí trong Thập Nhị Chính Kinh. Khí đã tuần hoàn tự nhiên trong hai mạch này, bằng không bạn đã gặp phải một vấn đề thể chất nào đó rồi. Nhưng sự tuần hoàn này trở nên ứ trệ khi chúng ta lớn tuổi, và đường tuần hoàn trở nên hẹp. Tiểu Chu Thiên mở rộng đường đi này để Khí có thể lại tuần hoàn trôi chảy và dồi dào. Có ba chỗ, được gọi là Tam Quan (三關), nơi đường đi đặc biệt hẹp, khiến sự tuần hoàn Khí bị ứ trệ. Mục đích của sự tập luyện là mở và nới rộng ba cửa ải này — một quá trình được gọi là “Thông Tam Quan” (通三關).
Bây giờ chúng ta mô tả sự tiểu chu thiên tự nhiên, lý thuyết về việc mở các cửa ải, và các phương pháp truyền thống cùng phương pháp được tu chỉnh của sự tập luyện Tiểu Chu Thiên. Vì Tam Quan quan trọng đến thế, chúng ta sẽ bàn riêng về chúng trong phần kế tiếp.
- Sự Tuần Hoàn Khí Tự Nhiên Trong Quỹ Đạo Tiểu Chu Thiên. “Sự tuần hoàn nội khí trong Đốc Mạch là từ dưới lên trên. Nó nối tại Âm Giao (Đốc-28) với Nhâm Mạch và tuần hoàn xuống Nhâm Mạch, trở thành sự tuần hoàn thành chu kỳ. Những chỗ nối của Đốc Mạch và Nhâm Mạch, ở trên và ở dưới, được gọi là thượng thước kiều (上鵲橋) và hạ thước kiều (下鵲橋).” Khí tuần hoàn từ trên xuống dưới ở phía trước thân thể, và từ dưới lên trên ở phía sau lưng. Hai mạch được nối lại tại những chiếc cầu thước. Đó là Hội Âm (Nhâm-1) và Âm Giao (Đốc-28), vốn kiểm soát Khí trong sự tập luyện Tiểu Chu Thiên.
Dòng Khí lớn trong hai mạch này được xác định bởi thời gian trong ngày và do đó được mặt trời kiểm soát. Vào lúc nửa đêm (11 giờ tối tới 1 giờ sáng) Khí tích tụ tại Bách Hội, nối với cửa tương ứng của nó là Hội Âm, nên Hội Âm cũng có thể được phân loại là nửa đêm. Lúc bình minh, tùy theo mùa, dòng Khí lớn ở tại miệng (Âm Giao). Vì Khí bên ngoài đang biến đổi từ âm (đêm) sang dương (ngày), sự tuần hoàn nội khí cũng biến đổi từ dương (Đốc Mạch) sang âm (Nhâm Mạch). Vào giữa trưa, dòng Khí lớn ở tại Cựu Vĩ (Nhâm-15) và cửa tương ứng của nó là Linh Đài (Đốc-10) ở phía lưng. Nếu những huyệt này bị đánh vào giữa trưa, một cơn đau tim có thể bị kích phát. Vào lúc hoàng hôn, dòng Khí lớn ở tại Hội Âm, nơi sự tuần hoàn Khí đang biến đổi từ âm sang dương, trong khi Khí bên ngoài đang biến đổi từ dương sang âm.
Việc dòng Khí tương ứng với thời gian trong ngày đã được xem là tối mật trong xã hội võ thuật Trung Hoa, vì chấn thương nghiêm trọng có thể xảy ra sau một đòn đánh vào những huyệt này.
- Lý Thuyết Về Việc Mở Các Cửa Ải. Khi bạn lớn tuổi, các kinh Khí dần dần bị bế tắc, làm nghẹt dòng chảy của Khí. Các đốm tuổi tác, nếp nhăn, sự đau đớn, tê bì, và sự trục trặc của các cơ quan phát sinh, trở nên tệ hơn vì thiếu tập luyện. Khi các kinh trở nên hẹp hơn, sự tuần hoàn Khí chậm lại, làm chúng hẹp hơn nữa.
Trong khí công, chúng ta mở rộng đường đi của sự tuần hoàn Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Sự ứ trệ Khí nghiêm trọng hơn tại những huyệt như Trường Cường và Não Hộ. Đường đi được mở rộng qua sự tuần hoàn Khí dồi dào, cũng như khi một con sông bị rác nghẹt, nước dồi dào sẽ cuốn trôi nó và phục hồi dòng chảy.
Sự tập luyện Tiểu Chu Thiên tích lũy Khí dồi dào và dùng tâm để tuần hoàn nó. Nhâm Mạch và Đốc Mạch kiểm soát sự tuần hoàn Khí trong Thập Nhị Chính Kinh, rải Khí ra toàn thân, nên một khi Tiểu Chu Thiên được hoàn tất, thân thể trở nên mạnh mẽ và khỏe mạnh.
- Phương Pháp Truyền Thống Và Phương Pháp Được Tu Chỉnh. Trong sự tập luyện truyền thống, vị thầy sẽ dạy học trò của mình sản sinh Khí dư thừa ở Hạ Đan điền qua hơi thở bụng. Sau một thời gian dài, khoảng mười năm tập luyện, vùng này sẽ được tôi luyện và nhiều Khí được chứa đựng. Chỉ khi ấy vị thầy mới dạy người học trò đáng tin cậy của mình cách dẫn Khí. Mục tiêu chính, bên cạnh việc gia tăng số lượng Khí tuần hoàn trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch, sẽ là mở rộng Tam Quan, để Khí có thể tuần hoàn trôi chảy. Khí được chứa đựng tới mức dồi dào trước tiên, để có thể tái kích hoạt dòng Khí và mở rộng đường đi. Tuy nhiên, điều này có thể gây thương tích nếu Khí đi vào đường sai, gây chấn động cho hệ thần kinh và ảnh hưởng tới chức năng bình thường.
Để tránh sự nguy hiểm của thương tích, tôi đã tu chỉnh những thủ tục tập luyện cổ xưa qua hai mươi năm kinh nghiệm giảng dạy, theo ba cách chính. Thứ nhất, tôi dạy học trò Thai Tức trước tiên, thay vì hơi thở bụng. Đó là cội rễ của sự tập luyện Nội Đan. Trong quá khứ, Thai Tức không được tập cho Tiểu Chu Thiên, do sự bí mật bao quanh nó. Nó đã bị giấu kín trong các tự viện Phật giáo và Đạo giáo cho sự tu tập giác ngộ tâm linh. Sau khi đã thạo Thai Tức, bạn có thể xoay xở được Khí dẫu nó rất mạnh.
Thứ hai, tôi đảo ngược trật tự của sự giảng dạy truyền thống. Khi người học trò có một ít Khí, tôi dạy họ tuần hoàn nó ngay lập tức. Không có sự nguy hiểm nào vì Khí chưa đủ mạnh để gây hại. Sau khi đã học cách tuần hoàn nó, họ dành phần còn lại của đời mình để tích lũy Khí và dần dần mở rộng đường đi. Dĩ nhiên, phương pháp được tu chỉnh này cần nhiều thời gian hơn để thành tựu.
Thứ ba, để ngăn ngừa sự nguy hiểm gây ra từ việc vượt qua cửa ải đầu tiên tại Vĩ Lư (Trường Cường, Đốc-1), tôi dạy cách tuần hoàn Khí trong một quỹ đạo nhỏ hơn gọi là Tiểu Tiểu Chu Thiên (小小周天). Người học trò dẫn Khí tới Hội Âm, vượt qua Vĩ Lư và lại đi vào Chân Hạ Đan điền qua Mệnh Môn (Đốc-4) để hoàn tất Tiểu Tiểu Chu Thiên này. Chỉ khi ấy người học trò mới được dạy Tiểu Chu Thiên thông thường.
Lý Thuyết Và Những Chìa Khóa Của Sự Tập Luyện
Nếu bạn nắm được lý thuyết, bạn có thể đạt mục tiêu nhanh hơn. Bạn nên nghiên cứu cuốn Qigong Meditation—Embryonic Breathing. Lý thuyết và thực hành của Thai Tức là cội rễ thiết yếu của khí công Nội Đan.
- Thân Thể Là Chiến Trường (Điều Thân, 調身). Thân thể là một chiến trường và Khí giống như những người lính giao chiến chống lại bệnh tật và sự lão hóa. Đối với khí công tôn giáo, Khí sinh ra sức mạnh then chốt để mở lại Con Mắt Thứ Ba. Sự tập khí công nhắm tới việc gia tăng số lượng Khí và cải thiện phẩm chất của sự biểu hiện của nó. Vậy hãy bố trí chiến trường theo hướng có lợi cho mình.
Điều chỉnh thân thể (Điều Thân, 調身) có nghĩa là giữ thân mình thẳng đứng, cổ thư giãn, các khớp mở ra, và hai chân xếp bằng một cách thoải mái, trong khi bạn nỗ lực đạt tới sự thư giãn tột độ của toàn thân. Điều này giảm tới mức tối thiểu điện trở đối với dòng chảy của Khí, để nó tuần hoàn trôi chảy và dồi dào. Máu cũng chảy trôi chảy, mang dưỡng khí, nước, dưỡng chất và Khí đi khắp thân thể. Sự trao đổi chất của thân thể có hiệu quả, nên sự hư tổn của thân thể có thể được sửa chữa và quá trình lão hóa bị làm chậm lại.
Quan trọng nhất của tất cả là tâm bạn trở nên bình an và tĩnh lặng, để nó có thể tập trung vào việc dẫn Khí. Điều này được gọi là sự cân bằng hài hòa của thân và tâm (Thân Tâm Bình Hình, 身心平衡).
- Hô Hấp Là Sách Lược (Điều Tức, 調息). Hô hấp là sách lược trong sự tập khí công. Khi bạn thở đúng cách, Khí tuần hoàn trôi chảy, và khi nó vụng về, Khí bị ứ trệ. Những chìa khóa để điều chỉnh hơi thở là: A. Tĩnh lặng và yên lặng (Tĩnh, 靜), B. Mảnh mai (Tế, 細), C. Sâu (Thâm, 深), D. Dài (Trường, 長), E. Liên tục (Du, 悠), F. Đều đặn (Vận, 勻), G. Chậm (Hoãn, 緩), và H. Mềm mại (Miên, 綿).
Một khi bạn đạt tới giai đoạn này, sự trao đổi dưỡng khí và thán khí diễn ra trôi chảy và sự trao đổi chất khỏe mạnh. Tâm bạn tĩnh lặng và bình an, thân thể thư giãn. Điều này được gọi là Tâm Tức Tương Y (心息相依) — sự nương tựa lẫn nhau của Tâm và Hơi Thở. Tâm là tâm tình cảm, vốn làm bạn phấn khích, bối rối, hoặc đánh lạc hướng bạn khỏi việc dẫn Khí.
- Tâm Là Vị Tướng (Điều Tâm, 調心). Tâm là vị tướng phụ trách chiến trường (thân thể), các sách lược (hô hấp), và binh lính (Khí). Nếu tâm của vị tướng tĩnh lặng và sáng suốt, ông ta kiểm soát tình huống một cách hiệu quả. Nếu nó bối rối và tản mát, sự kiểm soát của ông ta sẽ yếu ớt và nông cạn.
Tâm sinh ra lực điện động để Khí có thể được chỉ hướng. Khi tâm này bối rối và yếu ớt, Khí được dẫn dắt kém. Một tâm được tập trung cao độ có thể đạt được trong một trạng thái lơ mơ, nửa như bị thôi miên. Tâm ý thức của bạn ở đó, nhưng lại như không ở đó. Nhập Dược Cảnh mô tả trạng thái này:
“Trạng thái xuất thần, xa xôi và thâm sâu. Thân và tâm tự nhiên thoải mái, như say và như kẻ ngốc. Cơ bắp và da được tươi mát và trong suốt. Vẻ đẹp của nó được giấu kín bên trong.”
Lý Thời Trân mô tả trạng thái này trong cuốn Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo của ông: “Mờ mịt (xuất thần) và tĩnh lặng, như say và như kẻ ngốc.”
Để đạt tới trạng thái này, tâm trí tuệ (Ý) của bạn cai quản tâm tình cảm (Tâm) của bạn. Một khi xúc cảm đã tĩnh, hãy dùng Ý để dẫn Khí của bạn.
- Thần Là Nhuệ Khí Của Binh Lính (Điều Thần, 調神). Thần của sự tập luyện quan trọng hơn tâm, Khí, hay thân thể. Thần vô hình nhưng kiểm soát nhuệ khí của đạo quân. Khi nhuệ khí cao, các mệnh lệnh được thi hành hiệu quả. Khi thần của bạn suy, hệ miễn nhiễm của bạn yếu và bạn dễ bị bệnh. Hãy nâng cao thần với một tâm kiên định và ý chí mạnh mẽ. Giữ cho động lực tập luyện của bạn luôn cao, và dùng Ý để cai quản Tâm. Hãy dứt khoát, với sự bối rối được giảm tới mức tối thiểu. Giữ thần ở mức cao, bạn điều hòa Thần và Khí (Thần Khí Tương Hợp, 神氣相合), để Khí được dẫn dắt hiệu quả.
- Hội Âm Là Cái Bơm, Và Bụng Là Ống Bễ. Huyệt Hội Âm là cái van then chốt kiểm soát Khí trong bốn mạch âm. Khi nó được đẩy ra, Khí được chứa đựng được phóng thích; khi nó được nâng lên, cái van đóng lại, giữ Khí ở trong và bảo tồn nó. Vậy Hội Âm bơm Nội Khí (內氣) và cai quản sự biểu hiện hay sự bảo tồn Khí của thân thể. Kiểm soát Hội Âm trong sự tập luyện của bạn tạo ra một sự khác biệt đáng kể. Theo truyền thống, đây là một chỗ tế nhị mà vị thầy sẽ giữ bí mật cho tới khi người học trò đáng tin cậy.
- Lưỡi Là Chiếc Cầu Của Âm và Dương. Lưỡi là chiếc cầu hay cái công tắc nối Nhâm Mạch âm và Đốc Mạch dương, cần thiết để Khí có thể tuần hoàn trôi chảy giữa hai mạch. Lưỡi của bạn nên chạm vào hàm ếch bất cứ khi nào bạn tập khí công.
5-5 · Tam Quan (三關)
Nếu người ta không đi theo phương pháp đúng đắn, việc tập khí công Nội Đan có thể rất nguy hiểm. Có hai sự nguy hiểm phải đối mặt. Một là Tẩu Hỏa (走火), có nghĩa là “đi vào lửa.” Khí đi vào đường sai, điều có thể gây tổn thương về thể chất lẫn tinh thần. Sự kia là Nhập Ma (入魔), có nghĩa là “vào ma,” hay bị mị hoặc. Tâm đi vào trạng thái ảo ảnh hay tưởng tượng trong khi nhập thiền.
Mỗi cơ quan hay bộ phận của thân thể đều có ngưỡng Khí riêng của nó. Khi Khí trở nên thiếu hụt hoặc vượt quá ngưỡng này, tổn thương có thể xảy ra. Chẳng hạn, nếu quá nhiều Khí đi vào quả tim, nó có thể gây ra cơn đau tim.
Khi bạn nhập thiền, bạn tích lũy Khí dồi dào tại Hạ Đan điền của mình rồi tuần hoàn nó. Nếu tâm bạn chỉ hướng Khí này và giữ nó trong quỹ đạo Tiểu Chu Thiên, sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu nó lạc khỏi đường này và đi vào đường sai, tổn thương có thể theo sau. Vậy tâm của bạn đóng vai trò then chốt khi bạn nhập thiền.
Trong trạng thái thiền, thân thể bạn cực kỳ thư giãn và tâm bạn tĩnh lặng, sáng suốt, nên bạn dễ bị tổn thương trước những năng lượng quấy nhiễu chung quanh. Những sự quấy nhiễu này có thể gây ra ảo ảnh, vốn có thể dẫn tâm bạn đi lạc, như khi một cơn gió lạnh làm bạn cảm thấy như có ma quỷ hiện diện.
Có ba cửa ải (Tam Quan, 三關) có thể khiến người ta đi vào lửa và vào ma. Đó là: Ngọc Chẩm (玉枕), Giáp Tích (夾脊), và Vĩ Lư (尾閭). Kim Đan Đại Thành Tập nói:
“Sau bộ não là Ngọc Chẩm Quan. Giáp Tích được gọi là Lộ Lộ Quan (轆轤關), trong khi chỗ nối của thủy và hỏa được gọi là Vĩ Lư Quan.”
Ngọc Chẩm có nghĩa là gối ngọc. Thời xưa, người giàu có xâu những mảnh ngọc nhỏ lại với nhau để làm một cái gối. Ngọc Chẩm là một thuật ngữ Đạo gia, được biết đến trong châm cứu với tên Não Hộ. Giáp Tích có nghĩa là ép xương sống, ở trung tâm của xương sống giữa hai xương bả vai. Giáp Tích, hay Lộ Lộ Quan (cửa ròng rọc), được gọi như vậy vì nó ở trung tâm nơi hai vai xoay. Giáp Tích được các võ sư gọi là Mệnh Môn (cửa sinh), vì nó nối với quả tim và có thể gây chết người khi bị đánh. Trong châm cứu nó được gọi là Linh Đài (Đốc-10, đài linh). Vĩ Lư (xương cùng) là chỗ nối nơi Khí đi vào thủy lộ hay hỏa lộ. Trong châm cứu, Vĩ Lư được gọi là Trường Cường (Đốc-1), nhưng trong xã hội khí công nó luôn bị nhầm lẫn với Hội Âm (Nhâm-1, đáy chậu).
Cửa Ải Thứ Nhất: Vĩ Lư (尾閭), Trường Cường (Đốc-1)
Huyệt Vĩ Lư cũng được gọi là Nguy Vĩ (của huyệt hiểm nghèo). Nó có nhiều tên gọi, do tầm quan trọng của nó trong sự tu luyện Nội Đan. Toàn Thư Bản Thân Tính Mệnh Đại Chỉ liệt kê chúng:
- Thiên Nhân Hợp Pháp Chi Ký (天人合法之際): Nơi then chốt cho sự hợp nhất của trời và người.
- Tử Mẫu Phân Thai Chi Lộ (子母分胎之路): Con đường của sự chia lìa giữa con (bào thai) và mẹ.
- Nhâm Đốc Giao Tiếp Chi Xứ (任督交接之處): Chỗ nối của Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
- Âm Dương Biến Hóa Chi Hương (陰陽變化之鄉): Ngôi làng (vị trí) của những biến hóa của âm và dương.
- Cửu Linh Thiết Cổ (九靈鐵鼓): Cái trống sắt của chín linh (ý nghĩa chưa rõ).
- Tam Túc Kìm Thiền (三足金蟾): Con cóc vàng ba chân (ý nghĩa chưa rõ).
- Thái Huyền Quan (太玄關): Cửa huyền diệu lớn.
- Tàng Kim Đẩu (藏金斗): Cái đấu vàng giấu kín (ý nghĩa chưa rõ).
- Vĩ Lư Huyệt (尾閭穴): Huyệt xương cùng.
- Sinh Tử Huyệt (生死穴): Huyệt của sống và chết.
- Triều Thiên Lĩnh (朝天嶺): Hướng về trời xa.
- Khí Hải Môn (氣海門): Cửa dẫn tới biển Khí.
- Tào Khê Lộ (曹溪路): Đường Tào Khê (ý nghĩa chưa rõ).
- Tam Xá Khẩu (三叉口): Chỗ nối của ba đường.
- Bình Dị Huyệt (平易穴): Huyệt bình an và dễ dàng (ý nghĩa chưa rõ).
- Tiên Trì (仙池): Ao của sự toàn vẹn.
- Âm Đoan (陰端): Cực âm.
- Cấm Môn (禁門): Cửa cấm.
- Hội Âm (會陰): Gặp âm.
- Cốc Đạo (穀道): Đường lúa (hậu môn).
- Long Hổ Huyệt (龍虎穴): Huyệt của long và hổ (âm và dương).
- Tam Xá Cốt (三叉骨): Xương nối của ba đường.
- Hà Xa Lộ (河車路): Đường của xe sông (vận chuyển Khí).
- Thượng Thiên Thê (上天梯): Cái thang lên trời (giác ngộ).
Rất nhiều sự chú ý đã được tập trung vào huyệt này trong lịch sử khí công Trung Hoa. Toàn Thư Bản Thân Tính Mệnh Đại Chỉ nói:
“Ấy là vì huyệt này là nơi Tinh (tinh hoa) và Khí được tụ họp và tán mát, nơi thủy và hỏa khởi đầu, nơi âm và dương biến hóa, nơi cái hữu hình (thân) và cái vô hình (thần) đi vào và đi ra, nơi con và mẹ chia lìa. Huyệt này là trung tâm giữa Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Hướng lên, nó giao tiếp với Thiên Cốc (Thần Cốc); hướng xuống, nó vươn tới Dũng Tuyền. Huyệt này có ảnh hưởng mạnh nhất (đối với sự sống), nó là chìa khóa của sự sống và cái chết của một người. Vì vậy các bậc tiên gọi nó là cái lỗ của sống và chết.”
Cuốn Tham Đồng Khế nói: “Đây là nơi để thiết lập và củng cố sự tu dưỡng tâm linh, chỗ để giữ gìn sự chứa đựng, và cửa kiểm soát của Khí.” Hoàng Đình Kinh nói: “Đây là nơi để niêm phong và đóng kín cửa sinh, để viên ngọc (sinh mạng quý báu) có thể được bảo vệ. Đây cũng là nơi để niêm phong con đường của tinh trùng, để bạn có thể sống lâu.”
Các tài liệu không nói rõ huyệt này rốt cuộc ở đâu, liệu nó chỉ xương cùng (Vĩ Lư) hay chỉ Hội Âm. Hậu môn đôi khi cũng được xem là chỗ đó và thường được gọi là Cốc Đạo (đường lúa).
Nếu chúng ta phân tích giải phẫu học và bối cảnh lịch sử, sự nhầm lẫn sẽ biến mất. Hầu như mọi người thời ấy đều mù chữ và gặp khó khăn trong việc hiểu những thuật ngữ y học đặc biệt như Hội Âm. Vì các bắp cơ của vùng hậu môn được nối với đáy chậu, nên viết “hậu môn” thay vì “Hội Âm” thì dễ hơn. Qua sự co và thư giãn của đáy chậu, Khí có thể được điều tiết. Nếu hậu môn được nhẹ nhàng nâng lên, đáy chậu siết lại và niêm phong cửa Khí. Khi nó được nhẹ nhàng đẩy ra, đáy chậu thư giãn, và cửa Khí mở ra.
Cũng nên nhận biết rằng Hội Âm là huyệt then chốt nơi Khí chia thành ba đường: Hỏa Lộ (火路) qua Đốc Mạch, Thủy Lộ (水路) qua Xung Mạch, và cũng đi xuống lòng bàn chân qua Âm Kiều Mạch và Âm Duy Mạch. Khi Khí tuần hoàn dồi dào trong Hỏa Lộ, thì Thập Nhị Chính Kinh (十二經) cũng sẽ đầy.
Nếu Khí được dẫn lên mạnh mẽ qua Thủy Lộ, bộ não được nuôi dưỡng và nạp năng lượng. Đó là chìa khóa của Tẩy Tủy/Não để đạt giác ngộ tâm linh. Hội Âm cũng điều tiết dòng Khí từ cơ quan sinh dục tới hai chân, nên khi năng lượng tình dục mạnh, hai chân mạnh.
Khí đi vào Hỏa Lộ hay Thủy Lộ qua cái cửa tế nhị tại Vĩ Lư (xương cùng, Trường Cường). Sự co và thư giãn các bắp cơ của Hội Âm bơm Khí qua Vĩ Lư vào Hỏa Lộ hay Thủy Lộ. Ban đầu, Khí sẽ có khuynh hướng chảy xuống hai chân thay vì thế, vì những đường Khí tới hai chân vốn mở rộng.
Điều này không thành vấn đề nếu Khí yếu, nhưng Khí dồi dào có thể nguy hiểm nếu bạn không dẫn nó vào đường đúng. Khi Khí dồi dào gặp chướng ngại đầu tiên của nó tại cửa Vĩ Lư, thay vì thế nó có thể ào xuống hai chân và làm tổn thương hệ thần kinh ở đó. Điều này được gọi là “đi vào lửa” (Tẩu Hỏa, 走火), được biết đến nhiều như sự nguy hiểm thứ nhất của sự tập luyện, có thể làm liệt hai chân. Khi bạn nhập thiền, điều quan trọng là ngồi xếp bằng, để chặn dòng Khí chảy xuống hai chân. Nếu dẫu sao quá nhiều Khí vẫn ào xuống đó trong khi nhập thiền, trước hết hãy tìm cách dẫn nó trở về Hạ Đan điền. Rồi vỗ hai chân để kích thích chúng, dẫn Khí từ sâu bên trong ra tán mát ở da.
Cửa Ải Thứ Hai: Giáp Tích (夾脊), Lộ Lộ (轆轤), Linh Đài (Đốc-10)
Cửa ải này không hẹp và có thể vượt qua dễ dàng, nhưng nguy hiểm vì Khí dồi dào ở đó có thể đi vào quả tim, gây đánh trống ngực. Một người mới bắt đầu có thể bị điều này đánh lạc hướng, tập trung vào quả tim và kích phát một cơn đau tim.
Trong khi tập, cứ phớt lờ huyệt này. Nếu bạn cảm nhận Khí chảy tới quả tim, hãy tập trung vào các huyệt Đại Chùy (Đốc-14) hay Thân Trụ (Đốc-12) và dẫn Khí tới đó thay vì thế. Với sự tập luyện, bạn quen với nó và thấy rằng miễn là tâm bạn tĩnh lặng và sáng suốt, sẽ không có vấn đề gì trong việc dẫn Khí vượt qua huyệt này.
Cửa Ải Thứ Ba: Ngọc Chẩm (玉枕, Gối Ngọc), Não Hộ (Đốc-17)
Cửa ải này ở đáy sọ và nguy hiểm do cấu trúc vật lý của nó. Có một lớp cơ mỏng giữa sọ và da. Đường Khí đột nhiên thu hẹp lại khi các gân cổ chấm dứt. Khi Khí dồi dào tích tụ ở đây, một phần của nó có thể đi vào não qua Não Hộ, điều có thể kích thích hệ thần kinh trong não, làm hư hại chức năng của nó, hoặc thậm chí gây ra rối loạn tâm thần.
Hãy cẩn thận khi bạn dẫn Khí vượt qua huyệt này. Nhiều cảm giác khác nhau được sinh ra. Hãy chú ý tới Bách Hội, và Khí sẽ đi tới đó. Nếu một ít Khí đi vào não qua Não Hộ, trước hết hãy dẫn nó trở về Hạ Đan điền. Dùng các đầu ngón tay gõ nhẹ lên đầu để dẫn Khí ra bề mặt, rồi lấy lòng bàn tay vuốt nó về phía trước và xuống dọc theo Hỏa Lộ.
Sau khi đã mở và nới rộng ba cửa ải này, bạn hoàn tất đường đi của Tiểu Chu Thiên. Khi bạn tiếp tục tập luyện, bạn tích lũy Khí dồi dào hơn nữa tuần hoàn trong Hỏa Lộ này. Khí càng dồi dào, sức khỏe của bạn càng tốt và nền tảng cho sự tập luyện Dịch Cân của bạn càng vững chắc.
5-6 · Những Đường Đi Khác Nhau Cho Tiểu Chu Thiên
Theo mạng lưới Khí và cấu trúc vật lý, chúng ta có thể kết luận có một vài đường đi khả dĩ cho Tiểu Chu Thiên. Do thiếu thông tin và kinh nghiệm cá nhân, tôi chỉ bàn về những đường đi mà tôi quen thuộc.
1. Tiểu Tiểu Chu Thiên (Nền Tảng, 小小周天)
Đường đi này rất an toàn, và dễ hơn nhiều cho người mới bắt đầu đang học cách vượt qua cửa ải đầu tiên tại Vĩ Lư. Hãy tập đường đi này trước cho tới khi bạn có thể dẫn Khí một cách trôi chảy, trước khi tiếp tục sự tập luyện Hỏa Lộ.
Dẫn Khí đi xuống từ Chân Hạ Đan điền, qua Âm Giao, xuống tới Hội Âm, đi lên vượt qua Trường Cường, và cuối cùng đi vào Mệnh Môn để tới chỗ ngự của Khí tại Chân Hạ Đan điền. Điều này được mô tả chi tiết trong Chương 8.
2. Hỏa Lộ (Đường Thông Thường, 火路, Thuận Hành)
Hỏa Lộ là đường đi thông thường đi theo sự tuần hoàn Khí tự nhiên và là đường được tập luyện phổ biến nhất. Nó thường được gọi là Đại Hoàn Đan (大還丹). Hoàn Đan Bí Quyết nói:
“Giữ thân thể thẳng đứng và ngồi ngay ngắn, vận Khí từ Vĩ Lư, với một hơi thở vượt qua Tam Quan đi lên tới Nê Hoàn, hòa hợp với thần thủy (nước miếng) và đi xuống trở về Đan điền. Đó là Đại Hoàn Đan. Từ thận tới gan, từ gan tới tim, từ tim tới lá lách, tới phổi, rồi lặp lại. Sau cùng chấm dứt tại Đan điền. Điều này được gọi là Tiểu Hoàn Đan (小還丹).”
Trong đường đi này, bạn dẫn Khí từ Chân Hạ Đan điền, đi qua Âm Giao, Hội Âm, Trường Cường, Linh Đài, Não Hộ và Bách Hội, rồi đi xuống qua Nhâm Mạch trở về Âm Giao và Chân Hạ Đan điền. Điều này cũng được mô tả chi tiết trong Chương 8.
3. Phong Lộ (Đường Thông Thường Đảo Ngược, 風路, Nghịch Hành)
Phong Lộ là sự đảo ngược của đường tự nhiên, nên nó sinh ra điện trở (gió). Mục đích của nó là làm chậm sự tuần hoàn Khí trong hỏa lộ.
Dẫn Khí đi lên phía trước, đi xuống phía lưng, rồi trở về Chân Hạ Đan điền.
4. Sự Phối Hợp Của Thủy Lộ Và Hỏa Lộ Phía Trước
Khí được dẫn lên Xung Mạch (Thủy Lộ) tới Bách Hội, rồi đi xuống Nhâm Mạch trở về Chân Hạ Đan điền. Điều này có thể được thực hiện bởi những người có Khí dồi dào tại Chân Hạ Đan điền và có khả năng dẫn nó lên để nuôi dưỡng bộ não. Bạn có thể cảm thấy Khí tự chuyển động trong Xung Mạch, vì mọi đường đi đã mở ở một mức độ nào đó. Điều bạn tập là xây dựng Khí dồi dào, để tuần hoàn và để nuôi dưỡng.
5. Sự Phối Hợp Của Hỏa Lộ Phía Sau Và Thủy Lộ Đảo Ngược
Đường đi này đem hỏa khí đi xuống qua Xung Mạch. Khí đi theo Hỏa Lộ lên tới Bách Hội, và rồi đi xuống qua Xung Mạch trở về Chân Hạ Đan điền. Khi Khí được dẫn lên Xung Mạch, Thần được nâng lên và hoạt động của Khí gia tăng. Nhưng khi Khí được dẫn xuống Xung Mạch, nó trở về chỗ ngự của nó. Những hoạt động thể chất và tinh thần dần dần chấm dứt. Một khi bạn đã hoàn tất Hỏa Lộ, hãy thử đường đi này, vốn tương đối an toàn và rất hiệu quả trong việc đem hỏa khí của bạn đi xuống.
6. Hỏa Lộ Phía Sau—Đại Chùy—Thiên Đột Và Hỏa Lộ Phía Trước
Đường đi này ít được biết đến và hiếm khi được tập luyện. Khí được dẫn lên Hỏa Lộ tới Đại Chùy (Đốc-14), rồi đi tới phía trước tới Thiên Đột (Nhâm-22). Sau đó nó đi xuống Nhâm Mạch tới Âm Giao, trở về Chân Hạ Đan điền.
7. Hỏa Lộ Phía Sau—Đại Chùy—Thủy Lộ Đảo Ngược
Để tránh việc Khí đi vào đường sai trong đầu, một số người tập dùng đường đi này để làm nguội hỏa, thay vì đường số 5. Khí được dẫn lên Hỏa Lộ tới Đại Chùy, đi tới phía trước vào Xung Mạch, rồi đi xuống Chân Hạ Đan điền.
Không có đường đi nào đi vào huyệt Giáp Tích rồi đi tới phía trước. Điều đó sẽ dẫn Khí dư thừa tới quả tim, và sẽ cực kỳ nguy hiểm.
Mọi đường đi đều đã mở ở một mức độ nào đó. Quá nhiều sự ứ trệ hay bế tắc đã làm bạn bệnh từ lâu rồi. Bạn nhắm tới việc gia tăng mức độ Khí tuần hoàn ở đó, để làm cho dòng chảy của nó trôi chảy và để mở rộng đường đi. Hãy đi theo năm bước cơ bản:
- Luyện Kỷ (練己) — Tôi luyện chính mình.
- Điều Dược (調藥) — Điều chỉnh dược liệu.
- Sản Dược (產藥) — Sản sinh dược liệu.
- Thái Dược (採藥) — Hái dược liệu.
- Luyện Dược (煉藥) — Luyện dược liệu.
Điều đó có nghĩa là điều chỉnh tâm tình cảm của bạn và tu dưỡng khí chất của bạn. Hãy kiên nhẫn và nghiên cứu phương pháp tu luyện. Sau đó, dùng cái tâm tĩnh lặng này để điều chỉnh hơi thở và dòng Khí của bạn. Bạn tích lũy Khí dồi dào qua hơi thở bụng và thai tức, rồi dùng nó cho dịch cân và tẩy tủy/não. Không ngừng tinh luyện hơi thở của bạn, xây dựng Khí của bạn, và tuần hoàn nó trong phần đời còn lại của bạn.
Một khi tâm bạn có thể dẫn Khí một cách hiệu quả, bạn có thể dẫn nó theo bất cứ cách nào bạn muốn trong thân thể mình.
“Vận Khí như thể qua một viên ngọc có chín lỗ cong, nó sẽ tới được cả những chỗ nhỏ nhất.”
5-7 · Minh Họa Thiền Nội Đan Đời Đường
Bức họa này được vẽ vào đời Đường (618–907 sau Công nguyên) và được một Đạo sĩ là Tô Vân tiết lộ cho xã hội thế tục. Sự tu luyện Nội Đan (內丹) được trình bày rất rõ ràng, mặc dù khi ấy nó vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi. Nội Đan để trường thọ và giác ngộ đã được Đạt Ma mang từ Ấn Độ tới Trung Hoa vào thời nhà Lương (502–557 sau Công nguyên). Hai bộ kinh của ngài, Dịch Cân Kinh (易筋經 — Thay Đổi Gân Cơ) và Tẩy Tủy Kinh (洗髓經 — Rửa Tủy/Não), đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới xã hội khí công Trung Hoa.
Bức minh họa này đã được tiết lộ từ hơn một ngàn năm trước. Dẫu về sau có những sự bất đồng và sai biệt lọt vào, cấu trúc và nội dung chính vẫn chính xác cho tới ngày nay. Hãy ghi nhớ vài điều:
- Luôn luôn đặt câu hỏi về điều bạn thấy và đọc. Hãy suy nghĩ và thách thức nguồn tư liệu. Rồi bạn sẽ thấy rõ ràng hơn nhiều. Nếu bạn chỉ đơn giản tin tưởng, bạn dễ bị dẫn đi lạc.
- Bức minh họa này có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, vậy hãy tham khảo tất cả chúng, và dựa vào tư duy, kinh nghiệm và sự phán đoán của riêng bạn.
- Có ít nhất năm chức năng đã bị đặt sai chỗ trong bức minh họa (Hình 5-31):
- A. Nê Hoàn Cung, vốn chỉ tuyến yên và tuyến tùng, được đặt ở đỉnh đầu. Nó đáng lý phải ở trung tâm của đầu, phía sau hai mắt.
- B. Cột chữ bên phải phía sau cổ họng đáng lý phải ở hai quả thận phía sau xương sống, nơi người thiếu nữ đang dệt.
- C. Cột chữ bên trái phía sau cổ họng chỉ cái nồi nhỏ dưới Chân Hạ Đan điền, nơi có bốn biểu tượng âm dương.
- D. Cột chữ Hán dưới quả tim đáng lý phải được đặt phía trên Con Trâu Sắt đang cày ruộng, vốn tượng trưng cho việc tu luyện Khí trong Đan điền.
- E. Cột chữ Hán bên dưới đầu con trâu đáng lý phải được đặt gần những bánh xe nước.
- Những diễn giải sau đây xuất phát từ sự hiểu biết hiện tại của tôi, điều có thể thay đổi trong tương lai, và không nên được hiểu theo nghĩa đen (Hình 5-31).
(D)
Pháp Tạng nói:
Dùng tâm (tâm thức) Phật giáo và quan điểm Phật giáo để hiểu bốn biển lớn (thế giới). Rồi thần của bạn sẽ đạt tới sự viên mãn của đức hạnh một cách dần dần và nhẹ nhàng.
Cam (甘) có nghĩa là chùa Phật, và hàm ý dùng tâm Phật để phán đoán. Mục (目) có nghĩa là đôi mắt và hàm ý sự xem xét và quán sát. Bạch Hào (白毫) có nghĩa là nhiều tia sáng trắng nhỏ xíu và hàm ý ánh sáng tâm linh phát ra từ đầu (con mắt thứ ba). Uyển Chuyển (宛轉) có nghĩa là mềm mại, dần dần và nhẹ nhàng. Tu Di (須彌) là thuật ngữ Đạo gia chỉ hữu thể tâm linh trong sự viên mãn của đức hạnh con người.
Chừng nào bạn còn có một tâm Phật, bạn sẽ có một quan điểm trung dung và sáng suốt để phán đoán bất cứ điều gì bạn thấy. Bạn sẽ có thể tu dưỡng khí chất của mình trong sự viên mãn của đức hạnh con người.
Từ Thị Nói:
Một khi khoảng không giữa hai lông mày (con mắt thứ ba) có thể phát ra những tia sáng trắng nhỏ xíu một cách thường xuyên, nó có thể giúp người thế tục diệt trừ nỗi khổ của luân hồi.
Không ngừng tu dưỡng thần của bạn để mở con mắt thứ ba nằm giữa hai lông mày, để đạt tới giác ngộ. Vô số tia sáng trắng tâm linh nhỏ xíu sẽ phát ra từ chỗ này. Bạn đạt tới giai đoạn đầu tiên của Phật quả và có khả năng giải quyết nỗi khổ xúc cảm thế tục, vốn phát sinh từ sự luân hồi lặp đi lặp lại.
(I)
Ta chuyên chú cày cấy ruộng đất của riêng mình trong gia đình (thân thể). Có một hạt giống tâm linh trong đó, có thể sống muôn năm (trường thọ).
Hoa của nó như vàng ròng không có màu sắc khác nhau (quý báu), và trái của nó như những hạt ngọc chung quanh.
Để gieo trồng và cày cấy, hãy nương vào Đất ở Trung Cung, và để tưới tắm nó, hãy nương vào suối ở Thượng Cốc.
Khi sự thành tựu đạt tới Đạo lớn đã được hoàn tất qua sự tu luyện, bạn trở thành một vị tiên sống nhàn nhã không lo âu trong cõi đất này.
Thần giống như một hạt giống, quý báu như vàng. Hãy tu luyện nó cho đúng cách, để nó cho phép bạn sống lâu. Khi được tu luyện và kết trái, nó làm cho thần của bạn viên mãn. Để tu luyện nó, hãy nương vào hai điều. Thứ nhất, xây dựng đơn khí tại Trung Cung (中宮), Hoàng Đình (黃庭) hay Chân Hạ Đan điền. Cũng hãy tu dưỡng thần ngự trị trong Thần Cốc (神谷). Thánh Thai được thụ thai tại Hoàng Đình thiết lập hạt giống của sự giác ngộ tâm linh. Số lượng Khí tại Chân Hạ Đan điền cung cấp đời sống thể chất khỏe mạnh. Thần tại Thượng Đan điền cai quản phẩm chất của Khí, vốn biểu hiện thành sự sống.
Sau khi đã tu luyện hai điều này, hãy hợp nhất chúng tại Chân Hạ Đan điền. Điều này được gọi là sự hợp nhất và điều hòa của Thần và Khí (Thần Khí Tương Hợp, 神氣相合). Đó là mục tiêu của Thai Tức. Thủy khí tại Chân Hạ Đan điền được dẫn lên để tương tác với hỏa khí đi xuống từ Trung Đan điền, để thụ thai Thánh Thai tại Hoàng Đình. Đây là bước đầu tiên để đạt tới sự giác ngộ tâm linh. Sau khi đã đạt giác ngộ, bạn sống như một vị tiên trong cõi thế tục này.
(II)
Con Trâu Sắt cày ruộng để gieo trồng những đồng tiền vàng.
Đứa trẻ tạc đá xâu chúng (những đồng tiền vàng) lại với nhau.
Giả Hạ Đan điền là nơi ruộng đơn được cày và những đồng tiền vàng quý báu (Khí) được trồng. Để xây dựng Khí (châm lửa) qua Hơi Thở Bụng (腹呼吸), bạn phải kiên nhẫn và bền bỉ như con Trâu Sắt ngoan cố. (Các chữ Hán đã bị đặt sai chỗ, và đáng lý phải ở gần con trâu.)
Để chứa Khí dồi dào (xâu các đồng tiền lại với nhau), bạn cần một tâm hồn trẻ thơ, ngây thơ, thoát khỏi sự trói buộc của xúc cảm. Đứa trẻ ở vùng quả tim (vùng Trung Đan điền) có nghĩa là cái tâm ngây thơ và thuần khiết. Tạc đá là công việc nặng nhọc đòi hỏi sự kiên nhẫn, như sự kiên nhẫn cần có để chứa Khí tới mức dồi dào.
(III)
Một hạt gạo có thể che giấu cả thế giới,
Cái nồi nửa lít có thể đốt nóng núi non và sông ngòi.
Một hạt gạo thì rất nhỏ. Nó chỉ Nê Hoàn Cung (泥丸宮) nơi Thần ngự trị. Hãy giữ thần của bạn ở đó mà không bị Tâm thế tục đánh lạc hướng, rồi bạn có thể dùng Thần này để cai quản đời sống của mình. Thân thể vật lý là trời và đất (Thiên Địa, 天地), là quốc gia (Quốc, 國), là thế giới (Thế Giới, 世界), hay là núi non và sông ngòi (Sơn Xuyên, 山川); Khí được gọi là dân, và thần được gọi là vua.
Cái nồi nhỏ xíu tại Hạ Đan điền sản sinh đủ Khí để cung cấp cho núi non và sông ngòi (thân thể vật lý). Khí dồi dào tại Hạ Đan điền sẽ cung cấp cho mọi nhu cầu của toàn thân. Hãy duy trì Thần của bạn tại chỗ ngự của nó để cai quản phẩm chất của sự biểu hiện Khí, điều có nghĩa là phẩm chất của sự sống. (Các chữ Hán phía sau cổ họng đã bị đặt sai chỗ và đáng lý phải ở dưới bốn biểu tượng âm dương.)
Lông mày của ông lão đầu bạc chấm đất.
Vị tăng phương bắc mắt xanh chống trời bằng hai tay.
Lông mày dài và tóc bạc hàm ý tuổi tác rất cao và có nghĩa là sự bất tử có thể đạt được qua tu luyện. Hai tay chống trời có nghĩa là lưỡi chạm vào hàm ếch của miệng. Kỹ thuật này bắt nguồn từ Đạt Ma, cũng được biết đến với tên Bồ-đề-đạt-ma, người vốn là một vương tử ở Nam Ấn Độ. Từ trường phái Đại Thừa của Phật giáo, ngài được xem là đã từng là một Bồ Tát — một hữu thể đã giác ngộ, từ bỏ niết-bàn để cứu độ người khác. Từ những ghi chép lịch sử rời rạc, người ta tin rằng ngài sinh vào khoảng năm 483 sau Công nguyên. Ngài đến Quảng Châu năm 527 sau Công nguyên dưới triều vua Ngụy Hiếu Minh (516–528 sau Công nguyên) hay vua Lương Vũ (502–557 sau Công nguyên).
Nếu người ta lĩnh hội được cái mấu chốt của sự huyền diệu này,
thì ngoài nó ra, không còn gì huyền diệu nữa.
Đó là những bí mật của sự tu dưỡng tâm linh. Nắm được chúng, thì không còn gì để phải hiểu thêm nữa.
(IV)
Lặp đi lặp lại và liên tục, từng bước một hãy lặp lại chu kỳ.
Cái bơm quay nước và làm nó chảy về phía Đông.
Khi đáy của một hồ sâu muôn trượng có thể được nhìn thấy,
thì suối ngọt sẽ xuất hiện từ cuối dãy núi phương nam.
Hội Âm là huyệt bí mật kiểm soát sự biểu hiện âm và dương của thân thể. Từ vùng này, bạn dẫn Khí đi trong Hỏa Lộ. Thân thể bạn mạnh mẽ và khỏe mạnh, biểu hiện Khí thành hình tướng vật lý.
Tuy nhiên, nếu bạn dẫn Khí đi lên qua Xung Mạch, bạn đi vào thủy lộ, vốn làm thân thể tĩnh lặng và nâng cao thần.
Cậu bé và cô bé tượng trưng cho âm và dương, biểu hiện qua việc không ngừng bơm bánh xe nước (Hội Âm). Âm biểu hiện thủy lộ, trong khi dương biểu hiện hỏa lộ.
Tương truyền có một hòn đảo gọi là Bồng Lai Tiên Đảo (蓬萊仙島) ở biển phương đông, nơi các vị tiên cư ngụ. Qua tu luyện, bạn có thể đạt được sự bất tử.
Tâm của bạn phải sáng suốt và tĩnh lặng như một hồ nước rất sâu, qua đó có thể nhìn thấy đáy một cách rõ ràng. Điều này có nghĩa là bạn không bị trói buộc bởi xúc cảm, và thần của bạn tự do và thuần khiết.
Một khi tâm bạn tĩnh lặng và bình an, thần sáng suốt và tập trung, thì nước miếng (suối ngọt) được sinh ra trong miệng, ở phía nam của cái đầu.
Những Chú Giải Từng Số Của Bức Minh Họa
(1) Cửu Phong Sơn (núi chín đỉnh). Đỉnh đầu thường được gọi là đỉnh của một ngọn núi hay của trời. Núi chín đỉnh có nghĩa là bộ não ở nửa trên của cái đầu. Não cũng được gọi là Cửu Cung (九宮), có nghĩa là chín cung điện.
(2) Đỉnh của ngọn núi khổng lồ. Bộ não ở phía sau đầu, ngay phía sau Bách Hội.
(3) Đài linh mờ mịt. Bách Hội là nơi thần đi ra và đi vào chỗ ngự của nó.
(6) Đốc Mạch. Một trong bốn mạch dương điều tiết tình trạng Khí của sáu kinh chính dương.
(6A) Nhâm Mạch. Một trong bốn mạch âm điều tiết tình trạng Khí của sáu kinh chính âm.
(7) Kéo dài sự sống. Thai Tức (胎息) ngưng tụ thần tại Nê Hoàn Cung (泥丸宮), nơi hóc-môn tăng trưởng và melatonin được sản xuất trong tuyến yên và tuyến tùng. Đó là chìa khóa của trường thọ và bất tử. (Nê Hoàn Cung bị đặt sai chỗ và đáng lý phải ở trung tâm của cái đầu.)
(8) Cõi tiên. Cùng như số 7 ở trên.
(9) Nê Hoàn Cung. Trung tâm của cái đầu, nơi tuyến yên và tuyến tùng tọa lạc. Được xem là trung tâm âm (Âm Hòa) của sự biểu hiện của Dương Thần, và là chỗ ngự của Nguyên Thần (元神). Ngưng tụ thần ở đây qua Thai Tức sản sinh ra các nội tiết tố — bí mật của trường thọ. Khi trung tâm này được củng cố và nằm trong sự kiểm soát, sự biểu hiện của dương có thể được nâng lên tới một mức độ rực rỡ mà không gây ra hỗn loạn. (Những chữ Hán này đã bị đặt sai chỗ, và đáng lý phải ở trung tâm của cái đầu.)
(11) Chỗ ngự của dương đang trỗi dậy. Cùng như Nê Hoàn Cung ở trên.
(12) Nguồn gốc của luật tự nhiên trong sự nâng cao tâm linh. Cùng như Nê Hoàn Cung ở trên.
(13) Huyệt của đỉnh tâm linh. Được các Đạo sĩ gọi là Ngọc Chẩm (玉枕) hay Não Hộ (Đốc-17) trong y học Trung Hoa. Khí tại huyệt này cân bằng với khí tại Thiên Nhãn (天眼 — con mắt thứ ba), được y học Trung Hoa gọi là Ấn Đường (M-NH-3). Qua sự cân bằng Khí của cửa này, con mắt thứ ba có thể được mở. Đây là cửa ải thứ ba cần được mở trong thiền Tiểu Chu Thiên. Nó rất quý báu trong sự tập luyện, như ngọc. Bởi vì nó giúp mở con mắt thứ ba để đạt tới chân lý, nó là một cửa chân thực.
(14) Cửa trên chân thực bằng ngọc. Một tên gọi khác của Ngọc Chẩm, xem số 13 ở trên.
(15) Nuốt thức ăn. Sự đi vào của thức ăn vào thân thể. Khi nước miếng được nuốt đúng cách với âm thanh En (恩), sức khỏe được duy trì và sự tiến bộ đáng kể được thực hiện trong thiền.
(17) Sự cấp bách của Khí. Khí này là Không Khí (空氣 — không khí). Trong thiền, bạn điều chỉnh hơi thở của mình cho mảnh mai, mềm mại, trôi chảy và tự nhiên. Nếu không làm thân và tâm tĩnh lặng trước, miệng sẽ khô và hơi thở sẽ cấp bách. Hãy làm thân và tâm tĩnh lặng qua hơi thở đúng cách, rồi nước miếng sẽ được sinh ra.
(18) Chiếc cầu đi xuống. Dưới chiếc cầu này, nước miếng (thiên hà thủy, 天池水) được sinh ra. Nếu được nuốt đúng cách, Khí đi xuống và làm mạnh cái âm, hỗ trợ sự tĩnh lặng về thể chất lẫn tinh thần trong khi nhập thiền.
(19) Trong ngôi tháp mười hai tầng, những bí mật được giấu kín. Tháp mười hai tầng là cổ họng. Các âm thanh biểu đạt xúc cảm, kiểm soát Khí của thân thể. Chẳng hạn, âm Ha (哈) lúc thở ra nâng cao thần và dẫn Khí ra ngoài, làm mạnh Vệ Khí (衛氣). Âm Heng (哼) lúc thở vào làm thần tĩnh lặng, dẫn Khí vào trong và nuôi dưỡng Tủy Khí (髓氣).
Câu này cũng có thể được diễn giải là qua việc hỏi han, bạn sẽ học được mọi bí mật tiềm ẩn của sự tu luyện.
(21) Những vì sao trên cầu Ngưu Lang. Chiếc cầu này nối Ngưu Lang (牛郎) và Chức Nữ (織女), để bào thai có thể được thụ thai. Chiếc cầu này là Tâm (tim). Tâm đem âm và dương lại với nhau để chúng có thể tương tác.
(22) Trong năm mươi cõi, những cửa huyền diệu được giấu kín. Năm mươi cõi là những đốt sống, trong đó tủy sống (Xung Mạch) được giấu kín. Những cửa huyền diệu chỉ Thủy Lộ (水路), tuần hoàn trong Xung Mạch. Thiền thủy lộ là điều tối quan trọng đối với việc tẩy tủy (洗髓) để đạt giác ngộ tâm linh. Những bí mật của nó đã bị giấu kín trong các tự viện Phật giáo và Đạo giáo hơn mười lăm thế kỷ.
(23) Thần của đảm (mật), Long Diệu (龍耀), có nghĩa là uy nghiêm và sáng sủa. Thần của túi mật được gọi là Long Diệu. Nó cũng liên hệ với lá gan. Khi nó biểu hiện, đôi mắt sáng và uy nghiêm. Túi mật (tạng dương) là cơ quan thành cặp của lá gan (tạng âm).
(24) Thần của phổi, Hoa Hạo (華皓), được hoàn tất từ chỗ trống không. Thần của hai lá phổi được gọi là Hoa Hạo. Nó liên hệ với cái mũi, vốn nhận không khí (chỗ trống không) vào và làm đầy hai lá phổi bằng sự sống.
(25) Thần của gan, Long Yên (龍煙), chứa đựng sự sáng sủa. Thần của lá gan, được gọi là Long Yên, liên hệ với đôi mắt. Khi lá gan khỏe mạnh, đôi mắt sáng và sắc sảo.
(26) Thần của tim, Đan Nguyên (丹元), chứa đựng và duy trì cái Linh (靈). Thần của quả tim được gọi là Đan Nguyên. Nó chứa đựng cái Linh và duy trì các hoạt động của nó.
(27) Thiếu nữ dệt vải xoay vòng bánh xe. Đây là huyệt Hoàng Đình (黃庭), nơi Thánh Thai được thụ thai. Thiếu nữ đang chuẩn bị cho sự ra đời của đứa bé.
(28) Thần của thận, Huyền Minh (玄冥), chứa đựng sự nuôi dưỡng cho đứa bé. Nó nuôi dưỡng sự sản xuất tinh trùng. Hai quả thận được gọi là Nội Thận (內腎), trong khi tinh hoàn được gọi là Ngoại Thận (外腎). Chúng liên hệ với nhau về chức năng, chịu trách nhiệm về sự sinh sản và nuôi dưỡng sự sống mới.
(29) Thần của lá lách, Thường Tại (常在), được giấu kín trong lầu hồn. Thần của lá lách, Thường Tại, liên hệ với linh hồn.
(30) Trung Đan điền. Cơ hoành, dưới quả tim.
(31) Những huyệt của hai chỗ ngự của thận. Hai huyệt này cũng được gọi là Thận Du (B-23, 腎俞 — Chỗ Trũng Của Thận). Qua chúng, Khí của thận đi vào và đi ra ở phía lưng. (Những chữ mô tả đáng lý phải ở phía sau hai quả thận, chứ không phải ở cổ họng.)
(32) Chân Hạ Đan điền. Bộ não thứ hai hay pin sinh học, nơi Khí dồi dào được tích lũy trong sự tập khí công. Điều này duy trì sức mạnh thể chất và sức khỏe. Từ đây, Khí được dẫn lên qua Xung Mạch (衝脈) để nuôi dưỡng bộ não, mở con mắt thứ ba và đạt tới sự giác ngộ tâm linh.
(35) Chiếc xe đạp nước (bơm nước) của sự huyền diệu âm dương. Bơm nước hay bánh xe nước, hàm ý Hội Âm. Qua việc kiểm soát huyệt Hội Âm, bạn có thể dẫn Khí tới Hỏa Lộ (火路, dương) hay Thủy Lộ (水路, âm). Phương pháp kiểm soát âm và dương của thân thể này đã được giữ bí mật trong quá khứ. (Các chữ Hán đáng lý phải được đặt gần bơm nước hơn.)
(30) Khảm thủy chảy theo hướng đảo ngược. Khảm (坎) tượng trưng cho thủy trong Bát Quái. Khảm Thủy (坎水) chỉ Khí tuần hoàn trong thân thể. Qua hành động bơm của Hội Âm, Khảm thủy được dẫn lên để nuôi dưỡng bộ não.
Lời Bạt Của Đạo Sĩ Tô Vân
“Bức minh họa này chưa từng được truyền lại cho người khác trước đây, bởi vì Đan Đạo (丹道 — Đạo luyện đơn) này quá rộng và tinh vi. Những người không đủ trí tuệ sẽ không thể lãnh hội được (chìa khóa), nên nó hiếm khi được thấy trong cõi đời này. Tình cờ, tôi tìm thấy bức minh họa và bài viết này tại Cao Tùng Sơn (núi thông cao). Nó được treo trên tường. Kỹ thuật của bức vẽ này rất tinh vi, và gân, khớp, mạch cùng kinh Khí được vẽ và diễn giải rõ ràng. Mỗi chi tiết đều giấu kín chìa khóa quan trọng. Tôi đã nhìn và suy ngẫm về nó một thời gian dài, và cảm thấy mình đã lĩnh hội được một vài ý nghĩa bên trong.
Do đó, tôi bắt đầu nhận thức sâu sắc rằng việc thổ nạp (吐納 — thở ra và hít vào) của toàn thân cũng giống như cái hữu hình và cái vô hình của trời và đất. Nếu người ta có thể giác ngộ nó và lĩnh hội nó một cách rõ ràng, thì hơn một nửa sự thành tựu đạt tới Đại Đạo của Kim Đan (金丹大道) đã được hoàn tất rồi. Tôi không dám giữ bí mật này cho riêng mình, nên nhiệt thành công bố nó để nó có thể được truyền bá đến công chúng.”
— Sao chép và phân biện bởi Đạo sĩ Tô Vân
Thai Tức
6-1 · Dẫn Nhập
Hai trung tâm này là hai cực của thân năng lượng. Đưa Thần (神) xuống để hiệp nhất với Khí (氣) tại trung tâm Thần — Hạ Đan điền Chân, tức là trung tâm Khí (Hình 6-1). Như thế bạn trở về trạng thái Vô Cực (無極), nguồn gốc của sự sống. Bạn đang trở về Hạ Đan điền Chân, nơi bạn được thụ thai khi còn là một bào thai. Trong trạng thái Vô Cực này, bạn trả bản thể của mình về với tự nhiên.
Tài liệu sớm nhất trình bày khái niệm Thai Tức này là Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Chương 16 nói:
“Đưa cái hư không (tính không) đến chỗ tột cùng, và giữ sự tĩnh lặng với lòng thành thực. Vạn vật (vạn sự sống) đang vận động cho phép ta quan sát sự tuần hoàn phản phục của chúng. Tuy có nhiều vật như thế, mỗi cá thể đều phải lặp đi lặp lại trở về cội rễ (nguyên thủy) của nó. Khi trở về cội rễ, nghĩa là tĩnh lặng. Khi đã tĩnh lặng, nghĩa là sự phục hồi của một đời sống. Khi sự sống phục hồi, nghĩa là chu kỳ tự nhiên thường hằng.”
Từ tài liệu này, ta thấy mục đích của Thai Tức là truy ngược về cội rễ của đời sống mình, và thấu hiểu sự lặp lại tuần hoàn của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là đưa bản thể tinh thần của ta trở về trạng thái Vô Cực (無極, Không Cực, trạng thái trung tính) của đời sống con người, và nhờ đó đạt tới nguồn gốc của bản tính tinh thần mình.
Điều Thần thông qua việc tu dưỡng cái tâm đến trạng thái không, trung tính. Thần tìm được trung tâm của nó và ở lại chỗ cư ngụ của mình. Nếu không có điều này, ta vẫn bị nhốt trong ma trận cảm xúc của con người. Tâm không thể thấy được nguồn gốc của tinh thần, ta cũng không thể dẫn Khí về chỗ cư ngụ của nó (Hạ Đan điền Chân) và giữ nó ở đó. Ngay từ khởi điểm, Thai Tức là sự tìm kiếm nguồn gốc tinh thần tại trung tâm của não (Thượng Đan điền) và nguồn gốc của Khí tại trung tâm trọng lực vật lý, tức Hạ Đan điền Chân.
Để điều Thần, Chương 6 của Đạo Đức Kinh nói:
“Cốc Thần (谷神) bất tử, thì được gọi là Huyền Tý (玄牝). Cửa (chìa khóa) để đạt tới Huyền Tý này là cội rễ của trời đất (tự nhiên). Nó rất mềm mại và liên tục như thể là có thực. Khi dùng đến, nó sẽ không bao giờ cạn.”
Thần được gọi là Cốc Thần (谷神) vì nó cư ngụ tại Thần Cốc (神谷), khoảng không nằm giữa hai bán cầu của não. Huyền Tý (玄牝) nghĩa là Đạo mầu nhiệm và huyền diệu, mẹ đẻ của sự sáng tạo ra vạn vật. Mục tiêu của việc điều Thần là giữ Thần ở Thần Cốc, chỗ cư ngụ của nó.
Hãy thở nhẹ nhàng, mảnh mai và sâu như một trẻ sơ sinh. Chương 10 của Đạo Đức Kinh nói:
“Khi mang và quản lý Phách (魄, Tinh thần sinh lực) và ôm giữ trạng thái nhất nguyên (Bão Nhất, 抱一), có thể không để nó ly cách được chăng? Khi tụ Khí để đạt đến sự mềm mại, có thể mềm như trẻ thơ được chăng? Khi gột rửa tư tưởng để đạt tới sự thanh khiết, có thể không tì vết được chăng?”
Linh Kiếm Tử Đạo Dẫn Tý Ngọ Ký nói: “Thế nào là Thai Tức? Đó là phương pháp Bão Nhất (抱一) và giữ nó trong trạng thái trung tính.”
Thai Tức nghĩa là điều tâm và Thần tới mức tĩnh lặng nhất và tập trung nhất, đồng thời tích lũy Khí dồi dào tại Hạ Đan điền Chân, rồi hiệp nhất Thần và Khí để đưa bản thể trở về nguồn gốc của nó. Thai Tức xưa nay luôn rất quan trọng trong thực hành Khí công Trung Hoa, là phương pháp nạp đầy bình điện sinh học của bạn lên một mức cao. Khi đó sinh lực của bạn được nâng lên, hệ miễn dịch được tăng cường và thân thể được tái tạo.
Theo truyền thống Phật giáo và Đạo giáo, Thai Tức được định nghĩa là thụ thai một Thần Thai (Shen Tai, 聖胎) tại khiếu Hoàng Đình (黃庭). Khi Thần Thai đã sẵn sàng, hãy dẫn nó lên Thượng Đan điền để được sinh ra (khai mở con mắt thứ ba). Để đạt được điều này, trước tiên hãy xây dựng một mức độ cao của Thủy Khí (Shui Qi, 水氣) — tức Tiên Thiên Khí — tại Hạ Đan điền Chân. Dẫn nó lên, đồng thời dẫn Hỏa Khí (Huo Qi, 火氣) — tức Hậu Thiên Khí — từ Trung Đan điền xuống, để chúng gặp nhau tại Hoàng Đình (黃庭). Quá trình này được gọi là long hổ giao cấu (Long Hu Jiao Gou, 龍虎交媾), sự tương tác của Âm và Dương, thường được gọi là Khảm và Ly (Kan Li, 坎離). Kết quả là sự thụ thai của sự sống. Sau đó, bạn dẫn Thần xuống để gặp sự sống này, cho tới khi một Thần mới phát triển trong bào thai. Quá trình này được gọi là Mẫu Tử Tương Y (Mu Zi Xiang Yi, 母子相依). Mẫu là Khí, Tử là Thần. Từ quá trình này, một Thần Thai được thụ thai (Hình 6-2).
Khi Thần Thai đã sẵn sàng, hãy dẫn nó đi lên qua Xung Mạch (Chong Mai, 衝脈) tới não. Khi năng lượng đạt tới mức cao, con mắt thứ ba (Thiên Nhãn, 天眼) sẽ mở ra.
6-2 · Cơ Sở Lý Luận Của Thai Tức
Ở đây chúng ta ôn lại vai trò và chức năng mà Bát Mạch (Ba Mai, 八脈) đảm nhiệm trong thực hành Khí công, đặc biệt là trong Khí công Nội Đan (Nei Dan, 內丹).
Vai Trò và Chức Năng Của Bát Mạch
1. Bát Mạch bao gồm bốn mạch Âm và bốn mạch Dương, cân bằng lẫn nhau. Tám mạch này tạo thành khung sườn chính của mạng lưới Khí trong cơ thể và điều tiết Khí trong Thập Nhị Kinh (Shi Er Jing, 十二經) — mười hai kinh mạch chính.
2. Chúng là những hồ chứa Khí để tàng trữ Khí, nhưng cũng giống như các kinh mạch chính Âm và Dương, các mạch Dương biểu hiện Khí ra ngoài, trong khi các mạch Âm bảo tồn Khí.
3. Nhâm Mạch (Ren Mai, 任脈) ở phía trước là một mạch Âm, có tác dụng cân bằng với Đốc Mạch (Du Mai, 督脈) thuộc Dương. Nó điều tiết Khí trong sáu kinh Âm chính (những con sông Khí), trong khi Đốc Mạch (督脈) cai quản Khí của sáu kinh Dương chính. Vì mười hai kinh này phân phối Khí đi khắp cơ thể, nên hai mạch này kiểm soát sự phân phối Khí trong toàn thân.
4. Cấu trúc vật lý của các mạch này rất có thể được cấu tạo bởi nhiều lớp gân kẹp giữa các lớp mạc. Gân dẫn truyền tốt hơn cơ bắp, trong khi mạc là chất cách điện (dẫn truyền kém). Cấu trúc này tạo thành một loại bình điện để tàng trữ Khí, vì Khí lưu thông trong gân tốt hơn trong cơ bắp. Đốc Mạch biểu hiện nhiều lớp gân bám tại đường trung tâm của cột sống, được kẹp giữa các lớp mạc.
5. Đới Mạch (Dai Mai, 帶脈) thuộc cực Dương và đối trọng với Xung Mạch (Chong Mai, 衝脈) thuộc cực Âm. Khí của Đới Mạch tỏa rộng theo chiều ngang, cung cấp sự cân bằng về thể chất lẫn tinh thần, trong khi Xung Mạch định trung tâm cho thân và tâm của bạn (Hình 6-3). Đây là hai mạch quan trọng nhất của mạng lưới Khí. Khi Khí tỏa rộng trong Đới Mạch, Vệ Khí (Wei Qi, 衛氣) biểu hiện mạnh mẽ, và hệ miễn dịch cũng vậy. Khi Khí dồi dào trong Xung Mạch, đường năng lượng trung tâm trở nên mạnh mẽ, và Thần được nâng lên. Các tuyến dọc theo đường năng lượng trung tâm — tuyến tùng, tuyến yên, tuyến thượng thận và tinh hoàn (hay buồng trứng) — được nuôi dưỡng và sự sản xuất hóc-môn của chúng được kích thích. Khí Tủy cũng trở nên dồi dào, nhờ đó các tế bào máu khỏe mạnh được sản sinh. Chúng tôi sẽ bàn kỹ hơn về điều này trong một ấn phẩm sau này, Spiritual Enlightenment Meditation (Thiền Định Khai Ngộ Tâm Linh).
6. Khi bạn thức dậy vào buổi sáng, bạn bắt đầu sử dụng cơ thể mình. Hơi thở ra dài hơn hơi thở vào, vì tâm của bạn ở bên ngoài cơ thể. Khí được dẫn ra ngoài để biểu hiện. Nhâm Mạch và Đốc Mạch điều tiết Khí trong mười hai kinh mạch chính, nên Khí tuần hoàn mạnh mẽ trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Nhưng ban đêm bạn ngủ, với thân thể thư giãn và hơi thở vào dài hơn hơi thở ra. Khí được dẫn vào trong, về đường năng lượng trung tâm, và Vệ Khí co lại. Hóc-môn được sản xuất bởi các tuyến, và não nhận được sự nuôi dưỡng của Khí. Điều này thúc đẩy việc nằm mơ, khi các tế bào não tự điều chỉnh lại năng lượng của chúng.
Điều này không khác gì chu kỳ Khí của một con cá. Ban ngày, Khí tuần hoàn mạnh dọc theo các đường viền trên và dưới của con cá, nên các vây và đuôi cử động mạnh mẽ. Ban đêm, sự tuần hoàn Khí này yếu đi và Khí tập trung tại đường trung tâm. Những sóng điện từ được phát ra từ con mắt thứ ba của con cá, giúp nó bơi mà không va phải chướng ngại vật hay những con cá khác (Hình 6-4).
Ban ngày, năng lượng của một cái cây tỏa lên và tỏa ra từ bộ rễ — đó là bình điện sinh học của nó — để trao đổi Khí với Khí của mặt trời. Ban đêm, Khí của nó trở về trung tâm và đi ngược xuống bộ rễ (Hình 6-5). Mọi vật sống đều là một phần của Đạo, và Đạo vẫn như nhau trong suốt tự nhiên. Nếu bạn thấu hiểu rõ ràng một vật, bạn có thể dễ dàng diễn giải những vật khác.
Bốn mạch còn lại tồn tại thành từng cặp. Đó là Âm Kiều Mạch (Yinqiao Mai, 陰蹺脈), Âm Duy Mạch (Yinwei Mai, 陰維脈), Dương Kiều Mạch (Yangqiao Mai, 陽蹻脈) và Dương Duy Mạch (Yangwei Mai, 陽維脈). Hai mạch Âm nối với nhau tại Hội Âm (Huiyin), nơi chúng gặp hai mạch Âm kia là Nhâm Mạch và Xung Mạch. Vùng đáy chậu được gọi là Hội Âm, cái cổng nối liền cả bốn mạch Âm trong cơ thể. Khi cổng này mở, Khí được biểu hiện, và khi nó đóng, Khí được bảo tồn. Chẳng hạn, khi bạn vui vẻ và phấn khích, thở ra dài hơn thở vào, và cơ thể chuyển sang Dương, điều này đưa Dương dư thừa vào các cơ quan nội tạng, đặc biệt là tim. Rồi bạn tự động cân bằng nó bằng cách phát ra âm “Ha” trong khi đẩy đáy chậu ra ngoài. Ngược lại, khi bạn buồn bã hay sợ hãi, thở vào dài hơn thở ra và bạn cảm thấy lạnh. Để bảo tồn Khí, bạn tự động nâng đáy chậu lên để đóng cái cổng lại. Dùng đáy chậu để kiểm soát Khí trong cơ thể là một trong những chìa khóa ẩn giấu trong thực hành Khí công.
Minh Họa Hai Cực Âm Dương Của Thân Thể
Ở đây chúng ta so sánh biểu tượng Âm Dương Thái Cực của tự nhiên với cấu trúc năng lượng Âm Dương của cơ thể, để khám phá những sự tương ứng giữa chúng. Vì thân thể ta là một phần của tự nhiên, ta có thể diễn giải sự biểu hiện Khí của nó bằng cách dùng biểu tượng Âm Dương (Hình 6-6).
1. Hướng tuần hoàn của Khí dọc theo Nhâm Mạch và Đốc Mạch ngược với chu kỳ Âm Dương tự nhiên, do đó Âm và Dương trong cơ thể có thể được cân bằng bởi Âm và Dương của tự nhiên.
2. Thần được xem là Dương, và thuật ngữ Dương Thần (Yang Shen, 陽神) thường được dùng trong các tài liệu Khí công Trung Hoa. Thần là vị tướng cai quản sự biểu hiện của Khí. Khi Thần cao, Khí được kiểm soát và biểu hiện có hiệu quả. Một khi bạn nâng Thần lên mức cao, sinh lực của bạn được tăng cường. Thông thường, Thần được nâng lên qua Bách Hội (Baihui, 百會), nơi thuộc cực Dương ở đỉnh của biểu tượng Âm Dương. Bách Hội nghĩa là “trăm cuộc hội ngộ”, nơi hội tụ của mọi Khí trong cơ thể. Đó là điểm then chốt cai quản toàn bộ năng lượng của cơ thể, nơi thuộc Dương nhất trong thân.
3. Hội Âm là nơi thuộc Âm nhất trong cơ thể. Nó đôi khi được gọi là Hải Để (Haidi, 海底) — đáy biển — vì Khí giống như nước, với ruột già đóng vai trò đại dương tàng trữ nó. Chừng nào Khí còn ở lại đây, thân thể tĩnh lặng và bình an, nhưng khi nó bị tiêu hao qua sự biểu hiện, tâm và thân trở nên phấn khích và Thần phân tán. Hãy giữ bình tĩnh bằng cách hít vào sâu và dẫn Khí xuống bụng, rồi thở ra trong khi thư giãn. Bằng cách này, căng thẳng tiêu tan và huyết áp hạ xuống.
4. Âm và Dương của cơ thể được nối liền bởi Xung Mạch. Trung tâm Âm của Thần tại Miên Hoàn Cung (Ni Wan Gong, 泥丸宮) kiểm soát, cai quản và kìm chế sự biểu hiện của Dương Thần. Nếu Thần ở lại đây, nó sẽ được tập trung và định trung tâm. Để đưa Thần tới trung tâm Âm này, trước tiên hãy làm tĩnh cái tâm, và tránh sự xao động tình cảm cùng dục vọng.
5. Hạ Đan điền Chân sản sinh Khí và tàng trữ nó, cung cấp cho cơ thể và não bộ. Thượng Đan điền kiểm soát phẩm chất của Khí. Cùng với Đới Mạch (mạch cực Dương) và Xung Mạch (mạch cực Âm), nó tạo thành một tam giác tu dưỡng tinh thần (Hình 6-7). Vệ Khí càng nhiều, Thần càng có thể được nâng cao. Đáy của tam giác đại diện cho đời sống vật chất, trong khi đường trung tâm đại diện cho đời sống tinh thần.
Sự Tương Tác Của Âm và Dương (Long Hổ Giao Cấu)
Hãy giữ Thần và Khí của bạn tại các trung tâm của chúng để đạt tới Bão Nhất (抱一). Đây là hai cực của cùng một sự sống, đồng bộ hóa và tương ứng với nhau. Về mặt vật lý chúng là hai, nhưng về mặt chức năng chúng là một. Một cái dành cho đời sống vật chất, cái kia dành cho đời sống tinh thần, nhưng chúng không thể tách rời.
Định nghĩa thứ nhất của Thai Tức là hiệp nhất Thần và Khí tại Hạ Đan điền Chân, để trở về nguồn của sự sống. Tại đây, sự sống được khởi sự và phát triển.
Đối với nhiều Đạo sĩ, mục tiêu thứ nhất của Thai Tức là tìm ra trung tâm này để hiệp nhất Thần và Khí (Hình 6-8). Vì mục tiêu của sự thực hành này là trở về trung tâm Vô Cực, tôi gọi nó là Hơi Thở Vô Cực (Wuji Xi, 無極息).
Định nghĩa thứ hai của Thai Tức là thụ thai một Thần Thai (Shen Tai, 聖胎) tại Hoàng Đình. Tập trung Ý (Yi, 意) — cái tâm trí tuệ — dẫn Hỏa Khí (Ly) từ Trung Đan điền xuống và Thủy Khí (Khảm) từ Hạ Đan điền Chân lên để gặp nhau tại Hoàng Đình (黃庭) (Hình 6-9). Sự tương tác của Âm và Dương này được gọi là long hổ giao cấu (龍虎交媾), hay Khảm và Ly (坎離). Sau đó, bạn dẫn Thần từ Thượng Đan điền xuống để hiệp nhất với Khí và thụ thai Thần Thai.
Tóm Tắt
1. Toàn Thư về Những Nội Dung Chính của Đời Người và Tính Tình — Về Đại và Tiểu Đỉnh Lô nói:
“Hoàng Đình (黃庭) là cái đỉnh (tripod), Khí Huyệt (氣穴) là cái lò (furnace). Hoàng Đình ở ngay trên Khí Huyệt, liên thông với vô số lạc (絡). Đó là nơi hội tụ của hàng trăm mạch Khí trong cơ thể. Nguyên Khí (Yuan Qi, 元氣) dày đặc giữa hai khiếu này và được gọi là Tiểu Đỉnh Lô (Xiao Ding Lu, 小鼎爐). Nếu Càn (乾, não) là cái đỉnh và Khôn (坤, bụng) là cái lò, thì Ni Hoàn (泥丸, Thượng Đan điền) là cái đỉnh và Hạ Đan điền là cái lò. Đó được gọi là Đại Đỉnh Lô (Da Ding Lu, 大鼎爐).”
Tài liệu này giải thích biểu tượng Âm Dương lớn và biểu tượng Âm Dương nhỏ, cũng như mối liên hệ của chúng với cơ thể (Hình 6-10 và 6-11).
2. Trong Tiểu Đỉnh Lô (小鼎爐), bạn tìm kiếm trạng thái Vô Cực của Khảm và Ly. Rồi Thần Thai (聖胎) được thụ thai. Về sau, khi nó chín muồi, nó được dẫn lên để tu dưỡng sự khai ngộ tâm linh.
3. Trong Đại Đỉnh Lô (大鼎爐), bạn tìm kiếm trạng thái Vô Cực của bản thể nguyên thủy của mình, đưa sự sống trở về nguồn gốc tối sơ của nó. Đưa Thần xuống Hạ Đan điền Chân để hiệp nhất với Khí.
6-3 · Các Phương Pháp Của Thai Tức
Ở đây chúng ta bàn về sự thực hành Thai Tức. Trước tiên, tâm của bạn phải định vị được Thượng Đan điền và Hạ Đan điền Chân. Kế tiếp, bạn ngưng tụ tinh thần tới một mức độ tập trung cao hơn và sản sinh ra nhiều Khí dồi dào hơn. Rồi dẫn tinh thần và Khí về chỗ cư ngụ của chúng, và giữ chúng ở đó. Sau cùng, bạn hiệp nhất tinh thần và Khí tại Hạ Đan điền Chân.
Chúng ta bàn sơ lược về phương pháp Khảm và Ly của Khí và cách hiệp nhất nó với Thần tại Hoàng Đình (黃庭) để thụ thai Thần Thai. Phương pháp dẫn Khí lên để nuôi dưỡng não và Thần sẽ được bàn trong cuốn sách sắp xuất bản, Grand Circulation and Enlightenment Meditation (Đại Chu Thiên và Thiền Định Khai Ngộ).
Thời Gian Thực Hành
Những thời điểm tốt nhất để thực hành là lúc bình minh, giữa trưa, hoàng hôn và nửa đêm, nhưng điều này không dễ đạt được. Tôi khuyên nên thực hành vào lúc bình minh và ngay trước khi bạn đi ngủ. Nếu thời gian biểu của bạn cho phép bạn chợp mắt buổi chiều, hãy dùng thời gian đó để thực hành Thai Tức. Cơ thể bạn thuộc Dương nhiều nhất vào đầu giờ chiều, và Thai Tức tàng trữ Khí dư thừa vào bên trong.
Khi tâm và thân của bạn rất tĩnh lặng và thư giãn, bạn có thể để cho mình chìm vào giấc ngủ. Thai Tức không giống với các phương pháp thiền Nội Đan khác, trong đó bạn dẫn Khí. Trong Nội Đan, bạn không nên ngủ thiếp đi vì Khí sẽ đi vào đường lầm. Tuy nhiên, trong Thai Tức, tâm của bạn không dẫn Khí, nên việc ngủ thiếp đi sẽ không gây ra vấn đề gì.
Bạn không nên bị bó buộc vào những thời gian được gợi ý. Một khi đã thấu triệt Thai Tức, bạn có thể thực hành bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.
Hướng Thực Hành
Thai Tức tận dụng Khí của tự nhiên, đáng kể nhất là Khí của mặt trời, mặt trăng và trái đất. Vì vậy hãy định hướng việc thiền định của bạn cho phù hợp (Bảng 6-1). Để có phần trình bày chi tiết, xin tham khảo cuốn The Root of Chinese Qigong (Cội Nguồn Khí Công Trung Hoa) của YMAA.
| Thời điểm | Mục đích | Hướng | Nguồn Khí tự nhiên |
|---|---|---|---|
| Bình minh | Nuôi dưỡng | Hướng đông | Mặt trời |
| Bình minh | Thoái* | Hướng tây | Mặt trời |
| Giữa trưa | Làm dịu xuống | Bất cứ hướng nào | —— |
| Hoàng hôn | Ngăn chặn thoái | Hướng đông | Mặt trời |
| Hoàng hôn | Thoái | Hướng tây | Mặt trời |
| Ban đêm** | Nuôi dưỡng | Hướng nam | Từ trường của trái đất |
| Ban đêm | Thoái | Hướng bắc | Từ trường của trái đất |
Bảng 6-1. Hướng và thời gian thiền định.
- “Thoái” nghĩa là rút bớt một phần Khí ra khỏi cơ thể để làm nó Âm hơn.
** Để hấp thu Khí từ mặt trăng, hãy thiền định từ hai đến ba ngày trước khi trăng tròn, hướng mặt về phía mặt trăng. Không nên thực hành sau khi trăng tròn, vì khi ấy mặt trăng sẽ rút Khí của bạn.
Nhận Biết Trung Tâm Âm Của Thượng Đan Điền và Trung Tâm Dương Của Hạ Đan Điền Chân
Bước thứ nhất là nhận biết trung tâm Âm của Thượng Đan Điền (Âm Thần, Yin Shen) và trung tâm Dương của Hạ Đan Điền Chân (Dương Tuyền, Yang Quan) (Hình 6-6). Cách duy nhất để định vị hai trung tâm này là thông qua cảm nhận bên trong.
Thượng Đan Điền (Shang Dan Tian, 上丹田) nằm tại trung tâm của Thần Cốc (神谷), nơi có tuyến tùng và tuyến yên. Đây là Miên Hoàn Cung (泥丸宮), nơi cư ngụ tinh thần trung tâm (Thần Thất, Shen Shi, tức Thượng Đan Điền). Nó nằm ở nơi đường nối hai đỉnh tai gặp đường nối từ Ấn Đường (Yintang, M-HN-3) tới Cường Gian (Qiangjian, Đốc-18). Âm Thần ở tại trung tâm của Đan điền, và có phẩm chất cảm giác khác với phần còn lại của chính Đan điền. Để nhận biết điểm này thông qua cảm giác, hãy thoát khỏi sự xao động tình cảm và sự hấp dẫn bên ngoài, để tâm bạn được trong sáng. Hãy thành thực tìm kiếm vị trí ấy, và bạn sẽ sớm tìm thấy nó.
Dương Tuyền là trung tâm Dương của Hạ Đan Điền Chân (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田), nơi có ruột già và ruột non tọa lạc, cách trung tâm trọng lực vài phân về phía trên. Toàn bộ hệ tiêu hóa cấu thành Hạ Đan Điền Chân. Nếu bạn tìm được trung tâm của nó, bạn có thể giữ Khí ở đó, tàng trữ nó tới mức dồi dào. Nó nằm phía sau Âm Giao (Yinjiao, Nhâm-7) và phía trước Thập Thất Chùy Hạ (M-BW-25) bên dưới đốt sống thứ 17, tại trung tâm giữa hai khiếu này. Hãy tìm kiếm điểm này thông qua cảm giác khi bạn thiền định, và bạn sẽ tìm thấy nó trong một thời gian ngắn.
Ngưng Tụ Thần và Khí Vào Các Trung Tâm Của Chúng
(Điều tâm — Điều Thần — Điều Khí)
Sau khi đã định vị trung tâm Âm của Thượng Đan Điền, bạn nâng tinh thần lên và giữ nó ở đó. Hãy làm tĩnh cái tâm tình cảm (Tâm, Xin) của bạn, cắt đứt những xao lãng bên ngoài và những sự hấp dẫn vật chất của dục vọng và tham vọng. Tập trung tâm trí bạn vào việc nâng cao tinh thần, và ngưng tụ nó tại trung tâm tinh thần Âm. Bất cứ khi nào gặp khó khăn trong việc này, chỉ cần tập trung vào hơi thở của bạn. Giữ cho hơi thở vào mềm mại, dài và mảnh mai. Thở ra một cách tự nhiên và để khí carbonic tự được giải phóng. Bằng cách này, bạn ổn định và làm tĩnh tâm mình. Tập trung tinh thần của bạn vào trung tâm tinh thần Âm. Bằng cách này, Dương Thần (陽神) — sự biểu hiện của Khí bởi tinh thần — được đưa vào vòng kiểm soát. Một mặt, bạn nhắm tới việc nâng tinh thần mình lên mức cao, nhưng mặt khác, bạn cần đưa nó vào sự kiểm soát của Âm Thần.
Để ngưng tụ Thần tại trung tâm tinh thần Âm này, chỉ cần tưởng tượng đầu của bạn như một quả bóng, với Miên Hoàn Cung (泥丸宮) làm tâm của nó. Hít vào sâu, nhẹ nhàng và mảnh mai, sử dụng Hơi Thở Bụng Đảo Nghịch (Ni Fu Hu Xi, 逆腹呼吸) trong khi khẽ nâng Hội Âm lên. Tưởng tượng quả bóng co lại và ngưng tụ hướng vào trong, về phía Miên Hoàn Cung. Khi bạn thở ra, thư giãn, và để vùng bụng và Hội Âm trở về trạng thái bình thường của chúng. Như vậy bạn chú ý nhiều hơn đến hơi thở vào, và Ý của hơi thở vào mạnh mẽ, điều này dẫn Thần và Khí vào trong để ngưng tụ tại các trung tâm của chúng.
Cải Tạo Bình Điện Sinh Học (Hạ Đan Điền Chân)
Để tàng trữ Khí dồi dào tại Hạ Đan Điền Chân, trước hết phải cải tạo nó một cách rộng rãi để cải thiện đáng kể dung lượng tàng trữ. Bạn không thể mong đợi một dung lượng Khí phi thường từ một bình điện sinh học tầm thường.
Cổ thư về Khí công Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh (Yi Jin Jing; Xi Sui Jing, 易筋經 · 洗髓經) mô tả cách hiệu quả nhất để cải tạo bình điện sinh học này (cả Hạ Đan Điền Giả và Hạ Đan Điền Chân), cụ thể là thông qua mát-xa và kích thích. Mát-xa loại bỏ mỡ ẩn giấu bên trong, nhờ đó sự tuần hoàn được trơn tru, còn kích thích thì huấn luyện các dây thần kinh để tàng trữ một lượng Khí đáng kể tại đó. Quá trình cải tạo này dài lâu và gian khổ, và bạn cần nắm rõ lý luận của nó. Không thể giải thích tất cả ở đây, nhưng nó được mô tả chi tiết trong cuốn sách Qigong—The Secret of Youth (Khí Công — Bí Mật Của Tuổi Thanh Xuân).
A. Cải tạo hệ thần kinh của bạn. Việc cải tạo bình điện sinh học đòi hỏi kích thích hệ thần kinh vùng bụng, bằng cách dùng hơi thở bụng và mát-xa. Khi đủ năng lượng được tàng trữ ở đó, nó khuấy động hệ thần kinh, mà thoạt tiên có thể chỉ đơn giản là cảm thấy ấm. Sau khi được kích thích rộng rãi, các dây thần kinh đạt tới ngưỡng dung nạp của chúng, và các cơ bắp tự giật và rung lên. Không thể tàng trữ thêm Khí nữa, mà Khí sẽ chỉ phân tán đi. Tốt nhất là nên bắt đầu tập cải tạo bằng mát-xa. Các phương pháp thích hợp được mô tả trong Qigong—The Secret of Youth.
B. Cải thiện phẩm chất của cấu trúc vật liệu của bình điện sinh học. Cấu trúc của vùng bụng và ruột có phẩm chất càng cao, thì điều kiện để tàng trữ Khí dồi dào càng tốt. Có hai cách để đạt mục tiêu này. Một là thông qua mát-xa như đã mô tả ở phần trước. Cách thứ hai là đập vùng đó bằng những dụng cụ đặc biệt. Lực tác động đi sâu hơn và kích thích toàn bộ hệ thống, làm thay đổi về phẩm chất vùng đó. Đương nhiên bạn phải kiên nhẫn, sử dụng kỹ thuật đúng để tránh chấn thương.
C. Giảm độ dày của mỡ (chất cách điện). Để tăng điện tích của một bình điện, lớp cách điện giữa vùng dẫn điện phải mỏng, nhưng phải có khả năng cách điện cao. Mỡ và mạc đóng vai trò chất cách điện trong cơ thể, kẹp giữa những chất dẫn điện tốt (cơ bắp). Để tàng trữ nhiều Khí hơn tại Hạ Đan Điền Chân, bạn cần giảm độ dày của mỡ và cải thiện khả năng cách điện của mạc. Điều này được thực hiện thông qua mát-xa và đập, cũng như thông qua các bài tập vùng bụng. Những phương pháp tập luyện đúng đắn làm giảm mỡ và cải tạo mạc một cách hiệu quả.
Gia Tăng Số Lượng Khí
Sau khi đã cải tạo bình điện sinh học của mình, bạn cần Khí có phẩm chất cao để tàng trữ trong đó. Có ba cách để gia tăng số lượng Khí trong cơ thể:
A. Các lò Khí. Khoảng hai phân dưới rốn là một vùng mà trong giới y học gọi là Khí Hải (Qihai, Nhâm-6) — biển Khí. Trong giới Đạo gia, nó được gọi là Đan Lô (Dan Lu, 丹爐) (lò luyện đan) hay Đan Điền (丹田) (cánh đồng đan), nơi sản sinh Khí. Hãy cử động vùng bụng trong hơi thở bụng, tạo điều kiện cho việc chuyển hóa mỡ thành Khí.
B. Dược thảo. Những chế độ ăn khác nhau ảnh hưởng đến Khí của cơ thể, và y học Trung Hoa sử dụng dược thảo một cách rộng rãi, một số trong đó làm gia tăng Khí của cơ thể. Những toa thuốc thích hợp được liệt kê trong Qigong—The Secret of Youth, mặc dù một số thành phần khó tìm, không được dùng phổ biến. Tôi khuyên bạn nên tham khảo một thầy thuốc Trung Hoa có chuyên môn, vì những toa thuốc này đã được truyền lại hơn một ngàn năm trăm năm, và độ chính xác của chúng còn đáng nghi ngờ. Hãy hết sức thận trọng khi sử dụng chúng.
Các toa thuốc dược thảo được truyền lại qua hơn mười lăm thế kỷ, nên độ chính xác của chúng còn đáng ngờ. Hãy hết sức thận trọng khi dùng đến, và nên tham khảo một thầy thuốc Trung Hoa có chuyên môn.
C. Gia tăng sự sản xuất hóc-môn. Hóc-môn được gọi là Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精) trong Khí công Trung Hoa. Chúng đóng vai trò chất xúc tác để tạo điều kiện cho các phản ứng hóa sinh trong sự trao đổi chất của cơ thể. Khi hóc-môn dồi dào, Khí từ phản ứng hóa sinh được tăng cường. Liệu pháp hóc-môn có thể kéo dài tuổi thọ của chúng ta một cách đáng kể. Thực hành Khí công nhắm vào tuyến thượng thận, tuyến sinh dục, và tuyến yên cùng tuyến tùng.
a. Tuyến thượng thận (Thận). Tuyến thượng thận nằm vừa vặn như những cái chén nhỏ trên đỉnh của hai quả thận. Mỗi tuyến được chia thành hai phần, vỏ (phần ngoài) và tủy (phần trung tâm). Vỏ và tủy sản xuất những hóc-môn khác nhau. Vỏ tuyến, tuyệt đối cần thiết cho sự sống, tiết ra khoảng ba mươi hóc-môn và điều tiết nhiều quá trình trao đổi chất. Tủy tuyến sản xuất hóc-môn epinephrine, thường được gọi là adrenaline.
Có ba cách để kích thích sự sản xuất hóc-môn:
i. Mát-xa. Bao gồm xoa tròn và vỗ nhẹ lên hai quả thận. Xin tham khảo cuốn sách của YMAA, Qigong Massage (Mát-xa Khí Công).
ii. Cử động cột sống. Sự cử động đúng đắn của lưng dưới và cột sống mát-xa hai quả thận, duy trì sức khỏe và kích thích sự sản xuất hóc-môn. Xin tham khảo cuốn sách của YMAA, Back Pain Relief (Giảm Đau Lưng).
iii. Hơi thở bụng sâu. Điều này hạ thấp cơ hoành và tiếp cận tuyến thượng thận, tăng cường sự sản xuất hóc-môn.
b. Tinh hoàn hay buồng trứng (Tuyến sinh dục). Tinh hoàn sản xuất hóc-môn nam testosterone, trong khi buồng trứng sản xuất estrogen và progesterone. Khi những hóc-môn này đầy đủ, sinh lực mạnh mẽ và hoạt động sung mãn. Có hai cách để kích thích sự sản xuất.
i. Mát-xa. Các kỹ thuật truyền thống dành cho nam giới được mô tả trong Qigong—The Secret of Youth. Mát-xa buồng trứng khó hơn, và cách thông thường nhất là xoa tròn và xoa nhẹ chúng bằng hai lòng bàn tay.
ii. Hơi thở tinh hoàn hay buồng trứng. Dẫn Khí tới các tuyến sinh dục, phối hợp với hơi thở bụng, để kích thích sự sản xuất hóc-môn. Hoặc cũng có thể dùng hoạt động tình dục trong tưởng tượng, nhưng điều này có thể đưa bạn vào lãnh vực của ảo ảnh, và tôi không khuyên dùng.
c. Tuyến yên và tuyến tùng. Những tuyến này nằm tại Miên Hoàn Cung (泥丸宮), nơi tinh thần cư ngụ. Vùng này có thể nâng cao tinh thần của bạn và gia tăng tuổi thọ của bạn.
Tuyến yên sản xuất hóc-môn tăng trưởng và kích thích, điều tiết, phối hợp các chức năng của những tuyến nội tiết khác. Vì lý do đó, nó được gọi là tuyến chủ. Các nhà khoa học biết rất ít về chức năng của tuyến tùng. Nó sản xuất melatonin và liên quan đến đồng hồ thời gian của cơ thể.
i. Mát-xa. Miên Hoàn Cung được nối với xương cùng thông qua tủy sống và với lòng bàn chân thông qua hai mạch Âm (Âm Kiều Mạch và Âm Duy Mạch). Khi xương cùng hay lòng bàn chân được mát-xa, sự sản xuất hóc-môn của tuyến yên và tuyến tùng được kích thích.
ii. Thực hành Khí công Tẩy Tủy. Dẫn Khí đi lên qua tủy sống để nuôi dưỡng não bộ xung quanh Miên Hoàn Cung, bằng cách sử dụng Thai Tức.
Tàng Trữ Khí Cho Dồi Đào — Thai Tức (Hơi Thở Khiếu, Hơi Thở Vô Cực)
Những kỹ thuật này giúp bạn sản sinh ra nhiều Khí hơn. Bạn cần tàng trữ nó tại Hạ Đan Điền Chân, bằng không nó sẽ chảy ra ngoài và bị tiêu hao trong sự biểu hiện.
Hãy giữ tâm của bạn tại Hạ Đan Điền Chân, rồi Khí sẽ không bị dẫn ra khỏi chỗ cư ngụ của nó. Cử động rốn (Âm Giao) và lưng dưới cùng một lúc. Rốn được gọi là Sinh Môn (Sheng Men, 生門), cửa của sự sống. Lưng dưới được gọi là Bế Hộ (Bi Hu, 閉戶), cánh cửa đóng kín, hay khiếu Mệnh Môn (Mingmen, Đốc-4) nằm giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 (Hình 6-12).
Thông qua sự cử động đồng bộ của phía trước và phía sau, bạn có thể dễ dàng định vị trung tâm Thủy Dương. Ban đầu, tâm bạn tập trung vào cả trước lẫn sau. Nhưng về sau, khi bạn đạt tới giai đoạn điều mà không điều, tâm sẽ tự tìm thấy trung tâm. Bí Quyết Của Việc Bão Nhất Và Hàm Tam nói:
“Giữa hai quả thận là cội rễ, được gọi là nền tảng đan dược của dược thảo tổ tiên.”
Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của khiếu Mệnh Môn, nằm giữa hai quả thận nội tạng.
Khi bạn đồng bộ hóa việc cử động hai cánh cửa lên và xuống, Khí dư thừa được sản sinh ở cả hai nơi. Cũng hãy phối hợp với sự cử động của Hội Âm. Chẳng bao lâu, bạn sẽ cảm thấy Khí ở Đới Mạch tỏa rộng và co lại (Hình 6-13).
Những cử động này kích thích các tuyến và tăng cường sự sản xuất hóc-môn insulin tại các đảo Langerhans trong tuyến tụy; DHEA (dehydroepiandrosterone) tại tuyến thượng thận, và testosterone (nam), hay estrogen cùng progesterone (nữ), tại các tuyến sinh dục.
Ngoài việc tập trung tâm bạn vào trung tâm Dương của Hạ Đan Điền Chân, cũng hãy tập trung nó vào trung tâm Âm của Thượng Đan Điền. Đây là Hai Cực của đường năng lượng trung tâm, và chúng tương ứng và đồng bộ với nhau. Chúng là hai khía cạnh của cùng một sự vật và không thể tách rời. Thần và Khí giống như con và mẹ, không thể tách rời khi bạn thực hành Thai Tức.
Khi tâm tập trung tại trung tâm Âm của Thượng Đan Điền, sự sản xuất melatonin (tuyến tùng) và hóc-môn tăng trưởng (tuyến yên) cũng được tăng cường. Những hóc-môn này làm trơn tru các phản ứng hóa sinh, và điều tiết cùng cải thiện sự trao đổi chất.
Giai đoạn cuối cùng của Thai Tức là đưa Thần xuống Hạ Đan Điền Chân, để hiệp nhất với Khí. Khí ở lại chỗ cư ngụ của nó và được tàng trữ tới một mức rất cao. Đây được gọi là sự hòa hợp của Thần và Khí (Shen Qi Xiang He, 神氣相合). Hai cực hiệp nhất và trở thành một, thể hiện trạng thái Vô Cực, sự khởi đầu của sự sống. Tôi gọi giai đoạn này là Hơi Thở Vô Cực (Wuji Xi, 無極息). Hãy dẫn Thần xuống Hạ Đan Điền Chân thông qua cái tâm được tập trung, phối hợp với hơi thở.
Hai Cách Dẫn Khí và Thần Xuống Hạ Đan Điền Chân
Có hai loại hơi thở cho phép bạn dẫn Khí và Thần tới Hạ Đan Điền Chân để đạt sự hiệp nhất có hiệu quả. Khi Khí được nâng lên não, Thần bị kích thích, và tâm trở nên tán loạn. Huyết áp và nhịp tim tăng lên khi sự biểu hiện của Khí được tăng cường. Nhưng khi Khí được dẫn xuống Hạ Đan Điền Chân, nó được tàng trữ và ở lại đó, và tâm được làm tĩnh và thư giãn. Cơ thể nguội đi và huyết áp hạ xuống. Thần cũng được dẫn xuống bởi cái tâm tĩnh lặng.
Cách của Phật giáo: Hít vào sâu, dùng tâm dẫn Khí đi xuống qua Xung Mạch tới Hạ Đan Điền Chân. Rồi thở ra, giữ tâm ở đó. Khi bạn hít vào, bụng phình ra, trong khi Hội Âm khẽ đẩy xuống. Khi bạn thở ra, thư giãn vùng bụng và Hội Âm, và để chúng tự nhiên trở về (Hình 6-14). Như vậy, rất nhiều Khí được dẫn xuống để ở lại chỗ cư ngụ của nó. Bạn càng thực hành nhiều, bạn càng có thể làm điều đó xảy ra nhanh hơn. Kỹ thuật của Phật giáo này được dùng để hạ huyết áp, làm dịu cái tâm bị kích động và cũng làm chậm nhịp tim. Nó thư giãn cả thân lẫn tâm một cách hiệu quả.
Cách của Đạo giáo: Hít vào để ngưng tụ Khí vào trung tâm trong khi bạn kéo bụng và Hội Âm vào trong. Vệ Khí (衛氣) co lại và tăng cường Khí Tủy (髓氣). Một khi Khí đã được dẫn tới Xung Mạch, thở ra sâu trong khi dẫn Khí đi xuống (Hình 6-15). Trong khi thở ra, đẩy bụng và Hội Âm của bạn ra một cách nhẹ nhàng, trong khi bạn tàng trữ Khí tại Hạ Đan Điền Chân. Kỹ thuật của Đạo giáo này làm nguội sự kích động của cơ thể một cách hiệu quả.
Hai cách tiếp cận được gợi ý:
1. Cách của Phật giáo trước, rồi đến cách của Đạo giáo: Điều này làm tĩnh tâm và Thần trước, rồi cái tâm đã được làm tĩnh dẫn Khí vào trong.
2. Cách của Đạo giáo trước, rồi đến cách của Phật giáo: Điều này dẫn Khí vào trong để làm dịu cơ thể xuống, rồi sau đó là tâm.
Mỗi cách đều có ưu điểm và nhược điểm, tùy thuộc vào sở thích cá nhân.
Hơi Thở Đới Mạch
Sau khi đã dẫn Khí xuống và tàng trữ nó bên trong Hạ Đan Điền Chân, bạn phải giữ tâm mình ở đó, bằng cách sử dụng hai phương pháp Thai Tức. Một phương pháp được xếp loại Dương, gọi là Hơi Thở Đới Mạch (Dai Mai Xi, 帶脈息), phương pháp kia được xếp loại Âm, gọi là Hơi Thở Tủy (Sui Xi, 髓息). Vì Khí được dẫn theo chiều ngang khi thực hành những kỹ thuật này, nên dùng Hơi Thở Bụng Đảo Nghịch (hơi thở của Đạo giáo) thay vì Hơi Thở Bụng Thuận (hơi thở của Phật giáo) là hiệu quả nhất.
Trong hình thức này, bạn tập trung mạnh vào hơi thở ra. Khi bạn thở ra, hơi thở dài và mảnh mai, và dẫn Khí một cách vững chắc từ Đới Mạch tỏa ra ngoài. Bạn khẽ đẩy bụng ra và Hội Âm xuống (Hình 6-16). Tâm dẫn Khí tỏa ra theo chiều ngang, vài bộ thậm chí vài thước.
Cơ thể trở nên Dương hơn và Vệ Khí của nó tỏa rộng. Để tăng cường sự tỏa rộng của Khí, một khi bạn đã thở ra hoàn toàn, hãy nín thở trong vài giây, và để Khí tới bất cứ nơi nào mà tâm mong muốn. Để đạt hiệu quả lớn hơn nữa, cũng hãy phát ra âm “Ha” trong khi thở ra. Khi bạn hít vào, thư giãn, và để vùng bụng và Hội Âm trở lại bình thường.
Sự biểu hiện của Khí trong Đới Mạch thuộc Dương và làm cho thân và tâm của bạn trở nên Dương. Sự biểu hiện của Khí trong Xung Mạch thuộc Âm và làm dịu thân và tâm của bạn xuống. Dùng Hơi Thở Đới Mạch, bạn có thể chuyển Khí của cơ thể từ Âm sang Dương. Điều đó củng cố Vệ Khí của bạn và trừ bỏ cho bạn cảm giác lạnh. Nó thích hợp cho mùa đông hay khi bạn bị suy nhược. Đương nhiên, nó tiêu hao Khí của bạn.
Hơi Thở Tủy
Ở đây bạn tập trung mạnh vào hơi thở vào. Khi bạn hít vào, hơi thở dài và mảnh mai và dẫn Khí một cách vững chắc từ Đới Mạch vào trong, trong khi bạn kéo bụng vào và nâng Hội Âm lên (Hình 6-17). Tâm tiếp tục dẫn Khí vào trong cho tới khi nó đạt tới trung tâm Âm của Hạ Đan Điền Chân. Cơ thể trở nên Âm hơn, và Vệ Khí co lại. Để dẫn Khí vào trong có hiệu quả hơn và giữ nó tại Hạ Đan Điền Chân, một khi bạn đã hít vào hoàn toàn, hãy nín thở trong vài giây, và để Khí đạt tới trung tâm Dương bên trong cái Âm. Khi bạn thở ra, thư giãn, và để vùng bụng và vùng Hội Âm trở lại bình thường.
Bạn đang tàng trữ Khí tại Hạ Đan Điền Chân và cũng đang dẫn nó vào tủy xương để thực hiện việc tẩy tủy. Vệ Khí của bạn co lại, làm suy yếu sức chống chọi của bạn với cái lạnh, vì vậy bạn không nên thực hành điều này vào mùa đông. Thay vào đó, hãy bắt đầu vào mùa xuân và tăng cường việc thực hành trong mùa hè. Khi mùa thu tới, hãy chuyển sang Hơi Thở Đới Mạch để củng cố Vệ Khí của bạn chuẩn bị cho mùa đông.
Thụ Thai Thần Thai — Sự Khởi Đầu Của Khai Ngộ
Đây là một mô tả ngắn gọn về phương pháp thụ thai Thần Thai (Shen Tai, 聖胎) và dẫn nó lên Thượng Đan điền để được sinh ra (khai ngộ). Xin cũng tham khảo cuốn sách sắp xuất bản về Spiritual Enlightenment Meditation.
Hãy dẫn Hỏa Khí (Huo Qi, 火氣 — Hậu Thiên Khí) từ Trung Đan Điền (Zhong Dan Tian, 中丹田) xuống và Thủy Khí (Shui Qi, 水氣 — Tiên Thiên Khí) từ Hạ Đan Điền Chân lên để gặp nhau tại Hoàng Đình (黃庭), khoảng không bên trong nằm giữa cơ hoành và Hạ Đan Điền Chân. Đây được gọi là Khảm và Ly. Khí Âm và Khí Dương tương tác với nhau, và Thần Thai (sự sống) được thụ thai trong sự hiện diện của Thần, mà cũng đã được dẫn xuống để gặp Khí tại Hoàng Đình.
Tóm Tắt Về Thai Tức
- Hơi Thở Bụng Đảo Nghịch có hiệu quả hơn.
- Nếu hít vào và thở ra có độ dài bằng nhau, cơ thể giữ ở trạng thái trung tính.
- Nếu thở ra dài hơn hít vào, đó là Hơi Thở Đới Mạch. Khí tỏa rộng theo chiều ngang để xây dựng Vệ Khí. Nó cũng được gọi là Hơi Thở Da (Fu Xi) hay Hơi Thở Thân Thể (Ti Xi). Tinh thần được nâng lên và cơ thể được nạp năng lượng. Bạn không nên thực hành điều này quá nhiều vào mùa hè, hay khi cơ thể bạn đã được nạp năng lượng, vì nó có thể làm cơ thể bạn quá Dương và trở nên có hại. Bạn nên thực hành nó vào mùa đông, để Vệ Khí có thể tỏa rộng chống lại cái lạnh.
- Nếu hít vào dài hơn thở ra, đó là Hơi Thở Vô Cực. Khí được dẫn tới Hạ Đan Điền Chân và được tàng trữ ở đó, nạp điện cho bình điện sinh học. Bạn không nên thực hành điều này vào mùa thu hay mùa đông, khi bạn cần Vệ Khí mạnh hơn để chống lại cái lạnh. Hãy thực hành nó vào mùa hè và tàng trữ Khí dư thừa.
6-4 · Âm Dương Của Hơi Thở
| Hơi thở | Âm / Dương | Kiểu thực hành | Hướng |
|---|---|---|---|
| Thở ra | Ngắn (Dương) | Âm “Ha” ngắn | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
| Thở ra | Dài (Âm) | Âm “Ha” dài | Phải (Hỏa) · Sau (Mộc) · Trái (Thủy) |
| Hít vào | Ngắn (Dương) | Âm “Hen” ngắn | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
| Hít vào | Dài (Âm) | Âm “Hen” dài | Phải (Hỏa) · Sau (Mộc) · Trái (Thủy) |
| Thở ra dài (Dương) | Đảo Nghịch | Hơi Thở Đới Mạch | Phải (Hỏa) · Sau (Mộc) · Trái (Thủy) |
| Hít vào dài (Âm) | Đảo Nghịch | Hơi Thở Vô Cực | Phải (Hỏa) · Sau (Mộc) · Trái (Thủy) |
| Thở ra ngắn (Dương) | Thuận (Âm) | Âm “Ha” ngắn | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
| Thở ra dài (Âm) | Thuận (Âm) | Âm “Ha” dài | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
| Hít vào ngắn (Dương) | Thuận (Âm) | Âm “Hen” ngắn | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
| Thở ra dài (Âm) | Thuận (Âm) | Âm “Hen” dài | Phải (Hỏa) · Trước (Kim) · Trái (Thủy) |
Bảng 6-2. Âm Dương của hơi thở. Các cột của bảng gốc trình bày mối tương quan giữa hơi thở đảo nghịch (Dương) và hơi thở thuận (Âm), giữa Thai Tức, Hơi Thở Đan Điền, và trạng thái Trung Dung (Thổ), cùng với các hướng phải (Hỏa), trước (Kim), sau (Mộc) và trái (Thủy).
6-5 · Tham Khảo
6. “Animal Magnetism, The Strange Senses of Other Species,” trang 32, IEEE Spectrum, tháng 3 năm 1996.
Những Điểm Quan Trọng Trong Thiền Định
7-1 · Dẫn Nhập
Từ những chương trước, bạn đã có một bản đồ vững chắc về cách thực hành Tiểu Chu Thiên mà không còn nghi ngờ và bối rối. Điều này có thể tiết kiệm cho bạn nhiều năm tìm kiếm con đường đúng đắn. Bằng cách chuẩn bị cho cuộc hành trình của bạn cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, bạn trải sẵn một con đường bằng phẳng cho cuộc viễn chinh của mình. Trước một chuyến đi dài, trước tiên hãy kiểm tra nhớt, bản đồ, đèn pin, lốp dự phòng, bản tin thời tiết, và hộp cứu thương của bạn, để loại trừ những chướng ngại có thể ngăn cản bạn hoàn tất chuyến đi.
Bước thứ nhất là chuẩn bị tâm lý. Bạn có tin vào lý luận này không? Bạn có tự tin rằng mình có thể hoàn tất sự thực hành đến tận cùng không? Bạn có thể đối phó với những chướng ngại mà bạn sẽ gặp phải không? Quan trọng nhất trong mọi điều, bạn có nhận ra lý do tại sao mình muốn thực hành không? Bạn chỉ nhắm tới một cái tâm bình an, hay nhắm tới sự khai ngộ tối hậu? Bạn nên tự kiểm tra mình trước. Hãy ngồi yên lặng, giữ cho tâm mình tĩnh lặng và trong sáng trong ba mươi phút mỗi ngày, suốt một tháng, và xem bạn đối phó ra sao. Điều này không dễ, và thách thức lớn nhất của bạn là đối phó với cái tâm của mình, mà đồng thời lại là yếu tố quan trọng nhất dẫn tới thành công. Nếu không có một cái tâm trong sáng, tĩnh lặng và tập trung, bạn không thể dẫn Khí, cũng không thể hoàn tất sự tu luyện. Cũng có những sự chuẩn bị quan trọng về mặt thể chất để thiết lập một cái tâm bình an và làm cho sự thực hành tiến triển trôi chảy.
Ở đây chúng ta bàn về một số sự chuẩn bị quan trọng, chẳng hạn như sự lựa chọn địa điểm, thời điểm thiền định và hướng thiền định, những trải nghiệm thường gặp mà người ta có thể gặp phải, và những lệch lạc có thể xảy ra cùng cách sửa chữa chúng. Hai mươi bốn quy tắc truyền thống của thiền định được ôn lại trong phần cuối.
7-2 · Sự Chuẩn Bị
Sự chuẩn bị có khía cạnh tinh thần và khía cạnh thể chất. Bạn có đang ép buộc mình phải thiền định không? Nếu vậy, có thể phải mất một thời gian dài mới tĩnh lại được. Hãy chuẩn bị tinh thần cho điều đó. Bạn có cái ngã hay những kỳ vọng không? Rất có thể bạn sẽ thất vọng. Khi bạn thiền định, bạn không thể thiết lập một thời gian biểu tiến bộ, bằng không bạn sẽ bị áp lực, và cái tâm sẽ cản trở toàn bộ quá trình. Tâm của bạn có bình an trước khi thiền định không? Bạn có bực bội hay phấn khích trước khi thiền định không? Vấn đề là phải làm tĩnh cái tâm trước khi bạn thiền định. Bạn nên thiền định chỉ để điều hòa tâm mình, nếu có bất cứ điều gì sẽ kích thích nó và dẫn nó ra khỏi sự tĩnh lặng và bình an. Đừng cố tuần hoàn Khí với một cái tâm đang bối rối.
Tắm
Bụi bặm và mồ hôi bịt kín các lỗ chân lông của bạn, làm bạn bứt rứt và không thoải mái. Tốt nhất là nên tắm vòi sen hoặc tắm bồn nửa tiếng trước khi bạn thiền định, để trợ giúp sự thư giãn thể chất. Sau đó, hãy để cơ thể bạn trở lại bình thường sau sự kích thích của nhiệt độ nước.
Ruột già
Hãy đi vệ sinh trước khi thiền định. Sự căng cứng trong vùng bụng và ruột ảnh hưởng tới dòng chảy của Khí tại Hạ Đan Điền Chân, và tâm của bạn sẽ bị tán loạn và bận tâm. Bạn không nên đi vệ sinh ngay sau khi thiền định, mà phải chờ ít nhất mười phút. Điều này cho cơ thể bạn thời gian để tiêu hóa Khí mà bạn đã xây dựng và tàng trữ trong Hạ Đan Điền Chân của mình, bằng không nó sẽ bị mất đi.
Y phục
Khi thực hành thiền Khí công, đừng mặc các sợi nhân tạo như polyester hay rayon. Những sản phẩm nhân tạo mới này chỉ mới được phát triển trong vài thập kỷ gần đây và cơ thể chúng ta chưa thích nghi với chúng, vì đã sử dụng những vật liệu tự nhiên qua hàng triệu năm. Các sợi nhân tạo sinh ra tĩnh điện, và điều này gây trở ngại cho sự tuần hoàn Khí bình thường. Nó giam hãm năng lượng của bạn, làm mờ sự phán đoán của bạn, và làm bạn cảm thấy bứt rứt và nóng nảy, suy nhược, hay phấn khích không lý do. Bạn có thể có một cảm giác tương tự trước khi trời mưa, với mây thấp và độ ẩm, và một điện trường mạnh giữa các đám mây và mặt đất. Cảm xúc của chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi trăng tròn, khi điện từ trường giữa mặt trăng và trái đất ở mức mạnh nhất.
Vì vậy hãy mặc những vật liệu tự nhiên như bông hay lụa. Hãy mặc quần áo rộng rãi, đặc biệt là quần, để có một cảm giác thoải mái, tự nhiên, và để giúp Khí lưu thông qua Hạ Đan Điền Chân. Điều này trợ giúp sự cảm nhận chính xác Khí của cơ thể bạn.
Giữ ấm
Trong thiền định sâu, bạn ở trong trạng thái bán ngủ. Cơ thể bạn thư giãn trong khi tâm bạn tỉnh táo, điều tiết sự tuần hoàn Khí. Nhịp tim của bạn chậm lại và hơi thở trở nên chậm hơn và sâu hơn. Cũng như trong giấc ngủ, hít vào dài hơn thở ra, điều này làm Vệ Khí (衛氣) co lại và hạ nhiệt độ da xuống. Bạn dễ bị cảm lạnh, vì vậy bạn nên giữ ấm và thoải mái. Hãy đắp chăn bằng sợi tự nhiên lên đầu gối và mắt cá chân của bạn. Trong sự thư giãn, các khớp mở ra, điều này cho phép hàn khí như gió hay hơi ẩm xâm nhập vào chúng. Điều này làm suy yếu hệ miễn dịch và có thể sinh ra chứng viêm khớp.
Gối thiền
Khi bạn thiền định, bạn nên chuẩn bị một cái gối thiền. Để ngăn Khí dư thừa xâm nhập vào hai chân, điều rất quan trọng là bạn phải bắt chéo chúng khi ngồi, điều này làm hẹp đường đi của Khí. Hãy bắt đầu với một cái gối cao khoảng sáu phân, làm bằng vật liệu tự nhiên như bông, ngồi trong ba mươi phút. Hãy điều chỉnh độ cao cho thoải mái, để bạn có thể ngồi được ba mươi phút, dùng nó trong khoảng một tuần lễ cho tới khi bạn hài lòng với độ cao đó. Hãy chú ý tới tư thế ngồi của bạn, vì tư thế sai cũng có thể sinh ra sự khó chịu.
Sàn nhà
Nền nhà nơi bạn thiền định rất quan trọng, và không nên quá cứng. Hãy ngồi trên một tấm chiếu để làm giảm áp lực lên hai chân.
Ánh sáng
Nếu có thể, hãy ngồi trong bóng tối. Ánh sáng không đều có thể ảnh hưởng đến sự phán đoán của bạn. Chẳng hạn, nếu ánh sáng bên phải bạn mạnh hơn bên trái, bạn sẽ cảm thấy năng lượng mạnh hơn ở đó. Điều này có thể làm lầm lạc cảm giác và sự phán đoán của bạn. Nếu bạn không thể ngồi trong bóng tối, hãy ngồi nơi ánh sáng được khuếch tán đều. Ngồi dưới ánh đèn huỳnh quang không phải là một ý hay, vì bức xạ điện từ mạnh của nó có thể ảnh hưởng đến năng lượng của cơ thể bạn.
Điện trường
Bạn nên ngồi xa bất cứ điện trường mạnh nào, chẳng hạn như một ổ cắm điện, đặc biệt là ổ đang được sử dụng. Hãy dùng một cái la bàn nhạy để tìm một chỗ tốt trong nhà, nơi kim la bàn thẳng hàng với từ trường của trái đất. Hoàn toàn không nên dùng chăn điện, vì điện từ trường mà nó tạo ra rất mạnh và gây hại cho sự tuần hoàn Khí, đặc biệt là ở tim của bạn.
Độ ẩm
Độ ẩm cũng có thể ảnh hưởng đến cái tâm tình cảm của bạn. Quá nhiều có thể làm bạn cảm thấy dính dáp và không thoải mái. Quá ít có thể làm tĩnh điện tích tụ xung quanh bạn. Độ ẩm thoải mái nhất để thiền định là vào khoảng 50–60%.
Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những mối quan tâm chính. Sự quá nóng hay quá lạnh đều có thể ảnh hưởng đến cảm giác của bạn trong thiền định. Tránh ngồi gần lò sưởi hay máy điều hòa không khí, vì chúng ảnh hưởng đáng kể đến nhiệt độ của bạn.
Tiếng ồn
Quan trọng nhất trong mọi điều trong lúc thiền định là ngăn chặn tiếng ồn. Tiếng ồn lớn bất thình lình có thể làm xáo động cái tâm đang thiền định của bạn và dẫn Khí vào đường lầm, điều này nguy hiểm và có hại. Trong thiền định, tâm và thân của bạn cực kỳ thư giãn, và bất cứ tiếng động nhỏ nào cũng có thể làm bạn xáo động, làm căng thẳng cả tâm lẫn thân. Nếu bạn đang dẫn sự tuần hoàn Khí, nó có thể bị dẫn vào đường lầm, làm tổn thương hệ thần kinh hay các cơ quan nội tạng của bạn. Hãy rút phích cắm điện thoại của bạn, tắt điện thoại di động, và đặt một tấm biển ở lối vào để người khác thấy. Hãy chắc chắn rằng đồng hồ báo thức đã tắt, và giữ tiếng ồn ra khỏi nơi thiền định của bạn.
7-3 · Nơi Thiền Định
Để thực hành Khí công sâu sắc, người ta cần bốn điều: tiền bạc, bạn đồng tu, kỹ pháp, và nơi chốn. Vì vậy một địa điểm thích hợp là quan trọng, không chỉ để có một cái tâm bình an cho sự tu dưỡng của bạn, mà còn để thu nhận Khí từ môi trường tự nhiên xung quanh. Việc chọn một vị trí tốt để sinh sống, để chôn cất người chết, và để thực hành Khí công là một nghề quan trọng được gọi là Phong Thủy (Feng Shui, 風水) — gió và nước.
Núi được xếp loại là hỏa (Ly, 離) và cung cấp Khí, trong khi nước (Khảm, 坎) làm dịu và làm mát Khí của bạn, đưa bạn tới một trạng thái tĩnh lặng và hài hòa. Để có Khí hài hòa, hãy sống cạnh nước, chẳng hạn như đại dương, sông ngòi, hay hồ. Tuy nhiên, để thu nhận nhiều Khí hơn nhằm nuôi dưỡng cơ thể bạn cho sự tuần hoàn Khí và thiền định khai ngộ, hãy tìm một ngọn núi thích hợp.
Trái đất nguội đi từ trạng thái lỏng, xoay về phía đông, vì vậy những vật liệu nặng hơn như kim loại có khuynh hướng tích tụ ở phía tây. Những dãy núi lớn ở Bắc và Nam Mỹ, cũng như ở Á châu, đều nằm về phía tây (Hình 7-1). Khí nói chung mạnh hơn ở vùng núi và hài hòa hơn gần biển.
Việc tìm ra nơi tốt nhất để tu dưỡng tinh thần đã là một thách thức lớn trong việc thiết lập các tự viện Phật giáo và Đạo giáo. Một vị trí thích hợp rút ngắn thời gian cần thiết để đạt tới mục tiêu cuối cùng của sự tu dưỡng.
7-4 · Thời Gian Tốt Nhất Để Thiền Định
Nói chung, bạn có thể thiền định bất cứ lúc nào. Nhưng vào những thời điểm đặc biệt, bạn hưởng lợi từ nó nhiều hơn, và sự tuần hoàn Khí sẽ hiệu quả hơn. Nếu bạn thiền định khi Khí tự nhiên đang chuyển từ Âm sang Dương và ngược lại, điều đó tăng cường thành tựu một cách đáng kể, vì Khí trong cơ thể bạn cũng đang thay đổi vào thời điểm này. Chúng ta già đi nhanh chóng và sinh bệnh do sự trao đổi Khí bất thường trong những giai đoạn này. Cuốn Toàn Thư về Những Nội Dung Chính Của Sinh Mệnh và Bản Tính Con Người nói:
“Tý (子, 11 giờ tối tới 1 giờ sáng), Ngọ (午, 11 giờ trưa tới 1 giờ chiều), Mão (卯, 5 tới 7 giờ sáng), và Dậu (酉, 5 tới 7 giờ chiều) — bốn thời đoạn này là những cửa thời gian cho sự ra vào của Âm và Dương.”
Đây là những thời điểm tốt nhất để thiền định. Tuy nhiên, khi sự thực hành của bạn đã được thiết lập vững chắc, bạn có thể điều chỉnh Âm Dương của cơ thể bất cứ lúc nào và thu được cùng một lợi ích, với một dòng Khí trôi chảy và sung mãn. Hoạt Tý Thì (Huo Zi Shi, 活子時) nghĩa là thời điểm của Tý sống động. Tý (11 giờ tối tới 1 giờ sáng) là thời điểm tốt nhất trong tất cả để thực hành tẩy tủy / tẩy não.
Từ điển Khí công mô tả Hoạt Tý Thì như sau: “Khi thực hành Khí công, hình và thần bình an và tĩnh lặng, ngưng tụ tinh thần vào Khí huyệt (Hạ Đan Điền Chân). Khi bạn cảm thấy Khí cử động ở đó, thì đó là lúc để sinh ra Âm và Dương.” Đạo thư Quan Mạch nói: “Khi bạn bắt đầu xây dựng nền tảng của việc sinh Đan (đan dược hay Khí), đừng bị bó buộc trong thời gian của Tý (11 giờ tối tới 1 giờ sáng) và Ngọ (11 giờ trưa tới 1 giờ chiều). Chừng nào còn có sự cử động trong sự tĩnh lặng, thì đó là lúc của Quý (sự chấm dứt của tĩnh lặng), tức là thời điểm của Tý sống động.” Quý (癸) là cái cuối cùng trong Thập Thiên Can (Tian Gan, 十天干), nghĩa là Âm đang chấm dứt, và Dương vừa mới khởi sự.
Mặc dù thời gian thiền định không quá nghiêm ngặt, nhưng với tư cách một người mới bắt đầu, nên thiền định theo Âm Dương của tự nhiên. Ngoài giờ Tý ra, thời điểm tốt nhất là từ sáng sớm cho tới khi mặt trời mọc, thời điểm tốt thứ nhì là lúc mặt trời lặn, và thứ ba là vào giữa trưa. Thiền định giữa trưa chỉ được dùng để làm dịu Dương của cơ thể và để dẫn Khí đi xuống và vào trong để tàng trữ, vì cơ thể chúng ta cực kỳ Dương vào thời điểm này. Đây là giai đoạn tốt nhất cho Thai Tức, từ giữa trưa cho tới 2 giờ chiều, khi Khí tự nhiên và Khí của cơ thể đã vượt qua cực Dương và vừa mới bắt đầu nguội đi. Thay vì lúc mặt trời lặn, bạn cũng có thể thực hành khoảng một tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ.
7-5 · Hướng Thiền Định
Năng lượng của cơ thể chúng ta luôn bị ảnh hưởng bởi tự nhiên, đặc biệt là năng lượng vũ trụ, năng lượng mặt trời, năng lượng mặt trăng, và năng lượng trái đất. Năng lượng trái đất bao gồm từ trường của trái đất, sức nóng ẩn giấu bên dưới, điện tích trong các đám mây, năng lượng không khí, và mọi vật thể cả sống lẫn vô sinh. Trong việc chọn địa điểm của mình, hãy xem xét cảnh quan, cây cối, nước, và khí hậu. Khí đất này trực tiếp ảnh hưởng đến năng lượng của cơ thể. Ở đây chúng ta cũng bàn về cách hấp thu Khí từ mặt trời, mặt trăng, và từ trường của trái đất. Vì chúng ta không hiểu về Khí vũ trụ, nên nó không được bàn ở đây.
Y học Trung Hoa xếp phía trước của cơ thể là Âm, và phía sau là Dương. Khí được tàng trữ ở phía trước trong khi nó biểu hiện ở phía sau. Khí bên ngoài dễ được hấp thu bởi phía trước hơn, trong khi phía sau đẩy lùi và chối từ nó. Để trao đổi Khí với bên ngoài, mặt Âm hấp thu, trong khi mặt Dương chối từ. Điều này quan trọng khi làm việc với năng lượng từ mặt trời, trái đất, và mặt trăng.
Mặt trời (Ban ngày)
Mặt trời buổi sáng sớm thì dịu dàng, mềm mại và bổ dưỡng, và dễ được cơ thể hấp thu. Về sau trong ngày, năng lượng của nó mạnh hơn, và cơ thể theo bản năng chối từ nó để không hấp thu quá nhiều. Tia nắng lúc mặt trời lặn cũng dịu dàng và mềm mại, nhưng mang năng lượng đi theo nó, vì vậy đó là thời điểm tốt để làm mát xuống thay vì để nuôi dưỡng.
Trái đất (Ban đêm)
Khí từ từ trường của trái đất khởi sự tại cực nam địa lý (cực bắc từ tính) và trở về trái đất tại cực bắc địa lý (cực nam từ tính). Nếu bạn quay mặt về hướng nam, bạn sẽ được Khí đất nuôi dưỡng, trong khi nếu bạn quay mặt về hướng bắc, Khí đất sẽ làm giảm Khí của bạn, và do đó giúp bạn làm dịu xuống. Điều này được bàn luận dài dòng trong cuốn sách của YMAA, The Root of Chinese Qigong.
Mặt trăng (Ban đêm)
Quay mặt về phía mặt trăng trong khoảng từ ba ngày trước trăng tròn cho tới chính ngày trăng tròn là thời điểm tốt để hấp thu Khí trăng nhằm nuôi dưỡng. Ba ngày sau trăng tròn là thời điểm tốt để giảm bớt hay giải phóng Khí khi quay mặt về phía mặt trăng. Để hấp thu nhiều Khí hơn từ tự nhiên cho sự tu dưỡng của bạn, bạn cần bồi bổ (Bổ, 補) hay thêm hỏa. Tuy nhiên, nếu bạn đã bị kích động và nạp đầy năng lượng và cần làm dịu xuống, thì chỉ cần duy trì mức Khí của bạn, hay thậm chí để tự nhiên lấy đi một phần. Điều này được gọi là giải (Tả, 瀉) hay thêm thủy.
| Mục đích | Thời điểm | Hướng |
|---|---|---|
| Bồi bổ Khí (Bổ, 補) (Ly, 離) | Mặt trời mọc | Hướng đông để hấp thu Khí mặt trời |
| Bồi bổ Khí | Giữa trưa | Hướng nam để hấp thu Khí đất |
| Bồi bổ Khí | Mặt trời lặn | Hướng đông để ngăn Khí bị mặt trời rút mất |
| Bồi bổ Khí | Ban đêm | Hướng nam để hấp thu Khí đất |
| Bồi bổ Khí | Ban đêm (3 ngày trước trăng tròn) | Hướng về mặt trăng để hấp thu Khí của nó |
| Giải Khí (Tả, 瀉) (Khảm, 坎) | Mặt trời mọc | Hướng tây để ngăn Khí được mặt trời bồi bổ |
| Giải Khí | Giữa trưa | Hướng bắc để giải phóng Khí cho trái đất |
| Giải Khí | Mặt trời lặn | Hướng tây để giải phóng Khí cho mặt trời |
| Giải Khí | Ban đêm | Hướng bắc để giải phóng Khí cho trái đất |
| Giải Khí | Ban đêm (2–3 ngày sau trăng tròn) | Hướng về mặt trăng để giải phóng Khí cho nó |
7-6 · Những Trải Nghiệm Thường Gặp Của Người Mới Bắt Đầu Khí Công
Có những hiện tượng thường được trải nghiệm trong lúc thực hành. Một số do tư thế, thời gian, hay phương pháp huấn luyện không đúng. Vì hầu hết người mới bắt đầu không thể sinh ra một lượng Khí đáng kể, nên chúng thường vô hại. Nhưng nếu bạn phớt lờ chúng và tiếp tục huấn luyện sai, bạn sẽ hình thành những thói quen xấu mà cuối cùng có thể mang lại tổn hại cho bạn. Điều quan trọng là phải chú ý tới chúng và hiểu nguyên nhân của chúng.
Tâm tán loạn và buồn ngủ
Đạo sĩ Ni Hoàn Tổ nói: “Trong một trăm ngày, hãy trừ bỏ cơn buồn ngủ. Buồn ngủ và mê loạn làm cho tâm tán loạn và mất trật tự, và bạn đánh mất sự thực hành chân thật.” Có một cái tâm tán loạn và mất trật tự là một trong những trải nghiệm thường gặp nhất của người mới bắt đầu, với Ý (意) của họ không thể kiểm soát Tâm (心). Tuy Ý mạnh, Tâm còn mạnh hơn, vì vậy trước tiên hãy củng cố Ý và điều phục Tâm, đồng thời phân tích nguyên nhân và những kết quả có thể có của sự xáo động.
Nếu cơn buồn ngủ là kết quả của sự mệt mỏi, tốt nhất là nên ngưng thực hành, và thư giãn hay chợp mắt một chút. Hãy nằm xuống thoải mái, và chú ý tới hơi thở sâu trong khi bạn đưa tâm mình vào những nơi sâu thẳm của cơ thể. Hãy nhả khí carbonic ra một cách trơn tru và chậm rãi, và mỗi lần bạn thở ra, hãy thư giãn sâu hơn. Hơi thở và nhịp tim chậm lại, và bạn cảm thấy được nghỉ ngơi, với tâm trí trong sáng và tinh thần tươi mới. Bây giờ hãy nâng tinh thần của bạn lên, và giữ nó tại chỗ cư ngụ của nó, được định trung tâm và cân bằng.
Cơn buồn ngủ cũng có thể là kết quả của sự thư giãn và một cái tâm tán loạn. Hãy giữ tâm của bạn ở bên trong và quan sát cái ngã bên trong của bạn. Đưa tâm của bạn trở lại con mắt thứ ba, và nâng tinh thần của bạn lên. Sau vài phút, hãy đưa tâm của bạn trở lại Hạ Đan Điền Chân để thực hành Thai Tức. Nếu bạn buồn ngủ, đừng dùng tâm để dẫn Khí, điều này có thể nguy hiểm như lái xe trong tình trạng đó.
Cảm thấy lạnh
Cảm thấy lạnh trong lúc tĩnh thiền là rất thường gặp. Trong động Khí công, bạn nạp năng lượng cho cơ thể, nên nó ấm áp và Dương hơn. Nhưng trong tĩnh thiền, bạn làm tĩnh tâm mình và làm chậm hơi thở, làm giảm nhịp tim và làm cơ thể bạn Âm hơn. Vào mùa đông, cơ thể bạn giải phóng năng lượng vào không khí xung quanh nhanh hơn so với mùa hè, và cảm giác lạnh có thể là một vấn đề lớn hơn. Vì vậy khi bạn thiền định vào sáng sớm hay vào mùa đông, hãy mặc quần áo ấm và đắp chăn lên hai chân, đặc biệt là đầu gối.
Đôi khi bạn cảm thấy lạnh ngay cả khi đã mặc ấm và nhiệt độ phòng thoải mái. Điều này rất có thể là do tâm của bạn, vốn ảnh hưởng đáng kể đến sự tuần hoàn Khí trong cơ thể bạn. Đôi khi bạn có thể cảm thấy lạnh khi căng thẳng thần kinh, xáo động tình cảm, hay sợ hãi gửi một cơn ớn lạnh đột ngột chạy qua cơ thể bạn. Vì tâm của bạn có ảnh hưởng như thế đối với bạn, điều quan trọng là phải điều phục nó thông qua thiền định. Bạn cũng có thể cảm thấy một phần nào đó của cơ thể đột nhiên lạnh hơn hay ấm hơn. Đây là một trải nghiệm thường gặp khi Khí được tái phân phối trong lúc thư giãn sâu, vì vậy đừng quá lo lắng về nó.
Tê cứng
Tê cứng rất thường gặp trong tĩnh thiền Khí công. Khi bạn ngồi lâu, sự tuần hoàn của bạn chậm lại, làm giảm lượng máu cung cấp cho hai chân. Điều này rất thường gặp ở người mới bắt đầu. Bạn không nên tiếp tục thiền định một khi sự tập trung đã bị ảnh hưởng. Hãy duỗi hai chân ra và mát-xa lòng bàn chân, đặc biệt là Dũng Tuyền (Yongquan, Thận-1), để đẩy nhanh sự hồi phục tuần hoàn. Nếu bạn thiền định đều đặn, bạn sẽ thấy mình có thể ngồi lâu hơn và lâu hơn mà không bị tê chân. Cơ thể bạn điều chỉnh lượng máu cung cấp để thích nghi với tình huống mới. Sau sáu tháng thực hành đều đặn, bạn sẽ có thể ngồi ít nhất ba mươi phút mà không gặp vấn đề gì. Nếu lưng dưới của bạn cảm thấy cứng, hãy điều chỉnh tư thế bằng cách ngồi trên một cái gối cao hơn hay một cái ghế có tựa lưng.
Khó chịu (Nhức mỏi và đau)
Khó chịu thường do tư thế không đúng. Những nơi thường gặp là lưng dưới, hông, và vai, do chiều cao khi ngồi hay tư thế sai. Hãy sửa chữa những vấn đề này trước khi chúng ảnh hưởng đến sự tập trung của bạn hay gây chấn thương, và điều chỉnh cơ thể bạn tới một trạng thái thoải mái và tự nhiên.
Một phần cơ thể cảm thấy nóng
Đôi khi một phần cơ thể bạn có thể cảm thấy nóng, hay chỉ một phần cảm thấy lạnh trong khi phần còn lại cảm thấy nóng. Điều này thường xảy ra khi bạn bị xáo động tình cảm, bị bệnh, hay đang hồi phục sau cơn bệnh. Khi bạn tuần hoàn Khí mất cân bằng, bạn có thể gây trở ngại cho những nỗ lực của cơ thể nhằm đạt được sự cân bằng Khí. Chỉ cần thư giãn và thiền định trên Hạ Đan Điền Chân của bạn, và hãy nhận thức về cơ thể và cảm xúc của mình.
Nhức đầu và nhức mắt
Một nguyên nhân thường gặp của chứng nhức đầu trong lúc thực hành Khí công là không thở được trơn tru. Bạn có thể nín thở mà không nhận ra điều đó, làm cho Khí và máu bị ứ trệ, điều này làm giảm lượng oxy cung cấp cho đầu.
Nhức mắt cũng thường gặp, vì hai nguyên nhân chính. “Hai mắt xem mũi, và mũi xem tim.” Để giữ tâm của bạn ở bên trong mà không bị phân tâm bởi những gì đang diễn ra xung quanh, hãy kìm chế thị giác của bạn. Tập trung tâm của bạn vào tim và điều phục Tâm, cái tâm tình cảm của bạn. Bạn làm điều này bằng tâm của mình, không phải bằng cơ thể. Đừng thực sự chằm chằm nhìn vào mũi của mình, đó là nguyên nhân chính gây nhức mắt.
Mắt của bạn cũng có thể nhức khi bạn tập trung tinh thần (Thần) vào chỗ cư ngụ của nó. Hãy làm điều này mà không dùng sức mạnh. Dẫn tinh thần trở lại trung tâm của nó một cách vững chắc nhưng nhẹ nhàng. Dùng sức mạnh của tâm không những sẽ gây nhức mắt mà còn nhức đầu.
Thân thể run rẩy
Thân thể run rẩy xảy ra một cách tự phát, phần lớn ở tay chân, mặc dù đôi khi cũng ở thân mình. Trong lúc thư giãn sâu, Khí dư thừa dễ dàng chảy tới để kích hoạt các cơ bắp và làm chúng run lên. Thân trên của bạn có thể tự đu đưa, theo nhịp hơi thở của bạn. Đây là những dấu hiệu tốt, biểu thị sự thành công trong việc điều thân, điều tức và điều tâm của bạn, nhưng bạn không nên làm cho nó xảy ra một cách cố ý.
Cảm giác ấm và ra mồ hôi
Trong tĩnh thiền, mặc dù bạn không cử động bên ngoài, bạn đang tập luyện bên trong. Khi Khí gia tăng đáng kể, nó sẽ biểu hiện tại bề mặt da của bạn dưới dạng sự ấm áp, thậm chí làm bạn đổ mồ hôi. Hãy chắc chắn rằng bạn không phơi thân thể đẫm mồ hôi của mình trước một luồng gió lạnh.
Sợ hãi
Đây là một trong những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra trong lúc thiền Khí công. Nói chung nó xảy ra vì hai lý do. Đôi khi tâm của bạn rất trong sáng nhưng bạn không thể định trung tâm nó, và nó có thể bắt đầu sinh ra ảo tưởng hay huyễn cảnh. Điều này được gọi là nhập ma, hay bị ma thuật mê hoặc (Nhập Ma, 入魔). Bạn có thể cảm thấy một luồng gió lạnh và nghĩ rằng đó là một tà ma, khi trí tưởng tượng của bạn sinh ra những ý nghĩ để quấy nhiễu bạn.
Trừ phi bạn điều phục tâm mình ngay lập tức, bạn có thể bắt đầu tin vào ảo ảnh đó và trở nên rất sợ hãi. Mối nguy hiểm là Ý không còn dẫn Khí của bạn nữa, làm xáo trộn sự tuần hoàn Khí của bạn. Nếu điều này xảy ra trong lúc thiền định rất sâu, nó có thể gây cho bạn chấn thương nghiêm trọng, vì vậy điều rất quan trọng là tâm của bạn phải trong sáng và tĩnh lặng, với cảm xúc được kiểm soát hoàn toàn.
Nếu bạn trải nghiệm loại sợ hãi này, Ý của bạn quá mê loạn để có thể dẫn Khí một cách chính xác, vì vậy bạn nên ngưng thực hành. Có vài cách giúp bạn thu thập lại chính mình. Cách thứ nhất là lấy hai lòng bàn tay che hai tai và gõ vào sau đầu bằng cách bật các ngón trỏ ra khỏi các ngón giữa (Hình 7-2). Điều này được gọi là minh thiên cổ (Ming Tian Gu, 鳴天鼓) — đánh trống trời — và là một trong những cách thông thường nhất để tâm của bạn tìm lại trung tâm của nó. Bạn có thể uống một ít trà nóng hay cà phê, rửa mặt bằng nước ấm, hay tắm. Hoặc cũng có thể phát ra âm Án (An, 唵) trong não của bạn, rung động trong Thần Cốc. Điều này thường có thể dẫn tâm của bạn vào trung tâm tinh thần và chặn đứng ảo ảnh. Đây được gọi là chính âm (Zheng Yin, 正音), thường được dùng để ổn định tinh thần và giữ nó tại Miên Hoàn Cung.
Loại sợ hãi thứ hai xảy ra khi bạn nhận ra Khí của mình đã đi vào đường lầm, được gọi là nhập hỏa, hay đi vào đường lầm (Tẩu Hỏa, 走火). Chẳng hạn, đột nhiên tim bạn bắt đầu đập nhanh hay đầu bạn bắt đầu nhức. Tâm của bạn bị xáo động, và bạn bối rối và sợ hãi. Nếu điều này xảy ra, hãy làm tĩnh tâm mình và đưa nó ra khỏi chỗ rắc rối. Bạn càng tập trung vào vùng đang lo ngại, Khí sẽ càng chảy tới đó và ứ trệ, làm tình hình tồi tệ hơn thay vì giúp ích cho nó. Một khi tâm của bạn đã tĩnh, hãy dẫn Khí trở lại Hạ Đan Điền Chân của bạn. Ngồi yên trong vài phút và dần dần đưa tâm của bạn trở lại với môi trường xung quanh. Đừng tiếp tục thực hành, mà hãy chờ tới buổi kế tiếp.
Khó ngủ
Việc gặp khó khăn khi ngủ trong một thời gian là điều thường gặp, vì khi bạn thực hành Khí công, tâm của bạn được nạp năng lượng và tinh thần của bạn được nâng lên. Điều này ngăn bạn không ngủ được. Hãy chú ý tới hơi thở của bạn, nghĩ rằng mỗi lần bạn thở ra, cơ thể bạn càng lúc càng thư giãn hơn. Hít vào dài hơn thở ra để làm cơ thể Âm hơn. Đừng dùng Ý để dẫn Khí, mà chỉ hãy thở và thư giãn, và chẳng bao lâu bạn sẽ ngủ thiếp đi. Bạn cũng có thể thực hành Thai Tức, dẫn Khí bị kích động từ đầu xuống Hạ Đan Điền Chân. Rồi tâm trở nên tĩnh lặng và cơ thể thư giãn.
Ho
Người mới bắt đầu đôi khi ho trong lúc thực hành. Lý do thường gặp nhất là hơi thở không được điều hòa trơn tru. Bạn có thể đang thở quá nhanh hay đang nín thở. Hãy dùng Ý để điều hòa hơi thở cho tới khi không còn cần thiết nữa.
Khả năng thứ hai là cơ thể của bạn không được điều chỉnh đúng đắn. Chẳng hạn, nếu bạn đẩy đầu mình ngả quá xa về phía sau, phía trước của cuống họng sẽ căng lên và làm bạn ho.
Khả năng thứ ba là khi bạn ở trong thiền định sâu, nhịp tim của bạn chậm lại, và nhiệt độ cơ thể hạ xuống. Bạn cảm thấy lạnh, điều này cũng có thể gây ho, vì vậy hãy giữ cho cơ thể ấm trong lúc thiền định.
Kích thích tình dục
Việc có những cảm giác tình dục và thậm chí bị kích thích trong lúc thiền định là điều bình thường. Hơi thở bụng làm gia tăng sự tuần hoàn Khí ở phần dưới cơ thể bạn, kích thích các cơ quan sinh dục. Trong khi điều này làm gia tăng dục vọng tình dục, hãy nhớ rằng bạn đang thực hành Khí công để gia tăng sự sản xuất hóc-môn nhằm nâng cao tinh thần của mình. Bạn cần điều phục tâm của mình và đừng phung phí nguồn cung dư thừa này qua hoạt động tình dục.
Kích thích tình dục là một vấn đề lớn trong Khí công Tẩy Tủy / Tẩy Não. Khí công này huấn luyện những phương pháp kích thích sự sản xuất hóc-môn, để tinh chất hóc-môn có thể được chuyển hóa thành Khí nhằm nuôi dưỡng tinh thần và não bộ. Những người không hiểu sự huấn luyện này hay có ý chí yếu kém, sẽ phung phí thành tựu của sự thực hành của họ.
7-7 · Những Cảm Giác Thường Gặp Trong Tĩnh Thiền
Khi bạn thực hành tĩnh thiền, điều thân, điều tức và điều tâm, bạn tiến vào cõi thiền định sâu. Khí tự điều chỉnh và tự cân bằng, vươn tới ngay cả nơi nhỏ nhất trong cơ thể bạn. Bạn có những cảm giác và những cảnh tượng mà không thể trải nghiệm được khi bạn không ở trong thiền định. Người Trung Hoa gọi chúng là cảnh Khí (Jing Qi, 景氣), và khi bạn đạt tới điểm này, nó được gọi là nhập cảnh (Ru Jing, 入景). Đừng mong đợi trải nghiệm tất cả những cảm giác này, vì chúng tùy thuộc vào cá nhân, thời gian trong ngày, mức độ sâu mà bạn đạt được trong thiền định, và thậm chí là môi trường mà bạn đang ngồi.
Bát Xúc (Những Hiện Tượng Thể Chất và Cảm Giác)
Bát Xúc (Ba Chu, 八觸) được cảm thấy trong lúc thực hành Khí công, chẳng hạn như những cảm giác nóng, có người chạm vào bạn, hay nặng nề, cũng được gọi là xúc cảm (Chu Gan, 觸感) hay động xúc (Dong Chu, 動觸). Một số người tu hành liệt kê chúng là động (動), ngứa (癢), mát (涼), ấm (暖), nhẹ (輕), nặng (重), nhám (澀), và trơn (滑). Những người khác liệt kê chúng khác đi: rung (掉), gợn (猗), lạnh (冷), nóng (熱), nổi (浮), chìm (沉), cứng (堅), và mềm (軟).
Đây là những cảm giác bình thường trong thực hành Khí công, ngay cả ở giai đoạn đầu. Nếu bạn trải nghiệm điều gì đó, hãy xác định nguyên nhân của nó. Nếu đó là kết quả của sự tái phân phối Khí, hãy để nó xảy ra và đừng lo lắng về nó. Nếu không, hãy sửa chữa những hoàn cảnh gây ra chúng. Chẳng hạn, nếu bạn cảm thấy lạnh vì nhiệt độ phòng quá thấp, hãy mặc thêm quần áo hay vặn cao nhiệt độ lên.
Đừng mong đợi những hiện tượng này hay tìm kiếm chúng, và đừng lo lắng về chúng. Chỉ cần thuận theo tự nhiên và để nó xảy ra, rồi tiếp tục sự thực hành của bạn. Giữ tâm của bạn trong sáng và tĩnh lặng, và đừng để bị phân tâm.
Cảm giác cử động hay rung động
Điều này khác với phần trên, nơi một phần của cơ thể tự nhiên bắt đầu cử động hay run rẩy. Cảm giác này xảy ra tại Hạ Đan Điền Giả, và bạn có thể cảm thấy sự ấm áp ở đó. Sau một cặp tuần lễ, vùng đó có thể bắt đầu tự rung động. Điều này nghĩa là Khí đang trở nên dồi dào ở đó và đã đến lúc Ý của bạn dẫn nó đi qua tiểu chu thiên. Đây thường là cảm giác đầu tiên, và nó mang lại cho bạn sự tự tin rằng mình đang thực hành đúng đắn và đang tiến bộ.
Những cảm giác bên trong vùng bụng
Một khi bạn cảm thấy sự ấm áp và rung động trong Hạ Đan Điền Chân của mình, Khí dồi dào tỏa ra khắp vùng bụng của bạn. Sự cử động khi bạn thở làm gia tăng sự tuần hoàn trong ruột của bạn và đôi khi sinh ra những âm thanh và sự thoát khí. Sau một lúc, bạn cảm thấy sự ấm áp và những cảm giác khác khắp vùng bụng, và Khí chảy một cách trơn tru và mạnh mẽ. Đôi khi bạn đổ mồ hôi. Về sau, những cảm giác này biến mất khi tất cả các kinh mạch trong vùng bụng mở ra, và Khí cử động mà không bị ứ trệ.
Cảm giác nhẹ nhõm
Trong lúc thiền định sâu, với Khí tuần hoàn trơn tru, cơ thể bạn có thể cảm thấy nhẹ nhàng và thoáng đãng, dường như biến mất. Điều này rất thoải mái, nhưng đừng để bị phân tâm bởi nó. Hãy nhận thức về điều đang xảy ra, nhưng đừng chú ý tới nó. Để đạt tới giai đoạn này, cơ thể bạn phải ở trong sự thư giãn sâu, nơi hơi thở và nhịp tim chậm lại tới mức tối thiểu, và tâm của bạn cực kỳ tĩnh lặng và bình an.
Mây trắng trong căn phòng trống rỗng
Bạn có thể đột nhiên cảm thấy thân thể vật lý của mình biến mất và hòa nhập với Khí xung quanh. Dường như căn phòng trống rỗng, tràn ngập một đám mây trắng hay làn sương mù. Nếu bạn chú ý tới cảnh tượng này, nó biến mất ngay lập tức, vì tâm của bạn không quen thuộc với tính không và sinh ra một hình ảnh của cảnh tượng vật lý quen thuộc để lấp đầy chỗ trống.
Đạo sĩ Vô Ất Tử nói: “Nếu bạn muốn làm đầy vùng bụng bằng Khí, trước tiên hãy làm rỗng cái Tâm. Nếu bạn muốn sinh ra cái Trắng, trước tiên hãy làm rỗng căn phòng.”
Nếu bạn trải nghiệm sự trống rỗng màu trắng này, hãy nhận thức về nó, nhưng đừng chú ý tới nó. Nó chỉ xảy ra khi tâm của bạn được điều phục hoàn toàn trong một trạng thái tập trung cao độ và thư giãn. Để tích lũy Khí trong vùng bụng của bạn, trước tiên hãy làm rỗng cái tâm tình cảm (Tâm). Chỉ khi đó Ý (cái tâm trí tuệ) mới có thể khởi hỏa (Khí Hỏa, 氣火) để xây dựng Khí lên. Trắng ở đây nghĩa là đơn giản, thuần khiết, nhẹ nhàng, và sạch sẽ, giống như sương mù hay mây, và đại diện cho sự biến mất của thân thể vật lý. Để hiệp nhất với Khí xung quanh, trước tiên hãy buông bỏ mọi đối tượng, kể cả thân thể vật lý của bạn.
Sáu cảm giác khác
Ở mức độ cao hơn của thiền Khí công, có sáu cảm giác khác mà bạn có thể trải nghiệm. Đó là a). Hạ Đan Điền Giả nóng như thể nó đang bốc cháy; b). hai quả thận cảm thấy như thể đang sôi trong nước; c). hai mắt phát ra một luồng ánh sáng; d). những luồng gió được sinh ra phía sau hai tai; e). một con chim ưng đang kêu sau đầu bạn; và f). cơ thể bạn được nạp năng lượng và mũi của bạn run lên. Những điều này được gọi là Lục Chứng Nghiệm (Liu Zhong Ying Yan, 六種應驗), vì chúng xác nhận rằng sự thiền định là đúng đắn.
Lục Thông (Sáu Sự Vận Chuyển)
Khi bạn điều phục và nâng cao tinh thần (Thần) của mình, nó sẽ cao và năng lực Linh (靈) siêu nhiên của nó sẽ vươn xa hơn bất cứ người bình thường nào. Tâm của bạn sẽ có thể giao tiếp với sáu năng lực tự nhiên:
- Thấy hiện tại. Tâm của bạn trong sáng đến mức nó có thể phân tích và hiểu các sự kiện một cách rõ ràng và thấu đáo. Bạn nhìn sự vật từ một quan điểm trung tính, không bị Tâm làm cho mê loạn, điều mà hầu hết mọi người không thể làm được.
- Hiểu quá khứ và thấy tương lai. Bạn hiểu quá khứ và tiên đoán tương lai. Vì tâm của bạn trong sáng, bạn có thể phân tích điều gì đã xảy ra, hiểu nguyên nhân của nó và thấy kết quả của nó. Khi kinh nghiệm của bạn tích lũy, bạn có thể tiên đoán tương lai, vì con người vẫn như vậy và lịch sử tự lặp lại.
- Xem toàn vũ trụ. Ở giai đoạn cao nhất, tinh thần của bạn cảm nhận toàn vũ trụ, bao gồm núi non, sông ngòi, đại dương, và các tầng trời. Khí của bạn hiệp nhất với Khí của vũ trụ, và bạn có thể trao đổi thông tin một cách tự do.
- Nghe âm thanh của vũ trụ. Tinh thần của bạn lắng nghe và hiểu những âm thanh được sinh ra bởi những biến thiên của Khí tự nhiên, bao gồm gió, mưa, sóng, và nhiều thứ khác. Bạn cũng có thể nghe các thần linh và giao tiếp với họ.
- Thấy vận mệnh của một người. Sau tất cả những điều này, bạn sẽ có thể nhìn vào bên trong tâm trí, nhân cách, và bản tính chân thật của một người, và thấy vận mệnh của người đó. Bạn thậm chí sẽ có thể thấy tương lai tinh thần của người đó, cho dù nó liên quan tới sự hưởng thụ (thiên đường) hay sự khổ đau (địa ngục).
- Biết tư tưởng của một người. Vì bạn đã nạp năng lượng cho tinh thần và não bộ của mình một cách đáng kể, chúng mở rộng ra một dải bước sóng rộng hơn nhiều. Bạn sẽ có thể hòa hợp bước sóng với tâm trí của người khác và biết tư tưởng của họ.
Đạo sĩ Ngô Chân Nhân nói: “Trở về chỗ không để hiệp nhất với Đạo. Sau khi bạn đạt tới sự vững vàng và có thể rời khỏi thân thể mình, bạn có thể giao tiếp với các năng lực của tự nhiên và biến hóa thành ngàn sự biến đổi và vạn sự biến dịch; không có điều gì không thể làm được.”
Đây là giai đoạn thành Phật hay Khai Ngộ, nơi bạn có thể tách tinh thần của mình ra khỏi cơ thể và hiệp nhất với tự nhiên, và đã mở lại con mắt thứ ba của mình (Thiên Nhãn, 天眼). Tinh thần của bạn và tinh thần tự nhiên đã được hiệp nhất thành một (Thiên Nhân Hợp Nhất, Tian Ren He Yi, 天人合一).
7-8 · Những Lệch Lạc và Cách Sửa Chữa
Một khi bạn đã tích lũy Khí, đặc biệt là tại Hạ Đan Điền Giả, hãy cẩn thận kẻo Khí đi lệch khỏi con đường đúng đắn và đưa bạn vào chỗ nguy hiểm. Điều này gây ra bởi sự thiếu hiểu biết, sự hiểu lầm, hay sự huấn luyện sai. Những lệch lạc được gọi là Tẩu Hỏa Nhập Ma (Zou Huo Ru Mo, 走火入魔), nghĩa là Làm Lệch Hỏa và Vào Ma. Làm lệch hỏa nghĩa là dẫn Khí vào đường lầm, và vào ma nghĩa là tâm tiến vào lãnh địa của tà ác. Những vấn đề hay chấn thương nghiêm trọng thường là kết quả. Ở đây chúng ta bàn về những nguyên nhân của các lệch lạc Khí công thường gặp và cách sửa chữa chúng.
Nguyên Nhân Của Những Lệch Lạc
Môn phái Khí công được huấn luyện không phù hợp với cá nhân hay hoàn cảnh. Mỗi môn phái Khí công đều có những phương pháp huấn luyện và mục tiêu đặc thù riêng. Mỗi bộ Khí công được một vị thầy Khí công có học thức tạo ra để huấn luyện một nhóm người đặc thù. Khi bạn chọn một môn phái Khí công để huấn luyện, trước tiên hãy biết tình trạng cơ thể của bạn, mục đích của sự huấn luyện của bạn, và liệu môn phái Khí công được chọn có thích hợp hay không.
Chẳng hạn, Khí công Thiết Bố Sam (Tie Bu Shan, 鐵布衫) được dùng để huấn luyện những người có cơ thể đã mạnh hơn mức trung bình. Nếu bạn yếu và ép buộc mình huấn luyện Thiết Bố Sam, bạn sẽ gặp phải những khó khăn và lệch lạc. Với những môn phái Khí công nhằm cải thiện sức khỏe nói chung, chẳng hạn như Bát Đoạn Cẩm (Ba Duan Jin, 八段錦) và Ngũ Cầm Hí (Wu Qin Xi, 五禽戲), bạn không phải lo lắng quá nhiều về những lệch lạc gây ra bởi việc chọn sai môn phái. Những môn phái như thế được tạo ra cho người trung bình, vì vậy bạn an toàn chừng nào bạn còn tuân theo các chỉ dẫn.
Thiếu một cái tâm kiên định hay một vị thầy có học thức. Hãy tìm một vị thầy có học thức và ở lại với thầy, bằng không rất có thể bạn sẽ được dạy những phương pháp thực hành không đúng đắn. Đừng mất kiên nhẫn hay tự tin rồi đổi sang một vị thầy khác, điều này chỉ có thể gia tăng sự bối rối của bạn. Nếu bạn huấn luyện Khí công mà không có kiên nhẫn, sự kiên trì, tự tin, và ý chí mạnh mẽ, sớm muộn gì sự bối rối và những lệch lạc cũng sẽ xảy ra.
Mong chờ những hiện tượng. Một nguyên nhân thường gặp của lệch lạc là mong đợi những hiện tượng mà bạn đã từng nghe nói tới. Chỉ vì người khác đã trải nghiệm điều gì đó không có nghĩa là bạn cũng sẽ trải nghiệm nó. Nếu bạn cố làm cho nó xảy ra, rất có thể bạn sẽ rơi vào những phương pháp thực hành sai lầm, và bị cảm giác sai lạc hay ảo ảnh dẫn dắt lầm.
Thân và tâm không được điều hòa. Nhiều người thực hành gặp phải những lệch lạc nghiêm trọng gây ra bởi sự căng thẳng của cơ thể. Nếu cơ thể bạn mệt mỏi và các cơ bắp căng cứng, trước tiên hãy làm dịu xuống và điều hòa hơi thở để giúp cơ thể thư giãn và hồi phục sau sự mệt mỏi. Bất cứ nỗ lực nào nhằm tuần hoàn Khí khi bạn đang mệt mỏi đều là nguy hiểm.
Những lệch lạc cũng thường gặp khi người ta tuần hoàn Khí trước khi tâm của họ được điều phục. Nếu bạn đang phấn khích hay giận dữ, Ý của bạn không vững và việc dẫn Khí là nguy hiểm. Nếu bạn không thể điều phục tâm của mình, bạn không nên thực hành.
Nếu bạn thực hành trong những hoàn cảnh như thế, Khí của bạn có thể bị ứ trệ hay đi vào những kinh mạch sai. Việc trải nghiệm chứng nhức đầu hay những cơn đau khác nhau là rất thường gặp. Điều thân, điều tức và điều tâm là những đòi hỏi cơ bản trước khi bạn điều Khí.
Mất kiên nhẫn. Đừng mất kiên nhẫn trong lúc thực hành và dùng Ý một cách hung hăng để dẫn Khí. Điều này rất nguy hiểm, đặc biệt là đối với người mới bắt đầu. Hãy dành thì giờ, kiên nhẫn và tự tin. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của bạn lớn lên cùng với sự thực hành, cho tới khi thời điểm chín muồi. Một số người mới bắt đầu tuần hoàn Khí trong Tiểu Chu Thiên trước khi họ thực sự biết Khí là gì, hay trước khi họ có thể cử động vùng bụng của mình một cách dễ dàng. Điều này chỉ gây ra những vấn đề, giống như một đứa trẻ chơi với lửa.
Trộn lẫn trí tưởng tượng vào các bài tập Khí công. Khí công là một môn khoa học, không phải một tôn giáo hay một tín ngưỡng mê tín. Trí tưởng tượng sẽ dẫn bạn vào đường lầm. Nó là một nguyên nhân chính của sự sợ hãi và của việc tiến vào lãnh địa của ma quỷ. Hầu hết những người có trí tưởng tượng đều thiếu kiến thức và sự hiểu biết khoa học. Họ bối rối và tự hỏi mình đang làm gì.
Sự can thiệp từ bên ngoài. Một số lệch lạc tồi tệ nhất gây ra bởi những sự xáo động bên ngoài trong lúc thiền Khí công. Chẳng hạn, bạn đang thiền định thì đột nhiên bạn bị giật mình bởi tiếng chuông điện thoại reo, một tiếng động lớn, hay một người bạn nói chuyện với bạn. Những điều như thế có thể gây chấn thương nghiêm trọng, đặc biệt là khi bạn đang tuần hoàn Khí trong Tiểu Chu Thiên hay đang thực hành những mức độ cao hơn, nơi cần có sự tập trung lớn. Trước khi bạn thực hành, bạn nên ngăn chặn mọi sự xáo động có thể xảy ra.
Tin vào những ý kiến không chuyên môn. Một thất bại thường gặp là tin và tưởng cậy sự phán đoán của người khác hơn là của chính mình. Chúng ta đặc biệt cởi mở với những lời khuyên từ bạn bè của mình. Khi bạn gặp một vấn đề trong lúc thực hành, đừng bàn luận nó với bất cứ người nào không có kinh nghiệm về Khí công. Bạn có thể bàn luận nó với thầy của bạn hay với những người bạn đồng môn, nhưng tốt nhất là không nên nói về nó với những người bạn không thực hành Khí công. Rất có thể bạn có đủ khả năng để đánh giá mọi việc hơn họ.
Không tuân theo những lời khuyên và quy tắc của các bậc thầy. Ở phần cuối của mục này, chúng ta bàn về hai mươi bốn quy tắc mà bạn nên tuân giữ trong lúc thực hành Khí công, để tránh những vấn đề thường gặp và nghiêm trọng nhất.
Mặc dù chúng tôi đã chỉ ra nhiều nguồn gốc có thể có của sự lệch lạc và nguy hiểm, bạn không nên để điều đó làm bạn sợ hãi mà bỏ việc thực hành Khí công. Mọi sự thực hành luôn có một mức độ rủi ro nào đó. Chẳng hạn, bạn sẽ không cấm việc bơi lội chỉ vì một số người bị chết đuối, và bạn không nên từ chối lái xe cho dù nhiều người bị chết hay bị thương bởi xe hơi. Cách tiếp cận đúng đắn đối với bất cứ điều gì trong số đó là hiểu điều bạn đang làm, biết nguồn gốc của những vấn đề tiềm tàng, xác định các quy tắc huấn luyện, và tiến hành một cách thận trọng.
Hầu hết những lệch lạc xảy ra với những người đã sinh ra một dòng Khí mạnh, nhưng vẫn chưa hiểu và chưa thấu triệt việc điều thân, điều tức và điều tâm. Một khi bạn đã sinh ra Khí mạnh trong cơ thể mình, bạn phải biết cách dẫn nó, bằng không nó có thể đi vào những đường lầm và ảnh hưởng tới sự tuần hoàn Khí bình thường. Điều này có hại và thậm chí nguy hiểm. Đó là lý do tại sao chúng được gọi là những lệch lạc chứ không phải là những hiện tượng, thuật ngữ đã được dùng trước đây để chỉ những trải nghiệm thường gặp.
Những Lệch Lạc và Cách Sửa Chữa
Nhức đầu. Trước đây chúng ta đã bàn về chứng nhức đầu của người mới bắt đầu. Ở đây chúng ta bàn về những chứng nhức đầu có khả năng nghiêm trọng, gây ra bởi Khí và máu dư thừa, hay sự thiếu oxy trong não. Khí và máu dư thừa thường gây ra bởi sự tập trung gượng ép, nghĩa là tâm không được điều phục đúng đắn. Ngay cả khi đang tập trung, Ý và cơ thể cũng nên được thư giãn. Nếu bạn ép buộc mình phải tập trung, tâm của bạn dẫn Khí và máu lên đầu, và bạn sẽ trở nên căng thẳng hơn và bị nhức đầu. Nếu bạn không ngủ được, thì việc cố ép mình ngủ là vô ích, chỉ cần thư giãn và để nó tự xảy ra.
Chứng nhức đầu gây ra bởi sự thiếu oxy thường xảy ra khi hơi thở của bạn không được điều hòa đúng đắn. Người mới bắt đầu thường tập trung Ý quá mạnh đến mức họ vô tình nín thở. Điều này làm giảm lượng oxy cung cấp cho não và gây ra chứng nhức đầu hay chóng mặt. Vì vậy hãy điều hòa hơi thở cho tới khi nó trơn tru và tự nhiên, đó là điều hơi thở mà không điều. Chỉ khi đó mới tập trung vào việc dẫn Khí.
Nếu bạn bị nhức đầu trong lúc thực hành Khí công, hãy lập tức dẫn Khí tới Hạ Đan Điền Chân, và ngưng huấn luyện sau vài hơi thở. Với hơi thở được trơn tru, hãy thư giãn cơ thể bạn một cách sâu sắc. Điều này mở ra các kinh mạch Khí ở cổ, và Khí cùng máu dư thừa trong đầu của bạn có thể được phân tán ra. Hãy mát-xa hai bên thái dương (Hình 7-3), khiếu Phong Trì (Fengchi, Đởm-20) (Hình 7-4), và các cơ bắp ở sau cổ của bạn, đẩy xuống phía dưới để dẫn máu và Khí ra khỏi đầu của bạn. Sau cùng, đặt trung tâm lòng bàn tay của bạn lên khiếu Bách Hội, xoay nhẹ vài vòng rồi đi theo các cơ bắp xuống phía sau cổ (Hình 7-5). Vỗ nhẹ lên đầu từ trung tâm ra hai bên và từ phía trước ra phía sau. Điều này dẫn Khí ứ trệ ra bề mặt của da (Hình 7-6). Rồi dùng hai lòng bàn tay vuốt tóc từ trán ra phía sau cổ (Hình 7-7). Đương nhiên, bạn cũng có thể vuốt nó về phía trước và xuống theo Hỏa Lộ bằng hai lòng bàn tay của mình (Hình 7-8).
Khí ứ trệ tại Thượng Đan Điền. Khi Khí ứ trệ tại Thượng Đan Điền của bạn, nó cảm thấy giống như tờ giấy dính ruồi dính chặt vào con mắt thứ ba của bạn. Điều này thường xảy ra khi bạn tập trung ở đó một cách rất mãnh liệt. Khi bạn tập trung tinh thần của mình, Thượng Đan Điền của bạn thường cảm thấy ấm áp một cách thoải mái. Nếu bạn cảm thấy không thoải mái, điều đó nghĩa là Khí đang bị ứ trệ. Khi điều này xảy ra, hãy mát-xa con mắt thứ ba của bạn và dẫn Khí đi qua hai bên thái dương và xuống hai bên cổ (Hình 7-9).
Hạ Đan Điền Giả cảm thấy căng trướng và không thoải mái. Điều này thường gặp hơn ở người mới bắt đầu và thường xảy ra khi bạn ép buộc các cơ bắp vùng bụng của mình đẩy ra và kéo vào. Khi các cơ bắp mệt mỏi, bạn không thể kiểm soát chúng. Khi huấn luyện sự cử động vùng bụng, hãy giữ cho nó mềm mại và thư giãn để Khí không bị ứ trệ ở đó. Nếu vùng bụng của bạn cảm thấy không thoải mái và Khí bị ứ trệ, hãy mát-xa nó theo kiểu xoay tròn (theo hệ ruột) (Hình 7-10), rồi mở hai bàn tay ra và vuốt Khí xuống tới hai đùi (Hình 7-11).
Áp lực và khó chịu tại cơ hoành. Điều này thường xảy ra nếu bạn không điều hòa hơi thở của mình một cách đúng đắn. Hơi Thở Bụng Đảo Nghịch có thể gây ra một cảm giác áp lực và khó chịu, vì vậy hãy bắt đầu buổi tập ở quy mô nhỏ hơn, với những cử động nhỏ hơn của vùng bụng. Có một giới hạn về mức độ bạn có thể cử động vùng bụng của mình mà không cảm thấy áp lực lên cơ hoành. Cảm giác khó chịu nghĩa là Khí đang bị ứ trệ vì áp lực xung quanh cơ hoành. Hãy ngưng huấn luyện, chắp hai tay lại, và ấn nhẹ vào đám rối thần kinh mặt trời vài lần (Hình 7-12), rồi vuốt xuống và sang hai bên (Hình 7-13).
Đau lưng. Chứng đau lưng trong Khí công thường gây ra bởi tư thế không đúng, đặc biệt là trong lúc ngồi thiền, làm cho sự tuần hoàn Khí bị ứ trệ và gia tăng áp lực lên các cơ bắp. Nếu bạn bị đau lưng, hãy ngưng thực hành ngay lập tức, bằng không bạn chỉ làm xáo động tâm mình và làm sự việc tồi tệ hơn. Nếu có thể, hãy nhờ ai đó mát-xa vùng bị đau (Hình 7-14), đi theo cột sống xuống tới hông (Hình 7-15). Hãy tỏa Khí ra hai bên cơ thể và xuống tới hai chân. Bạn có thể tựa lưng một cách nhẹ nhàng vào một vật nâng đỡ nào đó trong lúc thiền định, nhưng không tựa vào tường hay vào một thứ gì đó có thể rút Khí của bạn. Một cái ghế trường kỷ thoải mái có thể đảm nhiệm việc đó.
Mộng tinh. Điều này xảy ra khi bạn tích lũy Khí mà không giữ và tuần hoàn nó. Nếu bạn làm nhiều bài tập Hạ Đan Điền, Khí dồi dào, các cơ quan sinh dục của bạn được nạp năng lượng, và cơ thể bạn sản xuất nhiều hóc-môn hơn. Điều này làm gia tăng dục vọng tình dục và gây ra những sự cương cứng thường xuyên, thường là không rõ nguyên nhân. Mà không hoạt động tình dục, áp lực tình dục bên trong tích tụ lên, mà cơ thể bạn tự động giải phóng thông qua mộng tinh. Nếu bạn thực hành Khí công và tinh dịch được giải phóng tự động hơn hai lần một tháng, điều đó nghĩa là bạn không đang chuyển hóa tinh thành Khí và tuần hoàn nó một cách đúng đắn. Bạn cần phối hợp sự cử động của Hội Âm với hơi thở của mình.
Điều này cũng có thể xảy ra khi Khí bị suy kiệt, do bệnh tật, đi bộ quá nhiều, hay huấn luyện Khí công không đúng. Không có đủ Khí để giữ cho các cơ bắp hoạt động bình thường, và bạn thỉnh thoảng trải nghiệm mộng tinh. Hãy mát-xa vùng bụng của bạn sau khi thực hành cho tới khi ấm.
Khí tự tuần hoàn mạnh mẽ. Một số người xây dựng Khí nhanh hơn mức mà Ý của họ có thể kiểm soát nó, điều này có thể rất nguy hiểm và gây chấn thương nghiêm trọng. Nhiều học viên Khí công thiếu kiên nhẫn và cố điều Khí trước khi điều thân, điều tức và điều tâm. Khi bạn cảm thấy Khí tự cử động trong Tiểu Chu Thiên, bạn vui mừng trước dấu hiệu của sự tiến bộ. Nhưng nếu Khí xây dựng quá nhiều đến mức bạn không thể kiểm soát nó, bạn nên ngưng thực hành hoàn toàn trong một thời gian. Hãy thực hành điều thân, điều tức và điều tâm cho tới khi bạn tự tin và hiểu điều mình đang làm, trước khi bạn bắt đầu điều Khí. Khôn ngoan nhất là nên tham khảo một vị thầy có kinh nghiệm. Khí có thể tự tuần hoàn ở quy mô nhỏ, thường là không kéo dài quá lâu trước khi nó tự ngưng lại. Đây không phải là điều phải lo lắng, và bạn chỉ nên tiếp tục sự thực hành của mình với một cái tâm tĩnh lặng và bình an.
Khí đi vào đường lầm. Điều này xảy ra khi Khí của bạn mạnh nhưng tâm của bạn tán loạn, và Khí có thể đi bất cứ đâu. Nó có thể làm các cơ quan nội tạng của bạn quá Dương hay quá Âm, và bạn có thể sinh bệnh. Khí công mà không có một cái tâm được điều phục thì nguy hiểm như một chiếc xe với một người lái say rượu. Hãy luôn nhớ điều thân, điều tức và điều tâm trước khi điều Khí. Nếu bạn đã bị bệnh vì sự thực hành Khí công, hãy ngưng thực hành ngay lập tức. Thư giãn và nghỉ ngơi đầy đủ, và chờ cho tới khi Khí lấy lại sự cân bằng của nó. Thông thường bạn không cần đi bác sĩ, và nếu bạn giữ được tĩnh lặng và thư giãn, nó sẽ tự cân bằng lại. Khi bạn bắt đầu lại, hãy bắt đầu với những bài tập điều hòa cơ bản nhất trước, để bạn không lặp lại vấn đề đó.
Nếu Khí bị ứ trệ hay đi vào đường lầm tại Tam Quan (San Guan, 三關) trong lúc thực hành Tiểu Chu Thiên, tình hình có thể rất nguy hiểm. Bạn nên xử lý nó một cách nghiêm túc và chú ý tránh chấn thương. Tôi thúc giục bạn hãy đọc lại mục 5-5 về ba cửa này và những sự nguy hiểm liên quan, và hiểu những phương pháp cứu chữa cho các vấn đề đó.
Lưỡi cứng. Khi lưỡi bị cứng trong lúc thực hành Khí công, Khí có thể bị ứ trệ trong Tiểu Chu Thiên. Hãy thực hành thư giãn lưỡi của bạn trong khi đầu lưỡi khẽ chạm lên vòm miệng. Hãy làm điều này một cách tự nhiên và thoải mái trước khi thực hành Tiểu Chu Thiên.
7-9 · Hai Mươi Bốn Quy Tắc Thực Hành Khí Công
Hai mươi bốn quy tắc đã được truyền lại này dựa trên sự nghiên cứu và kinh nghiệm của nhiều thế hệ các bậc thầy Khí công, và bạn nên tuân giữ chúng một cách cẩn thận. Ở những điểm nào không phù hợp với lối sống ngày nay, hãy phán đoán một cách khôn ngoan. Chúng được tóm tắt ở đây để bạn tham khảo và suy xét.
Đừng cố chấp với các kế hoạch và ý tưởng
Đây là một trong những sai lầm dễ mắc nhất đối với người mới bắt đầu. Khi bắt tay vào Khí công, chúng ta nhiệt tình và hăm hở. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không học nhanh như mình mong muốn, và trở nên thiếu kiên nhẫn, rồi cố ép buộc mọi thứ. Đôi khi chúng ta thiết lập một thời gian biểu cho chính mình, chẳng hạn như: hôm nay tôi muốn làm cho Hạ Đan Điền của mình ấm lên, ngày mai tôi muốn đi qua khiếu xương cùng, vào ngày này ngày kia tôi muốn hoàn tất Tiểu Chu Thiên. Đó là cách làm sai lầm. Khí công không phải là một công việc thông thường mà bạn tự đặt ra cho mình. Bạn không thể lập một thời gian biểu tiến bộ cho nó. Điều đó chỉ làm cho tư duy của bạn cứng nhắc và làm ngưng trệ sự tiến bộ của bạn. Mọi thứ xảy ra khi thời điểm đã chín muồi. Nếu bạn ép buộc nó, nó sẽ không xảy ra một cách tự nhiên.
Đừng tập trung vào sự phân biệt
Khi bạn thực hành, đừng tập trung vào những hiện tượng hay cảm giác khác nhau xảy ra. Hãy nhận thức về điều đang xảy ra, nhưng hãy định trung tâm tâm của bạn tại nơi mà nó cần có cho bài tập mà bạn đang làm. Nếu bạn để tâm của mình đi tới nơi bạn cảm thấy có điều gì thú vị đang xảy ra, Khí sẽ đi theo và gây trở ngại cho khuynh hướng tự nhiên của cơ thể nhằm tự cân bằng lại. Đừng mong đợi điều gì xảy ra, và đừng để tâm của bạn lang thang xung quanh tìm kiếm những hiện tượng khác nhau. Cũng không nên phán đoán các hiện tượng đó, chẳng hạn như tự hỏi “Hạ Đan Điền của mình hôm nay có ấm hơn hôm qua không”, hay “Khí của mình bây giờ ở đâu?”. Khi tâm của bạn ở trên Khí của mình, Ý của bạn cũng ở đó, và cái Ý bị ứ trệ này sẽ không dẫn Khí. Hãy nhận thức về điều đang xảy ra, nhưng đừng chú ý tới nó. Khi bạn lái xe, bạn không nhìn mình lái và đạp bàn đạp cùng sang số. Chỉ cần nghĩ tới nơi bạn muốn tới và để cơ thể bạn tự động lái xe. Đây được gọi là điều mà không điều.
Tránh để những suy nghĩ tạp loạn bám vào cội nguồn của chúng
Đây là một vấn đề của việc điều tâm. Cái tâm tình cảm thì mạnh mẽ, và mỗi ý nghĩ đều được nối liền với cội nguồn của nó. Nếu bạn không thể cắt đứt các ý nghĩ ngay tại nguồn của chúng, tâm của bạn không được điều phục, và bạn không nên cố điều Khí. Bạn cũng sẽ thấy rằng, cho dù bạn đã chặn đứng dòng suy nghĩ ngẫu nhiên, những ý tưởng mới vẫn được sinh ra trong lúc thực hành. Chẳng hạn, khi bạn nhận thấy Hạ Đan Điền của mình ấm lên, tâm của bạn lập tức nhớ lại điều này được nhắc tới trong cuốn sách nào, hay vị thầy đã mô tả nó như thế nào, và bạn bắt đầu so sánh kinh nghiệm của mình với điều đó. Hay bạn có thể bắt đầu tự hỏi bước kế tiếp là gì. Những suy nghĩ này dẫn bạn ra khỏi sự bình an và tĩnh lặng, và tâm của bạn kết thúc trong Lãnh Địa Của Ma (Nhập Ma, 入魔). Nó trở nên bối rối, tán loạn, và thường xuyên sợ hãi, và bạn sẽ mau chóng mệt mỏi.
Tâm không nên đi theo cảnh tượng bên ngoài
Đây cũng là một vấn đề của việc điều Tâm. Khi cái tâm tình cảm của bạn không được kiểm soát, bất cứ sự xao lãng bên ngoài nào cũng dẫn nó ra khỏi trung tâm của bạn và hướng về sự xao lãng đó. Hãy tự huấn luyện mình để những tiếng ồn, mùi hương, cuộc trò chuyện và những thứ tương tự sẽ không làm xáo động sự tập trung của bạn. Hãy nhận thức về điều đang xảy ra, nhưng tâm của bạn vẫn giữ được tĩnh lặng, bình an, và vững chắc trên sự tu dưỡng của mình.
Điều tiết hoạt động tình dục
Một người nam không nên có quan hệ tình dục ít nhất là hai mươi bốn tiếng đồng hồ trước hay sau khi thực hành Khí công, đặc biệt là trong Tiểu Chu Thiên. Sự huấn luyện chuyển hóa là một phần rất trọng yếu của những phương pháp thực hành này, và nếu bạn thực hành Khí công ngay sau khi giao hợp, bạn gây hại đáng kể cho cơ thể mình. Giao hợp làm suy kiệt tinh trùng của bạn và mức Khí ở phần dưới cơ thể bạn. Thực hành Khí công trong những điều kiện như thế giống như làm một bài tập nặng ngay sau khi giao hợp.
Khi mức Khí của bạn bất thường, cảm giác và sự cảm nhận của bạn cũng không chính xác, và Ý của bạn có thể bị dẫn dắt lầm. Bạn nên chờ cho tới khi mức Khí trở lại bình thường trước khi bạn tiếp tục thực hành Khí công. Chỉ khi đó sự chuyển hóa Tinh–Khí mới tiến hành một cách hiệu quả.
Một mục đích chính của Khí công là gia tăng sự chuyển hóa và dùng Khí này để nuôi dưỡng cơ thể bạn. Một khi một người nam đã xây dựng được một nguồn cung Khí, việc giao hợp sẽ chỉ truyền Khí này sang cho bạn tình của mình. Nhiều bậc thầy Khí công khăng khăng rằng bạn không nên giao hợp ba ngày trước và bốn ngày sau khi thực hành.
Trong lúc quan hệ tình dục, người nữ thường thu nhận Khí trong khi người nam mất Khí trong lúc xuất tinh. Người nữ không nên thực hành Khí công sau khi giao hợp cho tới khi cơ thể của cô đã tiêu hóa Khí mà cô nhận được từ người nam. Có một số kỹ thuật Khí công Đạo giáo dạy người nam cách tránh mất Khí trong lúc hoạt động tình dục và cách người nữ có thể nhận Khí từ người nam và tiêu hóa nó. Chúng tôi để việc bàn luận chủ đề này lại cho những bậc thầy Khí công có đủ phẩm cách và kinh nghiệm về nó.
Đừng quá ấm hay quá lạnh
Nhiệt độ của căn phòng mà bạn đang huấn luyện không nên quá nóng cũng không nên quá lạnh. Bạn nên thực hành trong một môi trường thoải mái, sẽ không làm xáo động tâm và sự tu dưỡng của bạn.
Hãy đề phòng ngũ lao và nội thương
Ngũ lao là sự suy yếu của ngũ tạng, cụ thể là tim, gan, phổi, thận, và tỳ. Khi bất cứ cơ quan nào trong số đó suy yếu, bạn nên tiến hành một cách rất nhẹ nhàng. Thực hành Khí công là một bài tập bên trong, trực tiếp ảnh hưởng tới năm cơ quan này. Sự gắng sức thái quá không xây dựng sức mạnh và có thể gây chấn thương nghiêm trọng.
Những nội thương làm xáo trộn sự tuần hoàn Khí bên trong của bạn. Việc thực hành Khí công có thể làm trầm trọng thêm vấn đề của bạn và gây trở ngại cho quá trình tự chữa lành tự nhiên. Có một số bài tập Khí công được thiết kế để chữa lành các nội thương, nhưng để sử dụng chúng một cách đúng đắn, bạn cần có một sự hiểu biết sâu sắc về tình trạng Khí của cơ thể mình.
Tránh quay mặt về phía gió khi đang đổ mồ hôi
Đừng thực hành quay mặt về phía gió, đặc biệt là gió lạnh. Khi bạn thực hành Khí công, bạn đang tập luyện cả bên trong lẫn bên ngoài. Với các lỗ chân lông mở rộng, bạn dễ bị tổn thương và dễ bị cảm lạnh.
Đừng mặc quần áo chật và thắt lưng chặt
Hãy luôn mặc quần áo rộng rãi, thoải mái trong lúc thực hành, và giữ cho thắt lưng của bạn lỏng lẻo. Vùng bụng là vùng then chốt trong thực hành Khí công, và bất cứ điều gì giới hạn sự cử động của vùng này đều gây trở ngại cho sự thực hành của bạn.
Đừng ăn quá nhiều thức ăn béo và ngọt
Hãy điều tiết việc ăn uống của bạn trong lúc thực hành Khí công. Thức ăn béo hay ngọt làm gia tăng Hỏa Khí, làm tán loạn tâm của bạn và để cho tinh thần của bạn đi lạc khỏi chỗ cư ngụ của nó. Hãy ăn nhiều trái cây và rau quả hơn, và kiêng rượu cùng thuốc lá.
Đừng để hai chân buông thõng khỏi giường
Vào thời cổ, nơi thực hành Khí công thông thường nhất là ngồi trên giường. Vì hầu hết các giường đều cao, nếu bạn ngồi ở mép giường thì hai chân của bạn sẽ buông thõng phía trên sàn. Khi bạn thực hành Khí công, hai bàn chân của bạn nên chạm sàn, bằng không toàn bộ trọng lượng cơ thể của bạn đè xuống phần dưới của hai đùi và làm giảm sự tuần hoàn Khí và máu.
Đừng thực hành với một bàng quang đầy
Bạn nên đi vệ sinh trước khi bắt đầu thực hành. Nếu bạn cần đi trong lúc thực hành, hãy ngưng thực hành để đi. Việc nhịn giữ nó lại sẽ làm xáo động sự tập trung của bạn.
Đừng gãi chỗ ngứa
Nếu bạn ngứa vì một lý do bên ngoài nào đó, chẳng hạn như bị côn trùng cắn, đừng hoảng hốt, và hãy giữ tâm của mình tĩnh lặng. Hãy để Ý của bạn dẫn Khí trở lại Hạ Đan Điền. Hít thở vài lần, và dần dần đưa ý thức của bạn trở lại với môi trường xung quanh. Rồi bạn có thể gãi hay nghĩ cách làm sao cho hết ngứa. Tuy nhiên, nếu chỗ ngứa gây ra bởi sự tái phân phối Khí, đừng đưa tâm của bạn tới đó. Chỉ cần phớt lờ nó và để nó xảy ra. Một khi nó đạt tới một sự cân bằng mới, cơn ngứa sẽ ngưng. Gãi loại ngứa này sẽ làm xáo động tâm của bạn, trong khi hai bàn tay của bạn gây trở ngại cho sự tự cân bằng lại tự nhiên của Khí trong cơ thể.
Tránh bị quấy rầy hay giật mình
Nếu điều này xảy ra, hãy làm dịu tâm của bạn xuống, và kìm chế đừng nổi nóng. Bây giờ hãy ngăn chặn nó xảy ra lần nữa. Điều quan trọng nhất là học cách điều phục tâm của bạn khi bạn bị quấy rầy.
Đừng vui thích với cảnh tượng
Trong lúc thực hành, rất thường gặp việc nhận thấy có điều gì đó đang xảy ra bên trong bạn. Có lẽ bạn cảm thấy Khí cử động mạnh hơn bao giờ hết, hay bạn cảm nhận được tủy xương của mình, và cảm thấy vui sướng và phấn khích. Đây là một cái bẫy rất thường gặp, vì sự tập trung của bạn bị phá vỡ và tâm của bạn bị chia chẻ, điều này nguy hiểm và có hại. Bạn cần nhận thức về điều đang diễn ra bên trong mình mà không trở nên phấn khích.
Đừng mặc quần áo đẫm mồ hôi
Quần áo đẫm mồ hôi làm bạn cảm thấy không thoải mái, ảnh hưởng tới sự tập trung của bạn. Tốt hơn là nên thay sang quần áo khô trước khi tiếp tục thực hành.
Đừng ngồi thiền khi đói hay khi no
Bạn không nên thực hành Khí công khi đang đói hay khi dạ dày của bạn đang đầy. Khi bạn đói, thật khó để tập trung, và khi bạn no, sự thực hành của bạn ảnh hưởng tới sự tiêu hóa của bạn.
Thiên địa tai quái (những tai biến lạ của trời đất)
Khí của cơ thể bạn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi của thời tiết. Không nên thực hành khi có một sự thay đổi thời tiết đột ngột, vì nó gây trở ngại cho sự tự điều chỉnh lại tự nhiên của cơ thể bạn đối với môi trường mới. Bạn cũng không thể cảm nhận và kiểm soát dòng Khí của mình như bình thường. Bạn nên giữ sự trung tính về mặt tình cảm khi thực hành Khí công, và ngay cả trong lúc xảy ra một tai biến thiên nhiên như động đất, hãy giữ bình tĩnh để Khí của bạn vẫn nằm trong vòng kiểm soát.
Đôi khi hãy lắng nghe những lời chân thật
Bạn cần có sự tự tin khi thực hành Khí công. Bạn không nên nghe theo lời khuyên từ những người không có kinh nghiệm, những người không quen thuộc với tình trạng cơ thể của bạn. Một số người nghe theo các bạn đồng môn giải thích làm thế nào họ đạt tới một mức độ nào đó, hay làm thế nào họ giải quyết một vấn đề nào đó, rồi mù quáng cố áp dụng chính phương pháp đó cho mình. Mỗi người có một cơ thể khác nhau, với một trạng thái sức khỏe khác nhau, và mỗi người học theo một cách khác nhau. Khi thời điểm học một điều mới tới, bạn sẽ hiểu điều mình cần. Hãy bình tĩnh, và hãy luôn có sự tự tin vào sự huấn luyện của mình.
Đừng nghiêng ngả và ngủ thiếp đi
Hãy ngưng huấn luyện Khí công khi bạn buồn ngủ. Dẫn Khí với một cái tâm không trong sáng là nguy hiểm. Cơ thể của bạn sẽ không được điều hòa, có khuynh hướng nghiêng ngả hay gục xuống, điều này gây trở ngại cho sự tuần hoàn Khí. Tốt hơn là nên nghỉ ngơi cho tới khi bạn lấy lại được tinh thần của mình.
Đừng thiền định khi quá giận dữ, vui vẻ, hay phấn khích
Khi tâm của bạn tán loạn, Khí công sẽ mang lại nhiều tổn hại hơn là sự bình an.
Đừng liên tục khạc nhổ
Việc sinh ra nhiều nước bọt trong lúc thực hành Khí công là điều bình thường, và nó nên được nuốt vào để làm ướt cuống họng của bạn. Khạc nhổ nó ra là phung phí và làm xáo động sự tập trung.
Đừng nghi ngờ và trở nên lười biếng
Bạn cần có sự tự tin vào các phương pháp thực hành. Sự nghi ngờ dẫn tới sự lười biếng và việc bỏ ngang sự thực hành. Rồi bạn sẽ không thành công.
Đừng đòi hỏi thành công nhanh chóng
Sự thực hành Khí công tốn thời gian và sự tiến bộ thì chậm chạp. Để đạt tới mục tiêu của mình, bạn cần kiên nhẫn, một ý chí mạnh mẽ, và sự tự tin. Hãy để sự thực hành của bạn tiến triển một cách tự nhiên.
Thực Hành Thiền Tiểu Chu Thiên
8-1 · Dẫn Nhập
Sau khi đã nghiên cứu lý luận của Tiểu Chu Thiên (小周天), hãy thực hành nó với sự thận trọng. Luôn quay lại và suy ngẫm về lý luận ấy. Trong khi thực hành, bạn có thể nảy sinh những nghi vấn mới, và cách tốt nhất để tìm ra giải đáp là suy ngẫm lý luận vốn được đúc kết từ kinh nghiệm của người xưa. Sau khi tìm được một câu trả lời khả dĩ, hãy quay lại đem nó áp dụng vào thực hành. Từ việc lặp đi lặp lại quá trình này, bạn trở nên khôn ngoan hơn và tinh thông hơn. Lý luận giống như một tấm bản đồ. Bạn càng hiểu rõ nó, bạn càng dễ dàng và an toàn hơn khi tiến tới mục tiêu của mình.
Thông thường, chỉ riêng lý luận vẫn chưa đủ, và bạn cần sự hướng dẫn của một thầy giàu kinh nghiệm. Có nhiều lối tiếp cận khác nhau cho cùng một vấn đề, và nhiều con đường có thể dẫn tới cùng một đích. Tâm trí bạn càng rộng mở, bạn càng học hỏi và trải nghiệm nhiều hơn trên con đường trở thành một người thực sự tinh thông Tiểu Chu Thiên. Bạn không nên bận tâm đến thể diện và lòng kiêu hãnh, mà hãy giữ sự khiêm tốn và học từ kinh nghiệm. Hãy sàng lọc các ý tưởng và tiếp nhận những gì thích hợp với mình.
Bởi vì Tiểu Chu Thiên quan trọng đến thế đối với việc tu dưỡng tâm linh, nên nhiều phương pháp luyện tập khác nhau đã được phát triển bởi nhiều nền văn hóa khác nhau. Nó được gọi là Microcosmic Orbit (Quỹ Đạo Vi Mô) trong Yoga Ấn Độ, ở đó các phương pháp khác với phương pháp của người Trung Hoa. Các phương pháp dùng trong các tự viện Phật giáo và Đạo giáo cũng khác biệt với nhau. Tuy phương pháp có khác, lý luận và mục tiêu thì vẫn như nhau.
Yếu tố quan trọng nhất để thực hành thành công là rèn luyện cảm giác của bạn. Cảm giác sâu sắc đưa tới sự giao tiếp sâu xa giữa thần và thân của bạn. Nó kết nối với tiềm thức và nâng cao thần.
Ngày xưa ở Triều Tiên có một vị vua thông thái có người con trai mười lăm tuổi. Vị hoàng tử này lớn lên trong cảnh sung sướng nơi cung điện, với mọi sự chăm sóc của đám tôi tớ. Điều đó làm nhà vua lo lắng, vì ông tin rằng con mình sẽ không thể là một vị vua tốt, biết chăm lo cho dân chúng. Vì vậy ông cho triệu tập một ông lão thông thái đang sống sâu trong rừng.
Đáp lại lời triệu tập, ông lão đến cung điện. Ông hứa sẽ dạy hoàng tử trở thành một vị vua tốt và thông thái, rồi đưa chàng vào rừng sâu. Sau khi đến nơi, ông lão dạy chàng cách tìm thức ăn, nấu nướng và sinh tồn trong rừng. Rồi ông để chàng lại đó một mình, nhưng hứa một năm sau sẽ trở lại.
Một năm sau, khi ông lão trở lại, ông hỏi hoàng tử nghĩ gì về khu rừng. Hoàng tử đáp: “Cháu chán ngấy nơi này rồi. Cháu cần một người hầu. Cháu ghét chỗ này. Xin đưa cháu về nhà.” Ông lão nói: “Rất tốt. Đó là một bước tiến tốt, nhưng chưa đủ. Hãy đợi ở đây thêm một năm nữa, và ta sẽ trở lại gặp cháu.” Rồi ông lại ra đi.
Một năm nữa trôi qua, và ông lão trở lại khu rừng, hỏi cùng một câu hỏi. Lần này hoàng tử nói: “Cháu thấy chim chóc và cây cối, hoa lá và muông thú.” Tâm trí chàng đã bắt đầu chấp nhận môi trường của mình, và chàng nhận ra vai trò của mình trong khu rừng. Ông lão hài lòng và nói: “Đây là một bước tiến rất tốt, nhưng chưa đủ, vì vậy cháu phải ở lại đây thêm một năm nữa.” Lần này, hoàng tử dường như chẳng bận tâm chút nào.
Lại một năm nữa trôi qua, và ông lão trở lại. Lần này, khi ông lão hỏi hoàng tử nghĩ gì, hoàng tử nói: “Cháu cảm thấy chim chóc, rừng cây, cá, muông thú, và nhiều thứ khác quanh cháu ở đây.” Lần này ông lão rất vui mừng và nói: “Bây giờ ta có thể đưa cháu về nhà. Nếu cháu có thể cảm nhận được những điều đang xảy ra quanh mình, thì cháu sẽ có thể quan tâm đến cảm nhận của người khác, và cháu sẽ là một vị vua tốt.” Rồi ông đưa chàng về nhà.
Khi bạn làm bất cứ việc gì, bạn phải đặt tâm vào đó, cảm nhận nó, nếm trải nó, và kinh nghiệm nó. Chỉ khi đó bạn mới có thể nói rằng mình hiểu nó. Nếu thiếu cảm nhận sâu sắc và sự thấu hiểu ấy, thì nghệ thuật mà bạn thực hành hay sáng tạo sẽ nông cạn và đánh mất tinh hoa của nó.
Trong chương này, cuối cùng chúng ta đi tới những chìa khóa của sự thực hành. Từ mục 8-2 đến 8-6, chúng ta bàn về các phương pháp điều thân, điều tức, điều tâm, điều khí và điều thần trong Tiểu Chu Thiên. Bởi vì Nguyên Tinh (元精) là một trong những chìa khóa của sự thành công, chúng ta ôn lại khái niệm điều chỉnh nó trong mục 8-7. Kế đó chúng ta tóm tắt cách phục hồi từ trạng thái thiền sâu, trong mục 8-8. Sau cùng chúng ta bàn về cách dùng thiền định để tự chữa bệnh cho mình, trong mục 8-9.
8-2 · Điều Chỉnh Thân Thể
Bước đầu tiên là ngồi đúng cách, thoải mái và tự nhiên trong ít nhất ba mươi phút. Nếu bạn không thể ngồi yên lâu đến thế, bạn có thể gặp khó khăn khi dẫn Khí một cách an toàn. Khi bạn dẫn Khí trong thiền Tiểu Chu Thiên, tâm của bạn phải thoải mái và tập trung. Nếu nó bị xáo động bởi một tư thế không thoải mái, nó có thể tán loạn, vì vậy bạn không nên tiến xa hơn nữa. Trước hết hãy học ngồi đúng cách và kiên nhẫn. Điều quan trọng nhất là nuôi dưỡng tâm trạng và niềm vui của sự thiền định. Bạn điều chỉnh thân thể để thiết lập một cảm giác thật thư giãn, thoải mái và tự nhiên, để tâm của bạn có thể tập trung vào việc điều chỉnh.
Hãy bắt đầu chỉ với năm phút, rồi tăng dần lên.
Thân Mình
Tư thế đúng của thân mình rất quan trọng để làm cho cơ thể cân bằng, an định tại trung tâm và thư giãn. Chỉ khi đó Khí mới có thể lưu thông trôi chảy mà không bị ứ trệ, và tâm mới dễ dàng dẫn Khí lưu thông một cách tự nhiên.
Điều này cũng áp dụng cho cổ và đầu. Cổ phải thư giãn để cho phép Khí và huyết dễ dàng lưu lên não. Đó là nơi giao tiếp mà tại đó Khí và huyết được trao đổi giữa đầu và thân mình, và khi nó thư giãn, não bộ nhận được sự nuôi dưỡng dồi dào. Đầu cũng phải thoải mái. Trước hết hãy thư giãn tâm, rồi đầu cũng có thể thư giãn theo.
Trong thiền định, hãy giữ thân mình thẳng đứng và đầu như thể được treo từ trên xuống. Bạn không nên nghiêng về trước, về sau hay sang bên. Tư thế không đúng làm thân mình căng thẳng và làm tán loạn tâm của bạn. Điều này đặc biệt đúng với người mới bắt đầu, những người có thể dễ dàng nghiêng người về trước và ngủ gật, dẫn tới đau lưng dưới và làm tắc nghẽn sự tuần hoàn Khí. Bạn không nên làm cứng thân mình khi giữ nó thẳng đứng. Nó phải được thư giãn để Khí có thể lưu thông trôi chảy.
Hãy thực hành một thời gian trên nệm thiền (Hình 8-1). Nếu bạn tiếp tục cảm thấy sự căng cứng nơi thân mình, đặc biệt là vùng lưng dưới, hãy ngồi trên ghế có chỗ tựa lưng (Hình 8-2). Hoặc, ngồi trên một chiếc trường kỷ hay ghế sofa vừa nâng đỡ tốt, vừa không hạn chế sự lưu thông Khí của bạn, và không thoải mái đến mức khiến bạn ngủ gật (Hình 8-3). Nếu bạn quá mệt để thực hành, chỉ cần đơn giản dẫn Khí về Chân Hạ Đan Điền (真下丹田) và chợp mắt một lát. Đừng cứ gắng gượng mãi, điều đó có thể mang lại nhiều tổn hại hơn là lợi ích.
Tay
Hai tay nên được đặt thoải mái trên đùi, phía trước bụng. Việc tay nào ở trên không thành vấn đề, miễn là chúng cảm thấy thoải mái và tự nhiên. Một số thầy cho rằng nam nên đặt tay phải ở trên, còn nữ đặt tay trái ở trên. Điều quan trọng nhất là cảm thấy cân bằng.
Khí lưu thông ở hai bên cơ thể không hoàn toàn cân bằng, và bản thân cơ thể cũng vậy. Tim và lá lách ở bên trái, trong khi gan ở bên phải. Hai tay, hai chân và hai bàn chân không dài bằng nhau. Do sự mất cân bằng này, sự tuần hoàn Khí cũng không được cân bằng. Tâm điều chỉnh cảm giác về Khí mất cân bằng trong cơ thể, để thân và tâm có thể phối hợp với nhau. Nếu bạn ép người thuận tay trái đổi sang dùng tay phải, họ sẽ trải qua sự mất cân bằng về tình cảm và tinh thần, và trẻ em thường phát triển chứng nói lắp.
Việc đặt hai tay trước vùng bụng dưới được gọi là Ác Cố (握固, Wo Gu), nghĩa là nắm giữ và làm cho vững chắc. Trong Đạo Đức Kinh, chương 55, có nói:
“Khi xương yếu và gân mềm, thì Ác Cố.”
Khi cơ thể bạn yếu, điều đầu tiên bạn nên làm là tích trữ Khí dồi dào tại Chân Hạ Đan Điền. Ác Cố giúp giữ tâm của bạn ở đó. Khi ấy Khí không bị dẫn ra bên ngoài, và có thể được bảo tồn và tích trữ.
Để tăng cường cảm giác làm vững chắc Khí, nhiều cách nắm các ngón tay đã được dạy. Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận (諸病源候論, Thesis on the Origins and Symptoms of Various Diseases) nói:
“Thế nào là Ác Cố? Đó là dùng bốn ngón tay của cả hai bàn tay để nắm lấy ngón tay cái.”
Nghĩa là nắm ngón tay cái trong bốn ngón tay, phía trước Hạ Đan Điền (Hình 8-4). Sách Nhập Đạo Giáo Tất Dụng Thư (Necessary Book of Entering the Daoist Religion) nói:
“Ác Cố là dùng ngón tay cái kẹp vào giữa ngón tay giữa, và bốn ngón tay kia tụ về trung tâm.”
Móng của ngón tay cái ấn vào giữa ngón tay giữa trong khi bốn ngón kia đang nắm lấy nó (Hình 8-5). Thực ra, đây chỉ là một mẹo giúp người mới bắt đầu tập trung tâm vào Hạ Đan Điền.
Nhiều hình thức bắt tay được dùng trong thiền Phật giáo. Chúng được gọi là thủ ấn (手印, Shou Yin). Trong giới Đạo gia có câu: “Có hai mục đích khác nhau cho tư thế của tay. Thứ nhất, tập trung tâm và thần vào thủ ấn, kiên trì và cuối cùng đạt được sự an định của thiền (Chan). Thứ hai, sau khi thành lập thủ ấn, tâm và thần đặt vào hơi thở, để đạt tới cảnh giới cao nhất và thành Phật.” Tư thế tay hay thủ ấn giúp người ta làm tĩnh tâm và tập trung vào Hạ Đan Điền và hơi thở. Lại nữa, đây là một mẹo để điều hòa tâm và hơi thở. Kinh điển Phật giáo, Kinh Đà La Ni (The Classic of Tuo Lo Ni) nói:
“Có nhiều kỹ thuật ấn thân khác nhau trong tụng niệm; nếu dùng tay làm thủ ấn và tụng niệm, thì dễ có hiệu quả.”
Tụng niệm rất phổ biến trong các tôn giáo khác nhau, để đạt tới trạng thái thôi miên và sự hài hòa. Thiền định được xem là tự thôi miên trong thực hành Khí công Trung Hoa. Thông qua tụng niệm và các loại thủ ấn khác nhau, người Phật giáo đạt tới cảnh giới thiền định cao.
Chân
Khi bạn ngồi luyện Tiểu Chu Thiên, hai chân nên được bắt chéo một cách thoải mái (Hình 8-6). Điều này ngăn chặn dòng Khí mạnh chảy xuống chân. Vì con người đã đi đứng hàng triệu năm, Khí tự nhiên chảy mạnh xuống đó, thay vì chảy trong đường Tiểu Chu Thiên. Để ngăn dòng Khí mạnh ấy làm tổn thương hai chân, chúng nên được bắt chéo, chặn nó lại ở vùng hông. Bằng cách này, dòng Khí mạnh hơn và hiệu quả hơn trong Đốc Mạch và Nhâm Mạch. Một cách khác để kềm chế dòng Khí mạnh chảy xuống chân là đứng với hai đầu gối cong (Hình 8-7). Đó là cách các võ tăng Thiếu Lâm thời xưa (Tăng Binh, 僧兵) đã luyện Tiểu Chu Thiên.
Tư thế chân bắt chéo được gọi là Kiết Già Phu Tọa (結跏趺坐, Jie Jia Fu Zuo) trong Phật giáo. Bạn phải tiếp tục tìm kiếm tư thế thoải mái và vững chãi nhất, để tâm của bạn có thể hoàn toàn tập trung. Lúc ban đầu, khi bạn bắt chéo hai chân, đừng đặt chân này lên trên chân kia. Áp lực đó gây tê chân bên dưới. Hãy đặt chúng hơi tách ra nhau. Một chiếc nệm có độ cao thích hợp sẽ giảm bớt vấn đề này, đồng thời làm dịu sự căng thẳng ở lưng dưới. Bạn nên ngồi trên một tấm nệm dày và thoải mái để ngăn áp lực từ sàn nhà gây tê hai chân. Chất liệu dùng để ngồi và để mặc nên là vải sợi tự nhiên.
Mắt Và Lưỡi
Đôi mắt nên nhắm lại một cách thoải mái. Để ngăn các ý nghĩ khỏi tưởng tượng và mộng tưởng, các thầy thường bảo người mới bắt đầu giữ đôi mắt hơi mở. Sau khi bạn đã thiền định một thời gian dài, sẽ dễ dàng dẫn Khí hơn nếu bạn nhắm mắt. Khi ấy bạn có thể cảm nhận sâu hơn và rõ ràng hơn vào những nơi sâu kín của cơ thể mình.
Lưỡi nên chạm nhẹ vào vòm họng (Hình 8-8). Điều này nối liền Nhâm Mạch (Âm) và Đốc Mạch (Dương) và cho phép Khí đi qua. Sách Hồng Phong Tủy (Red Wind Marrow) nói:
“Mẹo bí mật là nhắm hai mắt, nửa buông bức màn (mí mắt) xuống, và đầu (đầu lưỡi) của con rồng đỏ (lưỡi) chạm lên vòm họng của miệng.”
Sách Nhập Dược Kính (Mirror/Method of Entering the Herb) nói:
“Sông Ngân (Ngân Hà) chia cách cuộc gặp gỡ của Âm và Dương. Nó phải nhờ vào cầu thước để vượt qua. Lưỡi của con người được xem như một cây cầu thước.”
Khi luyện công, lưỡi chạm vòm họng để nối Âm và Dương.
Bạn cần tạo ra những điều kiện thoải mái và tự nhiên cho sự thư giãn, sự tuần hoàn Khí, và việc tu dưỡng tâm linh. Khi bạn thư giãn, Khí có thể lưu thông trôi chảy. Rồi bạn có thể đạt được sự cân bằng và an định tại trung tâm. Khi bạn được an định tại trung tâm, bạn có thể được bén rễ. Chỉ khi đó bạn mới có thể nâng cao tinh thần của sinh lực để tu dưỡng tâm linh. Thư giãn, cân bằng, an định tại trung tâm, bén rễ, và sau cùng nâng cao tinh thần — tạo thành một chuỗi những mối liên hệ nối tiếp nhau.
Một khi bạn điều chỉnh tâm mình tới một mức độ sâu hơn, việc điều chỉnh thân thể cũng có thể sâu sắc hơn. Mục tiêu là cảm nhận được tủy xương và các cơ quan nội tạng, rồi thư giãn chúng. Ở mức độ này, bạn cảm nhận được bất kỳ sự mất cân bằng nào của Khí. Chẳng hạn, nếu bạn bị thương ở vai phải hay lưng, bạn sẽ cảm thấy cơ thể có khuynh hướng xoay về bên phải khi bạn đạt tới trạng thái thư giãn cao độ. Đó là vì các bắp thịt ở phía bên phải cơ thể căng hơn. Hãy để sự xoay chuyển ấy tự xảy ra. Một khi nó đạt tới mức tối đa, hãy thư giãn nó và để nó trở lại trạng thái ban đầu. Từ sự thực hành này, bạn có thể dễ dàng chữa lành các chấn thương của mình. Loại giao tiếp giữa tâm và thân này được gọi là “công phu nội thị” (內視功夫, Nei Shi Gongfu).
Một khi bạn đạt tới một mức độ tốt trong việc điều thân, bạn nên gia tăng việc điều chỉnh hơi thở. Ngay cả khi đó, bạn vẫn tiếp tục điều chỉnh thân thể, bởi vì hai việc này liên hệ mật thiết với nhau.
8-3 · Điều Chỉnh Hơi Thở
Hãy nhớ, mục tiêu là hấp thu dưỡng khí và thải xuất khí carbonic một cách hiệu quả. Khi ấy cơ thể có đầy đủ dưỡng khí để sản sinh các tế bào mới, và có thể loại bỏ các tế bào chết từ những nơi sâu kín trong cơ thể. Khi bạn có nhiều dưỡng khí, năng lượng của bạn cao, bởi vì nó là yếu tố sống còn cho sự đốt cháy và sản xuất năng lượng. Để tạo ra Khí mạnh, bạn phải thở đúng cách và hiệu quả.
Để sản sinh Khí dồi dào, hơi thở phải mềm mại và mảnh mai, và cơ thể phải thư giãn. Khi ấy sự tiêu thụ dưỡng khí thấp và sự trao đổi chất hiệu quả. Đạo Đức Kinh, chương 10, nói:
“Chuyên chú hơi thở để đạt tới sự mềm mại, có thể mềm như một đứa trẻ sơ sinh chăng?”
Khi hơi thở mềm mại, sự tuần hoàn Khí trở nên mềm mại và trôi chảy. Sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư (The Complete Book of Principal Contents of Life and Human Nature) nói:
“Chú tâm làm cho hơi thở mềm mại và thần ở lại lâu dài. Hơi thở chân thực (Thai Tức) thì dài, êm dịu và chậm rãi. Thở nhẹ nhàng để trở về với Nguyên Khí. Suối nguồn tâm linh vô tận sẽ tự nhiên tuôn chảy.”
Điều này hàm ý rằng người ta tạo ra dòng Khí vô tận thông qua Thai Tức đúng đắn, trong đó “thở ra thì mảnh mai và hít vào thì mềm mại, chậm rãi.”
Khi bạn thực hành hơi thở đúng đắn, bạn điều chỉnh nó cho tới khi việc điều chỉnh không còn cần thiết nữa. Nghĩa là hơi thở đúng đã trở nên tự nhiên và trôi chảy. Sách Đạo Ngôn Thiển Cận Thuyết (Easy Understanding of Daoist Talking) nói:
“Điều chỉnh hơi thở phải điều cho tới khi sự điều chỉnh thực sự chấm dứt… Để ngưng tụ thần và điều hòa hơi thở, bạn cần một tâm thanh bình và Khí hài hòa.”
Sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư lại nói:
“Điều chỉnh hơi thở, phải điều cho tới khi sự điều chỉnh thực sự chấm dứt. Luyện thần, phải luyện cho tới khi thần không còn cần thiết cho việc luyện tập nữa.”
Khi bạn điều chỉnh hơi thở hay luyện thần của mình, trước hết dùng tâm và thần để làm cho điều đó xảy ra. Tuy nhiên, sau một thời gian dài thực hành, mọi sự trở nên tự nhiên và xảy ra một cách tự động. Khi ấy, không cần điều chỉnh nữa.
Bạn nên tuân theo các bước sau đây để đạt tới Thai Tức:
1. Hô Hấp Bụng Chính Thường (Chính Phúc Hô Hấp, 正腹呼吸)
Khi bạn hít vào, hãy phình bụng ra trong khi đẩy Hội Âm (會陰, perineum) ra nhẹ nhàng và mềm mại (Hình 8-9). Khi bạn thở ra, hãy thót bụng lại và nâng Hội Âm lên (Hình 8-10). Hội Âm là cánh cổng kiểm soát Khí tại Chân Hạ Đan Điền, cho phép nó được tích trữ hay được giải phóng. Lưỡi của bạn chạm vòm họng để nối liền Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Trong Hô Hấp Bụng Chính Thường, bạn dẫn Khí qua mười hai kinh mạch chính tới tứ chi. Điều này làm cho bạn cảm thấy tự nhiên và thư giãn.
Hãy bắt đầu với sự chuyển động nhỏ của vùng bụng cho tới khi bạn cảm thấy thoải mái, rồi dần dần gia tăng quy mô. Đừng căng thẳng, điều đó khiến sự tuần hoàn Khí bị ứ trệ. Sau một thời gian dài thực hành, tâm của bạn có thể kiểm soát các bắp thịt vùng bụng, để chúng vẫn thư giãn ngay cả khi các chuyển động của bụng lớn. Điều này hoàn tất bước thứ nhất của Thai Tức.
2. Hô Hấp Bụng Nghịch (Phản Phúc Hô Hấp, 反腹呼吸) (Nghịch Phúc Hô Hấp)
Khi bạn có thể kiểm soát các bắp thịt vùng bụng một cách dễ dàng và tự nhiên nhờ thực hành Hô Hấp Bụng Chính Thường, bạn bắt đầu Hô Hấp Bụng Nghịch. Khi bạn hít vào, hãy thót bụng lại và nâng Hội Âm lên (Hình 8-11). Khi bạn thở ra, hãy đẩy bụng và Hội Âm ra, nhẹ nhàng và mềm mại (Hình 8-12). Hô Hấp Bụng Nghịch dẫn Khí từ mười hai kinh mạch chính đi ngang qua các bắp thịt tới da để củng cố Vệ Khí, đồng thời vào tủy xương để tăng cường tủy khí và để nuôi dưỡng và làm sạch tủy.
Cũng như với Hô Hấp Bụng Chính Thường, hãy bắt đầu với những chuyển động nhỏ của vùng bụng để giữ cho vùng này được thư giãn, tiến hành dần dần và cẩn thận. Khi bạn có thể kiểm soát chuyển động, bạn gia tăng quy mô của nó trong khi vẫn giữ được sự thư giãn. Khi ấy bạn có thể dẫn Khí từ cơ thể vào Đan Điền và từ Đan Điền ra toàn thân.
3. Thai Tức (胎息, Embryonic Breathing)
Thai Tức được dùng để tích trữ Khí tại Chân Hạ Đan Điền và để củng cố Vệ Khí thông qua Hô Hấp Đới Mạch (帶脈呼吸, Dai Mai Hu Xi). Điều này đạt được bằng cách giữ tâm ở đó. Nó thường được gọi là Ý Thủ Đan Điền (意守丹田), nghĩa là giữ tâm tại Đan Điền. Khi tâm ở đó, Khí được dẫn tới đó và ở lại nơi cư trú của nó (Khí Xá, 氣舍). Khi sự tập trung của tâm ở nơi khác, Khí bị dẫn đi và bị tiêu hao. Để tích trữ Khí, hít vào nên dài hơn thở ra, và nên thực hiện vào mùa xuân và mùa hạ. Nếu bạn củng cố Vệ Khí thông qua Hô Hấp Đới Mạch, thì thở ra nên dài hơn hít vào. Hô Hấp Đới Mạch nên thực hiện vào mùa thu và mùa đông, khi Vệ Khí mạnh mẽ là điều quan trọng để bảo vệ cơ thể khỏi cái lạnh.
Bởi vì bạn đang dẫn Khí đi ngang ra da và tủy xương, bạn phải dùng Hô Hấp Bụng Nghịch. Sự khác biệt duy nhất là khi bạn hít vào, bụng và lưng dưới thót lại cùng một lúc, trong khi nâng Hội Âm lên. Khi bạn thở ra, bụng và lưng dưới phình ra, đồng thời đẩy Hội Âm xuống, mềm mại và êm dịu.
Lại nữa, bạn bắt đầu từ quy mô chuyển động nhỏ, cho tới khi bạn kiểm soát các bắp thịt một cách hiệu quả, rồi mới gia tăng nó. Sau một thời gian dài thực hành, mọi chuyển động trở nên tự nhiên, dễ dàng và tự động mà không cần nhiều nỗ lực tinh thần, khi bạn đạt được sự điều chỉnh thực sự. Chậm rãi và dần dần, tâm của bạn chuyển về Chân Hạ Đan Điền và ở lại đó, tại trung tâm của cơ thể bạn.
Trước khi luyện Tiểu Chu Thiên, hãy thực hành Thai Tức trong vài phút. Nếu bạn hít vào lâu hơn thở ra, bạn dẫn Khí về Chân Hạ Đan Điền và làm cho mình tĩnh lại. Điều này làm tĩnh tâm của bạn và tích trữ Khí cho việc thực hành tuần hoàn.
Trong thực hành Nội Đan Khí công, Chân Hạ Đan Điền được gọi là Khí Huyệt (氣穴). Bên trên nó là Hoàng Đình (黃庭), cái đỉnh (dụng cụ nấu ăn) trong đó “thuốc” được nấu. Khi Khảm Thủy Khí từ Chân Hạ Đan Điền được trộn lẫn với Ly Hỏa Khí tại Hoàng Đình, thì Thánh Thai (Shen Tai, Sheng Tai, hay Linh Thai) được thụ thai. Sự tương tác của Thủy và Hỏa này được gọi là Khảm và Ly (坎離). Một khi Thánh Thai này sẵn sàng, nó được dẫn tới nơi cư trú của thần (Thần Thất, 神室, Thượng Đan Điền) để tu dưỡng tiếp, và về sau ra đi qua con mắt thứ ba để hợp nhất với thần của tự nhiên.
Sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư nói:
“Hoàng Đình là cái đỉnh và Khí huyệt là cái lò. Hoàng Đình nằm ngay bên trên Khí huyệt, và chúng được nối liền với nhau bởi lạc mạch. Đây là nơi gặp gỡ của hàng trăm kinh mạch trong cơ thể.”
Nguyên Khí ngưng tụ giữa hai huyệt trong Tiểu Đỉnh Lô (小鼎爐, lò đỉnh nhỏ). “Vị trí của Càn là đỉnh, còn vị trí của Khôn là lò.” Nếu khái niệm này được áp dụng trong Thiền Tuần Hoàn, thì não (Nê Hoàn Cung, 泥丸宮 hay Thượng Đan Điền) là Càn (đỉnh), còn Hạ Đan Điền (下丹田) là Khôn (lò). Sách Kim Tiên Chứng Luận (The Verification Thesis of Golden Immortal) nói:
“Những người hái thuốc (Khí) để vận chuyển chu thiên (Tiểu Chu Thiên) nên khởi hỏa tại lò Khôn (Chân Hạ Đan Điền). Thăng lên đầu Càn (đỉnh) và giáng xuống bụng Khôn (lò). Đó là điều người xưa muốn nói khi dùng Càn Khôn làm dụng cụ nấu nướng. Bất cứ khi nào Thần và Khí thăng và giáng, thì Khí của cái đỉnh tồn tại.”
Khi có Thần và Khí, bạn có lò và đỉnh. Nếu không có Thần và Khí, thì chẳng có lò cũng chẳng có đỉnh.
Vì vậy, khi bạn khởi hỏa tại Hạ Đan Điền Giả và tích lũy nó tại Chân Hạ Đan Điền, hơi thở ảnh hưởng đáng kể đến cách mà Khí được tích tụ. Nếu bạn tích tụ nó chậm với kỹ thuật dài và êm dịu, nó được gọi là văn hỏa (文火). Nếu bạn tích tụ nó nhanh với hơi thở ngắn, nhanh và nặng, nó được gọi là vũ hỏa (武火). Sách Đạo Hương Tập (Anthology of Daoist Village) hỏi:
“Thế nào là văn hỏa? Đó là giữ gìn và tồn tại. Đừng dập tắt và đừng giúp đỡ.”
Trong sự tu dưỡng bằng văn hỏa, dường như hơi thở có ở đó mà lại không ở đó. Nó giống như nấu ăn với một ngọn lửa rất nhỏ để ninh thức ăn.
Sách Đạo giáo Phong Nguyệt Thiên Tính Đạt Huyền Ký (The Record of Reaching the Mystic with Heavenly Nature of Wind and Moon) nói:
“Trong sự tĩnh lặng, có sự chuyển động của lửa. Đây là thời điểm đúng để luyện đại hoàn (大還, nuôi dưỡng thần bằng Khí). Khi Khí được hái lượm, nó là thuốc, và trong thuốc, có lửa. Nếu cần vũ hỏa, hãy nâng gió lên mạnh mẽ; nếu cần văn hỏa, Thai Tức chậm rãi và mềm mại.”
Khi bạn thiền định, cơ thể bạn ở trong một trạng thái cực kỳ tĩnh lặng. Bạn tích tụ lửa tại Chân Hạ Đan Điền, rồi dẫn nó lên não để nuôi dưỡng thần. Vũ hỏa được sinh ra từ hơi thở nhanh và nặng, trong khi văn hỏa được tạo ra từ Thai Tức chậm rãi và êm dịu.
Bởi vì Thai Tức là điều sống còn trong việc tích trữ Khí để tu dưỡng tâm linh, bạn nên nghiên cứu đề tài này trước, như đã được mô tả trong cuốn sách YMAA trước đây, Qigong Meditation—Embryonic Breathing (Thiền Khí Công — Thai Tức).
8-4 · Điều Chỉnh Tâm Tình Cảm
Cách bạn điều chỉnh tâm tùy thuộc vào mục đích của bạn. Nhưng bất kể mục đích là gì, quy tắc chung thì đơn giản. Khi tâm thanh bình và tĩnh lặng, nó có thể được an định tại nơi cư trú của Khí, dẫn Khí ở lại đó. Khi tâm ở nơi khác, nó dẫn Khí ra ngoài để biểu hiện và tiêu hao.
Bạn điều chỉnh tâm của mình theo mục đích của mình. Mục đích thứ nhất của việc điều tâm trong Tiểu Chu Thiên là tích trữ Khí dồi dào tại Chân Hạ Đan Điền. Khí trong bát mạch được nâng lên, và mười hai kinh mạch chính của Khí được điều hòa, để năng lượng sống của toàn thân mạnh mẽ, khỏe mạnh và tinh thần phấn chấn. Mục đích chính thứ hai của việc thực hành Tiểu Chu Thiên là dẫn Khí lưu thông trôi chảy trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Điều này củng cố cơ thể và là điều tối quan trọng đối với việc thực hành Dịch Cân (Cải Biến Gân/Cơ).
Trong thiền Tiểu Chu Thiên, trước hết hãy dẫn tâm của bạn từ con mắt thứ ba tới Nê Hoàn Cung. Điều này làm tĩnh lại các ý nghĩ lung tung và dẫn nó vào trạng thái hư không. Bạn đang điều chỉnh tâm tình cảm của mình để giải phóng nó khỏi sự trói buộc của thất tình lục dục đã được mô tả trước đây. Nếu bạn gặp khó khăn trong việc điều chỉnh tâm tình cảm này, bằng cách chú ý tới con mắt thứ ba và dẫn nó tới Nê Hoàn Cung, bạn có thể đơn giản chỉ tập trung vào hơi thở của mình.
Quy trình thông thường để thuần hóa cái tâm vượn của tình cảm có ba bước. “Đôi mắt quán sát mũi, và mũi quán sát Tâm (tâm tình cảm).” Hãy hướng tầm nhìn của bạn vào bên trong bằng cách nhắm mắt lại, rồi chú ý tới hơi thở. Hơi thở dần dần điều hòa cái Tâm.
Hãy làm cho hơi hít vào dài, mềm và mảnh mai, và để cho hơi thở ra xảy ra chậm rãi một cách tự nhiên. Điều này làm tĩnh tâm và thân của bạn. Với cảm nhận bên trong rõ ràng, bạn đem tâm của mình tới Cưu Vĩ (鳩尾, Co-15, Trung Đan Điền) và tiếp tục điều chỉnh tâm, được hơi thở hỗ trợ. Để làm nguội lửa tình cảm và thể chất của cơ thể, trước hết bạn phải làm nguội Trung Đan Điền, vốn là trung tâm của Hỏa Khí hậu thiên. Một khi bạn làm nguội trung tâm lửa này, bạn có thể dẫn thân thể vật lý và tinh thần của mình tới một trạng thái rất tĩnh lặng và thanh bình.
Sau đó, hãy chuyển tâm của bạn về Chân Hạ Đan Điền. Đây là Thai Tức, thứ từ từ dẫn Khí về nơi cư trú của nó. Thân thể vật lý sẽ không được tiếp thêm năng lượng nữa, và nó bắt đầu nguội đi. Hãy tiếp tục Thai Tức một lúc cho tới khi bạn cảm thấy Khí đã tích lũy tới một mức độ thoải mái. Khi ấy người ta nói rằng bạn đã “sản dược” (產藥, Chan Yao), nghĩa là bạn đã tích tụ được một ngọn lửa.
Việc sản sinh thuốc tại Chân Hạ Đan Điền tùy thuộc vào sự chuyển động của cái cổng xảo diệu, Hội Âm. Hội Âm có thể dẫn Khí tới Chân Hạ Đan Điền và tích trữ nó ở đó (Âm), và cũng có thể dẫn nó tới thân thể vật lý và tinh thần để biểu hiện nó (Dương). Hô Hấp Bụng Nghịch dẫn Khí đi tích trữ tại Chân Hạ Đan Điền. Rồi tâm của bạn có thể tuần hoàn nó. Đây là việc “thái dược” (採藥, Cai Yao), hái lượm thuốc.
Hãy giải phóng chính mình khỏi sự trói buộc tình cảm còn vương vấn, thứ làm cho hiện tại thêm rối ren và gieo rắc nghi ngờ về tương lai. Điều này do thiếu sự thấu hiểu ý nghĩa của cuộc sống. Hãy nhận ra chính mình, hãy nhận thức về chính mình và môi trường của mình, và hãy để tâm của bạn tỉnh thức để thấu hiểu những sự việc xảy ra. Khi ấy bạn có thể giải phóng chính mình khỏi sự trói buộc. Khổng Tử (孔子) nói:
“Một khi sự biết (tự nhận thức) đã chấm dứt, thì có sự vững chãi. Sau sự vững chãi, thì có thể tĩnh lặng. Khi nó tĩnh lặng, thì có thể thanh bình. Khi nó thanh bình, thì bạn có thể suy nghĩ. Một khi bạn có thể suy nghĩ, thì bạn sẽ đạt được.”
Đây là quá trình xây dựng sự tự tin trong cuộc sống hay trong bất kỳ sự học tập nào. Nếu thiếu điều đó, tâm của bạn sẽ lang thang và rối loạn, và tâm tình cảm của bạn cũng sẽ không được cai quản bởi tâm trí tuệ.
Mục tiêu sau cùng được gọi là chính niệm (正念), tâm của không tâm (vô niệm, 無念), hay chân niệm (真念). Tâm hoàn toàn tách rời khỏi các ý nghĩ tình cảm. Trong sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư có nói:
“Nếu người ta muốn chấm dứt sự khởi phát của cái Tâm (tâm tình cảm), người ta phải khởi đầu từ ý nghĩ của không ý nghĩ.”
Để đạt tới giai đoạn này, thân và tâm phải cực kỳ tĩnh lặng và hư không. Đạo Đức Kinh, chương 16, nói:
“Đạt tới sự hư không tột cùng, và giữ gìn sự tĩnh lặng sâu xa.”
Khi giai đoạn này đạt được, Âm và Dương trong cơ thể tương tác hài hòa với nhau, sinh ra tinh hoa Dương của sự sống. Sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư nói:
“(Khi) không có gì trong tâm của bạn, đó là hư không. Khi không còn ý nghĩ nào nảy sinh, đó là tĩnh lặng. Đạt tới hư không tới mức tột cùng của nó, giữ gìn tĩnh lặng tới mức sâu xa của nó. Âm và Dương tương tác tự nhiên. Rồi tinh hoa Dương được sinh ra.”
Trong sách Đạo Hương Tập (Anthology of Daoist Village) có nói:
“Khi cái Tâm (dục vọng) được sinh ra, thì hãy quán sát cái then chốt của nó. Khi không có cái Tâm (Vô Tâm, 無心) được sinh ra, thì hãy quán sát sự nhiệm mầu. Những lời này mô tả các ứng dụng của Đạo. Câu nói rằng ‘nếu dục vọng được sinh ra, thì quán sát cái then chốt,’ thực ra là sự ứng dụng của câu nói rằng ‘nếu không có dục vọng được sinh ra, thì quán sát sự nhiệm mầu.’ Câu nói rằng ‘nếu dục vọng được sinh ra, thì quán sát sự nhiệm mầu (của Đạo)’, thực ra là cốt lõi của câu nói rằng ‘nếu dục vọng được sinh ra, thì quán sát cái then chốt.’ ‘Nếu có dục vọng, thì quán sát cái then chốt của nó’ nghĩa là có ý muốn hành động. Đó là lúc thần và Khí trở về với thân thể. ‘Không có dục vọng, và quán sát sự nhiệm mầu (của Đạo)’ nghĩa là không có ý muốn hành động. Đây là trạng thái không có người khác, không có ta, không có núi, không có sông, cỏ hay cây, hòa lẫn và không thể phân biệt, không có cảm giác và không có cảm nhận.”
Đoạn này thảo luận về hai trạng thái của thiền định, trạng thái của dục vọng và trạng thái của không dục vọng. Trong trạng thái của dục vọng, hay của ý muốn, tâm tình cảm của bạn dẫn Khí để thỏa mãn dục vọng của bạn và để nuôi dưỡng cùng nâng cao thần của bạn. Khi ấy, bạn đang chú ý tới các phương pháp (then chốt) của việc dẫn dắt và tu dưỡng. Trạng thái kia là trạng thái của không dục vọng. Đây là trạng thái của Vô Cực, không có cùng cực và không có ý nghĩ. Khi bạn đạt tới một trạng thái tĩnh lặng sâu xa, đó là “ý nghĩ của không ý nghĩ.” Trong trạng thái này, bạn là một phần của tự nhiên và quên đi chính mình và tự nhiên, cả hai trở nên không thể phân biệt. Thần của bạn hòa quyện và hợp nhất với thần của tự nhiên. Đây là trạng thái Thiên Nhân Hợp Nhất (天人合一), điểm tận cùng và nguồn gốc của sự sống.
Khi bạn thực hành Tiểu Chu Thiên trong trạng thái của Thai Tức, tâm của bạn ở tại trung tâm. Nếu bạn có ý muốn tích trữ Khí tại Chân Hạ Đan Điền hay mở rộng nó ra Đới Mạch (帶脈), thì bạn có một ý muốn. Tuy nhiên, một khi bạn đã đạt tới một mức độ rất sâu, giai đoạn của “điều chỉnh của không điều chỉnh,” thì bạn có “ý nghĩ của không ý nghĩ.” Bạn đang ở trong trạng thái Vô Cực cực kỳ tĩnh lặng, điều cho phép bạn được hài hòa với tự nhiên.
Tuy nhiên, khi bạn đang ở trong trạng thái dùng tâm để dẫn Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch, bạn có một ý muốn. Một khi bạn đạt tới trạng thái của “điều chỉnh của không điều chỉnh,” mọi sự trở nên tự nhiên và bạn bước vào “ý nghĩ của không ý nghĩ.”
8-5 · Điều Chỉnh Khí
Việc điều chỉnh Khí trong thực hành Tiểu Chu Thiên có thể được chia thành hai phần. Phần thứ nhất là, thông qua Thai Tức, xây dựng Khí dồi dào và tích trữ nó tại Chân Hạ Đan Điền. Phần thứ hai là dùng tâm để dẫn Khí lưu thông trôi chảy trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. Ở đây chúng tôi tập trung vào các phương pháp tuần hoàn Khí trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch.
Có nhiều đường lối của Tiểu Chu Thiên, nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào đường lối tuần hoàn Khí trong Hỏa Lộ (Fire Path). Đây là đường lối an toàn nhất và quan trọng nhất, và được cả người mới bắt đầu lẫn người thực hành lâu năm ưa chuộng nhất. Nó đi theo đường lối tự nhiên của sự tuần hoàn Khí và củng cố sự tuần hoàn Khí trong cơ thể. Hầu hết những người thực hành Tiểu Chu Thiên chỉ tuân theo Hỏa Lộ mà thôi.
Cũng có nhiều cách tuần hoàn Khí trong Hỏa Lộ. Người Phật giáo tích tụ Khí tại Hạ Đan Điền và dẫn nó tuần hoàn bằng Hô Hấp Bụng Chính Thường. Tuy nhiên, người Đạo giáo thích dùng Hô Hấp Bụng Nghịch hơn. Phương pháp Đạo giáo mạnh mẽ hơn, bởi vì tâm tham gia tích cực hơn vào việc dẫn Khí, vì vậy nó được phân loại là phương pháp Dương, so với phương pháp Phật giáo được phân loại là Âm. Tôi chỉ thực hành phương pháp Phật giáo trong ba năm, bắt đầu khi tôi mười sáu tuổi. Sau hơn ba mươi năm thực hành phương pháp Đạo giáo, tôi có nhiều kinh nghiệm hơn trong kỹ thuật ấy. Ở đây, tôi chia sẻ với bạn những gì tôi đã kinh nghiệm về các kỹ thuật Tiểu Chu Thiên của Đạo giáo.
Tam Quan — Ba Cửa Ải Nguy Hiểm
Điểm quan trọng nhất trong thực hành Tiểu Chu Thiên là có ba cửa ải nguy hiểm (Tam Quan, 三關), mà theo kinh nghiệm, có thể gây ra chấn thương nghiêm trọng, đặc biệt là đối với người mới bắt đầu.
| Cửa ải | Y học | Đạo gia / Võ thuật | Huyệt vị |
|---|---|---|---|
| 1 | Trường Cường (Changqiang) | Vĩ Lư (Weilu, xương cụt) | Đốc Mạch 1 (Gv-1) |
| 2 | Linh Đài (Lingtai) | Mệnh Môn (Mingmen, Cửa Đời) / Giáp Tích (Jiaji) | Đốc Mạch 10 (Gv-10) / Đốc Mạch 4 (Gv-4) |
| 3 | Phong Phủ (Fengfu) | Ngọc Chẩm (Yuzhen, Gối Ngọc) | Đốc Mạch 16 (Gv-16) |
Cách dẫn Khí vượt qua ba cửa ải này đã được giữ kín trong sự thực hành thời xưa. Tiếp theo đây, tôi chia sẻ những gì tôi tin là những cách an toàn nhất và tự nhiên nhất để làm điều đó.
Để khởi đầu, bạn nên giữ tâm tại Hạ Đan Điền Giả và khởi hỏa ít nhất năm phút. Không chỉ ngọn lửa được xây dựng, mà tâm của bạn cũng dần dần chuyển từ bên ngoài cơ thể sang cảm giác bên trong. Nếu bạn hít vào lâu hơn thở ra, bạn có thể dễ dàng tĩnh lại. Tuy nhiên, nếu bạn biết Thai Tức, thì bạn có thể dùng nó thay thế, chú ý nhiều hơn tới hơi hít vào.
Sau năm tới mười phút Hô Hấp Hạ Đan Điền Giả hay Thai Tức, bạn nên nhận thấy một cảm giác ấm áp rõ rệt ở vùng đó. Bạn cũng có thể cảm thấy sự rung động nếu Hạ Đan Điền Giả được dùng. Đừng hoảng sợ, vì tất cả những hiện tượng này đều rất bình thường.
Hãy giữ cho lưỡi của bạn chạm nhẹ vào giữa vòm họng. Điều này được gọi là Đáp Thước Kiều (搭鵲橋, xây cầu thước), cho phép bạn nối liền Nhâm Mạch (Âm) và Đốc Mạch (Dương) trong miệng của mình. Người Đạo gia gọi chỗ này là Thượng Thước Kiều (上鵲橋), trong khi Hội Âm, cũng nối liền hai mạch, được gọi là Hạ Thước Kiều (下鵲橋).
Tiểu Tiểu Chu Thiên — Vượt Qua Cửa Ải Thứ Nhất
Để giúp người mới bắt đầu dẫn Khí vượt qua cửa ải thứ nhất, Trường Cường hay xương cụt, tôi dạy điều mà tôi gọi là Tiểu Tiểu Chu Thiên (小小周天, Xiao Xiao Zhou Tian). Chìa khóa là dẫn Khí bằng cách đặt tâm đi trước Khí. Hãy đặt tâm ở một hay hai huyệt phía trước Khí, rồi nó có thể được dẫn đi. Khi tâm ở ngay trên Khí, thì Khí bị ứ trệ. Tâm không nên ở trên Khí.
Trong Tiểu Tiểu Chu Thiên, bạn hít vào trong khi giữ tâm tại Hạ Đan Điền, rồi thở ra để dẫn Khí tới Hội Âm. Hít vào, và dẫn Khí đi lên từ Hội Âm tới Mệnh Môn (Đốc Mạch 4), rồi trở về Hạ Đan Điền hay Chân Hạ Đan Điền (Hình 8-14) bằng cách giữ tâm đi trước nó. Hãy lặp lại chu kỳ này.
Khi bạn thực hành, bạn nên phớt lờ sự hiện diện của huyệt Trường Cường. Bạn càng tập trung vào cửa ải này, Khí càng ứ trệ ở đó.
Bạn có thể kinh nghiệm rằng Khí của bạn chuyển động nhanh hơn tâm của bạn. Trong trường hợp này, nó giống như việc dắt một con bò bằng sợi dây thừng, nhưng thay vào đó con bò lại đi trước bạn. Điều này có nghĩa là tâm của bạn không dẫn Khí, vì vậy hãy thực hành cho tới khi bạn có thể làm điều đó một cách hiệu quả. Hãy làm chậm hơi thở của bạn lại, và đưa Hội Âm lên xuống chậm rãi. Tâm của bạn cần phải tĩnh lặng, thanh bình và tập trung. Bạn nên thực hành trong vài tháng cho tới khi bạn tinh thông nó.
Các Điểm Quay Trở Lại Trên Đường Tuần Hoàn
Kế đó, bạn tuần hoàn Khí trên đường lối thông thường của Tiểu Chu Thiên. Bạn dẫn nó đi lên dọc theo cột sống từng bước một, tiến lên vài huyệt mỗi lần. Khi bạn đạt tới một điểm nhất định, bạn phải quay trở lại và dẫn Khí về Chân Hạ Đan Điền. Có nhiều điểm quay trở lại khác nhau mà bạn có thể dùng, thường được giữ kín trong các môn phái khác nhau. Nếu bạn chọn đúng điểm, sự nguy hiểm có thể được giảm thiểu đáng kể. Đừng thúc ép để làm cho điều đó xảy ra, mà hãy dành thời gian của bạn, bằng không cái ngã và sự lo âu của bạn có thể cản trở và gây nguy hiểm cho bạn. Hãy thong thả và tận hưởng sự thực hành. Những điểm quay trở lại sau đây được xem là an toàn nhất cho sự thực hành:
-
Mệnh Môn (Đốc Mạch 4). Hãy dùng Mệnh Môn làm điểm quay trở lại thứ nhất. Bởi vì Mệnh Môn nối liền với Chân Hạ Đan Điền, nếu có bất kỳ sự ứ trệ nào, Khí có thể dễ dàng trở về qua huyệt này. Trước hết thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào và dẫn nó lên Mệnh Môn. Thở ra lần nữa để dẫn Khí trở lại Hội Âm, và sau cùng hít vào và dẫn nó trở về Chân Hạ Đan Điền (Hình 8-15). Có một quy tắc đơn giản để phối hợp hơi thở của bạn với việc dẫn Khí. Bất cứ khi nào bạn dẫn Khí ra khỏi Đan Điền, bạn thở ra, và bất cứ khi nào bạn dẫn nó trở về Đan Điền, bạn hít vào.
-
Tích Trung (Đốc Mạch 6). Một khi bạn có thể dẫn Khí tới Mệnh Môn một cách dễ dàng, bạn nới rộng đường lối bằng cách dẫn nó lên tới Tích Trung, có nghĩa là trung tâm cột sống. Hãy dùng huyệt này làm điểm quay trở lại, bởi vì nó ở xa huyệt trọng yếu Linh Đài (Đốc Mạch 10), cửa ải xảo quyệt thứ hai. Trước hết thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào và dẫn nó lên tới Tích Trung. Thở ra và dẫn nó xuống Hội Âm, và sau cùng hít vào và dẫn nó trở về Đan Điền (Hình 8-16).
-
Thân Trụ (Đốc Mạch 12) hay Đại Chùy (Đốc Mạch 14). Lại nữa, sau khi bạn đã thực hành một thời gian và cảm thấy thoải mái khi dẫn Khí tới Tích Trung, thì bạn mới có thể tiếp tục dẫn nó tới huyệt Thân Trụ hay Đại Chùy. Những huyệt này được chọn bởi vì nếu Khí bị ứ trệ ở đó sau khi thực hành, nó có thể dễ dàng được tản ra vào hai cánh tay để ngăn ngừa bất kỳ vấn đề nào. Giữa Tích Trung và hai huyệt này là huyệt Linh Đài nguy hiểm. Phương pháp để đối phó với cửa ải này là phớt lờ nó. Bạn càng tập trung vào nó, Khí càng bị dẫn tới đó và đi vào tim. Hãy phớt lờ nó và chú ý tới các huyệt Thân Trụ hay Đại Chùy. Trước hết thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào và dẫn nó lên Thân Trụ hay Đại Chùy. Thở ra và dẫn nó trở lại Hội Âm, và sau cùng hít vào và dẫn nó trở về Đan Điền (Hình 8-17).
-
Á Môn (Đốc Mạch 15). Bước kế tiếp là dẫn Khí tới Á Môn, hay Cửa Câm, nằm ở trung tâm phía sau của cổ. Người ta luôn luôn cử động cổ, vì vậy bất kỳ sự ứ trệ Khí nào ở đó có thể được loại bỏ dễ dàng trước khi nó gây tổn hại. Trước hết thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào và dẫn nó lên Á Môn. Thở ra và dẫn nó xuống Hội Âm, và sau cùng hít vào khi bạn dẫn nó trở về Đan Điền (Hình 8-18).
-
Bách Hội (Đốc Mạch 20). Bên trên Á Môn là Phong Phủ (Đốc Mạch 16) hay Ngọc Chẩm, cửa ải xảo quyệt thứ ba, mà bạn phớt lờ. Bạn càng chú ý tới nó, Khí càng ứ trệ ở đó. Chỉ cần đơn giản dẫn Khí tới Bách Hội, “trăm sự gặp gỡ,” vốn được nối liền với đường năng lượng trung tâm. Khi thần được nâng lên tại huyệt này, Khí của toàn thân có thể được cai quản một cách hiệu quả, và bất kỳ sự ứ trệ nào cũng dễ dàng được dẫn đi. Trước hết thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào khi bạn dẫn nó lên Bách Hội. Thở ra và dẫn nó xuống Hội Âm, và sau cùng hít vào và dẫn nó trở về Đan Điền (Hình 8-19).
-
Vòm Họng (Thượng Ngạc, Shang E). Vòm họng của miệng là nơi giao tiếp Khí của mạch Âm (Nhâm) và mạch Dương (Đốc). Tại đó bạn đổi hơi hít vào thành hơi thở ra và dẫn Khí đi xuống phía trước cơ thể tới Hội Âm để hoàn tất chu kỳ. Trước hết bạn thở ra và dẫn Khí tới Hội Âm, rồi hít vào để dẫn nó đi lên qua Bách Hội và đi xuống vòm họng của miệng. Thở ra và dẫn Khí đi xuống phía trước cơ thể tới Hội Âm (Hình 8-20). Trong khi dẫn nó đi xuống qua Âm Giao (Nhâm Mạch 7), bạn cũng đang dẫn thêm Khí từ Đan Điền Giả hay Đan Điền Chân để nhập vào dòng Khí nhằm tăng cường sự tuần hoàn của nó.
Bây giờ bạn đã hoàn tất Tiểu Chu Thiên. Bạn nên tiếp tục tuần hoàn trong hai mươi phút hay hơn, tùy thuộc vào tình trạng của bạn. Khí nên được tâm dẫn đi nhanh đến mức nào? Điều này tùy thuộc vào kỹ thuật của mỗi cá nhân. Các tài liệu cổ mô tả ba cách dẫn Khí trong Tiểu Chu Thiên, được gọi là Hà Xa (河車, “xe sông”). Từ Vĩ Lư tới Giáp Tích được phân loại là “xe cừu” (Dương Xa, 羊車), và sự chuyển động của Khí nên chậm. Từ Giáp Tích tới Ngọc Chẩm được phân loại là “xe nai” (Lộc Xa, 鹿車), và sự chuyển động của Khí nên nhanh. Sau cùng, từ Ngọc Chẩm tới Nê Hoàn được phân loại là “xe bò” (Ngưu Xa, 牛車), và sự chuyển động của Khí nên mạnh mẽ. Ba cách vận chuyển Khí này thường được gọi là Tam Xa (三車), nghĩa là ba cỗ xe. Điều này chỉ để bạn tham khảo. Điều quan trọng nhất trong tất cả là cảm giác của bạn.
Nếu bạn thích thú và cảm thấy thoải mái, bạn có thể thiền định trong vài giờ. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy không an ổn ngay cả chỉ trong một thời gian ngắn, bạn nên dừng lại và thử lại sau. Bạn không nên ép mình ngồi lâu, nếu điều đó mang lại cho bạn nhiều căng thẳng và sự không thoải mái hơn. Tôi muốn nhắc bạn vài điểm quan trọng:
-
Khi bạn dẫn Khí tới một huyệt, đừng tập trung vào vị trí chính xác của nó. Chỉ cần đơn giản chú ý tới vùng đó. Điều này khác với châm cứu, trong đó sự chính xác của việc châm kim là điều rất quan trọng. Trong thiền định, nếu bạn chú ý quá nhiều tới vị trí chính xác, tâm của bạn sẽ ứ trệ cùng với Khí. Chỉ cần chú ý tới vùng đó, và Khí sẽ được dẫn đi trôi chảy.
-
Nhâm Mạch là Âm, trong khi Đốc Mạch là Dương. Chúng điều tiết sáu kinh mạch chính Âm và sáu kinh mạch chính Dương một cách độc lập. Để ngăn mạch Âm trở nên quá Âm, khi bạn dẫn Khí trong đó, bạn thở ra (Dương) để cân bằng cái Âm ấy. Tương tự như vậy, khi bạn dẫn Khí trong Đốc Mạch, bạn hít vào (Âm) để ngăn nó trở nên quá Dương. Điều này cân bằng trạng thái của Khí khi bạn thiền định. Hội Âm được dùng làm điểm chuyển hướng khi bạn đổi hơi thở từ thở ra sang hít vào, và vòm họng là điểm chuyển hướng khi bạn đổi nó từ hít vào sang thở ra.
-
Thông thường, để làm cho hơi thở trôi chảy và tự nhiên hơn, một vị sư phụ dạy đệ tử của mình hơi thở hai chu kỳ. Nếu hơi thở một chu kỳ cho Tiểu Chu Thiên quá gấp gáp và không thoải mái, bạn có thể thêm một lần hít vào và thở ra nữa. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, chỗ tốt nhất để thêm hơi thở phụ này là ở phía trước. Nghĩa là khi bạn thở ra để dẫn Khí đi xuống từ vòm họng, thay vì dẫn nó tới Hội Âm ngay lập tức, trước hết hãy thở ra tới Âm Giao (Nhâm Mạch 7), rồi hít vào và dẫn Khí vào Chân Hạ Đan Điền. Sau cùng, thở ra lần nữa và dẫn Khí tới Hội Âm để hoàn tất chu kỳ (Hình 8-21).
-
Hãy nhớ một quy tắc đơn giản. Khi bạn thực hành Tiểu Chu Thiên, đừng nín thở. Hãy hít vào và thở ra một cách trôi chảy và tự nhiên. Bất cứ khi nào bạn nín thở, bạn làm căng thân và tâm của mình, và điều này gây ra sự ứ trệ Khí.
-
Nếu bạn chưa thể kiểm soát vùng bụng, đừng dẫn Khí, vì điều đó có nghĩa là tâm của bạn vẫn đang điều chỉnh hơi thở bụng của mình. Nếu bạn cứ dẫn Khí, thì vùng dạ dày và bụng của bạn sẽ căng thẳng và không thoải mái. Điều này cản trở quá trình thiền định. Bạn nên thực hành hơi thở bụng một thời gian cho tới khi nó trở nên rất tự nhiên, trôi chảy và thoải mái.
-
Trong khi thiền định, hãy chú ý tới lưng của bạn. Nó có thể trở nên căng thẳng sau một thời gian thiền định. Trước hết hãy điều chỉnh thân thể của bạn cho tới khi nó được điều chỉnh. Rồi điều chỉnh hơi thở của bạn cho tới khi nó được điều chỉnh. Chỉ khi đó bạn mới tạo ra những điều kiện tốt để tâm của mình dẫn Khí. Hãy thong thả và tự nhiên. Bất cứ khi nào thân thể của bạn căng thẳng, sự tuần hoàn Khí sẽ bị ứ trệ.
8-6 · Điều Chỉnh Thần
Điều chỉnh thần là giai đoạn sau cùng của việc điều chỉnh trong Khí công. Tùy theo các môn phái khác nhau, mục đích của việc điều thần cũng khác nhau. Chẳng hạn, đối với Y Khí công, điều thần chỉ đơn giản là nhằm nâng cao tinh thần của sinh lực cho mục đích chữa bệnh. Đối với nhóm học giả (văn nhân), nó điều chỉnh thần cho tới khi đạt được sự tĩnh lặng và thanh bình tột cùng. Đối với Khí công võ thuật, điều thần nâng cao sự tỉnh thức và nhuệ khí chiến đấu.
Để đạt tới trạng thái thanh bình này, những người thực hành Khí công văn nhân nỗ lực để được tự do khỏi sự trói buộc của tình cảm. Đạo Đức Kinh, chương 1, nói: “Luôn duy trì trạng thái của không dục vọng, để có thể thấy được sự nhiệm mầu của nó.” Chương 16 nói: “Đạt tới sự hư không tột cùng, và duy trì sự tĩnh lặng chân thực.” Thế nào là sự hư không tột cùng? Đó là điều được định nghĩa là thần. Sách Chân Thánh Thai Thần Ứng Dụng Bí Quyết (All Application Secrets of Real Holy Embryonic Spirit) nói: “Thế nào là thần? Đó là sự ứng dụng của hư không và không có gì cả.” Thần là vô hình, trống rỗng và không thể nắm bắt. Nó là chủ nhân của sự hiện hữu, cư ngụ trong hình thể vật lý của chúng ta.
Tuy nhiên, trong giới tôn giáo, việc điều thần nhằm mục đích sinh ra Thánh Thai, để mở con mắt thứ ba cho sự giác ngộ hay thành Phật. Người Phật giáo và Đạo giáo cũng nỗ lực đạt tới sự hư không của tình cảm, hay sự tự do khỏi sự trói buộc của tình cảm. Kinh điển Phật giáo, Lục Tổ Đàn Kinh (Sixth Ancestors Lecturing Classic) nói:
“Bồ Đề vốn không có cây, cũng chẳng có tấm gương sáng ở phía trước. Vốn không có vật gì ở đó, thì làm sao chúng có thể bị vấy bẩn bởi bụi hay bùn (vật chất hay tình cảm)?”
Bồ Đề là một thuật ngữ đặc biệt của Phật giáo, chỉ trí tuệ tối thượng, được phát triển từ một mức độ tu dưỡng tâm linh cao. “Cây” nghĩa là tất cả các đối tượng vật chất quanh chúng ta, và “gương” phản ánh các phản ứng tình cảm đối với các sự kiện. Nếu trong tâm bạn không có đối tượng cũng chẳng có sự xáo động tình cảm, thì làm sao bạn có thể bị quấy nhiễu bởi bụi hay bùn của tình cảm?
Thần được gọi là Nguyên Thần (元神, Original Spirit). Thần này được sinh ra nguyên thủy trong hình thể vật chất và cư ngụ trong não. Sách Bản Thảo Cương Mục (A Detailed Outline of Basic Herbs) chỉ rõ: “não là nơi cư trú của Nguyên Thần.” Não cũng được người Đạo gia gọi là Thượng Đan Điền (上丹田). Sách Quan Mạch (Observing Vessels) nói:
“Não là Thượng Đan Điền, cung điện nơi Nguyên Thần cư ngụ. Nếu người ta làm vững Nguyên Thần và giữ nó cư ngụ tại nơi cư trú nguyên thủy của nó, thì Khí vàng được nâng lên và hơi thở chân thực tự động trở nên vững vàng. Đó là điều người ta nói: khi một mẹo mở ra, trăm mẹo sẽ mở. Khi cửa lớn đi qua được, thì trăm cửa đều đi qua được.”
Nguyên Thần cư ngụ tại Nê Hoàn Cung, trung tâm của não, nơi tuyến tùng và tuyến yên tọa lạc. Hai tuyến này có hình dáng giống như những viên hoàn nhỏ. Sách Đạo giáo Tham Đồng Khế Xiển U (Further Study of Can Tong Qi) nói:
“Hãy theo sự đi tới đi lui của hơi thở chân thực, để cho chân Khí thăng và giáng tự do. Từ sáng tới tối, Nguyên Thần phải luôn luôn cư ngụ tại Nê Hoàn.”
Lại nữa, trước hết điều rất quan trọng là đọc và hiểu cuốn sách Qigong Meditation—Embryonic Breathing (Thiền Khí Công — Thai Tức).
Nguyên Thần cũng được gọi là Cốc Thần (谷神, Valley Spirit), bởi vì khoảng không gian giữa hai bán cầu của não tạo thành một thung lũng, nơi sinh ra tiếng vang và sự cộng hưởng. Không gian này cũng được gọi là Thần Cốc (神谷). Đạo Đức Kinh, chương 6, nói:
“Cốc thần không chết, nó được gọi là Huyền Pin (玄牝). Cửa của Huyền Pin là gốc rễ của trời và đất. Nó dường như đang hiện hữu. Khi được dùng, nó sẽ không bao giờ cạn kiệt.”
Người Đạo gia tin rằng thần không chết cùng với thân xác vật lý. Thần tìm một thân xác mới và nhập vào đó để luân hồi. Huyền Pin có nghĩa là sự sáng tạo ra sự sống từ sự kết hợp giữa đối tượng vật chất và năng lượng tâm linh vô hình. Từ Huyền Pin, hàng triệu sinh mệnh được sinh ra. Vì vậy, Huyền Pin là gốc rễ của thế giới vật chất. Nếu chúng ta biết cách giữ cho lực lượng tâm linh này mạnh mẽ, nó sẽ tồn tại mãi mãi. Thần được gọi là Nguyên Thần hay Cốc Thần, và nơi cư trú của nó là não, Thượng Đan Điền, Thần Cốc, hay Nê Hoàn Cung.
Đối với người Phật giáo và Đạo giáo, mục tiêu sau cùng của việc điều thần là mở con mắt thứ ba và cho phép thần giao tiếp với thế giới tâm linh bên ngoài. Điều này được gọi là Thiên Nhân Hợp Nhất (天人合一). Con mắt thứ ba cũng được gọi là thiên mục (天目, mắt trời), như được giải thích trong sách Đạo giáo Võ Đang Tu Chân Đồ (The Illustration of Cultivating the Truth in Wudang): “Bên dưới Minh Đường, chỗ giữa phần trên của đường thẳng giữa hai lông mày, có một ánh sáng tâm linh phát ra ở đây; nó được gọi là thiên mục.” Minh Đường nghĩa là trán. Con mắt thứ ba được gọi là Ấn Đường (M-HN-3) trong giới y học, và thiên đình (天庭) trong dân gian.
Con mắt thứ ba là cánh cửa để thần ra vào Thần Cốc. Sách Đạo giáo Thất Thiêm Trúc Lục (Seventh Bamboo Label of Bookcase) nói: “Chỗ giữa hai lông mày là cửa ngọc (quý báu) của Nê Hoàn.” Con mắt thứ ba là cánh cửa dẫn vào Nê Hoàn Cung, nơi cư trú của Nguyên Thần.
Có một tài liệu cổ mô tả việc tu dưỡng thần trong Tiểu Chu Thiên:
Đạo Hương Tập (Anthology of Daoist Village)
Tiểu Chu Thiên nên được thực hành sau khi hạt giống chân thực đã vào lò, vào lúc dương hỏa (Khí) vừa bắt đầu sản sinh. Hãy nương theo cơ hội (thời điểm) của sự sản sinh và lớn lên này, dùng thần để dẫn, và dùng hơi thở để thổi (để cho ngọn lửa bùng lên). Khi lửa nhận được sự dẫn dắt của thần và sự thổi của hơi thở, nó tự nhiên thăng lên. Nhưng bạn cần không bị gò bó bởi các sơ đồ để bói toán (trong Bát Quái) hay bị hạn chế bởi thời gian. Khi có cơ hội để thăng lên, thì hãy dẫn nó lên. Khi có cơ hội cho sự vững chãi và tĩnh lặng, thì hãy để nó được vững chãi và tĩnh lặng. Bất kể như thế nào, hãy luôn dẫn khi có sự chuyển động (của Khí), và làm cho nó vững khi có sự tĩnh lặng. Nếu không có chuyển động mà bạn dẫn, thì đó là vô ích. Nếu không có sự tĩnh lặng mà bạn làm cho nó vững, thì đó là có hại. Bất kể là chuyển động hay tĩnh lặng, mỗi cái phải nương theo cơ hội của nó. Trong trường hợp này, đó là sự phối hợp với tự nhiên (Đạo). Tuy dùng thần để dẫn, nhưng bạn không nên quán sát (tập trung), và tuy dùng hơi thở để thổi, nó không nên bị ứ trệ. Khi Khí bắt đầu chuyển động và thăng lên, Nguyên Thần ngưng tụ tại Huyền Quan (cửa ải xảo diệu, Hạ Đan Điền). Rồi dùng một ít thần (tâm) để dẫn dương hỏa đang thăng lên, và dùng hơi thở để tăng cường nó. Đó không phải vì hơi thở có thể (làm cho Khí) thăng lên bằng cách đi theo dương hỏa. Nó chỉ là dùng chức năng của sự hít vào (để dẫn Khí thăng lên). Khi thở ra, thì hãy theo cách (tự nhiên) của nó. Tuy chức năng của hơi thở ra là đi xuống, tuy nhiên, khi dương hỏa nhận được áp lực của hơi thở chân thực, nó sẽ quay lại và thăng lên. Đó chỉ là khi dùng thần và hơi thở. Tôi theo sự thăng và giáng của nó (Khí). Vì vậy, dương hỏa bắt đầu từ Huyền Khiếu (Hội Âm) và kết thúc tại Huyền Khiếu để hoàn tất một chu kỳ. Đây được gọi là thiên chu (chu thiên của trời).
Trong thực hành Tiểu Chu Thiên, trước hết bạn xây dựng Khí (Hỏa) thông qua hơi thở bụng. Bạn tập trung tâm và thần của mình tại Hạ Đan Điền Giả để khởi lên ngọn lửa hạt giống. Thông qua hơi thở bụng trong một thời gian, Khí dồi dào được tích lũy. Vùng bụng trước hết cảm thấy ấm áp và về sau bắt đầu tự rung động. Trạng thái này được gọi là sản dược (產藥, Chan Yao). Kế đó, bạn dẫn Khí này đi tuần hoàn trong các mạch. Giai đoạn này được gọi là thái dược (採藥, Cai Yao) và có nghĩa là hái lượm thuốc. Thuốc ở đây có nghĩa là Khí hay kim đơn. Khi bạn đạt tới giai đoạn này, Khí sẽ có ý muốn chuyển động. Hãy dùng tâm và thần của bạn để dẫn Khí tới Hội Âm, rồi đi lên Đốc Mạch để đạt tới Thượng Đan Điền. Khi tâm của bạn dẫn Khí, bạn nên phối hợp nó với hơi thở. Hơi thở được xem là chiến lược của sự thực hành Khí công, thứ làm tăng cường đáng kể việc dẫn Khí.
Khi bạn dùng tâm để dẫn Khí, bạn không nên tập trung mà chỉ nên đơn giản chú ý và dẫn nó một cách nhẹ nhàng. Khi hơi thở của bạn tăng cường sự tuần hoàn Khí, nó phải trôi chảy và tự nhiên, bằng không nó sẽ trở nên ứ trệ. Tuy bạn đang dùng tâm để dẫn Khí, đừng quên rằng tâm và thần phải luôn luôn được giữ tại Chân Hạ Đan Điền. Điều đó cũng giống như việc đi xa khỏi nhà; tâm của bạn phải luôn quan tâm tới gia đình ở nhà.
Huyền Quan (玄關) có nghĩa là Hạ Đan Điền, và Huyền Khiếu (玄竅) có nghĩa là Thượng Đan Điền. Tuy bạn đang hít vào, bạn đang dẫn Khí đi lên, và sau khi đi qua Thượng Đan Điền, bạn để cho Khí chảy xuống Nhâm Mạch trong sự phối hợp với sự thở ra tự nhiên. Sau cùng, hoàn tất vòng tuần hoàn Tiểu Chu Thiên.
Khi bạn đạt tới một trạng thái thiền định sâu xa, bạn như thể đang ngủ và như thể đang thức. Dường như bạn đang ngủ nhưng tâm thức của bạn vẫn biết trong một trạng thái lơ mơ, và Khí trong não thì mạnh mẽ. Tài liệu Đạo giáo, Chu Dịch Tham Khảo (A Comparative Study of the Zhou Yi) nói:
“Khi một người chân thực đạt tới giai đoạn của sự nhiệm mầu, nó dường như có ở đó và dường như không có ở đó. Nó giống như một vực sâu lớn, bỗng chìm xuống và bỗng nổi lên. Khi nó rút lui, nó lan tỏa và duy trì vị trí của mình.”
Khi bạn đạt tới giai đoạn này sau một thời gian dài thực hành, bạn mở con mắt thứ ba của mình và đạt tới sự giác ngộ. Chúng tôi sẽ bàn thêm về điều này trong cuốn sách sắp tới, Spiritual Enlightenment Meditation (Thiền Giác Ngộ Tâm Linh).
8-7 · Điều Chỉnh Tinh
Trong giới Khí công và y học, Tinh (精, Essence), Khí (氣), và Thần (神) là ba báu vật quý giá của sự sống. Nếu bạn bảo tồn Nguyên Tinh (元精, Yuan Jing), được thừa hưởng từ cha mẹ mình, và hấp thu Tinh Hậu Thiên (không khí và thức ăn) một cách đúng đắn, bạn có một nền tảng vững chắc để tạo ra Khí dồi dào. Khi Khí này nuôi dưỡng não bộ, thần được nâng lên một mức độ cao, và bạn sẽ có một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh. Quá trình này là điều cần thiết để đạt tới Phật quả hay sự giác ngộ.
Thế nào là Nguyên Tinh? Đó là nền tảng của sự sống của một người. Nó được hình thành từ Nguyên Khí của tự nhiên. Thông qua thân thể của người mẹ, một sinh mệnh mới được sinh ra, và Nguyên Tinh được mang theo cùng với nó. Tài liệu Luận Bất Thường Bình (Discussing Extraordinary Balance) nói: “Trời có sự phú bẩm tự nhiên của Nguyên Khí; khi con người hấp thu nó, nó trở thành Nguyên Tinh.” Sách Cổ Văn Tham Khảo (Comparative Study of Ancient Documents) nói: “Nguyên Khí dồi dào và được tinh luyện được gọi là Nguyên Tinh.”
Nguyên Tinh cũng có nghĩa là các nội tiết tố hay tinh trùng được tích trữ trong tinh hoàn của người nam. Khi một người nam lạm dụng tình dục của mình, anh ta mất quá nhiều Nguyên Tinh. Điều này làm suy yếu chức năng của thận, bởi vì Nguyên Tinh được tích trữ ở đó. Thận cùng với các tuyến thượng thận được gọi là Nội Thận, trong khi tinh hoàn được gọi là Ngoại Thận. Thận bên trong và bên ngoài này được nối liền và liên hệ mật thiết với nhau. Khi mức độ Khí ở một bên bị suy yếu, bên kia cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, các kỹ thuật để bảo tồn và kiểm soát sự xuất tinh là một nhiệm vụ chính trong sự huấn luyện Khí công. Sách Tính Mệnh Chủ Chỉ Toàn Thư nói:
“Những người luyện tinh, đó là luyện Nguyên Tinh. Đó là rút cái dương nguyên thủy từ Khảm. Khi Nguyên Tinh được làm vững, thì tinh trùng không xuất ra trong lúc giao hợp.”
Vùng háng được xem là Âm, như nước, và được gọi là Khảm (Thủy). Dương vật được xem là Dương ở trong Âm tại vùng háng.
Một phương pháp để làm vững tinh này ngay sau khi thiền định đã được ghi chép và truyền lại cho chúng ta:
Nguyên lý ban đầu của việc không dùng thuốc
(Bí quyết Kim Đan — Secrets of Golden Elixir)
Một tay xoa và một tay nắm giữ, trái và phải đổi tay. Thành tựu của Cửu Cửu (81 lần), chân dương sẽ không xuất ra. Hai thời gian (giờ) Tuất (7 tới 9 giờ tối) và Hợi (9 tới 11 giờ tối), Âm mạnh lên, trong khi Dương suy yếu, một tay nâng Ngoại Thận lên, một tay xoa dưới rốn. Trái và phải đổi tay, tám mươi mốt lần mỗi bên. Nửa tháng, tinh được làm vững. Càng lâu càng tốt.
Hãy dùng một tay để nắm giữ tinh hoàn. Giữ Hội Âm của bạn nâng lên trong suốt quá trình. Hít vào và thở ra bình thường với sự thư giãn sâu. Rồi dùng tay kia xoa vùng giữa rốn và háng với một chuyển động tròn. Xoa thành tám mươi mốt vòng tròn, rồi đổi tay và lặp lại theo chiều ngược lại. Điều này làm vững tinh và gia tăng sự sản xuất nội tiết tố.
Khí công nhấn mạnh các kỹ thuật gia tăng sự sản xuất nội tiết tố trong các tuyến thượng thận, các tuyến sinh dục, cùng tuyến yên và tuyến tùng. Khi sự sản xuất Nguyên Tinh (nội tiết tố) mạnh mẽ và khỏe mạnh, Khí lực của sự sống mạnh mẽ và thần được cao. Chúng tôi mô tả các phương pháp sản xuất nội tiết tố tăng trưởng và melatonin trong một cuốn sách khác. Để biết các cách gia tăng sự sản xuất nội tiết tố trong các tuyến thượng thận, xin hãy tham khảo cuốn sách YMAA, The Root of Chinese Qigong (Cội Nguồn Khí Công Trung Hoa).
8-8 · Thu Công — Phục Hồi Từ Trạng Thái Thiền Định
Cách đúng đắn để phục hồi từ trạng thái thiền định là điều tối quan trọng. Nếu bạn không làm điều đó đúng cách, bạn có thể bị nhức đầu (sự mất cân bằng tinh thần) hay sự căng cứng thể chất nào đó, đặc biệt là ở cột sống. Các phương pháp phục hồi đúng đắn loại bỏ sự ứ trệ Khí do thiền định gây ra.
Các phương pháp phục hồi từ thiền định vừa thuộc về tinh thần vừa thuộc về thể chất. Mẹo ở chỗ đảo ngược quy trình điều chỉnh thông thường của thiền định. Trước hết điều chỉnh tâm, rồi hơi thở, và sau cùng là thân thể. Ở đây tôi giới thiệu các phương pháp phục hồi tổng quát đã được truyền lại, hoặc đạt được qua kinh nghiệm cá nhân của tôi.
Điều Chỉnh Tâm, Khí Và Hơi Thở
Bước thứ nhất trong việc phục hồi từ thiền định là giữ cho tâm của bạn được tĩnh lặng. Hãy từ từ thức tỉnh khỏi trạng thái bán thôi miên của mình. Dường như bạn vừa thức dậy từ một giấc ngủ sâu, nhưng tâm thức của bạn vẫn đang kiểm soát.
Hãy đem tâm của bạn về Chân Hạ Đan Điền. Điều này rất quan trọng. Tâm của bạn dẫn Khí của bạn trở về đó, đưa nó ra khỏi đường lối của Tiểu Chu Thiên, nơi nó bằng không có thể bị ứ trệ. Chân Hạ Đan Điền là nơi cư trú của Khí, vì vậy bước thứ nhất là đưa nó trở về đó để ngăn ngừa sự xáo động. Điều này cũng giống như cách xử lý trong trường hợp bị sốc, nếu đột ngột bị đánh thức từ cơn thiền định sâu.
Hãy giữ tâm của bạn tại Chân Đan Điền, và tiếp tục Thai Tức trong vài phút cho tới khi bạn cảm thấy Khí đã trở về. Sau Thai Tức, bạn có thể thực hành vài phút hô hấp bằng da (thở da), nếu bạn biết rõ nó. Hãy cố gắng thở ra lâu hơn hít vào. Điều này dẫn Khí ra bề mặt da và đánh thức cơ thể khỏi trạng thái ngủ.
Rồi chuyển tâm của bạn lên Thượng Đan Điền, và tái định vị trung tâm tâm linh của mình. Hãy ngồi ở đó trong vài phút. Khi bạn làm điều này về mặt tinh thần, bạn đánh thức chính mình một cách hoàn toàn và thoải mái.
Hãy nhớ, khi bạn phục hồi từ trạng thái thiền định của mình về mặt tinh thần, bạn không nên chống cự hay thúc đẩy nhanh quá trình ấy. Bạn nên thong thả, tự nhiên và thoải mái. Từ đó, bạn đạt được sự thỏa mãn lớn lao, sự thanh bình và sự hài hòa.
Điều Chỉnh Thân Thể
Sau khi đem tâm của bạn trở lại với thế giới cụ thể, bạn nên điều chỉnh thân thể của mình và đánh thức nó khỏi giấc ngủ. Thông qua sự chuyển động đúng đắn, bạn tản ra Khí bị ứ trệ, thứ có thể do ngồi lâu hay tư thế không đúng mà ra. Kế đó, một số chuyển động và sự vươn duỗi hiệu quả được đề nghị.
Vươn thân mình lên trên. Trước hết hãy vươn thân mình của bạn. Đan hai bàn tay vào nhau và đẩy lên trên (Hình 8-22). Sự vươn này làm lỏng bất kỳ sự căng cứng nào của thân mình hay cột sống do ngồi lâu gây ra. Sau khi hai tay của bạn đã đạt tới vị trí cao nhất, hãy ở lại đó, hít vào sâu rồi thở ra. Hít vào lần nữa rồi hạ hai tay xuống. Lặp lại hai lần.
Xoay thân mình sang bên. Sau khi vươn lên trên, hãy xoay thân mình của bạn sang bên. Trước hết xoay cơ thể sang bên trái, và dùng tay phải kéo đùi trái của bạn trong khi đẩy vai trái của bạn về phía sau (Hình 8-23). Hãy ở lại trong tư thế này, hít vào rồi thở ra. Kế đó, lặp lại ở bên kia.
Lượn sóng cột sống. Kế đó, hãy nới lỏng các đốt sống của bạn, từng đoạn một, từ xương cùng lên tới cổ. Đặt hai tay lên đầu gối của bạn, và kéo chúng để tạo ra một chuyển động cột sống lượn sóng (Hình 8-24). Khi bạn bắt đầu kéo, phần thân dưới được đẩy về phía trước, và bạn hít vào sâu. Khi chuyển động lượn sóng đạt tới phần cột sống trên, bạn thở ra. Hãy chuyển động thoải mái và tự nhiên, với chuyển động của cột sống như một tiếng thở dài. Khi bạn bị trầm cảm hay cảm thấy một cảm xúc lớn bị kẹt lại trong cơ thể, nói chung bạn hít vào sâu, với âm thanh “Hén,” và tạo ra một chuyển động lượn sóng từ lưng dưới. Khi chuyển động đạt tới phần thân trên, bạn thở ra. Đây là chuyển động tự nhiên nhất của thân mình và nó cho phép bạn thư giãn thân mình và giải phóng bất kỳ năng lượng tình cảm nào bị kẹt lại.
Nới lỏng vai. Kế đó, hãy nới lỏng phần cột sống trên, và loại bỏ bất kỳ Khí ứ trệ nào ở đó. Chậm rãi chuyển động hai vai của bạn theo chiều kim đồng hồ trong một vòng tròn lớn ít nhất sáu lần (Hình 8-25). Khi chúng xoay về phía trước, hít vào sâu, và khi chúng xoay về phía sau, thở ra sâu. Sau khi bạn hoàn tất việc xoay theo chiều kim đồng hồ, hãy đảo chiều và lặp lại với cùng số lần. Tuy nhiên, lần này bạn nên hít vào sâu khi bạn xoay về phía sau và thở ra khi bạn xoay về phía trước. Để dẫn Khí ứ trệ đi xuống và nới lỏng thân mình, bạn có thể xoay một vai về phía trước và vai kia về phía sau (Hình 8-26). Lặp lại sáu lần, rồi đảo chiều. Trong trường hợp này, bạn có thể phối hợp hơi thở của mình theo bất kỳ cách nào bạn chọn.
Chuyển động đầu. Để nới lỏng cổ, hãy chậm rãi quay đầu của bạn sang hai bên (Hình 8-27). Thở ra sâu, và hít vào khi nó quay về phía trước. Quay sang mỗi bên ít nhất sáu lần.
Mát-xa đầu. Sau khi nới lỏng cổ, hãy xoa hai tay cho tới khi chúng ấm lên (Hình 8-28). Rồi vuốt mặt xuống dưới hai mươi bốn lần, dùng hai lòng bàn tay (Hình 8-29). Mát-xa này được gọi là rửa mặt (Tẩy Kiểm, 洗臉). Nó làm trẻ hóa làn da với sự tuần hoàn Khí và huyết được tăng cường.
Ngay sau khi rửa mặt, hãy dùng lòng bàn tay vuốt tóc từ trán ra phía sau tới cổ hai mươi bốn lần (Hình 8-30). Điều này được gọi là chải đầu (Thúc Đầu, 梳頭). Nó giữ cho tóc của bạn khỏe mạnh và trông trẻ trung.
Kế đó, xoa hai tay cho tới khi chúng lại ấm lên và dùng gốc của hai ngón tay cái để che hai mắt của bạn (Hình 8-31). Điều này được gọi là ủi mắt (Tang Yan), thứ nuôi dưỡng đôi mắt đang thoái hóa. Cũng hãy mát-xa đôi mắt của bạn với một chuyển động tròn để cải thiện sự tuần hoàn Khí.
Kế đó dùng ngón tay cái và ngón trỏ của bạn để mát-xa hai tai trong vài phút (Hình 8-32). Các phần khác nhau của hai tai liên hệ với các cơ quan khác nhau (Hình 8-33). Mát-xa chúng giữ cho các cơ quan nội tạng được khỏe mạnh. Rồi lấy hai lòng bàn tay che hai tai lại và xoay mười lần ở mỗi bên (Hình 8-34). Điều này cải thiện sự tuần hoàn của Khí và huyết ở những phần sâu hơn của hai tai. Sau cùng, ấn hai tai và “bốp” chúng vài lần (Hình 8-35). Điều này kích thích màng nhĩ và cải thiện sự tuần hoàn của chúng. Tất cả những điều này là những cách đơn giản để duy trì hai tai trong tình trạng khỏe mạnh.
| Các huyệt ở tai (Hình 8-33) — Acupuncture Points in the Ear |
|---|
|
Các cơ quan tương ứng được ghi trong hình: Túi Mật, Tụy, Đại Tràng, Gan, Tiểu Tràng, Dạ Dày, Trực Tràng, Lách, Thực Quản, Tâm Vị (Cardiac Orifice), Tim, Phổi Phải, Phổi Trái, Tuyến Thượng Thận, Răng, và Vòm Họng.
Kế đó, dùng ngón trỏ và ngón tay cái của bạn để xoa và ấn xuống dọc theo hai bên mũi rồi sang hai bên (Hình 8-36). Điều này giải phóng áp lực tích tụ trong xoang trán.
Sau cùng, dùng các đầu ngón tay gõ lên đầu của bạn từ trước ra sau và từ trung tâm ra hai bên trong vài phút (Hình 8-37). Động tác gõ này dẫn Khí tích tụ bên trong đầu ra bề mặt da. Sau khi gõ, dùng cả hai tay vuốt nhẹ đầu của bạn từ phía trước ra phía sau (Hình 8-38).
Mát-xa ba kinh Âm ở hai chân — tỳ, can và thận. Sau khi ngồi lâu, Khí và huyết có thể bị ứ trệ ở vùng hông và đầu gối. Để khắc phục điều này, hãy duỗi thẳng hai chân ra và cúi người về phía trước để vươn chúng ra (Hình 8-39). Mát-xa chúng từ đùi xuống tới lòng bàn chân, đặc biệt là mặt trong của hai chân, nơi ba kinh Âm tọa lạc. Sau khi mát-xa trong vài phút, dùng ngón tay cái của bạn để ấn huyệt Tam Âm Giao (Tỳ-6, 三陰交) (Hình 8-40 và 8-41). Tam Âm Giao có nghĩa là Giao Điểm Ba Âm, và là chỗ giao nhau của ba kinh Âm: tỳ, can và thận. Ấn vào trong năm giây, rồi buông ra. Lặp lại ba lần. Điều này dẫn Khí đi xuống từ vùng hông.
Kế đó, mát-xa mặt trong của hai bàn chân, nơi hai mạch Âm (mạch Âm Kiều và mạch Âm Duy) kết thúc (Hình 8-42). Sau cùng, mát-xa huyệt Dũng Tuyền (Thận-1, 湧泉) trong vài phút (Hình 8-43).
Tụng Niệm
Thông thường ngay sau khi thiền định, người thiền tạo ra những âm thanh tụng niệm đặc biệt. Điều này dẫn Khí đi xuống Hạ Đan Điền. Những âm thanh tụng niệm này cũng thường được dùng cho mục đích chữa bệnh. Ba trong số những âm thanh thường được dùng nhất là Án (唵, An), A (阿, A), và Hồng (吽, Hong). Việc dùng ba âm thanh này đã được ghi chép trong một kinh điển Phật giáo, mà tôi muốn dịch ra để bạn tham khảo.
Kinh An Tượng Cực Tĩnh (Classic of Positioning the Image into the Extreme Calmness)
Sau khi tụng những chân ngôn này (kinh Phật), hãy quán tưởng hình tượng của chư Phật. Rồi dùng ba chữ Án, A, Hồng, và đặt chúng lên hình tượng ấy. Đặt chữ Án lên đỉnh đầu, đặt chữ A nơi miệng, và đặt chữ Hồng nơi tim.
Điều thường thấy là một Phật tử quán tưởng trong tâm một hình tượng của Đức Phật, rồi thực hành việc tụng niệm hay thiền định nào đó. Điều này đưa người ấy tới một mức độ sâu xa của sự thanh bình và tĩnh lặng. Ba chữ Án, A, và Hồng cũng thường được dùng ngay sau khi tụng kinh Phật hay sau cơn thiền định sâu.
Nhiều người thiền dùng chữ thứ tư để dẫn Khí đi xuống Hạ Đan Điền. Chữ thứ tư không có âm thanh, và bản thân chữ ấy không hiện hữu. Nó chỉ hiện hữu trong tâm ngay sau khi tụng chữ thứ ba, khi bạn dẫn Khí đi xuống để trở về nơi cư trú của nó tại Hạ Đan Điền. Nghĩa là đưa sự hiện hữu của bạn trở về trạng thái Vô Cực.
Trước hết hít vào sâu trong khi nâng hai cánh tay của bạn lên từ hai bên cơ thể, với hai lòng bàn tay hướng lên trên (Hình 8-44). Khi cả hai tay đạt tới điểm cao nhất của chúng, hãy bắt đầu thở ra, hạ hai tay xuống với hai lòng bàn tay hướng xuống dưới, trong khi tạo ra âm thanh Án (Hình 8-45). Bạn cảm thấy một sự rung động mạnh ở phía sau não khi âm thanh Án được tạo ra. Tiếp tục thở ra, hạ hai tay xuống cho tới khi chúng đạt tới ngang miệng, rồi đổi âm thanh thành A, và tiếp tục hạ chúng xuống (Hình 8-46). Khi âm thanh A được tạo ra, cuống họng rung động mạnh mẽ. Tiếp tục thở ra trong khi bạn hạ hai tay xuống cho tới khi chúng đạt tới xương ức, rồi đổi âm thanh thành Hồng (Hình 8-47). Khi điều này xảy ra, bạn cảm thấy một sự rung động mạnh ở phần ngực trên. Sau cùng, giữ yên lặng trong khi vẫn thở ra, và dùng tâm để dẫn Khí đi xuống Hạ Đan Điền để hoàn tất quá trình tụng niệm. Bạn có thể lặp lại toàn bộ quá trình này ba lần.
Những vị trí nơi bạn đổi các chữ trong lúc tụng niệm là Ấn Đường (M-HN-3, Thượng Đan Điền), Thiên Đột (Nhâm Mạch 22), Cưu Vĩ (Nhâm Mạch 15), và Khí Hải (Nhâm Mạch 6) (Hình 8-48). Bốn huyệt này là bốn trong bảy cửa ải tương ứng chính của cơ thể.
Nếu cần thiết, hãy đi bộ vài phút. Nếu bạn muốn, sau khi bạn đã hoàn tất mát-xa và các bài tập phục hồi, bạn có thể đi bộ hay chỉ đơn giản nằm nghỉ trong vài phút.
8-9 · Thiền Định Và Chữa Bệnh
Có một vài tài liệu cổ ghi chép cách bạn có thể dùng Thiền Tiểu Chu Thiên để tự chữa bệnh một cách hiệu quả. Lý luận thì rất đơn giản. Bởi vì tâm của bạn có thể cảm nhận và tập trung vào vùng bị ảnh hưởng, nó có thể dẫn Khí tới đó để cải thiện sự tuần hoàn của Khí và huyết. Điều này không khác gì mát-xa thể chất, thứ cũng cải thiện sự tuần hoàn của Khí và huyết. Để cải thiện chúng thông qua thiền định thì khó hơn nhiều. Bạn cần phải đạt tới một mức độ thiền định cao để dẫn Khí một cách hiệu quả cho việc chữa bệnh. Kế đây, tôi dịch một vài tài liệu cổ về việc chữa bệnh thông qua thiền định. Trước hết, một tài liệu về bế khí (閉氣, Bi Qi), tức là niêm phong hơi thở.
Quan Mạch (Vessel Viewing)
Bế khí không có nghĩa là nín và nghẹt hơi thở. Nó có nghĩa là thần được (tĩnh) và Khí hài hòa, ngừng suy nghĩ và quên đi sự lo âu, để cho hơi thở qua mũi được tự nhiên, trôi chảy và mảnh mai, dường như nó có ở đó mà lại dường như nó không ở đó.
Tài liệu này trấn an chúng ta rằng điều chỉnh hơi thở không phải là nín nó, mà là điều chỉnh nó cho tới khi nó có thể tự nhiên, trôi chảy và mảnh mai.
Bí quyết tu dưỡng Nguyên Khí bên trong, của Hoàn Chân (Huan Zhen)
Nếu có một cảm giác không thoải mái đột ngột trong lúc tu dưỡng, hay thỉnh thoảng bị bệnh, thì lập tức đi vào một căn phòng kín đáo, (dùng) phương pháp hơi thở để tu dưỡng Khí. Một khi nó dồi dào, hãy dừng lại và điều chỉnh nó, rồi nuốt. Hãy nghĩ tới chỗ đang đau, niêm phong hơi thở của bạn, và để toàn bộ tâm của bạn ở đó, dùng Ý để công phá chỗ bệnh. Khi hơi hít vào đạt tới giới hạn của nó, thì hãy phát ra. Sau khi phát ra hoàn toàn, lại nuốt. Tiếp tục và theo cùng phương pháp để công phá. Khi hơi thở trở nên gấp gáp, thì dừng lại. Sau khi hơi thở đã được điều chỉnh, lại công phá. Có thể cần hai mươi tới năm mươi lần; hãy công phá chỗ đau cho tới khi toát mồ hôi và chuyển sang màu đỏ, rồi thì dừng lại. Nếu không có sự cải thiện, thì hãy thực hành nó vào mỗi lúc nửa đêm hay sáng sớm. Thực hành ngày và đêm và dùng Ý để công phá. Bất kể bệnh ở đầu, mặt, tay hay chân, chỉ cần công phá bất cứ nơi nào có vấn đề.
Những chứng bệnh ở đây có nghĩa là những cảm giác không thoải mái thông thường, chẳng hạn như lúc bắt đầu cảm lạnh, đau khớp, đau bên trong do Khí và huyết ứ trệ, hay chấn thương nhẹ. Thông thường, những vấn đề này có thể được sửa chữa thông qua thiền định.
Trước hết hãy xây dựng Khí tại Hạ Đan Điền thông qua hơi thở bụng, hay tại Chân Hạ Đan Điền bằng Thai Tức. Rồi, hít vào một cách trôi chảy và mảnh mai, và nuốt (Yến, 咽) nước bọt trong khi dùng Ý của bạn để dẫn Khí tới chỗ đau. Giữ hơi thở cho tới khi nó đạt tới giới hạn của nó, rồi thở ra chậm rãi, và dùng tâm để dẫn Khí ra khỏi chỗ đau. Lặp lại liên tục các quá trình này. Nếu bạn cảm thấy hơi thở trở nên gấp gáp, hãy trở lại hơi thở bình thường cho tới khi nó lại thoải mái. Rồi lặp lại toàn bộ quá trình. Có thể bạn phải làm điều đó nhiều lần, nhưng điều đó không thành vấn đề, cứ tiếp tục làm cho tới khi bạn bắt đầu toát mồ hôi và đỏ bừng lên, rồi thì dừng lại. Nếu điều đó không làm dịu cơn đau, hãy lặp lại ngày và đêm cho tới khi cơn đau biến mất.
Bài ca bí quyết quan trọng của Thai Tức (The Important Secret Song of Embryonic Breathing)
Nếu cơ thể bị thương hay đột ngột sinh bệnh, hay sự đều đặn bị bất thường (cảm thấy không thoải mái), hãy ngưng tụ Ý của bạn, và trở về một căn phòng nhàn rỗi (căn phòng riêng biệt và kín đáo). Cởi bỏ y phục, và nằm xuống trên giường. Nằm ngửa như thể (đang ngủ) và nắm giữ vững chắc (đặt cả hai tay tại Hạ Đan Điền). Gõ răng và đốt hương. Sau khi nuốt ba mươi sáu lần, Khí trong Đan Điền vượt qua giai đoạn bình thường. Hãy theo cái Tâm để dẫn Khí liên tục. Dẫn nó tới chỗ bị thương. Nó là đủ khi cơ thể toát mồ hôi. Điều này tiết kiệm công sức đi tìm các toa thuốc.
Việc đặt hai tay tại vùng Hạ Đan Điền là để nắm giữ vững chắc (Ác Cố, 握固). Khi ấy tâm ở trong Đan Điền, và Khí được tích trữ một cách hiệu quả. Gõ răng (Khấu Xỉ, 叩齒) đánh thức não bộ và nâng cao thần. Đốt hương (Phần Hương, 焚香) để làm tĩnh và tập trung tâm. Các mô tả khác về phương pháp huấn luyện thì giống như trong tài liệu trước.
Hai tài liệu này về việc dùng thiền định để tự chữa bệnh được dịch ra để bạn tham khảo. Cách quan trọng nhất để đạt được sự chữa bệnh thành công là thông qua sự thực hành và kinh nghiệm tích lũy. Thông qua sự thực hành liên tục và sự suy ngẫm, bạn sẽ sớm nắm bắt được chìa khóa bí mật của việc chữa bệnh.
Những Câu Hỏi và Tương Lai Khả Dĩ Của Nhân Loại
9-1 · Về Khí
- Khái niệm truyền thống về Khí của con người có giống với năng lực điện từ sinh học (bioelectromagnetic energy) hay không, hay đó là sự tổng hợp của nhiều loại năng lượng khác nhau? Nhiều người tu luyện không tin rằng Khí của con người chỉ đơn thuần là năng lực điện từ sinh học lưu chuyển trong cơ thể. Nhiều hiện tượng Khí Công không thể được giải thích một cách thỏa đáng bằng giả thuyết này. Chẳng hạn, làm thế nào một vị sư phụ Khí Công có thể cầm một viên than đang cháy trong tay mà không bị bỏng?
- Làm thế nào chúng ta tiêu chuẩn hóa việc đo lường Khí? Cần phải có một hệ thống đơn vị. Nhiều loại thiết bị khác nhau đã được chế tạo để đo Khí dưới dạng nhiệt (hồng ngoại), độ tăng nhiệt độ, và điện. Vì Khí của con người chưa được định nghĩa, nên không có một thiết bị chuyên biệt nào mà chúng ta tin là phương pháp đo chính xác nhất. Tuy nhiên, nếu chứng minh được rằng Khí là năng lực điện từ của con người, thì chúng ta có thể dùng một hệ thống đơn vị điện để đo lường nó.
- Vì định nghĩa chung của Khí là năng lượng vũ trụ, làm thế nào chúng ta liên hệ mọi loại năng lượng khác nhau thành một, nếu điều đó khả dĩ? Đối với tôi, không có cách tuyệt đối nào để liên hệ chúng. Hệ thống đơn vị dùng để đo nhiệt không thể đo điện. Có lẽ tốt hơn nên chỉ định rõ Khí, chẳng hạn gọi là Khí Nhiệt hay Khí Điện.
- Khí được truyền từ người này sang người khác; vậy ngoài nhiệt và điện sinh học, còn cái gì được truyền nữa? Tôi thường tự hỏi tại sao người này lại có thể truyền Khí của mình hiệu quả hơn người kia. Hẳn phải có một lực nào đó được truyền về mặt tình cảm để giúp bệnh nhân xây dựng EMF hầu tự chữa lành từ bên trong. Lực đó là gì? Sóng não, sự tiếp xúc tình cảm, hay lòng tự tin, có lẽ?
- Nếu Khí là điện sinh học, làm thế nào kỹ thuật hiện đại có thể gia tăng sự tuần hoàn của nó trong cơ thể và đạt được những kết quả giống như khi luyện Khí Công? Thời cổ không thể tạo ra các điện từ trường, nhưng ngày nay thì rất dễ. Hẳn phải có cách dùng các trường bên ngoài để gia tăng tuần hoàn, điều tiết Khí và tẩy sạch tủy. Dĩ nhiên, chúng ta phải hết sức thận trọng để xác định các tác dụng phụ. Làm sao một trường bên ngoài có thể sao chép được sự tĩnh lặng của tâm trí cần thiết cho sự giác ngộ? Dẫu tuần hoàn có được cải thiện, nếu không có một tâm trí được kỷ luật thì lợi ích cũng sẽ ít đi. Liệu có thể nảy sinh những vấn đề khác nếu con người trở nên cực kỳ mạnh mẽ mà lại thiếu kỷ luật tự chủ?
- Mây và sương mù ảnh hưởng thế nào đến sự tuần hoàn Khí? Mây thấp tạo ra một điện trường ảnh hưởng đến trường năng lượng của con người. Sương mù có cũng làm như vậy không? Khi bạn ở trong sương mù, các điện tích có bao quanh bạn một cách đồng đều không? Điều này có thể ảnh hưởng đến sự tuần hoàn Khí của bạn không?
- Có phương pháp hiện đại nào để kích thích và nâng cao các mô màng (fasciae) nhằm tàng trữ Khí không?
- Điều này có gây ra vấn đề gì không, nếu chúng ta không thể sinh ra đủ Khí để giữ chúng luôn đầy?
Một câu hỏi khác cùng nhóm: vì Khí và não bộ liên hệ mật thiết với nhau, chúng ta có thể điều chỉnh sự nuôi dưỡng Khí của não để chữa các chứng bệnh tâm thần không?
9-2 · Về Thần (Shen)
- Làm thế nào chúng ta định nghĩa thần? Thần có phải là một dạng năng lượng không? Một thần có thể có những tư tưởng riêng của nó không? Nếu có, bằng cách nào?
- Làm thế nào chúng ta định nghĩa thần và tâm? Mối quan hệ giữa chúng rất dễ gây nhầm lẫn. Thần có phải do tâm sinh ra không? Nếu Thần bắt buộc phải do tâm sinh ra, thì làm sao nó có thể tồn tại sau cái chết của thể xác? Nếu nó có thể, Thần này có một tâm và có thể tư duy độc lập không? Chúng liên hệ với sóng não ra sao? Thần có thể đo lường được không?
- Thần và hồn có thể tồn tại ngay cả khi không có hình thức sống vật lý không? Trong các tôn giáo Trung Hoa, người ta tin rằng thần và hồn vẫn tồn tại sau khi chết. Thần và hồn có ở dạng năng lượng không? Chúng là một phần của năng lượng tự nhiên phi nhân tính, hay là tàn dư của năng lượng con người?
- Có thật là có một chiều kích hay thế giới khác mà khoa học chưa biết tới, nhưng thần hay hồn có thể đến được không? Có nhiều câu chuyện về những người đã chết rồi sống lại. Họ thường nói rằng họ ở bên ngoài thể xác của mình và có thể nhìn thấy nó. Người Trung Hoa tin rằng thế giới chúng ta đang sống là Dương Gian (Yang Jian, 陽間), và khi một người chết, thần của người ấy đi vào Âm Gian (Yin Jian, 陰間). Theo lý thuyết Âm Dương, Dương phải được cân bằng bởi Âm. Thế giới Âm này có thể được đến bằng cách nào khác ngoài năng lượng hay thần không?
- Các sự kiện có được ghi lại trong thế giới tâm linh không? Ký ức tâm linh này có thể bị xóa không? Tôi tin rằng những gì xảy ra trong tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến năng lượng của nó, và ảnh hưởng này được ghi lại trong tự nhiên. Tôi tin rằng một khi khoa học của con người đạt tới một trình độ nhất định, chúng ta sẽ có thể lần theo các sự kiện trong quá khứ thông qua ký ức tâm linh.
- Một tư tưởng là năng lượng hay vật chất? Làm sao nó có thể đi từ đầu này tới đầu kia của vũ trụ một cách tức thời? Nó có thể thâm nhập vào quá khứ hay tương lai không?
- Tâm có phải là Thượng Đế (Thái Cực hay Đạo) của vũ trụ nhỏ của con người (thiên địa nhỏ) không? Nếu vậy, chúng ta có thể dùng mô hình của vũ trụ con người để hiểu vũ trụ lớn không? Nhân loại há chẳng phải bắt nguồn từ vũ trụ lớn, với mọi cấu trúc tâm linh và năng lượng đều tương tự như của vũ trụ lớn sao?
- Thần của một người giao tiếp với thần của một người hay con vật khác bằng cách nào? Thông qua sự rung động của Thần Cốc? Từ cấu trúc của não bộ, chúng ta có thể coi mỗi bộ não như một máy phát và máy thu thanh không? Thần này có thể giao tiếp với thần tự nhiên theo cùng cách ấy không?
- Một người có thể ảnh hưởng đến tư duy của người khác thông qua sự tương ứng sóng não không?
- Kỹ thuật hiện đại có thể gia tăng dòng điện sinh học lên não để kích hoạt nhiều tế bào não hơn không? Có tác dụng phụ nào không? Ngày nay, nhiều người tập thể hình dùng điện để đẩy nhanh sự phát triển của các bắp thịt hầu phát triển cơ thể trong thời gian ngắn. Về sau họ khám phá rằng cơ thể bên trong không thể sản xuất đủ điện sinh học để hỗ trợ các bắp thịt, nên chúng thoái hóa nhanh hơn bình thường. Chúng ta có gặp phải vấn đề này nếu kích hoạt các tế bào não theo cùng cách ấy không?
- Chúng ta có thể mở cửa của Thượng Đan Điền, tức con mắt thứ ba, qua kích thích điện bên ngoài không? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta mở nó một cách nhanh chóng, mà bên trong lại không có đủ Khí để hỗ trợ cái thần du đãng này? Chúng ta có hóa điên không?
- Khi đạt tới một trình độ giác ngộ tâm linh cao hơn, chúng ta sẽ có thể giao tiếp với người ngoài hành tinh từ không gian bên ngoài không? Nếu họ đi trước chúng ta hàng ngàn năm về khoa học, họ hẳn đã đạt tới một trình độ tâm linh cao hơn, vậy chúng ta hẳn có thể liên lạc với họ bằng cách nào đó.
- Chiều kích tâm linh có phải là một chiều kích mới trong đó chúng ta có thể di chuyển nhanh hơn nhiều so với tốc độ ánh sáng không? Có phải đó là cách các vật thể bay không xác định (UFO) đi tới trái đất?
- Thần của con người sẽ đóng vai trò quan trọng đến mức nào trong lịch sử nhân loại, khi khoa học rời bỏ giai đoạn sơ sinh hiện nay của nó và bước vào giai đoạn thanh xuân?
- Giải thích khoa học nào cho vầng hào quang quanh đầu, hay ánh sáng quanh thân thể của một người nhập định? Dẫu tôi cố giải thích nó như sự khử ion của không khí do điện tích của cơ thể tạo ra, vẫn cần phải tiến hành một thí nghiệm để xác định xem điều này có đúng không.
- Thần được sinh ra trong một em bé sơ sinh như thế nào? Nó khởi nguồn từ đâu? Nó bắt đầu khi em bé bắt đầu biết suy nghĩ? Nó chỉ tồn tại ở con người thôi sao?
- Một trẻ sơ sinh có cần một thần đã tồn tại sẵn không? Một số tôn giáo nói rằng có, để hình thành một con người trọn vẹn. Nếu vậy, thần này từ đâu đến? Từ những người đã chết trước đó? Nếu một em bé sơ sinh cần thần hiện hữu sẵn này, thì làm sao dân số cứ tiếp tục gia tăng? Những thần mới khởi nguồn từ đâu? Chúng đến từ mặt trời, hay từ năng lượng vũ trụ? Thần từ các hành tinh khác có thể di cư tới trái đất và được sinh ra trong những thể xác con người không?
- Sự khác biệt giữa thần và hồn là gì? Vì không có sự dịch chính xác từ Hán ngữ sang Anh ngữ, tôi muốn có sự khác biệt và định nghĩa chính xác của những chữ này.
- Làm thế nào chúng ta sinh ra một “thai nhi tâm linh” trong sự luyện tập Khí Công? Trong truyền thống Khí Công, để đạt tới giác ngộ bạn phải luyện tập cho tới khi sinh ra thai nhi tâm linh này. Chỉ khi nó lớn lên thành độc lập thì thần của bạn mới có thể tồn tại, và sống mãi mãi. Điều này có thật không? Về mặt khoa học, làm sao điều đó có thể xảy ra? Khoa học hiện đại có thể giải thích được không, hay nó vẫn vượt quá những gì khoa học ngày nay có thể nắm bắt? Nếu chúng ta tin rằng một tâm trí được phát triển cao có thể đẩy nhanh tiến trình tiến hóa, thì nó có thể vươn tới nhiều điều khác vẫn còn nằm ngoài sự hiểu biết của con người.
- Thần của những người đã giác ngộ và đã chết có tiếp tục tồn tại không? Nếu có, họ có thể giúp người sống không? Nếu câu trả lời là có, bạn có đồng ý rằng thần và hồn có thể tồn tại ngay cả sau khi chết không? Khi bạn cầu nguyện, bạn có thực sự nhận được sự giúp đỡ từ Thượng Đế hay từ thần của người chết, hay bạn đang tự giúp mình bằng cách xây dựng lòng tự tin của chính mình?
- Thần có tự đưa ra những quyết định riêng của nó hay nó bị Khí tự nhiên chi phối? Thần có thể tư duy không? Làm sao nó có thể giúp một người đang sống? Qua sự giao tiếp sóng não? Hay thần chỉ là một thứ tàn dư năng lượng con người lang thang trong thế giới năng lượng và bị các lực năng lượng chung quanh chi phối?
- Khi một người giao tiếp với loài vật, đó có phải là sự tương ứng sóng não không? Tôi đã từng thấy một phụ nữ trên một chương trình truyền hình trực tiếp dường như có thể giao tiếp với đủ loại chó. Những thông tin cô thu nhận được đã được các chủ nhân xác minh. Nếu điều này có thật, đó có phải là giao tiếp sóng não không? Não của loài vật và của con người hoạt động trên cùng một dải tần số, hay chỉ trùng lắp một phần?
- Một tâm trí cực kỳ tập trung có thể làm một vật di chuyển mà không cần chạm vào nó không? Nguyên lý đằng sau điều này là gì? Làm sao năng lượng sóng não có thể trở nên đủ mạnh để làm được điều đó? Các phép lạ được thực hiện bằng sóng não hay thông qua chiều kích tâm linh?
- Thần có thật sự có thể rời khỏi thân thể và đi du lịch, hay chỉ là sóng não cảm nhận được điều gì đó và đối chiếu tần số của nó để bạn có thể nhận biết được điều ấy? Khi một người bị thôi miên, anh ta có thể cảm nhận được nhiều điều vượt quá khả năng thông thường của mình. Điều này có giống với điều xảy ra khi một người dường như rời khỏi thân thể của mình trong lúc nhập định không?
- Kỹ thuật hiện đại có thể tạo ra một sóng điện từ có bước sóng tương đương với sóng não của con người không? Kỹ thuật của chúng ta dường như đã tiến xa tới mức đó rồi. Nếu vậy, một cỗ máy sóng não có thể tạo ra một làn sóng để ảnh hưởng đến tư duy và sự phán đoán của chúng ta không? Đó mới thật sự là tẩy não. Chúng ta có thể chế tạo một cỗ máy tạo ra nhiễu trắng sóng não, để làm lá chắn chống lại một thứ vũ khí như vậy không? Các cuộc chiến của tương lai có thể được tiến hành bằng các cỗ máy sóng não không?
- Nếu có thể chế tạo một cỗ máy sóng não, chúng ta có thể xác định những tần số nào liên hệ với tội phạm, và bằng cách nào đó phong tỏa chúng không? Có thật sự có thể tẩy não những người phạm tội không? Dĩ nhiên, nếu một cỗ máy như vậy rơi vào tay bọn tội phạm, chúng sẽ có một công cụ mạnh mẽ để làm điều ác. Chúng ta có thể chấp nhận trách nhiệm đạo đức về việc thay đổi sóng não của một cá nhân không?
- Một người nhập định Khí Công giỏi có thể tránh bị một cỗ máy sóng não khống chế và chi phối không? Cá nhân tôi tin rằng người nào điều tiết được tâm trí của mình một cách hiệu quả sẽ có thể tránh được các ảnh hưởng ấy, nhưng anh ta có thể làm được điều đó trong bao lâu?
- Băng thông của sóng não là bao nhiêu? Những vật liệu hiện có nào có thể che chắn chúng ra ngoài? Kim loại thường là một chất cách ly tốt đối với sóng radio, nhưng nó có thể cũng ngăn được sóng não không? Nếu không, có vật liệu nào có thể được dùng để che chắn chống lại chúng không?
- Mối quan hệ giữa thần (Thần) và sóng não là gì? Cá nhân tôi tin rằng khi Thần của bạn cao, sóng não của bạn mạnh hơn, và có lẽ tập trung và nhạy cảm hơn ở những bước sóng khác nhau. Điều này có đúng không?
- Vì thần của chúng ta liên hệ mật thiết với Khí hay trường năng lượng đến vậy, thần của chúng ta đã bị ô nhiễm năng lượng như sóng radio chi phối đến mức nào?
9-3 · Về Các Kinh Mạch, Mạch và Huyệt Đạo
- Người xưa đã tìm ra và định vị các kinh mạch, mạch và huyệt đạo của Khí như thế nào? Làm sao họ tìm thấy chúng với độ chính xác đến như vậy? Làm sao họ khám phá ra có thể dùng chúng để chữa bệnh?
- Các kinh mạch bị tắc nghẽn cản trở sự lưu chuyển của Khí như thế nào? Đây là một câu hỏi đơn giản, nhưng là một câu hỏi không có câu trả lời dễ dàng. Phải cần đến kỹ thuật tân tiến nhất mới tìm ra chính xác cách các kinh mạch Khí bị tắc nghẽn. Có phải do sự tích tụ mỡ làm giảm đáng kể độ dẫn điện, hay do một khiếm khuyết nào đó trong các mô dẫn điện?
- Các kinh mạch dẫn Khí như thế nào? Cần bao nhiêu kích thích mới làm nó di chuyển? Nếu Khí là năng lượng điện sinh học, thì câu hỏi là, bao nhiêu EMF mới làm năng lượng ấy di chuyển, và nó ở đâu?
- Các mạch tàng trữ Khí như thế nào? Nếu Khí là năng lượng điện sinh học, thì một mạch Khí có giống như một cái pin hay một tụ điện, có thể tàng trữ và phóng thích năng lượng khi cần thiết không?
- Các kinh mạch và mạch Khí thực sự trông như thế nào? Nếu chúng là những vùng mà độ dẫn điện khác biệt, thì các thí nghiệm cần xác định hình dạng của chúng ra sao.
- Làm thế nào chúng ta có thể thiết kế một cỗ máy đủ nhạy để định vị chính xác tất cả các kinh mạch và huyệt đạo Khí? Điều này sẽ rất hữu ích cho việc thực hành châm cứu.
- Tại sao có bốn mạch ở chân mà không có mạch nào ở tay? Có phải vì con người dùng chân nhiều hơn tay? Tôi tin rằng các mạch ở chân đã tiến hóa để cung cấp thêm Khí cho đôi chân và giúp điều tiết chúng hiệu quả hơn.
- Có mạch nào khác chưa được khám phá không? Có thể là còn có những mạch nhỏ hơn khác trong cơ thể vẫn chưa được tìm ra. Chẳng hạn, tôi tin rằng hẳn phải có thêm các mạch ở tay, để phục vụ những mục đích gần giống như các mạch ở chân.
- Thực sự điều gì xảy ra khi chúng ta mở một kinh mạch (cửa) trong sự luyện tập Khí Công? Kinh mạch có phục hồi độ dẫn điện của nó không? Cách tốt nhất để làm điều này là gì?
- Chúng ta có thể dùng kỹ thuật điện sinh học hiện đại để mở các kinh mạch và làm cho sự tuần hoàn Khí được trôi chảy không?
- Chúng ta có thể dùng kỹ thuật để làm đầy các hồ chứa Khí không? Nếu chúng là những tụ điện sinh học, chúng ta có thể dùng các phương pháp điện từ bên ngoài để nạp đầy chúng. Khi ấy chúng ta sẽ có đủ Khí để nuôi dưỡng toàn thân và làm chậm đáng kể tiến trình lão hóa.
- Thực sự điều gì xảy ra khi một sư phụ Khí Công giàu kinh nghiệm giúp một học trò mở các kinh mạch của anh ta? Ông có thực sự vận chuyển Khí của mình vào cơ thể học trò để làm việc đó, hay ông chỉ mang lại sự kích thích và lòng tự tin cho học trò, để anh ta tự mở lấy?
- Chính xác thì huyệt đạo là gì? Có phải mọi huyệt đạo đều có độ dẫn điện cao hơn, và chúng khác nhau về dung lượng không? Độ dẫn điện gia tăng có phải là yếu tố duy nhất để định vị huyệt đạo, hay người xưa còn có thêm những tiêu chí khác?
- Tại sao lại có các huyệt đạo? Chúng chỉ tuần hoàn Khí ra bề mặt da để nuôi dưỡng nó và điều tiết các kinh mạch Khí, hay còn có mục đích nào khác ngoài những điều này?
- Châm cứu thực sự điều chỉnh sự lưu chuyển của Khí như thế nào? Chúng ta cần một sự giải thích đầy đủ hơn thông qua thực nghiệm hiện đại và nghiên cứu khoa học.
- Tố Vấn (Su Wen, 素問) nói rằng sinh mệnh của chúng ta vận hành theo những chu kỳ 7 năm đối với phụ nữ và 8 năm đối với nam giới. Khi cuốn sách được viết, trẻ trai dậy thì vào khoảng 16 tuổi, và trẻ gái khoảng 14 tuổi. Nay khi tuổi dậy thì đến sớm hơn 2 tới 4 năm, các chu kỳ ấy đã thay đổi chưa? Chúng có một thực tại khách quan, hay chúng là những ý tưởng mang tính triết học nhiều hơn?
9-4 · Về Sự Hỗ Tương Nuôi Dưỡng Khí
- Hai người có thể cùng luyện tập để cân bằng Khí của họ thông qua sự hỗ tương nuôi dưỡng Khí. Người có Khí mạnh hơn sẽ cho Khí của mình trong khi người yếu hơn nhận được nó. Hai người có Khí yếu có thể giúp nhau xây dựng nó lên. Trong loại hỗ tương nuôi dưỡng Khí này, mỗi người phải có khả năng phối hợp với người kia trong mọi phương diện, đặc biệt là trong hô hấp. Về mặt tình cảm, họ phải sẵn sàng chia sẻ với nhau. Trong loại luyện tập này, có phải tất yếu là họ sẽ yêu nhau? Nếu không, làm sao họ có thể chạm vào và chia sẻ Khí với nhau? Nếu câu trả lời là “Có,” điều đó há chẳng trái với nguyên lý của thiền định là tâm trí phải tĩnh lặng và bình an, không có nhiễu loạn tình cảm sao?
- Khi hai người thực hành sự hỗ tương nuôi dưỡng Khí, họ có thực sự chia sẻ Khí với nhau, hay họ kích thích tâm trí của nhau để gia tăng EMF của não và do đó gia tăng sự tuần hoàn Khí của chính mình, hay cả hai?
- Tình yêu là một cách tự nhiên để thúc đẩy sự hỗ tương nuôi dưỡng Khí và giúp người kia phục hồi sau bệnh tật. Đây có thể là một hình thức của Khí Công không?
- Hoạt động tình dục có phải là cách tự nhiên tối hậu của sự hỗ tương nuôi dưỡng Khí không? Tình dục là một dục vọng tự nhiên của con người. Thông qua hoạt động tình dục đều đặn, một người đạt được sự tĩnh lặng và bình an của tâm trí, và giải tỏa được áp lực do nhiễu loạn tình cảm tạo ra. Đây có thể là một hình thức luyện tập Khí Công không?
- Khi một người nam xuất tinh, anh ta mất Khí vào người nữ. Điều này xảy ra như thế nào? Có phải đó là lý do phụ nữ sống lâu hơn? Nếu cô ấy đã đạt tới một trình độ Khí Công cao hơn, người nam có thể nhận Khí thay vì mất Khí không?
- Làm sao mà Tinh và Khí lại bị mất đi trong lúc xuất tinh? Trong một số phương pháp luyện Khí Công, nam giới tránh xuất tinh. Trong những hoàn cảnh như vậy, Khí được truyền đi như thế nào?
- Nếu tình dục có lợi cho việc luyện tập Khí Công, tại sao tất cả các tăng sĩ Phật giáo và nhiều Đạo sĩ lại ẩn mình trong núi để tránh sự tiếp xúc tình dục? Có phải họ sợ rằng tình dục và tình yêu sẽ phá hủy cái tâm tĩnh lặng và bình an mà họ đang tu dưỡng?
- Tại sao các Đạo sĩ lại phát triển nhiều kỹ thuật dùng hoạt động tình dục để nuôi dưỡng Khí đến vậy? Những kỹ thuật này có thể đã được phát triển bởi những người không thể giữ cho tâm của mình tĩnh lặng? Hay họ muốn, một mặt đạt tới giác ngộ, và mặt khác hưởng một đời sống con người tự nhiên và bình thường?
9-5 · Về Sức Khỏe và Trường Thọ
- Chúng ta có thể dùng kích thích điện từ bên ngoài để chữa bệnh theo cùng cách mà Khí Công và châm cứu khôi phục lại sự tuần hoàn điện sinh học bình thường không? Khí Công chữa được nhiều loại ung thư. Điều này có thể đạt được bằng kỹ thuật điện và từ hiện đại không?
- Hệ miễn dịch có thể được củng cố thông qua kích thích điện từ để chữa AIDS và ung thư không? Hệ miễn dịch liên hệ mật thiết với hệ năng lượng sinh học của cơ thể. Chúng ta có thể gia tăng EMF của não và củng cố sự tuần hoàn năng lượng sinh học trong cơ thể không?
- Có nguy hiểm khi dùng điện và từ tính trong châm cứu khi chúng ta chưa hiểu hoàn toàn khoa học về Khí không? Cho tới nay, chưa có một báo cáo kết luận nào về việc sử dụng điện và từ tính trong châm cứu, mặc dù chúng được dùng rộng rãi. Chúng có an toàn cho thực hành phổ thông không, hay chúng ta cần nghiên cứu thêm?
- Luyện Khí Công để có được một sinh mệnh dài hơn có phải là mục tiêu đúng đắn không? Tôi tin rằng nếu ai đó thật sự muốn có một sinh mệnh dài hơn nhiều, anh ta cần rời bỏ xã hội để tránh nhiễu loạn tình cảm. Tuy nhiên, khi anh ta làm điều này, anh ta đánh mất ý nghĩa bình thường của đời sống con người. Tôi tin rằng mục đích đúng đắn của việc luyện Khí Công là đạt được một thân thể và tâm trí khỏe mạnh, trong khi vẫn trải nghiệm cuộc sống. Bạn kéo dài sinh mệnh của mình phần nào vì bạn khỏe mạnh, và bạn vẫn có thể trải nghiệm cuộc sống.
- Ý nghĩa của đời sống là gì? Khí Công có thể giúp nhân loại hiểu được nó không? Một sinh mệnh dài có ý nghĩa với bạn hơn một sinh mệnh hạnh phúc không? Nếu bạn muốn cả hai, bạn nên làm gì? Việc luyện tập Khí Công đã giúp tôi hiểu tự nhiên, và hiểu chính mình. Nó đã chấm dứt sự tự hỏi và hoang mang của tôi. Bạn có mong đợi điều tương tự không?
- Chúng ta có thể dùng kỹ thuật hiện đại để đạt tới cùng mục tiêu như việc luyện tẩy tủy (marrow washing) và có được một sinh mệnh dài hơn mà không phải hy sinh tình cảm của mình không? Tôi cảm thấy chắc chắn rằng một khi chúng ta hiểu chính xác việc luyện tẩy tủy hoạt động ra sao, chúng ta sẽ có thể dùng kỹ thuật hiện đại để nhanh chóng đạt tới cùng mục tiêu ấy.
9-6 · Về Khí và Đời Sống Hiện Đại
- Chúng ta có thể dùng nước đá để duy trì sự cân bằng Khí của cơ thể trong mùa hè không? Trước khi tủ lạnh được phát minh, không thể nghiên cứu điều này. Vào mùa hè, khi tim đang có hỏa (Dương), việc đặt nước đá vào lòng bàn tay có thể làm mát tim không, hay nó sẽ dập tắt hỏa của tim quá nhanh và gây ra vấn đề? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta dùng rượu thay vì nước đá?
- Làm việc theo ca đêm ảnh hưởng thế nào đến sự tuần hoàn Khí của một người? Thời cổ, rất ít người làm việc ban đêm, nên ngày nay không có tài liệu nào thảo luận về điều này. Vì thời điểm trong ngày phải được tính đến khi cho các liệu trình châm cứu, thì việc làm ca đêm có ảnh hưởng đến sự trị liệu không?
- Sự tuần hoàn Khí bị ảnh hưởng ra sao khi bạn đi qua nhiều múi giờ trong một thời gian ngắn? Chứng mệt mỏi do bay đường dài (jet lag) có cho thấy Khí của cơ thể bị nhiễu loạn không?
9-7 · Về Từ Trường Của Con Người
- Về mặt lý thuyết, có hai cực từ trong cơ thể con người, tương ứng với từ trường do Trái Đất tạo thành. Hai cực này có đảo ngược khi bạn di chuyển từ Bắc Bán Cầu sang Nam Bán Cầu không?
- Từ trường của Trái Đất bắt đầu từ Nam Từ Cực và đi tới Bắc Từ Cực. Vì cực nam từ của một người dường như nằm ở trên đầu nếu người ấy ở Bắc Bán Cầu, điều này có nghĩa là não của anh ta liên tục nhận được sự nuôi dưỡng năng lượng không? Nếu các cực từ của con người bị đảo ngược ở Nam Bán Cầu, điều này có nghĩa là não của những người ở đó liên tục bị mất sự nuôi dưỡng không?
- Điều này có giải thích tại sao kỹ thuật được phát triển cao nhất lại được tạo ra ở Bắc Bán Cầu không?
- Nếu những người ở Nam Bán Cầu có cực nam từ của họ ở Hạ Đan Điền, họ có nhiều năng lượng hơn không, và điều này có giúp họ sống lâu hơn không?
- Khi người ta bệnh, họ có thể đẩy nhanh sự phục hồi bằng cách bay tới xích đạo, nơi ảnh hưởng của từ trường Trái Đất được giảm thiểu không? Tôi tin rằng nhiều chứng bệnh được gây ra hay trở nên trầm trọng hơn bởi những sự nhiễu loạn trong điện từ trường của cơ thể. Năng lượng của đất có thể làm tình hình tệ hơn, vì cơ thể bạn đánh mất sự cân bằng tự nhiên của nó. Bạn có thể loại bỏ trở ngại này bằng cách di chuyển tới Xích Đạo không?
- Chúng ta bị bao quanh bởi các trường năng lượng, cả tự nhiên lẫn nhân tạo. Chúng ta có thể cách ly một căn phòng khỏi chúng để giúp người ta dưỡng bệnh không? Đây có cũng là một nơi tốt để nhập định không?
9-8 · Những Điều Khác
- Có những điểm đặc biệt nào trên trái đất nơi năng lượng tự nhiên đặc biệt có lợi cho Khí Công không? Nhiều người tu luyện tin rằng có những nơi mà Thiên Khí hay Địa Khí nuôi dưỡng Khí của bạn và đẩy nhanh sự tu luyện của bạn. Điều này có thật không? Những vùng này có tốt cho các bệnh viện không?
- Chuyện gì xảy ra khi chúng ta bị phơi ra trước một điện từ trường mạnh trong một thời gian dài? Nó ảnh hưởng đến cơ thể ra sao? Nó có thể tiếp năng lượng cho sinh lực của chúng ta và cải thiện sức khỏe của chúng ta không?
- Từ thời cổ, những người luyện Khí Công đã cho rằng có một phương pháp luyện tập làm cho thân thể nhẹ nhàng. Điều này có thật không? Điều này có nằm ngoài sự giải thích của khoa học không?
- Người Trung Hoa đã dùng ngọc qua nhiều thế hệ để điều tiết Khí trong cơ thể của họ hay hấp thu Khí dư thừa. Điều này đã từng được nghiên cứu khoa học chưa?
- Chúng ta có thể dùng các phương tiện điện từ để gia tăng Khí trên da đầu nhằm ngăn ngừa rụng tóc hay làm cho tóc mọc nhiều hơn không?
- Những người nhập định nói về việc hấp thu năng lượng từ đất qua bàn chân. Điều này có khác với năng lượng từ tính không?
- Một người luyện Khí Công được huấn luyện cao có thể tiên đoán tương lai không, hay đây chỉ đơn thuần là vấn đề phán đoán, kết hợp với kinh nghiệm và trí tuệ? Một số sư phụ Khí Công được cho là có thể đọc được tâm trí của bạn và thậm chí tiên đoán tương lai của bạn. Tôi tin rằng có thể đọc được tâm trí thông qua sự tương ứng sóng não, nhưng tiên đoán tương lai cần nhiều hơn thế. Cần có sự thông minh và trí tuệ, và rất nhiều kinh nghiệm. Nhân cách của một người là nhân tố chính trong sự thành công, và nó có thể được đọc trên khuôn mặt và thậm chí trên lòng bàn tay. Có phải đó là cách người ta đọc tương lai không, hay có cách nào khác?
- Chất liệu làm nên quần áo của bạn ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn như thế nào? Các chất liệu tự nhiên như bông và len phân tán một phần năng lượng vào môi trường chung quanh. Hầu hết các chất liệu nhân tạo tạo ra một lá chắn Khí không cho phép Khí của bạn trao đổi với tự nhiên. Điều này ảnh hưởng đến điện từ trường của cơ thể bạn và có lẽ thậm chí làm nhiễu loạn sự tuần hoàn Khí của bạn. Điều này cần được nghiên cứu.
- Thời tiết ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng ta ra sao? Tâm trạng có thể do các điện trường được tạo ra giữa các đám mây thấp và mặt đất gây nên. Những điện trường tự nhiên mạnh mẽ này ảnh hưởng đến điện từ trường của cơ thể bạn và có thể gây ra bệnh tật hay nhiễu loạn tình cảm.
- Có cách nào để tiếp năng lượng cho các bắp thịt tới một trình độ cao hơn thông qua kích thích điện từ bên ngoài, hay chúng ta phải dựa vào các phương pháp luyện tập truyền thống? Nếu điều đó khả dĩ, nó có công bằng trong các môn thể thao cạnh tranh như quyền Anh hay bóng bầu dục không? Việc những người tập thể hình dùng kích thích điện cho các bắp thịt có an toàn không?
- Có nguy hiểm nào trong những thí nghiệm này không? Chúng ta không hiểu cơ thể con người cho lắm, và chúng ta là những sinh vật mỏng manh và phức tạp đến thế. Dĩ nhiên, nhiều thí nghiệm có thể được thực hiện trước trên các loài vật khác, nhưng vì trường năng lượng bên trong liên hệ mật thiết với tình cảm, nên rất có thể hầu hết các thí nghiệm cần được tiến hành trực tiếp trên con người.
- Tại sao nhiều người luyện Khí Công lại ẩn mình trong hang động để tu luyện? Có phải vì một hang động che chắn được sự nhiễu loạn năng lượng bên ngoài, chẳng hạn như điện từ trường hay các ion trong mây?
- Đã có nhiều nền văn minh nhân loại trên trái đất trong quá khứ, trước khi lịch sử được ghi chép của chúng ta bắt đầu chưa? Nếu đã có, chuyện gì đã xảy ra? Có phải họ đã tiêu diệt lẫn nhau? Đã có bao nhiêu chu kỳ văn minh? Trong huyền thoại về Atlantis có một phần sự thật nào không?
- Nền văn minh nhân loại của chúng ta sẽ sống sót, hay chúng ta sẽ tự tiêu diệt mình, hay bị tiêu diệt bởi những thảm họa thiên nhiên như những thảm họa đã đến trước chúng ta?
- Sự phát triển của khoa học tâm linh của chúng ta sẽ bao giờ sánh kịp với sự phát triển của khoa học vật chất của chúng ta không? Mặc dù khoa học vật chất đã tiến tới một trình độ có khả năng dẫn chúng ta tới chỗ tự hủy diệt, sự phát triển tâm linh của chúng ta vẫn đáng thất vọng là trì trệ.
- Trong khi chúng ta điên cuồng tìm kiếm nguồn gốc của thế giới vật chất, chúng ta đã phớt lờ nguồn gốc của thế giới tâm linh của mình. Đâu là cội rễ của bản thể tâm linh của chúng ta?
- Chúng ta đang ngày càng đóng vai trò của Thượng Đế trong khoa học vật chất. Chúng ta có sẽ tìm cách đóng vai trò của Thượng Đế trong khoa học tâm linh nữa không?
- Vì việc nghiên cứu khoa học như toán học và vật lý học là một cách thiền định, nhân loại có thể mở con mắt thứ ba của chúng ta trong vài thế hệ tới không?
- Có phải người của một nền văn minh trước đây đã đi tới Hỏa tinh không? Hỏa tinh đã từng có khí hậu tương tự như trên trái đất chăng? Nếu vậy, chuyện gì đã xảy ra? Có phải những người định cư đã tiêu diệt lẫn nhau, và tiêu diệt luôn cả hành tinh của họ?
- Thế kỷ 21 có sẽ là một thế kỷ tâm linh không?
- Nếu khoa học y học hiện đại tiến tới một điểm cho phép con người sống hàng thế kỷ, chúng ta có sẽ đạt được sự hiểu biết mới về ý nghĩa của đời sống con người không?
- Chúng ta có đạt được một đời sống hài hòa nếu chúng ta có thể sống vài trăm năm trong khi vẫn phung phí thời gian ấy vào việc tìm kiếm tài phú và vinh quang, những thứ mà tầm quan trọng của nó đã được nhồi nhét vào chúng ta từ thuở nhỏ không? Chúng ta có tìm thấy ý nghĩa mới trong đời sống không?
- Chúng ta có thể đạt tới giai đoạn Vô Vi (Wuwei, 無為) trong xã hội loài người không? Vô Vi nghĩa là làm mà như không làm, điều tiết mà như không điều tiết, cai trị mà như không cai trị, một ma trận không có trật tự. Để đạt được điều này, chúng ta cần giao tiếp bằng thần giao cách cảm. Có phải toàn thể nhân loại cần phải mở con mắt thứ ba không?
- Nếu chúng ta đã từng được những người ngoài hành tinh thông minh viếng thăm, điều này có nghĩa là sự hiểu biết của họ về khoa học tâm linh và vật chất tiến bộ hơn chúng ta rất nhiều. Họ đã mở con mắt thứ ba của họ chưa? Họ đã trải qua một mô thức lịch sử tương tự như của nhân loại chưa?
- Nếu người ngoài hành tinh có ý định xâm lăng và chiếm lấy trái đất, tại sao họ lại đợi cho tới bây giờ? Kỹ thuật của con người đang tiến bộ một cách nhanh chóng. Nếu họ đã định chiếm lấy trái đất, họ đã có thể dễ dàng làm điều đó trong quá khứ.
- Có phải người ngoài hành tinh trong quá khứ đã bị coi là Thần ở phương Tây hay Tiên ở phương Đông không? Nếu kỹ thuật của chúng ta tiến tới một trình độ cho phép chúng ta viếng thăm các hành tinh chưa phát triển khác, cư dân bản địa có coi chúng ta là Thần không?
- Nếu có người ngoài hành tinh ở giữa chúng ta, họ có giúp chúng ta không? Có quan trọng đối với chúng ta là phải học mọi thứ một cách vất vả để chúng ta có thể dần dần tự tiến hóa về mặt tâm linh không? Nếu chúng ta được những người ngoài hành tinh thông minh giúp đỡ, chúng ta có trân trọng điều đó không? Hay chúng ta sẽ tham lam và coi sự giúp đỡ của họ là điều hiển nhiên? Chúng ta đã không bảo vệ thiên nhiên, thứ đang nuôi dưỡng chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản coi đó là điều hiển nhiên và hủy hoại nó.
- Làm thế nào chúng ta có thể giúp nhau thức tỉnh và bắt đầu xây dựng một sự kết nối tâm linh với tự nhiên?
Đây là một số câu hỏi mà tôi có. Tôi đã tìm thấy một số câu trả lời trong bốn mươi năm nghiên cứu, nhưng nhiều câu trong số đó cần được kiểm chứng. Bạn cũng có nhiều câu hỏi chưa được trả lời trong tâm trí của mình. Bạn không nên phớt lờ chúng mà hãy tiếp tục tìm kiếm những câu trả lời. Đó là con đường và là ý nghĩa của đời sống chúng ta.
Kết Luận
Nếu chúng ta cố gắng lĩnh hội bất kỳ một triết lý sâu sắc nào, trước hết chúng ta phải tĩnh lặng. Khi tâm trí tĩnh lặng và trong sáng, sự phán đoán trở nên hợp lý và chính xác. Thông qua hàng ngàn năm thiền định và tư tưởng sâu sắc, khoa học đã phát triển. Thật không may, hầu hết nỗ lực ấy đã được dành cho việc phát triển khoa học vật chất, trong khi sự phát triển tâm linh lại bị phớt lờ một cách rộng rãi. Kể từ thế kỷ thứ mười tám, khoảng cách giữa hai lĩnh vực này đã gia tăng một cách nhanh chóng. Hầu hết mọi người tìm kiếm vinh quang, quyền lực và tài phú, và bị sa lầy trong sự trói buộc tình cảm của sự thỏa mãn vật chất, trong khi mặt tâm linh thuộc Âm đã bị hạ thấp.
Để cứu nhân loại, chúng ta cần dành nhiều nỗ lực hơn cho việc suy ngẫm về tâm linh thay vì chỉ tập trung vào khoa học vật chất. Các tổ chức tôn giáo khác nhau phải nhận ra vai trò của mình và dạy cho các tín đồ của họ những phương pháp đúng đắn của thiền định và phát triển tâm linh. Điều này đòi hỏi họ phải thực hiện những thay đổi mang tính cách mạng trong đường lối. Họ phải dạy cho các tín đồ của mình rằng thiền định là để tự thức tỉnh và giác ngộ, chứ không phải để sùng bái. Nếu họ tiếp tục giáo dục các tín đồ của mình sùng bái và đi theo một cách mù quáng, thì chúng ta sẽ đi theo những con đường hủy diệt giống như chúng ta đã đi trong quá khứ, và vẫn ở trong lãnh địa của sự lạm dụng tâm linh.
Thiền định đã được thực hành rộng rãi ở phương Đông. Thường thì những người nhập định này sống ẩn dật trong núi. Thông qua thiền định, họ đã lĩnh hội Đạo của nhân loại và của tự nhiên. Tôi tin rằng những tài liệu được viết bởi những người tiên phong này là một trong những kho báu quý giá nhất mà nhân loại sở hữu. Đó là lý do tôi tiếp tục nghiên cứu và dịch chúng sang Anh ngữ. Thật không may, sự tiến bộ của tôi đã rất chậm chạp. Tôi thành thật hy vọng rằng một tổ chức có nền tảng tài chính vững chắc có thể bảo trợ và đứng ra tổ chức việc chuyển đổi những văn bản triết học phương Đông cổ xưa này sang Anh ngữ. Nếu sự nghiên cứu này được đưa vào mọi cấp độ của giáo dục, tôi tin rằng nó sẽ rất thành công trong việc dần dần thay đổi cái nhìn mà xã hội phương Tây có được, như một toàn thể, về thế giới tâm linh.
Tránh Thành Kiến
Bất kỳ nền văn hóa và truyền thống nào đã tồn tại được hẳn phải có một số lợi ích để mang lại. Có lẽ một số trong chúng không phù hợp với cái nhìn của chúng ta về thế giới ngày nay, nhưng chúng vẫn xứng đáng với sự tôn trọng của chúng ta. Nếu bạn chối bỏ quá khứ của mình, bạn nhổ bật rễ của mình lên. Bạn không nên cố chấp và cho rằng văn hóa truyền thống là tuyệt đối đúng, hay rằng một nền văn hóa ngoại lai phải tốt hơn văn hóa của chính mình. Điều bạn nên làm là giữ lấy cái tốt của truyền thống của mình và hấp thu cái tốt nhất của ngoại lai.
Hãy Khách Quan Trong Sự Phán Đoán
Bạn nên xem xét mọi thứ từ quan điểm của cả hai phía để phân tích nó một cách khách quan. Những phản ứng tình cảm của bạn nên được tính đến, nhưng không nên chi phối sự phán đoán của bạn.
Hãy Có Tính Khoa Học
Mặc dù nhiều điều vẫn chưa thể được khoa học giải thích, bạn nên luôn luôn phán đoán một cách khoa học. Những ngành khoa học mới liên tục được phát triển. Những hiện tượng trước đây không thể kiểm nghiệm được, nên được xem xét bằng các kỹ thuật hiện đại.
Hãy Hợp Lý
Bất cứ khi nào bạn đọc hay nghiên cứu, hãy luôn tự hỏi: “Điều này có hợp lý và có ý nghĩa không?” Hãy suy ngẫm và hiểu, thay vì tin một cách mù quáng.
Đừng Phớt Lờ Kinh Nghiệm Đã Có
Kinh nghiệm đã có được truyền lại là cội rễ của sự nghiên cứu. Bạn nên luôn luôn chân thành và tôn kính khi nghiên cứu quá khứ. Từ đó, bạn đi đến chỗ hiểu hiện tại. Bằng cách hiểu hiện tại, bạn tạo ra tương lai. Sự tích lũy kinh nghiệm là người thầy tốt nhất. Bạn nên tôn trọng quá khứ, thận trọng với hiện tại, và thách thức tương lai.
Tôi muốn bạn ghi nhớ một vài điều trong tiến trình nghiên cứu và học hỏi của mình. Đó là những điều vừa nêu trên.
Trung Hoa có hơn 7000 năm văn hóa. Đã có nhiều thành tựu đáng kinh ngạc, trong đó Khí Công chỉ là một. Chưa bao giờ có sự giao lưu cởi mở giữa các nền văn hóa khác nhau như ngày nay. Đó là trách nhiệm của chúng ta phải khuyến khích công chúng nói chung chấp nhận, nghiên cứu và tìm hiểu các nền văn hóa khác. Bằng cách này, nhân loại có thể tiếp nhận những mặt tốt của mỗi nền văn hóa và sống một cách hòa bình hơn và có ý nghĩa hơn.
Khí Công Trung Hoa là một phần của y học cổ truyền Trung Hoa. Nó đã tìm cách đạt được sự tĩnh lặng, bình an và hạnh phúc trong hàng ngàn năm. Tôi tin rằng phương diện này của văn hóa Trung Hoa có thể giúp người phương Tây, đặc biệt là trong việc tu luyện tâm linh. Cần phải khuyến khích thêm nhiều ấn phẩm, và cần phải tiến hành việc nghiên cứu, tìm hiểu và kiểm nghiệm mang tính học thuật và khoa học, đặc biệt là bởi các trường đại học và các tổ chức y khoa. Chúng ta không nên sợ đối mặt với sự thật và thách thức những niềm tin và cách tư duy cũ.
Tôi tiên đoán rằng việc nghiên cứu y học Trung Hoa và Khí Công nội tại, thiền định sẽ tạo ra những kết quả lớn lao trong vài thập niên tới. Tôi mời bạn hãy cùng tôi trở thành một người tiên phong trong lĩnh vực mới này ở thế giới phương Tây.
Dịch và Chú Giải Các Thuật Ngữ Hán Ngữ
| Hán tự | Phiên âm | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 哀 | Ai | Sầu. Sự buồn rầu. |
| 愛 | Ai | Yêu thương, lòng nhân từ. |
| 安爐 | An Lu | Lắp đặt lò. Thiết lập Khí dồi dào tại Chân Hạ Đan Điền (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田) bằng cách dùng Thai Tức (Tai Xi, 胎息). |
| 按摩 | An Mo | Ấn và xoa. Ghép lại, hai chữ có nghĩa là xoa bóp. |
| 安天樂命 | An Tian Le Ming | An với trời và vui với định mệnh của mình. |
| 八觸 | Ba Chu | Tám sự xúc chạm, là những cảm giác thường được cảm thấy trong khi luyện Khí Công, chẳng hạn như nóng, sự chạm xúc, hay cảm giác nặng nề. |
| 八段錦 | Ba Duan Jin | Tám Đoạn Gấm. Một bài Ngoại Đan Khí Công (Wai Dan Qigong, 外丹氣功), được cho là do Nguyên soái Nhạc Phi (Yue, Fei, 岳飛) sáng tạo vào thời Nam Tống (1127–1280 SCN). |
| 八脈 | Ba Mai | Tám Mạch Kỳ Kinh. Chúng được coi là những hồ chứa Khí, điều tiết Khí trong các kinh mạch Khí chính. |
| 白毫 | Bai Hao | Những tia sáng tâm linh nhỏ màu trắng, phát ra từ đầu hay từ con mắt thứ ba. |
| 白鶴 | Bai He | Bạch Hạc. Một môn võ miền nam Trung Hoa nổi tiếng, có nguồn gốc từ Thiếu Lâm Tự (Shaolin Temple, 少林寺). |
| 八卦 | Bagua (Ba Gua hoặc Ba Kua) | Tám Sự Bói Toán, còn gọi là Bát Quái. Trong triết học Trung Hoa, tám biến thể cơ bản trong Kinh Dịch (Yi Jing, 易經, Kinh về sự Biến Đổi), được định rõ là những nhóm gồm các đường liền và đường đứt. |
| 八卦掌 | Baguazhang (Ba Kua Zhang) | Bát Quái Chưởng. Một trong các môn võ nội gia, được tin là do Đổng Hải Xuyên (Dong, Hai-Chuan, 董海川) sáng tạo trong khoảng từ năm 1866 đến 1880 SCN. |
| 百日築基 | Bai Ri Zhu Ji | Một Trăm Ngày Xây Nền Móng. Trong Dịch Cân Kinh (Yi Jin Jing, 易筋經) và Tẩy Tủy Kinh (Xi Sui Jing, 洗髓經), việc luyện tập trong một trăm ngày đầu là quan trọng nhất, vì nó đặt nền móng cho những tiến bộ về sau. |
| 百會 | Baihui (Gv-20) | Bách Hội. Một huyệt đạo châm cứu quan trọng nằm trên đỉnh đầu. Nó thuộc về Đốc Mạch (Du Mai, 督脈). |
| 百會呼吸 | Baihui Hu Xi | Bách Hội Hô Hấp, cũng được gọi là Thần Tức (Shen Xi, 神息). |
| 抱 | Bao | Ôm, giữ chặt cùng nhau, dính vào nhau, bao bọc, chứa chấp, hay trân quý. |
| 包犧 | Bao Xi (2852–2737 TCN) | Một vị vua cổ của Trung Hoa. |
| 抱一 | Bao Yi | Ôm giữ trạng thái của sự duy nhất. Giữ thần (hay tâm) và Khí tại đường năng lượng trung tâm, và thống nhất thần và Khí tại Chân Hạ Đan Điền (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田). |
| 抱元 | Bao Yuan | Ôm giữ cội nguồn. Nghĩa là giữ thần của bạn tại chỗ ngụ của nó, Nê Hoàn Cung (Ni Wan Gong, 泥丸宮), và giữ Khí tại Chân Hạ Đan Điền (Zhen Xia Dan Tian, 真下丹田). |
| 閉 | Bi | Đóng lại, tức là đóng và nâng Hội Âm (Huiyin, Co-1, 會陰) lên, hay nín thở. |
| 閉戶 | Bi Hu | Cánh cửa đóng kín, cũng được gọi là Mật Hộ (Mi Hu, 密戶), ám chỉ huyệt Mệnh Môn (Mingmen, Gv-4, 命門) nằm giữa đốt sống L2 và L3. |
| 扁鵲 | Bian Que | Một thầy thuốc nổi tiếng đã viết cuốn sách Nan Kinh (Nan Jing, 難經, Kinh về các Chứng Bệnh) trong thời Tần và Hán của Trung Hoa (255 TCN–220 SCN). |
| 伯陽 | Bo Yang | Một biệt hiệu của Lão Tử (Lao Zi, 老子). |
| 補 | Bu | Sự bồi bổ, nuôi dưỡng. |
| 不調而調 | Bu Tiao Er Tiao | Điều tiết mà như không điều tiết. Giai đoạn của việc không làm gì (Vô Vi, Wuwei, 無為), khi sự điều tiết không còn cần thiết nữa, và mọi tiến trình điều tiết đều chấm dứt. |
| 採藥 | Cai Yao | Hái thuốc. Một thuật ngữ của Đạo gia có nghĩa là tiếp nhận Khí đã được sinh ra. |
| 奼女 | Cha Nu | Thiếu nữ e thẹn (người mẹ), ám chỉ Khí. |
| 禪 | Chan | Những sự thực hành Phật giáo, bao gồm sự tu dưỡng, tinh luyện và nghiên cứu Phật quả. Đây cũng là một thuật ngữ Phật giáo chỉ thiền định, và có nghĩa là điều tiết Tâm (Xin, 心) cho tới khi nó tĩnh lặng và vững vàng. Chan được gọi là Zen (禪) ở Nhật Bản. Nó cũng chỉ một tông phái Phật giáo Đại Thừa Trung Hoa, chủ trương rằng giác ngộ có thể đạt được thông qua thiền định, tự quán chiếu và trực giác. |
| 產藥 | Chan Yao | Sinh ra dược liệu (Khí). |
| 長 | Chang | Dài. |
| 長拳 | Chang Chuan (Changquan) | Trường Quyền, hay quyền dài, bài dài. Trường Quyền bao gồm tất cả các môn võ tầm xa của miền bắc Trung Hoa. Thái Cực Quyền được gọi là Trường Quyền vì bài quyền của nó dài. |
| 常在 | Chang Zai | Tên của thần của lá lách, liên hệ với hồn. |
| 長強 | Changqiang (Gv-1) | Vĩ Lư (Weilu, 尾閭, xương cụt) trong giới Đạo gia, hay Trường Cường trong châm cứu. |
| 沉 | Chen | Chìm xuống. |
| 塵土 | Chen Tu | Bụi bặm. Theo Phật giáo, xã hội thế tục tràn ngập tình cảm và dục vọng, được coi là bùn hay bụi của tình cảm. |
| 成佛 | Cheng Fo | Đạt tới Phật quả. |
| — | Cheng, Gin-Gsao (1911 đến 1976) | Sư phụ Bạch Hạc của Dương Tuấn Mẫn. |
| 氣 | Chi (Qi) | Định nghĩa chung của Khí là năng lượng vũ trụ, bao gồm nhiệt, ánh sáng, năng lượng điện từ, và bất kỳ loại năng lượng nào khác. Một định nghĩa hẹp hơn của Khí chỉ năng lượng sinh học (điện sinh học) lưu chuyển trong cơ thể con người hay loài vật. |
| 氣功 | Chi Kung (Qigong) | Công phu (Gongfu, 功夫), hay sự nghiên cứu, về Khí. |
| 遲老還機運動 | Chi Lao Huan Ji Yun Dong | Những bài tập Khí Công để làm chậm sự lão hóa và đưa chức năng trở về trạng thái khỏe mạnh. |
| 擒拿 | Chin Na (Qin Na) | Cầm Nã. Một loại Công phu Trung Hoa nhấn mạnh các kỹ thuật nắm bắt để khống chế các khớp của đối phương, trong khi tấn công vào một số huyệt đạo nhất định. Một trong bốn phạm trù chiến đấu chính trong võ thuật Trung Hoa. Bốn phạm trù là: đá (Ti, 踢), đánh (Da, 打), vật (Shuai, 摔), và khống chế (Qin Na, 擒拿). |
| 重樓 | Chong Lou | Nhiều tầng tháp, nghĩa là nhiều tầng lớp, ám chỉ vùng cổ họng. |
| 衝脈 | Chong Mai | Xung Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 充氣 | Chong Qi | Tích lũy Khí tại Chân Hạ Đan Điền. |
| 臭皮囊 | Chou Pi Nang | Túi da hôi thối, một thuật ngữ Phật giáo chỉ thân thể con người. |
| 觸感 | Chu Gan | Cảm giác xúc chạm, cũng được gọi là Động Xúc (Dong Chu, 動觸). Một cảm giác xảy ra trong lúc thiền định. |
| 春秋 | Chun Qiu | Xuân Thu. Một trong những thời kỳ chiến loạn của Trung Hoa (722 tới 484 TCN). |
| 孔子 | Confucius (551–479 TCN) | Một học giả Trung Hoa, sống vào thời Xuân Thu, triết lý của ông đã ảnh hưởng đáng kể đến văn hóa Trung Hoa. |
| 搓 | Cuo | Cô đặc, tập trung, hay chuyên chú. Nghĩa là tập trung tâm trí và Khí. |
| 大定 | Da Ding | Đại Định. Sự vững vàng sâu sắc của thân thể và tâm trí. |
| 大鼎爐 | Da Ding Lu | Đỉnh và lò lớn. Giai đoạn cuối cùng của việc thụ thai một Thai Thần (Shen Tai, 神胎) tại huyệt Hoàng Đình (Huang Ting, 黃庭) là thống nhất Thần với Khí tại Hoàng Đình. Đầu là cái đỉnh còn Hoàng Đình là cái lò. |
| 大返 | Da Fan | Đại Phản. Đưa bản tính con người trở về trạng thái tự nhiên. |
| 大還丹 | Da Huan Dan | Đại Hoàn Đan. Phép thiền định được dùng để dẫn Khí lên trên, nhằm nuôi dưỡng não bộ cho sự giác ngộ tâm linh. |
| 達摩 | Da Mo | Vị tăng sĩ Phật giáo Ấn Độ được cho là người sáng tạo ra Dịch Cân Kinh (Yi Jin Jing, 易筋經) và Tẩy Tủy Kinh (Xi Sui Jing, 洗髓精) tại Thiếu Lâm Tự (Shaolin, 少林) trong thời nhà Lương (502–557 SCN). Họ của ông là Sardili, và ông cũng được biết đến với tên Bồ Đề Đạt Ma. Ông đã từng là một hoàng tử của một bộ tộc nhỏ ở miền nam Ấn Độ. |
| 搭橋 | Da Qiao (Da Que Qiao) | Bắc cầu thước. Chạm đầu lưỡi vào vòm miệng để hình thành một cái cầu Khí nối giữa Đốc Mạch và Nhâm Mạch. |
| 大周天 | Da Zhou Tian | Đại Chu Thiên, tức Chu Thiên Lớn hay Đại Tuần Hoàn, được gọi là Macrocosmic Meditation trong Du Già Ấn Độ. Sau khi một người luyện Nội Đan hoàn tất Tiểu Chu Thiên (Xiao Zhou Tian, 小周天), anh ta tuần hoàn Khí khắp toàn thân hay trao đổi nó với tự nhiên. |
| 打坐 | Da Zuo | Thiền định được gọi là Đả Tọa trong Đạo giáo, có nghĩa là tham dự vào việc ngồi. |
| 帶脈 | Dai Mai | Đới Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 帶脈呼吸 | Dai Mai Xi | Đới Mạch Hô Hấp. Cũng được gọi là Phu Tức (Fu Xi, 膚息, hô hấp bằng da) hay Thể Tức (Ti Xi, 體息, hô hấp bằng toàn thân). |
| 丹 | Dan | Đan, tức đơn dược. |
| 丹鼎道功 | Dan Ding Dao Gong | Đan Đỉnh Đạo Công của Khí Công. Một hình thức luyện Khí Công của Đạo gia. |
| 丹家 | Dan Jia | Đan Gia, nghĩa là giới Khí Công Đạo gia. |
| 丹爐 | Dan Lu | Đan Lò. Vùng bụng (Giả Hạ Đan Điền) nơi sản sinh ra đơn dược. |
| 丹田 | Dan Tian | Đan Điền. Những vị trí trong cơ thể nơi tàng trữ và sinh ra Khí. Thượng, Trung và Hạ Đan Điền lần lượt nằm ở não bộ, tại xương ức (Cưu Vĩ, Jiuwei, Co-15, 鳩尾), và ngay dưới rốn. |
| 丹田呼吸 | Dan Tian Hu Xi | Đan Điền Hô Hấp. |
| 丹元 | Dan Yuan | Tên của thần của tim. Nó chứa đựng Linh (Ling, 靈) và duy trì các hoạt động của nó. |
| 道 | Dao | Đạo, hay Đường Lối Tự Nhiên. |
| 道德經 | Dao De Jing | Kinh về Đức của Đạo. Do Lão Tử (Lao Zi, 老子) viết vào thời nhà Chu (1122–255 TCN). |
| 道家(道教) | Dao Jia (Dao Jiao) | Đạo Gia (Đạo Giáo). Do Lão Tử sáng tạo vào thời nhà Chu (1122–255 TCN). Trong thời nhà Hán (58 SCN), nó được hòa trộn với Phật giáo để trở thành Đạo giáo tôn giáo (Dao Jiao, 道教). |
| 道家呼吸 | Dao Jia Hu Xi | Hô hấp của Đạo gia, cũng được gọi là Hô Hấp Bụng Nghịch (Fan Fu Hu Xi hay Ni Fu Hu Xi, 反腹呼吸/逆腹呼吸). |
| 道外採藥 | Dao Wai Cai Yao | Hái thuốc ở bên ngoài Đạo. Một hình thức luyện Khí Công của Đạo gia. |
| 導引 | Dao Yin | Hướng dẫn và dẫn dắt. Một tên gọi khác của Khí Công. |
| 大椎 | Dazhui (Gv-14) | Tên châm cứu của một huyệt đạo trên Đốc Mạch. Nó có nghĩa là Đốt Sống Lớn. |
| 德 | De | Sự biểu hiện của Đạo hay những hoạt động của tự nhiên. |
| 地 | Di | Trái Đất. Đất (Di, 地), Trời (Tian, 天), và Người (Ren, 人) là Tam Tài (San Cai, 三才). |
| 抵 | Di | Ép lên trên. Lưỡi ép lên trên vòm miệng. |
| 蒂 | Di | Cuống của một trái cây hay bông hoa, nối với cội rễ của sự sống. |
| 地理師 | Di Li Shi | Địa Lý (Di Li, 地理) nghĩa là địa lý phong thủy, và Sư (Shi, 師) nghĩa là thầy. Bởi vậy Địa Lý Sư là một thầy phân tích các vị trí địa lý theo công thức trong Kinh Dịch (Yi Jing, 易經, Kinh về sự Biến Đổi) và sự phân bố năng lượng trong Trái Đất. Cũng được gọi là Phong Thủy Sư (Feng Shui Shi, 風水師). |
| 地氣 | Di Qi | Địa Khí, tức Khí của đất. |
| 第五囟呼吸 | Di Wu Xin Hu Xi | Hô Hấp Cửa Thứ Năm, cũng được gọi là Bách Hội Hô Hấp (Baihui Hu Xi, 百會呼吸), hay Thượng Đan Điền Hô Hấp (Shang Dan Tian Hu Xi, 上丹田呼吸). |
| 點脈 | Dian Mai | Mai (脈) nghĩa là mạch máu (Xue Mai, 血脈) hay kinh mạch Khí (Qi Mai, 氣脈); Điểm Mạch nghĩa là ấn vào mạch máu hay kinh mạch Khí. |
| 電氣 | Dian Qi | Dian (電) nghĩa là điện, nên Điện Khí nghĩa là năng lượng điện. Ở Trung Hoa, người ta thường đặt một chữ trước chữ “Khí” để xác định các loại năng lượng khác nhau. |
| 點穴 | Dian Xue | Điểm Huyệt. Những kỹ thuật Cầm Nã (Qin Na, 擒拿) tấn công vào các huyệt đạo để làm bất động hay giết chết đối phương. |
| 吊 | Diao | Rung lắc. |
| 定 | Ding | Làm cho vững vàng hay kiên cố. Mục tiêu là đạt tới sự vững vàng, sự kiên định của thân thể, tâm trí và thần. |
| 鼎爐 | Ding Lu | Đỉnh Lò, cũng được gọi là Đan Lò (Dan Lu, 丹爐). Một thuật ngữ của Đạo gia. |
| 定神 | Ding Shen | Làm cho thần vững vàng. Giữ thần tại một chỗ (thường là Thượng Đan Điền tại con mắt thứ ba). Một bài tập để điều tiết Thần (Shen, 神) trong Khí Công. |
| 定心 | Ding Xin | Làm cho tâm vững vàng, không bị nhiễu loạn tình cảm. |
| 動 | Dong | Động. |
| 動觸 | Dong Chu | Động Xúc, hay Cảm Giác Xúc Chạm (Chu Gan, 觸感). Một cảm giác trong thiền định. |
| 冬眠息 | Dong Mian Xi | Đông Miên Tức, hô hấp ngủ đông. |
| 斗牛 | Dou Niu | Bắc Đẩu. Cô đặc Thần tại Thượng Đan Điền. |
| 督脈 | Du Mai | Đốc Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 端品 | Duan Pin | Uốn nắn hành vi ngay thẳng. Giữ gìn những thói quen tốt. |
| 峨嵋山 | Emei Shan | Tên của một ngọn núi ở tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan, 四川). |
| 額中 | Ezhong (M-HN-2) | Tên châm cứu của trung tâm trán, phía trên điểm giữa của hai lông mày, cũng được gọi là Minh Đường (Mingtang, 明堂). |
| 法輪 | Fa Lun | Pháp Luân. Bản dịch Phật giáo của thuật ngữ Ấn Độ Dharmachakra. Tên gọi thông thường của Phật giáo. |
| 反腹呼吸 | Fan Fu Hu Xi | Hô Hấp Bụng Nghịch. Một phương pháp hô hấp Khí Công, cũng được gọi là Hô Hấp Nghịch (Fan Hu Xi, 反呼吸) hay Hô Hấp của Đạo Gia (Dao Jia Hu Xi, 道家呼吸). |
| 反呼吸 | Fan Hu Xi | Hô hấp nghịch. Cũng được gọi là Hô Hấp của Đạo Gia. |
| 返精補腦 | Fan Jing Bu Nao | Đưa Tinh trở lại để nuôi dưỡng não bộ, một thuật ngữ đặc biệt của Khí Công Đạo gia. |
| 返童呼吸 | Fan Tong Hu Xi | Phản Đồng Hô Hấp, tức Hô Hấp Trở Về Tuổi Thơ, cũng được gọi là Hô Hấp Bụng. Một phương pháp Nội Đan, qua đó người ta lấy lại được sự kiểm soát các bắp thịt ở vùng bụng dưới. |
| 飛昇 | Fei Sheng | Sự thăng hoa tâm linh. Sự tách rời của thể tâm linh khỏi thể xác. |
| 粉碎虛空 | Fen Sui Xu Kong | Đập nát hư không. Phép luyện giác ngộ của Đạo gia, phá hủy ảo ảnh nối kết thế giới vật lý và bình diện tâm linh. |
| 焚香 | Fen Xiang | Đốt hương. |
| 風路 | Feng Lu | Phong Lộ, tức Đường Gió. Ngược lại với Hỏa Lộ (Huo Lu, 火路) của Tiểu Chu Thiên. |
| 風水 | Feng Shui | Phong Thủy. Địa lý phong thủy. Sự bói toán về những mối quan hệ năng lượng tự nhiên tại một địa điểm, đặc biệt là những mối tương quan của gió và nước, do đó mà có tên gọi này. |
| 風水師 | Feng Shui Shi | Phong Thủy Sư. Thầy về bói toán. Cũng được gọi là Địa Lý Sư (Di Li Shi, 地理師). |
| 風池 | Fengchi (GB-20) | Phong Trì. Một huyệt đạo trên kinh Đởm (mật). |
| 風府 | Fengfu (Gv-16) | Phong Phủ, tức nơi gió cư ngụ. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. |
| 佛 | Fo | Giai đoạn giác ngộ của chân lý, giai đoạn của Phật quả. |
| 佛家(佛教) | Fo Jia (Fo Jiao) | Phật gia hay Phật giáo. Jiao (教) nghĩa là tôn giáo. |
| 佛家呼吸 | Fo Jia Hu Xi | Hô Hấp của Phật Gia, hay Hô Hấp Bụng Bình Thường (Zhen Fu Hu Xi, 正腹呼吸). |
| 符 | Fu | Phù Thủy (Fu Shui, 符水), thứ nước có phép để chữa bệnh. |
| 伏 | Fu | Thuận theo, tương xứng, hòa hợp, phối hợp, hay hợp tác. |
| 浮 | Fu | Nổi lên. |
| 伏氣 | Fu Qi | Thuần phục Khí. Cai quản Khí theo ý muốn. |
| 腹式呼吸 | Fu Shi Hu Xi | Lối hô hấp bằng bụng. Khi bạn thở, các bắp thịt ở vùng bụng dưới kiểm soát cơ hoành. Cũng được gọi là “Hô Hấp Trở Về Tuổi Thơ”. |
| 符水 | Fu Shui | Phù Thủy, thứ nước có phép để chữa bệnh. |
| 膚息 | Fu Xi | Phu Tức, tức hô hấp bằng da. Một phương pháp hô hấp của Nội Đan Khí Công (Nei Dan Qigong, 內丹氣功). |
| 高濤 | Gao, Tao | Sư phụ Thái Cực Quyền đầu tiên của Dương Tuấn Mẫn. |
| 睪丸運動 | Gao Wan Yun Dong | Những bài tập tinh hoàn. Các bài tập Khí Công. |
| 功 | Gong (Kung) | Năng lượng hay sự lao động nhọc nhằn. |
| 功夫 | Gongfu (Kung Fu) | Công Phu, tức thời gian và năng lượng. Bất cứ sự nghiên cứu, học hỏi, hay thực hành nào đòi hỏi sự kiên nhẫn, năng lượng và thời gian để hoàn thành. Võ thuật Trung Hoa đòi hỏi rất nhiều thời gian và năng lượng, nên chúng thường được gọi là Công Phu. |
| 固 | Gu | Làm cho đặc lại và vững chắc lại. |
| 穀道 | Gu Dao | Cốc Đạo, tức đường ngũ cốc, hậu môn. |
| 固精 | Gu Jing | Cố Tinh, làm cho Tinh vững chắc. Một bài tập Khí Công để làm cho Tinh kiên cố. |
| 谷神 | Gu Shen | Cốc Thần, tức thần của hang thung lũng. |
| 固神 | Gu Shen | Điều tiết Thần (Shen, 神), làm cho thần vững chắc và mạnh mẽ tại chỗ ngụ của nó. |
| 觀 | Guan | Nhìn, quan sát, chú ý. Cảm nhận và cảm giác. |
| 觀念 | Guan Nian | Quán niệm, tức quán sát các tư tưởng. |
| 觀心 | Guan Xin | Quán Tâm. Chú ý đến những hoạt động của tâm tình cảm. |
| 關元 | Guan Yuan | Nguồn Căn Bản. Hạ Đan Điền, nơi Tiên Thiên Khí, hay Nguyên Khí, được chuyển hóa từ Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精). |
| 觀止 | Guan Zhi | Sự quan sát được chấm dứt và không còn cần thiết nữa. Một khi bạn đã điều tiết được tâm tình cảm của mình, thì không còn cần sự điều tiết nữa. Sự quán sát Tâm tự chấm dứt. |
| 關元 | Guanyuan (Co-4) | Bản lề tại nguồn. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. |
| 鬼 | Gui | Quỷ. Khi bạn chết, nếu thần của bạn mạnh, năng lượng của hồn bạn không phân hủy và trở về tự nhiên. Năng lượng của hồn này là một con quỷ. |
| 鬼氣 | Gui Qi | Khí tàn dư của một người chết hay của một con quỷ. |
| 龜息 | Gui Xi | Quy Tức, tức hô hấp của con rùa. Một con rùa sống lâu vì nó thở sâu và chậm. Lối hô hấp này dẫn Khí ra bề mặt da và vào tủy. |
| 國 | Guo | Quốc gia. |
| 海底 | Haidi | Đáy biển. Tên võ thuật của Hội Âm (Huiyin, Co-1, 會陰), tức đáy chậu. |
| 漢 | Han (206 TCN–221 SCN) | Một triều đại Trung Hoa. |
| — | Han, Ching-Tang | Một võ sư Trung Hoa nổi tiếng, đặc biệt là ở Đài Loan trong bốn mươi năm qua. Sư phụ Trường Quyền của Dương Tuấn Mẫn. |
| 和 | He | Sự hòa hợp hay bình an. |
| 河車 | He Che | Những cỗ xe trên sông. Phương tiện vận chuyển Khí trong thiền định Tiểu Chu Thiên. |
| 恨 | Hen | Hận thù. |
| 哼 | Hen | Một âm thanh Khí Công thuộc Âm, đối nghịch với âm Ha (哈) thuộc Dương. Âm thanh này dẫn Khí đi vào trong tới tủy xương. Nó cũng có thể được dùng để tấn công khi chỉ cần sự biểu hiện một phần của sức mạnh. Một trong hai âm thanh được dùng trong Thái Cực Quyền. |
| 橫隔膜 | Heng Ge Mo | Cơ hoành. |
| 後天氣 | Hou Tian Qi | Hậu Thiên Khí. Nó được chuyển hóa từ Tinh của thức ăn và không khí, và được phân loại là Hỏa Khí, vì nó làm cho cơ thể bạn trở nên Dương. |
| 虎 | Hu | Con hổ. |
| 滑 | Hua | Trơn trượt. |
| 華皓 | Hua Hao | Tên của thần của phổi. Liên hệ với mũi, cơ quan tiếp nhận không khí (vật chất vô hình) và làm đầy cơ thể với sự sống. |
| 華佗 | Hua Tuo | Một thầy thuốc nổi tiếng trong thời nhà Tấn (Jin, 晉) vào thế kỷ thứ 3 SCN. |
| 緩 | Huan | Chậm chạp. |
| 還精補腦 | Huan Jing Bu Nao | Đưa Tinh trở lại để nuôi dưỡng não bộ. Một tiến trình Khí Công của Đạo gia, trong đó Khí được sản sinh từ Tinh được dẫn lên để nuôi dưỡng não bộ. |
| 黃婆 | Huang Po | Bà lão màu vàng. Bà mai mối đưa Âm và Dương lại với nhau. |
| 黃庭 | Huang Ting | Sân vàng. Vùng ở đám rối dương, được gọi là Ngọc Hoàn (Yu Huan, 玉環) trong giới Đạo gia. Đó là nơi Hỏa Khí và Thủy Khí hòa trộn để sinh ra một thai tâm linh (Shen Tai, 神胎). Hoàng Đình cũng có thể chỉ Trung Đan Điền. |
| 悔過 | Hui Guo | Hối quá, tức xưng tội. |
| 慧能 | Hui Neng | Vị tổ thứ sáu của phái Thiền (Chan, 禪) trong thời nhà Đường (713–907 SCN). Ông đã thay đổi một số phương pháp thiền định và triết lý, và đã từng bị coi là kẻ phản bội trong một thời gian dài. |
| 會陰 | Huiyin (Co-1) | Gặp gỡ Âm. Đáy chậu, một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. |
| 魂 | Hun | Hồn. Thường được dùng cùng với chữ Linh (Ling, 靈), nghĩa là thần. Các Đạo sĩ tin rằng Hồn (魂) và Phách (魄) của một người bắt nguồn từ Nguyên Khí (Yuan Qi, 元氣) của người ấy, và tách rời khỏi thể xác khi chết. |
| 火路 | Huo Lu | Hỏa Lộ. Đường lộ thông thường của Tiểu Chu Thiên, đi theo sự tuần hoàn Khí tự nhiên của cơ thể. |
| 火氣 | Huo Qi | Hỏa Khí, tức Hậu Thiên Khí. Từ Trung Đan Điền. Làm cho cơ thể trở nên Dương. |
| 活氣 | Huo Qi | Khí sống hay Sinh Khí. Khi một vật còn sống, nó có Sinh Khí. |
| 積行 | Ji Xing | Tích lũy những việc thiện. Làm những điều tốt cho người khác. |
| 假觀 | Jia Guan | Quán sát sự giả dối hay ảo ảnh. |
| 假下丹田 | Jia Xia Dan Tian | Giả Hạ Đan Điền. Được gọi là Khí Hải (Qihai, Co-6, 氣海, biển Khí) trong y học Trung Hoa. Các Đạo sĩ tin rằng Hạ Đan Điền ở phía trước bụng không phải là Đan Điền Thật hay trung tâm trọng lực. |
| 跏坐 | Jia Zuo | Một thuật ngữ thiền định đặc biệt của Phật giáo, có nghĩa là ngồi với hai chân xếp bằng. |
| 堅 | Jian | Cứng hay mạnh. |
| 夾脊 | Jiaji | Giáp Tích, tức ép chặt đốt sống. Tên Đạo gia của huyệt nằm giữa hai xương bả vai. Được gọi là Linh Đài (Lingtai, 靈台) trong châm cứu. |
| 絳宮 | Jiang Gong | Cung màu đỏ thẫm. Khoảng không dưới tim, hay Trung Đan Điền. Một thuật ngữ thường được dùng thay cho tim (Xin, 心). Trung Đan Điền cung cấp cho bạn Hậu Thiên Khí được chuyển hóa từ thức ăn và không khí. |
| 結跏趺坐 | Jie Jia Fu Zuo | Thuật ngữ Phật giáo chỉ việc ngồi với hai chân xếp bằng. |
| 結胎 | Jie Tai | Thụ thai, tức hình thành thai nhi. |
| 解脫 | Jie Tuo | Giải thoát chính mình khỏi sự trói buộc tâm linh. |
| 金丹 | Jin Dan | Kim Đan. Khí quý giá. |
| 金丹大道 | Jin Dan Da Dao | Kim Đan Đại Đạo. Sự luyện tập Khí Công Đạo gia chính yếu. Đơn dược được sản sinh trong cơ thể và được dùng để kéo dài sinh mệnh. |
| 金殿 | Jin Dian | Cung điện vàng, cũng được gọi là Kim Thất (Jin Shi, 金室). Phổi hay não bộ. |
| 金公 | Jin Gong | Nam nhân vàng. Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精). |
| 金關 | Jin Guan | Cửa vàng. Thượng Đan Điền. |
| 金鳥 | Jin Niao | Chim vàng. Nguyên Thần (Yuan Shen, 元神). |
| 金品 | Jin Pin | Chất liệu vàng. Thai Thần. |
| 金闕 | Jin Que | Cung điện vàng. Khoảng không dưới tim. Trung Đan Điền. |
| 金室 | Jin Shi | Nơi cư ngụ bằng vàng. Cũng được gọi là Kim Điện (Jin Dian, 金殿). Thượng Đan Điền hay phổi. |
| 金鐘罩 | Jin Zhong Zhao | Kim Chung Tráo, tức lớp chuông vàng bao phủ. Một trình độ cao của việc luyện Thiết Bố Sam. |
| — | Jin, Shao-Feng | Sư phụ Bạch Hạc của Dương Tuấn Mẫn. |
| 經 | Jing | Kinh mạch. Mười hai con sông liên hệ với các cơ quan nội tạng, tuần hoàn Khí khắp toàn thân. |
| 靜 | Jing | Tĩnh lặng và im lặng. |
| 精 | Jing | Tinh. Phần tinh túy nhất của bất cứ vật gì. Cái còn lại sau khi một vật đã được tinh luyện và thanh tẩy. Trong y học Trung Hoa, Tinh có thể nghĩa là tinh dịch, nhưng nó thường chỉ chất nền tảng của cơ thể, được làm cho sống động bởi Khí và Thần. |
| 精煉 | Jing Lian | Tinh luyện hay thanh tẩy một chất lỏng tới phẩm chất cao. |
| 精良 | Jing Liang | Tinh khiết và tốt lành. Phẩm chất tuyệt hảo. |
| 精明 | Jing Ming | Sắc sảo và khôn khéo. |
| 景氣 | Jing Qi | Cảnh Khí, tức cảnh tượng của Khí, một cảm giác được Khí tạo ra trong lúc thiền định. |
| 精氣 | Jing Qi | Tinh Khí hay Khí của tinh dịch, được chuyển hóa từ Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精). |
| 精神 | Jing Shen | Tinh Thần. Thần của sinh lực, được Khí nâng lên nhưng bị Ý (Yi, 意) tiết chế. |
| 精細 | Jing Xi | Tinh khiết và vi tế. Tế nhị và công phu. |
| 精子 | Jing Zi | Tinh Tử, tức con của Tinh. Tinh túy nhất của người nam. Tinh trùng. |
| 靜坐 | Jing Zuo | Ngồi tĩnh lặng trong thiền định. |
| 九宮 | Jiu Gong | Chín cung điện. Một tên gọi của Đạo gia chỉ não bộ. |
| 九年面壁 | Jiu Nian Mian Bi | Chín năm quay mặt vào vách. Giai đoạn cuối cùng của việc luyện Tẩy Tủy Kinh (Xi Sui Jing, 洗髓經) để đạt giác ngộ hay thành Phật. |
| 鳩尾 | Jiuwei (Co-15) | Cưu Vĩ, tức đuôi chim bồ câu rộng. Một huyệt đạo tại xương ức dưới, trên Nhâm Mạch. Được giới võ thuật gọi là Tâm Khảm (Xinkan, 心坎). |
| 脊中 | Jizhong (Gv-6) | Giữa đốt sống, một huyệt đạo trên Đốc Mạch. |
| 聚精會神 | Ju Jing Hui Shen | Tụ Tinh Hội Thần, tức tụ tập Tinh để gặp Thần. Sự tập trung. |
| 君清 | Jun Qing | Một thầy thuốc Đạo gia trong thời nhà Tấn (265–420 SCN). Được cho là người sáng tạo ra bài tập Ngũ Cầm Hý (Wu Qin Xi, 五禽戲). |
| 開竅 | Kai Qiao | Mở cửa khiếu khó khăn. Mở cửa của Thượng Đan Điền. |
| 坎 | Kan | Nước. Một trong Bát Quái. |
| 坎宮 | Kan Gong | Khảm Cung. Khí Hải (Qihai, 氣海) hay Hạ Đan Điền (Xia Dan Tian, 下丹田). |
| 坎離 | Kan-Li | Kan tượng trưng cho nước và Li tượng trưng cho lửa. Khảm Ly nghĩa là dùng nước và lửa để điều chỉnh Âm và Dương của cơ thể. |
| 空觀 | Kong Guan | Quán sát tính không. |
| 空氣 | Kong Qi | Không khí được gọi là Không Khí, có nghĩa là Khí trong không gian. |
| 孔子 | Kong Zi (551–479 TCN) | Khổng Tử. Một học giả và triết gia nổi tiếng trong thời Xuân Thu (722–484 TCN). |
| 崆峒 | Kongdong | Có ba ngọn núi tên là Không Động, nằm ở các tỉnh Hà Nam (Henan, 河南), Giang Tây (Jiangxi, 江西), và Cam Túc (Gansu, 甘肅). |
| 叩齒 | Kou Chi | Cắn răng, tức khấu xỉ. |
| 功夫 | Kung Fu (Gongfu) | Công Phu, tức thời gian và năng lượng. Bất cứ sự nghiên cứu, học hỏi, hay thực hành nào đòi hỏi sự kiên nhẫn, năng lượng và thời gian để hoàn thành. Võ thuật Trung Hoa đòi hỏi rất nhiều thời gian và năng lượng, nên chúng thường được gọi là Công Phu. |
| 崑崙 | Kunlun | Một trong những ngọn núi cao nhất ở Trung Hoa, nằm ở miền tây. |
| 喇嘛 | La Ma | Các tăng sĩ Tây Tạng được gọi là Lạt Ma. |
| 老聃 | Lao Dan | Lão Tử (Lao Zi, 老子). |
| 老君 | Lao Jun | Lão Tử. Lão Quân là tên do các môn đồ của ông đặt cho. |
| 老子 | Lao Zi (604–531 TCN) | Người sáng tạo ra Đạo giáo, cũng được gọi là Lý Nhĩ (Li Er, 李耳), Lão Đam (Lao Dan, 老聃), hay bằng biệt hiệu của ông, Bá Dương (Bo Yang, 伯陽). |
| 勞宮 | Laogong (P-8) | Lao Cung, tức cung của sự lao động. Một huyệt đạo trên kinh Tâm Bao, ở trung tâm lòng bàn tay. |
| 樂 | Le | Vui vẻ hay hạnh phúc. |
| 雷 | Lei | Sấm sét. |
| 冷 | Leng | Lạnh. |
| 離 | Li | Lửa. Một trong Bát Quái (Bagua, 八卦). |
| 立 | Li | Thiết lập. |
| 李耳 | Li Er | Lão Tử. |
| 離宮 | Li Gong | Ly Cung. Trái tim. Li nghĩa là lửa trong Bát Quái. |
| 立志 | Li Zhi | Thiết lập hay xây dựng một ý chí mạnh mẽ. |
| — | Li, Mao-Ching | Sư phụ Trường Quyền của Dương Tuấn Mẫn. |
| 李時珍 | Li, Shi-Zhen (1518–1593 SCN) | Một thầy thuốc và sư phụ Khí Công nổi tiếng, người đã viết một cuốn sách về tám mạch Khí, nhan đề Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo (Qi Jing Ba Mai Kao, 奇經八脈考, Nghiên Cứu về các Mạch Lạ và Tám Mạch) vào thế kỷ thứ 16. |
| 煉 | Lian | Tinh luyện, rèn luyện, hay kỷ luật. |
| 煉己 | Lian Ji | Rèn luyện tự thân. Tự kỷ luật. |
| 煉精化氣 | Lian Jing Hua Qi | Tinh luyện Tinh và chuyển hóa nó thành Khí. Một tiến trình luyện tập Khí Công. |
| 煉氣 | Lian Qi | Rèn luyện, củng cố và tinh luyện. Sự luyện tập của Đạo gia để củng cố và gia tăng Khí. |
| 煉氣化神 | Lian Qi Hua Shen | Tinh luyện Khí để nuôi dưỡng thần. Sự luyện tập Khí Công để dẫn Khí lên nuôi dưỡng não bộ và Thần (Shen, 神). |
| 煉氣昇華 | Lian Qi Sheng Hua | Rèn luyện Khí và thăng hoa nó. Sự luyện tập Tẩy Tủy Kinh (Xi Sui Jing, 洗髓經) để dẫn Khí tới Hoàng Đình (Huang Ting, 黃庭) hay não bộ. |
| 煉身 | Lian Shen | Rèn luyện thân thể. |
| 煉神 | Lian Shen | Rèn luyện thần. Tinh luyện, củng cố và tập trung Thần. |
| 煉神返虛 | Lian Shen Fan Xu | Rèn luyện thần để trở về hư vô, để đạt được sự tự do khỏi sự trói buộc tình cảm. Một giai đoạn cao cấp của việc luyện giác ngộ và thành Phật, nhằm dẫn thần tách rời khỏi thân thể. |
| 煉神了性 | Lian Shen Liao Xing | Tinh luyện thần và chấm dứt bản tính con người. Giai đoạn cuối cùng của việc luyện giác ngộ, nơi bạn giữ cho các tình cảm của mình trung dung, không bị bản tính con người làm nhiễu động. |
| 煉藥 | Lian Yao | Tinh luyện hay thanh tẩy dược liệu (Khí). |
| 梁 | Liang (502–557 SCN) | Một triều đại Trung Hoa. |
| 涼 | Liang | Mát mẻ. |
| 廉泉 | Lianquan (Co-23) | Liêm Tuyền, tức suối của sự khiêm nhường. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. |
| 了 | Liao | Sự chấm dứt hay hoàn tất của việc tu luyện. |
| 了悟 | Liao Wu | Sự chấm dứt của sự hiểu biết. Giác ngộ. |
| 靈 | Ling | 1. Thần của bản thể, tác động lên những người khác. Linh chỉ tồn tại ở những loài vật có tính tâm linh cao như con người và vượn. Nó đại diện cho một sự lĩnh hội và hiểu biết về mặt tình cảm. Khi bạn còn sống, đó là trí thông minh và trí tuệ của bạn. Khi bạn chết, đó là thần của con quỷ. Ling cũng có nghĩa là thần thánh hay siêu nhiên. Cùng với Thần (Ling Shen, 靈神), nó có nghĩa là thần siêu nhiên. Khí là nguồn nuôi dưỡng nó, được gọi là Linh Khí (Ling Qi, 靈氣), có nghĩa là năng lượng, sức mạnh, hay lực lượng siêu nhiên. 2. Thần siêu nhiên được gọi là Linh. Ling mô tả một người sắc sảo, khôn khéo, nhanh nhẹn, và có khả năng nhanh chóng đồng cảm với người khác. Ling cũng có thể là một năng lực tâm linh siêu nhiên cho phép bạn giao tiếp với tự nhiên hay các bản thể tâm linh khác. Thông thường, nó có nghĩa là Nguồn Cảm Hứng Thiêng Liêng cho phép bạn lĩnh hội và hiểu những sự biến đổi hay biến thiên trong tự nhiên. |
| 靈光 | Ling Guang | Ánh sáng thiêng liêng siêu nhiên. |
| 靈鬼 | Ling Gui | Thần quỷ, tức quỷ tâm linh. |
| 靈魂 | Ling Hun | Linh hồn. |
| 靈山 | Ling Shan | Linh Sơn. Một thuật ngữ Phật giáo tương đương với Thần Cốc (Shen Gu, 神谷) của các Đạo sĩ. |
| 靈神 | Ling Shen | Thần siêu nhiên hay Đấng Thiêng Liêng. |
| 靈胎 | Ling Tai | Linh Thai, tức thai tâm linh. |
| 靈台 | Lingtai | Linh Đài, tức đài tâm linh hay trạm tâm linh, nghĩa là Thần Cốc (Shen Gu, 神谷). |
| 靈台 | Lingtai (Gv-10) | Linh Đài. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. Được các Đạo sĩ gọi là Giáp Tích (Jiaji, 夾脊, ép chặt đốt sống) và được giới võ thuật gọi là Mệnh Môn (Mingmen, 命門, cửa sinh mệnh). |
| 流 | Liu | Chảy. |
| 六合八法 | Liu He Ba Fa | Lục Hợp Bát Pháp. Một trong các môn võ nội gia Trung Hoa. Các kỹ thuật của nó kết hợp Thái Cực Quyền (Taijiquan, 太極拳), Hình Ý Quyền (Xingyiquan, 形意拳), và Bát Quái Chưởng (Baguazhang, 八卦掌). Môn phái này được cho là do Trần Bác (Chen, Bo) sáng tạo vào thời nhà Tống (960–1280 SCN). |
| — | Liu Zu Shuo Chuan Fa | Vị tổ thứ sáu đã làm đảo lộn pháp môn được truyền lại. Vị tổ thứ sáu của phái Thiền (Chan, 禪), Huệ Năng (Hui Neng, 慧能), người sống vào thời nhà Đường (713–907 SCN), đã thay đổi một số phương pháp thiền định và triết lý, và đã từng bị coi là kẻ phản bội trong một thời gian dài. Vì điều này, phái Thiền chia ra thành Nam tông và Bắc tông. Điều này được biết đến nhiều trong giới Phật giáo. |
| 龍 | Long | Con rồng. |
| 龍虎交媾 | Long Hu Jiao Gou | Sự giao hợp của rồng và hổ. Ám chỉ sự tương tác của Âm và Dương. |
| 龍煙 | Long Yan | Tên của thần của gan, liên hệ với đôi mắt. Khi gan khỏe mạnh, đôi mắt sáng và sắc. |
| 龍耀 | Long Yao | Tên của thần của túi mật, liên hệ với gan. |
| 龍門 | Longmen (M-CA-24) | Long Môn, tức cửa rồng. Một huyệt đạo thuộc loại linh tinh. Cũng được gọi là Hạ Âm (Xiayin, 下陰), ám chỉ vùng bẹn. |
| 下丹田 | Lower Dan Tian | Hạ Đan Điền. |
| 鹿車 | Lu Che | Lộc Xa, tức cỗ xe con nai. Cách dẫn Khí từ Giáp Tích (Jiaji, 夾脊) tới Ngọc Chẩm (Yuzhen, 玉枕). Việc dẫn Khí nên nhanh như một con nai. |
| 轆轤關 | Lulu Guan | Cửa của cái guồng quay. Một huyệt nằm ở trung tâm lưng, nơi hai vai xoay. Cũng được các Đạo sĩ gọi là Giáp Tích (Jiaji, 夾脊), được các võ sư gọi là Mệnh Môn (Mingmen, 命門), và được gọi là Linh Đài (Lingtai, Gv-10, 靈台) trong châm cứu. (Lưu ý: huyệt Mệnh Môn trong châm cứu nằm ở lưng dưới.) |
| 絡 | Luo | Những kinh mạch Khí nhỏ rẽ nhánh ra từ các kinh mạch chính, và nối với da và tủy xương. |
| 馬 | Ma | Con ngựa. |
| 脈 | Mai | Mạch hay kinh mạch Khí. Tám mạch liên hệ đến việc vận chuyển, tàng trữ và điều tiết Khí. |
| 孟子 | Mencius (372–289 TCN, Meng Zi) | Một môn đồ nổi tiếng của Khổng Tử trong thời Chiến Quốc của Trung Hoa (403–222 TCN, Zhan Guo, 戰國). |
| 密戶 | Mi Hu | Cửa kín. Huyệt Mệnh Môn (Mingmen, Gv-4, 命門) nằm giữa các đốt sống L2 và L3. Cũng được gọi là Bế Hộ (Bi Hu, 閉戶). |
| 密宗 | Mi Zong | Mật Tông, tức phái bí mật. Khí Công Tây Tạng được gọi là Mật Tông vì nó được giữ kín đối với người bên ngoài. |
| 綿 | Mian | Mềm mại. |
| 面壁 | Mian Bi | Quay mặt vào vách. |
| 命 | Ming | Thân thể vật lý được gọi là Mệnh, có nghĩa là sự sống. |
| 鳴天鼓 | Ming Tian Gu | Đánh trống trời. Đầu được coi là trời. Dùng các đầu ngón tay gõ lên đó được gọi là Minh Thiên Cổ, một trong những bài tập trong Bát Đoạn Cẩm (Ba Duan Jin, 八段錦). |
| 明心見性 | Ming Xin Jian Xing | Hiểu Tâm của bạn để thấy bản tính con người của bạn. |
| 命門 | Mingmen | Mệnh Môn (cửa sinh mệnh) thường có nghĩa là rốn hay Khí Hải (Qihai, Co-6, 氣海) trong giới Đạo gia. |
| 命門 | Mingmen (Gv-4) | Cửa sinh mệnh. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch ở lưng dưới (giữa L2 và L3). Đôi khi, nó có nghĩa là hai quả thận trong giới Khí Công. Trong võ thuật Trung Hoa, Mệnh Môn là vùng giữa hai xương bả vai. Nó cũng ám chỉ Hạ Đan Điền. |
| 明堂 | Mingtang | Khoảng không giữa hai lông mày, đi vào trong một tấc được gọi là Minh Đường. |
| 母 | Mu | Người mẹ. |
| 木母 | Mu Mu | Mộc Mẫu, tức mẹ gỗ, hay gan (Thần). |
| 母子相合 | Mu Zi Xiang He | Sự Hòa Hợp Hỗ Tương của Mẹ và Con. Khí được gọi là mẹ và thần được gọi là con. Khi thần được dẫn xuống để thống nhất với Khí tại Chân Hạ Đan Điền, điều đó được gọi là Mẫu Tử Tương Hợp, tức trạng thái của Thai Tức. |
| 母子相依 | Mu Zi Xiang Yi | Sự Nương Tựa Hỗ Tương của Con và Mẹ. |
| 腦戶 | Naohu (Gv-17) | Não Hộ, tức nhà của não bộ. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. Cũng được giới Đạo gia gọi là Ngọc Chẩm (Yuzhen, 玉枕). |
| 內丹 | Nei Dan | Nội Đan. Một hình thức Khí Công trong đó Khí (đơn dược) được xây dựng lên trong cơ thể và được lan tỏa ra các tay chân. |
| 內功 | Nei Gong | Nội Công. Tất cả sự luyện tập trong đó tâm trí dẫn dắt sự tuần hoàn của Khí, hoặc để biểu hiện hoặc để giác ngộ. |
| 內氣 | Nei Qi | Nội Khí, tức Khí ở mức thấp, cũng được gọi là Khí Bên Trong (Xia Ceng Qi, 下層氣). |
| 內腎 | Nei Shen | Nội Thận. Trong y học và Khí Công Trung Hoa, là hai quả thận thật sự. Ngoại Thận (Wai Shen, 外腎) chỉ tinh hoàn. |
| 內視功夫 | Nei Shi Gongfu | Nhìn vào bên trong để xác định trạng thái sức khỏe của bạn và tình trạng của Khí bạn. |
| 逆腹呼吸 | Ni Fu Hu Xi | Hô Hấp Bụng Nghịch. Cũng được gọi là Phản Phúc Hô Hấp (Fan Fu Hu Xi, 反腹呼吸) hay Hô Hấp của Đạo Gia (Dao Jia Hu Xi, 道家呼吸). |
| 泥丸宮 | Ni Wan Gong | Nê Hoàn Cung. Thuật ngữ Khí Công chỉ não bộ hay Thượng Đan Điền. Những viên hoàn bằng bùn ám chỉ tuyến tùng và tuyến yên. |
| 逆行 | Ni Xing | Nghịch Hành, tức đường lộ đảo ngược. Hướng của sự tuần hoàn Khí ngược lại với sự tuần hoàn Khí bình thường (Hỏa Lộ). Đường lộ đảo ngược cũng được gọi là Phong Lộ (Feng Lu, 風路). |
| 念 | Nian | Những tư tưởng còn vương vấn trong tâm trí bạn và khó loại bỏ. |
| 凝 | Ning | Tập trung, cô đặc, tinh luyện, chuyên chú, và củng cố. |
| 凝神 | Ning Shen | Cô đặc hay tập trung thần. Một khi bạn có thể giữ thần của mình tại một chỗ, bạn cô đặc nó thành một điểm tí hon để làm cho nó mạnh hơn. |
| 牛車 | Niu Che | Ngưu Xa, tức cỗ xe con bò. Khi dẫn Khí từ Ngọc Chẩm (Yuzhen, 玉枕) tới Nê Hoàn (Niwan, 泥丸, tức Bách Hội), sự di chuyển của Khí nên mạnh mẽ như một con bò. |
| 牛郎 | Niu Lang | Ngưu Lang, tức chàng chăn bò. Một câu chuyện tình truyền thuyết trên trời. Chàng chăn bò yêu cô thợ dệt (Chức Nữ, Zhi Nu, 織女). Nhưng cuộc hôn phối của họ bị cấm đoán, và họ chỉ được phép gặp nhau mỗi năm một lần. |
| 泥丸 | Niwan | Một tên gọi của Đạo gia chỉ đỉnh đầu, não bộ, hay Thượng Đan Điền. |
| 怒 | Nu | Sự giận dữ. |
| 暖 | Nuan | Ấm áp. |
| 蓬萊仙島 | Peng Lai Xian Dao | Đảo Tiên Bồng Lai. Một hòn đảo ở Đông Hải nơi các vị tiên cư ngụ, theo truyền thuyết Trung Hoa. |
| 彭祖 | Peng, Zu | Một người luyện Khí Công huyền thoại trong thời của vua Nghiêu (2356–2255 TCN), người được cho là đã sống 800 năm. |
| 牝 | Pin | Loài vật giống cái, hay những người mẹ. |
| 平常呼吸 | Pin Chang Hu Xi | Hô hấp đều đặn bình thường. |
| 平 | Ping | Sự bình an và hòa hợp. |
| 魄 | Po | Lực lượng sinh mệnh mãnh liệt. Phách được coi là cái hồn thú vật thấp kém. Đó là đời sống thú vật có tri giác, vốn là một phần bẩm sinh của cơ thể. Khi chết, nó trở về với đất cùng với phần còn lại của cơ thể. Khi một người ở trong trạng thái tinh thần cao và tham gia mãnh liệt vào một hoạt động nào đó, người ta nói rằng anh ta có Phách Lực (Po Li, 魄力), nghĩa là anh ta có sức mạnh hay quyền lực mãnh liệt. |
| 氣 | Qi (Chi) | Định nghĩa chung của Khí là năng lượng vũ trụ, bao gồm nhiệt, ánh sáng, và năng lượng điện từ. Một định nghĩa hẹp hơn chỉ năng lượng lưu chuyển trong cơ thể con người hay loài vật. Một mô hình đang thịnh hành hiện nay cho rằng Khí trong cơ thể là điện sinh học. |
| 氣按摩 | Qi An Mo | Khí xoa bóp. Một trong những trình độ cao của các kỹ thuật xoa bóp, trong đó một thầy thuốc xoa bóp dùng chính Khí của mình để loại bỏ sự ứ trệ Khí trong cơ thể bệnh nhân. Cũng được gọi là Ngoại Khí Liệu Pháp (Wai Qi Liao Fa, 外氣療法), có nghĩa là chữa bệnh bằng Ngoại Khí. |
| 起火 | Qi Huo | Khởi hỏa, tức nhóm lửa lên. Xây dựng Khí tại Hạ Đan Điền (Xia Dan Tian, 下丹田). |
| 氣化論 | Qi Hua Lun | Lý thuyết về những biến thiên của Khí. Một cuốn sách cổ về những biến đổi trong năng lượng tự nhiên. |
| 奇經 | Qi Jing | Những mạch kỳ kinh hay những kinh mạch lạ. Chúng hoạt động như những hồ chứa và điều tiết sự phân bố và tuần hoàn của Khí trong cơ thể bạn. |
| 奇經八脈 | Qi Jing Ba Mai | Kỳ Kinh Bát Mạch. Chúng được gọi là lạ vì chúng không được hiểu rõ lắm, và một số không tồn tại thành từng cặp. |
| 七情六欲 | Qi Qing Liu Yu | Bảy tình và sáu dục. Bảy tình là: vui mừng (Hỉ, Xi, 喜), giận dữ (Nộ, Nu, 怒), buồn rầu (Ai, 哀), vui vẻ (Lạc, Le, 樂), yêu thương (Ai, 愛), hận thù (Hận, Hen, 恨), và dục vọng (Dục, Yu, 欲). Sáu dục là sáu khoái lạc giác quan phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và tâm trí. |
| 氣勢 | Qi Shi | Shi (勢) nghĩa là cách một vật trông hay cảm thấy thế nào. Khí Thế là cảm giác về Khí khi nó biểu hiện chính nó. Chẳng hạn, trạng thái tâm linh hay nhuệ khí của một đạo quân được gọi là trạng thái năng lượng của nó. |
| 氣血 | Qi-Xue | Khí Huyết. Theo y học Trung Hoa, Khí và huyết không thể tách rời, và hai chữ này thường được dùng chung với nhau. |
| 遷善 | Qian Shan | Chuyển vào sự tốt lành. Thay đổi từ xấu thành tốt. |
| 強間 | Qiangjian (Gv-18) | Cường Gian, tức giữa hai sức mạnh. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. Huyệt này và con mắt thứ ba nằm tại lối ra của Thần Cốc. |
| 竅 | Qiao | Những biến đổi hay biến thiên của tự nhiên. |
| 竅門 | Qiao Men | Một cách học tập và thực hành bí mật. |
| 氣功 | Qigong (Chi Kung) | Công (Gong, 功) nghĩa là Công Phu (Gongfu, 功夫). Khí Công là sự nghiên cứu và luyện tập về Khí. |
| 氣海 | Qihai (Co-6) | Khí Hải, tức biển Khí. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch, khoảng hai tấc dưới rốn. |
| 秦漢 | Qin và Han Dynasties (255 TCN–223 SCN) | Hai triều đại trong lịch sử Trung Hoa. |
| 擒拿 | Qin Na (Chin Na) | Cầm Nã. Công phu nhấn mạnh các kỹ thuật nắm bắt để khống chế các khớp của đối phương, trong khi tấn công vào một số huyệt đạo nhất định. Một trong bốn phạm trù chiến đấu chính trong võ thuật Trung Hoa. Bốn phạm trù là: đá (Ti, 踢), đánh (Da, 打), vật (Shuai, 摔), và khống chế (Qin Na, 擒拿). Cầm Nã chuyên khống chế địch thủ bằng cách làm sai lệch khớp (Thác Cốt, Cuo Gu, 挫骨), phân rẽ cơ bắp (Phân Cân, Fen Jin, 分筋), bế khí (Bế Khí, Bi Qi, 閉氣), và điểm huyệt (Điểm Huyệt, Dian Xue, 點穴). |
| 輕 | Qing | Nhẹ. |
| 清 | Qing Dynasty (1644–1912 SCN) | Triều đại Trung Hoa cuối cùng. |
| 清修派 | Qing Xiu Pai | Phái Thanh Tu. Một nhánh của Khí Công Đạo gia. |
| 青城 | Qingcheng | Một ngọn núi ở tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan, 四川). |
| 曲江 | Qu Jiang | Khúc Giang, tức những dòng sông cong. Ruột, Chân Hạ Đan Điền. |
| 鵲橋 | Que Qiao | Thước Kiều, tức cầu thước hay cái lưỡi, nối Nhâm Mạch và Đốc Mạch. |
| 熱 | Re | Nóng. |
| 熱氣 | Re Qi | Re nghĩa là sự ấm áp hay sức nóng. Nhiệt Khí tượng trưng cho Khí nóng. |
| 仁 | Ren | Nhân tính, lòng tốt, hay lòng nhân từ. Khi Đạo và Đức được áp dụng trong xã hội loài người, đó là lòng nhân (Ren, 仁) và sự ngay thẳng (Yi, 義). |
| 人 | Ren | Con người hay nhân loại. Một trong Tam Tài (San Cai, 三才), đó là Trời (Tian, 天), Đất (Di, 地), và Người (Ren, 人). |
| 忍 | Ren (Zen) | Nhẫn nhục. Tên gọi của Nhật Bản dành cho Thiền (Chan). |
| 任脈 | Ren Mai | Nhâm Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 人氣 | Ren Qi | Nhân Khí, tức Khí của con người. |
| 人事 | Ren Shi | Nhân Sự. Những sự kiện, hoạt động và mối quan hệ của con người. |
| 人中 | Renzhong (Gv-26) | Philtrum, tức rãnh nhân trung. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. Cũng được gọi là Thủy Câu (Shuigou, 水溝), có nghĩa là rãnh nước. |
| 入道 | Ru Dao | Nhập Đạo. Nghĩa là bắt đầu tham gia vào việc nghiên cứu và thực hành của Đạo gia. |
| 入定 | Ru Ding | Đi vào trạng thái vững vàng của tâm trí và thân thể. |
| 入觀 | Ru Guan | Đi vào sự quán sát. Tâm trí tĩnh lặng và trong sáng, cho phép bạn đi vào một trạng thái sâu sắc của sự quán sát và phân tích. |
| 儒家 | Ru Jia | Nho Gia. Những môn đồ theo giáo lý của Khổng Tử. |
| 入景 | Ru Jing | Đi vào cảnh tượng. Khi bạn thiền định một cách sâu sắc, bạn trải nghiệm đủ loại hiện tượng. Điều này được gọi là Nhập Cảnh. |
| 入魔 | Ru Mo | Đi vào ma. Những cảm giác hay nhận thức sai lầm có thể dẫn bạn vào sự mê hoặc, ảo ảnh, và tưởng tượng. |
| 軟 | Ruan | Mềm mại. |
| 若存 | Ruo Cun | Dường như nó đang tồn tại. |
| 三寶 | San Bao | Tam Bảo. Tinh (Jing, Essence, 精), Khí (Qi, năng lượng, 氣), và Thần (Shen, 神). Cũng được gọi là Tam Nguyên (San Yuan, 三元, ba cội nguồn). |
| 三本 | San Ben | Ba nền tảng. |
| 三才 | San Cai | Tam Tài. Trời (Tian, 天), Đất (Di, 地), và Người (Ren, 人). |
| 三車 | San Che | Tam Xa, tức ba cỗ xe. Ba cách dẫn Khí trong tiến trình luyện Tiểu Chu Thiên: cỗ xe con cừu, cỗ xe con nai, và cỗ xe con bò. |
| 散功 | San Gong | Sự tán mạt năng lượng. Sự thoái hóa sớm của cơ thể, nơi Khí không thể tiếp năng lượng cho nó một cách hiệu quả, thường do luyện tập quá độ gây ra. |
| 三關 | San Guan | Ba cửa trong Tiểu Chu Thiên. Đó là Vĩ Lư, Giáp Tích, và Ngọc Chẩm. |
| 三觀 | San Guan | Ba phép quán sát trong thiền định Phật giáo. 1. Quán Không (Kong Guan, 空觀) — quán sát tính không của mọi quy luật và sự kiện tự nhiên; 2. Quán Giả (Jia Guan, 假觀) — quán sát tính giả dối của mọi quy luật tự nhiên; 3. Quán Trung (Zhong Guan, 中觀) — quán sát ở giữa hai điều trên. |
| 三花聚頂 | San Hua Ju Ding | Ba bông hoa đạt tới đỉnh. Một trong những mục tiêu cuối cùng của Khí Công, qua đó Tam Bảo được dẫn lên đỉnh của cơ thể để nuôi dưỡng thần tại Thượng Đan Điền. |
| 三教 | San Jiao | Tam Giáo. Phật giáo, Đạo giáo, và Nho giáo. |
| 三界 | San Jie | Tam Giới. Ma trận thế tục. 1. Thế giới của dục vọng; 2. Thế giới của sắc tướng (thế giới vật chất); 3. Thế giới không có sắc tướng (sự tĩnh lặng cực độ thông qua thiền định). |
| 三昧印 | San Mei Yin | Tam Muội Ấn (San Mo Di, 三摩地, Samadhi), một thuật ngữ đặc biệt của Phật giáo Ấn Độ, có nghĩa là sự vững vàng của tâm trí và thân thể (Định, Ding, 定). Tên gọi Phật giáo của Tiểu Chu Thiên. Cũng được gọi là Âm Dương Tuần Hoàn Tiểu Chu Thiên (Yin-Yang Xun Huan Yi Xiao Zhou Tian), có nghĩa là Chu Kỳ Thiên Tiểu của sự Tuần Hoàn Âm Dương, trong giới Đạo gia. |
| 三摩地 | San Mo Di | Tam Ma Địa. Tam Muội Ấn. |
| 三年哺乳 | San Nian Bu Ru | Ba năm bú mớm. |
| 三氣歸元 | San Qi Gui Yuan | Ba Khí (tinh, Khí và thần) đều trở về cội nguồn của chúng. |
| 三元 | San Yuan | Tam Nguyên. Cũng được gọi là Tam Bảo (San Bao, 三寶). |
| 三陰交 | Sanyinjiao (Sp-6) | Tam Âm Giao, tức nơi giao hội của ba kinh Âm. Một huyệt đạo trên kinh tỳ (lách). Nơi giao hội của ba kinh Âm, đó là tỳ (lách), can (gan), và thận. |
| 嗇 | Se | Khắc nghiệt, cằn cỗi. |
| 僧兵 | Seng Bing | Tăng Binh. Những võ tăng của Thiếu Lâm. |
| 上層氣 | Shang Ceng Qi | Khí mức trên. Cũng được gọi là Ngoại Khí (Wai Qi, 外氣). |
| 上丹田 | Shang Dan Tian | Thượng Đan Điền, trong não bộ tại con mắt thứ ba, là nơi ngụ của Thần. |
| 上丹田呼吸 | Shang Dan Tian Hu Xi | Thượng Đan Điền Hô Hấp. Thần Tức (Shen Xi, 神息). |
| 上顎 | Shang E | Vòm của miệng. |
| 上鵲橋 | Shang Que Qiao | Thước kiều trên, tức cái lưỡi, nối Nhâm Mạch và Đốc Mạch. |
| 膻中 | Shanzhong (Co-17) | Vùng trung tâm giữa hai núm vú. Một số người luyện Khí Công coi Đản Trung là Trung Đan Điền. Tên châm cứu của nó là Xuyên Khí mùi hương. |
| 少林 | Shaolin | Rừng cây non. Một ngôi chùa Phật giáo ở Hà Nam, nổi tiếng về võ thuật. |
| 攝精 | She Jing | Hấp thu tinh túy. |
| 深 | Shen | Sâu. |
| 神 | Shen | Khi một thần trở nên thiêng liêng, nó được gọi là Thần. |
| 神 | Shen | Thần. Sự vận hành có ý thức của tâm trí và tư tưởng. Nó cư ngụ tại Thượng Đan Điền (Shang Dan Tian, 上丹田). |
| 神不守舍 | Shen Bu Shou She | Thần không được giữ tại chỗ ngụ của nó. |
| 神谷 | Shen Gu | Thần Cốc, tức thung lũng của thần. Được hình thành bởi hai bán cầu của não bộ, với Thượng Đan Điền ở lối ra. |
| 神龜 | Shen Gui | Thần Quy, tức con rùa tâm linh. |
| 神魂 | Shen Hun | Thần của một người đang hấp hối, ở giữa Thần và Hồn. |
| 神交 | Shen Jiao | Sự giao tiếp tâm linh. |
| 神明 | Shen Ming | Những bản thể thiêng liêng hay đã giác ngộ về mặt tâm linh. |
| 神氣相合 | Shen Qi Xiang He | Sự Hòa Hợp hay Thống Nhất Hỗ Tương của Thần và Khí. Sự điều tiết cuối cùng của Thần. |
| 神胎 | Shen Tai | Thần Thai, tức thai tâm linh. Cũng được gọi là Linh Thai (Ling Tai, 靈胎). |
| 神息 | Shen Xi | Thần Tức, tức hô hấp bằng thần. Giai đoạn của việc luyện Khí Công trong đó thần được phối hợp với hơi thở. |
| 神息相依 | Shen Xi Xiang Yi | Sự Nương Tựa Hỗ Tương của Thần và Hơi Thở. |
| 神仙 | Shen Xian | Thần Tiên. Xian (Tiên) bắt nguồn từ Shen (Thần), đôi khi được gọi là Thần Tiên, hay thần của bậc bất tử. |
| 身心平衡 | Shen Xin Ping Heng | Thân và tim được cân bằng. Có sự cân bằng giữa thân thể và tâm trí. |
| 神嬰 | Shen Ying | Thai nhi tâm linh hay thai tâm linh. |
| 神志 | Shen Zhi | Tâm trí sinh ra ý chí, và ý chí giữ cho Thần được vững vàng. Người Trung Hoa thường viết chung Thần và Chí (ý chí) thành Thần Chí, vì chúng liên hệ mật thiết với nhau đến vậy. |
| 神志不清 | Shen Zhi Bu Qing | Thần và ý chí (được sinh ra từ Ý) không sáng suốt. Tâm trí hoang mang và không vững vàng. |
| 生門 | Sheng Men | Sinh Môn, tức cửa của sự sống. Ám chỉ rốn. |
| 生命之本 | Sheng Ming Zhi Ben | Cội rễ của sinh mệnh chúng ta. |
| 生氣 | Sheng Qi | Sinh Khí, tức sản sinh ra Khí. |
| 聖胎 | Sheng Tai | Thánh Thai. Một tên gọi khác của thai tâm linh (Shen Tai, 神胎). |
| 腎俞 | Shenshu (B-23) | Thận Du, tức sự tiếp nhận của thận hay cái hốc của thận. Hai huyệt đạo trên kinh bàng quang. Chúng là lối vào và lối ra tức thời của Khí thận ra bên ngoài qua lưng. |
| 身柱 | Shenzhu (Gv-12) | Thân Trụ, tức cột trụ của cơ thể. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. |
| 十二地支 | Shi Er Di Zhi | Thập Nhị Địa Chi, là những sự phân chia truyền thống của ngày theo lối Trung Hoa: Tý (Zi, 子, 11 giờ tối tới 1 giờ sáng, Chuột), Sửu (Chou, 丑, 1 tới 3 giờ sáng, Trâu), Dần (Yin, 寅, 3 tới 5 giờ sáng, Hổ), Mão (Mao, 卯, 5 tới 7 giờ sáng, Thỏ), Thìn (Chen, 辰, 7 tới 9 giờ sáng, Rồng), Tỵ (Yi, 巳, 9 tới 11 giờ sáng, Rắn), Ngọ (Wu, 午, 11 giờ sáng tới 1 giờ chiều, Ngựa), Mùi (Wei, 未, 1 tới 3 giờ chiều, Dê), Thân (Shen, 申, 3 tới 5 giờ chiều, Khỉ), Dậu (Qiu, 酉, 5 tới 7 giờ chiều, Gà), Tuất (Shu, 戌, 7 tới 9 giờ tối, Chó), và Hợi (Hai, 亥, 9 tới 11 giờ tối, Heo). |
| 十二經 | Shi Er Jing | Mười hai kinh mạch Khí chính trong y học Trung Hoa. |
| 十二經絡 | Shi Er Jing Luo | Mười hai kinh mạch Khí chính và các nhánh của chúng. |
| 十二時 | Shi Er Shi | Thập Nhị Thì. Thập Nhị Địa Chi. |
| 世界 | Shi Jie | Thế giới. |
| 十天干 | Shi Tian Gan | Thập Thiên Can. Người Trung Hoa dùng Thập Thiên Can cùng với Thập Nhị Địa Chi (Shi Er Di Zhi, 十二地支) để hình thành một chu kỳ sáu mươi. Từ đó, họ phân biệt những chu kỳ tự nhiên khác nhau của năm. Thập Thiên Can là: Giáp (Jia, 甲), Ất (Yi, 乙), Bính (Bing, 丙), Đinh (Ding, 丁), Mậu (Wu, 戊), Kỷ (Ji, 己), Canh (Geng, 庚), Tân (Xin, 辛), Nhâm (Ren, 壬), và Quý (Gui, 癸). |
| 十月懷胎 | Shi Yue Huai Tai | Mười tháng mang thai. Giai đoạn trong việc luyện Dịch Cân Kinh, trong đó thai tâm linh được nuôi dưỡng. |
| 十七椎下 | Shiqizhuixia (M-BW-25) | Một huyệt đạo nằm dưới đốt sống thứ 17. |
| 守 | Shou | Giữ gìn và bảo vệ. |
| 手厥陰心包絡經 | Shou Jue Yin Xin Bao Luo Jing | Kinh Thủ Quyết Âm Tâm Bao Lạc. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 手少陽三焦經 | Shou Shao Yang San Jiao Jing | Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 手少陰心經 | Shou Shao Yin Xin Jing | Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 守神 | Shou Shen | Tập trung tâm trí vào thần. Sự luyện tập thiền định Khí Công. |
| 手太陽小腸經 | Shou Tai Yang Xiao Chang Jing | Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 手太陰肺經 | Shou Tai Yin Fei Jing | Kinh Thủ Thái Âm Phế. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 手陽明大腸經 | Shou Yang Ming Da Chang Jing | Kinh Thủ Dương Minh Đại Trường. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 手印 | Shou Yin | Thủ Ấn. Những hình thức của bàn tay hỗ trợ cho thiền định. Ấn ở đây có nghĩa là ấn xuống. |
| 梳頭 | Shu Tou | Chải đầu. Một bài tập Khí Công dùng cùng một động tác ấy. |
| 雙修 | Shuang Xiu | Song Tu, tức sự tu luyện kép. Một phương pháp luyện Khí Công trong đó Khí được trao đổi với một người bạn để cân bằng Khí của cả hai. Nó cũng có nghĩa là sự tu luyện song đôi của thân thể và thần. |
| 雙照 | Shuang Zhao | Sự quán sát những phản chiếu kép, hay sự so sánh tương đối. Một thuật ngữ Phật giáo ám chỉ sự so sánh với vị trí đối nghịch. |
| 水火之際 | Shui Huo Zhi Ji | Chỗ nối tiếp của Nước và Lửa. Vĩ Lư (Weilu, 尾閭, xương cụt) là nơi Khí đi vào đường lộ nước hay đường lộ lửa. Nó được gọi là Trường Cường (Changqiang, Gv-1, 長強) trong châm cứu. |
| 水路 | Shui Lu | Thủy Lộ. Một đường lộ Khí trong đó Khí được dẫn lên qua Xung Mạch tới não bộ để nuôi dưỡng. Nó có thể làm lắng xuống sự hưng phấn của cơ thể bạn. Nó cũng là đường lộ của việc tu luyện giác ngộ tâm linh. |
| 水氣 | Shui Qi | Thủy Khí, tức Khí nước. Khí được tạo ra từ Nguyên Tinh, có thể làm lắng cơ thể bạn. |
| 水溝 | Shuigou | Thủy Câu, tức rãnh nước. Một tên gọi khác của huyệt Nhân Trung (Renzhong, Gv-26). |
| 順行 | Shun Xing | Thuận Hành, tức đi theo đường lộ tự nhiên. Hỏa Lộ (Huo Lu, 火路) trong Tiểu Chu Thiên. |
| 四大 | Si Da | Tứ Đại, tức Bốn Sự Lớn Lao. Đó là đất (Di, 地), nước (Shui, 水), lửa (Huo, 火), và gió (Feng, 風, không khí). |
| 四大皆空 | Si Da Jie Kong | Bốn Sự Lớn Lao đều là Không. Một giai đoạn của việc luyện Phật giáo, nơi cả bốn yếu tố (đất, nước, lửa và không khí) đều vắng mặt trong tâm trí, để người ta hoàn toàn dửng dưng với những cám dỗ của thế gian. |
| 死氣 | Si Qi | Tử Khí. Khí còn sót lại trong một thân thể đã chết. Cũng được gọi là quỷ Khí (Gui Qi, 鬼氣). |
| 四字訣 | Si Zi Jue | Bốn Chữ Bí Mật, đó là Tha (Cuo, 搓, cô đặc hay tập trung), Để (Di, 抵, ép lên), Bế (Bi, 閉, đóng lại) và Hấp (Xi, 吸, hút vào). |
| 宋元 | Song và Yuan Dynasties (960–1367 SCN) | Hai triều đại trong lịch sử Trung Hoa. |
| 算命師 | Suan Ming Shi | Thầy tính mệnh. Một người xem bói, tính toán tương lai và định mệnh của bạn. |
| 髓氣 | Sui Qi | Tủy Khí, tức Khí của tủy. |
| 塔 | Ta | Tháp. |
| 太極拳 | Tai Chi Chuan (Taijiquan) | Thái Cực Quyền, tức quyền của cái Thái Cực tối cao. Một môn võ nội gia Trung Hoa. |
| 胎息 | Tai Xi | Thai Tức. Một kỹ thuật hô hấp Khí Công, tàng trữ Khí tại Chân Hạ Đan Điền. |
| 胎息靜坐 | Tai Xi Jing Zuo | Thai Tức Tĩnh Tọa, tức thiền định Thai Tức. |
| 太虛 | Tai Xu | Thái Hư, tức sự trống rỗng lớn lao. Bản tính lớn lao của vũ trụ (Đạo, Dao). |
| 太極 | Taiji | Thái Cực. Thái Cực là lực vô hình làm cho Vô Cực (Wuji, 無極, không có cực đoan) phái sinh ra thành hai cực Âm và Dương, và là cái mà hai cực ấy một lần nữa lại tan biến vào làm một. Cũng thường được gọi là Huyền Tẫn (Xuan Pin, 玄牝). |
| 太極拳 | Taijiquan (Tai Chi Chuan) | Một môn võ nội gia Trung Hoa, dựa trên lý thuyết của Thái Cực. |
| 臺北縣 | Taipei Xian | Một huyện ở miền bắc Đài Loan. |
| 臺灣 | Taiwan | Một hòn đảo ở phía đông nam của lục địa Trung Hoa. Cũng được gọi là Formosa. |
| 臺灣大學 | Taiwan University | Một trường đại học nổi tiếng ở Đài Bắc. |
| 太祖拳 | Taizuquan | Một môn phái nam của võ thuật ngoại gia Trung Hoa. |
| 淡江 | Tamkang | Một trường đại học ở Đài Loan. |
| 唐 | Tang Dynasty (713–907 SCN) | Một trong những triều đại Trung Hoa. |
| 燙眼 | Tang Yan | Làm nóng đôi mắt. Một bài tập Khí Công giữ cho đôi mắt ở trong tình trạng khỏe mạnh. |
| 體息 | Ti Xi | Thể Tức, tức hô hấp bằng toàn thân. Cũng được gọi là Phu Tức (Fu Xi, 膚息). Kỹ thuật hô hấp Khí Công này cho phép bạn dẫn Khí ra bề mặt da, để củng cố Vệ Khí. |
| 天 | Tian | Trời hay bầu trời. Một trong Tam Tài (San Cai, 三才). Trong Trung Hoa cổ đại, người ta tin rằng Trời là lực lượng mạnh mẽ nhất trong vũ trụ. |
| 天池水 | Tian Chi Shui | Thiên Trì Thủy, tức nước Thiên Trì. Nước miếng. |
| 天地 | Tian Di | Thân thể vật lý thường được gọi là Trời và Đất trong Khí Công. |
| 天谷 | Tian Gu | Thiên Cốc, tức thung lũng thiêng liêng. Khoảng không giữa hai bán cầu của não bộ. Nó có nhiều tên gọi khác, chẳng hạn như Thần Cốc (Shen Gu, 神谷), Hoàng Đình (Huang Ting, 黃庭), Nê Hoàn Cung (Ni Wan Gong, 泥丸宮), hay Côn Lôn (Kunlun, 崑崙). |
| 天河水逆流 | Tian He Shui Ni Liu | Dòng chảy đảo ngược của nước Thiên Hà. Dẫn Khí đi lên từ Hội Âm tới đỉnh đầu được gọi là dòng chảy đảo ngược của nước Thiên Hà. |
| 天靈蓋 | Tian Ling Gai | Thiên Linh Cái. Đỉnh đầu, hay Bách Hội (Baihui, Gv-20, 百會) trong châm cứu. |
| 天目 | Tian Mu | Thiên Mục. Được xã hội phương Tây gọi là con mắt thứ ba. Người Trung Hoa tin rằng trước khi chúng ta tiến hóa thành con người, chủng tộc của chúng ta đã sở hữu một cơ quan giác quan phụ thêm ở trán. Con mắt thứ ba này cung cấp một phương tiện giao tiếp tâm linh giữa con người với nhau, và với thế giới tự nhiên. Khi chúng ta tiến hóa và phát triển những phương tiện để tự bảo vệ khỏi môi trường, và khi các xã hội trở nên phức tạp hơn và các tật xấu của con người phát triển, con mắt thứ ba này dần dần khép lại và biến mất. |
| 天氣 | Tian Qi | Thiên Khí. Thông thường chỉ thời tiết, vốn được cai quản bởi Thiên Khí. |
| 天人合一 | Tian Ren He Yi | Thiên Nhân Hợp Nhất. Một trình độ cao của thiền định Khí Công, trong đó người ta có thể giao tiếp với Khí của Trời. |
| 天時 | Tian Shi | Thiên Thì, tức thời điểm của trời. Những chu kỳ tự nhiên lặp lại được các tầng trời tạo ra, chẳng hạn như các mùa, các tháng, các ngày, và các giờ. |
| 天庭 | Tian Ting | Thiên Đình, tức sân trời. Con mắt thứ ba. Được gọi là Ấn Đường (Yintang, M-HN-3, 印堂) trong châm cứu. |
| 天眼 | Tian Yan | Thiên Nhãn. Con mắt thứ ba hay huyệt Ấn Đường trong châm cứu. |
| 天山 | Tianshan | Thiên Sơn, tức núi của bầu trời. Tên của một ngọn núi ở tỉnh Tân Cương (Xinjiang, 新疆). |
| 天突 | Tiantu (Co-22) | Thiên Đột, tức chỗ lồi của trời. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. Huyệt này nối với huyệt Đại Chùy (Dazhui, Gv-14, 大椎) ở phía lưng, và chúng được coi là một cặp huyệt tương ứng. |
| 調 | Tiao | Một tiến trình điều tiết dần dần, đưa đến kết quả là cái được điều tiết đạt được sự hòa hợp với những cái khác. |
| 調氣 | Tiao Qi | Điều tiết Khí. |
| 調神 | Tiao Shen | Điều tiết thần. |
| 調身 | Tiao Shen | Điều tiết thân thể. |
| 調息 | Tiao Xi | Điều tiết hơi thở. |
| 調心 | Tiao Xin | Điều tiết tâm tình cảm. |
| 鐵布衫 | Tie Bu Shan | Thiết Bố Sam, tức áo vải sắt. Sự luyện Công phu làm cho cơ thể cứng cáp cả bên ngoài lẫn bên trong. |
| 鐵砂掌 | Tie Sha Zhang | Thiết Sa Chưởng. Một sự rèn luyện đặc biệt của võ thuật dành cho lòng bàn tay. |
| 通三關 | Tong San Guan | Đi qua Ba Cửa. Ba cửa là Vĩ Lư, Giáp Tích, và Ngọc Chẩm. |
| 吐納 | Tu-Na | Khí Công thường được gọi là Thổ Nạp, có nghĩa là thốt ra và tiếp nhận vào. Điều này ám chỉ việc thốt ra và tiếp nhận không khí qua mũi trong hô hấp. |
| 推拿 | Tui Na | Đẩy và nắm. Xoa bóp Trung Hoa để chữa lành và trị các chấn thương. |
| 橐籥 | Tuo Yue | Cái ống bễ. Một cái ống dùng để quạt lửa trong lò. |
| 外丹 | Wai Dan | Ngoại Đan. Những bài tập Khí Công ngoại tại để xây dựng Khí ở các tay chân và dẫn nó vào trung tâm của cơ thể để nuôi dưỡng. |
| 外家 | Wai Jia | Ngoại Gia. Những môn phái thực hành các môn phái ngoại của võ thuật Trung Hoa. |
| 外氣 | Wai Qi | Ngoại Khí. Cũng được gọi là Khí Mức Trên (Shang Ceng Qi, 上層氣). |
| 外氣療法 | Wai Qi Liao Fa | Ngoại Khí Liệu Pháp, tức chữa bệnh bằng Ngoại Khí. Một trình độ cao của Khí xoa bóp, trong đó bạn dùng chính Khí của mình để loại bỏ sự ứ trệ Khí nơi bệnh nhân. |
| 外腎 | Wai Shen | Ngoại Thận. Người Trung Hoa định nghĩa thận là nội thận và ngoại thận. Nội thận (Nei Shen, 內腎) là những quả thận được y học phương Tây định nghĩa. Ngoại thận là tinh hoàn hay buồng trứng. |
| 婉轉 | Wan Zhuan | Mềm mại, dần dần, và nhẹ nhàng. |
| 衛氣 | Wei Qi | Vệ Khí, tức Khí bảo vệ hay Khí hộ vệ. Khí ở bề mặt của cơ thể hình thành một lá chắn để bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài chẳng hạn như cái lạnh. |
| 尾閭 | Weilu | Xương cụt. Được gọi là Trường Cường (Changqiang, Gv-1, 長強) trong giới y học. |
| — | Wilson Chen | Một người bạn võ thuật của Dương Tuấn Mẫn. |
| 握固 | Wo Gu | Nắm giữ và làm cho vững chắc. |
| 午 | Wu | Giờ Ngọ. Một trong Thập Nhị Địa Chi (11 giờ sáng tới 1 giờ chiều). |
| 無念 | Wu Nian | Tâm của cái không tâm, hay tư tưởng của cái không tư tưởng. |
| 五氣朝元 | Wu Qi Chao Yuan | Ngũ Khí Triều Nguyên, tức năm Khí trở về cội nguồn của chúng. Khi Khí đã được điều tiết về mức nguyên thủy bình thường của nó trong năm cơ quan nội tạng Âm, điều đó được gọi là Ngũ Khí Triều Nguyên. Năm cơ quan nội tạng là tim, phổi, gan, lá lách, và thận. |
| 五禽戲 | Wu Qin Shi (Wu Qin Xi) | Ngũ Cầm Hý, tức trò chơi của năm con vật. Một bộ các bài tập Khí Công y học, được Jun Qing sáng tạo trong thời nhà Tấn (265–420 SCN). Nó bắt chước những động tác của con hổ, con nai, con gấu, con vượn, và con chim. Những người khác nói rằng nó được sáng tạo bởi thầy thuốc Hoa Đà (Hua Tuo). |
| 五調 | Wu Tiao | Năm phương pháp điều tiết trong việc luyện Khí Công, đó là điều tiết thân thể, hơi thở, tâm trí, Khí, và thần. |
| 五調而調 | Wu Tiao Er Tiao | Sự điều tiết của cái không điều tiết. Mọi hành động đều tự nhiên đến mức không còn cần sự điều tiết nào nữa. |
| 無心 | Wu Xin | Khi không có tâm tình cảm nào được sinh ra, điều đó được gọi là Vô Tâm. |
| 五心呼吸 | Wu Xin Hu Xi | Một phương pháp Nội Đan Khí Công, trong đó người ta dùng tâm trí phối hợp với hơi thở để dẫn Khí tới trung tâm của lòng bàn tay, lòng bàn chân, và đỉnh đầu. |
| 五行 | Wu Xing | Ngũ Hành, tức Năm Giai Đoạn hay Năm Yếu Tố, đó là kim (Jin, 金), mộc (Mu, 木), thủy (Shui, 水), hỏa (Huo, 火), và thổ (Tu, 土). |
| 悟性 | Wu Xing | Lĩnh hội bản tính của mình. Một đòi hỏi cho việc tu dưỡng tâm linh. |
| 悟真 | Wu Zhen | Lĩnh hội chân lý. Ám chỉ việc đạt tới giác ngộ tâm linh. |
| 武當山 | Wudang Mountain | Nằm ở tỉnh Hồ Bắc (Hubei, 湖北). |
| 無極 | Wuji | Vô Cực. Trạng thái của sự trống rỗng không phân biệt trước khi bắt đầu. |
| 武術 | Wushu | Võ Thuật. Một tên gọi thông thường của võ thuật Trung Hoa. Nhiều thuật ngữ khác cũng được dùng, bao gồm Võ Nghệ (Wuyi, 武藝, võ thuật), Võ Công (Wugong, 武功, công phu võ thuật), Quốc Thuật (Guoshu, 國術, kỹ thuật quốc gia), và Công Phu (Gongfu, 功夫, thời gian–năng lượng). Bởi vì Wushu đã được cải biến ở lục địa Trung Hoa trong những thập niên gần đây thành một màn trình diễn võ thuật mang tính thể dục dụng cụ, nhiều võ sư truyền thống Trung Hoa đã từ bỏ tên gọi này, để tránh sự lầm lẫn giữa Wushu hiện đại và Wushu truyền thống. Gần đây, lục địa Trung Hoa đã cố gắng đưa Wushu hiện đại trở về với cội rễ và sự thực hành truyền thống của nó. |
| 無為 | Wuwei | Vô Vi, tức không làm gì. Điều tiết mà như không điều tiết. |
| 五行 | Wuxing | Ngũ Hành. Kim (Jin, 金, Phổi, Mùa Thu), Mộc (Mu, 木, Gan, Mùa Xuân), Thủy (Shui, 水, Thận, Mùa Đông), Hỏa (Huo, 火, Tim, Mùa Hạ), và Thổ (Tu, 土, Lá Lách, Bốn Mùa). |
| 息 | Xi | Thai Tức. |
| 喜 | Xi | Vui mừng, thích thú, và hạnh phúc. |
| 吸 | Xi | Hút vào hay rút vào. Dẫn Khí đi lên dọc theo cột sống cùng với sự hít vào. |
| 細 | Xi | Mảnh mai. |
| 熄火 | Xi Huo | Dập tắt lửa. |
| 洗臉 | Xi Lian | Rửa mặt. Một bài tập trong đó cả hai bàn tay vuốt xuống trên khuôn mặt. |
| 洗髓功 | Xi Sui Gong | Bài tập Khí Công tẩy rửa tủy và não bộ. |
| 洗髓經 | Xi Sui Jing | Kinh Tẩy Rửa Tủy và Não Bộ. Sự luyện tập Khí Công để dẫn Khí tới tủy nhằm tẩy sạch nó, hay tới não bộ để nuôi dưỡng thần cho sự giác ngộ. Nó được coi là chìa khóa của trường thọ và giác ngộ tâm linh. |
| 息心 | Xi Xin | Chấm dứt hoạt động của Tâm được gọi là Tức Tâm. |
| 息緣 | Xi Yuan | Chấm dứt sự dính mắc nối kết với các công việc thế tục được gọi là Tức Duyên. |
| 下丹田 | Xia Dan Tian | Hạ Đan Điền. |
| 下鵲橋 | Xia Que Qiao | Thước kiều dưới. Hội Âm, nơi nối Nhâm Mạch và Đốc Mạch. |
| 下真丹田 | Xia Zhen Dan Tian | Chân Hạ Đan Điền, tức bộ não thứ hai. Được y học phương Tây hiện nay gọi là Hệ Thần Kinh Ruột (Enteric Nervous System). |
| 仙 | Xian | Một vị tiên. Người đã đạt tới giác ngộ hay Phật quả, và có thể để thần của mình tách rời khỏi và trở về với thể xác của mình theo ý muốn. |
| 仙人 | Xian Ren | Những người đã đạt tới sự bất tử tâm linh hay giác ngộ. |
| 仙胎 | Xian Tai | Tiên Thai, tức thai của bậc bất tử. |
| 先天氣 | Xian Tian Qi | Tiên Thiên Khí. Cũng được gọi là Đan Điền Khí (Dan Tian Qi, 丹田氣). Khí được chuyển hóa từ Nguyên Tinh và được tàng trữ tại Hạ Đan Điền. Được coi là Thủy Khí, nó làm lắng cơ thể. |
| 先天之真 | Xian Tian Zhi Zhen | Chân lý Tiên Thiên. Tâm trí chân thật trước khi sinh ra. |
| 孝 | Xiao | Hiếu, tức lòng hiếu thảo. |
| 小鼎爐 | Xiao Ding Lu | Đỉnh và lò nhỏ. Hoàng Đình (Huang Ting, 黃庭) là cái đỉnh, còn Chân Hạ Đan Điền là cái lò. |
| 小通 | Xiao Tong | Tiểu Thông, tức sự trôi chảy nhỏ. Sự tuần hoàn trôi chảy của Khí. |
| 小周天 | Xiao Zhou Tian | Tiểu Chu Thiên, tức Chu Thiên Nhỏ hay Thiền Định Tiểu Tuần Hoàn. Được gọi là Microcosmic Orbit trong Du Già, hay Chuyển Pháp Luân (Zhuan Fa Lun, 轉法輪) trong giới Phật giáo. Một sự luyện tập Nội Đan Khí Công (Nei Dan Qigong, 內丹氣功), trong đó Khí được sinh ra tại Đan Điền rồi được chuyển vận qua Nhâm Mạch và Đốc Mạch. |
| 小周天靜坐 | Xiao Zhou Tian Jing Zuo | Tiểu Chu Thiên Tĩnh Tọa, tức thiền định Tiểu Chu Thiên. |
| 下陰 | Xiayin | Hạ Âm. Vùng bẹn. Cũng được gọi là Long Môn (Longmen, M-CA-24, 龍門) trong y học Trung Hoa. |
| 瀉 | Xie | Sự giải phóng, tiết ra. |
| 心 | Xin | Trái tim. Tâm trí được sinh ra từ nhiễu loạn tình cảm và dục vọng. |
| 信 | Xin | Lòng tin. |
| 心神不寧 | Xin Shen Bu Ning | Tâm (tình cảm) và thần không được bình an. Tâm trí tản mạn. |
| 心息相依 | Xin Xi Xiang Yi | Tâm (tâm trí) và hơi thở nương tựa lẫn nhau. |
| 心猿意馬 | Xin Yuan Yi Ma | Tâm Viên Ý Mã. Tâm (Xin) đại diện cho tâm tình cảm, vốn hành động như một con vượn, không vững vàng và hay gây nhiễu loạn. Ý là tâm trí của trí tuệ, được sinh ra từ tư duy và phán đoán tĩnh lặng, trong sáng. Ý giống như một con ngựa, tĩnh lặng và mạnh mẽ. |
| 心齋 | Xin Zhai | Tâm Trai, tức Tâm được thanh tẩy, ám chỉ một tâm trí tĩnh lặng và chân thành. |
| 性 | Bản tính con người hay khí chất. | |
| 行功 | Xing Gong | Thi hành Công. Luyện tập. |
| 性命雙修 | Xing Ming Shuang Xiu | Song Tu Tính Mệnh, tức sự tu luyện kép của bản tính con người và sinh mệnh. Ban đầu là một phương pháp của Phật giáo, tuy nay chủ yếu là của Đạo giáo, nó nhấn mạnh sự tu dưỡng của cả tâm linh lẫn thân thể vật lý. |
| 行氣 | Xing Qi | Vận chuyển hay tuần hoàn Khí. |
| 心坎 | Xinkan | Tâm Khảm, tức cái hốc của tim. Tên võ thuật của Cưu Vĩ (Jiuwei, Co-15, 鳩尾, đuôi chim bồ câu rộng). |
| 形意拳 | Xingyiquan (Xingyi) | Hình Ý Quyền. Một môn Công phu nội gia, trong đó tâm trí quyết định hình dáng hay chuyển động của cơ thể. Sự sáng tạo ra môn này được gán cho Nguyên soái Nhạc Phi trong thời Nam Tống của Trung Hoa (1127–1280 SCN). |
| 新竹縣 | Xinzhu Xian | Nơi sinh của Dương Tuấn Mẫn ở Đài Loan. |
| 胸部呼吸 | Xiong Bu Hu Xi | Hô hấp bằng ngực. |
| 修氣 | Xiu Qi | Tu Khí, tức tu dưỡng Khí. Sự luyện tập Khí Công của Phật giáo để bảo vệ, duy trì và tinh luyện. |
| 修身 | Xiu Shen | Tu dưỡng thân thể vật lý. |
| 虛 | Xu | Sự trống rỗng, hư vô. |
| 須彌 | Xu Mi | Thuật ngữ của Đạo gia chỉ bản thể tâm linh của con người trong sự trọn vẹn của đức hạnh con người. |
| 蓄氣 | Xu Qi | Tàng trữ Khí tới mức dồi dào. |
| 虛無 | Xu Wu | Hư Vô, tức không có gì. |
| 玄 | Xuan | Kỳ diệu, không thể tin được, hay huyền bí. Nó cũng có nghĩa là nguyên thủy (Yuan, 元). |
| 玄關 | Xuan Guan | Huyền Quan, tức những cái cửa khó khăn. Những chỗ then chốt trong việc luyện Khí Công. |
| 玄冥 | Xuan Ming | Huyền Minh, thần của hai quả thận. Nó sản sinh ra tinh trùng để một em bé có thể được sinh ra. |
| 玄牝 | Xuan Pin | Đạo kỳ diệu và huyền bí, mẹ của sự sáng tạo ra hàng triệu sự vật. |
| 尋道者 | Xun Dao Zhe | Người tìm Đạo. Người nghiên cứu chân lý của Đạo. |
| 啞門 | Yamen (Gv-15) | Á Môn, tức cửa của sự câm lặng. Một huyệt đạo trên Đốc Mạch. |
| 言 | Yan | Nói năng hay thương thuyết. |
| 眼觀鼻 | Yan Guan Bi | Dùng đôi mắt để nhìn chót mũi. Chú ý đến hơi thở. |
| 燕息 | Yan Xi | Thiền định hay hô hấp sâu sắc. |
| 養 | Yang | Nuôi dưỡng, gia tăng, nâng lên, hay tu dưỡng. |
| 癢 | Yang | Ngứa ngáy. |
| 陽 | Yang | Một trong hai cực (Lượng Nghi, Liang Yi, 兩儀). Cực kia là Âm. Trong triết học Trung Hoa, cực tính chủ động, tích cực, nam tính được phân loại là Dương. Trong y học Trung Hoa, Dương có nghĩa là quá mức, hoạt động quá độ, hay quá nóng. Các cơ quan Dương (hay bên ngoài) là Túi Mật, Ruột Non, Ruột Già, Dạ Dày, Bàng Quang, và Tam Tiêu. |
| 羊車 | Yang Che | Dương Xa, tức cỗ xe con cừu. Cách dẫn Khí từ Vĩ Lư tới Giáp Tích. Sự di chuyển của Khí nên chậm chạp. |
| 陽火 | Yang-Huo | Dương Hỏa. Cách gia tăng lửa của cơ thể để nó trở nên Dương hơn. |
| 陽間 | Yang Jian | Dương Gian, tức thế giới Dương. Thế giới vật chất mà chúng ta đang sống. |
| 養氣 | Yang Qi | Nuôi dưỡng và bảo vệ Khí. |
| 養神 | Yang Shen | Yang có nghĩa là nâng lên, nuôi dưỡng, và duy trì. Shen có nghĩa là thần. Dưỡng Thần là phương pháp chính của Phật giáo để điều tiết Thần. |
| 陽神 | Yang Shen | Khi Thần biểu hiện Khí thành hành động, nó mạnh mẽ. Mặc dù tự thân Thần được coi là Âm, nó được gọi là Dương Thần. |
| 楊氏太極拳 | Yang Style Taijiquan | Một môn phái Thái Cực Quyền được sáng tạo bởi Dương Lộ Thiền (Yang, Lu-Shan, 1799–1872 SCN). |
| 養嬰 | Yang Ying | Nuôi dưỡng thai nhi. |
| 楊俊敏 | Yang, Jwing-Ming | Tác giả của cuốn sách này. |
| 陽蹻脈 | Yangqiao Mai | Dương Kiệu Mạch. Một trong tám mạch Khí. |
| 陽維脈 | Yangwei Mai | Dương Duy Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 堯 | Yao (2356 TCN) | Vị hoàng đế Trung Hoa cổ đại, được cho là đã sống tới 800 tuổi. |
| 一 | Yi | Sự duy nhất, tính đơn nhất. |
| 義 | Yi | Sự công bằng, sự ngay thẳng. |
| 漪 | Yi | Gợn sóng. |
| 意 | Yi | Ý. (Phát âm là “ee”) Cụ thể là tâm trí được sinh ra bởi tư duy và phán đoán trong sáng, có thể làm cho bạn tĩnh lặng, bình an và khôn ngoan. |
| 易筋經 | Yi Jin Jing | Kinh về sự thay đổi gân/cơ, được gán cho Đạt Ma vào khoảng năm 550 SCN. Nó mô tả sự luyện tập Ngoại Đan Khí Công để củng cố thân thể vật lý. |
| 易經 | Yi Jing | Kinh về sự Biến Đổi. Một cuốn sách bói toán được viết trong thời nhà Chu (1122–255 TCN). |
| 意氣相合 | Yi Qi Xiang He | Sự hòa hợp của Ý và Khí. |
| 以神馭氣 | Yi Shen Yu Qi | Dùng thần để cai quản và quản lý Khí. |
| 意守丹田 | Yi Shou Dan Tian | Giữ Ý của bạn tại Hạ Đan Điền (Xia Dan Tian, 下丹田). Trong việc luyện Khí Công, bạn giữ tâm trí của mình tại Hạ Đan Điền để tích lũy Khí. Khi bạn tuần hoàn nó, bạn luôn luôn dẫn nó trở về Hạ Đan Điền của mình vào cuối buổi luyện tập. |
| 以意引氣 | Yi Yi Yin Qi | Dùng Ý để dẫn Khí. |
| 陰 | Yin | Trong triết học Trung Hoa, đây là cực tính thụ động, tiêu cực, nữ tính. Trong y học Trung Hoa, Âm có nghĩa là thiếu hụt. Các cơ quan Âm là Tim, Phổi, Gan, Thận, Lá Lách, và Tâm Bao. |
| 陰核 | Yin He | Trung tâm Âm. Cái Âm yếu ớt hiện hữu bên trong cái Dương lớn lao. Cái Âm này làm cho sự biểu hiện của Dương được vững vàng. |
| 陰間 | Yin Jian | Âm Gian, tức thế giới Âm. Thế giới tâm linh sau khi chết được coi là Âm. |
| 引氣 | Yin Qi | Dẫn Khí. |
| 陰神 | Yin Shen | Âm Thần. Trung tâm Âm của Thượng Đan Điền. |
| 陰符 | Yin-Fu | Âm Phù, tức nước có phép thuộc Âm. Cách gia tăng nước của cơ thể, để cái Dương của nó có thể được làm cho Âm hơn. |
| 陰陽循環一小周天 | Yin-Yang Xun Huan Yi Xiao Zhou Tian | Chu Kỳ Thiên Tiểu của sự Tuần Hoàn Âm Dương. Tên gọi của Đạo gia dành cho Tiểu Chu Thiên. Được gọi là Tam Muội Ấn (San Mei Yin, 三昧印) hay Tam Ma Địa (San Mo Di, 三摩地) trong giới Phật giáo. |
| 嬰兒 | Ying Er | Đứa bé (con trai), ám chỉ Thai Thần. |
| 硬功 | Ying Gong | Ngạnh Công, tức Công phu cứng. Bất cứ sự luyện tập võ thuật nào nhấn mạnh sức mạnh và quyền lực. |
| 營氣 | Ying Qi | Doanh Khí, tức Khí quản lý. Khí quản lý các chức năng của cơ thể và các cơ quan của nó. |
| 瀛洲 | Ying Zhou | Một ngọn núi huyền thoại ở Đông Hải, nơi các vị tiên Trung Hoa cư ngụ. |
| 陰交 | Yinjiao (Co-7) | Âm Giao, tức nơi giao hội của Âm. Nơi nối của hai mạch, Nhâm Mạch và Xung Mạch. Âm Giao nằm trên Nhâm Mạch. Nó cũng được coi là một huyệt thành cặp với Mệnh Môn (Mingmen, Gv-4, 命門), nằm giữa các đốt sống L2 và L3. |
| 齦交 | Yinjiao (Gv-28) | Ngân Giao, tức nơi nối của lợi. Một huyệt đạo ở miệng, trên Đốc Mạch. |
| 陰蹻脈 | Yinqiao Mai | Âm Kiệu Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 印堂 | Yintang (M-HN-3) | Ấn Đường. Một huyệt đạo linh tinh, nằm tại vùng con mắt thứ ba. |
| 陰維脈 | Yinwei Mai | Âm Duy Mạch. Một trong Tám Mạch Kỳ Kinh. |
| 湧泉 | Yongquan (K-1) | Dũng Tuyền, tức suối đang phun. Một huyệt đạo trên kinh Thận. |
| 湧泉呼吸 | Yongquan Hu Xi | Dũng Tuyền Hô Hấp. Tâm trí dẫn Khí tới các huyệt Dũng Tuyền (K-1) ở lòng bàn chân. |
| 悠 | You | Liên tục. |
| 欲 | Yu | Dục vọng hay dâm dục. |
| 玉環穴 | Yu Huan Xue | Huyệt Ngọc Hoàn. Khoảng không bên trong đám rối dương (Hoàng Đình). |
| 玉門 | Yu Men | Ngọc Môn, tức cửa ngọc. Con mắt thứ ba. |
| 玉堂 | Yu Tang | Ngọc Đường. Ám chỉ vòm miệng. |
| 玉兔 | Yu Tu | Ngọc Thố, tức con thỏ ngọc. Ám chỉ Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精). |
| 元精 | Yuan Jing | Nguyên Tinh. Chất thiết yếu nguyên thủy, nền tảng, được thừa hưởng từ cha mẹ của bạn. Nó được chuyển hóa thành Nguyên Khí (Yuan Qi, 元氣). |
| 元氣 | Yuan Qi | Nguyên Khí. Được tạo ra từ Nguyên Tinh (Yuan Jing, 元精) được thừa hưởng từ cha mẹ của bạn. |
| 元神 | Yuan Shen | Nguyên Thần. Cái thần mà bạn đã có khi bạn được sinh ra. |
| 曰 | Yue | Nói. |
| 岳飛 | Yue, Fei | Một vị anh hùng Trung Hoa của thời Nam Tống (1127–1280 SCN). Được cho là người sáng tạo ra Bát Đoạn Cẩm (Ba Duan Jin, 八段錦), Hình Ý Quyền (Xingyiquan, 形意拳), và Ưng Trảo của Nhạc gia (Yue’s Ying Zhua). |
| 均 | Yun | Đồng đều. |
| 玉枕 | Yuzhen | Ngọc Chẩm, tức gối ngọc. Tên Đạo gia của huyệt châm cứu Não Hộ (Naohu, Gv-17, 腦戶). Huyệt này là cửa thứ ba của Tiểu Chu Thiên. |
| 栽接派 | Zai Jie Pai | Phái Trồng và Ghép. Một môn phái luyện Khí Công của Đạo gia. |
| 忍 | Zen (Ren) | Nhẫn nhục. Tên gọi của Nhật Bản dành cho Thiền (Chan, 禪). |
| 戰國 | Zhan Guo | Thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Hoa (403–222 TCN). |
| 張道陵 | Zhang, Dao-Ling | Một Đạo sĩ đã kết hợp Đạo gia học thuật với triết lý Phật giáo để sáng tạo ra Đạo Giáo tôn giáo (Dao Jiao, 道教) trong thời Đông Hán của Trung Hoa (25–220 SCN). |
| — | Zhang, Xiang-San | Một võ sư nổi tiếng ở Đài Loan trong thập niên 1960. |
| 真念 | Zhen Nian | Tâm trí hay tư tưởng chân thật ngay thẳng. |
| 真人 | Zhen Ren | Chân Nhân, tức người chân thật. Một Đạo sĩ. |
| 真如 | Zhen Ru | Phật quả chân thật. |
| 真息 | Zhen Xi | Hơi thở chân thật hay hơi thở thật sự. Hơi thở đã được điều tiết tới một trình độ sâu sắc. Nó ám chỉ Thai Tức. |
| 真下丹田 | Zhen Xia Dan Tian | Chân Hạ Đan Điền, hồ chứa Khí chính hay pin điện sinh học trong cơ thể. |
| 真一 | Zhen Yi | Chân Nhất, sự đơn nhất chân thật, hay sự duy nhất chân thật. Một, hay sự đơn nhất, chỉ cực tính năng lượng chính của một người, bao gồm trung tâm tâm linh và trung tâm Khí. |
| 正腹呼吸 | Zheng Fu Hu Xi | Hô Hấp Bụng, thường được gọi là Hô Hấp của Phật Gia (Fo Jia Hu Xi, 佛家呼吸). |
| 正念 | Zheng Nian | Tâm trí hay tư tưởng ngay thẳng. |
| 正氣 | Zheng Qi | Chánh Khí. Khi một người ngay thẳng, người ta nói rằng anh ta có chánh khí, thứ mà tà khí không thể thắng được. |
| 止 | Zhi | Dừng lại. |
| 止觀 | Zhi Guan | Chấm dứt sự quán sát, ám chỉ việc chấm dứt sự quán sát các hoạt động của Tâm. |
| 織女 | Zhi Nu | Chức Nữ và Ngưu Lang. Một câu chuyện tình truyền thuyết trên trời. Cô thợ dệt yêu chàng chăn bò (Ngưu Lang, Niu Lang, 牛郎), nhưng cuộc hôn phối của họ bị trời cấm đoán, và họ chỉ được phép gặp nhau mỗi năm một lần. |
| 重 | Zhong | Nặng nề. |
| 忠 | Zhong | Lòng trung thành. |
| 中丹田 | Zhong Dan Tian | Trung Đan Điền, nằm tại vùng Đản Trung (Shanzhong, 膻中) ở trung tâm giữa hai núm vú. |
| 中宮 | Zhong Gong | Trung Cung, hay vùng Hoàng Đình (Huang Ting, 黃庭), nằm giữa Chân Hạ Đan Điền và Trung Đan Điền. Nó có nghĩa là đám rối dương. |
| 中觀 | Zhong Guan | Sự quán sát trung dung (không không cũng chẳng giả). Nghĩa là quán sát các sự kiện từ một quan điểm trung dung. |
| 踵息 | Zhong Xi | Chủng Tức, tức hô hấp bằng gót chân. |
| 中極 | Zhongji (Co-3) | Trung Cực, tức đỉnh trung tâm. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. |
| 中脘 | Zhongwan (Co-12) | Trung Quản, tức huyệt trung tâm. Đám rối dương. Một huyệt đạo trên Nhâm Mạch. |
| 周 | Zhou | Trọn vẹn, hoàn hảo, hay tròn trịa. |
| 注 | Zhu | Khuynh hướng. Nó cũng có nghĩa là dòng chảy chính hay sự tuôn đổ. |
| 築基 | Zhu Ji | Xây dựng nền móng. |
| 轉法輪 | Zhuan Fa Lun | Xoay chuyển bánh xe của quy luật tự nhiên. Một thuật ngữ Phật giáo chỉ Tiểu Chu Thiên. |
| 莊周 | Zhuang Zhou | Trang Chu. Một học giả Đạo gia trong thời Chiến Quốc (403–222 TCN). Ông đã viết một cuốn sách gọi là Trang Tử (Zhuang Zi, 莊子). |
| 莊子 | Zhuang Zi | Cuốn sách được viết bởi học giả Đạo gia Trang Chu trong thời Chiến Quốc của Trung Hoa. |
| 子 | Zi | Người con trai. |
| 子 | Zi | Giờ Tý, tức nửa đêm. Một trong Thập Nhị Địa Chi. 11 giờ tối tới 1 giờ sáng. |
| 自覺 | Zi Jue | Tự giác, tức tự nhận thức. |
| 自識 | Zi Shi | Tự nhận biết. |
| 自脫 | Zi Tuo | Sự tự do khỏi sự trói buộc tình cảm hay tâm linh. |
| 自悟 | Zi Wu | Tự thức tỉnh. |
| 子午流注 | Zi Wu Liu Zhu | Zi (子) chỉ khoảng thời gian quanh nửa đêm (11 giờ tối tới 1 giờ sáng), và Wu (午) chỉ giữa trưa (11 giờ sáng tới 1 giờ chiều). Liu Zhu (流注) có nghĩa là khuynh hướng chảy. Thuật ngữ này chỉ một thời biểu của sự tuần hoàn Khí, cho thấy kinh mạch nào có dòng Khí chiếm ưu thế vào một thời điểm đặc biệt nào đó, và dòng Khí chiếm ưu thế đang ở đâu, trong Nhâm Mạch và Đốc Mạch. |
| 自醒 | Zi Xing | Tự thức tỉnh. |
| 走火 | Zou Huo | Đi vào đường lộ lửa. Những cảm giác sai lầm và không thực tế có thể dẫn bạn tới một trạng thái nhiễu loạn tình cảm, và đi xa khỏi sự thực hành đúng đắn của việc tu dưỡng Khí. |
| 走火入魔 | Zou Huo Ru Mo | Đi vào lửa và đi vào ma. Nếu bạn dẫn Khí của mình vào đường lộ sai, điều đó được gọi là đi vào lửa. Nếu tâm trí của bạn đã bị dẫn vào sự hoang mang, điều đó được gọi là đi vào ma. |
| 足厥陰肝經 | Zu Jue Yin Gan Jing | Kinh Túc Quyết Âm Can. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 足少陽膽經 | Zu Shao Yang Dan Jing | Kinh Túc Thiếu Dương Đởm. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 足少陰腎經 | Zu Shao Yin Shen Jing | Kinh Túc Thiếu Âm Thận. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 足太陽膀胱經 | Zu Tai Yang Pang Guang Jing | Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 足太陰脾經 | Zu Tai Yin Pi Jing | Kinh Túc Thái Âm Tỳ. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 足陽明胃經 | Zu Yang Ming Wei Jing | Kinh Túc Dương Minh Vị. Một trong mười hai kinh mạch Khí chính. |
| 坐禪 | Zuo Chan | Thiền định được những người Phật giáo gọi là Tọa Thiền, có nghĩa là ngồi để tham Thiền. |