Một chương bị lãng quên trong lịch sử sinh học — Béchamp or Pasteur?
Năm 1923, một phụ nữ Anh xuất bản cuốn sách buộc tội Louis Pasteur đánh cắp công trình của Antoine Béchamp. Gần một thế kỷ sau, năm 1995, một nhà sử học Princeton mở 102 cuốn sổ tay mật của Pasteur và tìm thấy những điều khiến lời buộc tội ấy khó bị gạt đi.
Hume viết cuốn sách bằng niềm tin, không bằng phản biện. Bà tin rằng Béchamp bị cướp mất phần công trạng của mình — vị trí trong lịch sử, danh vọng, và cả mô hình y học mà nếu thắng sẽ cho phép y học đi theo một hướng khác. Bà không giấu thiên kiến đó, và người đọc hôm nay không nên giấu nó lại khi trả sách.
Vậy nên cuốn sách này phải được đọc bằng hai thái độ cùng lúc: tôn trọng những gì nó phơi ra là thật, và cảnh giác trước cách nó chọn cách trình bày. Đó chính là lý do cuốn này nằm trong thư viện cạnh Phép Chữa Thật Hay Phép Chữa Giả — một cuốn chỉ trích y học bổ sung vì lỏng bằng chứng, một cuốn chỉ trích y học chính thống vì lỏng đạo đức.
| Phần | Nhan đề |
|---|---|
| I | Bí ẩn của sự lên men — Ch. I–VII |
| II | Các microzyma — Ch. VIII–XIV |
| III | Giáo phái vi trùng — Ch. XV–XXI |
Toàn bộ chuyên đề Béchamp hay Pasteur trên TaichiNOW — bốn phần, từ nghiên cứu chuyên sâu, bản dịch có chú giải, đến mô hình “địa hình, chính khí, Thái Cực” — bắt đầu từ cuốn này. Sáu cuốn còn lại trong thư viện trả lời câu hỏi “cái gì hiệu quả”. Cuốn này trả lời câu hỏi trước nữa: nếu chúng ta chỉ kế thừa phần của người thắng cuộc, chúng ta đã mất những gì?
Tại Villeneuve-l'Étang, không xa Paris, ngày 28 tháng 9 năm 1895, một người Pháp qua đời — người được tung hô như một minh tinh hiếm có của khoa học, một đấng cứu nhân đội tối thượng. Tang lễ của Louis Pasteur được đưa tin khắp thế giới, với quốc tang, nghi thức trọng thể, những bài báo dài và vô số lời tưởng niệm từ công chúng lẫn riêng tư. Đời ông đã được ghi chép đầy đủ; tượng đài giữ dáng ông; tên ông được đặt cho một hệ thống, và các viện theo phương pháp ông đã mọc lên khắp nơi trên đời. Chưa bao giờ bà May mắn hào phóng với ai đến thế như với nhà hóa học này — người chưa từng làm bác sĩ, lại dám đặt mục tiêu không gì nhỏ hơn là làm cách mạng hóa y học. Theo nguyện vọng của chính ông, mãi các thế kỷ sau này mới phán xét đúng nhất về một nhà khoa học; và, vay mượn cả lời phán ấy lẫn — khiêm nhường mà nói — cả sự táo tợn của Pasteur, chúng tôi dám tự nhận nhiệm vụ đi tìm lời phán ấy.
Chúng tôi tìm thấy gì?
Không gì khác hơn một chương bị lãng quên trong lịch sử sinh học — một chương mà xem ra điều cần thiết là phải tìm lại và đặt về đúng chỗ của nó. Vì biết đến nó có thể, thứ nhất, làm thay đổi toàn bộ đường hướng của y học hiện đại, và thứ hai, chứng minh rằng thiên tài Pháp xuất chúng nhất thời ấy thực ra là một người khác, chứ không phải Louis Pasteur!
Bởi quả thật chương đáng kinh ngạc này phủ nhận niềm tin phổ biến rằng Pasteur là người đầu tiên giải thích được bí ẩn của sự lên men, nguyên nhân bệnh của tằm, và nguyên nhân của sự lên men rượu vang; hơn nữa, nó cho thấy lý thuyết vi sinh vật của ông khác biệt ở những điểm cơ bản với lý thuyết của nhà quan sát dường như mới thật sự là tác giả của những khám phá mà Pasteur vẫn luôn đòi là của mình.
Và vậy, vì chân lý là mục đích của chúng tôi, chúng tôi xin độc giả một sự cân nhắc kiên nhẫn và vô tư đối với những sự thật mà chúng tôi đưa ra về sự nghiệp cả đời của hai nhà khoa học Pháp: một người mà thế hệ hôm nay hầu như không biết đến, dù phần lớn kiến thức của nó bắt nguồn từ ông, trong khi tên của người kia đã trở thành vật dụng của mọi nhà.
Mười hai năm rưỡi sau cái chết của Pasteur, ngày 15 tháng 4 năm 1908, tại một căn nhà khiêm tốn ở khu sinh viên Paris, một ông già bước sang năm thứ chín mươi hai của đời mình đã qua đời. Tang lễ có mặt một trung đội lính, vì vị giáo sư Pierre Jacques Antoine Béchamp có quyền được vinh dự ấy — ông từng là Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh. Ngoài ra, buổi lễ lặng lẽ chỉ có hai con dâu, vài người cháu trai, một vài bạn cũ và một người Mỹ ngưỡng mộ. Không có nghi thức huy hoàng nào trong lễ cuối cùng cho thấy một nhà khoa học lớn đã ra đi — nhưng, rốt cuộc, đâu phải lần đầu đồng nghiệp của một con người phớt lờ giá trị của ông. Khoảng hơn một thế kỷ trước đó, một Antoine khác, họ Lavoisier, đã bị đồng bào giết chết, kèm lời nhận xét: “Nước Cộng hòa không cần bọn nhà khoa học”. Và bây giờ, trong sự chú ý hầu như không có của công chúng, thân xác của một nhà khoa học có lẽ còn vĩ đại hơn cả Lavoisier vĩ đại kia đã được đặt vào nơi yên nghỉ cuối cùng — vị Antoine ấy, họ Béchamp, dường như là người đầu tiên trình bày rõ ràng những bí ẩn của sự lên men và là người mở đường cho khám phá đích thực trong lĩnh vực “cái nhỏ bé không thể đo được”.
Năm ông qua đời, cần tám trang của tờ Moniteur Scientifique để liệt kê các tác phẩm khoa học của ông. Chỉ riêng việc nêu ra các danh hiệu ấy cũng đã cho thấy phần nào quy mô của những lao động to lớn suốt sự nghiệp dài đầy vất vả ấy. Đó là:
Thạc sĩ Dược.
Tiến sĩ Khoa học.
Tiến sĩ Y khoa.
Giáo sư Hóa và Dược học Y khoa tại Khoa Y, Đại học Montpellier.
Viện sĩ và Giáo sư Vật lý và Độc chất học tại Trường Dược cao cấp Strasbourg, kiêm Giáo sư Hóa học của cùng thành phố ấy.
Ủy viên liên lạc Viện Hàn lâm Y học Pháp và Hội Dược học Paris.
Hội viên Hội Nông nghiệp Hérault và Hội Linnaeus của tỉnh Maine-et-Loire. Huy chương vàng Hội Công nghiệp Mulhouse vì khám phá ra quy trình rẻ tiền để sản xuất anilin và nhiều chất màu dẫn xuất từ chất này.
Huy chương bạc Ủy ban Di tích và Các Hội Học thuật vì các công trình về sản xuất rượu vang.
Giáo sư Hóa sinh và Hiệu trưởng Khoa Y Tự do Lille.
Sĩ quan Giáo dục Công.
Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh.
Chỉ huy Hoa Hồng Brazil.
Dù đời ông dài, vượt hẳn cái giới hạn khá tuỳ tiện của tác giả Thi Thiên, thì so với một danh sách những khám phá phi thường đối với tuổi đời một con người, nó vẫn chỉ có thể trông có vẻ ngắn không tưởng. Và vì lịch sử nền móng của sinh học cũng như công trình của Louis Pasteur đều gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp dài đầy thành quả này, chúng tôi xin phác thảo một đường nét mờ nhạt của câu chuyện đời Pierre Jacques Antoine Béchamp.
Ông sinh ra trong thời kỳ vừa chứng kiến kết thúc các cuộc chiến Napoléon: ngày 16 tháng 10 năm 1816, ông chào đời tại Bassing, Lorraine, nơi cha ông làm chủ một cối xay bột. Cậu bé mới mười một tuổi thì cuộc đời đổi thay. Em trai mẹ ông, giữ chức Lãnh sự Pháp tại Bucharest, đến thăm nhà Béchamp và chú ý đến trí thông minh cùng năng khiếu của cậu Antoine. Người chú lo lắng muốn cho cháu những cơ hội tốt hơn mức cậu có thể gặp ở mái nhà quê yên tĩnh ấy. Chúng ta không nghe nhiều về mẹ của Antoine; nhưng khi thấy cha mẹ ông vị tha để cho người ta đưa cậu đi, vì lợi ích của chính cậu, từ năm mười một tuổi, ta có thể khá chắc rằng bà là một người phụ nữ thông minh, nhìn xa, và có lẽ sẽ ủng hộ lý thuyết của Schopenhauer rằng đối với việc truyền lại bộ óc, người mẹ quan trọng với một người đàn ông hơn người cha! Dù sao, khi chuyến viếng thăm của người chú kết thúc, đứa cháu trai nhỏ đi theo, và hai người cùng lên đường cho hành trình xe ngựa dài — và ngày ấy, rất mệt nhọc — từ Nancy đến Bucharest.
Vì thế mà Antoine được thấy nhiều nơi trên đời và nắm vững một thứ tiếng mới — những lợi thế đã củng cố và phát triển trí tuệ nhạy bén của ông. Không may, người họ hàng nhân từ kia qua đời sau vài năm, và cậu bé ở lại một mình đương đầu với cuộc chiến đời. Bạn bè đến giúp đỡ, xếp cậu làm trợ lý cho một nhà hóa học, người cho phép cậu học tại Đại học, nơi thiên tài lỗi lạc khiến mọi việc học đều dễ dàng; và năm 1843, không khó khăn gì, cậu lấy được bằng dược sĩ. Về sự thành thạo thuở thiếu thời, cậu tương phản với Pasteur — người hồi đi học được nhận xét chỉ là học sinh trung bình, về sau lại bị một giám khảo cho là tầm thường về hóa học.
Antoine còn chưa đầy hai mươi khi trở về quê hương và, sau khi thăm cha mẹ, bắt đầu làm việc ở hiệu thuốc tại Strasbourg — thành phố mà ngày ấy, cùng với phần còn lại của Alsace và Lorraine, thuộc về Pháp. Năng lực làm việc phi thường của ông chẳng mấy chốc đã lộ rõ. Phần lớn thời gian rảnh ông dành cho việc trau dồi ngôn ngữ mẹ đẻ, ở đó ông đạt được vẻ bóng bẩy của văn phong — thứ sẽ rất có ích cho những bài giảng và công trình văn chương sau này. Suốt thời gian ấy ông tiếp tục khóa học đại học tại Học viện Strasbourg, cho đến khi đủ tư cách làm nhà hóa học. Khi lấy được bằng, ông mở hiệu riêng tại Benfield, Alsace, nơi ông gặp và cưới cô Clémentine Mertian, con gái một lái buôn thuốc lá và củ cải đường đã nghỉ hưng — bà đã trở thành một người vợ đắc lực. Khoa học đòi quá nhiều thời gian của chồng nên việc dạy dỗ bốn đứa con và toàn bộ công việc nhà gần như thuộc về một mình bà Béchamp.
Sau khi cưới không lâu, Antoine trở lại Strasbourg mở hiệu làm nhà hóa học; nhưng công việc ấy hoàn toàn không thoả mãn nguồn sinh lực của ông, và giờ đây ông chuẩn bị cho mình một ghế giáo sư. Ông chẳng mấy chốc đạt được mục tiêu. Trong thời gian ngắn, ông lấy bằng Cử nhân Khoa học và Văn chương rồi bằng Tiến sĩ Y khoa, và được bổ nhiệm làm Giáo sư tại Trường Dược thuộc Khoa Khoa học — nơi một thời gian ông đã thay chân đồng nghiệp Pasteur của mình.
Hai đối thủ đáng chú ý ấy cùng làm việc trong guồng nhiệt huyết buổi đầu tại thủ phủ Alsace. Nhưng một khác biệt đã đánh dấu cách làm việc của họ. Pasteur dường như chưa bao giờ để một nỗ lực nào của mình không được ghi chép lại; mỗi ý tưởng về các axit tartaric và racemic — vấn đề ông đang bận tâm — đều được ông tâm sự với người khác; thư từ tả chi tiết những cố gắng của ông; vị ân nhân vô giá của ông, nhà khoa học Biot, được ông đặc biệt chia sẻ, trong khi danh vọng sắp đến không bao giờ rời khỏi tâm trí bạn bè ông. Ông viết cho Chappuis rằng, vì làm việc cật lực, ông “thường bị bà Pasteur mắng, nhưng tôi an ủi bà bằng cách bảo rằng tôi sẽ dẫn bà đến Danh Vọng”.
Ngay từ đầu, Antoine Béchamp hoàn toàn thờ ơ với tham vọng cá nhân. Chẳng bao giờ có tính hay xô tới, ông không cố gắng tìm kiếm những mối quen có ảnh hưởng và quảng bá thành công của mình cho họ. Quên mình, ông hoàn toàn tập trung vào tự nhiên và những bí ẩn của nó, không nghỉ ngơi cho đến khi phần nào trong số ấy được hé mở. Ông chẳng bao giờ nghĩ đến việc tôn vinh bản thân; và trong khi mọi hành động của Pasteur được phơi bày ra công chúng thì Béchamp, khép mình trong phòng thí nghiệm yên lặng, đang chìm đắm trong những khám phá — chỉ đơn giản được công bố sau này trong các ký khoa học, không có lời tự quảng cáo nào mở đường.
Công trình ông làm được tại Strasbourg đã sinh lợi nhiều cho Pháp nói riêng và cho thế giới nói chung. Chính tại đó, nghiên cứu của ông dẫn ông đến khám phá một phương pháp mới và rẻ tiền để sản xuất anilin — chất mà cho đến năm 1854 đã đắt đến nỗi vô dụng cho mục đích thương mại. Nhà hóa học Đức August Wilhelm von Hofmann, nhiều năm làm việc ở Anh, sau khi điều tra kết quả của các khám phá khác, đã sản xuất anilin bằng cách cho hỗn hợp nitro-benzen và rượu chịu tác dụng khử của axit hydrochloric và kẽm. Béchamp, năm 1842, chỉ ra rằng dùng rượu là không cần thiết và kẽm có thể thay bằng mạt sắt, cũng như có thể dùng axit acetic hoặc axit hydrochloric. Bằng cách đơn giản hóa và hạ giá quy trình, ông đã mang lại một lợi ích to lớn cho ngành công nghiệp hóa chất: giá anilin lập tức giảm xuống 20 francs mỗi kilôgam, rồi sau đó 15 francs; hơn nữa, phát minh của ông vẫn còn được dùng cho đến ngày nay — nó vẫn là nền tảng của phương pháp sản xuất hiện đại trong ngành công nghiệp thuốc nhuộm anilin, ngành mà phần lớn đã bị Đức chiếm đoạt quá đáng. Nhà Renard ở Lyon, nghe về khám phá của Béchamp, đến tìm ông và nhờ giúp đỡ đã thành công trong việc sản xuất rẻ tiền fuchsin, tức magenta, và các chủng loại của nó. Phần thưởng duy nhất dành cho Béchamp, tuy nhiên, là một huy chương vàng trao khoảng mười năm sau của Hội Công nghiệp Mulhouse. Cũng chẳng có sự ghi nhận nào, dường như, dành cho ông về việc khám phá ra hợp chất của axit asenic và anilin — chất mà dưới tên atoxyl, được dùng để trị bệnh da và bệnh ngủ.
Một công trình khác của ông sẽ tỏ ra đặc biệt sai quả nhiều kết quả, đó là việc ông đo bằng lưỡng cực kế trong các quan sát của mình về các chất lên men hòa tan. Lưỡng cực kế — dụng cụ mà ánh sáng được phân cực, tức làm rung trong một mặt phẳng, bằng một lăng kính Nicol và soi bằng một lăng kính Nicol thứ hai — được ông dùng trong các thí nghiệm, kết quả chung là ông đã có thể, trước bất kỳ nhà nghiên cứu nào khác, định nghĩa và tách biệt một số chất lên men mà ông cũng là người đầu tiên đặt tên là zymase. Khi xét công trình này về sau, chúng ta sẽ thấy khám phá của ông — ngay cả cách gọi tên — đã bị quy cho một người khác.
Vô cùng vô tận là những lao động của Béchamp, vô số là những khám phá của ông, đến nỗi khó biết chọn cái nào. Ông nghiên cứu các axit đơn bazơ và ete của chúng, và phát minh ra phương pháp điều chế các clorua của gốc axit bằng các dẫn xuất của photpho. Ông làm nghiên cứu về lignin — thành phần đặc trưng của thành tế bào gỗ — và chỉ rõ ràng sự khác biệt giữa các nitro-hợp chất hữu cơ thế, như ethyl nitrite, và các nitro-paraffin. Như chúng ta sẽ thấy, chính ông là người đầu tiên thật sự chứng minh sự có mặt trong, và sự phân bố bởi, bầu khí quyển của các vi sinh vật như nấm men, và giải thích rằng tác nhân trực tiếp của sự lên men là chất lên men hòa tan do tế bào của nấm men và các nấm mốc tương tự tiết ra. Thuộc hạng nhà hóa học và kính hiển vi vi học tài ba nhất, ông cũng là một nhà tự nhiên học và một thầy thuốc, và dần dần công trình hóa học đưa ông đến những khám phá sinh học đáng kinh ngạc. Việc giải thích sự hình thành urê nhờ oxy hóa các chất albuminoid và những chứng minh rõ ràng của ông về tính đặc hiệu của chúng chỉ là một phần của những lao động cật lực đưa ông đến nhận định rằng các “hạt nhỏ phân tử” của tế bào tham gia vào sự lên men, rằng một số trong chúng là những thực thể tự trị, nguyên lý sống, thực vật và động vật, tác giả của các quá trình trong cơ thể, các nhân tố của điều kiện bệnh lý, các tác nhân của sự phân hủy, và tiện thể, ông tin rằng chúng có thể tiến hóa thành vi khuẩn.
Những kết luận ấy chưa chắc đã được tất cả mọi người tiếp nhận; nhưng vì nhiều giáo lý khác của Béchamp đã — nhờ công trình độc lập của một số người và sự đạo văn của những người khác — trở thành được thừa nhận phổ biến, thì xem ra, nói nhẹ nhất, cũng là có thể rằng quan niệm kỳ lạ của ông về các quá trình sinh học của Tự nhiên sẽ đẩy tiến thêm khám phá; và chúng tôi muốn đảm bảo sự công nhận dòng dõi chân chính của nó.
Ông chỉ ra rằng tế bào không còn được coi theo quan điểm của Virchow là đơn vị của sự sống, vì nó được xây nên bởi các hạt nhỏ tế bào bên trong nó. Chính ông, có vẻ như, là người đầu tiên chú ý đến sự kết hợp của các hạt tế bào ấy — mà ông gọi là “microzyma” — và đến các nhóm hình thanh do sự kết hợp tạo ra, mà ngày nay mang tên nhiễm sắc thể. Ông nhấn mạnh mạnh mẽ mức nhỏ bé không thể đo được của các microzyma của mình, và từ giáo lý của ông ta hoàn toàn có thể suy ra sự đồng thuận của ông với niềm tin rằng muôn triệu vi hạt ắt phải siêu hiển vi, dù ông có trí óc chính xác quá mức để xuê xoa theo lối bồng bột hiện đại về những điều chỉ là phỏng đoán. Chỗ ông tỏ ra là nhà thực hành thiên tài là ở chỗ, thay vì vẽ những bức tranh tưởng tượng về sự phát triển ban đầu của chất nhiễm sắc, ông cố gắng truy vết sự xây dựng thực sự của tế bào từ các “hạt nhỏ phân tử”, tức microsome, hay microzyma. Phương pháp của ông chưa bao giờ là rút kết luận ngoại trừ từ một cơ sở thực nghiệm vững chắc.
Chính khi Béchamp đang tiến hành các nghiên cứu về sự lên men, đúng vào lúc ông đang làm cái mà sau này sẽ là một phần của cái ông gọi là “Thí nghiệm Ngọn hải đăng”, ông được gọi từ Strasbourg đến Montpellier giữ ghế Giáo sư Hóa và Dược học Y khoa tại trường đại học danh tiếng ấy.
Thời kỳ tiếp theo dường như là thời kỳ hạnh phúc nhất đời ông. Đảm nhận một vị trí quan trọng, ông làm tròn nhiệm vụ với danh tiếng cao nhất; các buổi thực nghiệm trước sinh viên của ông đạt đến tiếng tăm lớn. Ông đã làm được và tiếp tục phát triển những khám phá phi thường đang thu hút sự chú ý cả trong và ngoài nước Pháp. Những khám phá ấy mang lại cho ông tình bạn sâu nặng của người ngưỡng mộ và cộng sự sau này, Giáo sư Estor — nhà sinh lý và mô học, kiêm nhiệm bác sĩ và phẫu thuật tại Bệnh viện Montpellier. Béchamp cũng có lợi thế là được đào tạo y khoa, và dù chưa bao giờ hành nghề bác sĩ, các nghiên cứu bệnh lý của ông vẫn liên tục và ông hằng ngày tiếp xúc với công trình của các thầy thuốc và phẫu thuật gia, như Courty bên cạnh Estor, và bản thân ông đã tận dụng triệt để kinh nghiệm có được ở các khoa bệnh. Những nghiên cứu lý thuyết hơn của Estor được kiểm chứng và mở rộng bởi sự thân mật của họ với những thí nghiệm mênh mông mà Tự nhiên tiến hành trong bệnh tật. Cả hai người đều quen với sự nghiêm ngặt của phương pháp thực nghiệm Lavoisier, và công trình lâm sàng lẫn phòng thí nghiệm của họ đi song song, cái này xác nhận và củng cố cái kia.
Không hề xao lãng nhiệm vụ giảng dạy — đã đủ vất vả để hấp thu trọn thời gian của một người phàm tầm thường — Béchamp vẫn làm việc không ngừng, cả một mình lẫn với Giáo sư Estor, trên những vấn đề mà các nghiên cứu của ông đang mở ra. Một nhóm nhỏ sinh viên tụ họp quanh họ, giúp đỡ họ, trong khi đêm đã khuya mà hai nhà nhiệt tình ấy vẫn thường xuyên làm việc, nhiều khi, như Béchamp kể lại, hoàn toàn kinh sợ trước sự xác nhận kỳ diệu của những lý thuyết và sự kiểm chứng các giả thuyết của họ. Những nhọc nhằn ấy chỉ có thể tiếp tục ở một người có sức khỏe và sinh lực tràn trề như Giáo sư Béchamp, và nó có lẽ đã đè nặng lên Giáo sư Estor — cái chết sớm của ông được quy một phần cho sự thất vọng rằng lý thuyết vi trùng phổ biến, trong mọi sự thô thiển của nó, lại chiếm lấy sự chú ý của công chúng thay vì học thuyết microzyma vĩ đại về sự xây dựng mọi vật có tổ chức từ các microzyma, hay “các hạt nhỏ phân tử” của tế bào.
Vì công trình liên miên ấy, luôn giữ ông cách xa gia đình, là trở ngại duy nhất trong đời sống gia đình hạnh phúc của Béchamp. Là một người chồng và người cha tuyệt vời, ông luôn ân cần với người khác, và trong mọi cách ứng xử, ông tốt như ông cương quyết. Các bài giảng của ông được làm say mê bởi hùng biện thanh thoát và phát âm hoàn hảo không kém gì bởi sự rõ ràng của lập luận; trong khi phong thái xã giao của ông có vẻ duyên dáng và lịch thiệp vốn đặc trưng của dân cư tinh tế của nước Pháp xinh đẹp. Cao hơn mức trung bình khá nhiều, đôi mắt trong và nước da hồng hào của ông chứng minh dồi dào cho sự lành mạnh hoàn toàn của tâm thần và thể xác mà ông được ban suốt cuộc đời dài. Trán rộng của ông làm chứng cho sức mạnh trí tuệ ông, còn mũi ông thuộc loại mũi ưng lớn thường đi kèm với sức sáng tạo và nghị lực. Tóc ông nâu, và đôi lông mày mạnh mẽ khắc rõ trên đôi mắt to của một nhà lý tưởng, một kẻ mơ mộng — mà trong trường hợp của ông, những giấc mơ lại thường được thực hiện.
Với người quan tâm nhân tướng học, so sắc mặt của hai đối thủ, Béchamp và Pasteur, cho chìa khóa của thái độ khoa học tương ứng của họ. Quyết tâm sắc sảo là đặc điểm chính của nét mặt Pasteur; chủ nghĩa lý tưởng trí tuệ là của Béchamp. Pasteur tiếp cận khoa học từ lập trường thương mại, tức là, lập trường công dụng, chẳng kém phần vị kỷ vì bề ngoài là vì lợi ích thế giới. Béchamp luôn có cái nhìn của nghệ sĩ. Cơn khát của ông là tri thức, độc lập với lợi lộc; tình mong muốn của ông là thâm nhập lãnh địa chưa ai khám phá của những bí mật Tự nhiên; thế giới bên ngoài bị quên đi trong khi, từng bước một, ông bám theo dấu chân chân lý. Chẳng bao giờ ông nghĩ đến việc gửi lời tán tụng cho những người quen có thế lực và đồng thời thông báo một ý tưởng mới đang hé. Những bài học ông học được trên đường tìm kiếm, ông ghi lại đều đặn và trình với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, và ban đầu phớt lờ việc các quan sát của mình bị đánh cắp. Khi cuối cùng sự im lặng của ông chuyển thành phản kháng, chúng ta sẽ thấy, trong phần tiếp theo, rằng lòng kiên nhẫn của ông đã bị kéo đến mức đứt. Bản thân ông chính xác đến thế trong việc công nhận từng mẩu kiến thức nợ người khác, thì ông chỉ có thể khinh bỉ bọn ăn cắp ý của người ta, trong khi sinh lực tràn trề và nghị lực của ông khiến ông chống đối không khoan nhượng với những kẻ mà, không bằng lòng với việc gặt ở ruộng người đã gieo, còn giày xéo bằng những bóp méo của chúng lên một vụ thu hoạch vốn có thể đầy ứt kết quả.
Chính trong những năm tại Montpellier, sự đoạn tuyệt công khai của ông với Pasteur đã xảy ra, vì — như chúng ta sẽ thấy sau — sự chiếm đoạt của kẻ sau đối với lời giải thích của Béchamp về nguyên nhân hai thứ bệnh đang tàn phá tằm và phá hoại ngành tơ tằm Pháp. Dù không chối được rằng quan điểm của Pasteur về vấn đề này đã sai cho đến khi Béchamp cung cấp lời giải đúng, thì cũng chẳng có tiếng nói nào lên án hành vi của kẻ trước. Ông đã có được tai công chúng và được bảo trợ của Hoàng đế. Muôn đời người có thế lực là một đối thủ khó chọi, điều mà Béchamp sắp được biết.
Nhưng tại Montpellier, ông chưa hết uống chén đắng của đời. Hy vọng vẫn dâng cao cho tương lai, nhất là khi, thời gian trôi, một trợ lý mới đứng lên — con trai cả của Béchamp, Joseph, trở thành người cùng chia sẻ công trình. Chàng trai trẻ, với tính tình đáng yêu khiến ai cũng quý mến, đã sớm lấy bằng khoa học, gồm cả hóa học, cùng bằng tiến sĩ. Có vẻ chắc chắn rằng một ngày kia anh sẽ kế nhiệm cha mình ở Đại học.
Nhưng với nước Pháp, một ngày buồn đang hé, và với Béchamp, một đổi thay tai hại trong sự nghiệp. Năm 1870 đến với sự tràn xuống của quân Phổ và nỗi nhục của mảnh đất Pháp xinh đẹp. Những vùng Alsace và Lorraine, quê hương thời thơ ấu và thanh xuân của Béchamp, bị giằng đi, dân chúng ở lại than khóc: “Dù lời nói có thể là tiếng Đức, tim chúng tôi vẫn là Pháp!” Nước Pháp, bị chém, chưa bị đánh gục. Một khát vọng cháy lên để cho thấy rằng, dù bị tước đất, nàng vẫn có thể thống trị trong thế giới tư tưởng. Vì thế, như một chất xúc tác trí tuệ, các trường đại học được thành lập ở nhiều nơi dưới sự bảo trợ của giáo hội. Người ta hy vọng Giáo hội La Mã có thể giữ vị thế chi phối các hoạt động tinh thần. Lille là một trong những trung tâm ấy, và khoảng năm 1874, Béchamp được khẩn khoản mời giữ chức Hiệu trưởng Khoa Y Tự do tại đó. Vài người bạn khôn ngoan khuyên ông đừng rời Montpellier; nhưng, phía bên kia, ông bị dội bom bằng lời khẩn nài hãy nhận việc ở Lille. Cuối cùng, và hoàn toàn vì động cơ yêu nước, ông để người ta thuyết phục mình rời Đại học Montpellier thân yêu — tràn đầy kỷ niệm hạnh phúc về công việc thành công — để ra đi. Mong muốn vị tha của ông, vừa làm lợi cho nước Pháp vừa cho khoa học, đã khiến ông thuận theo sự thay đổi ấy. Ông dọn lên phía bắc cùng con trai Joseph, kẻ vừa được bổ nhiệm Giáo sư Độc chất học tại Lille.
Mọi sự đã có thể êm đẹp nếu không có các vị giám đốc giáo sĩ của ngôi trường ấy. Họ không hiểu đường hướng giảng dạy của Béchamp. Họ e ngại tính mới lạ của những quan điểm mà thực chất là những ngọn đèn soi sáng đức tin tôn giáo bằng cách làm sáng tỏ những bí ẩn của sự sáng tạo. Vẫn còn mù mờ về những điều ấy, các giáo chủ lo lắng phản đối việc Giáo sư trình bày các microzyma — những hạt nhỏ vô cùng bé của tế bào, ngày nay gọi là microsome hay microzyme — mà ông xem là tác nhân hình thành của các tế bào cấu tạo nên mọi hình thái, động vật và thực vật. Thật bi thảm khi quan niệm kỳ vĩ của ông về các quá trình của Tự nhiên lại bị coi không phải là một ngọn đuốc soi sáng mà là một ngòi nổ nguy hiểm có thể gây ra đám cháy. Trong Béchamp, người ta thấy một kẻ dám điều tra phương pháp của Tự nhiên thay vì hài lòng giao phó chúng cho những công thức đã cũ.
Pasteur dường như chưa bao giờ xung đột với giới giáo quyền; một phần có lẽ vì ông không tiếp xúc mật thiết như vậy, nhưng nhiều khả năng hơn là vì, với trí tuệ thế sự của mình, ông bằng lòng tuyên bố là lãnh đạo trong khoa học và đệ tử trong tôn giáo; chưa kể, ông há chẳng cũng đã có được sự bảo trợ có ảnh hưởng? Sự thấu hiểu sâu sắc của Béchamp đã dạy ông mối liên hệ giữa khoa học và tôn giáo — cái này là sự truy tìm chân lý, cái kia là cố gắng sống xứng với niềm tin cá nhân. Đức tin của ông đã mở rộng đến một bề rộng không thể hiểu nổi với những kẻ thậm chí còn đề nghị bổ nhiệm một Ủy ban để kiến nghị đặt cuốn Les Microzymas của ông vào danh mục cấm của Roma — cuốn sách kết thúc bằng lời tán dương CHÚA là Nguồn Tối cao. Giáo lý của Béchamp trái ngược trực tiếp với các quan điểm duy vật. Nhưng đối thủ của ông không đủ tinh ý để thấy rằng Đấng Sáng Tạo được chứng minh hay nhất bởi những kỳ quan của sự sáng tạo, hay đánh giá được chân lý mà Ananias, Azarias và Misael đã dạy khi kêu gọi Chúa được tán tụng qua các công trình của Ngài!
Sốt ruột trước những trò lắm chuyện vụn vặt, như hầu hết những người trí óc lớn, Béchamp thấy mình ngày càng bất lợi trong một môi trường mà ông bị hiểu sai và hiểu lầm. Đó cũng chưa phải là những lo lắng duy nhất của ông. Ông đang chịu sự ghen tị mà ông gieo trong Pasteur, và đang nhức nhối vì đòn công kích công khai của kẻ sau chống lại ông tại Đại hội Y học Quốc tế ở Luân Đôn, nơi cả hai cùng dự năm 1881. Cách xử sự của một người đồng hương trước khán giả nước ngoài ấy đã làm tổn thương tâm hồn nhạy cảm của Béchamp và khiến ông quyết định trả lời những vụ đạo văn của Pasteur. Như ông viết trong Lời tựa cuốn Les Microzymas: “Giờ để nói đã đến!”
Một giờ khác chẳng mấy chốc điểm cho ông. Sau khi chịu đựng khoảng mười một năm thành kiến và ngược đãi của các Giám mục và Hiệu trưởng Lille, ông cảm thấy không thể tiếp tục chịu đựng những giới hạn đặt lên công việc mình. Không có lý do nào có thể buộc tội ông; cáo buộc chủ nghĩa duy vật trong quan điểm ông không thể được chứng minh: nhưng thà thế còn hơn để công trình đời mình liên tục bị cản trở, Giáo sư đáng buồn quyết định gửi đơn từ chức, và con trai ông, Joseph, vì cha cảm thấy buộc phải làm theo. Vậy là cha và con, hai ngọn đuốc sáng của giới giáo dục Lille, thấy sự nghiệp chính thức của mình bị cắt ngắn và nếm trải nỗi cay đắng tinh thần mà chỉ những kẻ từng lấy công việc làm ngôi sao Bắc đẩu của đời mình mới hiểu nổi.
Béchamp trẻ trong thời gian ở Lille đã cưới cô Josephine Lang ở Le Havre, và nhờ mối quan hệ mới này, gia đình Béchamp dọn đến thành phố cảng ấy và mở hiệu làm nhà hóa học. Một phòng thí nghiệm khoa học cho phép hai người làm việc cật lực ấy tiến hành các phân tích y khoa và tiếp tục nghiên cứu.
Nhưng tay Số phận một lần nữa đánh mạnh vào Antoine Béchamp. Con trai ông, Joseph, nổi tiếng là nhà hóa học khéo, thường xuyên được thuê làm các phép định lượng hóa chất, công việc đôi khi đưa anh ra biển. Trong một chuyến đi như thế, anh bị cảm lạnh nặng: viêm phổi cấp kép ập đến, và trong vài ngày đã kết thúc cuộc đời tương đối ngắn mà đầy hứa hẹn của anh, bốn mươi bốn tuổi.
Số của Antoine Béchamp là phải sống lâu hơn vợ và cả bốn đứa con mình. Trái với ý muốn ông, cô con gái út đã bị thuyết phục vào tu viện, và sự khắc nghiệt của đời tu đã đẩy cô qua đời từ thuở thiếu thời. Cô con gái lớn đã kết hôn tại Montpellier năm 1867 với ông Édouard Gasser, chủ những vườn nho ở Remigny, và để lại năm đứa con — một gái và bốn trai, một trong số đó chết sớm vì thương hàn, ba đứa kia sống để phục vụ nước Pháp trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất.
Joseph Béchamp để lại sáu đứa con, bốn gái và hai trai, một chết khi còn nhỏ. Đứa kia chẳng có chí thích khoa học, và đã bán hiệu thuốc cùng phòng thí nghiệm của cha nó. Nó chết độc thân năm 1915.
Con trai út của Antoine Béchamp, Donat, chết năm 1902, đã cưới cô Marguerite Delarue và để lại ba con trai, hai người trong số đó sẽ đổ máu trong Đại chiến. Người cả, khi ấy là bác sĩ trong Quân đội Nga, thoát chết chìm trong gang tấc do một tàu bệnh viện của Đức bị tàu ngầm bắn chìm. Là đại diện nam duy nhất còn sống của ông nội, người ta nói anh thừa hưởng cùng thiên tài. Chẳng tốn chút công sức anh đã lấy bằng y, hóa và kính hiển vi, và với cùng sự dễ dàng đã đỗ thêm âm nhạc và vẽ — các nghệ thuật đối với anh dễ như khoa học.
Giờ chúng ta quay lại với Antoine Béchamp ở chỗ chúng ta để ông lại ở Le Havre, đột nhiên mất đứa con trai tài năng — người mà không những tình cha mà cả hy vọng khoa học của ông đều đặt trên vai. Antoine Béchamp đang thật sự chịu sự rèn luyện khắc nghiệt mà nhà triết học Trung Hoa Mạnh Tử nói thế này: “Khi Trời đòi một người làm nên việc lớn ở đời, Ngài khiến tim ông đau, gân cốt ông mệt, dạ dày ông đói và trí óc ông thất vọng; vì những trải nghiệm ấy mở rộng tim ông để yêu cả thế giới và làm mạnh ý chí ông để chiến đấu tiếp nơi kẻ khác gục ngã.”
Le Havre đã trở thành nơi của những ký ức đau buồn, và Giáo sư Béchamp vui vẻ dọn về Paris. Ở đây ông có thể tiếp tục công trình sinh học của mình trong phòng thí nghiệm của Sorbonne, được đặt sẵn cho ông dùng một cách rộng rãi bởi người đồng nghiệp cũ, ông Friedel — kẻ cùng người bạn cũ khác, ông Fremy, chưa bao giờ thôi than phiền về sự không vị kỷ yêu nước của ông khi từ bỏ công trình vĩ đại ở Montpellier. Đến năm 1899, tức là cho đến khi ông được tám mươi ba tuổi, cụ già vĩ đại của khoa học này chưa bao giờ ngừng những lao động hằng ngày trong phòng thí nghiệm. Sau thời gian ấy, dù không còn tiếp tục được nữa, ông vẫn làm việc không kém phần siêng năng cho đến vài ngày trước khi qua đời, thu thập và sắp xếp kết quả văn chương của những năm tháng lao động dài, trong khi vẫn tiếp tục theo dõi và phê phán đường đi của khoa học hiện đại. Cho đến cuối cùng trí tuệ lỗi lạc của ông không hề lu mờ. Trang nghiêm như một gia trưởng, ông luôn sẵn sàng thảo luận các lý thuyết cũ và mới và trình bày những ý tưởng khoa học của mình. Dù đau buồn và thất vọng đã cướp của ông vẻ vui tự nhiên, ông chẳng chút cay nghiện vì thiếu sự công nhận của quần chúng. Ông cảm thấy công trình mình sẽ vượt qua được thử thách của điều tra, rằng dần dần giáo lý của ông sẽ được chứng minh là đúng, và rằng phán quyết của các thế kỷ sắp đến không thể nào không nâng ông lên đúng chỗ của mình. Ông còn thờ ơ hơn nữa với sự thiếu thốn của cải. Với ông, lao động tự nó là phần thưởng, và thành công tuỳ thuộc vào giá trị của kết quả công việc chứ không vào lợi lộc vật chất — thứ mà phần lớn lại rơi vào phần của bọn đạo văn, chi phí bằng xương máu của những người có giá trị thực.
Và thế, năm 1908, ngày tháng tư đã đến, khi kiệt sức vì lao động, Antoine Béchamp không còn có thể rời khỏi cái giường trong căn phòng của ông — nơi trên tường, bốn thánh giá làm chứng cho sự hy sinh như cái thang mà nhân loại leo lên. Niềm tin của ông đã được chứng minh, xin dùng lời của chính ông, nơi Đấng “mà những người sáng lập khoa học, những thiên tài vĩ đại nhất được nhân loại tôn vinh từ Môi-xê đến ngày nay, đã gọi bằng một tên — THƯỢNG ĐẾ!” “Đức tin của tôi!” là một trong những lời cuối cùng thì thào của ông khi sinh mệnh tàn lụi; và về đức tin thì ông đủ tư cách để nói, ông — kẻ đã đào bới sâu đến thế vào những kỳ quan của Tự nhiên và những bí ẩn của thế giới vô hình! Bình thản và tin tưởng đến cuối cùng, niềm tin của ông bất khả xâm phạm. Tờ Moniteur Scientifique tiên tri khéo thay rằng thời gian sẽ công bằng với các khám phá của ông, và rằng, khi những diễn viên sống đã rời sân khấu và phán xét vô tư được đưa vào, thiên tài của Béchamp sẽ được bày tỏ ra thế giới.
Ông dạy điều kỳ diệu và phức tạp, như mọi sự vận hành của Tự nhiên, còn công chúng ngu dốt thì với lấy cái giản đơn và thô thiển. Nhưng sai lầm, vì mang trong mình ung nhọt của sự hủy diệt, sẽ vụn ra dần. Đã đến lúc cần một lời giải bệnh tật lành mạnh hơn là những cuộc tấn công của vi khuẩn độc đơn thuần, và một lời giải đầy hơn về các quá trình xây dựng và phá hoại sinh học, về sự sống và cái chết. Và thế giới còn có thể đi tìm ai tốt hơn — như chúng ta sẽ thấy — người truyền cảm hứng cho những gì đúng trong giáo lý của Pasteur, kẻ hé lộ thực sự bí ẩn của sự lên men, người trình bày vai trò của các sinh vật vô hình, nhà hóa học, nhà tự nhiên học, nhà sinh học và thầy thuốc — Giáo sư Pierre Jacques Antoine Béchamp?
Cuộc tranh luận xoay quanh sự lên men: ai đã giải thích đúng, và ai đã dùng lại lời giải của ai.
Trước khi bắt đầu xem xét đóng góp của Béchamp và Pasteur cho các vấn đề khoa học của thời họ, có lẽ nên quay lại tình trạng hỗn loạn đến cùng cùng của các ý niệm đang thống trị giới khoa học lúc bấy giờ về những bí ẩn của sự sống và cái chết, và hiện tượng của sự lên men. Chương sau chỉ có hy vọng làm rõ sự vắng mặt hoàn toàn của sự rõ ràng trong các câu hỏi chủ chốt ấy; và dù công trình của các nhà khoa học trước đó xưa nay hầu như luôn dẫn tới khám phá sau này, thế nhưng trong những ngày Antoine Béchamp và Louis Pasteur bắt đầu sự nghiệp, sự hiểu biết về đề tài này, như chúng ta sẽ thấy, vẫn ở trong tình trạng lộn xộn dồn dập lên tột độ.
1. Chất sống là gì, cái gọi là protoplasm này, tên gọi bắt nguồn từ hai tiếng Hy Lạp nghĩa là “thứ nhất” và “được tạo thành”? Nó chỉ là một hợp chất hóa học thuần tuý?
2. Nó sinh ra như thế nào? Nó có thể tự sinh, hay luôn luôn bắt nguồn từ sự sống đã có trước?
3. Điều gì khiến vật chất biến đổi theo cách được gọi là “lên men”?
Trong vô vàn tác phẩm của Giáo sư Béchamp, ta có thể tìm thấy cả một lịch sử của cuộc lộn xộn lý thuyết ấy về các đề tài này.
Bắt đầu với câu hỏi thứ nhất: khi đó chỉ có lời giải thích mơ hồ rằng protoplasm là chất sống mà từ đó mọi loài sinh vật được hình thành, và mọi thuộc tính của chúng cuối cùng đều được quy về nó. Khi đó người ta tin vào một chất gọi là albumen, tiêu biểu nhất là lòng trắng trứng, chất được cho là có thể trộn với một số chất khoáng và các chất khác mà không đổi bản chất. J. B. Dumas đã chứng minh rằng các “albuminoid” ấy không phải một thứ cụ thể, mà là nhiều chất khác nhau; nhưng ý kiến ngược lại vẫn thắng, và đối với các chất đó, người ta chọn “protoplasm” như một thuật ngữ tiện lợi. Theo Huxley, đó là “cơ sở vật chất của sự sống”; nhưng điều này chẳng làm sáng tỏ khó khăn gì mấy, vì tuyên bố protoplasm là vật chất sống tự thân như thế chẳng giải thích được bí ẩn tại sao nó lại như vậy, hay nguồn gốc và cấu tạo của nó. Đúng là Huxley còn tuyên bố thêm rằng mọi vật chất sống đều ít nhiều giống albumen, hay lòng trắng trứng; nhưng cái sau này cũng chẳng được các nhà sinh học lẫn nhà hóa học hiểu rõ hơn. Charles Robin coi nó thuộc loại mucoid, tức là giống chất nhầy — mà chính chất nhầy này lại bị bí ẩn bao phủ đến mức Oken gọi nó là Urschleim (chất nhầy nguyên thủy), còn nhà thực vật học Hugo Mohl thì đồng nhất nó với protoplasm, từ đó nâng chất nhầy lên thành cơ sở vật chất của mọi vật sống!
Claude Bernard cố gắng xác định quan hệ của protoplasm với sự tổ chức và sự sống, và chống lại ý niệm phổ biến rằng mọi cơ thể sống nhất định phải được cấu tạo theo hình thái, tức là phải có một cấu trúc nào đó. Ông lập luận rằng chính protoplasm đã bác bỏ niềm tin ấy bằng tính vô hình vô dạng cấu trúc của chính nó. Charles Robin theo quan điểm ấy, và đặt tên “blastème”, từ một tiếng Hy Lạp nghĩa là đâm chồi, cho cái được cho là nguồn nguyên thủy của các hình thái sống.
Đó chẳng qua là ý niệm cũ về vật chất sống, dù gọi là protoplasm hay blastème. Một tế bào, một sợi, một mô, bất kỳ yếu tố giải phẫu nào đều được coi là sống chỉ đơn giản vì nó được hình thành bởi chất nguyên thủy ấy. Sự tổ chức được nói là “biến đổi tuyệt diệu nhất” của nó. Tóm lại, vật chất vô hình được cho là nguồn gốc của mọi hình thái sống có tổ chức. Trong một kiểu tuyệt vọng vì không thể thực nghiệm chứng minh sự tổ chức và sự sống, người ta đã phát minh ra một cái tên cho một chất giả định có phép màu sống dù về cấu trúc thì thiếu thốn. Trí tưởng tượng đóng vai trò lớn hơn trong lý thuyết ấy là suy diễn từ bằng chứng hữu hình. Vì thế ta thấy nhà thầy thuốc Bichat — người đã tạo được tên tuổi trong khoa học trước khi qua đời năm 1802, ở tuổi trẻ 31 — không thể chấp nhận lời giải thích ấy và tuyên bố các phần sống của một sinh thể chính là các cơ quan được tạo nên từ các mô.
Một bước tiến lớn đạt được khi Virchow tưởng mình thấy tế bào đang trong quá trình được xây dựng, tức là được cấu trúc, và từ đó kết luận vội rằng nó tự tồn tại và là đơn vị của sự sống, cội nguồn của mọi hình thái có tổ chức ở các sinh thể phát triển.
Nhưng một khó khăn nảy ra ở đây, vì tế bào tỏ ra cũng phù du như mọi yếu tố giải phẫu khác. Vì thế nhiều nhà khoa học quay lại niềm tin vào vật chất nguyên thủy vô cấu trúc, và ý kiến dao động giữa các quan điểm của phe tế bào và phe protoplasm, như hai phe đối lập được gọi. Sự lộn xộn đến cùng cùng ngự trị giữa các lý thuyết xung đột đang vẫy vùng để giải thích làm sao một hợp chất hóa học thuần tuý, hay hỗn hợp các hợp chất như vậy, lại có thể được coi là sống, và đủ mọi thứ năng lực biến đổi và chuyển hóa đều được gán cho nó — điều mà chúng ta không cần bận tâm.
Thay vì thế, ta hãy xét vấn đề thứ hai đặt ra cho Béchamp và Pasteur khi họ bắt đầu công việc, tức là: chất sống bí ẩn ấy — vốn mang biết bao tên gọi — có thể tự sinh độc lập, hay sự sống đã có trước bao giờ cũng là kẻ chịu trách nhiệm. Ngày nay khó mà hình dung nổi cuộc tranh luận nóng bỏng từng dữ dội xung quanh bí ẩn nan giải này. Hai phe ý thức đối lập chủ yếu chia thành những người theo hai nhà thầy tu thế kỷ XVIII — Needham, người cho rằng nhiệt đủ để tạo ra động vật phù du từ vật chất dễ thối rữa, và Spallanzani, người phủ nhận sự xuất hiện của chúng trong các bình được niêm kín hoàn toàn. Phe trước được gọi là phe sinh tự phát (spontanéistes) vì niềm tin rằng sự sống có tổ chức không ngừng nảy sinh từ các nguồn hóa học, còn phe sau được gọi là phe mầm khắp nơi (panspermistes) vì lý thuyết của họ về sự khuếch tán phổ biến của các mầm sống, vốn được đưa vào hiện hữu từ thuở ban sơ nào đó.
Đối với quan điểm sau, điều chịu trách nhiệm chủ yếu là giáo lý của Bonnet, kế tiếp giáo lý của Buffon; trong khi ý tưởng của Buffon gợi nhớ hệ thống cổ xưa quy cho Anaxagoras. Theo hệ thống sau cùng này, vũ trụ được tin là tạo thành từ các yếu tố đa dạo bằng chính số các chất khác nhau của nó. Vàng được cho là tạo thành từ các hạt vàng; một cơ, một xương, một quả tim, được cho là tạo thành từ các hạt cơ, xương, tim. Buffon dạy rằng một hạt muối biển là một khối lập phương gồm vô số khối lập phương khác, và rằng không thể nghi ngờ rằng các phần cấu thành sơ cấp của muối này cũng là những khối lập phương, vượt quá khả năng của mắt ta và cả của trí tưởng tượng ta.
Đây, Béchamp nói, vốn là một sự thật thực nghiệm, và là cơ sở của hệ thương tinh thể học của Haüy.
Buffon lập luận với giọng tương tự rằng “cũng như ta thấy một khối muối biển được cấu thành từ những khối nhỏ hơn, ta thấy một cây đào chỉ là tổ hợp của những cây đào nhỏ khác”.
Ý tưởng của Bonnet cũng na ná như vậy; chủ đề trung tâm của giáo lý ông là sự khuếch tán phổ biến của các mầm sống “chỉ có thể phát triển khi gặp được những nền móng hay thân thể đồng loài thích hợp để giữ chúng, nuôi dưỡng chúng và làm chúng đâm chồi — đó là sự gieo rắc hay Panspermi, khi gieo các mầm ấy khắp bốn phương, biến không khí, nước, đất và mọi vật thể rắn thành những kho tàng rộng lớn và đông đảo, nơi Tự nhiên đã cất giữ của cải chủ yếu của mình”. Ông khẳng định rằng “sự nhỏ bé đến kỳ lạ của các mầm ấy khiến chúng không bị các nguyên nhân gây ra sự tan rã của các hỗn hợp tấn công. Chúng đi vào bên trong các cây và các động vật, thậm chí trở thành thành phần của chúng, và khi những tổ hợp ấy chịu luật tan rã thì chúng từ đó đi ra, không hề thay đổi, để bay lơ lửng trong không khí, hay trong nước, hay để lọt vào các thân thể có tổ chức khác”.
Ấy là giáo lý giàu trí tưởng tượng mà Bonnet dùng để chống lại học thuyết về sự sinh tự phát. Khi xét tới bằng chứng thực nghiệm thực tế, phe này tuyên bố chứng minh được nguồn gốc sinh vật từ vật chất dễ thối rữa trong các bình được niêm kín; phe kia phủ nhận mọi khả năng như vậy nếu không khí bị loại trừ triệt để; trong khi một người làm bánh ngọt tên Appert đã đem niềm tin sau này đi dùng một cách rất thực tế, và bắt đầu bảo quản trái cây cùng các thực phẩm khác bằng phương pháp này.
Và ở đây chúng ta được dẫn tới câu đố thứ ba: điều gì khiến vật chất biến đổi theo cách gọi là lên men?
Đó là một câu đố chắc hẳn đã đến với không ít bà nội trợ xa lạ với các vấn đề khoa học. Tại sao ly sữa để trong tủ đêm qua sáng ra đã chua? Những biến đổi như vậy, kể cả sự thối rữa xảy ra sau khi một sinh vật thể chết, từng là bí ẩn đến mức các nguyên nhân được coi là huyền bí trong một thời gian dài. Newton đàm luận rằng hiệu ứng đó là do một nguồn gốc cùng loại với xúc tác — quá trình trong đó một chất gọi là tác nhân xúc tác hỗ trợ một phản ứng hóa học nhưng bản thân không đổi. Muôn triệu vi sinh vật mà kính hiển vi sau này phát hiện trong các chất đang lên men và thối rữa, lúc đầu được tin chỉ là kết quả của quá trình thối rữa và lên men nói chung.
Một ý tưởng mới được Cagniard de Latour đưa ra, người cho rằng lên men là hiệu ứng đi kèm sự sinh trưởng của chất men. Nghĩa là, ông xem chất men như một cái gì đó sống và có tổ chức, nhờ đó việc lên men trở thành một hành động sinh học. Chính việc nghiên cứu kính hiển vi nấm bia, tiến hành khoảng năm 1836, đã đưa ông đến ý kiến rằng các tế bào hình bầu dục ông quan sát được thật sự đang sống khi sản xuất bia, phân hủy đường thành axit cacbonic và rượu. Turpin, nhà thực vật học, giải thích điều này có nghĩa là hạt nấm men phân hủy đường trong hành động tự nuôi mình. J. B. Dumas khẳng định sự cần thiết của vật chất albuminoid có nitơ, cũng như đường, làm thức ăn cho tế bào nấm men. Schwann, người Đức, đi xa nhất trong tất cả khi tuyên bố mọi sự lên men đều do các sinh vật sống gây ra, và tiến hành các thực nghiệm để chứng minh chúng có mặt trong không khí. Nhưng dù các thực nghiệm khác xác nhận công trình của Schwann, một thời gian giáo lý này bị gạt sang một bên; vì quan điểm rằng vật chất thực vật và động vật có thể tự biến đổi. Chẳng hạn, người ta tin rằng bằng cách hòa đường mía trong nước, nó tự biến đổi thành đường nho, hay glucose; hay, dùng thuật ngữ kỹ thuật, đường mía tự nghịch đảo.
Đại khái đó là các ý niệm khoa học vào giữa thế kỷ XIX, khi Antoine Béchamp và Louis Pasteur xuất hiện trên sân khấu với chi tiết các thí nghiệm của riêng mình. Vì Pasteur được tôn vinh là người đầu tiên làm sáng tỏ hiện tượng lên men, lại thêm được đánh giá là kẻ lật đổ học thuyết về sự sinh tự phát, thì thay vì tin điều đó như lời đồn, ta hãy quay sang các văn kiện khoa học Pháp xưa và tự xem ông đã nói gì trong năm 1857.
Louis Pasteur, con một người thuộc da, sinh ra ở Dôle năm 1822. Ý chí mạnh đến cùng cùng, trí thế sự sắc sảo và tham vọng không mệt mỏi là những nét nổi bật của tính cách ông. Ông bắt đầu được chú ý qua ngành tinh thể học khi khám phá ra rằng các dạng tinh thể của tartrate là lưỡng diện. Con rể ông đã ghi lại niềm hân hoan của ông trước thành tựu đầu đời, và kể cho ta rằng ông đã bỏ dở thí nghiệm, xông ra khỏi phòng thí nghiệm, ôm cổ một viên quản lý bộ sưu tập tình cờ gặp, rồi ngay tại chỗ lôi kẻ sửng sốt ấy vào vườn Luxembourg để giải thích khám phá của mình.
Công trình được quảng bá rộng đến thế không khó trở thành đầu đề bàn tán, và cuối cùng đến tai ông Biot. Nghe tin này, Pasteur lập tức viết thư xin phỏng vấn nhà khoa học lừng danh này — người mà trước đó ông không quen biết gì, nhưng nay ông đổ xuống đầu ông mọi sự ân cần mà vị công nhân già hơi nhân thê ấy có thể đánh giá được, và sự bảo trợ có ảnh hưởng của ông chắc chắn đã thành nhân tố đóng góp đầu tiên cho sự nghiệp khải hoàn của nhà hóa học trẻ đầy tham vọng. Dù sao, sự thuyết phục của ông Biot chưa bao giờ giúp Pasteur lọt được vào Viện Hàn lâm Khoa học. Ông chỉ đạt được điều đó sau khi vị cựu trợ cậy qua đời, khi được Tiểu ban Khoáng vật học đề cử, và khi ấy, lạ một nỗi, người ta lập tức bắt đầu có điều phản đối các kết luận ban đầu của ông về tinh thể học.
Tuy nhiên, điều đó mãi đến cuối năm 1862 mới xảy ra. Trong khi đó, năm 1854, Pasteur được bổ nhiệm Giáo sư và Hiệu trưởng Khoa Khoa học mới ở Lille. Năm 1856, một lời xin tư vấn từ một nhà sản xuất củ cải đường địa phương đã khiến ông chuyển sự chú ý sang vấn đề lên men — đề tài khi ấy đang luộn trong trí những người học thức. Các quan sát của ông bị gián đoạn bởi một chuyến đi Paris vận động phiếu bầu cho cuộc bầu cử vào Viện Hàn lâm Khoa học. Chỉ đạt được mười sáu phiếu và thất bại hoàn toàn trong nỗ lực lọt vào giới chọn lọc của các viện sĩ, Pasteur quay lại Lille với việc nghiên cứu lên men của mình.
Dù đã có công trình của Cagniard de Latour, Schwann và những người khác, ý niệm phổ biến vẫn là vật chất động vật và thực vật có thể tự biến đổi, trong khi uy quyền của nhà hóa học Đức lừng danh Liebig có trọng lượng khi ông khẳng định rằng nấm men gây ra sự lên men nhờ sự biến đổi tuần tự trong nước tiếp xúc với không khí. Một người Đức khác, tên Lüdersdorff, như ta học được từ Béchamp, đã tiến hành các thí nghiệm để chứng minh nấm men lên men đường vì nó sống và có tổ chức. Một bản trình bày đã được đăng trong Tập thứ tư của Traité de Chimie Organique, xuất bản năm 1840.
Giờ ta hãy xem đóng góp của Pasteur cho đề tài này trong năm sau, vì đúng vào thời điểm ấy, giáo lý phổ thông đã quy cho ông một lời giải thích đầy đủ về sự lên men.
Trong năm 1857, Pasteur rời Lille để làm việc tại École Normale ở Paris, nhưng ở đây ta không bận tâm đến hành tung của ông, mà chỉ bận tâm đến điều ông có để tiết lộ về đề tài bí ẩn của sự lên men.
Con rể ông cho ta biết rằng chính vào tháng 8 năm 1857, sau khi thí nghiệm riêng với sữa chua, Pasteur lần đầu tiên trình bày một thông báo về “Sự lên men lactic” trước Hội Khoa học Lille. Dù sao đi nữa, ta thấy trích đoạn của ông từ một Bản ghi nhớ về đề tài này trong Comptes Rendus của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, ngày 30 tháng 11 năm 1857. Toàn bộ Bản ghi nhớ được in vào tháng 4 năm 1858 trong Annales de Chimie et de Physique, và từ bản sau này ta có được đầy đủ chi tiết.
Thí nghiệm gồm Pasteur lấy chất phát triển trong một lần lên men thường, được nuôi bằng đường, đá vôi, ca-sê-in hay fibrin, và gluten (chất hữu cơ có trong ngũ cốc) rồi đặt vào nước cốt nấm men (một dung dịch phức tạp của các chất albuminoid và khoáng), trong đó ông đã hòa tan một ít đường và thêm một ít đá vôi.
Không có gì mới trong thủ tục, Béchamp chỉ ra; đó chỉ cùng một thí nghiệm mà Liebig đã tiến hành khoảng mười sáu hay mười bảy năm trước. Không như Liebig, ông không phớt lờ việc soi kính hiển vi, và vì thế đã làm được những quan sát mà nhà hóa học Đức đã bỏ sót. Nhờ đó Pasteur có thể cho ta biết rằng thu được một chất lên men lactic, dưới kính hiển vi có dạng những tiểu cầu nhỏ, mà ông gọi là “nấm men lactic”, chắc là vì chúng giống nấm men, dù trong trường hợp này các tiểu cầu nhỏ hơn nhiều. Trong đó ông đã thấy vi sinh vật mà ngày nay được biết là nguyên nhân của sự lên men axit lactic.
Giờ ta hãy chuyển sang lời giải thích đáng chú ý của ông về hiện tượng này. Ông cho ta biết rằng không cần thiết phải đưa chất lên men lactic vào để điều chế nó, vì “nó sinh tự phát dễ như nấm men bia, mỗi khi các điều kiện thuận lợi”. Lời khẳng định này chắc chắn chứng minh niềm tin của Pasteur vào sự sinh tự phát cả của nấm men bia lẫn của thứ ông gọi là “nấm men lactic”. Còn phải xem “các điều kiện thuận lợi” ấy là gì, theo giáo lý của ông. Chẳng bao lâu ông cho ta biết. “Các tiểu cầu của nấm men lactic này sinh tự phát trong thân thể của dung dịch albuminoid do phần hòa tan của nấm men [bia] cung cấp.” Trong đó chắc chắn không có gì để lật đổ niềm tin phổ biến về sự sinh tự phát. Nhưng, để công bằng, ta không được bỏ qua một chú thích ông đã thêm vào bản đầy đủ của Bản ghi nhớ, như ta thấy trong Annales de Chimie et de Physique. Trước khi bản trình bày này xuất hiện vào tháng 4 năm 1858, Giáo sư Béchamp, như ta sẽ thấy, đã cung cấp cho Viện Hàn lâm Khoa học Pháp một lời giải thích soi rọi về nguồn gốc các chất lên men. Trước mặt những quan điểm không thể bác bỏ của Béchamp, Pasteur có lẽ đã cho là khôn ngoan khi thêm một điều kiện hạn chế vào một Bản ghi nhớ mà từ đầu đến cuối chẳng có lời giải nào về sự xuất hiện của nấm mốc ngoại trừ nguồn gốc tự phát. Vì thế, qua câu “nó [nấm men lactic] sinh tự phát dễ như nấm men bia” ta thấy một dấu sao, và nhìn xuống dưới, thấy một chú thích trong đó ông nói ông dùng từ “tự phát” như “cách diễn đạt một sự thật”, nhưng vẫn để ngỏ câu hỏi về sự sinh tự phát. Chắc chắn mọi sự phủ nhận nó đều bị loại trừ hoàn toàn khỏi Bản ghi nhớ này, vì nó khẳng định sự xuất hiện tự phát của nấm men bia và “nấm men lactic”.
Chỗ Pasteur khác với các Spontaparistes khác là ở chỗ ông không hề cố gắng giải thích điều kỳ diệu ấy.
Các môn đồ của ông, phớt lờ sự lộn xộn trong quan điểm của ông, đã vồ lấy lời kết ở cuối chính Bản ghi nhớ này như một sự biện minh khải hoàn cho tính đúng đắn của giáo lý ông, vì ông đã nói: “Sự lên men tự hiện ra là tương quan với sự sống, với sự tổ chức của các tiểu cầu, chứ không phải với cái chết và sự thối rữa của các tiểu cầu ấy; càng không phải nó hiện ra như một hiện tượng của sự tiếp xúc.” Nhưng đó chỉ là điều mà những người khác đã nói và đã tiến một phần trên đường chứng minh từ nhiều năm trước ông. Ông thiếu bằng chứng đến mức phải thừa nhận điều sau đây về giả thuyết của mình rằng “nấm men mới là có tổ chức, rằng nó là một sinh vật sống”, cụ thể là: “Nếu ai bảo tôi rằng trong các kết luận này tôi đang vượt quá các sự thật, tôi trả lời rằng điều ấy đúng, theo nghĩa là tôi thành thật gắn mình với một trật tự ý niệm mà, nói cho đúng, không thể được chứng minh không thể bác bỏ.”
Vậy nên ta có trong lời của chính Pasteur lời thú nhận không hiểu một vấn đề mà các thí nghiệm nghiêm ngặt của một nhà nghiên cứu khác, Giáo sư Béchamp, đã — như ta sắp thấy — giải quyết bằng một chứng minh không thể bác bỏ. Lý do Pasteur phải nhận công về việc chứng minh điều mà chính ông thừa nhận không thể chứng minh, là một câu đố không kém gì hiện tượng lên men đối với người yêu sự chính xác lịch sử.
Dù vậy, ta đừng từ chối mình một cuộc xem xét kỹ công trình của ông, và giờ hãy xét Bản ghi nhớ của ông về Sự lên men Rượu, mà con rể ông, ông Vallery-Radot, cho ta biết rằng Pasteur đã nói: “Các kết quả của những lao động này [về lên men lactic và lên men rượu] nên được xếp cùng một dãy, vì chúng giải thích và bổ sung cho nhau.”
Ta thấy trích đoạn của tác giả từ Bản ghi nhớ sau này trong các báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp ngày 21 tháng 12 năm 1857.
Thủ tục của Pasteur trong thí nghiệm này như sau: Ông lấy hai lượng bằng nhau nấm men tươi, rửa trong nước. Một lượng được để lên men với nước đường tinh khiết; còn lượng kia, sau khi chiết xuất hết phần hòa tan bằng cách đun sôi với nhiều nước và lọc để loại bỏ các tiểu cầu, ông thêm vào dung dịch trong lượng đường tương đương lượng dùng trong lần lên men thứ nhất, rồi thêm một ít nấm men tươi.
Ông diễn đạt kết luận như sau: “Tôi đang xác lập rằng trong nấm men bia, không phải các tiểu cầu đóng vai trò chính, mà là sự chuyển các tiểu cầu thành phần hòa tan của chúng; vì tôi chứng minh rằng người ta có thể loại bỏ các tiểu cầu đã hình thành, và tác động tổng lên đường vẫn xấp xỉ như cũ. Vậy thì, đúng thế, chẳng quan trọng gì là người ta loại bỏ chúng bằng cách lọc với sự tách riêng phần hòa tan, hay là giết chúng bằng nhiệt độ 100 độ để chúng lẫn trong phần hòa tan.”
Trước thực tế rằng ông được cho là đang lập luận trên giả thuyết nấm men có tổ chức và sống, thì trong đó có nhiều điều phi thường đến mức ông dừng lại để trả lời những phê bình không thể tránh khỏi.
“Nhưng, người ta sẽ hỏi, làm sao việc đường lên men có thể xảy ra khi dùng nấm men đã đun nóng tới 100 độ, nếu nó do sự tổ chức của phần hòa tan của các tiểu cầu, và các tiểu cầu này đã bị tê liệt bởi nhiệt độ 100 độ? Lên men khi đó xảy ra như nó xảy ra trong một dịch đường tự nhiên, nước ép của củ cải, của mía, v.v., nghĩa là tự phát.”
Ở đây thấy ý niệm phổ biến về sự biến đổi tự phát, dù Pasteur tiếp tục khẳng định rằng “trong mọi trường hợp, kể cả những trường hợp bề ngoài ít bị hiểu lầm nhất, buộc chúng ta rời xa niềm tin vào ảnh hưởng của sự tổ chức trong các hiện tượng lên men, thì hành vi hóa học đặc trưng cho chúng vẫn luôn tương quan với sự hình thành các tiểu cầu”.
Các kết luận cuối cùng của ông được đưa ra để chiêm ngưỡng: “Sự phân tách đường thành rượu và axit cacbonic là một hành vi tương quan với một hiện tượng sống, với sự tổ chức của các tiểu cầu, một sự tổ chức trong đó đường đóng vai trò trực tiếp bằng cách cung cấp một phần các yếu tố của chất nền của các tiểu cầu ấy.” Nhưng, xa từ việc hiểu quá trình này, ta thấy chính Pasteur thú nhận ba năm sau, năm 1860: “Vậy thì hành vi hóa học phân hủy này, của sự biến đổi đường, gồm những gì? Nguyên nhân của nó là gì? Tôi thú nhận tôi hoàn toàn không biết gì về nó.”
Dù sao, tâm trí phê phán cũng lập tức hỏi: Làm sao việc lên men lại được giải thích là một hành vi sống do một sinh vật đã chết thực hiện; hay do sự chuyển các tiểu cầu thành phần hòa tan của nó, dù điều đó có nghĩa gì; hay do sự biến đổi tự phát? Chẳng lạ gì khi Béchamp nhận xét: “Các thí nghiệm của Pasteur lại tình cờ đến mức ông ấy — kẻ vừa thừa nhận với Cagniard de Latour sự thật về tổ chức và sự sống của nấm men — lại hăm hở dùng sinh vật sống ấy để nghiên cứu phần hòa tan của nó!” Quả thật, lời trình bày của Béchamp về công trình gần gũi nhau của Liebig và Pasteur rất đáng đọc, từ trang 56 đến trang 65 của Les Grands Problèmes Médicaux.
Điểm chủ yếu cần ghi nhận là: vì Pasteur đã dùng cho các thí nghiệm này những chất có sự sống bên trong, như nước cốt nấm men v.v., nên chúng không thể, trong mọi trường hợp, cung cấp bằng chứng về câu hỏi cấp bách nhất đang đặt ra, tức là liệu sự sống có thể sinh ra trong một môi trường hóa học thuần tuý. Vấn đề ấy chưa bao giờ được Pasteur nhắc tới trong năm 1857. Nếu ta chỉ có lời giải thích của ông về sự lên men, làm trong năm ấy, thì quả thật ta sẽ có một khái niệm kỳ lạ về hiện tượng ấy. Ta sẽ tin vào sự sinh tự phát của các chất lên men rượu, lactic và các chất khác. Ta sẽ bối rối không hiểu làm sao việc lên men có thể là một hành vi sống mà lại do các sinh vật đã chết thực hiện. Về nguồn gốc từ không khí của các chất lên men, ta sẽ chẳng có một manh mối nào — tức là, xét về phần Pasteur, vì hoặc ông không biết, hoặc ông phớt lờ chân lý đã được những người khác nêu ra trước, đặc biệt là Schwann, người Đức. Pasteur lướt qua chỉ bằng một lời ám chỉ mỏng manh các sự tiếp xúc với không khí có trong các thí nghiệm của ông, vì mục tiêu của ông là bác bỏ lý thuyết của Liebig rằng sự biến đổi của nước cốt nấm men là do không khí oxy hóa, và ông dường như chẳng có ý niệm nào về vai trò quan trọng mà không khí có thể đóng, dù là vì một lý do rất khác với lý do Liebig tưởng tượng.
Rõ ràng năm 1857 Pasteur là một Spontapariste, tuy nhiên chẳng soi rọi gì cho cuộc tranh luận. Bà nội trợ bối rối vì sữa chua, từ ông nhiều lắm cũng chỉ học được rằng các tiểu cầu sống đã xuất hiện tự phát — lời giải thích từng có giá trị nhiều năm trước để giải thích những con dòi tìm thấy trong thịt ôi, cho đến khi một người Ý, Francesco Redi, nảy ra ý giấu ruồi đi để chúng không tiếp xúc.
Ở đây độc giả có thể chêm vào rằng tầm nhìn của Pasteur, dù còn mờ, đang dần xuyên qua màn sương của bí ẩn ấy. Nhưng, tình cờ thay, màn sương ấy đã được xua tan: một “thí nghiệm đèn biển” đang soi sáng khó khăn. Năm 1855 và 1857, các Bản ghi nhớ đã được trình với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, và chúng sẽ chứng minh là ngôi sao dẫn đường của khoa học tương lai; mà nay, gần một thế kỷ sau, đã đến lúc phải cho công bằng ai chỗ đó. Và ở đây, ta hãy chuyển sang kết quả của công trình được tiến hành trong một phòng thí nghiệm yên lặng bởi một người mà, tiếc cho thế giới, có lẽ không thành thạo nghệ thuật quảng cáo, và đã chìm đắm quá mức trong các khám phá của mình để lúc ấy bận tâm đến quyền sở hữu của ông đối với chúng. Ta hãy lại mở các văn kiện Pháp xưa, và tự xem Giáo sư Antoine Béchamp đã nói gì về vấn đề gây tranh cãi của sự lên men.
Ta hãy nhớ lại rằng chính ở thủ phủ Alsace, Strasbourg, Giáo sư Béchamp đã đạt những thắng lợi khoa học đầu tiên mà ta đã nhắc tới. Chính tại đó, trong quá trình nghiên cứu hóa học, ông nảy ra ý đem niềm tin phổ biến về sự tự biến đổi của đường mía thành đường ngo ra thử thách bằng một thực nghiệm nghiêm ngặt. Ngày ấy, vật chất hữu cơ lấy từ cơ thể sống, dù thực vật hay động vật, đều được coi là đã chết, và, theo quan điểm thịnh hành khi ấy, vì chết nên dễ bị biến đổi tự phát. Đó chính là niềm tin mà Pasteur đã chống lại theo cách ta đã phê phán. Béchamp đi trước ông trong việc tấn công vấn đề bằng những phương pháp rõ ràng nghiêm ngặt hơn, và với kết quả mà ta cho giờ sẽ tỏ ra soi rọi đáng kể hơn nhiều.
Một thí nghiệm trên tinh bột khiến Béchamp nghi ngờ sự thật của lý thuyết phổ biến rằng đường mía hòa trong nước tự biến đổi ở nhiệt độ thường thành đường nghịch — hỗn hợp hai phần bằng nhau glucose và fructose, sự thay đổi đó trong thuật ngữ kỹ thuật gọi là sự nghịch đảo của đường. Đây là một câu đố cần điều tra, và trong khi tấn công bí ẩn hóa học ấy, Giáo sư chẳng hề nghi ngờ gì về những kết quả sinh học sẽ nảy sinh từ câu trả lời của Tự nhiên.
Tháng 5 năm 1854, ông bắt đầu một loạt các quan sát mà về sau ông đặt tên là “Expérience de la Bouteille”, và cuối cùng nhất trí gọi là “Thí nghiệm Ngọn hải đăng”.
Ngày 16 tháng 5 năm 1854, thí nghiệm đầu tiên trong loạt được bắt đầu trong phòng thí nghiệm Trường Dược ở Strasbourg. Thí nghiệm kết thúc ngày 3 tháng 2 năm 1855.
Trong thí nghiệm này, đường mía hoàn toàn tinh khiết được hòa trong nước cất trong một chai thủy tinh có nút kín khít nhưng vẫn chứa một ít không khí. Chai được để trên bàn phòng thí nghiệm ở nhiệt độ thường và trong ánh sáng khuếch tán.
Đồng thời, các thí nghiệm đối chứng được chuẩn bị. Chúng gồm các dung dịch nước cất và đường mía tương tự, trong một dung dịch thêm một ít clorua kẽm, trong các dung dịch khác thêm một ít clorua canxi; mỗi dung dịch đều để lại một lượng không khí nhỏ, y như chai chứa dung dịch thường, dung dịch thí nghiệm đầu tiên. Các chai được nút cùng cách như chai thứ nhất, và tất cả được để cạnh nhau trong phòng thí nghiệm.
Trong vài tháng, đường mía trong nước cất được biến đổi một phần thành đường nho, và lưỡng cực kế cho thấy sự biến đổi đã xảy ra trong môi trường, vì có sự thay đổi góc quay. Nói tóm lại, một sự biến đổi đã xảy ra, nhưng có lẽ không tự phát, vì đến ngày 14 tháng 6 nấm mốc đã xuất hiện, và từ ngày ấy sự biến đổi tiến hành nhanh hơn nhiều.
Bảng I sau đây là tóm tắt ngắn kết quả các thí nghiệm của Béchamp.
Giáo sư Béchamp đặc biệt ghi nhận các nấm mốc, và thấy điều đáng chú ý là không nấm mốc nào xuất hiện trong các dung dịch mà ông đã thêm clorua kẽm và clorua canxi; hơn nữa, sự thay đổi quay trong đó nhỏ đến mức gần như bỏ qua được, hay, như ông nói: “Mặt phẳng phân cực không hề biến đổi ngoài các biến thiên tình cờ.”
Béchamp công bố thí nghiệm này trong báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp ngày 10 tháng 2 năm 1855. Ông nêu các nấm mốc, mà không cố gắng giải thích sự xuất hiện của chúng. Ông để dành việc cân nhắc sâu hơn về chúng cho các thí nghiệm tương lai, cảm thấy điều quan trọng là phải tìm ra lời giải thích như một đầu mối có thể của nguyên nhân của cái mà cho đến lúc ấy vẫn được coi là bằng chứng của sự sinh tự phát. Ông cũng nóng lòng khám phá cơ chế hóa học của sự biến đổi đường là gì, và tại sao lại không có sự thay đổi trong các dung dịch mà các clorua đã được thêm vào.
Trong khi đó, một nhà quan sát khác, ông Maumené, cũng đang thí nghiệm, và dù Béchamp không tán thành kết luận của ông, ông vẫn rất chú ý đến các quan sát được trình với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp ngày 7 tháng 4 năm 1856, và đăng trong Annales de Chimie et de Physique tháng 9 năm 1856.
Các thí nghiệm của ông Maumené cũng liên quan đến các phép đo lưỡng cực. Bảng II sau cho tóm tắt ngắn các kết quả chủ yếu của ông.
Ở đây Béchamp thấy các quan sát của mình được xác nhận. Tại trang 30 và 51 của Les Microzymas, ông cho ta biết hai câu hỏi đã nảy ra trong trí ông qua các thí nghiệm của chính ông và của ông Maumené:
“Các nấm mốc có được phú cho hoạt tính hóa học không?”
“Nguồn gốc của các nấm mốc xuất hiện trong nước đường là gì?”
Nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi này, ông bắt đầu tại Strasbourg ngày 25 tháng 6 năm 1856 một loạt thí nghiệm mới, hoàn thành tại Montpellier ngày 4 tháng 12 năm 1857. Vậy nên chính trong quá trình công trình này mà ông rời Strasbourg để bắt đầu sự nghiệp thành công hạnh phúc của mình ở trường đại học phương nam danh tiếng.
Bảng III sau đây cho thấy các quan sát mới của ông.
Kết quả chứng minh rõ ràng tác động khác nhau của các muối khác nhau lên môi trường, điều mà chính Béchamp đã chỉ ra trong chương hai của tác phẩm Les Microzymas. Như thí nghiệm trước cũng cho thấy, clorua kẽm và clorua canxi ngăn được sự biến đổi của đường mía; và một lượng rất nhỏ creosote, hay clorua thủy ngân, có cùng tác dụng phòng ngừa. Trường hợp axit arsenious khi có mặt với tỷ lệ rất nhỏ, hay một số muối khác, thì không như vậy — chúng không cản trở sự xuất hiện của nấm mốc và sự biến đổi của đường mía. Quả thật, một số muối dường như còn kích thích sự đến của nấm mốc; trong khi ngược lại, creosote — chất mà mãi đến sau ngày các thí nghiệm này mới được phân biệt với axit carbolic — đặc biệt hiệu quả trong việc ngăn ngừa nấm mốc và sự biến đổi của đường.
Với độ chính xác đặc trưng, Giáo sư Béchamp quyết định điều tra kỹ vai trò của creosote, và với mục tiêu ấy, ngày 27 tháng 3 năm 1859 ông bắt đầu một loạt thí nghiệm khác, cũng tiếp tục đến ngày 5 tháng 12 cùng năm.
Lời kể của chính ông về thủ tục như sau: Ông “điều chế nhiều dung dịch đường theo kỹ thuật của phái phản dị dạng, nghĩa là, nước dùng được đun sôi và làm nguội sao cho không khí chỉ có thể đi vào sau khi qua các ống chứa axit sulfuric. Nước này hòa tan đường rất nhanh, và nhiều bình được đổ đầy hoàn toàn bằng dung dịch đã lọc cẩn thận, để không chừa không khí. Phần khác của dung dịch, không có thêm creosote, được đổ vào các bình tiếp xúc với một lượng lớn không khí thường, không có sự cẩn trọng nào khác ngoài sự sạch sẽ. Một trong các bình cũng chứa một ít axit arsenious. Một bình dung dịch có creosote và một bình không creosote được để riêng, không mở suốt cả quá trình thí nghiệm.”
Bảng IV sau cho tóm tắt các quan sát.
Bản thân Béchamp đã giải thích kết quả.
Các bình 1 và 2 mất một ít dịch trong quá trình thao tác, vì vậy không được đổ đầy hoàn toàn. Hệ quả là không khí đã tiếp xúc với các dung dịch trong đó, và trong các bình ấy, nấm mốc xuất hiện và sự biến đổi của môi trường xảy ra, ngày tháng khác nhau ở hai trường hợp, và sự biến thiên chứng minh nhanh hơn ở bình có nấm mốc nhiều hơn.
Ngược lại, nước đường được bảo vệ hoàn toàn khỏi không khí trong tám tháng quan sát không hề biến đổi, dù được giữ trong khí hậu ấm của Montpellier suốt các tháng sáu, bảy, tám và chín. Điều này đáng chú ý, vì chẳng có gì cản trở tác động của nước, giá như sự biến đổi tự phát là phương pháp của Tự nhiên, theo ý kiến thịnh hành ngày ấy. Hơn nữa, dù các dung dịch có creosote tiếp xúc với không khí ngay từ đầu, và các bình đặc biệt ấy được để mở, chúng vẫn không biến thiên và không có dấu vết nấm mốc, kể cả dung dịch có thêm axit arsenious.
Cuối cùng, quay lại dung dịch số 2, nấm mốc xuất hiện trước ngày 30 tháng 5, với dấu hiệu ngày ấy về sự giảm của góc quay, sự giảm tiếp tục, dù rằng vào ngày 30 tháng 6 có thêm một giọt creosote.
Nhà lao động vĩ đại cho ta biết trong Lời tựa tác phẩm Le Sang của mình rằng các quan sát khác nhau ấy đã gây ấn tượng với ông cùng một kiểu như cách cây đèn thánh đường từng gây ấn tượng với Galileo thế kỷ XVI.
Vào thời ông làm việc, người ta tin rằng sự lên men không thể xảy ra trừ phi có vật chất albuminoid hiện diện. Ta đã thấy Pasteur thao tác với nước cốt nấm men, một dung dịch albuminoid phức tạp. Trong các môi trường do Béchamp điều chế, ngược lại, không có chất albuminoid nào. Ông đã thao tác với nước cất cẩn thận và đường mía tinh khiết — mà, ông cho ta biết, khi đun nóng với vôi tươi, không thoát ra amoniac. Thế mà nấm mốc, rõ ràng là sinh vật sống và vì thế tất yếu chứa vật chất albuminoid, đã xuất hiện trong các dung dịch hóa học của ông.
Ông kinh sợ trước khám phá của mình, thiên tài của ông đã cho ông những manh mối về tất cả những gì nó báo trước. Nếu là Pasteur, cả nước đã vang tiếng tin ấy; ông đã mô tả các sự thật bằng thư cho tất cả những người ngưỡng mộ mình. Thay vì thế, là Béchamp, không một nghĩ đến bản thân, chìm đắm trong những bí mật Tự nhiên tiết lộ, nỗi lo duy nhất của ông là bắt đầu các thí nghiệm mới, cân nhắc những lời hé mở mới.
Kết quả các quan sát, ông ghi lại trong một Bản ghi nhớ mà ông gửi đi ngay lập tức, tháng 12 năm 1857, tới Viện Hàn lâm Khoa học, viện đăng trích đoạn của nó trong báo cáo ngày 4 tháng 1 năm 1858. Việc công bố đầy đủ tài liệu vô cùng quan trọng này, vì lý do nào đó không rõ, đã thực sự bị hoãn mười một tháng, khi nó xuất hiện tháng 9 năm 1858 trong Annales de Chimie et de Physique.
Tên của Bản ghi nhớ là “Về ảnh hưởng mà nước, dù tinh khiết hay chứa nhiều muối, tác động lên đường mía.”
Béchamp nhận xét về điều này như sau: “Bằng tên của nó, Bản ghi nhớ là một tác phẩm hóa học thuần tuý, vốn lúc đầu không có mục đích nào khác ngoài việc xác định liệu nước lạnh tinh khiết có thể nghịch đảo đường mía hay không, và nếu có nữa, thì các muối có ảnh hưởng gì lên sự nghịch đảo; nhưng chẳng bao lâu, câu hỏi, như ta đã tiên đoán, trở nên phức tạp; nó lập tức trở thành sinh lý và phụ thuộc vào các hiện tượng lên men và câu hỏi sinh tự phát — vậy nên, từ việc nghiên cứu một sự thật hóa học giản đơn, ta được dẫn đến điều tra lần lượt các nguyên nhân của sự lên men, bản chất và nguồn gốc của các chất lên men.”
Kết quả quét sạch chủ yếu của mọi thí nghiệm đã chứng minh rằng “Nước lạnh biến đổi đường mía chỉ tương xứng với sự phát triển của nấm mốc, các sinh vật thực vật sơ cấp ấy khi đó đóng vai trò chất lên men.”
Ngay một đòn, lý thuyết về sự biến đổi do tác động của nước bị hạ, sự thay đổi gọi là lên men được tuyên bố là do sự sinh trưởng của các sinh vật sống.
Hơn nữa, đã được chứng minh rằng “Nấm mốc không phát triển khi không có tiếp xúc với không khí, và khi đó không có sự thay đổi nào xảy ra trong lực quay”; cũng như “Các dung dịch đã tiếp xúc với không khí biến thiên tương xứng với sự phát triển của nấm mốc.” Sự cần thiết của sự hiện diện các sinh vật sống này cho các quá trình lên men được chỉ ra rõ ràng như vậy.
Béchamp giải thích thêm tác động của nấm mốc: “Chúng tác động theo cách của các chất lên men.”
“Chất lên men từ đâu đến?”
“Trong các dung dịch này, không có chất albuminoid nào; chúng được làm từ đường mía tinh khiết, mà khi đun nóng với vôi tươi tôi, không thoát amoniac. Như vậy hiện rõ là các mầm từ không khí đã thấy dung dịch đường là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chúng, và phải thừa nhận rằng chất lên men ở đây được tạo ra do sự sinh sản của nấm.”
Ở đây, mâu thuẫn trực tiếp với lời kể của Pasteur về nguồn gốc tự phát của nấm men bia và các sinh vật khác, Béchamp đã đưa ra bằng chứng xác thực cho giáo lý của Schwann về các mầm từ không khí, và xa hơn nữa xác định nấm men thuộc bộ nấm. Dù một lời tuyên bố rõ ràng đến thế thật đáng chú ý vào thời điểm các ý niệm khoa học đang trong cảnh lộn xộn hỗn loạn, vị thầy vĩ đại còn đi xa hơn nhiều trong các quan sát của mình.
Hơn nữa ông khẳng định: “Chất phát triển trong nước đường đôi khi hiện ra dạng những thân nhỏ biệt lập, đôi khi dạng những màng không màu to lớn, trồi ra từ các bình thành một khối. Các màng này, đun nóng với potash ăn da, thoát amoniac dồi dào.”
Ở đây ông ghi nhận sự đa dạng của các sinh vật ở các nấm mốc này — một quan sát sẽ dẫn đến một cái thấu sâu sắc vào đời sống tế bào và nền móng của sự hiểu đúng đầu tiên về tế bào học.
Ông còn có một lời giải thích dứt khoát khác về tác động của nấm mốc, cụ thể là: “Sự biến đổi mà đường mía trải qua trước mặt nấm mốc có thể so với sự biến đổi do diastase gây ra trên tinh bột.”
Kết luận riêng này, ông cho ta biết, có tầm quan trọng to lớn đối với đề tài, và là ý tưởng mới đến mức Pasteur, cả về sau, vẫn phớt lờ và phủ nhận nó.
Ông giải thích thêm rằng “nước lạnh không tác động lên đường mía trừ phi nấm mốc có thể phát triển trong nó; nói cách khác, sự biến đổi là do một sự lên men thật sự và do sự phát triển của một axit kế tiếp sau sự xuất hiện của chất lên men.”
Chính nhờ các axit do nấm mốc sinh ra mà ông giải thích quá trình lên men.
Ông rút ra nhiều kết luận khác nữa từ tác động của các muối khác nhau lên các dung dịch. Giá như Lister chỉ theo giáo lý của Béchamp thay vì theo giáo lý của Pasteur, có lẽ ông đã khỏi phải sau này thu hồi thành thật phát minh của mình, bình phun carbolic, thứ đã chứng minh gây chết cho nhiều bệnh nhân.
Béchamp dạy rằng “Creosote, khi ngăn ngừa sự phát triển của nấm mốc, cũng kiểm soát sự biến đổi của đường mía.”
Ông cũng dạy rằng “creosote, dù có hay không tiếp xúc lâu với không khí, đồng thời ngăn cả sự hình thành nấm mốc lẫn sự biến đổi của đường mía. Nhưng từ quan sát thì rõ rằng khi nấm mốc đã hình thành, creosote không ngăn được tác động của chúng.”
Ông rút ra nhiều kết luận khác nữa từ tác động của các muối khác nhau và nhờ đó khái quát: “Ảnh hưởng của các dung dịch muối là biến đổi, không chỉ theo loại muối, mà cả theo mức bão hòa và tính trung hòa của các muối ấy. Các muối ngăn được sự biến đổi của đường mía thành glucose (đường ngo) nói chung là các muối được tiếng là sát khuẩn. Trong mọi trường hợp, một nhiệt độ tối thiểu nào đó là cần thiết để sự biến đổi xảy ra.”
Vậy nên ta thấy rằng, ngay từ thời kỳ đầu ấy, năm 1857, khi sự lên men còn là bí ẩn đến mức Pasteur — kẻ thao tác với các vật chất albuminoid, kể cả nấm men chết — xem nấm men ấy và các sinh vật khác là sản phẩm của sự sinh tự phát, Béchamp đã bật lên một ngọn đuốc pha sáng toàn diện, soi sáng bóng tối của đề tài cho mãi mọi thời.
Để tóm lại, trong một bản tóm tắt ngắn, ông dạy rằng đường mía là một nguyên lý cận chất không thể biến đổi do hòa trong nước. Ông dạy rằng không khí tự nó không có tác động gì lên nó, nhưng chính vì nó mang vào các sinh vật sống nên tác động bề ngoài của không khí lại quan trọng tột độ. Ông chỉ ra rằng các sinh vật ấy, vốn không tan, đã làm xảy ra quá trình lên men bằng cách các axit chúng sinh ra, các axit ấy được xem là các chất lên men hòa tan. Ông dạy rằng cách ngăn các sinh vật xâm nhập vào dung dịch đường là trước hết phải creosote hóa nhẹ môi trường; nhưng nếu các sinh vật đã xuất hiện trước khi creosote được thêm vào, ông chỉ ra rằng việc thêm creosote sau đó sẽ không có sức mạnh nào để chặn sự phát triển của chúng và sự nghịch đảo đường kế tiếp.
Để có thêm những lời hé mở, ta không cần làm gì hơn là trích hai ba đoạn từ bản tóm tắt của chính Béchamp về khám phá của ông trong Lời tựa tác phẩm cuối cùng Le Sang — Máu.
Ở đó ông viết: “Hóa ra chất lên men hòa tan có liên hệ với chất không tan nhờ phản ứng của sản phẩm với kẻ sản sinh; chất lên men hòa tan không thể tồn tại nếu không có chất lên men có tổ chức, vốn tất yếu là không tan.”
“Xa hơn nữa, vì chất lên men hòa tan và vật chất albuminoid, đều có nitơ, chỉ có thể được hình thành do lấy nitơ từ thể tích không khí hữu hạn còn lại trong các bình, nên đồng thời đã được chứng minh rằng nitơ tự do của không khí có thể trực tiếp giúp vào sự tổng hợp chất nitơ của thực vật; điều mà cho đến lúc ấy vẫn là một câu hỏi còn tranh cãi.”
“Như vậy đã trở nên hiển nhiên rằng, vì vật chất tạo nên cấu trúc của nấm mốc và nấm men được chế tạo bên trong cơ thể, thì cũng phải đúng rằng các chất lên men hòa tan và sản phẩm của sự lên men cũng được tiết ra tại đó, như trường hợp của chất lên men hòa tan đã nghịch đảo đường mía. Do đó ta trở nên chắc chắn rằng cái gọi là lên men, trên thực tế, là hiện tượng dinh dưỡng, đồng hóa, thoái hóa và bài tiết các sản phẩm đã thoái hóa.”
Vậy nên ta thấy lời giải thích của Béchamp về sự lên men rõ ràng và đầy đủ đến đâu từ cách đây lâu trong năm 1857. Ông chỉ ra nó do các quá trình sống của các sinh vật sống nhỏ đến mức cần kính hiển vi để thấy được, và trong trường hợp các dung dịch đường của ông, ông chứng minh chúng đến từ không khí. Ông không những không ai cãi được là người đầu tiên giải quyết vấn đề, mà khám phá ban đầu của ông còn dẫn ông đi xa hơn nhiều, không may xa hơn nhiều mức hiểu biết của những kẻ mà, thiếu tinh thần sáng suốt của thiên tài, chỉ trở nên ám ảnh bởi ý niệm về các sinh vật trong bầu khí quyển. Nhưng trước khi ta tiếp tục đào sâu hơn vào giáo lý của Béchamp, ta hãy dừng lại và quay về Pasteur, xem công trình của ông bị ảnh hưởng thế nào bởi ngọn đèn biển vĩ đại mà đối thủ của ông đã dùng soi sáng khoa học.
Loạt quan sát vĩ đại của Giáo sư Béchamp — loạt quan sát thực sự xứng đáng với cái tên “Thí nghiệm Ngọn hải đăng” — đã chứng minh rõ ràng khả năng xuất hiện của chất lên men trong một môi trường không chứa chất albuminoid. Vì sự kiện này cho đến ngày nay vẫn bị nghi ngờ, nên rõ ràng Béchamp là người đầu tiên xác lập nó. Chúng ta có thể lục tìm trong các ghi chép khoa học cũ mà không tìm thấy một minh chứng nào như vậy của bất kỳ ai. Và chúng ta có thể tự đọc để thấy rằng quy trình Pasteur tiến hành năm 1857 hoàn toàn khác. Chịu ảnh hưởng của niềm tin phổ biến thời bấy giờ, điều ông làm — như chúng ta đã thấy — là lấy chất lên men đã phát triển trong một quá trình lên men thông thường rồi gieo vào nước cốt men, một dung dịch phức tạp gồm chất albuminoid và các chất khoáng. Bằng cách đó ông thu được thứ mà ông gọi là quá trình lên men lactic của mình. Dường như ông cũng chưa thực sự thành công trong các suy luận rút ra từ quan sát của mình. Ông tuyên bố rằng các hạt lactic “sinh ra tự phát trong thân chất lỏng albuminoid do phần hòa tan của men cung cấp”, và cũng rằng “chúng sinh ra tự phát dễ dàng chẳng kém gì men bia”. Không còn gì phải bàn cãi về sự tương phản giữa những quan điểm tự phát sinh này với lời giải thích rõ ràng, đơn giản của Béchamp! Không một độc giả nào có lương tâm có thể so sánh các văn bản gốc của hai nhà khoa học mà không choáng ngợp trước sự chênh lệch của chúng.
Nơi công trình của Pasteur gần gũi hơn với của Béchamp là một thí nghiệm được ghi lại trong các báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học Pháp vào tháng 2 năm 1859, hơn một năm sau khi Thí nghiệm Ngọn hải đăng của Béchamp được công bố. Vậy chắc chắn, chỉ riêng từ góc độ thời điểm, nó hoàn toàn không phủ nhận quyền ưu tiên của Béchamp trong việc giải thích rõ ràng quá trình lên men; thực tế, dường như nó chịu ảnh hưởng từ các quan sát của Giáo sư, vì ta thấy Pasteur ở đây đã bỏ qua việc dùng nước cốt men làm môi trường và quy nguồn gốc của men lactic cho không khí khí quyển.
Theo chính chi tiết ông trình bày, ông trộn vào nước đường nguyên chất một lượng nhỏ muối amonia, phosphat và cacbonat canxi kết tủa, và thực sự tỏ ra ngạc nhiên rằng vật chất động và thực vật lại có thể xuất hiện trong một môi trường như vậy.
Khó có thể tìm được sự tương phản lớn hơn với những suy luận chặt chẽ của Béchamp, trong khi một sự mơ hồ phi thường lại xuất hiện trong các kết luận. Ta đọc thấy: “Còn nguồn gốc của men lactic trong các thí nghiệm này, thì nó hoàn toàn nhờ không khí khí quyển: ở đây chúng ta quay trở lại với những sự kiện của thuyết tự phát sinh.”
Sau khi khẳng định rằng bằng cách loại bỏ mọi tiếp xúc với không khí thông thường, hoặc bằng cách đun sôi dung dịch, sự hình thành các sinh vật và quá trình lên men đều bị ngăn chặn hoàn toàn, ông lại kết thúc: “Về điểm này, câu hỏi về thuyết tự phát sinh đã có tiến bộ.” Nếu ý ông là câu hỏi đã tiến triển theo hướng phủ nhận niềm tin đó, thì tại sao ông lại không nói ra?
Trong một Bản ghi nhớ sau đó công bố trên Annales de Chimie et de Physique vào tháng 4 năm 1860, ông liên tục nhắc đến sự sinh ra tự phát của các men và quá trình lên men. Bất kỳ ai thực sự hiểu rõ nguồn gốc từ khí quyển của các vi sinh vật thuộc loại men chắc chắn đã tránh xa cách diễn đạt mà, vào thời điểm đó, mang nghĩa hoàn toàn trái ngược.
Nhiều thí nghiệm được trình bày chi tiết trong Bản ghi nhớ sau này chỉ bắt đầu từ ngày 10 tháng 12 năm 1859, trong khi Béchamp đã trình Thí nghiệm Ngọn hải đăng đầu tiên với Viện hàn lâm Khoa học vào tháng 12 năm 1857, và bản công bố đầy đủ của nó xuất hiện vào tháng 9 năm 1858, mười một tháng trước khi Pasteur bắt đầu các quan sát mới. Không còn nghi ngờ gì, ông đã chịu ảnh hưởng từ Béchamp trong công trình mới này — công trình mà ông tuyên bố là đã chiếu sáng “một ngày mới cho các hiện tượng lên men”.
Nhận xét của Béchamp về công trình đó có thể tìm thấy trong Lời tựa cuốn Les Sucre (Đường). Tại đó ông giải thích rằng sự hình thành axit lactic, diễn ra sau quá trình lên men rượu ban đầu, là do sự xâm nhập của các mầm bệnh từ không khí — trong trường hợp này là men lactic — và sự gia tăng sau đó của chúng dẫn đến cạn kiệt dinh dưỡng của men bia, thứ vốn đã có mặt ngay từ đầu thí nghiệm. Ông cho rằng các suy luận của Pasteur chứng minh sự thiếu hiểu biết thực sự của ông này về “các hiện tượng chuyển hóa hóa-sinh lý, gọi là lên men, vốn là những quá trình Dinh dưỡng, nghĩa là tiêu hóa, rồi hấp thu, đồng hóa, bài tiết, v.v.”, và cả sự thiếu hiểu biết của ông về sinh vật sống cùng cách nó “rốt cuộc sẽ tự tái sinh nếu mọi điều kiện phụ thuộc vào dinh dưỡng đều được thỏa mãn”.
Bên cạnh nhận xét khoa học của Béchamp về Bản ghi nhớ này, bất kỳ nhà phê bình nào cũng phải sửng sốt trước sự không chính xác trong các mô tả chi tiết. Chẳng hạn, nếu ta mở phần ba, ta thấy môi trường của Pasteur trong các quan sát này có bao gồm tro men và rằng ông có nhắc đến việc thêm men tươi. Thế nhưng, làm đầu đề cho một thí nghiệm như vậy, ông lại đưa ra mô tả gây hiểu lầm sau: “Sự sinh ra của men trong một môi trường gồm đường, muối amonia và phosphat.” Mọi dẫn chiếu đến việc men ban đầu đã được đưa vào — điều được thừa nhận ở trang 353 — đều bị bỏ qua trong đầu đề này và trong bản tóm tắt cuối cùng của ông: “Tất cả các kết quả này, với độ chính xác nghiêm ngặt nhất, dù phần lớn thu được bằng cách tác động lên những lượng rất nhỏ, xác lập sự sinh ra của men rượu, men lactic và các quá trình lên men đặc biệt tương ứng với chúng, trong một môi trường chỉ gồm đường, muối amonia và các yếu tố khoáng.” Môi trường thực tế, được mô tả chỉ cách đó vài trang, gồm có: mười gam đường; một trăm xăng-ti-mét khối (cm³) nước; một phần mười gam tartrat amonia; tro của một gam men bia; vài dấu vết men tươi (bằng đầu một cái kim ghim).
Nhìn chung, rõ ràng là ngay cả đến năm 1860, Pasteur vẫn chưa có được lời giảng dạy rõ ràng nào như những gì chứa đựng trong các quan sát đặt nền móng một thời của Béchamp. Và ở đây ta có một cái nhìn sáng tỏ về tính cách hai con người. Béchamp không thể không biết rằng kiến thức của ông vượt trội hơn Pasteur, nhưng dù sao, trong các bài giảng trước sinh viên, ta chẳng tìm thấy ở ông điều gì ngoài những lời ám chỉ đầy lịch sự đến đối thủ. Ta chỉ cần nhắc đến tác phẩm Các Bài giảng về Men giấm và Sản xuất Rượu vang của Giáo sư, xuất bản năm 1863, trước chính thời điểm thực nghiệm cần thiết để giải thích hiện tượng đó.
Trong cuốn sách này, ta biết được quan điểm của Béchamp — quan điểm mà ông luôn cẩn trọng đưa vào thực hành — về việc tôn vinh đúng nơi đáng tôn vinh trong các khám phá khoa học. “Người ta chỉ có thể có,” ông nói, “những ý tưởng được truyền cảm hứng hoặc những ý tưởng được truyền đạt, và chính bằng cách làm việc trên cả hai loại đó mà những ý mới được thai nghén. Đó là lý do tại sao một người đi tìm chân lý nên dành sự công bằng cho ý tưởng của những người đi trước trong công việc của mình, bởi họ, dù lớn hay nhỏ, đều phải nỗ lực, và ở đây nằm cái công của họ, là mang phần chân lý của họ đến với thế giới. Ta không thể hình dung một danh hiệu nào cao quý hơn danh hiệu quyền sở hữu này, vì chính nó cấu thành nên tính cách và thường là cả cái thiên tài của chúng ta, nếu đúng rằng cái đặc quyền siêu phàm ấy, cái may mắn hiếm hoi ấy, chỉ là sự kiên nhẫn kéo dài được thụ thai bởi tia lửa mà Thiên Chúa đã gieo vào trong ta. Quyền này càng cần được tôn trọng, bởi nó thuộc về loại của tài sản duy nhất, của cải duy nhất mà ta có thể tiêu phí mà không làm nghèo đi mình; ta muốn nói gì nữa, chính trong cách tiêu phí ấy mà ta ngày càng làm giàu thêm cho mình.”
Không may, ở Pasteur ta tìm thấy một sự tương phản lớn lao, và điều đó không thể chối cãi: ngay từ đầu, theo các ghi chép cũ, ông liên tục chiếm lấy cho riêng mình các khám phá của Béchamp, bắt đầu từ những khám phá năm 1857.
Thí nghiệm Ngọn hải đăng đã xua ánh sáng vào bóng tối của quan điểm tự phát sinh, đúng vào lúc cuộc tranh luận về thuyết tự phát sinh sắp bùng cháy trở lại. Cuối tháng 12 năm 1858, ông Pouchet, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Rouen, gửi lên Viện hàn lâm Khoa học một “Bản thuyết trình về các cơ quan protein thực vật và động vật tự phát sinh trong không khí nhân tạo và trong khí oxy”. Chủ đề một lần nữa lôi cuốn sự quan tâm của công chúng. Giáo sư Béchamp, giành từng phút rảnh cho công trình nghiên cứu liên tục, bận rộn đến mức ít tham gia vào tranh luận. Pasteur, ngược lại, giữ cho mọi người luôn biết rõ các thí nghiệm ông định tiến hành. Người ta nói rằng có những sinh vật, những mầm bệnh trong khí quyển, nên ông quyết định xem xét không khí bằng kính hiển vi. Phương pháp làm điều đó — bằng cách lọc không khí vào các bình thủy tinh — đã được hai nhà khoa học Đức Schröder và Dusch khởi xướng. Thí nghiệm theo cách tương tự, Pasteur so sánh nội dung các lọ khác nhau, mà theo ông thay đổi tùy lượng bụi khí quyển lọt vào, và không thay đổi trong các trường hợp bụi bị loại trừ. Nhưng ông không bằng lòng với các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và hầm rượu, mà dự định thực hiện những quan sát gây xúc động hơn và đẹp mắt hơn. Giữ cho mọi người nắm rõ từng bước đi của mình, vào tháng 9 năm 1860 ông khởi hành một chuyến hành trình mang theo bảy mươi ba lọ thủy tinh, mà ông mở ra rồi đóng kín ngay tại những địa điểm và độ cao khác nhau. Hai mươi lọ cuối ông dành riêng cho biển Băng (Mer de Glace), phía trên Chamonix; kết quả là chỉ có một trong hai mươi lọ có nội dung bị biến đổi. Kể từ thời điểm đó, mùa thu năm 1860, Pasteur — kẻ từng theo thuyết tự phát sinh — đột ngột quay sang lập trường hoàn toàn trái ngược, và quy gần như mọi hiện tượng cho ảnh hưởng của các mầm bệnh trong không khí.
Trong khi đó, đối thủ trực tiếp của ông — ông Pouchet — đã thí nghiệm trên không khí ở núi, ở đồng bằng, ở biển, và, như mọi người đều biết, Pasteur không bao giờ thuyết phục được ông.
Về các thí nghiệm kiểu Pasteur này, Béchamp viết: “Từ phân tích dưới kính hiển vi, ông rút ra kết luận, như Pouchet, không chút chính xác (sans rien préciser), rằng trong bụi thu được có những hạt có cấu trúc, chỉ có điều ông không thể nói ‘đây là một trứng, đây là một bào tử’, nhưng ông khẳng định rằng chúng đủ để giải thích mọi trường hợp sinh ra các động vật nguyên sinh (infusoria). Như vậy Pasteur đã chiếm lập trường giải thích bằng mầm bệnh không khí tất cả những gì trước đây ông giải thích bằng thuyết tự phát sinh.”
Ông đương nhiên có quyền giữ bất kỳ ý kiến nào ông chọn, dù là hời hợt hay không, và cũng có quyền thay đổi ý kiến; nhưng ta nghĩ mọi người sẽ đồng ý rằng điều ông không có quyền làm là tuyên bố cho riêng mình những khám phá do một người khác khởi xướng. Vậy mà, trong một cuộc thảo luận về thuyết tự phát sinh diễn ra tại Sorbonne, trong một buổi họp ngày 22 tháng 11 năm 1861 của Hiệp hội Các xứ Học giả (Sociétés Savantes), Pasteur — khi Giáo sư Béchamp có mặt ngay tại đó — đã tự cho mình công của việc chứng minh sự xuất hiện các sinh vật sống trong một môi trường không chứa chất albuminoid. Giáo sư, với lòng e dè trước sự tự quảng cáo — thứ thường đi kèm với trí tuệ cao siêu nhất — đã lắng nghe trong im lặng kinh ngạc cho đến khi phiên của chính mình đến; khi ấy, thay vì đưa ra quyền ưu tiên hợp pháp của công trình mình, ông chỉ đơn thuần kể lại các thí nghiệm được mô tả trong Bản ghi nhớ vĩ đại của ông và các kết luận rút ra từ chúng. Khi trở về chỗ ngồi — tình cờ lại ngay cạnh Pasteur — ông đề nghị ông này vui lòng thừa nhận rằng ông biết đến công trình vừa được trình bày. Bản báo cáo cuộc họp cho ta biết cách Pasteur đáp ứng lời đề nghị ấy.
“Ông Béchamp đã dẫn chứng một số thí nghiệm” [những thí nghiệm của Bản ghi nhớ năm 1857] “trong đó sự biến đổi đường mía thành đường nho dưới ảnh hưởng của không khí luôn đi kèm với nấm mốc. Các thí nghiệm này phù hợp với kết quả thu được bởi ông Pasteur, người vội vàng thừa nhận rằng sự kiện do ông Béchamp đưa ra là một trong những sự kiện chính xác nhất một cách nghiêm ngặt.”
Ta không khỏi nghĩ rằng Pasteur có lẽ cũng nên thêm một lời thừa nhận rằng người cộng sự của ông đã có mặt tại đất viễn chinh này trước ông. Một điểm khác cần chú ý là sự tự mâu thuẫn sau này của Pasteur với chính lời ông, vì công trình của Béchamp — mà ở đây ông mô tả là chính xác một cách nghiêm ngặt — sau đó lại bị chính ông buộc tội là phạm phải “một sự quá đáng”.
Ta chuyển sang Études sur la Bière (Các nghiên cứu về bia): “Tôi phải bác bỏ một yêu sách ưu tiên do ông Béchamp nêu ra. Ai cũng biết rằng tôi là người đầu tiên chứng minh rằng các chất lên men sống có thể được cấu thành hoàn toàn từ mầm bệnh của chúng đọng lại trong nước nguyên chất — nước mà người ta đã cho vào đó đường, amonia và phosphat, và được bảo vệ khỏi ánh sáng và chất lục màu. Ông Béchamp, dựa vào sự kiện cũ rằng nấm mốc sinh ra trong nước đường và, theo ông, làm nghịch đường, giả vờ đã chứng minh rằng các chất lên men sống có cấu trúc có thể sinh ra trong các môi trường không chứa chất albuminoid. Nếu muốn logic, ông Béchamp sẽ phải nói rằng ông đã chứng minh rằng nấm mốc sinh ra trong nước đường nguyên chất không có nitơ, không có phosphat hay các yếu tố khoáng khác, vì đó là một sự quá đáng có thể suy ra từ công trình của ông — công trình trong đó thậm chí không có một biểu hiện nào, dù là nhỏ nhất, của sự ngạc nhiên rằng nấm mốc đã có thể mọc trong nước nguyên chất với đường nguyên chất mà không có các chất khoáng hay hữu cơ nào khác.”
Vậy thì tại sao kẻ hôm nay bôi nhọ công trình của Béchamp này — như chúng ta đã chỉ ra trước đó — lại mô tả chính công trình ấy là sở hữu “độ chính xác nghiêm ngặt”? Hay chăng chỉ khi nó có khả năng lấn át Pasteur thì nó mới biến thành “sự quá đáng”? Và tại sao Pasteur lại bỏ qua mọi dẫn chiếu đến sự thừa nhận về không khí — không có nó thì sự hình thành nấm mốc đã không thể xảy ra được?
Vào thời Pasteur dùng nước cốt men và các chất albuminoid khác cho thí nghiệm, Béchamp, trái lại, đã đưa ra minh chứng rõ ràng rằng trong các môi trường không chứa chất albuminoid, nấm mốc vẫn xuất hiện — nấm mốc mà khi đun nóng với kali hydroxide sẽ giải phóng amonia. Bằng cùng một loạt thí nghiệm, Giáo sư đã chứng minh rằng nấm mốc, những sinh vật sống đóng vai trò chất lên men, đọng lại từ không khí và xuất hiện trong nước nguyên chất mà người ta chỉ cho thêm đường, hoặc đường và một số muối nhất định.
Vậy nên, qua lời phê bình này — “nếu muốn logic, ông Béchamp sẽ phải nói rằng ông đã chứng minh rằng nấm mốc sinh ra trong nước đường nguyên chất, không có nitơ, không có phosphat hay các yếu tố khoáng khác, vì đó là một sự quá đáng có thể suy ra từ công trình của ông” — ông Pasteur dường như tự mình phạm phải sự quá đáng đó, bằng cách rõ ràng đã hiểu sai các sự kiện mà Béchamp đã chứng minh! Béchamp đã ghi nhận rằng các bình thủy tinh được đổ đầy hoàn toàn dung dịch đường và nước cất, và không cho bất kỳ thứ gì lọt vào, thì nấm mốc không xuất hiện và đường không bị nghịch; nhưng trong các bình còn không khí, hoặc mà không khí đã được phép lọt vào, nấm mốc đã hình thành, dù các chất albuminoid có trong thí nghiệm của Pasteur là không có mặt; hơn nữa, Béchamp đã thấy nấm mốc dồi dào hơn khi người ta cho thêm một số muối nhất định, chẳng hạn nitrat, phosphat, v.v.
Giáo sư, trong tác phẩm lớn Les Microzymas (Các tiểu men) của mình, không nén nổi một lời ám chỉ mỉa mai về lời phê bình phi thường của Pasteur: “Một nhà hóa học thông thạo khoa học không nên ngạc nhiên rằng nấm mốc phát triển trong nước có đường, đựng trong bình thủy tinh, tiếp xúc với không khí. Chính điều làm nên sự ngạc nhiên của ông Pasteur mới là điều đáng ngạc nhiên!”
Khi cuộc đấu khẩu nổ ra, Pasteur không phải là đối thủ của Béchamp, và kẻ trước nhanh chóng thấy rằng lợi ích của mình sẽ được phục vụ tốt nhất bằng cách lặng im bỏ qua công trình của người sau trong khả năng có thể. Điểm yếu con người ghen tị này không còn nghi ngờ gì là một trong những nguyên nhân góp phần vào việc gác lại các khám phá quan trọng — những khám phá sau này được quy cho Büchner vào năm 1897, nhưng thực ra đã do Béchamp thực hiện trước năm 1864, năm ông lần đầu công khai dùng danh từ zymase cho chất lên men hòa tan của men và nấm mốc. Và bây giờ chính những nghiên cứu này của ông là thứ ta nên hướng sự chú ý đến.
Trước khi ta có thể đánh giá được quy mô các khám phá của Béchamp, ta phải nhận thức thấu đáo sự mù mờ của các quan điểm khoa học thời bấy giờ. Không chỉ các ảnh hưởng vật lý và hóa học được cho là đang hoạt động trong sự sinh ra tự phát của sự sống thực vật và động vật, mà lý thuyết sinh lý về lên men của Dumas còn bị gác qua một bên để nhường chỗ cho niềm tin rằng sự chuyển hóa này có trước sự xuất hiện của vi sinh vật.
Ta đã thấy ánh sáng được xua vào bóng tối này nhờ Thí nghiệm Ngọn hải đăng của Béchamp; giờ ta phải nghiên cứu lời giảng dạy mà ông suy ra từ các quan sát của mình.
Vào ngày công bố Bản ghi nhớ của ông, các nhà khoa học ít được chuẩn bị đến mức không muốn thừa nhận rằng nấm mốc có thể xuất hiện ngoài sự hợp tác của một chất albuminoid nào đó, đến nỗi thoạt đầu người ta khăng khăng rằng Béchamp hẳn phải đã dùng đường không tinh khiết. Ngược lại, ông đã dùng đường kẹo nguyên chất — thứ không sinh ra amonia khi đun nóng với vôi chua. Thế nhưng các nhà phê bình vẫn không thỏa mãn, ngay cả trước thực tế rằng lượng amonia do nấm mốc giải phóng vượt xa bất kỳ lượng nào mà một tạp chất có thể cung cấp. Bằng chứng thêm được đưa ra bởi các thí nghiệm cho thấy sự phát triển của vi sinh vật trong các môi trường khoáng — và những môi trường này không thể bị buộc tội liên quan đến bất cứ chất albuminoid nào.
Béchamp tất nhiên không phải người đầu tiên quan sát và chú ý đến nấm mốc, các vi sinh vật. Điều đó đã được làm trước ông. Điều ông làm là chứng minh một cách kết luận nguồn gốc từ khí quyển của chúng, và, trên hết, giải thích chức năng của chúng. Bất kỳ ai quan tâm đến chủ đề quan trọng này không thể làm tốt hơn là nghiên cứu Hội thảo thứ hai, hay chương, trong tác phẩm lớn Les Microzymas (Các tiểu men) của ông — nơi vấn đề được giải thích đầy đủ. Ở đây ta chỉ có thể tóm tắt vắn tắt một phần lời giảng dạy của nó.
Bằng chứng nổi bật đối diện Giáo sư trong các quan sát của ông là thực tế rằng nấm mốc, thứ xuất hiện trong nước có đường phơi ra không khí, giải phóng amonia khi đun nóng với kali hydroxide. Đó là bằng chứng cho thấy một chất hữu cơ chứa nitơ, có lẽ là chất albuminoid, đã được sản sinh và đã dùng để cấu thành nên một trong những vật chất cần thiết cho sự phát triển của một sinh vật có cấu trúc. Nó đã sinh ra từ đâu? Giáo sư tìm câu trả lời bằng cách nghiên cứu thiên nhiên. Ông mô tả cách hạt của một cây ra hoa sẽ nảy mầm, và cây xuất hiện sẽ lớn lên và phát triển, luôn nặng hơn hạt gieo ban đầu. Vậy các hợp chất hóa học tạo nên cây đã xuất phát từ đâu, khi chúng không có trong hạt? Câu trả lời, ông nói, là điều sơ đẳng nhất, và ông tiếp tục giải thích cách các cơ quan của cây non chính là bộ máy hóa học, trong đó các môi trường xung quanh — tức là nước trong đất, nơi cây đâm rễ, cung cấp các muối nitơ, và khí quyển cung cấp cho lá của nó axit cacbonic và oxy — được khả năng phản ứng và sản xuất, theo các quy luật hóa học, những hợp chất nuôi dưỡng cây và giúp cây dựng nên các tế bào, từ đó mà có mọi cơ quan của nó. Cũng theo cách ấy hành xử bào tử của nấm mucorina, thứ mà không khí mang đến dung dịch có đường. Nó phát triển, và trong thân của cây vi sinh ấy, không khí với các chất dinh dưỡng chứa trong nó, nước và các vật chất hòa tan trong dung dịch có đường phản ứng, và chất hữu cơ cần thiết được điều chế, các hợp chất được sinh ra — những hợp chất vốn không tồn tại trong môi trường ban đầu. Ông tiếp tục giải thích rằng chính vì nấm mucorina là một cây, có khả năng sản sinh chất hữu cơ, nên nó có thể phát triển trong một môi trường không chứa gì có cấu trúc. Cho sự sản sinh chất hữu cơ này, sự giúp đỡ của một số khoáng chất là không thể thiếu. Béchamp ở đây quay lại lời giải thích của Lavoisier về cách nước tấn công thủy tinh và hòa tan một phần của nó, và bản thân ông chỉ ra cách nấm mốc nhờ đó được cung cấp các vật chất đất và kiềm mà chúng cần. Lượng vật chất cung cấp theo cách này rất nhỏ, nên vụ thu hoạch nấm mốc cũng hạn chế tương ứng. Tuy nhiên, nếu cho thêm vào nước đường một số muối nhất định, chẳng hạn nhôm sunfat, kali nitrat hay natri phosphat, thì nấm mốc mọc thành từng đám lớn và sự nghịch đường diễn ra nhanh tương ứng.
“Ý nghĩa của điều này,” Béchamp nói, “là mỗi muối trong số đó đã tạo ra một điều kiện đặc biệt thuận lợi và có lẽ đã góp phần tấn công thủy tinh, nhờ đó thủy tinh nhường lại một lượng lớn hơn chất của chính nó.”
Nhưng, dẫu vậy, bí ẩn của quá trình lên men vẫn chưa thật rõ ràng nếu thiếu một lời giải thích về cách thực sự mà sự thay đổi ở đường được thực hiện, tức là đường mía được biến đổi thành đường nho.
Ở đây, một lần nữa, như ta đã thấy, Béchamp giải quyết khó khăn bằng một sự so sánh, và ông ví ảnh hưởng của nấm mốc với tác động mà diastase gây ra lên tinh bột — chất này, khi ở trong dung dịch, có đặc tính làm tinh bột phân hủy ở nhiệt độ cao, biến nó thành dextrin trước rồi thành đường sau.
Béchamp chứng minh sự so sánh của mình là đúng bằng các thí nghiệm nghiêm ngặt. Bằng cách nghiền nấm mốc xuất hiện trong các dung dịch của mình, ông thấy rằng các tế bào cấu thành nên chúng tiết ra một chất lên men hòa tan, và rằng chất này chính là tác nhân trực tiếp biến đổi đường; ông cũng đưa ra minh chứng rất rõ ràng về điều này đối với men bia. Chẳng hạn, cũng theo cách ấy, dạ dày không trực tiếp tác động lên thức ăn, mà chỉ gián tiếp qua một chất tiết gọi là dịch vị, chất chứa pepsin — một chất ít nhiều tương tự diastase và chính là tác nhân trực tiếp của những thay đổi hóa học diễn ra trong cơ quan tiêu hóa. Như vậy, chính bằng một sản phẩm hòa tan mà men bia và một số nấm mốc nhất định thực hiện sự thay đổi hóa học làm thay đổi kiểu đường. Cũng như dạ dày không thể biến đổi thức ăn nếu thiếu dịch mà nó tiết ra, men không thể đổi đường nếu thiếu một chất lên men hòa tan do các tế bào của nó tiết ra.
Tại trang 70 của Les Microzymas, Giáo sư Béchamp bắt đầu kể lại một số thí nghiệm ông tiến hành trong liên quan này. Tại đây ta có thể tìm thấy mô tả một thí nghiệm với men bia được rửa sạch hoàn toàn và sấy khô, trộn với lượng đường mía lớn hơn một chút so với trọng lượng của nó, và hỗn hợp được xử lý cẩn thận bằng creosote, toàn bộ trở nên mềm và dần dần hoàn toàn lỏng. Béchamp đưa ra lời giải thích đầy đủ về tác động này. Ông chỉ ra rằng tế bào men giống như một bọng túi kín, hay một vật chứa bao bọc một nội dung, và bị giới hạn trong không gian bởi một màng mỏng. Ở trạng thái khô — trạng thái ông dùng nó cho thí nghiệm — nó vẫn chứa hơn bảy mươi phần trăm nước, không cảm nhận được khi sờ chạc nhiều hơn lượng nước — trung bình tám mươi phần trăm trọng lượng cơ thể — chứa trong cơ thể người. Ông giải thích cách men sống, trong trạng thái tự nhiên, khi tiếp xúc với nước không để thoát ra điều gì của nội dung nó ngoài các sản phẩm bài tiết, nhưng khi tiếp xúc với đường, nó như bị kích thích, và màng bao cho phép nước cùng một số vật chất khác đang ở trong dung dịch thoát ra, và chính chất lỏng này làm lỏng hỗn hợp men và đường. Việc thoát ra của chất lỏng này, Béchamp chỉ ra, là do quá trình vật lý thẩm thấu, nhờ đó một dung dịch đi qua một màng thấm.
Như vậy, sau khi thu được sản phẩm lỏng của mình, ông pha loãng nó bằng nước và để nó lọc.
Trong khi đó, Béchamp tiến hành một thí nghiệm khác: ông hòa tan một miếng đường mía nhỏ trong nước và thấy rằng không có sự thay đổi nào xảy ra khi đun nóng nó với tartrat đồng kiềm. Sau đó ông lấy một miếng đường nhỏ khác và đun nó đến sôi với axit hydrochloric rất loãng; ông trung hòa axit bằng kali hydroxide và làm dung dịch có tính kiềm; rồi ông cho thuốc thử đồng vào và đun nóng, tại đó xảy ra sự khử, một kết tủa hình thành, lúc đầu màu vàng rồi chuyển đỏ. Nhờ axit, đường đã bị nghịch, tức là biến đổi thành hỗn hợp glucose và levulose (một thành phần của đường trái cây), chất này khử đồng đồng hai của thuốc thử màu xanh thành đồng đồng một, vốn kết tủa dưới dạng oxit đỏ.
Béchamp sau đó trở lại chất lỏng đã được lọc, và thấy rằng khi chỉ mới đun ấm nó với thuốc thử tartrat đồng kiềm thì sự thay đổi ở đường đã được thực hiện. Điều này chứng minh với ông rằng có điều gì đó ngoài nước đã thoát ra khỏi men — điều gì đó mà, ngay cả khi lạnh, vẫn có khả năng nghịch đường nhanh chóng.
Giáo sư Béchamp ở đây chỉ ra hai sự kiện phải được chứng minh rõ ràng. Thứ nhất, nếu thiếu yếu tố thoát ra đó, bản thân men là bất lực, vì khi ngâm trong nước, có cho tartrat đồng kiềm vào, sự khử không diễn ra. Thứ hai, nhiệt làm mất hoạt tính của yếu tố thoát ra đó, vì men được đun sôi với một ít nước rồi cho đường vào thì không tạo ra sự nghịch, ngay cả sau khi đã để thời gian đủ cho nó phát huy tác dụng; thuốc thử tartrat đồng kiềm không bị khử. Tóm lại, ông khám phá ra rằng nhiệt phá hủy hoạt tính của chất lên men do men và đủ loại nấm mốc tiết ra, cũng như nhiệt phá hủy hoạt tính của lúa mì đã nảy mầm, của diastase và của các chất lên men hòa tan khác, tức là các chất lên men có khả năng hòa tan trong chất lỏng.
Béchamp còn khám phá ra natri axetat là một tác nhân khác đặc biệt hiệu quả trong việc thúc đẩy sự đi qua thành tế bào của các nội dung hòa tan. Ông cho thêm vào men khô một ít tinh thể muối này, thí nghiệm trên một lượng đủ lớn. Hỗn hợp trở nên lỏng và được đổ lên một bộ lọc. Một phần natri axetat trên mười phần trở lên men, ông thấy đủ để tạo ra sự hóa lỏng. Sau đó ông lấy chất lỏng đã lọc và cho rượu vào, và một kết tủa trắng xuất hiện. Ông thu kết tủa này trên bộ lọc và rửa bằng rượu để loại natri axetat. Rượu được gạn hết, kết tủa được sấy khô giữa các nếp giấy lọc, rồi được hòa tan lại bằng nước. Kết quả là một dung dịch và một cặn không tan. Phần cặn cuối này là albumin bị đông, vốn đến từ men ở dạng hòa tan nhưng đã trở nên không tan do tác dụng đông tụ của rượu.
“Còn phần kết tủa đã hòa tan, rượu có thể kết tủa nó một lần nữa,” Béchamp nói. “Kết tủa mới này đối với men bia cũng như diastase đối với lúa mì đã nảy mầm hay synaptase đối với hạnh nhân; nó là cái nguyên tắc mà trong men thực hiện sự nghịch đường mía. Nếu hòa tan một ít nó trong nước, cho đường mía vào và giữ dung dịch vài phút trong bể cách thủy ở 40 độ, tartrat đồng kiềm chứng minh đường đã bị nghịch. Tác dụng cũng rất nhanh ở nhiệt độ thường, nhưng chậm hơn tương ứng với lượng ít hơn của sản phẩm hoạt động; điều này giải thích sự chậm chạp của các phản ứng thu được với một số nấm mốc mà tôi chỉ có thể sử dụng với lượng nhỏ. Tất cả điều này chứng minh rằng nguyên nhân của sự nghịch đường đã được định sẵn trong nấm mốc và trong men, và vì chất hoạt động, khi đã được tách riêng, tác động trong điều kiện không có axit, điều này cho thấy tôi đã đúng khi ví nó với diastase.”
Chính sau khi đã xác lập những sự kiện này mà Giáo sư Béchamp mới đặt tên cho chất hoạt động này. Ông gọi nó là zymase, từ tiếng Hy Lạp ζύμη (zyme, chất lên men). Từ này, do ông áp dụng thoạt đầu cho chất hoạt động của men và của nấm mốc, đã trở thành một thuật ngữ chung. Về sau ông gọi các zymase của men và của nấm mốc bằng tên cythozymase.
Việc Béchamp lần đầu công khai dùng danh từ “zymase” cho các chất lên men hòa tan là trong một Bản ghi nhớ về Lên men do Các Chất lên men Có cấu trúc, mà ông đọc trước Viện hàn lâm Khoa học ngày 4 tháng 4 năm 1864.
Năm sau, ông trở lại chủ đề và cho thấy có các zymase trong microzoaires và microphytes, chỗ ông tách riêng ra, như Payen và Persoz tách riêng diastase khỏi lúa mì đã nảy mầm. Các zymase này, ông thấy, nhìn chung có đặc tính biến đổi nhanh chóng đường mía thành glucose, hay đường nho. Ông khám phá ra anthrozyma trong hoa, morezyma trong cây dâu trắng, và nephrozyma ở thận động vật. Cuối cùng, năm sau đó, 1866, ông đặt tên microzyma cho khám phá đỉnh cao của mình — khám phá mà với ông là lời giải thích cơ bản cho toàn bộ câu hỏi, và khám phá mà khi ông bất tử hóa các thí nghiệm đầu đời trong Bản ghi nhớ năm 1857 thì nó còn chưa lộ ra với ông: nhưng điều này chúng ta phải để dành cho dịp khác. Ở đây chúng ta đã nêu các ngày tháng này để cho thấy từ bao lâu nay Giáo sư Béchamp đã hoàn thành khám phá đầy đủ về chất chứa nitơ hình thành trong tế bào men — chất mà ông đặt tên là zymase.
Bên cạnh lẽ công bằng trong việc dành công cho đúng nơi đáng công, chỉ vì mục đích tính chính xác của lịch sử, cũng đáng muốn rằng chính khám phá của ông được công nhận công khai cho ông. Thay vào đó, trong Encyclopedia Britannica (Bách khoa toàn thư Anh), ta thấy, trong bài viết về “Lên men” của Julian Levett Baker, F.I.C., có nói rằng “năm 1897, Büchner nén men dưới áp lực lớn và tách riêng một chất chứa nitơ, có tính enzym, mà ông gọi là zymase”. Lại nữa, ta lấy cuốn A Manual of Bacteriology (Sổ tay Vi sinh vật học) của R. Tanner Hewlett, M.D., F.R.C.P., D.P.H. (Lond.), F.R.C.P., và đọc: “Cho đến năm 1897, chưa có enzyme nào thu được có thể thực hiện sự thay đổi này [lên men rượu]; nó chỉ xảy ra khi các tế bào men sống có mặt, nhưng trong năm đó Büchner, bằng cách nghiền nát các tế bào men sống, thu được một dịch phân hủy dextrose tạo thành rượu và axit cacbonic. ‘Zymase’ này, Büchner tuyên bố, là enzyme rượu của men.” Còn nữa, Giáo sư và Bà Frankland, trong cuốn Pasteur của họ, trong khi xin lỗi cho một số quan điểm sai lầm của người sau, viết như sau: “Trong năm nay [1897], khám phá đã được E. Büchner thực hiện rằng một nguyên tắc hòa tan gây ra sự lên men rượu của đường có thể được chiết xuất từ tế bào men, và cho nguyên tắc này cái tên zymase được đề xuất. Khám phá quan trọng này cần được cho là sẽ ném ánh sáng mới lên lý thuyết về lên men.”
Nhưng “khám phá quan trọng” này, như ta đã thấy ở trên, đã được một người Pháp thực hiện gần nửa thế kỷ trước đó!
Đúng là Pasteur đã buộc tội Béchamp đã lấy ý tưởng của mình từ Mitscherlich. Béchamp không những đã bác được điều này, mà còn chỉ ra rằng chính Pasteur mới là người đã theo quan điểm của nhà khoa học Đức, và hơn nữa, trên một điểm mà vị này rõ ràng đã lầm.
Như vậy rõ ràng là Béchamp là người đầu tiên đưa ra bằng chứng hữu hình không chỉ về nguồn gốc từ không khí của men và nấm mốc, mà còn về cách chúng hoạt động về mặt sinh lý và hóa học. Khi ông bắt đầu công trình, chẳng có lời giảng dạy nào sẵn có để ông đạo văn, dù cho việc đạo văn có khả thi đối với một học giả khoa học sâu sắc và trung thực đến vậy — người từng bước lần theo mọi quan sát đã có trước công trình của mình. Không may, chính ông là kẻ bị bọn đạo văn rình mồi, và, đau buồn thay, điển hình nhất trong số đó dường như lại chính là kẻ đã cố làm giảm giá trị công trình ông và mang cái tên nổi tiếng thế giới Pasteur! Hãy dừng lại đây để theo dõi bước tiến của kẻ sau và cách kẻ đó giành lấy công của khám phá lớn lao của Béchamp về những đạo quân xâm lăng từ khí quyển — các vi sinh vật với khả năng lên men của chúng.
Một trong những yếu tố chính của thành công Pasteur là tốc độ mà ông đẩy mình lên hàng đầu của bất kỳ câu hỏi khoa học nào, từ đó tập trung sự chú ý của công chúng vào chính ông. Những lời giải thích sáng tỏ của Béchamp về các vấn đề cổ xưa lại tiện dị đúng vào lúc ông Pouchet đưa cuộc tranh luận về thuyết tự phát sinh trở lại ánh sáng của sự quan tâm chung. Pasteur, nắm lấy cơ hội, bước vào đấu trường, và, như Béchamp nhận xét, vì các quan sát của ông Pouchet cũng thiếu chính xác như của Pasteur, kẻ sau không khó gì nổi lên như người chiến thắng, thật sự gây ấn tượng với giới khoa học.
Vậy là kẻ từng dạy rằng men và mọi loại vi sinh vật đều sinh ra tự phát, giờ lại giảng về các mầm bệnh trong không khí với một nhiệt tình gần như trẻ con, và bắt đầu đồng nghĩa sự sống với các sinh vật khí quyển. Theo quan điểm mới của ông, không chỉ quá trình lên men do các mầm bệnh có sẵn từ không khí gây ra, mà mỗi mầm bệnh còn tạo ra một dạng lên men đặc hiệu riêng nhất định. Tại đây ông xung đột với Béchamp, vì theo lời giải thích sinh lý của vị sau, mỗi vi sinh vật có thể thay đổi tác dụng lên men của mình cho phù hợp với môi trường nó đang ở; nó thậm chí có thể đổi hình dạng, như các nhà nghiên cứu hiện đại đang thấy. Pasteur, tuy nhiên, tiến hành gán cho mỗi mầm một chức năng cố định và bất biến. Năm 1861, tuyên bố phát hiện ra một loài vibrio butyric đặc biệu mà ông nghĩ chỉ có thể sống thiếu không khí, ông phân chia sinh vật thành hai loại: hiếu khí và kỵ khí, hay những sinh vật cần không khí và những sinh vật sinh sôi khi không có nó. Lên men, ông định nghĩa, là sự sống thiếu oxy. Phán quyết của thời gian — nơi chính ông đã gửi mọi nhà khoa học đến để chờ xét xử cuối cùng — hầu như không có lợi cho ông. Chẳng hạn, theo lời một người ca ngợi ông trong bài viết về “Lên men” của Julian Levett Baker, F.I.C., trong Encyclopedia Britannica, ta đọc: “Theo Pasteur… ‘lên men là sự sống không có không khí, hay sự sống không có oxy. Lý thuyết về lên men này đã được A. J. Brown sửa đổi đáng kể vào năm 1892 và 1894 bằng các thí nghiệm mâu thuẫn với định ngôn của Pasteur.’”
Chính Pasteur, trong các cuộc tranh luận cả với ông Trécul lẫn với Ủy ban Turin điều tra biện pháp dự phòng bệnh than của ông, đã buộc phải thừa nhận rằng các sinh vật kỵ khí có thể dần được làm quen với không khí mà không trở thành chất lên men, và các sinh vật hiếu khí có thể trở thành chất lên men. Như vậy chính ông đã phá hủy phân loại của mình. Thế nhưng mô tả không thể bảo vệ được này lại là điểm tựa chính của Pasteur cho yêu sách sau này cũng không thể bảo vệ được: rằng ông là người đầu tiên coi lên men là hiện tượng của dinh dưỡng và đồng hóa. Trong một tuyên bố của ông năm 1872, lặp lại trong Études sur la Bière, ta thấy lời giảng dạy hoàn toàn trái ngược: “Điều tách biệt hiện tượng hóa học của lên men khỏi một loạt các hành động khác, và đặc biệt khỏi các hành động của đời sống thường nhật, là việc phân hủy một khối lượng vật chất lên men lớn hơn nhiều trọng lượng của chất lên men.”
Còn hành động nào của “đời sống thường nhật” tất yếu hơn hành động dinh dưỡng và tiêu hóa mà nhà hóa học nổi tiếng lại tách lên men ra khỏi nó? Pasteur ở đây chỉ đang chiếm đoạt chính ý tưởng sinh lý kỳ lạ ấy mà một người theo phe ông, ông Duclaux, đã phát biểu từ năm 1865: “Khi trong quá trình lên men rượu của chúng ta, ta thấy một khối lượng đường nhất định được biến thành rượu bởi một lượng men nhỏ hơn gấp trăm, thậm chí gấp nghìn lần, thì thật rất khó tin rằng lượng đường này từng là một phần của vật chất cấu tạo nên men, và rằng thứ còn lại (rượu) là một sản phẩm bài tiết.”
Có vẻ lạ rằng các nhà khoa học cần phải chờ lời giải thích sinh lý đơn giản sau đây của Giáo sư Béchamp: “Giả sử một người đàn ông trưởng thành sống một trăm năm, trung bình nặng sáu mươi ki-lô-gam: trong thời gian ấy, ngoài các thức ăn khác, ông sẽ tiêu thụ lượng thịt tương đương hai mươi nghìn ki-lô-gam và sản sinh ra khoảng tám trăm ki-lô-gam urê. Vậy có nên nói rằng không thể thừa nhận khối lượng thịt và urê này có thể, tại bất kỳ thời điểm nào trong đời ông, đã là một phần của con người ông? Cũng như một người chỉ tiêu thụ toàn bộ lượng thức ăn ấy bằng cách lặp lại cùng một hành động rất nhiều lần, tế bào men tiêu thụ khối lượng đường lớn lao ấy chỉ bằng cách không ngừng đồng hóa và khử hóa nó từng chút một. Vậy thì thứ chỉ một người tiêu thụ trong một trăm năm, một số người đủ lớn sẽ hấp thu và tạo ra trong một ngày. Cũng vậy với men; lượng đường mà một số ít tế bào chỉ tiêu thụ trong một năm, một số đông hơn sẽ phá hủy trong một ngày; trong cả hai trường hợp, cá thể càng đông thì sự tiêu thụ càng nhanh.”
Chính việc phải cần đến một lời giải thích như vậy đã chứng minh rằng Pasteur đã không hiểu rằng lên men là do các quá trình sinh lý hấp thu và bài tiết. Sẽ mất quá nhiều thời gian để lần theo các ví dụ đa dạng xác nhận lời phê bình này, và, dĩ nhiên, những rắc rối khoa học hóc hiểm nằm ngoài tầm hiểu của công chúng — phần lớn trong số họ, không biết gì về các quá trình cần cho thức ăn họ đưa vào cơ thể mình, lại càng ít khả năng mường tượng dù mờ mờ về các chức năng dinh dưỡng của những sinh vật không nhìn thấy được nếu không qua kính hiển vi! Họ chẳng quan tâm gì việc, giữa các báo cáo học thuật của Viện hàn lâm Khoa học, có thể tìm thấy các luận văn của một giáo sư làm việc tại Montpellier, giải thích rõ ràng cái tại sao và cái do đâu của những thay đổi hóa học phức tạp mang tên lên men. Nhưng, ngược lại, ai ai cũng từng nghe — chủ đề đã được bàn tán rộng đến thế — về cuộc tranh luận xem sự sống, trong các hình thức thấp hơn của nó, có luôn luôn sinh ra từ sự sống có trước, hay các kết hợp hóa học có thể tự sản sinh ra sự sống độc lập với cha mẹ. Công chúng cũng có thể theo dõi câu chuyện chuyến du lịch của ông Pasteur đi truy lùng câu hỏi. Chẳng cần vắt kiệt óc là ai cũng hiểu được chuyện các bình thủy tinh mà ông mở nắp, có bình bên đường đầy bụi, có bình trên đỉnh núi Alpine. Vì bụi nhìn thấy được có thể làm đục một chất lỏng, nên dễ hiểu rằng mầm bệnh trong không khí, không nhìn thấy được, cũng có thể tác động đến nội dung các lọ của nhà khoa học. Những sinh vật nhỏ li ti lơ lửng trong khí quyển cũng chẳng khó tưởng tượng, và Pasteur bắt đầu nói về chúng với nhiệt tình đến mức chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ấn tượng được tạo ra rằng chính ông là người đầu tiên chứng minh chúng; nhất là khi sự ngoan cố mà cả một loạt nhà khoa học từ chối tán thành quan điểm ông còn khiến ông tỏ ra như nhà vô địch đặc biệt hạ gục phái tự phát sinh — phe mà ông vừa mới quay lưng lại từ trước đó không lâu.
Suốt thời gian ấy, dù có sự bảo trợ có ảnh hưởng của ông Biot, Pasteur vẫn đứng ngoài vòng tròn chọn lọc của các Viện sĩ. Nhưng cuối năm 1862, như ta đã nói, cuối cùng ông cũng được Ban Khoáng vật học đề cử. Vừa mới khởi đầu quá trình ứng cử, người ta đã bắt đầu phản đối các kết luận ban đầu của ông về tinh thể học. Tuy nhiên, với ba mươi sáu trên sáu mươi phiếu, ông giành lấy chỗ đứng mong ước trong Viện hàn lâm Khoa học; và, khuyên nên bỏ tinh thể học, ông tiến hành thí nghiệm thêm theo quan điểm mới về các sinh vật từ không khí.
Để thu được vật chất không có bụi khí quyển, ông quan sát cơ, sữa, máu, v.v. lấy từ bên trong cơ thể. Ngay từ đầu, ông không thể không bị thiệt thòi vì thiếu huấn luyện y khoa. Quan điểm của ông là của nhà hóa học. Theo quan niệm của ông — như Béchamp chỉ ra — cơ thể động vật diệu kỳ được ví như rượu trong thùng hay bia trong vại. Ông coi cơ, sữa, máu và những thứ tương tự chỉ là hỗn hợp các nguyên tắc gần kề về hóa học. Đúng là ông có phân biệt một chút giữa bên trong một cơ thể sống và bên trong một vại bia hay một thùng rượu, vì ta thấy ông nói rằng cái thứ nhất “được ban cho các năng lực chuyển hóa mà sự sục sôi phá hủy” (vertus de transformation que l’ébullition détruit). Béchamp ở đây chỉ ra tâm trí Pasteur đã quay lại niềm tin cũ kỹ về sự biến đổi tự phát. Không thừa nhận gì trong cấu tạo của cơ thể động và thực vật là vốn đã sống, mục tiêu của ông là chỉ ra rằng thịt, sữa, máu, v.v., sẽ giữ nguyên nếu được bảo vệ hoàn toàn khỏi sự xâm nhập của các sinh vật trên không. Và khi, về sau, ông chép lại một thí nghiệm mà Béchamp đã tiến hành trên thịt, và thấy trong quan sát của chính mình rằng, dù đã phòng ngừa mầm bệnh không khí, khối cơ của miếng thịt vẫn bị hư, ông buộc phải rơi trở lại, để giải thích, vào những “năng lực chuyển hóa” mơ hồ, huyền bí.
Cũng theo cách ấy, trước sự phát triển diệu kỳ của một quả trứng thành một con chim, ông chẳng có lời giải nào ngoài chính những năng lực chuyển hóa bí ẩn ấy. Làm sao có thể nói rằng ông đã phá hủy niềm tin vào thuyết tự phát sinh, khi ông chỉ có thể quy sự phát triển kinh ngạc — chẳng hạn của các tế bào một quả trứng thành bộ máy tuần hoàn, hệ xương và thần kinh, tuyến, cơ quan, và cuối cùng một con chim phủ lông — cho một sự biến đổi tự phát? Vì một sự biến đổi tự phát thì phải có, nếu chất của quả trứng chỉ là một hỗn hợp hóa học cùng loại với rượu hay bia.
Cái mà Pasteur gọi là “các năng lực chuyển hóa” có khác gì cái mà Bonnet gọi là “sự biến đổi tuyệt vời”, thứ tổ chức hóa chất vật, hay có khác gì “nisus formativus”, các lực sản sinh, thực vật và đất sét, mà Needham, rồi sau là Pouchet, những người tin vào thuyết sinh ra tự phát, đã bằng lòng dùng để giải thích hiện tượng? Pasteur dường như chỉ đổi từ cũ bằng từ mới.
Nhưng, một lần nữa, những rắc rối như vậy cũng ngoài tầm hiểu của công chúng. Người đàn ông ngoài phố không đào sâu hơn mặt phẳng lý luận rằng các chất dễ thay đổi có thể được bảo quản bằng cách loại không khí, và vì khí quyển được nói là đầy mầm bệnh sống thì chẳng cần vắt óc nữa về khả năng sự sống hiện ra từ các nguồn hóa học thuần túy. Người sùng đạo cảm thấy biết ơn đúng mức trước các quan điểm dường như chống lại xu hướng duy vật của thế kỷ XIX, và hoàn toàn ngây thơ trước tính chất nông cạn của sự mâu thuẫn ấy. Trong khi đó, chuyện tranh luận và các chiến tích của ông Pasteur lọt đến tai Hoàng đế, kẻ, như hầu hết các bậc thống trị, cảm thấy bổn phận phải bảo trợ khoa học đương thời. Chẳng bao lâu sau khi được bầu vào Viện hàn lâm Khoa học, ông Pasteur, vào tháng 3 năm 1863, có vinh dự được tiến kiến Napoléon III tại điện Tuileries.
Như thường lệ, vô số người giao tiếp của ông báo tin là họ được thông báo ngay về cuộc gặp, vì con rể ông kể cho ta: “Pasteur viết ngày hôm sau” (cho ai thì ông không nói), “tôi đã trấn an Hoàng đế rằng mọi tham vọng của tôi là đi đến hiểu biết về nguyên nhân của các bệnh thối rữa và truyền nhiễm.”
Ở đây ta có một minh họa thú vị về sự tương phản giữa phương pháp của Pasteur và của Béchamp. Như ta đã thấy, cho đến tận năm 1860, các Bản ghi nhớ của Pasteur chứa đựng quan điểm tự phát sinh. Giờ mới chỉ năm 1863, ông vừa mới đổi lập trường. Vậy mà rõ ràng đã, trước khi bất kỳ bằng chứng nào có thể được đưa ra áp dụng vào vấn đề, Pasteur trong tâm trí đã nối các chất lên men trên không với một ý cũ, do các nhà khoa học trước — Linné, Raspail và những người khác — phát biểu, rằng các sinh vật đặc hiệu có thể là nguyên nhân của các bệnh đặc hiệu. Kẻ tốt nhất và kẻ tệ nhất trong chúng ta luôn thuyết giảng chống lại chính điểm yếu cá nhân của mình; và vì thế Pasteur đã đúng khi trích một nhà văn lớn đã tuyên bố rằng “sự rối loạn lớn nhất của tâm trí là tin vào những điều vì ta muốn chúng là thật”. Ông hoàn toàn có thể nhận thức được mối nguy ấy, vì đó là điều mà ta thấy ông đã mắc phải.
Thái độ của Béchamp đối với công trình mình trái ngược hoàn toàn. Ông không để trí tưởng tượng tự do cho đến khi đã chất vấn Tự nhiên. Mãi đến khi đã nhận được câu trả lời trực tiếp cho một yêu cầu trực tiếp, ông mới cho phép tâm trí mình bay theo các khả năng kéo theo, và ngay cả lúc ấy các thí nghiệm vẫn chấm phá lộ trình dẫn tới kết luận của ông. Tóm lại, ông không chỉ đạo Tự nhiên và quyết định mình muốn khám phá điều gì. Ông để Tự nhiên chỉ đạo ông, và làm cho các khám phá của mình tuân theo những gì bà hé lộ.
Với Pasteur may mắn, sự bảo trợ của Hoàng đế không phải chữ trên giấy. Bốn tháng sau lễ tiến kiến Napoléon, tháng 7 cùng năm, ông nhận được sự khuyến khích trực tiếp từ ngài để chú ý đến các bệnh rượu vang đang làm hỏng thương mại rượu Pháp. Một lần nữa Pasteur bắt đầu một chuyến đi khoa học trong kỳ nghỉ, lần này đến các vườn nho, và với phúc lành của Hoàng đế để soi đường.
Trong khi đó, các đối thủ của ông, các ông Pouchet, Joly và Musset, noi gương ngày xưa của ông và leo núi, thử không khí thu trong các lọ thủy tinh nhỏ. Họ trở về ăn mừng thắng lợi, vì dù họ đã đóng kín lọ ở cao hơn ông Pasteur cả nghìn mét, nội dung lọ của họ vẫn bị biến đổi.
Ta chẳng cần bàn ở đây chuyện thiên hạ xôn xao về vấn đề này và lời tuyên bố của ông Flourens ủng hộ Pasteur tại Viện hàn lâm Khoa học. Chỉ cần nói rằng vấn đề sâu xa về thuyết tự phát sinh trở nên phổ biến đến mức khi Pasteur bước vào giảng đường Sorbonne tối ngày 7 tháng 4 năm 1864, để giảng về chủ đề ấy, mọi chỗ ngồi còn trống đều chật kín, không chỉ bởi các giáo sư uyên bác, mà còn bởi các nhân vật văn chương nổi tiếng, trong đó có Alexandre Dumas và George Sand, cùng Công chúa Mathilde và toàn bộ tầng lớp thượng lưu thời thượng nổi danh của Paris. Và, may cho nhóm phù phiếm ấy, ông Pasteur chẳng có gì cao siêu mấy để đưa ra trước họ. Ông chỉ đơn thuần khẳng định sự bất khả thi của việc xoá bỏ cha mẹ — một chủ đề dễ khơi chuyện trò chế giễu hơn là lý luận sâu sắc. Ông kết thúc bằng giải thích một thí nghiệm trong đó bụi không khí đã bị loại khỏi một chất lỏng dễ thối rữa, và hậu quả là không con vật nào lộ ra. Để trích lời chính ông: “Nó câm lặng vì tôi đã giữ nó khỏi điều duy nhất con người không thể tạo ra, khỏi các mầm bệnh lơ lửng trong không khí, khỏi Sự sống, vì Sự sống là một mầm và một mầm là Sự sống. Thuyết tự phát sinh sẽ không bao giờ hồi sinh sau đòn chí mạng của thí nghiệm đơn giản này.”
Chẳng có một lời nào nói về việc chân lý từng phần này đã được đi đến từ bao năm trước, xa về tận năm 1857, bởi người cùng thời với ông, Giáo sư Béchamp. Chẳng có sự thừa nhận nào về Bản ghi nhớ vĩ đại đã soi sáng bước đi của Pasteur và vén cho ông thấy những sai lầm ban đầu. Ông lấy cho mình toàn bộ công, và cái gì bị lấy đủ mạnh thì công chúng hiếm khi cố giữ lại. Ta có thể hình dung khán giả thời thượng ra về, tự hào đã hiểu chủ đề đang được bàn, như họ chắc hẳn tưởng, và sung sướng với diễn giả vì đã chứng minh họ khoa học và thông minh hơn nhiều so với những gì họ từng tự nghĩ. Pasteur trở thành đối tượng được Xã hội che chở; Giáo hội ban phúc cho ông; Hoàng đế mời ông cuối năm 1865 dùng một tuần tại Cung Compiègne. Tên tuổi và danh tiếng của ông được xác lập. Ta còn lạ gì mà các nhà khoa học chưa từng được vinh dự như vậy lại chần chừ chống lại kẻ được số phận ưu đãi này — kẻ tự nhiên được chọn ra để đảm nhận các sứ mệnh khoa học.
Nhưng hãy dừng một chút và xem xét bài giảng nổi tiếng của ông tại Sorbonne — cuối cùng trong đó có gì? Ông chỉ đơn thuần quy cho các mầm bệnh không khí một đặc chất bí ẩn — sự sống — mà ông phủ nhận ở các bộ phận cấu thành của những sinh vật động và thực vật phức tạp hơn nhiều. Về nguồn gốc, cội nguồn của các mầm bệnh khí quyển của mình, ông không đưa ra lời giải thích nào, và từ đó đến nay cũng chẳng có ai trong vô số người theo ông tìm ra, đối với họ lời mô tả “sự sống là một mầm và một mầm là sự sống” chẳng bao lâu biến thành “bệnh là một mầm và một mầm là bệnh” — một tiên đề được đèn còng dựng nên, rắc rối vô cùng tận.
Phải chăng Pasteur đúng ngay cả trong việc phủ nhận sự biến đổi ngoài các sinh vật từ không khí? Trong chính thí nghiệm trên thịt của mình, ông đã phải thừa nhận rằng thịt bị hư. Giả định rằng đó là do lỗi vận hành thì không giải thích được sự xuất hiện của vi sinh vật trong các trường hợp mà không mầm bệnh không khí nào có thể giải thích nguồn gốc của chúng. Vậy nên, lời khoe khoang của Pasteur trong bài giảng rằng đã giáng một “đòn chí mạng” vào thuyết tự phát sinh đã không được thực hiện thật sự. Không chỉ người cùng thời ông là Pouchet không bao giờ thỏa mãn, mà công trình sau này của ông Gustave Le Bon và của Tiến sĩ Charlton Bastian còn được cho là chứng minh, theo quan điểm của họ, sự sản sinh các sinh vật có cấu trúc từ vật chất vô cơ.
Giáo sư Bastian khẳng định: “Chất sống có thể đã liên tục sinh ra khắp bề mặt trái đất từ khi con người đầu tiên xuất hiện trên nó; vậy mà việc không một thành viên nào của loài người từng thấy (hay từng có khả năng thấy) một lần sinh ra như vậy không ném chút nghi ngờ nào vào xác suất xảy ra của nó.”
Giáo sư Bastian dựa niềm tin này trên các quan sát như thí nghiệm của ông với “cyclops quadricornis, một trong các loài Entamostraca thường thấy ở ao”. “Nếu ta lấy một trong những sinh nhỏ bé này,” ông viết, “đặt vào một giọt nước cất, trên một lam kính với một mảnh kính phủ mỗi bên của nó, rồi đặt một lam phủ lên trên tất cả, sẽ thấy con vật nhanh chóng bị giết bởi trọng lượng của lam phủ, dù các mảnh kính ngăn thân thể nó vỡ. Ta có thể đặt lam kính hiển vi vào một đĩa Petri chứa một lớp nước mỏng (để ngăn bay hơi từ bên dưới lam phủ), rồi chọn một trong các sợi đuôi (chúng lớn hơn các sợi ở chân bụng) và quan sát nó thường xuyên. Điều quan sát được là thế này. Sau khoảng hai ba ngày (thời gian tuỳ nhiệt độ không khí lúc đó), dưới vật kính lớn của kính hiển vi, ta thấy dần dần, ngày càng nhiều, xuất hiện những đốm li ti không nhúc nhích, khó thấy, giữa protoplasm đã chết, và sau nữa, ta thấy một số đốm ấy lớn lên thành vi khuẩn… Cuối cùng toàn bộ bên trong gai đầy những vi khuẩn rõ rệt. Sau ấy nữa, tất cả vi khuẩn, trước đây bất động, bắt đầu chuyển động quay cuồng. Trong trường hợp như vậy, rõ ràng ta không phải đối diện một quá trình lây nhiễm từ bên ngoài, mà với một nguồn gốc hoàn toàn mới của vi khuẩn từ nội dung protoplasm của các gai hay sợi đuôi. Việc chúng xuất hiện ở những chỗ này chỉ như những đốm rời rạc, bất động, và dần dần mang hình dạng vi khuẩn (cũng bất động ban đầu) chính là, như tôi đã chỉ ra trước đó, điều ta có thể mong đợi nếu chúng thật sự đã có nguồn gốc từ chỗ chúng xuất hiện. Ngược lại, cách xuất hiện ấy hoàn toàn trái với điều ta có thể mong đợi nếu các vi sinh vật đã lọt vào từ bên ngoài, xuyên qua lớp vỏ chitin bền của các gai.”
Giáo sư Bastian đưa ra vô số ví dụ về việc tìm thấy vi khuẩn trong các cơ quan nội tạng động vật và trong trái cây và rau, nơi ông chứng minh sự bất khả của một cuộc xâm nhập. Phái theo Pasteur có thể đưa ra lời giải nào cho bí ẩn ấy? Nếu không, phải thừa nhận rằng chẳng có “đòn chí mạng” nào vào thuyết tự phát sinh được Pasteur giáng ra, như ông đã hãnh diện khoe. Kẻ giáng đòn, hay ít nhất kẻ cung cấp lời giải thích, ngoài thuyết dị sinh, không phải nhà hóa học Pháp đang thuyết giảng cho khán giả thời thượng gồm “toàn bộ Paris”, mà là một giáo sư và thầy thuốc người Pháp làm việc cần mẫn, cũng là nhà hóa học và nhà tự nhiên học, kẻ ít tham gia vào mọi cuộc bàn tán vì ông bận rộn đến thế giành giật những bí mật mới từ Tự nhiên.
Cho dù đã chứng minh trước Pasteur, và kỹ hơn nhiều, vai trò của các sinh vật từ không khí, người ta vẫn có thể hỏi các quan sát của Béchamp đã làm sáng tỏ chỗ sâu hơn nào của bí ẩn dị sinh.
Câu trả lời là, trong Bản ghi nhớ năm 1857, Giáo sư đã không đưa vào một số quan sát của mình. Lý do bỏ qua là vì các kết quả ông thu được dường như quá mâu thuẫn để có thể chính xác. Tin rằng mình đã lầm ở đâu đó, ông gác riêng các thí nghiệm ấy sang một bên tạm thời. Rốt cuộc, như các trang sau đây hy vọng sẽ trình bày, sự thất bại rõ ràng ấy lại là lời giải cho vấn đề, và là, ít nhất theo niềm tin của ông, lời giải thích cơ bản về sự phát triển của sự sống có cấu trúc từ những khởi đầu tí hon nhất. Thực ra, nó sẽ là, theo ông, lời làm sáng gần nhất từng được đưa ra về sự dựng thân của động và thực vật, về các quá trình của khỏe mạnh, bệnh tật và phân rã cuối cùng. Tóm lại, nó sẽ giật từ Tự nhiên chân lý to lớn, mà trong lời chính vị đại sư, vang lên như tiếng kèn: “Rien n’est la proie de la mort; tout est la proie de la vie!” — “Không gì là mồi của cái chết; tất cả là mồi của sự sống!”
Microzyma — hạt nhỏ trong tế bào mà Béchamp cho là chủ thể của sự sống và của bệnh tật.
Cũng như có những nhạc sĩ dường như sinh ra đã có năng khiếu tự nhiên cho một nhạc cụ nhất định, trong thế giới khoa học thỉnh thoảng lại xuất hiện những người dường như được ban tặng đặc biệt cho việc sử dụng dụng cụ kỹ thuật. Không còn nghi ngờ gì, chính tài nghệ phi thường của Giáo sư Béchamp với kính hiển vi, cùng con mắt của thiên tài, đã cho phép ông ngay từ đầu công trình quan sát được nhiều điều mà những người khác bỏ qua khi dùng kính hiển vi; trong khi bộ óc sáng chế của ông dẫn tới một ứng dụng của máy đo phân cực đã giúp ông rất nhiều. Năng lực của ông kết hợp ở mức độ đáng chú ý phần thực hành và phần lý thuyết. Thay vì thất bại như nhiều người có bộ óc lớn khi cần đến khéo tay, những ngón tay nhanh nhẹn và đôi mắt tinh tường của Giáo sư luôn là trợ thủ nhanh nhẹn của trí tuệ vĩ đại của ông.
Ngay từ những quan sát đầu tiên, ông nhanh chóng chú ý tới những vật thể vi mô nhỏ bé, cỡ nhỏ hơn hẳn các tế bào của sinh vật ông xem xét. Ông hoàn toàn không phải người đầu tiên quan sát chúng; những người khác đã làm điều đó trước ông; nhưng dù họ đặt cho chúng những tên như “hạt lấp lánh”, “hạt phân tử”, và cứ thế, chẳng ai sáng mắt thêm được gì về tính chất và chức năng của chúng. Phần lớn điều đã nói về chúng được tóm lại trong định nghĩa của Charles Robin trong Từ điển Y học và Phẫu thuật (1858), trong đó ông mô tả sự tí hon của “những hạt rất nhỏ cấu tạo từ chất có cấu trúc” thấy trong mô, tế bào, sợi và các yếu tố giải phẫu khác của cơ thể, và dồi dào nhất trong các chất lao và các chất bệnh lý khác.
Béchamp, luôn cẩn trọng đến thế để tránh các kết luận không có cơ sở, đã không để trí tưởng tượng của mình bay xa về chúng. Thoạt đầu ông chỉ ghi nhận chúng và đặt cho chúng cái tên trung lập “những vật thể nhỏ”. Ông chẳng có thêm chút sáng tỏ nào về chúng vào lúc nhiệm vụ mới đưa ông đến Montpellier, và tại đó ông kết thúc các quan sát đã bắt đầu tại Strasbourg, mà ông kể lại và giải thích trong Bản ghi nhớ năm 1857. Người ta sẽ nhớ rằng trong nhiều thí nghiệm này, Giáo sư đã dùng nhiều muối khác nhau, trong đó có kali cacbonat, khi có nó thì sự nghịch đường mía không xảy ra, dù creosote không có mặt. Một thí nghiệm khác ông làm là thay kali cacbonat bằng canxi cacbonat dạng phấn. Ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng dù đã cho thêm creosote để ngăn sự xâm nhập của mầm bệnh khí quyển, đường mía vẫn bị nghịch, hay biến đổi theo cách nào đó. Về creosote, Béchamp đã chứng minh rằng dù nó là chất ngăn sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai, nó không có tác dụng gì trong việc cản trở sự phát triển của nấm mốc đã có mặt trong môi trường. Các thí nghiệm trong đó ông cho phấn vào, tuy nhiên, dường như mâu thuẫn kết luận này, vì trong các trường hợp ấy creosote tỏ ra không thể ngăn được sự nghịch đường. Ông chỉ có thể tin rằng sự mâu thuẫn là do lỗi vận hành nào đó; nên ông quyết định đào sâu thêm vào bí ẩn, và tạm thời bỏ khỏi Bản ghi nhớ mọi dẫn chiếu đến các thí nghiệm trong đó phấn tỏ ra là yếu tố gây rối.
Công trình Giáo sư Béchamp tiến hành trong liên quan này là bài học về sự tỉ mẩn trong nghiên cứu. Đầu tiên, ông cho chuyển vào phòng thí nghiệm, với những biện pháp phòng ngừa lớn lao chống không khí tiếp xúc, trước hết một ít phấn, sau đó một khối đá vôi. Tiếp theo, ông chứng minh bằng vô số thí nghiệm rằng khi mọi lối vào của không khí bị chặn hoàn toàn, không có thay đổi nào xảy ra trong dung dịch đường dù có cho canxi cacbonat hoá học tinh khiết, CaCO3, vào, nhưng ngay khi phấn thông thường, dù là phấn từ khối ông bảo quản đặc biệt, được cho vào thì lên men xảy ra, dù lối vào của mầm bệnh khí quyển đã được phòng ngừa hoàn toàn. Không lượng creosote nào, dù tăng liều, có thể ngăn được sự nghịch đường.
Béchamp tất nhiên vô cùng ngạc nhiên khi thấy một khoáng vật, một tảng đá, có thể đóng vai trò chất lên men. Ông thấy rõ rằng phấn hẳn phải chứa điều gì đó ngoài canxi cacbonat. Nên ông gọi người đồng minh tốt của mình, kính hiển vi, đến giúp. Làm việc với độ phóng đại cao nhất có được, ông tiến hành cuộc điều tra tỉ mỉ cả canxi cacbonat nguyên chất lẫn phấn ông đã dùng cho thí nghiệm. Ông vô cùng kinh ngạc khi thấy ở vị sau những “vật thể nhỏ”, giống những vật thể ông đã ghi nhận trong các quan sát khác, trong khi ở vị trước chẳng thấy gì như vậy. Hơn nữa, trong khi trong tiêu bản canxi cacbonat mọi thứ đều mờ đục và bất động, trong tiêu bản phấn thì các “vật thể nhỏ” bị chuyển động bởi một chuyển động giống chuyển động được biết đến là “Brownian” theo tự nhiên học gia Robert Brown, nhưng Béchamp phân biệt nó với chuyển động ấy. Các “vật thể nhỏ” này phân biệt được nhờ cách chúng khúc xạ ánh sáng so với môi trường mờ đục xung quanh. Chúng nhỏ hơn bất kỳ microphyte nào thấy cho đến lúc đó trong các quá trình lên men, nhưng lại mạnh hơn như một chất lên men bất kỳ chất nào đã biết, và chính vì hoạt tính lên men đó mà ông coi chúng là sống.
Để đánh giá đúng quy mô khám phá mà Béchamp đang lơ lửng bên bờ, ta phải nhắc mình nhớ các quan điểm khoa học thời bấy giờ. Các quan sát của Giáo sư được thực hiện vào lúc hầu hết người ta tin vào quan điểm của Virchow về tế bào là đơn vị sự sống trong mọi hình thức, thực vật và động vật, và các quan điểm tự phát sinh được một bộ phận lớn các nhà thực nghiệm giữ, trong đó có Pasteur lúc bấy giờ. Giữa sự lộn xộn của các ý tưởng này, Béchamp bám chặt hai tiên đề: Thứ nhất, không có thay đổi hóa học nào xảy ra không có nguyên nhân kích thích. Thứ hai, không có sự sinh ra tự phát của bất kỳ sinh vật sống nào. Trong khi đó, ông tập trung tâm trí vào các “vật thể nhỏ”.
Ông nhận ra ngay từ đầu rằng nếu những vật thể ông đã khám phá trong phấn thật là những sinh vật có cấu trúc, với một đời sống riêng biệt độc lập của chính chúng, thì ông phải có thể tách riêng chúng, chứng minh chúng không tan trong nước, và thấy chúng cấu tạo từ chất hữu cơ. Ông đã tách riêng được chúng, chứng minh cacbon, hydro, v.v. là các bộ phận cấu thành, và chứng minh chúng không tan. Nếu chúng là sinh vật sống thì hệ quả là phải có thể giết chúng. Ở đây, một lần nữa, ông thấy điều ông bảo vệ là thật, vì khi đun phấn cùng một ít nước đến 50 độ C (122 độ F), về sau ông chứng minh phấn đã mất hoàn toàn năng lực lên men trước đó. Các “vật thể nhỏ” giờ hoàn toàn không còn chuyển động vốn từng đặc trưng cho chúng. Trong các điểm khác, ông khám phá ra rằng nếu trong quá trình lên men bởi các sinh vật tí hon này, mọi sự xâm nhập ngoại lai đều bị ngăn chặn bằng biện pháp nghiêm ngặt, thì các vật thể nhỏ tăng lên và nhân lên. Quan sát này sẽ giúp ông rất nhiều trong các nghiên cứu sau này.
Béchamp quan sát thấy phấn ông đã dùng dường như cấu tạo phần lớn từ di tích khoáng vật của một thế giới vi mô đã biến mất từ lâu — di tích hoá thạch mà, theo Ehrenberg, thuộc hai loài gọi là Polythalamia và Nautili, và chúng tí hon đến mức hơn hai triệu cá thể sẽ thấy trong một khối phấn nặng một trăm gam. Nhưng, ngoài các di tích của sinh vật đã tuyệt chủng này, Giáo sư thấy rằng phấn trắng chứa các sinh vật cỡ vô cùng nhỏ, mà theo ông là sống và mà ông tưởng tượng có lẽ đã rất cổ xưa. Khối đá vôi ông thu được già đến mức thuộc tầng phấn hồ nội địa của kỷ Thứ Ba; thế mà ông chứng minh nó có đặc tính lên men diệu kỳ, và ông tự thỏa mãn rằng đặc tính ấy do sự hiện diện của cùng những “vật thể nhỏ” ấy.
Ông tiếp tục cuộc khảo sát kiên trì nhiều trầm tích vôi hoá khác nhau, và không chỉ tìm thấy cùng các sinh vật tí hon, mà còn khám phá chúng có sức mạnh gây lên men khác nhau. Đá vôi xốp và các vùng than của Bessège có rất ít khả năng hoá lỏng tinh bột hay nghịch đường mía; trong khi các vùng than bùn và đất hoang của Cévennes, cũng như bụi các thành phố lớn, ông chứng minh chứa các “vật thể nhỏ” có năng lực lớn gây lên men. Ông tiếp tục điều tra và tìm thấy chúng trong nước khoáng, trong đất canh tác — nơi ông thấy chúng sẽ đóng vai trò đáng kể — và ông tin chúng có trong cặn của rượu vang cũ. Trong bùn đầm lầy, nơi sự phân hủy chất hữu cơ đang diễn ra, ông tìm thấy các “vật thể nhỏ” giữa các sinh vật cấp thấp khác, và, do cũng thấy rượu và axit axetic, ông quy cho những sinh vật tí hon sống ấy năng lực thực hiện sự giải phóng khí than bùn.
Tự nhiên đã giao phó những hé lộ diệu kỷ đến thế, đã đến lúc Giáo sư Béchamp cho phép tâm trí mình diễn giải ý nghĩa chúng. Các thí nghiệm ông đã bỏ khỏi Bản ghi nhớ vĩ đại, thay vì bị lỗi, giờ dường như chứa đựng những gợi ý diệu kỷ. Các “vật thể nhỏ” ông khám phá trong phấn dường như đồng nhất với các “vật thể nhỏ” ông đã quan sát trong tế bào men và trong tế bào thân cây và động vật — các “vật thể nhỏ” mà phần lớn mang tên “hạt phân tử”. Ông nhớ rằng Henle, theo một cách riêng, đã cho rằng các hạt phân tử này có cấu trúc và là kẻ xây dựng tế bào; và Béchamp thấy rằng, nếu điều đó đúng, lý thuyết của Virchow về tế bào là đơn vị sự sống sẽ bị đổ vỡ hoàn toàn. Các hạt phân tử, các “vật thể nhỏ”, sẽ là các yếu tố giải phẫu, và những cái thấy trong đá vôi và phấn, ông tin, thậm chí có thể là di tích còn sống của các hình thức động và thực vật thời quá khứ. Những thứ này chắc phải là kẻ xây dựng thân cây và thân động vật, và chúng có thể sống sót khi thân xác ấy đã bị phân rã từ lâu.
Tại đây ta có thể chú ý sự thận trọng trong các bước đi của Béchamp. Dù các điều tra về phấn của ông bắt đầu từ lúc công bố Bản ghi nhớ Ngọn hải đăng, ông vẫn tiếp tục làm việc trên chủ đề gần mười năm mới công bố các quan sát mới. Trong khi đó, câu ngạn ngữ về cơn gió độc đã được chứng minh trong trường hợp ông, vì các bệnh làm hại nho đang trở thành tai họa của nước Pháp, và khiến ông tiến hành một số thí nghiệm hữu ích trong việc mở rộng các quan điểm mới mà ông đang dần hình thành.
Ta đã thấy năm 1863 ông Pasteur được cử đi, với phúc lành của Hoàng đế, điều tra nỗi khổ của người trồng nho Pháp. Không có yêu cầu chính thức nào về sự giúp đỡ của Giáo sư Béchamp, nhưng, với lòng quan tâm không bao giờ cạn đến mọi vấn đề khoa học, ông vẫn bắt đầu đi sâu vào việc ấy, và năm 1862, một năm trước Pasteur, ông bắt đầu nghiên cứu ở vườn nho.
Ông phơi tiếp xúc với không khí, cùng lúc cùng chỗ, ba thứ: (1) nước nho, khử màu bằng than động vật; (2) nước nho chỉ lọc đơn thuần; và (3) nước nho không lọc. Cả ba chế phẩm đều lên men, nhưng ở mức độ trái ngược với thứ tự liệt kê trên. Hơn nữa, nấm mốc hay chất lên men phát triển không đồng nhất trong ba thí nghiệm.
Câu hỏi nhờ đó nảy sinh: “Tại sao, khi môi trường hóa học giống nhau cả ba trường hợp, nó lại không tác động cùng một cách lên ba thứ nước nho đó?”
Để giải câu đố, Giáo sư tiến hành thêm thí nghiệm. Những quả nho nguyên vẹn, khoẻ mạnh, còn cuống, được đưa trực tiếp từ gốc nho vào nước đường đã đun sôi, làm nguội trong luồng khí axit cacbonic, trong khi khí vẫn sủi bọt vào chất lỏng. Lên men xảy ra và hoàn thành trong môi trường này, được bảo vệ suốt quá trình khỏi ảnh hưởng của không khí. Cùng một thí nghiệm thành công khi nho được đưa vào nước nho đã lọc, đun nóng và xử lý creosote.
Từ các nghiên cứu này, rõ ràng là không phải oxy, cũng không phải các sinh vật từ không khí, là nguyên nhân của lên men, mà chính quả nho mang theo các tác nhân kích thích.
Giáo sư Béchamp truyền đạt kết quả thí nghiệm cho Viện hàn lâm Khoa học năm 1864, và trong các Báo cáo của Viện, chủ đề được trình bày đầy đủ. Ông đã đi đến kết luận rằng tác nhân làm nước nho lên men là một nấm mốc đến từ bề ngoài quả nho, và rằng cuống nho và lá cây nho mang các sinh vật có khả năng làm cả đường và nước nho lên men; hơn nữa, các chất lên men mang trên lá và cuống đôi khi thuộc loại làm hại đến vụ thu hoạch.
Năm 1864, khi Béchamp trình Bản ghi nhớ của mình, đánh dấu một kỷ nguyên trong lịch sử nghiên cứu sinh học, vì ngay 4 tháng 4 của chính năm ấy, ông đọc trước Viện hàn lâm Khoa học lời giải thích của ông về các hiện tượng lên men. Ông chỉ ra lên men là do các quá trình dinh dưỡng của các sinh vật sống, rằng sự hấp thu xảy ra, rồi đến đồng hóa và bài tiết, và lần đầu dùng từ zymase để chỉ một chất lên men hòa tan.
Chính năm sau đó, ông Duclaux, học trò của Pasteur, tìm cách chế giễu lời giải thích sáng tỏ của Béchamp, nhờ đó cung cấp bằng chứng văn bản rằng thầy ông không có quyền tuyên bố mình là người tiên phong của lời giảng dạy này.
Béchamp, người năm 1857 đã chứng minh rất kết luận rằng các sinh vật từ không khí là tác nhân của lên men, giờ năm 1864 cũng trình bày rõ ràng không kém cách hiện tượng ấy được gây ra. Suốt thời gian ấy, ông vẫn làm việc trên những bí ẩn sâu hơn của Tự nhiên, tiến hành thí nghiệm trên sữa ngoài nhiều thí nghiệm khác, và tháng 12 cùng năm ông báo cho ông Dumas biết khám phá của ông về các sinh vật sống trong phấn. Sau đó, ngày 26 tháng 9 năm 1865, ông viết cho ông Dumas về chủ đề, và theo yêu cầu của vị này, thư ông được công bố tháng sau trên Annales de Chimie et de Physique.
Tại đây ông viết: “Phấn và sữa chứa các sinh vật sống đã phát triển, điều mà, quan sát riêng rẽ, được chứng minh bởi một điều khác là creosote, dùng với liều không đông, không ngăn được sữa cuối cùng chua, cũng như không ngăn được phấn, không cần giúp đỡ ngoại lai, biến cả đường lẫn tinh bột thành rượu, rồi thành axit axetic, axit tartaric và axit butyric.”
Như vậy ta thấy rõ ý nghĩa trong từng thí nghiệm một của Béchamp và mối quan hệ mỗi thí nghiệm mang với các thí nghiệm khác. Các thí nghiệm nghiêm ngặt với creosote của ông cho phép ông xác lập thêm kết luận. Vì creosote ngăn được sự xâm nhập của sự sống ngoại lai, các sinh vật sống phải có sẵn trong phấn và sữa trước khi cho creosote vào. Các sinh vật sống ấy chính là những “vật thể nhỏ” mà ông đã thấy liên kết trong tế bào và đơn độc trong mô và sợi của cây và động vật. Tí hon đến mức không phân biệt được qua kính hiển vi, Béchamp nói với ta rằng: “Nhà tự nhiên học sẽ không thể phân biệt chúng bằng mô tả; nhưng nhà hóa học, và cả nhà sinh lý học, sẽ nhận ra chúng qua chức năng của chúng.”
Như vậy, ông không bị cản trở trong các điều tra của mình vì tính tí hon của đối tượng nghiên cứu — nhỏ bé đến mức trong nhiều trường hợp, không còn nghi ngờ gì, vượt quá cả kính hiển vi. Ông cũng chẳng bị quấy rầy bởi sự chế giễu mà nhiều người cùng thời dành cho lời ông về các “vật thể nhỏ” trong phấn và sữa. Là bác sĩ, ông được các nghiên cứu y khoa của mình giúp đỡ rất nhiều trong công trình nghiên cứu. Năm 1865, ông tìm thấy trong nước tiểu lên men rằng, ngoài các sinh vật tí hon khác, có những vật thể nhỏ tí hon đến mức chỉ nhìn thấy được bằng độ phóng đại rất cao của kính hiển vi (vật kính 7, thị kính 1, Nachet). Chẳng bao lâu sau, ông tìm thấy những “vật thể nhỏ” này trong nước tiểu bình thường.
Năm sau, 1866, ông gửi lên Viện hàn lâm Khoa học một Bản ghi nhớ có tên “Về Vai trò của Phấn trong Các Quá trình Lên men Butyric và Lactic và Các Sinh vật Sống Chứa trong Nó”.
Tại đây ông trình bày các thí nghiệm, và đề xuất cho các “vật thể nhỏ” cái tên microzyma, từ các từ Hy Lạp nghĩa là “nhỏ” và “lên men”. Cách gọi tên mô tả này diễn tả chúng như những chất lên men thuộc bậc nhỏ nhất có thể nhận ra. Cho riêng các “vật thể nhỏ” thấy trong phấn, ông đặt tên là microzyma crete.
Không mất thời gian, ông tiếp tục các điều tra về quan hệ giữa các microzyma của phấn và các hạt phân tử của tế bào và mô động và thực vật, và cũng tiến hành nhiều cuộc khảo sát địa chất thêm. Kết quả phần sau được đưa một phần vào Bản ghi nhớ “Về Các Microzyma Địa chất Có Nguồn gốc Khác nhau”, đoạn trích được công bố trong các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học.
Tại đây ông hỏi: “Vậy ý nghĩa địa chất của các microzyma này là gì, và nguồn gốc của chúng từ đâu?” Ông trả lời: “Tôi tin rằng chúng là di tích đã được tổ chức mà vẫn còn sống của các sinh vật đã sống trong những thời kỳ xa xưa. Tôi tìm thấy bằng chứng cho điều này cả trong các nghiên cứu này lẫn trong những nghiên cứu tôi tự tiến hành, và trong hợp tác với ông Estor về các microzyma của sinh vật sống thực sự. Các microzyma này giống nhau về hình thái, và dù có thể có một số khác biệt nhỏ trong hoạt tính lên men của chúng, thì mọi thành phần được hình thành dưới ảnh hưởng của chúng đều thuộc cùng một bậc. Có lẽ một ngày nào đó, địa chất học, hóa học và sinh lý học sẽ cùng nhau xác nhận rằng những sự tương tự lớn lao được nói đến giữa hệ động thực vật địa chất và hệ động thực vật sống, từ góc độ hình thái, cũng tồn tại từ góc độ mô học và sinh lý học. Tôi đã nêu một số khác biệt giữa các microzyma địa chất có nguồn gốc khác nhau: vậy, trong khi vi khuẩn có thể xuất hiện cùng đá vôi Armissan và đá vôi Barbentane, thì chúng không bao giờ phát triển trong trường hợp phấn hay đá vôi Oolitic, trong cùng hoàn cảnh. Những khác biệt tương tự có thể gặp giữa các microzyma của sinh vật sống. … Đáng chú ý là các microzyma của các loại đá vôi tôi đã xem xét hầu như không có tác dụng ở nhiệt độ thấp, và hoạt tính của chúng chỉ phát triển trong khoảng 35 đến 40 độ. Một nhiệt độ băng giá, tương đương nhiệt độ thung lũng Olu, sẽ chặn đứng hoàn toàn hoạt tính này.”
Dù nhiều người chế giễu những ý tưởng mới và gây sửng sốt đến thế, và dù ngày nay nhiều người có thể tiếp tục làm thế, ta phải nhớ rằng các bí ẩn của phấn hẳn còn đáng được điều tra nhiều hơn. Các nhà địa chất hiện đại dường như sẵn sàng thừa nhận rằng phấn có một số phẩm chất đáng chú ý, rằng trong những điều kiện nhất định nó tạo ra các chuyển động có thể chứng minh sự sống và gây ra cái gì đó giống lên men. Giáo sư Bastian, dù các suy luận của ông khác hẳn với của Béchamp, lại một lần nữa xác nhận các nghiên cứu của vị sau.
Ta đọc trong The Origin of Life (Nguồn gốc Sự sống) như sau: “Vậy nên chúng ta hoàn toàn có thể thừa nhận rằng các hình thức sự sống càng thấp — chúng càng gần nguồn của mình — thì sự tương tự giữa những hình thức được sinh ra ở các thời đại khác nhau hẳn càng lớn, cũng như các hình thức thấp nhất ngày nay thực chất giống nhau ở mọi vùng trái đất. Nếu không, làm sao, nhất quán với học thuyết tiến hóa, ta giải thích được việc các loại trực khuẩn và cầu khuẩn khác nhau đã tìm thấy trong di tích động và thực vật ở các tầng Trias và Permian, ở đá vôi Carboniferous, và ngay xuống tận các tầng Devon Thượng? Có thể tưởng tượng được rằng, chỉ bằng dòng nối dõi trực tiếp, những sinh vật dễ biến đến thế có thể giữ nguyên các hình thái nguyên thủy ấy qua mọi thời đại biến đổi ấy? Chẳng phải đơn giản và khả dĩ hơn nhiều là cho rằng, nhất là trước bằng chứng thực nghiệm giờ được đưa ra, rằng thay vì phải đối diện một dòng nối dõi không đứt từ tổ tiên qua những độ dài thời gian ấy, như Darwin dạy, và như thường được tin, ta phải đối diện, trong trường hợp Vi khuẩn và các đồng minh của chúng, với những lần sinh ra mới liên tiếp của các sinh vật ấy xuyên suốt các thời đại ấy, như những hình thái nguyên thủy của sự sống, bị các cấu tạo phân tử khác nhau nhưng không ngừng tái xuất của chúng buộc phải mang những hình thái và đặc tính tái xuất ấy, cũng như trường hợp các lần sinh ra mới liên tiếp của các loại tinh thể khác nhau?”
Ta đưa ra đoạn trích này chỉ để cho thấy sự xác nhận của Bastian về khám phá của Béchamp về các yếu tố sống trong phấn và đá vôi, và phải để các nhà địa chất xét xem sự thấm lọc hay các nguồn ngoại lai khác có giải thích được các hiện tượng hay không. Nếu không, ta có thể bị buộc phải tin vào lời giải thích của Giáo sư Bastian về những lần sinh ra mới theo kiểu tái xuất liên tiếp có nguồn gốc hóa học, nếu không có lời làm sáng của Giáo sư Béchamp rằng mọi sinh vật có cấu trúc đều khởi thủy từ các microzyma — thứ ta có thể đồng nhất với cái bây giờ gọi là microsomes khi thấy trong tế bào, dù động hay thực vật. Như vậy ta thấy rằng lời giảng dạy của Béchamp có thể giải thích các hiện tượng mà, không có nó, chỉ có thể giải thích bằng thuyết tự phát sinh, như Giáo sư Bastian đã cho thấy. Béchamp có đúng khi tin rằng các microzyma trong phấn là di tích còn sống của sinh vật đã chết từ lâu hay không, không phải là điểm ta muốn bàn dài. Ta muốn để chủ đề phấn cho những người có đủ tư cách xử lý nó, và chỉ chạm đến nó ở đây vì chính những quan sát đầu tiên của Giáo sư Béchamp là thứ đã dẫn tới quan điểm của ông về tế bào, quan điểm sau đó được tế bào học hiện đại xác nhận, và tới cái có thể gọi là thuyết microzyma của ông — thuyết mà ta thiên về cho là đã bị trường y học hiện đại coi nhẹ quá nhiều. Những ai thiên về chế giễu Béchamp hãy cân nhắc thực tế rằng lời đầu tiên chứ chưa phải lời cuối cùng đã được nói về vi sinh vật. Chẳng hạn, ngày nay người ta tuyên bố rằng cũng theo cách như san hô sinh ra từ một số côn trùng biển tí hon, các vi sinh vật nhất định không chỉ giúp phân hủy đá và tạo nên phấn và đá vôi, mà còn đóng vai trò tích cực trong việc tạo nên các mỏ sắt.
Dù, như ta đã nói, bị một số người chế giễu, công trình của Béchamp lúc này đang bắt đầu thu hút rất nhiều sự chú ý, và giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước, nó đã mang lại cho ông một cộng sự nhiệt tình trong công lao của ông. Đó là Giáo sư Estor, thầy thuốc và nhà phẫu thuật phục vụ bệnh viện Montpellier — người, ngoài việc đang ở đỉnh cao công việc thực hành, còn là người quen thuộc hoàn toàn với nghiên cứu và uyên bác dồi dào trong các lý thuyết khoa học. Ông đã kinh ngạc trước các khám phá của Giáo sư Béchamp, mà ông mô tả là đặt viên đá nền của sinh lý tế bào. Năm 1865 ông công bố trên Messager du Midi một bài đặt ở vị trí nổi bật lời giải thích của Béchamp về lên men như một hành động của dinh dưỡng tế bào. Quan niệm này gây xúc động mạnh ở nước Đức, vì trong một nghĩa nào đó, vừa xác nhận học thuyết tế bào của Virchow, vừa cho thấy quan điểm của nhà khoa học Đức chỉ là bộ phận.
Người ta đã chú ý đến một sự song song đáng chú ý và cập nhật với khám phá các microzyma trong phấn của Béchamp. Xem tờ The Iron and Coal Trades Review, số ra ngày 27 tháng 5 năm 1925. Trong đó, trong bài viết về “bí ẩn khí than”, Tiến sĩ Frederick Robson đưa ra lời khẳng định của Giáo sư Potter rằng trong than có vi khuẩn có khả năng sinh khí, và các khí sinh ra là mêtan, cacbon điôxít và cacbon mônôxít, với nhiệt độ lên đến 212 độ C (414 độ F). Có vẻ như gỗ có khả năng chứa, trong trạng thái biến chất của mình là than, các vi khuẩn vốn có mặt ở giai đoạn cây của nó. Cũng có thể, nữa, rằng các loài và bộ khác nhau của hệ thực vật sẽ tạo ra sự hiện diện của các loài vi khuẩn khác nhau, có thể cư ngụ trong than vẫn giữ mạch gỗ. Ý tưởng về sự xâm nhập vi khuẩn vào than này gợi ý rằng có thể có mức độ oxy hóa nào đó do đạo quân lớn lao các vi khuẩn hiếu khí hay kỵ khí gây ra, và đây có thể là nguồn gốc của khí than trong hầu mỏ. Điều này đã bị bác bỏ, nhưng rõ ràng vi khuẩn thì có tồn tại. Có bằng chứng cho thấy ở 100 độ C (212 độ F) mọi tác dụng vi khuẩn chấm dứt. Nếu than mềm và sự xâm nhập vi khuẩn đi đôi với nhau, trong một quan hệ nào đó, thì khi than chuyển từ cứng sang mềm từ đông sang tây, sự xâm nhập hay hàm lượng vi trùng có thể giảm theo tỷ lệ giải phóng khí.
Như vậy lại thêm một xác nhận hiện đại hơn về khám phá gây sửng sốt của Béchamp; và chính nhờ một mình ông, ta có thể hiểu nguồn gốc của cái gọi là vi khuẩn. Theo lời giảng dạy của ông, chúng phải là các Microzyma, hay microsomes, còn sống sót của tế bào những cây tiền sử — cây mà ta nay biết đến dưới dạng hoá thạch là than, nhưng vẫn còn nguyên những đời sống tí hon từng xây dựng nên thảm thực vật nguyên thủy.
Ngôi sao của Béchamp có lẽ đang ở đỉnh cao. Biết rằng khám phá vĩ đại của mình, khi tiến hành, sẽ soi sáng các quá trình của sự sống và cái chết chưa từng thấy trong suốt lịch sử y học, ông cũng sung sướng khi tìm được một người trợ lý hăng hái, kẻ sẽ chia sẻ công trình với ông bằng sự kiên trì và lòng trung thành, trong khi đồng thời một nhóm nhỏ học trò nổi lên đầy nhiệt tâm đẩy tới các nghiên cứu của bậc thầy vĩ đại họ. Nhưng ở đằng xa, lờ mờ không phân biệt được, đang lơ lửng một đám mây nhỏ mà khi tụ lại sẽ che tối chân trời ông. Nước Pháp đang gặp nạn. Cả ngành công nghiệp lụa của bà bị đe dọa bởi những bệnh bí ẩn ở tằm. Không ai xin, và không một sự giúp đỡ tài chính nào, Béchamp lập tức hướng tâm trí vào vấn đề, không biết rằng khi làm thế ông sắp đối đầu trực tiếp với kẻ đã được chỉ định chính thức, và rằng, trong khi cung cấp cho kẻ ấy lời giải cho câu đố, chẳng có lòng biết ơn nào dành cho ông, mà thay vào đó là lòng căm thù bất diệt của kẻ được may mắn ưu ái, Louis Pasteur!
Đầu năm 1865, dịch bệnh ở tằm đã trở nên trầm trọng đến mức ngành công nghiệp nuôi tằm kéo tơ của nước Pháp bị đe dọa nghiêm trọng. Trứng, sâu, nhộng và bướm đều có thể bị nhiễm. Tai họa được đặc trưng bởi sự hiện diện của một vật thể vi mô gọi là “hạt rung động”, hay “hạt của Cornalia”, theo tên nhà khoa học đầu tiên quan sát nó; còn bệnh được dân chúng biết đến với tên “pébrine”, từ tiếng địa phương pébré nghĩa là hồ tiêu.
Có vẻ như chính nhờ sự đề xuất của ông Dumas mà ông Pasteur được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp chỉ định điều tra việc này, và chẳng ai có thể tham dự một bài giảng đại chúng về chủ đề mà không được thông báo rằng công trình Pasteur đã cứu cho đất nước ông nhiều tiền hơn cả tiền bồi thường chiến tranh bị người Đức bóp nặn ra khỏi nước Pháp sau năm 1870. Điều thật sự xảy ra là vận may đã giúp Pasteur một hữu hiệu phi thường. Nếu Giáo sư Béchamp không cung cấp cho ông ta lời làm sáng bí ẩn tằm, một câu chuyện hoàn toàn khác hẳn đã được kể.
Chẳng có gì minh họa rõ hơn sự sắc bén đáng chú ý của trí óc Béchamp bằng tốc độ ông tìm ra nguyên nhân pébrine và đề xuất được cách phòng ngừa. Dù hoàn toàn không được ai giúp đỡ, và buộc phải tự túc mọi chi phí phát sinh, ngay từ năm 1865 ông đã có thể tuyên bố trước Hội Nông nghiệp Hérault rằng pébrine là bệnh ký sinh và rằng creosote có thể dùng để ngăn sự tấn công của ký sinh trùng.
Trong khi đó, tuy nhiên, chính phủ đã giao cho ông Pasteur cuộc điều tra, và chẳng ai hiểu gì về chứng từ hành chính lạc hậu sẽ lạ gì rằng, thay vì lập tức chấp nhận phán quyết của Béchamp, các hội nông nghiệp lại chờ nghe lời phán của đại diện chính thức. Phải dùng đến sự kiên nhẫn nhiều.
Ông Pasteur đến nhiệm sở ở Alais tháng 6 năm 1865, và, như chính ông chẳng bao lâu sau đã nói trong Bản ghi nhớ gửi Viện hàn lâm Khoa học, “không một danh hiệu nghiêm chỉnh nào” cho chức vụ mới, vì ông chẳng biết gì về chủ đề. “Tôi chưa từng đụng tay vào một con tằm nào cả”, ông đã viết trước đó cho ông Dumas, và việc đọc một bài tiểu luận về lịch sử con tằm của Quatrefages là toàn bộ việc học của ông cho đến tháng 6 năm 1865.
Vậy mà, vì người ta vẫn chờ một tuyên bố từ ông, ông đã lo gửi một Thông báo cho Viện hàn lâm Khoa học ngày 20 tháng 9 cùng năm, trong đó ông buông ra lời mô tả phi thường sau: “Các hạt này không thuộc động vật cũng không thuộc thực vật, mà là những vật thể ít nhiều tương tự tế bào ung thư hay tế bào lao phổi. Về phương diện phân loại có phương pháp, chúng nên được xếp cạnh các hạt mủ, hay hạt máu, hay ngay cả các hạt tinh bột, hơn là cạnh các động vật nguyên sinh hay nấm mốc. Chúng không hiện ra với tôi là tự do, như nhiều tác giả nghĩ, trong thân con vật, mà là được chứa chặt trong các tế bào… Chính con nhộng, hơn là con sâu, mới là thứ ta nên cố gắng áp dụng các biện pháp thích hợp.”
Người ta hoàn toàn có thể tưởng tượng lời mô tả ấy gây ra sự chế giễu từ Giáo sư Béchamp, người khinh miệt viết: “Như vậy, nhà hóa học này, kẻ đang bận bịu với lên men, còn chưa bắt đầu quyết định xem mình có đang đối diện một chất lên men hay không.”
Điều Pasteur đã làm, tuy nhiên, là đưa ra một mô tả chi tiết sai về từng chi tiết. Rồi ông bỏ lại vấn đề ấy ở đó một thời gian khá lâu, trong khi cái chết của cha ông và hai con gái ông xen vào, và ông được vinh dự mời làm khách dùng một tuần với Hoàng đế và Hoàng hậu tại Cung Compiègne.
Napoléon III, người ta nói với ta, rất quan tâm đến khoa học. Dù sao, ngài và Hoàng hậu cũng lịch sự nhã nhặn lắng nghe các bài giảng của Pasteur. Kẻ sau không những được đưa vào tiếp xúc gần gũi với các nhà ngoại giao lỗi lạc và những ngôi sao sáng của nghệ thuật và văn học, mà còn được chọn riêng giữa những danh nhân ấy để hưởng các ân sủng đặc biệt của Hoàng đế. Nỗi bối rối về tằm của Pasteur được tâm sự với Eugénie, và quý bà nhân hậu ấy khuyến khích ông nỗ lực mới. Ánh đèn sân khấu luôn được chiếu về những ai được các nhân vật Hoàng gia đoái đến, và thật dễ hiểu sự kính trọng ngày càng tăng mà hầu hết các đồng nghiệp bắt đầu dành cho Pasteur. Về các bệnh tằm, thay vì cảnh giác chờ phán quyết đúng đắn, thiên hạ nói chung chỉ chờ nghe ông Pasteur có gì để nói về chủ đề.
Tháng 2 năm 1866, ông lại khởi hành lần nữa đến vùng nước Pháp lúc bấy giờ đang chịu tai họa, và lần này ông tự vũ trang bằng công ty các trợ lý khoa học. Chính phủ lại giúp mọi cách có thể, và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Công cộng cấp phép nghỉ đặc biệt cho ông Gernez, một Giáo sư ở Trường Louis le Grand, để ông được tự do giúp Pasteur. Thế mà dù có mọi sự giúp đỡ ấy, và bất chấp cả việc dậy sớm hơn thường lệ, người viết tiểu sử ông cũng phải thừa nhận rằng các kết quả Pasteur đi đến “đang bị chỉ trích nhiều”. Những phát ngôn thật sự của ông, con rể ông đã khôn ngoan bỏ qua, và thay vào đó đã đưa ra nhiều chủ đề khác để đánh lạc hướng độc giả cứ khăng khăng hỏi: “Giải pháp của Pasteur cho bí ẩn tằm là gì?”
May cho những ai yêu chân lý, câu trả lời chính xác có thể tìm thấy trong các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học Pháp. Tuy nhiên, bản đầu tiên cần tra, lại là một Bản ghi nhớ không của ông Pasteur mà của Giáo sư Béchamp, mang ngày 18 tháng 6 năm 1866.
Giữa bổn phận giáo sư nặng nề và các nghiên cứu liên tục của ông trên những hướng khác, Béchamp tranh thủ thời gian gửi lên Viện chi tiết đầy đủ hơn về bệnh pébrine và các biện pháp phòng ngừa. Bản ghi nhớ của ông có tên “Về Tính Vô hại của Hơi Creosote trong Việc Nuôi Tằm”. Ông nhắc lại phát ngôn ông đưa ra năm trước, và nói rõ ràng: “Bệnh là bệnh ký sinh. Pébrine tấn công sâu ngay từ đầu từ bên ngoài, và mầm của ký sinh trùng đến từ không khí. Bệnh, nói tóm lại, không phải trước hết là bệnh về cơ thể.” Ông tiếp tục giải thích cách ông ấp trứng, hay hạt gieo như người ta gọi, của tằm trong một chuồng có sinh ra mùi creosote từ một liều rất nhỏ của thuốc. Các trứng nở ra như vậy đều không mắc pébrine. Vì Giáo sư Béchamp chưa bao giờ cam kết mình vào một tuyên bố nào nếu chưa có bằng chứng chắc chắn, ta thấy trong phán quyết này về pébrine sự rõ ràng dứt khoát đặc trưng mọi ý kiến của ông.
Pasteur còn mù mờ đến mức chẳng có đủ thận trọng để đo lường đúng đắn của các quan điểm của vị thầy vĩ đại Montpellier. Nhưng Bản ghi nhớ này của Béchamp không còn nghi ngờ gì là một sự thử thách đối với ông. Đây lại là một người lao động khác đang phán xử về một chủ đề vốn đã được giao chính thức cho ông, và được phúc lành bởi nữ Hoàng hậu xinh đẹp. Vì thế, ngày 29 tháng 7 năm 1866, Pasteur trút bỏ được gánh nặng bằng một Tuyên bố gửi Viện hàn lâm Khoa học về Bản chất của Pébrine, có tên “Những Nghiên cứu Mới về Bệnh Tằm”. Và ở đây ta phải tìm khám phá vĩ đại được cho là Pasteur đã cung cấp cho “sự cứu rỗi ngành nuôi tằm”. Đó là điều này: “Con bướm khoẻ là con bướm không có hạt; hạt gieo khoẻ là hạt gieo từ những con bướm không có hạt.” Một kết luận hiển nhiên đến mức buồn cười! Thế mà, vì nó không thể bị lên án là sai, thì Pasteur đã chẳng nên dám đi xa hơn. Thay vào đó, ông tiến hành: “Tôi rất thiên về tin rằng không thật sự có bệnh của tằm. Tôi không thể làm rõ ý kiến của tôi về bệnh tằm hơn bằng cách so sánh nó với những ảnh hưởng của bệnh lao phổi. Các quan sát của tôi năm nay đã củng cố tôi trong ý rằng những sinh vật nhỏ bé này không phải động vật nguyên sinh cũng không phải thực vật ẩn sớm. Đối với tôi, có vẻ chủ yếu là mô tế bào của mọi cơ quan đã bị biến đổi thành các hạt hoặc sinh ra chúng.” Không một bằng chứng nào ông đưa ra cho một sự kiện mà, nếu đúng, sẽ là diệu kỳ: không một gợi ý nào ông đưa ra về thí nghiệm để xác định sự vắng mặt của sự sống ở hạt mà ông khẳng định, hay quan hệ của chúng với bệnh. Cuối cùng, ông cố tình đi ngược Béchamp, và trong khi làm thế đã đóng con dấu dứt khoát vào sai lầm của mình. “Người ta sẽ có khuynh hướng tin, nhất là từ sự giống nhau của các hạt với bào tử của nấm mucorina, rằng một ký sinh trùng đã xâm lấn các chuồng nuôi trồng. Điều đó sẽ là một sai lầm.”
Sự châm biếm cố ý vào một người lao động khác này thật không may một cách lạ lùng, vì nó cung cấp bằng chứng chắc chắn cho lời nói trái ngược hẳn mà Pasteur buông ra đối với một lời giải đúng, mà sau đó ông đã đòi lấy công. Đây là kẻ đã, cách đó tám năm, hoàn toàn từ bỏ các quan điểm tự phát sinh trước đây đến mức quy mọi tác dụng lên men, mọi hiện tượng sống, cho nguyên nhân từ không khí, giờ lại phủ nhận nguồn gốc ngoại lai của một bệnh mà Béchamp đã chứng minh là chắc chắn do ký sinh.
Vị sau lập tức củng cố các kết luận của mình bằng lời trình bày các thí nghiệm mà ông đã căn cứ vào. Ngày 13 tháng 8 năm 1866, ông trình bày với Viện hàn lâm Khoa học một Bản ghi nhớ: “Những Nghiên cứu về Bản chất của Bệnh Tằm đang Hoành hành.” Trong đó ông mô tả một quy trình rửa hạt gieo và sâu, quy trình đã chứng minh những con bị bệnh đã bị xâm lấn bởi một ký sinh trùng. Để trả lời ông Pasteur, ông tuyên bố rằng hạt rung động “không phải một sản sinh bệnh lý, một thứ gì đó tương tự hạt mủ, hay tế bào ung thư, hay các nốt lao phổi, mà rõ ràng là một tế bào có bản chất thực vật.”
Lại nữa, ngày 29 tháng 8, một Bản ghi nhớ khác gửi Viện mô tả các thí nghiệm chứng minh hạt rung động là một chất lên men có cấu trúc.
Sau đó, ngày 4 tháng 2 năm sau, 1867, một Bản ghi nhớ mới gửi Viện trình bày chi tiết thêm các thí nghiệm không chỉ cho thấy hạt là một chất lên men, mà còn cho thấy sau khi nghịch đường, sự lên men vẫn tiếp diễn, sinh ra rượu, axit axetic và một axit không bay hơi khác.
Tháng 1 năm 1867, Pasteur, kẻ vừa đi vắng, trở về Alais, rõ ràng là cuối cùng cũng đã được các lời giải thích của Giáo sư Béchamp soi sáng. Trong một bức thư gửi ông Duruy, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Công cộng, ông dường như đã bắt đầu lấy cho mình công của việc giải bí ẩn tằm. Điều này giải thích lời cầu xin gần như thảm thiết mà Béchamp đưa ra, xin một sự thừa nhận quyền ưu tiên nổi bật của ông trong việc cung cấp lời giải thích khoa học đúng đắn.
Vị sau, nay vào ngày 28 tháng 4 năm 1867, cung cấp cho Viện hàn lâm Khoa học một lời trình bày đầy đủ hơn nữa, trong đó ông nêu ý rằng hạt rung động là một bào tử, và chứng minh rằng nó nhân lên trong một dung dịch ngâm sâu, nhộng và bướm chết, và rằng creosote làm giảm sự nhân lên ấy. Ông thêm vào Bản ghi nhớ này một bảng các hình vẽ quan sát kính hiển vi về sự sinh sản của các hạt. “Như vậy”, ông nói, “lý thuyết ký sinh về pébrine đã được hoàn thành, vì thắng lợi của nó tôi đã vật lộn gần hai năm. Tôi đánh liều hy vọng rằng quyền ưu tiên của ý tưởng và của các thí nghiệm đã chứng minh nó sẽ không bị tranh chấp.” Ông cho thấy rằng cho đến tháng 8 trước, ông vẫn đơn độc giữ ý kiến của mình, ngoại trừ ông Le Ricque de Monchy, người ông bày tỏ lòng biết ơn vì sự khuyến khích và sự giúp đỡ tài ba.
Thương thay cho Béchamp! Pasteur không may thiếu cái thói quen tương tự là trả công đúng nơi đáng công. Bị thuyết phục đến không muốn bởi các bằng chứng không bác được của Giáo sư, ông chẳng còn cách nào khác là quay ngoặt hoàn toàn, như đã từng làm trước đây khi Béchamp chứng minh không thể tranh cãi được tính sai lầm của niềm tin vào thuyết tự phát sinh.
Chính ngày 20 tháng 4 năm 1867, ta thấy giữa các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học một bức thư của Pasteur gửi Dumas, đề ngày ở Alais, ngày 19 tháng 4. Trong đó Pasteur yếu ớt biện hộ cho sai lầm của mình vì lý do ông đã giữ quan điểm sai lầm trong công ty tốt lành với “nhiều người có danh tiếng lớn”, và ông cũng viện lý do sự bất khả thi của việc nhận ra cách sinh sản của các hạt. Thay vì mọi sự thừa nhận dành cho Giáo sư Béchamp vì những hé lộ sáng tỏ đầy đủ của ông, Pasteur lạnh lùng bày tỏ hy vọng rằng chính ông sẽ sớm có thể trình bày một nghiên cứu gần như hoàn chỉnh về bệnh. Sự bỏ qua của ông trong việc làm điều ấy, ngay tại chỗ lúc ấy, dường như là bằng chứng đáng chú ý cho sự thiếu hiểu biết rõ ràng kéo dài.
Ta thấy giữa các Báo cáo ngày 30 tháng 5 năm 1867, một bức thư gửi Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học của Béchamp, đề ngày 19 tháng 5, về chủ đề Thông báo của Pasteur hồi tháng 4. Ông chỉ ra sai lầm của các quan điểm trước đây của Pasteur, và bảo vệ quyền ưu tiên của chính mình trong việc khám phá bản chất thật của các hạt và cách chúng sinh sản.
Cùng ngày ấy, ông đưa ra một Bản ghi nhớ “Những Sự kiện Mới giúp cho Lịch sử Bệnh Tằm đang Hoành hành và Bản chất của Hạt Rung động”. Ở đây ông tuyên bố rằng các hạt đến từ không khí và có thể tìm thấy trên lá dâu, nên cần phải hết sức cẩn thận trong việc chuẩn bị lá dành làm thức ăn cho sâu. Nhưng sự kiện đáng chú ý nhất trong Bản ghi nhớ này nằm ở phần Béchamp phân biệt một bệnh tằm khác với pébrine. Các quan sát đã được tự nhiên học gia ông N. Joly thực hiện trước đó về sự hiện diện của các vibrion trong ruột sâu bệnh, bệnh được đặt tên là mortes-flats hay morts-petits, nhưng vì có nhiều điều chưa biết về bệnh này, vốn được biết đến với tên flacherie, cũng như từng chưa biết về pébrine.
Ngày 11 tháng 4 trước đó, Giáo sư Béchamp đã công bố một cuốn sách nhỏ về bệnh tằm thứ hai này, và sau đó, tháng 7 năm 1867, ông gửi lời trình bày của mình lên Viện hàn lâm Khoa học, nơi đã chèn một dẫn chiếu đến cuốn sách ấy. Trong cuốn sách nhỏ ấy, ông viết: “Một hạt gieo không có hạt hoàn toàn có thể, và thường xuyên, chứa, như ông de Monchy và tôi đã quan sát, những sản phẩm khác ngoài các tiểu cầu của lòng đỏ và các hạt mỡ. Đó là những điểm chuyển động, nhỏ hơn hẳn mọi thứ khác xung quanh chúng, và thường rất đông. Chúng tôi gọi tạm những điểm chuyển động này là microzyma in aglomérat, cho đến khi xác định chắc chắn ý nghĩa của chúng. Tóm lại, chừng nào cha mẹ của chúng chưa biết, cách làm tốt nhất sẽ là chỉ dùng hạt gieo không có hạt, cả bên trong lẫn bên ngoài, và không có microzyma in aglomérat.”
Trong Thông báo ngày 30 tháng 5, ông đi xa hơn trong mô tả, và cho thấy trong bệnh thứ hai này, các hạt rung động có thể hoàn toàn vắng mặt, mà thay vào đó là các hạt chuyển động đáng chú ý, giống những hạt ông đã quan sát trong phấn và cũng tí hon như vậy, và lần này ông đặt tên cho chúng là microzyma bombycis, vì cách chúng ghép từng đôi một, như hình số tám.
Các Báo cáo kế tiếp ta thấy về bệnh tằm mang ngày 3 tháng 6 năm 1867. Đó là hai bức thư của Pasteur gửi ông Dumas. Về bức thứ nhất, người viết phải đưa ra một lời giải thích lạ lùng. Thư đề ngày ở Alais, ngày 30 tháng 4, và trong một ghi chú Pasteur nói rằng bức thư này rời Alais ngày 4 tháng 5 và do lỗi bưu điện chỉ đến tay Dumas ngày 22 tháng 5. Dù sao đi nữa, ngày 30 tháng 4 cũng vẫn sau ngày 11 tháng 4, khi Giáo sư Béchamp đã đưa ra lời giải thích đầu tiên của ông về flacherie; và Pasteur trong thư cũng chẳng nói gì hơn là ám chỉ bệnh hạt không phải là nỗi khổ duy nhất của ngành nuôi tằm. Làm biện pháp bảo vệ trước pébrine, ông đưa ra hệ thống chỉ dùng hạt gieo lấy từ những con bướm không có hạt, điều mà, như Béchamp chỉ ra, là một điều phi lý, nếu xét bản chất ký sinh của bệnh và việc các ký sinh trùng sinh sôi trên lá dâu.
Bức thư thứ hai gửi Dumas, công bố ngày 3 tháng 6 năm 1867, đề ngày ở Alais, ngày 21 tháng 5. Ở đây Pasteur nói rằng một tai họa khác thường bị lẫn với pébrine, “vì trong nhiều trường hợp lớn, hai bệnh không có liên quan gì, hay ít nhất không liên quan trực tiếp.”
Xét sự khác biệt hoàn toàn của hai bệnh, như Béchamp đã chỉ ra, các hạt rung động thường hoàn toàn vắng mặt trong trường hợp flacherie, lời nhận xét này của Pasteur đáng chú ý vì cho thấy ông không có được sự hiểu biết của đối thủ về chủ đề.
Béchamp trong khi đó làm việc cật lực, và gửi cho Ủy ban Nuôi tằm một Bản ghi nhớ có tên: “Về Sự Biến đổi của Hạt Rung động Pébrine và về Bản chất của Bệnh gọi là Mortes-Petits.” Thông tin quan trọng này, Viện hàn lâm Khoa học chỉ công bố dưới dạng trích yếu ngày 10 tháng 6 năm 1867; còn ngày 1 tháng 7 cùng năm, Viện công bố một Bản ghi nhớ khác, cũng do Béchamp gửi trước cho Ủy ban Nuôi tằm, có tên: “Về Sự Đường hóa của Hạt Rung động Pébrine.” Ở đây ông đưa ra mô tả đầy đủ hạt, cho thấy nó mất chuyển động dao động trong dung dịch kali hydroxide, nhưng không tan trong chất lỏng ấy. Ông thấy nó tan trong axit sulfuric khi đun sôi, và chứng minh glucose có thể được sản xuất từ nó bằng cách xử lý liên tiếp với axit sulfuric, cacbonat bari, rượu và nước, và đi đến kết luận rằng hạt rung động chứa xenlulozơ.
Từ Pasteur, viên chức điều tra chính thức các bệnh tằm, các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học không cung cấp thêm thông báo nào về chủ đề trong gần mười hai tháng.
Từ Béchamp, ngược lại, một loạt Bản ghi nhớ cho thấy cách công trình chi tiết, kiên trì của ông trên vi sinh vật đã dẫn đến sự hiểu biết cuối cùng về bệnh tằm gọi là flacherie.
Ông đã, từ ngày 30 tháng 4 năm 1867, gửi lên Viện một bản ghi nhớ về “Các Sinh vật Vi mô trong Nước bọt”. Vấn đề mới và bất ngờ đến mức nó chỉ được ghi nhận như một báo cáo.
Ngày 24 tháng 2 năm 1868, ông gửi lên một Bản ghi nhớ về “Các Hạt Phân tử (microzyma) của Chất lên men và của Mô Động vật”. Ở đây ông chú ý đến các vi sinh vật có thể tìm thấy trong virus vaccine, một sự xác nhận về điều này sau đó đã bị ông Chauveau đạo văn.
Ngày 28 tháng 3 năm 1868, một Bản ghi nhớ về “Các Hạt Phân tử (microzyma) của Tế bào Gan”.
Ngày 4 tháng 5 năm 1868, “Về Nguồn gốc và Phát triển của Vi khuẩn”. Đây là chứng minh tổng quát sự phát triển của vi khuẩn từ các microzyma là yếu tố giải phẫu cơ bản.
Chính ngày 8 tháng 6 năm 1868, ông áp dụng mọi sự kiện đã nói trên vào bệnh flacherie trong một Bản ghi nhớ “Về Bệnh Microzyma ở Tằm”. Ở đây ông nói flacherie mang tính di truyền do sự phát triển bất thường của các microzyma cơ bản vốn có của tằm. Ông chỉ ra rằng các microzyma có thể thấy đơn độc hay liên kết thành chuỗi hạt, hay dưới dạng vi khuẩn rất nhỏ. Để thấy chúng cần độ phóng đại rất cao của kính hiển vi, chẳng thấp hơn gì vật kính 7, thị kính 1, Nachet. Ông nói rằng các kính hiển vi chính phủ cấp cho người làm việc không đủ mạnh. Ông chỉ ra rằng microzyma và vi khuẩn có thể cùng tồn tại trong một con sâu, nhưng điều đáng chú ý là số lượng microzyma ở tỷ lệ nghịch với số lượng vi khuẩn. Vô ích nếu dùng hạt gieo từ những con bướm có bệnh, điều có thể nhận ra bằng cách xem xét nội dung bụng. Ông chỉ ra rằng để tách riêng các microzyma, ta nên xử lý chúng bằng một chế phẩm kali hydroxide, chất này, hòa tan mọi thứ khác, sẽ để lại các vi sinh vật nguyên tố.
Như vậy, cũng như trước đây ông đã giải thích đầy đủ nguyên nhân và cách phòng ngừa pébrine, nay Giáo sư Béchamp đã đưa ra lời giải thích rõ ràng và hoàn chỉnh không kém về bệnh tằm thứ hai, flacherie. Ông chỉ ra rằng, khác với pébrine, bệnh này không do ký sinh ngoại lai xâm lấn gây ra, mà do sự phát triển không lành, bất thường của các microzyma trong tế bào thân của tằm. Nỗi khổ nuôi tằm đã cho ông cơ hội chứng minh sự hiểu biết đầy đủ của ông về các điều kiện bệnh lý. Ông có thể đưa ra lời trình bày rõ ràng về, một mặt, một bệnh ký sinh, và mặt khác, một bệnh không do nguyên nhân ngoại lai, mà do tình trạng bệnh của các yếu tố giải phẫu.
Pasteur quen thuộc với mọi Bản ghi nhớ Béchamp đã công bố, nhưng, đáng tiếc phải nói, ông không có đủ lượng từ để dành lời khen cho thắng lợi khoa học lớn lao của đối thủ. Không thể chối cãi rằng tâm trí ông nghĩ về chính ông, và về cách ông có thể bảo vệ tốt nhất các yêu sách của mình.
Lời giải thích của Béchamp về flacherie xuất hiện, như ta đã chỉ ra, trong các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học ngày 8 tháng 6 năm 1868. Ngày 29 tháng 6, các Báo cáo gồm có một bức thư gửi ông Dumas của ông Pasteur, đề ngày 24 tháng 6 năm 1868, ở Paillerols, xã Mées, Basses-Alpes. Ở đây thật phi thường khi thấy rằng ông đã trơ trẽn tuyên bố rằng chính ông là người đầu tiên chú ý đến bệnh tằm thứ hai này, và phân biệt nó với pébrine. Ông viết cho ông Dumas: “Ngài biết rằng tôi đã là người đầu tiên…” Nhưng chắc hẳn đã nhận ra rằng các Báo cáo của Viện hoàn toàn không có bằng chứng nào như vậy, ông đòi chèn toàn văn một Bản ghi nhớ mà ông tuyên bố đã gửi ngày 1 tháng 6 năm 1868 cho Hội Nông nghiệp Alais. Bản ghi nhớ ấy đã được chèn theo, và có tên: “Bản ghi nhớ về Bệnh Tằm thường gọi là Morts-Blanes hay Morts-Flats.”
Việc đọc các Thông báo này của Pasteur mang lại điều diệu kỳ: rằng ông đã có thể đánh vào thế giới ý tưởng rằng chính ông đã làm sáng tỏ các bệnh tằm. Cũng như trước đây ông đã lầm lạc về pébrine, thì nay, sau tất cả thời gian ông đã làm việc, ông chẳng có gì có giá trị để truyền đạt về flacherie. Ông ám chỉ đến các sinh vật liên quan đến bệnh, không một lời nào ám chỉ việc ông Joly của Khoa Khoa học Toulouse, cũng như Giáo sư Béchamp, đã quan sát chúng từ lâu trước ông. Ông cho rằng chẳng có gì cho thấy các sinh vật này gây ra bệnh, mà chúng là kết quả của rối loạn tiêu hóa. “Ruột”, ông viết, “không còn hoạt động, vì lý do nào đó chưa rõ, các vật chất nó chứa đựng nằm ở vị trí như thể bên trong một bình không di động được.”
Béchamp, tất nhiên, cảm thấy buộc phải trả lời Pasteur; vì thế, trong các Báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học Pháp, ngày 19 tháng 7 năm 1868, ta thấy một Bản ghi nhớ của Giáo sư: “Về Bệnh Microzyma ở Tằm, xét đến một Thông báo gần đây của ông Pasteur.” Ở đây Béchamp nhắc đến cuốn sách nhỏ trước đây của ông, công bố ngày 11 tháng 4 năm 1867, trong đó ông và ông Le Ricque de Monchy đã chú ý đến các sinh vật liên quan đến morts-flats. Ông nhắc đến Thông báo trước đây của ông ngày 13 tháng 5, được công bố trong các Báo cáo của Viện ngày 20 tháng 5, và cả Bản ghi nhớ ngày 10 tháng 6 năm 1867 của ông. Ông chỉ ra rằng lại nữa, ngày 28 tháng 3 năm 1868, ông đã công bố ấn bản thứ hai cuốn sách nhỏ của mình, trong đó ông bổ sung thêm các ý về bệnh microzyma, hay flacherie. Ông cũng chú ý đến thực tế rằng từ xa tận ngày 4 tháng 7 năm 1867, một thành viên của ngành nuôi tằm, ông Raibaud l’Ange, đã viết thư xin phép đến thăm ông ở Montpellier để nghiên cứu bệnh.
Pasteur đáp lại bằng cách gọi ông Raibaud l’Ange đến giúp, chỉ để vị này thú nhận rằng ông đã đến Montpellier vì mục đích mong muốn. Thế mà nỗi sợ làm mất lòng đại diện chính phủ, kẻ được ân sủng Hoàng gia, đã lớn đến mức ông Raibaud l’Ange vẫn tán tụng Pasteur bằng lời tâng bốc và chế giễu các microzyma.
Béchamp trả lời ông Raibaud l’Ange ngày 17 tháng 8 năm 1868, nhắc ông về bảng các hình vẽ đã kèm theo bản ghi nhớ của ông ngày 6 tháng 6 năm 1867. Không ai trả lời.
Như Béchamp sau này đã nói, Viện hàn lâm có thể chịu đựng sự đạo văn, nhưng không ai có thể chối cãi nó.
Không còn nghi ngờ gì, chính năng lực bất lực hoàn toàn trong việc gác bỏ những yêu sách chính đáng của Béchamp đã khiến Pasteur căm thù người đối thủ rực rỡ của mình từ đó về sau. Thành công phi thường của Béchamp trong việc xử lý các bệnh tằm càng đáng chú ý vì ông chẳng có giúp đỡ nào về tiền bạc hay bằng cách khác từ chính phủ, và chẳng có thời gian để tiêu vào vấn đề ngoài những gì ông có thể giành giật từ một sự nghiệp giáo sư đã đầy công việc, hoàn toàn tách biệt với mọi nghiên cứu khoa học của ông.
Pasteur, trái lại, có sự giúp đỡ của Chính phủ ngay trong tầm tay, mọi chi phí được chu cấp, và các trợ lý khoa học. Hơn nữa, ông được cho tự do hoàn toàn để tiến hành các nghiên cứu. Việc một người khác đã thành công một cách hiển nhiên đến thế nơi ông đã thất bại hẳn là một nguồn cay đắng đối với ông, và lòng ghen tị đã dẫn ông vào một cuộc đàn áp thật sự Béchamp. Ông chắc chắn về vị thế của mình, vị thế có ảnh hưởng cao nhất chống lưng, và ta có thể chắc rằng ông đã không để mình rơi khỏi trí nhớ của các vị bảo trợ Hoàng gia. Ông bắt đầu cuốn sách về lên men rượu vang của mình bằng một lời tựa gửi Hoàng đế, còn một bức thư đề tặng ngài theo cùng cách ấy lại đứng đầu cuốn sách về bệnh tằm của ông. Ta có thể tìm hoài cũng chẳng thấy trong đó một lời ám chỉ hào hiệp nào đến người làm sáng tỏ đầu tiên những tai họa này. Thay vào đó, ông lấy toàn bộ công cho mình, và thậm chí còn cố đi tấn công những lập luận của Béchamp ủng hộ creosote làm phòng ngừa.
Nhưng có chân lý trong cạn ngôn người Mỹ rằng người ta có thể lừa mọi người trong một lúc, và lừa một phần người trong mọi lúc, nhưng không bao giờ lừa mọi người trong mọi lúc; vì thế những yêu sách ích kỷ của Pasteur chắc phải hoàn toàn sụp đổ trước các báo cáo khoa học mà ta đã dẫn chiếu, và mà bất kỳ ai cũng có thể tra, chẳng hạn, ở Thư viện Bảo tàng Anh. Các báo cáo này chứng minh không thể tranh cãi rằng người đã tạo ra những lợi lộc lớn cho Pháp về thuốc nhuộm anilin cũng chính là người đã cung cấp cho đất nước mình chẩn đoán đúng đắn về các bệnh tằm, và đề xuất các cách phòng ngừa.
Không may, các biện pháp thực hành thật đã được để lại cho Pasteur, và bình luận tốt nhất về chúng là các sự kiện về ngành nuôi tằm do Tiến sĩ Lutaud, từng là Chủ bút tạp chí Journal de Médecine de Paris, đưa ra.
Vào đầu thời kỳ nạn tằm, khoảng năm 1850, người ta nói với ta rằng Pháp sản xuất hàng năm khoảng chín mươi triệu ki-lô-gam kén. Năm 1866-7, sản lượng đã tụt xuống mười lăm triệu ki-lô-gam. Sau khi áp dụng “phương pháp phòng ngừa” của Pasteur, sản lượng giảm từ tám triệu ki-lô-gam năm 1873 xuống tận con số thấp là hai triệu ki-lô-gam kén trong một số năm sau đó.
“Đó là cách”, Tiến sĩ Lutaud nói, “mà Pasteur đã cứu ngành nuôi tằm! Danh tiếng mà ông ta vẫn giữ được trong vấn đề này giữa những kẻ ngu dốt và những nhà bác học cận thị, đã được tạo ra (1) bởi chính ông ta, bằng những khẳng định không chính xác; (2) bởi những người bán hạt gieo kính hiển vi theo hệ Pasteur, những kẻ đã thu lợi lớn bằng sự phá sản của người trồng; (3) bởi sự thông đồng của các Viện hàn lâm và các cơ quan công, những kẻ, không một cuộc điều tra nào, trả lời người trồng: ‘Nhưng ngành nuôi tằm đã được cứu rồi! Hãy dùng hệ Pasteur!’ Tuy nhiên, chẳng phải ai cũng sẵn lòng dùng một hệ thống mà bản chất là làm giàu cho mình bằng sự tàn phá của kẻ khác.”
Có lẽ tổn hại lớn nhất do lòng ghen tị Pasteur gây ra là sự cản trở ông dựng lên, cản trở việc người ta chú ý đến công trình của Béchamp, đặc biệt về học thuyết tế bào và các lý thuyết microzyma của ông. Ông đã cố hết sức chế giễu các ý tưởng này đến mức thực sự có các Viện sĩ của Viện hàn lâm, vì những động cơ thân thiện, đã van xin Giáo sư Béchamp bỏ ngay cả việc dùng từ “microzyma”! Như vậy, điều bất hạnh đã xảy đến là, thay vì được khuyến khích, khoa học đã bị ghìm lại, và ở mỗi bước ngoặt, Giáo sư Montpellier thấy mình bị cản trở trong công trình mà, như ông tin, sẽ đặt nền móng cho tế bào học và sinh lý học, và làm sáng các quá trình của các yếu tố giải phẫu trong sinh ra và sống, trong khoẻ và bệnh, trong chết và phân rã.
Dưới đây là bảng Hume đối chiếu từng ngày các tuyên bố hai bên, đúng như bà đã sắp xếp trong nguyên bản.
| Béchamp | Pasteur |
|---|---|
| 1865 | |
| Tuyên bố trước Hội Nông nghiệp Hérault rằng pébrine là một bệnh ký sinh, và đề xuất creosote làm phòng ngừa ký sinh trùng. | Tuyên bố với Viện hàn lâm Khoa học rằng các hạt của pébrine không thuộc động vật cũng không thuộc thực vật; về phương diện phân loại, chúng nên được xếp cạnh các hạt mủ, các hạt máu, hay hơn cả là các hạt tinh bột. |
| 1866 | |
| Ngày 18 tháng 6 — tuyên bố với Viện rằng bệnh là ký sinh; pébrine tấn công sâu ngay từ đầu từ bên ngoài, và ký sinh trùng đến từ không khí; bệnh không trước hết là bệnh cơ thể. Có phương pháp ấp hạt gieo không mắc pébrine. | Ngày 24 tháng 7 — tuyên bố với Viện rằng người ta sẽ có khuynh hướng tin rằng một ký sinh trùng đã xâm lấn các chuồng trồng; đó sẽ là một sai lầm. Thiên về tin rằng không có bệnh đặc hiệu của tằm, mà nên so sánh với những ảnh hưởng của lao phổi. Các sinh vật nhỏ không phải động vật nguyên sinh cũng không phải thực vật ẩn sớm. |
| Ngày 29 tháng 8 — tuyên bố với Viện mô tả ký sinh trùng là một tế bào có bản chất thực vật. | |
| Ngày 29 tháng 8 — tuyên bố với Viện chứng minh hạt rung động pébrine là một chất lên men có cấu trúc. | |
| 1867 | |
| Ngày 4 tháng 2 — tuyên bố với Viện về nghiên cứu tiếp theo liên quan đến pébrine như một chất lên men có cấu trúc. | |
| Ngày 11 tháng 4 — công bố cuốn sách nhỏ trong đó chú ý đến bệnh tằm thứ hai, morts-flats hay morts-petits, thường gọi là flacherie. | |
| Ngày 28 tháng 4 — tuyên bố với Viện về hạt rung động pébrine, chứng minh nó là một bào tử, và cung cấp một bảng các hình vẽ. Bày tỏ hy vọng rằng quyền ưu tiên của chẩn đoán đúng đắn của ông sẽ không bị tranh chấp. | |
| Ngày 20 tháng 5 — tuyên bố với Viện về “Những sự kiện mới” và bệnh tằm thứ hai, flacherie, được phân biệt rõ ràng với pébrine. | |
| Ngày 10 tháng 6 — Viện công bố đoạn trích từ một Thông báo về hai bệnh, gửi trước đó cho Ủy ban Nuôi tằm. | |
| Ngày 29 tháng 4 — tuyên bố thú nhận đã từng tin, trong công ty với nhiều người có danh tiếng lớn, rằng các hạt rung động pébrine tương tự các hạt máu, mủ hay tinh bột. | |
| Ngày 2 tháng 6 — bức thư gửi Dumas truyền đạt cho Viện. Biện pháp bảo vệ là chỉ dùng hạt gieo lấy từ những con bướm không có hạt (tuyên bố này chứng minh Pasteur vẫn chưa hiểu bản chất ký sinh của pébrine). Ám chỉ bệnh hạt không phải là nỗi khổ duy nhất của ngành nuôi tằm. | |
| Ngày 2 tháng 6 — bức thư thứ hai gửi Dumas truyền đạt cho Viện, nói rằng một tai họa khác thường bị lẫn với pébrine, nhưng “trong nhiều trường hợp lớn, hai bệnh không có liên quan gì, hay ít nhất không liên quan trực tiếp”. Vì chúng chẳng có liên quan gì cả, sự bấp bênh của ý tưởng ông là hiển nhiên. | |
| 1868 | |
| Một loạt công bố, kết thúc bằng — ngày 8 tháng 6: Thông báo gửi Viện hàn lâm Khoa học “Về Bệnh Microzyma ở Tằm”, chết người hơn pébrine, vì creosote có thể phòng ngừa bệnh sau, trong khi bệnh trước mang tính cơ thể và di truyền. Các microzyma có thể thấy đơn độc, hay liên kết thành chuỗi hạt, hay dưới dạng vi khuẩn rất nhỏ. Không nên dùng hạt gieo từ những con bướm có bệnh, nhận ra được bằng cách xem xét nội dung bụng dưới độ phóng đại rất cao của kính hiển vi, ít nhất cũng phải là tổ hợp vật kính 7, thị kính 1, Nachet. | Ngày 29 tháng 6 — bức thư gửi Dumas truyền đạt cho Viện hàn lâm Khoa học, tuyên bố rằng ông đã là người đầu tiên chú ý đến bệnh morts-flats, và đòi công bố một Thông báo gửi Hội Nông nghiệp Alais ngày 1 tháng của tháng hiện tháng. |
| Thông báo sau đây được chèn theo: ám chỉ đến các sinh vật liên quan đến flacherie, không một lời thừa nhận nào cho các quan sát trước đó của Joly và Béchamp. Coi các sinh vật ấy có thể chỉ là kết quả tất yếu của rối loạn tiêu hóa. | |
Xét những điều trên, yêu sách quyền ưu tiên của Pasteur trong việc chẩn đoán đúng đắn hai bệnh tằm — yêu sách được nhắc lại ở trang 11 của cuốn Études sur la Maladie des Vers-à-Soie của ông — hoàn toàn không có cơ sở.
Ta đã thấy rằng vào thời Béchamp và Pasteur hướng sự chú ý đến chủ đề lên men, những quan niệm mơ hồ nhất được giữ về vật chất sống. Những tên tuổi lớn được đặt ra, như protoplasm và blastème, nhưng điều được biết ít đến mức người ta tin các chất albuminoid luôn luôn đồng nhất. Virchow đã cố đơn giản hóa vấn đề bằng cách tuyên bố rằng đơn vị sống của các hình thức động và thực vật là các tế bào của cơ thể, trong khi Henle tiến xa hơn đáng kể khi nói rằng, trái lại, chính các tế bào được xây dựng nên bởi những nguyên tử tí hon, các hạt phân tử, chỉ vừa phân biệt được bên trong chúng. Schwann cũng đã dạy rằng khí quyển đầy các sinh vật sống vô cùng nhỏ. Rồi Béchamp và Pasteur xuất hiện trên sân khấu, kẻ sau trước hết khẳng định nguồn gốc tự phát của các chất lên men, trong khi cùng lúc đó Béchamp chứng minh không thể bác được rằng men và các sinh vật khác đến từ không khí. Cuối cùng Pasteur, được chuyển hóa bởi các quan điểm sáng tỏ của Béchamp, trở nên nhiệt tình với các mầm bệnh khí quyển, và, như ta đã thấy, trước một đại hội thời thượng đã lấy cho mình toàn bộ công của việc làm sáng tỏ chúng. Thế mà ít đến mức nào ông thật sự được soi sáng, ta thấy rõ ở chỗ chẳng bao lâu sau đó ông phủ nhận nguồn gốc ký sinh của một bệnh, pébrine, vốn thật sự do một ký sinh trùng gây ra, trong khi theo chiều ngược lại, quan niệm của ông về vật chất sống chẳng tiến xa hơn chút nào so với quan điểm cũ kỹ cho rằng cơ thể sống chẳng qua là một loại bộ máy hóa học. Đối với ông, trong cơ thể chẳng có gì thật sự sống; những vận hành diệu kỳ của nó chẳng từng gợi ý cho ông chút nào về các tác nhân tự chủ đang sống.
Tất nhiên, tha thứ cho ông, người ta có thể nói rằng chẳng có lý do gì Pasteur phải hiểu cơ thể. Ông chưa từng nhận một sự huấn luyện y khoa, sinh lý hay sinh học nào, và chẳng có ý định tự nhận mình là nhà tự nhiên học. Dù là nhà hóa học, ông dường như chẳng có chút nhạy bén trực giác nào cho ngành khoa học mà ông đã chú ý đến. Khi ông nhận bằng Cử nhân Khoa học, người chấm thi đã ghi một lời nhận xét vào văn bằng của ông, nói rằng ông chỉ “tàm tạm về hóa học”.
Ông dường như thậm chí còn chẳng đặc biệt nhanh trong việc nắm ý tưởng của người khác, vì ta đã thấy phải mất bao lâu ông mới nhận ra tính đúng đắn của lời giải thích của Béchamp về pébrine. Chính trong sự khôn ngoan đời mà tâm trí ông sắc bén. Số phận ưu đãi ông, và ông luôn cảnh giác để nắm lấy các cơ hội; nhưng, đáng buồn phải nói, có vẻ ông chẳng ngại việc đẩy mình lên bằng cái giá của người khác, dù cho tiến trình của khoa học vì thế bị cản trở, và ta chỉ có thể than phiền về sự lạm dụng ấy của một nghị lực và một sự kiên trì đáng khâm phục.
Trong khi Pasteur chẳng học thêm được gì về sự sống ngoài sự kiện rằng có các sinh vật sống trong không khí, Giáo sư Béchamp tiếp tục các thí nghiệm không biết mệt của mình. Số phận đã tử tế khi đem đến giúp ông Giáo sư Estor, một người lao động khác, đủ điều kiện về huấn luyện và kinh nghiệm. Hai nhà khoa học là những người làm việc chăm chỉ, với tâm trí được rèn luyện kỹ bởi công việc hàng ngày, và chính các khám phá của họ, trong nhiều trường hợp, được sinh ra bởi các quan sát lâm sàng. Béchamp làm ra các khám phá theo cùng cách một Beethoven soạn nhạc, một Raphael vẽ tranh và một Dickens viết văn; nghĩa là, vì ông không thể tự chế được, ông không thể làm khác được. Trong sự tương phản gần như thảm thương, ta thấy ngày nay những người bị lấy đi khỏi công việc thực hành và đặt xuống trong phòng thí nghiệm để làm ra các khám phá. Trong nhiều trường hợp họ có những tâm trí tàm tạm, chẳng bao giờ có thể sinh ra một ý tưởng nào. Tất cả những gì họ có thể làm là theo các lý thuyết thường nhật, và những gì gọi là “khám phá” của họ thuộc loại chồng chất sai lầm lên sai lầm. Hãy cho một người công việc thực hành của mình, và nếu người ấy có cái nhìn sâu hiếm có của kẻ khám phá, thì cũng như đêm nhường chỗ cho ngày, thực hành sẽ giành được sự soi sáng. Điều cấp thiết cần là sự tự do khỏi giáo điều, và sự khuyến khích các ý kiến nguyên bản. Các tâm trí trong đám đông đi với tốc độ của sên bò, và chắc chắn trở ngại lớn nhất đối với thuyết microzyma của Béchamp là chính việc nó vượt xa hoàn toàn các quan niệm khoa học của thời ấy.
Điều ông làm, trước hết và trên hết, là đặt nền móng cho một khoa học mà, ngay cả đến hôm nay, vẫn còn mới — môn tế bào học.
Sau khi đã làm ra khám phá gây ngạc nhiên về các sinh vật tí hon, tác nhân của lên men, trong phấn, công trình kế tiếp của Béchamp là cuộc điều tra kỹ lưỡng các “hạt phân tử” của tế bào — các hạt mà ông đã nối với các “vật thể nhỏ” của phấn và đá vôi. Cho đến ngày này, các quan điểm mơ hồ của Henle về các hạt phân tử vẫn bị phớt lờ, và người ta nhìn chung coi chúng chỉ là những hạt vô hình, vô nghĩa. Gọi kính hiển vi và máy đo phân cực đến giúp, và tiến hành vô số thí nghiệm hóa học, Giáo sư Béchamp, dùng thoạt đầu chủ yếu những cơ thể như men, thấy rằng các hạt phân tử men chứa đựng là những tác nhân kích thích lên men, rồi đặt cho chúng cái tên diễn giải là microzyma. Cùng những hạt phân tử này, ông thấy trong mọi tế bào và mô động và thực vật, và trong mọi vật chất hữu cơ, dù dường như không có cấu trúc, như sữa, trong đó ông chứng minh chúng là nguyên nhân của những thay đổi hóa học làm sữa đông lại. Ông thấy các microzyma sinh sôi khắp nơi, vô số kể trong mô khoẻ mạnh, và trong mô bệnh ông thấy chúng liên kết với nhiều loại vi khuẩn. Một tiên đề ông đặt ra là: dù mỗi microzyma là một hạt phân tử, thì không phải mỗi hạt phân tử là một microzyma. Những cái là microzyma, ông thấy mạnh trong việc gây lên men và có một cấu trúc nào đó. Tóm lại, điều đã rõ ràng đối với ông là chính chúng, không phải tế bào, là các yếu tố giải phẫu đầu tiên.
Chưa bao giờ ông theo thực hành để trí tưởng tượng của mình vượt quá các thí nghiệm của mình. Theo lệ thường, ông đặt câu hỏi và chờ các sự kiện trả lời. Làm việc với Giáo sư Estor, các quan sát cho thấy rằng không chỉ các hạt phân tử, các microzyma, là yếu tố giải phẫu, tự chủ đang sống, với cấu trúc và sự sống không thể tách rời gắn kết trong bản ngã tí hon của chúng, mà chính nhờ vô số đời sống này mà tế bào và mô được cấu thành nên sự sống; thực ra, mọi sinh vật, dù là amib một tế bào trong sự giản đơn nguyên thủy của nó, hay con người trong sự phức tạp muôn vẻ của mình, đều là những hiệp hội của những thực thể sống tí hon này.
Giáo trình The Cell in Development and Inheritance (Tế bào trong Phát triển và Di truyền) của Edmund B. Wilson tóm tắt rất đúng lời giảng dạy đầu tiên của Béchamp: “Các hạt phân tử, trong một số trường hợp, có cách cư xử đến mức đã dẫn đến giả thuyết từ lâu đã được Henle (1841) gợi ý, và về sau được Béchamp, Estor, và đặc biệt là Altmann phát triển, rằng các hạt phân tử thực ra là các đơn vị hay sinh nguyên, có khả năng đồng hóa, lớn lên và phân chia, và vì thế phải được coi là các đơn vị cấu trúc cơ bản, đứng giữa tế bào và các phân tử cuối cùng của vật chất sống.”
Chỉ một khám phá như thế mới có thể xua tan sự lộn xộn về chủ đề thuyết tự phát sinh. Các nhà quan sát nông cạn, trong số đó ta buộc phải kể cả Pasteur, tiếp tục cho rằng lên men chỉ do các mầm bệnh từ không khí gây ra; nhưng cùng lúc đó Pasteur phải thừa nhận rằng thịt, được bảo vệ khỏi tiếp xúc khí quyển trong một thí nghiệm của chính ông, vẫn bị hư. Các nhà thực nghiệm khác khăng khăng về các thay đổi xảy ra mà không thể quy trách nhiệm cho các sinh vật khí quyển.
Béchamp, người đầu tiên làm rõ vai trò gây lên men của các tác nhân từ không khí, nay có thể, theo quan điểm của mình, giải thích rằng lên men có thể xảy ra tách biệt với chúng, vì mọi sinh vật đều sinh sôi những thực thể sống tí hon có khả năng sản sinh chất lên men, và vì thực tế những thứ tìm thấy trong không khí, ông tin, chỉ đơn giản là cùng những thực thể ấy được giải phóng khỏi các hình thức thực vật và động vật mà chúng đã xây dựng trước, nhưng khỏi đó chúng sau đó được giải phóng bởi sự phân rát mà ta gọi là cái chết. Hai Giáo sư Montpellier, làm việc cùng nhau, bắt đầu lần theo và theo dõi sự sống trong các quá trình diệu kỹ của nó.
Dù có nguy cơ làm ta nhàm chán vì nhắc lại, ta vẫn phải nhắc mình nhớ trật tự trong đó Béchamp đã đạt được các khám phá đầu đời. Thứ nhất, ông chứng minh rằng khí quyển đầy các sinh vật sống tí hon, có khả năng gây lên men trong bất kỳ môi trường thích hợp nào chúng tình cờ rơi vào, và rằng sự thay đổi hóa học trong môi trường được thực hiện bởi một chất lên men do chúng sinh ra, chất lên men này hoàn toàn có thể so với dịch vị của dạ dày. Thứ hai, ông thấy trong phấn thông thường, rồi sau trong đá vôi, các sinh vật tí hon có khả năng tạo ra các thay đổi lên men, và cho thấy chúng có quan hệ với các hạt vô cùng nhỏ ông đã quan sát trong tế bào và mô của cây và động vật. Ông chứng minh các hạt phân tử này, mà ông đặt tên là microzyma, có tính cách và đời sống độc lập, và tuyên bố rằng chúng là tiền nhân của tế bào, kẻ xây dựng thân xác, các yếu tố giải phẫu thật, không hư được. Thứ ba, ông trình bày rằng các sinh vật trong không khí, cái gọi là mầm bệnh khí quyển, chỉ đơn giản là các microzyma, hay các hình thức tiến hóa của chúng, được giải phóng bởi sự phân rát khỏi chỗ ở thực vật hay động vật trước đây của chúng, và rằng các “vật thể nhỏ” trong đá vôi và phấn là những kẻ sống sót của các hình thức sống thời quá khứ. Thứ tư, ông tuyên bố rằng, vào thời điểm hiện tại này, các microzyma liên tục phát triển thành các sinh vật sống thuộc loại thấp mang tên vi khuẩn.
Ta đã xem xét qua các thí nghiệm nghiêm ngặt đã xác lập quan điểm của Béchamp về vai trò gây lên men của các sinh vật từ không khí và của những thứ tìm thấy trong phấn; giờ ta hãy theo dõi một vài trong vô số thí nghiệm ông đã tiến hành để xác lập các kết luận khác. Công trình của ông liên tục đến thế, các quan sát của ông sinh sôi đến thế, đến nỗi chỉ có thể chạm đến vài đường viền ngoài, và chẳng thể nào cố lần đúng trật tự niên đại của các thí nghiệm mà ông đã căn cứ vào các ý kiến của mình.
Ở giai đoạn rất đầu của các nghiên cứu, ông đã chứng minh với Giáo sư Estor rằng không khí chẳng cần liên quan gì đến sự xuất hiện của vi khuẩn trong chất của mô. Hơn nữa, các nhà điều tra này đã xác lập sức sống độc lập của các microzyma của một số mô, một số tuyến, v.v., bằng cách chỉ ra rằng những hạt tí hon này cư xử như các chất lên men có cấu trúc, và rằng chúng có thể phát triển thành vi khuẩn, qua các giai đoạn trung gian nhất định mà họ đã mô tả, và các giai đoạn trung gian ấy đã được nhiều nhà chuyên quyền coi là các loài khác nhau.
Ta đã thấy rằng giải pháp cơ bản cho toàn bộ bí mật, đối với Béchamp, là khám phá các “vật thể nhỏ” trong phấn — những vật thể có khả năng nghịch đường mía, hoá lỏng tinh bột, và bằng cách khác chứng minh mình là tác nhân của lên men. Các tầng đất mà ông tìm thấy chúng được các nhà địa chất cho là có tuổi ít nhất mười một triệu năm, và Béchamp đã hỏi liệu các “vật thể nhỏ” mà ông đặt tên là microzyma crete có thật sự có thể là di tích còn sống của hệ động thực vật của những thời đại xa xưa đến thế. Không có hàng thế kỷ trong tay để thử nghiệm vấn đề, ông quyết định tự xem coi điều gì sẽ còn lại bây giờ, vào thời điểm hiện tại này, của một thân xác được chôn cất với các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt. Ông biết rằng, theo cách thông thường, một tử thi chôn cất sẽ nhanh chóng thành bụi, trừ khi được ướp hay chịu nhiệt độ rất thấp, trong các trường hợp ấy sự cản trở phân hủy sẽ được giải thích bởi các hạt vốn có, các microzyma, trở nên ngủ đông.
Đầu năm 1868, vì thế, ông lấy xác một con mèo con và đặt nó nằm trong một lớp đệm canxi cacbonat nguyên chất, được chế biến đặc biệt và xử lý creosote, trong khi một lớp dày hơn nhiều phủ lên thân xác. Toàn bộ được đặt trong một bình thủy tinh, miệng bình mở được đậy bằng nhiều tờ giấy xếp sao cho không khí được thay mới liên tục mà không cho bụi hay sinh vật lọt vào. Bình được để trên kệ phòng thí nghiệm của Béchamp cho đến cuối năm 1874. Lớp đệm canxi cacbonat trên cùng sau đó được bỏ đi, và nó tan hoàn toàn trong axit hydrochloric. Xuống sâu thêm vài xen-ti-mét, chỉ còn thấy vài mảnh xương và vật chất khô. Không một mùi nào cảm nhận được, và canxi cacbonat không hề đổi màu. Phấn nhân tạo này trắng như phấn thông thường, và, ngoài các tinh thể kính hiển vi aragonit tìm thấy trong canxi cacbonat kết tủa, không phân biệt được với nó, và dưới kính hiển vi cho thấy những “phân tử” sáng rực, như những phân tử thấy trong phấn Sens. Một phần canxi cacbonat này sau đó được đặt trong tinh bột đã xử lý creosote, và một phần khác trong nước có đường đã xử lý creosote. Lên men xảy ra y như thể đã dùng phấn thông thường, nhưng mạnh hơn. Các microzyma không thấy trong tầng trên cùng của canxi cacbonat, nhưng ở phần thân con mèo con đã nằm, chúng sinh sôi hàng nghìn mỗi trường kính hiển vi. Sau khi lọc canxi cacbonat qua một cái rây lụa, nó được hòa tan bằng axit hydrochloric loãng, và nhờ đó Béchamp đã tách riêng được các microzyma mà kính hiển vi đã làm thấy được.
Cuối thí nghiệm này, kéo dài hơn sáu năm rưỡi, Béchamp, với “sự kiên nhẫn vô tận của thiên tài”, lặp lại nó bằng một thí nghiệm khác kéo dài bảy năm.
Để đối phó với lời phê bình có thể có rằng thân xác con mèo con đã thành mồi của các mầm bệnh không khí có thể mang trong lông nó, hay lọt vào phổi nó khi nó còn sống, hay vào ruột nó, Béchamp nay lặp lại thí nghiệm với biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt hơn.
Lần này, ngoài việc chôn cả xác một con mèo con, ông còn chôn, một trường hợp, gan một con mèo con, và trường hợp khác, tim, phổi và thận. Các nội tạng này đã được nhúng ngay vào axit cacbolic vào lúc vừa tách khỏi con vật bị mổ. Thí nghiệm này, bắt đầu ở khí hậu Montpellier tháng 6 năm 1875, phải được chuyển đến Lille cuối tháng 8 năm 1876, và kết thúc tại đó tháng 8 năm 1882.
Do khí hậu ôn hòa của Lille, rất khác với Montpellier, nơi phần lớn trong năm gần như cận nhiệt đới, sự phá hủy thân xác tiến xa ít hơn nhiều trong thí nghiệm sau này so với thí nghiệm trước. Dù sao, trong các lớp canxi cacbonat cạnh di thể — một trường hợp cả con mèo con, trường hợp khác các nội tạng — các microzyma sinh sôi, và cũng có vi khuẩn thành hình. Hơn nữa, phấn bị thấm chất hữu cơ, khiến nó đổi sang màu nâu vàng, nhưng toàn bộ không mùi.
Từ hai thí nghiệm này, Béchamp thấy xác nhận lớn lao cho các quan điểm đã được gợi ý cho ông bởi nhiều quan sát khác. Đầu tiên, chúng ủng hộ niềm tin của ông rằng các “vật thể nhỏ”, các microzyma, của phấn tự nhiên là di tích còn sống của các hình thức thực vật và động vật mà trong thời quá khứ chúng đã là các yếu tố tế bào kiến tạo của chúng. Điều đã được chỉ ra là sau khi một cơ quan chết, các tế bào của nó biến mất, nhưng ở chỗ chúng, các hạt phân tử muôn vàn — hay microzyma — còn lại. Đây là bằng chứng đáng chú ý về tính bất hủ của những kẻ kiến tạo các hình thức sống này. Sự kiện đời sống độc lập của chính chúng cũng không bị phủ nhận bởi một tuổi thọ vượt quá các điều kiện không cho phép chúng dinh dưỡng trong những thời kỳ vô cùng lớn, vì ta thấy việc kiêng ăn kéo dài là khả thi ngay cả trong thế giới động vật, giữa các sinh vật ngủ đông, trong khi nhà tự nhiên học có thể kể nhiều trường hợp hơn nữa giữa các sinh vật tí hon — chẳng hạn các cư dân ao, chúng nhịn ăn trong những khoảng không xác định khi bị tước nước, môi trường sống tự nhiên của chúng, và bào tử dương xỉ, chúng cũng được biết là giữ được sức sống có thể ngủ đông nhiều năm. Như vậy, dù bị giam trong một thân xác động hay thực vật, hay được giải phóng khỏi sự phân rát của các hình thức thực vật và động vật, các microzyma, theo Béchamp, đã được chứng minh là có khả năng giữ sức sống trong trạng thái ngủ đông, dù khoảng thời gian vượt quá mọi ghi chép của loài người. Các microzyma khác nhau vẫn có thể có các mức sức sống khác nhau, vì, như ta sẽ thấy, Béchamp đã tìm thấy sự khác biệt giữa các microzyma của các loài và cơ quan khác nhau.
Nhưng, ngoài việc thấy rằng các yếu tố của tế bào có thể sống vô hạn sau khi các thân xác thực vật hay động vật mà chúng vốn xây dựng đã bị phân rát, ông cho rằng ông đã thu được bằng chứng thuyết phục về khả năng của chúng phát triển thành các loại sự sống thấp gọi là vi khuẩn. Nếu không, chúng đến từ đâu trong trường hợp các nội tạng được chôn? Dù các mầm bệnh không khí chưa bị loại trừ hoàn toàn trong trường hợp thân xác con mèo con, thì biện pháp phòng ngừa tối đa đã được dùng để loại trừ chúng trong trường hợp chôn các cơ quan nội tạng. Thế mà Béchamp thấy rằng các microzyma của nội tạng, cũng như của cả con mèo con, đã tiến hóa thành các microzyma liên kết, chuỗi các microzyma, và cuối cùng thành vi khuẩn mịn, trong đó vi khuẩn bacterium capilatum xuất hiện ở trung tâm một miếng thịt lớn.
Ở đây Béchamp thấy Cuvier, rồi sau đó Pasteur, đã sai thế nào khi giả định “rằng bất kỳ phần nào, bị tách khỏi khối một con vật, đã bởi chính sự kiện ấy chuyển sang trật tự của các chất chết, và vì thế bị thay đổi về bản chất”. Nhờ các nghiên cứu của Béchamp, người ta thấy rằng các phần riêng lẻ của một thân xác giữ được một mức độ nào đó của đời sống độc lập — một niềm tin được một số nhà thực nghiệm hiện đại giữ, những người, khác với Béchamp, không đưa ra được lời giải thích.
Thí nghiệm của ông cho thấy Giáo sư thấy việc vi khuẩn có thể tìm thấy trong đất nơi tử thi đã chôn, trong đất đã bón phân, cũng như trong môi trường xung quanh các thảm thực vật đang phân rữa, là như thế nào. Theo ông, vi khuẩn không phải các sinh vật được sáng tạo đặc biệt, bí ẩn xuất hiện trong khí quyển, mà chúng là các hình thức tiến hóa của các microzyma, những kẻ xây dựng tế bào của cây và động vật. Sau khi các sinh vật này chết, vi khuẩn, bằng các quá trình dinh dưỡng của chúng, thực hiện sự phân rát, hay nói cách khác sự phân hủy, của cây hay động vật, khiến nó trở lại các hình thức xấp xỉ microzyma. Như vậy Béchamp dạy rằng mọi sinh vật sống đều nảy sinh từ microzyma, và cũng rằng “mọi sinh vật sống đều khử được về microzyma”. Tiên đề thứ hai này của ông, ông nói, giải thích sự biến mất của vi khuẩn trong thí nghiệm trước, vì cũng như các microzyma có thể tiến hóa thành vi khuẩn, thì theo lời giảng dạy của ông, vi khuẩn, bằng một quá trình nghịch, có thể được khử về sự giản đơn nguyên thủy của microzyma. Béchamp tin điều này đã xảy ra trong trường hợp trước, khi sự phá hủy xác con mèo con hoàn chỉnh hơn nhiều so với trường hợp thứ hai, khi khí hậu ôn hòa của Lille đã kéo dài quá trình phân hủy.
Nhiều thật là bài học người lao động không biết mệt rút ra từ hai loạt quan sát này. Trong các bản ghi nhớ của mình, ông đã tóm tắt chúng thành tám điều sau:
Giáo sư tiếp tục: “Tôi không có ý suy ra rằng trong sự phá hủy xảy ra ngoài trời, trên mặt đất, các nguyên nhân khác không xuất hiện để xúc tiến nó. Tôi chưa bao giờ chối rằng các mầm bệnh của không khí, hay các nguyên nhân khác, đóng góp vào đó. Tôi chỉ nói rằng những mầm bệnh và những nguyên nhân này chưa hề được tạo ra một cách rõ ràng vì mục đích ấy, và rằng cái gọi là mầm bệnh trong bụi khí quyển chẳng là gì khác ngoài các microzyma từ các cơ thể đã bị phá hủy, bằng cơ chế tôi vừa giải thích, và mà ảnh hưởng phá hủy của chúng được cộng thêm vào ảnh hưởng của các microzyma thuộc về sinh vật đang trong quá trình bị phá hủy. Nhưng trong bụi khí quyển chẳng những chỉ có các microzyma; bào tử của toàn bộ hệ vi sinh vật cũng có thể lọt vào, cũng như mọi loại nấm mốc có thể sinh ra từ các bào tử ấy.”
Không được cho rằng Béchamp đã xây dựng những quan điểm muôn vẻ đến thế chỉ trên hai loạt quan sát. Từ ngày Thí nghiệm Ngọn hải đăng, ông chưa bao giờ ngừng công việc vất vả liên quan đến vi sinh vật. Cùng với Giáo sư Estor, ông đã tiến hành nhiều thí nghiệm trên các cơ quan nội tạng lấy từ thai nhi, tình cờ do các ca sẩy thai cung cấp cho họ. Ở đây, một lần nữa, họ lại có bằng chứng không cưỡng được về sự tiến hóa của vi khuẩn từ các hạt vốn có bình thường, vì, trong khi họ tìm thấy vi khuẩn trong nội dung bên trong, thì các chất lỏng xung quanh, được chế biến đặc biệt như các môi trường nuôi cấy được thừa nhận, lại hoàn toàn không có các sinh vật ấy. Họ không tiếc công gì cho mình. Không gian không cho phép nhiều hơn một dẫn chiếu vụn vặt cho một vài trong các thí nghiệm liên tục và đa dạng của họ, chẳng hạn như về trứng, trong đó họ không bằng lòng với trứng gà, họ còn kiếm trứng đà điểu với vỏ cứng dai và đã thử chúng bằng vô số xét nghiệm. Từ những quả sau, họ nhận được bằng chứng về sự tiến hóa dần dần trong quả trứng đã thụ tinh của các microzyma hợp nhất của tinh trùng đực và tế bào gốc cái thành các cơ quan và mô của con vật có lông sẽ ra đời. Họ cũng được cho thấy sự chặn lại của sự phát triển này trong những quả trứng bị lắc và quấy rối, và sự thay thế bên trong, trong quả trứng đang thối, của các chuỗi microzyma liên kết và vi khuẩn sinh sôi.
Trong công trình của mình, hai Giáo sư đã áp dụng mọi xét nghiệm có thể cho các thí nghiệm, khi thì cho không khí vào, khi thì loại trừ nó một cách nghiêm ngặt. Các quan sát của họ bắt đầu được một số học trò của Giáo sư Béchamp tiếp nhận với nhiệt tình, trong số đó có ông Le Rique de Monchy, người đã giúp Béchamp các nghiên cứu về tằm. Trong một bài có tên “Bản ghi nhớ về Các Hạt Phân tử Có Nguồn gốc Khác nhau”, học trò không biết mệt này đã chứng minh rằng các hạt phân tử rung động là những sinh vật có tác động mạnh, tương tự tác động của chất lên men, lên một số vật chất chúng tiếp xúc trong môi trường tự nhiên của mình.
Trong khi đó, vị thầy vĩ đại của ông gửi Bản ghi nhớ này tiếp Bản ghi nhớ khác lên Viện hàn lâm Khoa học. Chính Béchamp đã khởi xướng việc nghiên cứu vi sinh vật — microzyma và vi khuẩn — trong nước bọt và trong chất nhầy của mũi và các đường khác. Chính các chất tiết của cơ thể đã cung cấp cho ông bằng chứng cho các ý kiến của mình. Như vậy, trong một Bản ghi nhớ “Về Bản chất và Chức năng của Các Microzyma Gan”, ông và Estor đã nói: “Vật chất, dù albuminoid hay khác, chưa bao giờ tự phát trở thành một zymase hay đạt được các tính chất của zymase; ở bất cứ đâu những thứ này xuất hiện, sẽ tìm thấy một thứ gì đó có cấu trúc (sống).”
Điều này cho ta một quan niệm diệu kỹ biết bao về cơ thể! Cũng như một gia đình hay một Nhà nước không thể hưng thịnh nếu các thành viên khác nhau của nó không đảm nhận các chức năng khác nhau của mình, cơ thể chúng ta, và cơ thể các động và thực vật, được điều hòa bởi vô số người lao động mà sự hỏng việc trong hành động làm loạn cân bằng của cả sinh vật. Cũng như trong Nhà nước có các chuyên gia khác nhau cho các hình thức lao động khác nhau, Béchamp đã chứng minh sự phân biệt giữa các microzyma của các cơ quan khác nhau, microzyma của tuyến tụy, microzyma của gan, của thận, v.v., v.v.
Và vì người ta có thể phản đối rằng quá khó làm những phân biệt như thế giữa những vật tí hon dưới kính hiển vi, ta chẳng làm gì được tốt hơn là trích lời chính nhà thực nghiệm rực rỡ ấy: “Nhà tự nhiên học”, Béchamp nói, “sẽ không biết cách phân loại chúng, nhưng nhà hóa học nghiên cứu chức năng của chúng thì có thể. Như vậy một con đường mới đã mở ra: khi kính hiển vi trở nên bất lực trong việc chỉ cho ta, giữa các hình thức đã biết, nguyên nhân của sự biến đổi vật chất hữu cơ, thì cái nhìn xuyên suốt của nhà hóa học được vũ trang bằng lý thuyết sinh lý về lên men sẽ khám phá ra, đằng sau các hiện tượng hóa học, nguyên nhân sinh ra chúng.” Ông cũng nói: “Các microzyma chỉ có thể được phân biệt bằng chức năng của chúng, chức năng mà có thể thay đổi ngay cả với cùng một tuyến và cùng một mô, tuỳ tuổi con vật.”
Ông cũng chỉ ra rằng chúng thay đổi theo từng mô và từng con vật, và rằng các microzyma tìm thấy trong máu người khác với các microzyma tìm thấy trong máu động vật.
Các nghiên cứu này đang gây chú ý nhiều đến mức năm 1876, Giáo sư Béchamp được ông Glenard, Giám đốc, mời giảng đặc biệt tại Trường Y Lyon. Dịp này, bậc thầy vĩ đại đã thảo luận các thí nghiệm về microzyma gan mà ông và Giáo sư Estor đã tiến hành cùng nhau, cũng như vai trò các sinh vật vi mô của miệng đóng trong việc hình thành diastase nước bọt và trong tiêu hóa tinh bột — công trình ông đã tiến hành liên quan với Giáo sư Estor và ông Sainte-Pierre. Ông cũng chỉ ra các microzyma trong vaccine và trong mủ giang mai.
Đó là những ngày Béchamp hạnh phúc trong công việc tại Montpellier, khi ngôi sao hy vọng còn chiếu sáng, và ông bày tỏ sự vui vẻ tươi sáng quen thuộc của tính khí mình. Ta có thể hình dung ông, với khuôn mặt cao quý và đôi mắt lớn lý tưởng sáng long lanh nhiệt tình, đang giảng trước khán giả trẻ của ông tại Lyon. Chẳng có một lời nào về bản thân ông; về điều ông đã làm hay là hy vọng làm. Lời khoe khoang và lời tự tâng bốc đều xa lạ với ông như nhau. Các bí ẩn của Tự nhiên, các vận hành của sự sống và cái chết, lôi cuốn ông. Và khi các sinh viên ra về, tâm trí đầy những điều kỳ diệu họ đã nghe — những điều vượt xa đến thế những gì họ đã học được nơi khác, đến nỗi ý nghĩa đầy đủ, không còn nghi ngờ gì, hầu như chưa lọt vào, và họ chỉ có ý niệm nhỏ nhoi về thiên tài của vị đại nhân không tự khen mình, kẻ đã giảng cho họ một cách khiêm tốn đến thế.
Thời đẹp đẽ biết bao cho bậc thầy vĩ đại, khi các quan điểm của ông phát triển với tốc độ đến thế, và liên tục ban ngày, và thường qua nửa đêm, ông làm việc ở việc mở ra các bí ẩn của Tự nhiên; trong khi cùng ông, trong một loạt năm, người đồng nghiệp tận tụy Giáo sư Estor đã lao động vất vả.
“Ôi! thật xúc động biết bao”, Béchamp viết, “những buổi làm việc vô số mà chúng tôi đã tham dự, kinh ngạc trước sự xác nhận của các ý tưởng, sự kiểm chứng của các sự kiện, và sự phát triển của lý thuyết.” Và với lòng hào hiệp rộng lớn tự nhiên với ông như nó, than ôi!, xa lạ với Pasteur, ông thêm: “Trong thời kỳ từ 1868 đến 1876, mọi điều liên quan đến các microzyma của cơ quan động vật là chung của cả hai chúng tôi, và tôi chẳng biết cách nào phân biệt điều gì là của tôi và điều gì là của Estor.”
Ta có thể mờ mịt nhận ra cảm xúc của các nhà khám phá khi họ thấy mình xâm nhập gần bí mật của sự sống hơn bất kỳ người nào từng làm được trước họ; minh họa và chứng minh điều mà Lavoisier vĩ đại đã cảm thấy trước, trong một thời kỳ sớm hơn. Và, vì cả hai đều là bác sĩ, các công lao của họ không bị thu hẹp vào các thí nghiệm nhân tạo nhiều ít mà họ tiến hành trong phòng thí nghiệm. Công việc lâm sàng của họ mang đến cho họ kinh nghiệm liên tục, và các quan sát chắc chắn nhất của họ là những quan sát được thực hiện bởi nhà thực nghiệm vĩ đại nhất trong mọi nhà thực nghiệm — Tự nhiên!
Chúng ta đã liếc nhìn qua phần nào công lao vất vả của Béchamp trong phòng thí nghiệm; nhưng chính ông sẽ là người đầu tiên khăng khăng cho rằng tầm quan trọng lớn hơn mà ông gắn cho các thí nghiệm do chính Tự nhiên tiến hành. Ông dành cho những thí nghiệm ấy sự nghiên cứu không ngừng. Bất cứ khi nào có thể, ông đến các khoa bệnh của bệnh viện và khám xét tỉ mỉ từng ca. Ông theo dõi sát sao công trình y học của giáo sư Estor và của nhiều bác sĩ khác cùng làm việc với ông tại Montpellier.
Một cái nang phải cắt bỏ khỏi gan đã cho một bằng chứng đáng kinh ngạc về học thuyết tiến hóa của vi khuẩn, vì trong đó người ta tìm thấy microzyma ở mọi giai đoạn phát triển: đơn độc, liên kết, kéo dài; tóm lại, những vi khuẩn thực sự. Bác sĩ Lionville, một trong những học trò y khoa của Béchamp, hết sức quan tâm và đã chứng minh rằng dịch trong một bọng nước có chứa microzyma, và rằng những microzyma ấy tiến hóa thành vi khuẩn.
Với lòng kiên nhẫn và sự siêng năng phi thường, giáo sư Béchamp cùng các đồng nghiệp tiếp tục nghiên cứu y học của họ, tìm thấy microzyma trong mọi mô lành mạnh, và microzyma cùng vô số dạng vi khuẩn ở nhiều giai đoạn phát triển trong các mô bị bệnh. Xen kẽ cho việc nghiên cứu lâm sàng là các phép thử trong phòng thí nghiệm; giáo sư đã tiến hành vô số thí nghiệm — mà chỗ viết không đủ để kể hết — để chứng minh rằng các hiện tượng vi khuẩn xuất hiện không phải do sự xâm nhập từ bên ngoài.
Một ngày kia, một tai nạn tình cờ đã góp phần thú vị cho các quan sát ấy. Một bệnh nhân được đưa đến bệnh viện của Đại học Y khoa Montpellier vì hậu quả của một cú đòn cực mạnh vào khuỷu tay. Đó là một gãy xương dạng nghiền nhiều mảnh của các khớp ở phần trước cánh tay; khuỷu tay hở toang. Việc cắt cụt là bắt buộc và đã được thực hiện từ bảy đến tám giờ sau tai nạn. Ngay sau đó, cánh tay bị cắt được mang xuống phòng thí nghiệm của bác sĩ Estor, nơi ông cùng bác sĩ Béchamp khám nghiệm nó.
Phần cẳng tay có một mặt khô đen. Sự mất cảm giác hoàn toàn đã xảy ra trước ca phẫu thuật. Mọi triệu chứng của hoại thư đều có mặt. Dưới độ phóng đại lớn của kính hiển vi, người ta thấy microzyma liên kết với nhau và thành chuỗi, nhưng không có vi khuẩn thực sự nào. Chúng chỉ đang trong quá trình hình thành. Những thay đổi do chấn thương gây ra đã tiến triển quá nhanh, không kịp để chúng phát triển. Bằng chứng chống lại giả thuyết vi khuẩn là nguồn gốc của sự hoại tử này thuyết phục đến mức giáo sư Estor lập tức kêu lên: Vi khuẩn không thể là nguyên nhân của hoại thư; chúng là kết quả của nó.
Đây chính là điểm khác biệt cốt yếu giữa học thuyết microzyma và phiên bản vi khuẩn của nó — phiên bản mà Pasteur cùng những người theo ông sẽ góp phần phổ biến. Pasteur dường như thiếu hiểu biết về các yếu tố cơ bản của vật chất sống. Khi còn sống, ông so sánh cơ thể với một thùng bia hay một thùng rượu vang. Đối với ông, cơ thể chỉ là một tập hợp hóa chất trơ; vì vậy, một cách tự nhiên, sau khi chết ông không công nhận trong đó có bất cứ thứ gì còn sống. Do đó, khi sự sống hiển nhiên xuất hiện, ông chỉ có thể lý giải điều đó bằng sự xâm nhập từ bên ngoài của những sinh vật nhỏ bé trong không khí — những sinh vật mà thực tế của chúng chính Béchamp đã dạy ông hiểu. Nhưng việc lý giải nguồn gốc của chúng từ tế bào và mô của thực vật và động vật thì phải mất nhiều thời gian hơn ông mới thấu hiểu, dù rằng, như chúng ta sẽ thấy, về sau ông thực sự đã có một lần cố gắng đạo văn quan điểm của Béchamp — và lần ấy đã thất bại.
Trong khi đó, Béchamp và Estor kiên trì bền bỉ với các quan sát lâm sàng, chẳng hạn họ làm một công trình đặc biệt về sự phát triển microzyma trong các ca lao phổi. Những hiệu ứng họ thấy trong công việc y khoa, họ chứng minh và kiểm chứng bằng thí nghiệm phòng thí nghiệm, và với sự thận trọng sâu sắc của những nhà khoa học thực thụ, họ tiến hành gần như vô số phép thử để củng cố niềm tin vào sự phát triển của vi khuẩn từ microzyma, và vào sự thật rằng không cần phải giải thích sự xuất hiện của chúng trong các cơ quan nội tạng bằng một sự xâm nhập hàng loạt từ khí quyển bên ngoài.
Thế nhưng, chính một trong những thí nghiệm trực tiếp của Tự nhiên, một bằng chứng tình cờ ở giới thực vật, đã mang lại cho giáo sư Béchamp một trong những chứng minh hay nhất của ông về sự phát triển bên trong của vi khuẩn, không kể đến sự can thiệp của không khí.
Như chúng ta đã nói, trong phần lớn năm, khí hậu Montpellier gần như cận nhiệt đới, và ở đó có thể tìm thấy nhiều loài thực vật ưa nắng, trong số có những cây xương rồng kỳ dị, với bề mặt dày và những gai ghê gớm.
Tuy nhiên, vào mùa đông 1867–1868, rét hãi đã ập đến, và sương giá đã làm khổ những cây xương rồng vốn không hề quen cảnh ấy. Vào một trong những ngày đông giá rét ấy, đôi mắt tinh tường của giáo sư Béchamp — đôi mắt không bao giờ bỏ sót điều gì quan trọng — để ý đến một cây Echinocactus, một trong những cây to và khoẻ nhất loài này, bị đóng băng dài đến hai feet trong chiều dài đồ sộ của nó. Sau khi băng tan, giáo sư mang cây về để khảo sát. Dù bị sương giá, bề mặt của nó dày và cứng đến mức hoàn toàn không sứt mẻ. Lớp biểu bì vẫn chắc chắn như trước tai nạn, và mật độ lớn của các mô đã bảo vệ phần bên trong khỏi mọi sự xâm nhập từ ngoài, ngoại trừ các khoảng không gian trong tế bào thông với không khí bên ngoài qua khí khổng. Thế nhưng, khi giáo sư rạch một đường ở phần bị đóng băng, ông thấy bên trong vi khuẩn sinh sôi, trong đó loài ông gọi là bacterium termo và putridinis chiếm ưu thế.
Béchamp lập tức nhận ra rằng Tự nhiên đang tiến hành những phép thử đáng chú ý về cách vận hành của bà; và khi sương giá lại ập đến vào ngày 25 tháng 1 và kéo dài đến cuối cùng tháng đó, ông quyết định xác minh quan sát trước của mình. Những cây đáng chú ý trong Vườn Bách thảo đã cho ông những cơ hội tuyệt vời, vì nhiều cây trong số chúng bị đóng băng.
Ông bắt đầu quan sát với một cây xương rồng tên là Opuntia vulgaris. Cây chỉ bị đóng băng một phần, và khi cạo bề mặt bằng dao mổ, giáo sư tự thuyết phục rằng bề mặt hoàn toàn không sứt. Theo lời chính ông, không một vết nứt nhỏ nhất hình thành để một kẻ địch có thể lọt vào. Thế nhưng, ngay dưới lớp da và xuống sâu tới những lớp thẳm sâu nhất của phần bị đóng băng vẫn ẩn náu những vi khuẩn rất nhỏ và rất hoạt động, cùng những vi khuẩn lớn hơn, cũng nhanh nhẹn không kém, dài từ 0,06 mm đến 0,09 mm, dù ít đông hơn. Những microzyma bình thường đã hoàn toàn nhường chỗ cho vi khuẩn trong các phần bị đóng băng. Ngược lại, điều đáng chú ý là ở những phần lành mạnh, không bị sương giá, chỉ có thể tìm thấy những tế bào hoàn hảo và microzyma bình thường.
Tiếp đó, Béchamp khảo sát một loài thực vật mà thực vật học gọi là Calla Ethiopica. Cây bị đóng băng đến tận gốc và chết đến mức một cái chạm nhỏ cũng làm nó vụn thành bột. Khảo sát dưới kính hiển vi cho thấy microzyma đang trong quá trình biến đổi thành những vi khuẩn di động cực nhỏ; cũng có thể thấy những vi khuẩn lớn, đo từ 0,03 mm đến 0,05 mm. Tự nhiên cũng đã cung cấp một thí nghiệm đối chứng quý giá, vì ở trung tâm của cây bị đóng băng đang thối rữa ấy, một chùm lá non còn xanh và lành mạnh, và ở đó chỉ tìm thấy microzyma bình thường — một sự tương phản sắc nét với những cảnh biến đổi diễn ra ở các phần xung quanh, mà sương giá đã tàn phá không thương tiếc.
Minh họa thứ ba do một cây Agave Mexico cung cấp. Ở phần không bị đóng băng, chỉ tìm thấy microzyma bình thường, còn ở phần lá bị đen và đóng băng, có một đám microzyma rất di động, và ở đó cũng tràn ngập vi khuẩn hao hao bacterium termo, cùng với số lượng nhỏ vi khuẩn đo từ 0,01 mm đến 0,03 mm.
Ở một cây Agave Mexico khác, phần lá bị đen và đóng băng không chứa microzyma nào, chỉ có những vi khuẩn nhỏ và vài loài dài hơn, đo từ 0,008 mm đến 0,02 mm. Ở những phần lành mạnh, microzyma vẫn bình thường, nhưng càng đến gần các phần bị đóng băng, người ta càng thấy microzyma bị biến đổi về hình dạng và kích thước.
Minh họa thứ năm là một cây Datura Suaveolens, trong đó các đầu cành bị đóng băng. Dưới lớp biểu bì, cũng như sâu bên dưới, là những đám bacterium termo, vài con bacterium volutans hiếm thấy và một số vi khuẩn lớn đo từ 0,03 mm đến 0,04 mm. ở đó cũng có những kim tinh thể dài, đầu cuối hình thoi, dài từ 0,05 mm đến 0,10 mm, chúng bất động và không tìm thấy ở những phần lành mạnh. Các phần bị đóng băng và khô héo rốt cuộc vẫn còn xanh.
Qua những quan sát này và nhiều quan sát khác, Béchamp trở nên tin chắc rằng microzyma của giới thực vật có năng khiếu lớn trong việc phát triển thành vi khuẩn. Nhưng vì ông không bao giờ vội kết luận, ông hết sức cẩn trọng để chắc chắn rằng không có sự cấy mô nào của các sinh vật ngoại lai có thể chịu trách nhiệm, dù chỉ một phần.
Một năm sau, một cây Echinocactus recurvus cho ông một thí dụ thú vị về sự vắng mặt của vi khuẩn trong khi sự lọt vào từ bên ngoài của chúng dường như được tạo điều kiện thuận lợi; và như vậy, có vẻ như ông lại được thêm một bằng chứng cho thuyết của mình rằng rối loạn dinh dưỡng hay sự thay đổi của môi trường, như sự thay đổi do sương giá gây ra, có thể làm nảy sinh sự phát triển tự nhiên của microzyma bên trong vốn có.
Ông tình cờ bước vào một nhà kính trong Vườn Bách thảo Montpellier, nơi ông để ý một cây Echinocactus mà ở nhiều khía cạnh làm ông nhớ đến cây ông đã khảo sát cách đây một năm, đến mức cứ như thể chính cây này cũng đã bị sương giá. Ông hỏi người làm vườn, người này giải thích rằng rễ cây đã thối vì cây được tưới quá nhiều nước. Đây lại là một đối tượng cho người học trò kiên trì của Tự nhiên. Có thể chắc chắn rằng giáo sư Béchamp đã không bỏ qua cơ hội ấy.
Bề mặt dày cứng dường như còn nguyên, nhưng nấm mốc đã hình thành từ những tế bào lớn của nấm, mà đã phát triển sợi nấm. Thế nhưng, khi cắt xuyên qua bề mặt này, bên trong vết cắt chỉ thấy microzyma, chứ không có vi khuẩn nào, dù mọi điều kiện đều thuận lợi cho một cuộc xâm nhập: nấm mốc có trên bề mặt và rễ cây đang thối.
Điều hoàn toàn chắc chắn là giáo sư, trong mọi trường hợp chúng ta vừa đề cập, đã không tự bằng lòng với một phép khảo sát dưới kính hiển vi. Trong mỗi trường hợp, ông áp dụng các phép thử hóa học, và phát hiện rằng, nói đại khái, dịch tế bào của cây xương rồng bình thường có phản ứng axit, trong khi dịch của các phần bị đóng băng có tính kiềm nhẹ. Song cũng có những biến đổi thay đổi tùy từng cây khảo sát, và trong một bản ghi nhớ về đề tài này — nơi mô tả các biến đổi ấy — ông nêu rõ sự trùng hợp giữa sự phát triển của vi khuẩn và tính kiềm của môi trường. Ông nói thêm: Dù người ta đã tin điều trái lại, vi khuẩn vẫn có thể phát triển trong môi trường axit, môi trường này có thể tiếp tục axit hoặc trở thành kiềm, cũng như chúng phát triển được trong môi trường hoàn toàn trung tính. Ông tin rằng, nếu đúng là có loài microzyma chỉ tiến hóa thành vi khuẩn trong môi trường trung tính hoặc kiềm nhẹ, thì những loài khác, ngược lại, phát triển trong môi trường vốn axit.
Hãy nhớ rằng Béchamp chính là người đầu tiên chứng minh một cách chính xác sự phát triển và nhân lên của các sinh vật trong không khí trong môi trường thích hợp. Hiểu rất rõ vai trò quan trọng của các vi sinh vật trong không khí, ông tự nhiên tò mò muốn biết tác động của việc cố ý đưa chúng vào những môi trường mà ở đó chúng sẽ gặp microzyma — những kẻ mà ông coi là những kiến trúc sư hình thành sống của cơ thể thực vật và động vật. Vì thế ông đã cấy vi khuẩn vào cây và chăm chú nghiên cứu kết quả của cuộc xâm nhập ngoại lai này.
Trong các dung dịch có đường mà ông đã dùng khi đi đến những kết luận được ghi nhận trong Thí nghiệm Béchamp năm 1859, ông đã thấy những kẻ xâm nhập tăng lên và nhân lên; nhưng lần này, trong bên trong cây, chúng tiếp xúc với những sinh vật sống sệt chẳng kém gì chúng. Sau khi cấy, quả nhiên người ta quan sát thấy những đàn vi khuẩn ngày càng đông, nhưng Béchamp có lý do để tin rằng đó không phải là hậu duệ trực tiếp của những kẻ xâm nhập. Ông trở nên tin chắc rằng sự xâm nhập từ bên ngoài đã làm rối loạn microzyma vốn có, và rằng những vi khuẩn nhân lên mà ông quan sát thấy trong bên trong cây, theo lời chính ông, là sự phát triển bất thường của những sinh vật không đổi và bình thường.
Như vậy, những thí nghiệm mà chính Tự nhiên đã tiến hành trong Vườn Bách thảo Montpellier này sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo huấn bệnh lý của giáo sư Béchamp. Chúng sẽ ngăn ông vội vã kết luận theo kiểu, chẳng hạn, những kết luận mà Pasteur đã đưa ra — ông này tưởng tượng mô và dịch của động thực vật chỉ là những môi trường hóa chất trơ, giống như các dung dịch có đường trong đó Béchamp lần đầu tiên phơi bày vai trò của các sinh vật trong không khí.
Những quan sát thực vật học này được Béchamp thực hiện vào một thời điểm quan trọng, khi chủ đề vi khuẩn bắt đầu thu hút nhiều sự chú ý. Ông tiến hành công trình nghiên cứu đặc biệt về các cây bị sương giá vào đầu chính năm 1868, năm mà sau đó, ngày 19 tháng 10, Pasteur, ở tuổi 45, bị một cơn liệt nặng đánh gục — cơn liệt mà ông cho là do sự làm việc quá sức vì bệnh tằm. Nhưng trước đó, như chúng ta đã thấy, nhà hóa học lừng danh ấy đã nỗ lực hết sức để đề cao vai trò của cái mà ông gọi là các mầm bệnh trong không khí và để chiếm lấy công lao phát hiện cho riêng mình. Học trò và người hâm mộ của ông bằng lòng đi theo những quan niệm hạn hẹp của ông về vi sinh vật, và trong suốt thập niên 1860, một trong số họ, ông Davaine, đã khai sinh ra cái mà ngày nay gọi là lý thuyết mầm bệnh.
Chuyện xảy ra như sau. Một chứng bệnh gọi là charbon, hay còn gọi là sốt lách, về sau thường được gọi là bệnh than, thỉnh thoảng gây những đợt tàn phá trong các đàn bò và đàn cừu ở Pháp và nhiều nơi khác ở châu Âu. Năm 1836, một người Pháp tên Delafond đã lưu ý đến những hình dạng giống như những cây que nhỏ trong máu của động vật bị bệnh, và về sau chúng được Davaine cùng những người khác nhận ra.
Từ trước, đã có Kircher, Linné, Raspail và những người khác đưa ra giả thuyết rằng các sinh vật đặc thù có thể gây bệnh; và Davaine, sau khi biết đến quan niệm của Pasteur rằng mỗi loại lên men đều do một mầm bệnh riêng trong không khí sinh ra, nay đề nghị rằng những sinh vật hình que nhỏ mà ông gọi là bacteridia có thể là những kẻ xâm nhập ký sinh vào cơ thể động vật và là nguyên nhân của bệnh sốt lách, tức bệnh than. Ông và những người thử điều tra vấn đề này gặp những kết quả mâu thuẫn trong các thí nghiệm. Đến sau này, năm 1878, bác sĩ người Đức Robert Koch đã giải vây cho họ bằng cách nuôi cấy các bacteridia và phát hiện ra sự hình thành bào tử trong chúng; còn Pasteur cuối cùng đã nhận lấy việc này, và với bản tính thích đặt giáo điều, ông tuyên bố: Bệnh than, do đó, là bệnh của vi khuẩn que, như bệnh sán lợn là bệnh của con sán lợn, như bệnh ghẻ là bệnh của loài mạt đặc trưng của nó.
Những khái quát luôn luôn nguy hiểm trong một thế giới đầy mâu thuẫn, nhưng, như người ta từng nói một cách đúng đắn, không có học thuyết nào sai đến mức không chứa trong nó một phần sự thật. Lời nhận xét khôn ngoan ấy đã được Béchamp dẫn lại, và ông nói tiếp:
Điều đó cũng đúng với các học thuyết vi sinh vật. Quả thực, nếu trong mắt một số nhà khoa học, bác sĩ và nhà phẫu thuật, hệ thống các mầm bệnh có trước bị tước hết vẻ chân lý và không dựa trên một thực tại thực nghiệm nào, thì việc hệ thống ấy được các nhà khoa học ấy tiếp nhận — họ dường như đã tiếp nhận nó mà không đi đủ sâu vào bên trong — sẽ hoàn toàn khó hiểu. Tuy nhiên, những sự kiện không thể chối cãi dường như ủng hộ nó. Thật vậy, chắc chắn là có thực những sinh vật sống vi mô tinh vi nhất, mà không còn nghi ngờ gì, có thể truyền cái trạng thái bệnh lý đặc hiệu vốn ở trong chúng. Nguyên nhân của cả tính độc lực lẫn khả năng lây nhiễm trong một số sản phẩm của cơ thể bệnh, hoặc của những thân xác trong trạng thái thối rữa sau khi chết, thực ra nằm ở những sinh vật thuộc loại này. Đúng là người ta chắc chắn đã phát hiện những sinh vật như vậy trong quá trình phát triển của một số chứng bệnh độc hại, lây nhiễm, lây truyền, hoặc các loại khác.
Như vậy có thể thấy rằng Béchamp tin rằng chính phần sự thật ấy trong lý thuyết mầm bệnh đã làm mù quáng nhiều người đối với những sai lầm của nó. Ông giải thích rằng sự thiếu hụt của một sự hiểu biết đầy đủ hơn là do thiếu kiến thức đầy đủ:
Theo tôi, là vì các bác sĩ đã không nhận thấy mối liên hệ nào, mối dây liên kết nào, giữa một số yếu tố mô học của cơ thể động vật và thực vật với vi khuẩn, nên họ đã dễ dàng từ bỏ như thế những quy luật của khoa học vĩ đại để theo — sau Davaine, và cùng với Pasteur — hệ thống của Kircher về các mầm bệnh có trước. Do đó, vì không hiểu mối tương quan thực sự và căn bản tồn tại giữa vi khuẩn và các yếu tố mô học bình thường trong cơ thể chúng ta — hoặc không hiểu nó như Davaine, hoặc phủ nhận nó như Pasteur — họ đã trở lại tin vào hệ thống của P. Kircher. Từ lâu trước khi Davaine đưa ra quan sát của mình và coi bên trong cơ thể là môi trường cho vi khuẩn cấy phát triển, Raspail đã nói: Cơ thể không sinh ra bệnh tật: nó nhận lấy chúng từ bên ngoài. . . . Bệnh là một kết quả mà nguyên nhân chủ động của nó nằm ngoài cơ thể. Dù vậy, những vị thầy thuốc vĩ đại vẫn khẳng định, bằng lời lẽ hạnh phúc của Pidoux: Bệnh sinh ra từ chúng ta và trong chúng ta. Nhưng ông Pasteur, theo quan điểm của Raspail, và cố gắng xác minh giả thuyết ấy một cách thực nghiệm, vẫn cho rằng các thầy thuốc đã lầm: nguyên nhân chủ động của mọi bệnh tật của chúng ta là các mầm bệnh được tạo ra từ thuở khởi thủy của vạn vật, chúng đã lọt vào người chúng ta một cách vô hình rồi ở đó phát triển thành ký sinh trùng. Đối với ông Pasteur, cũng như đối với Raspail, không có bệnh phát sinh tự nhiên; không có vi trùng thì sẽ không có bệnh tật, dù chúng ta có làm gì, bất chấp mọi hành động liều lĩnh của mình, bất chấp cả mọi buông thả trong cách ăn ở. Hệ thống ấy, chẳng mới cũng chẳng độc đáo, khéo léo, rất đơn giản trong sự tinh vi của nó, và do đó dễ hiểu, dẽ truyền bá. Kẻ mù chữ nhất trong loài người, nếu người ta chỉ cho họ mối liên hệ giữa con mạt và bệnh ghẻ, cũng hiểu rằng bệnh ghẻ là bệnh của con mạt. Vì thế, nó đã quyến rũ biết bao người, họ dành cho nó một thắng lợi không suy nghĩ. Trên hết, những người đời bị cuốn đi bởi một học thuyết dễ dàng và có vẻ thuyết phục, càng áp dụng được cho những khái quát chung chung và những lời giải thích mơ hồ vì nó dựa rất tồi trên những chứng minh khoa học đã được thử thách.
Vâng, thật không may cho vị thầy thuốc vĩ đại của Montpellier, muốn hiểu những vận hành sâu sắc, huyền bí và phức tạp hơn của bệnh lý — thứ mà ngay cả ở thế kỷ hai mươi vẫn còn bị xem nhẹ, như giáo sư Minchin đã phàn nàn — thì cần đến nhiều kiến thức hơn, một sự hiểu biết về ngành khoa học ấy, tế bào học, vốn đã và dường như vẫn đang bị xem nhẹ. Tự nhiên đang tiến hành những thí nghiệm mà ai cũng có thể đọc được với sự trợ giúp của kính hiển vi. Nhưng rất ít người đủ khéo léo để thăm dò đủ sâu dưới những biểu hiện bề ngoài thường gây hiểu lầm. Rất ít người có đủ kiến thức để hiểu những phức tạp mà Béchamp đã lộ ra. Thế nhưng, ngay từ đầu, ông đã cảnh báo thế giới trước việc bị đánh lừa bởi những phán đoán quá dễ dãi. Đã từ năm 1869, ông viết: Trong bệnh thương hàn, trong hoại thư, trong bệnh than, người ta đã chứng minh sự tồn tại của vi khuẩn trong mô và trong máu, và người ta rất sẵn lòng coi đó là những trường hợp ký sinh thông thường. Rõ ràng, sau những gì chúng ta đã nói, thì thay vì cho rằng chứng bệnh đã có nguồn gốc và nguyên nhân là sự đưa vào cơ thể các mầm bệnh ngoại lai cùng tác động tiếp theo của chúng, ta phải khẳng định rằng ta chỉ phải đương đầu với một sự rối loạn chức năng của microzyma, một sự rối loạn được biểu hiện bởi sự thay đổi đã xảy ra trong hình dạng của chúng.
Vị thầy thuốc vĩ đại — người đã chứng minh rất rõ sự hiểu biết của mình về những trạng thái bệnh lý ký sinh thực sự qua phát hiện nguyên nhân của bệnh pébrine — hẳn đang tự chứng minh mình là người được trang bị tốt nhất để hiểu những thí nghiệm mà Tự nhiên tiến hành khi sự vận hành bình thường của cơ thể bị đẩy đến hỗn loạn và chế độ vô chính phủ cai trị cơ thể. Nhưng đa số nhân loại, dốt những yếu tố tế bào học, đã mê mẩn với một lý thuyết thô sơ về bệnh tật mà họ có thể hiểu, và đã phớt lờ bài giảng sâu sắc của giáo sư Antoine Béchamp. Giờ đến phần mà dường như là nỗ lực đạo văn những quan điểm ấy của Pasteur, chúng ta phải hướng sự chú ý vào đó.
Một điểm tương phản rõ rệt giữa Béchamp và Pasteur nằm ở chỗ người trước đòi hỏi một trình tự logic giữa các quan điểm của mình, còn người sau bằng lòng đưa ra những quan điểm tưởng như mâu thuẫn lẫn nhau. Chẳng hạn, theo ông, cơ thể chẳng qua là một khối trơ, một phức hợp hóa học thuần tuý, mà — khi còn ở trạng thái khoẻ mạnh — ông vẫn cho là miễn nhiễm trước sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai. Ông dường như chưa bao giờ nhận ra rằng niềm tin này mâu thuẫn với lý thuyết mầm bệnh mà Kircher và Raspail đã đưa ra, và mà ông cùng Davaine đã nhanh chóng tiếp thu. Làm thế nào các sinh vật ngoại lai có thể gây bệnh cho một cơ thể khi, theo chính Pasteur, chúng không thể lọt vào chính cơ thể ấy cho đến sau khi bệnh đã khởi phát? Bất cứ ai có khiếu hài hước cũng sẽ nhận ra một mâu thuẫn buồn cười trong luận điểm như vậy; nhưng dù những người hâm mộ Pasteur đã tôn ông là một người hóm hỉnh, thì cảm giác về cái buồn cười ít khi là thế mạnh của một kẻ tự coi mình nghiêm trọng như Pasteur đã từng, hoặc của những kẻ ngưỡng mộ ông nghiêm trọng như chính sự ngưỡng mộ ấy.
Ngày 28 tháng 6 năm 1864, ông đọc trước Viện hàn lâm Khoa học một bản ghi nhớ về vấn đề thối rữa.
Trong đó ông nói: Hãy lấy một miếng thịt bọc kín hoàn toàn trong một tấm vải lanh thấm cồn (ở đây ông đã sao chép một thí nghiệm trước đó của Béchamp) rồi đặt vào một bể kín (có hoặc không có không khí cũng chẳng sao) để cản sự bốc hơi của cồn. Sẽ không có sự thối rữa, không ở bên trong, vì ở đó không có vibrio, không ở bên ngoài, vì hơi cồn ngăn cản sự phát triển của các mầm bệnh trên bề mặt; nhưng tôi đã quan sát thấy miếng thịt bị hỏng ở mức rõ rệt nếu nó nhỏ, và bị hoại thư nếu miếng thịt có khối lượng lớn.
Mục đích của Pasteur là chứng minh rằng trong thịt không có các yếu tố sống vốn có, rằng nếu sự sống bên ngoài — các mầm bệnh của không khí — bị loại trừ hoàn toàn thì sẽ không có sự phát triển vi khuẩn từ các sinh vật bên trong. Đó là thời kỳ mà, sau khi đã hào hứng tiếp thu ý tưởng của Béchamp về vai trò quan trọng của các chủ nhân trong khí quyển, ông phủ định cũng hăng háu không kém mọi yếu tố sống vốn có trong cơ thể động vật và thực vật.
Béchamp, biết rõ tài nghề kính hiển vi của mình vượt xa mọi người cùng thời, đã thứ lỗi cho Pasteur vì đã không thể phát hiện những sinh vật tí hon trong lớp thịt sâu. Nhưng ông cho rằng chính lời thừa nhận của Pasteur về trạng thái hỏng hay hoại thư của miếng thịt lẽ ra đã đủ để thuyết phục ông về sự thật của một biến đổi hóa học và của tác nhân gây ra nó — một tác nhân không thể thiếu được. Béchamp khẳng định rằng chính những thí nghiệm của Pasteur, trong khi cố gắng phủ nhận, ngược lại đã chứng minh sự thật của các luận điểm microzyma.
Chẳng hạn, trong một thí nghiệm khác về sữa đun sôi, Pasteur quan sát thấy một mùi hao hao mỡ rắn và ghi nhận sự tách riêng của các chất béo thành từng cục. Nếu trong sữa không có gì đang sống, thì làm sao ông giải thích được sự thay đổi trong mùi của nó và nguyên nhân của sự đông cục?
Vì vậy, không thể gạt khỏi tầm mắt sự tương phản rõ rệt giữa Béchamp và Pasteur về thái độ đối với mọi hiện tượng, nhờ đó không có gì từng bị người trước bỏ qua, trong khi người sau liên tục lướt qua những bằng chứng mâu thuẫn nhất. Bất chấp, chẳng hạn, mọi thay đổi rõ rệt trong sữa, Pasteur vẫn bằng lòng mô tả sữa là không thể thay đổi được, trừ qua sự vào của các mầm bệnh trong không khí, và chẳng qua chỉ là một dung dịch các muối khoáng, đường sữa và casein, trong đó lơ lửng những hạt chất béo; tóm lại, rằng sữa chỉ là một hỗn hợp dầu trong nước không chứa bất cứ cơ thể sống nào có khả năng gây ra bất kỳ sự thay đổi nào trong thành phần của nó. Trong nhiều năm Béchamp nghiên cứu sữa, và mãi đến một ngày muộn hơn nhiều, ông mới thỏa mãn hoàn toàn về mọi phức tạp khoa học của nó.
Chúng ta thấy rằng, cũng như năm 1857 những quan điểm về sự phát sinh tự nhiên của Pasteur hoàn toàn trái ngược với của Béchamp, thì suốt những năm 60 của thế kỷ XIX, Pasteur hoàn toàn phớt lờ giáo huấn của Béchamp về microzyma, hay microsome, của tế bào và về những biến đổi lên men do những yếu tố sống vốn có này gây ra. Đã nhận ra các mầm bệnh của không khí, ông dường như mù quáng trước các mầm bệnh của cơ thể, và phớt lờ công trình vĩ đại của Béchamp khi người sau đã phân biệt bằng thí nghiệm những mức nhiệt khác nhau cần thiết để tiêu diệt microzyma của sữa, của đá phấn, v.v.
Cuối cùng, dường như Pasteur đã phải tin — dù không muốn — vào những kết luận của Béchamp về bệnh của tằm, và sự chê bai của ông đối với người sau chắc hẳn bị khơi dậy bởi ý thức về một sự cạnh tranh nguy hiểm. Vào cuối năm 1868, nằm liệt trên giường bệnh, ai mà biết được những ý nghĩ gì đã thoáng qua đầu ông về những quan điểm của con người đã soi sáng cho ông biết đến các sinh vật bay trong không khí và vai trò của chúng trong sự lên men; của con người đã chứng minh một cách không thể chối cãi nguyên nhân của bệnh tằm đến mức danh tiếng khoa học của chính ông bị đe dọa nghiêm trọng — của con người, tóm lại, sẽ không bao giờ trở thành đệ tử của ông?
Dù sao, khi Pasteur rời khỏi giường bệnh, bán liệt, lết một chân, thì những đạo quân Phổ đã một thời gian làm gián đoạn nhịp điệu đều đặn của đời sống Pháp, và những đau thương quốc gia đã xoá nhòa những tranh cãi nhỏ nhặt. Ai dám nói liệu ông có cho rằng những biến cố thảm khốc ấy có khả năng xoá sạch ký ức của những người cùng thời về ông không? Dù sao, năm 1872, Pasteur bất ngờ giáng một bất ngờ xuống Viện hàn lâm Khoa học.
Trong giây lát, chúng ta phải nhắc lại. Sẽ nhớ rằng đã từ năm 1862 Béchamp bắt đầu nghiên cứu sự lên men rượu vang, và kết quả các thí nghiệm của ông được công bố năm 1864, khi ông nêu rõ rằng từ bên ngoài quả nho sinh ra loài nấm mốc làm cho nước nho lên men, và rằng cuống và lá cây nho mang những sinh vật có thể tạo ra một sự lên men có hại cho mùa thu hoạch. ở đó ông đã cho thấy tầm nhìn bao la của mình về hiện tượng lên men. Ông không những hiểu vai trò của các sinh vật bay trong không khí và vai trò của các yếu tố tế bào bên trong, mà còn chỉ ra được các sinh vật có trên bề mặt bên ngoài. Sau đó, từ năm 1859 đến 1872, hai nhà thí nghiệm khác, Lechartier và Bellamy, đã ủng hộ quan điểm của ông bằng cách chứng minh rằng các yếu tố trong tế bào của trái cây lên men và sinh ra cồn khi được bảo vệ khỏi không khí, sự lên men có liên quan đến hoạt động sinh trưởng.
Trong khi công trình vững chắc này lặng lẽ tiến triển, phía Pasteur thì đang thu hút sự chú ý lớn của công chúng. Chúng ta đã thấy lúc đầu ông được vũ trang bằng phúc lành của Hoàng đế, và ông đã cống hiến cho Napoléon III cuốn sách nhận được huy chương giải thưởng lớn của triển lãm 1867. Thậm chí, để nhận nó, ông đã làm một chuyến hành hương đặc biệt đến Paris, nơi, như người viết tiểu sử của ông một cách ngây thơ gợi ý, sự hiện diện của ông không phải là tuyệt đối cần thiết.
Người ta có thể tưởng rằng, sau nhiều thành công trần thế đến thế, ông đã sẵn sàng để ghi công cho ai xứng đáng được ghi công về những quan điểm trái ngược hoàn toàn với lời kêu gọi không ngừng của ông về các mầm bệnh trong không khí như là lời giải thích duy nhất cho các hiện tượng lên men. Nhưng chúng ta e rằng, ngay cả những người hâm mộ ông cũng phải thừa nhận rằng nhường chỗ cho người khác hầu như chẳng phải là thói quen của Pasteur; nghĩa là, trừ khi những người khác thừa nhận ông là mặt trời, khi ấy ông, để đáp lại, sẵn sàng soi rọi họ như những vệ tinh của mình. Giá như Béchamp chịu quỳ gối trước ông trước, thì có lẽ ông đã sẵn sàng dành cho vị giáo sư một lời khen; nhưng vì người sau đã vượt qua và chỉ trích ông, nên hai người luôn luôn bất đồng, ngay cả trên những điểm mà quan điểm của họ vốn có thể được đồng hoá.
Pasteur giáng bất ngờ ấy xuống Viện vào năm 1872, một năm đáng nhớ vì công việc không ngừng nghỉ của Trường Montpellier.
Chỉ lấy riêng cuối năm, chúng ta thấy ngày 7 tháng 10 năm 1872, một đoạn trích được đọc trước Viện từ một Thông báo của Béchamp, tựa đề Về tác động của borax trong các hiện tượng lên men. Bài này lúc bấy giờ có ích đáng kể và trả lời một số câu hỏi mà ông Dumas đã đặt ra.
Ngày 21 tháng 10 năm 1872, giáo sư Béchamp và giáo sư Estor trình bày một bản ghi nhớ chung, Về chức năng của microzyma trong quá trình phát triển phôi. Đây là một trong nhiều bản luận văn hết sức quan trọng về những phát hiện đáng kinh ngạc và những thí nghiệm củng cố chúng.
Ngày 28 tháng 10 năm 1872, Béchamp đọc một bản ghi nhớ tựa đề Nghiên cứu về lý thuyết sinh lý học của sự lên men rượu bằng men bia.
Ngày 17 tháng 11 cùng năm, ông đọc một bản ghi nhớ về Nghiên cứu về chức năng và sự biến đổi của các nấm mốc.
Chỉ riêng những cái tên của các ghi chép này đã đủ để cho ta một vài kinh ngạc về sự siêng năng không mệt mỏi của ông. Vì vậy chúng ta có thể tưởng tượng được sự kinh ngạc và nỗi tủi nhục tự nhiên của ông khi bị kéo khỏi những nghiên cứu vất vả của mình bởi việc Pasteur chiếm đoạt những quan điểm mà ông đã đưa ra từ nhiều năm trước.
Trước hết, ngày 7 tháng 10 năm 1872, Pasteur trình bày với Viện bài Những thí nghiệm mới chứng minh rằng mầm men tạo ra rượu vang đến từ bên ngoài quả nho.
Phát hiện của Béchamp, được công bố năm 1864, đây rồi!
Ngay cả các thành viên phục tùng của Viện cũng thấy điều đó quá đáng! Ông Fremy chen ngang, với mục đích vạch trần tính bất toàn của những kết luận của Pasteur.
Theo lời mời của ông Dumas, Pasteur đọc lại bài Diễn từ của mình trước Viện, dưới tựa đề Những dữ kiện mới góp phần hiểu biết về lý thuyết các sự lên men, đúng nghĩa. ở đây Pasteur tuyên bố rằng ông đã tách các hiện tượng hóa học của sự lên men khỏi một loạt các hiện tượng khác, và đặc biệt khỏi các hành vi của đời sống thông thường, trong đó, tất nhiên, dinh dưỡng và tiêu hóa phải là tối thượng. ở đây chúng ta thấy rõ rằng, muộn đến năm 1872, khi lý thuyết về sự lên men, ông vẫn chẳng có khái niệm thực sự nào về quá trình ấy, chẳng có sự hiểu biết rõ ràng nào về nó như một chức năng của sự nuôi dưỡng và thải trừ ở phía các sinh vật sống. Lời tuyên bố sau này của môn đệ ông, ông Roux — Công trình y học của Pasteur bắt đầu từ việc nghiên cứu sự lên men — bởi thế dựa trên một nền tảng mong manh biết bao. Công trình y học của Pasteur bắt đầu từ việc nghiên cứu sự lên men.
Tiếp tục bài diễn từ, Pasteur tuyên bố đã chứng minh rằng sự lên men là hệ quả tất nhiên của sự biểu hiện của sự sống, khi sự sống ấy được thực hiện bên ngoài sự đốt cháy trực tiếp do oxy tự do. Rồi ông nói tiếp: Người ta nhận ra, như hệ quả của lý thuyết này, rằng mọi sinh vật, mọi cơ quan, mọi tế bào sống hoặc tiếp tục sống của mình không nhờ đến oxy của không khí, hoặc dùng nó không đủ cho toàn bộ hiện tượng dinh dưỡng riêng của mình, đều phải mang tính chất của một chất lên men đối với chất làm nguồn nhiệt cho nó, toàn bộ hoặc một phần. Chất này dường như hẳn phải chứa carbon và oxy, vì, như tôi đã chứng minh, nó làm thức ăn cho chất lên men. . . . Nay tôi mang đến cho lý thuyết mới này — mà tôi đã nhiều lần đề xuất, dù rụt rè, từ năm 1861 — sự ủng hộ của những dữ kiện mới, tôi hy vọng lần này sẽ buộc người ta phải tin. Sau khi mô tả những thí nghiệm chẳng qua chỉ là bản sao của những thí nghiệm do người khác tiến hành, ông kết thúc đắc thắng: Tôi đã tiên đoán qua kết quả của nỗ lực mình rằng một con đường mới sẽ mở ra cho sinh lý học và bệnh lý học y khoa.
Sự rụt rè duy nhất dễ thấy là sự dè dặt mà Pasteur đưa ra một niềm tin rằng mọi sinh vật, mọi cơ quan, mọi tế bào đều phải mang tính chất của một chất lên men. Giáo huấn ấy hoàn toàn trái ngược với những lý thuyết ông đã xây dựng từ năm 1861, và thực sự có vẻ chẳng qua chỉ là một cố gắng thận trọng nhằm đạo văn học thuyết microzyma của Béchamp. Như chúng ta đã thấy, Béchamp, dù cho rằng quả nho, như mọi sinh vật khác, chứa bên trong nó những sinh vật tí hon là microzyma, có khả năng tạo ra sự lên men, song lại qui cho riêng sự lên men đó — tức sự lên men rượu vang — một lực mạnh hơn những microzyma, nghĩa là các sinh vật có trên bề mặt quả nho, có thể là từ không khí. Vì vậy, nếu Pasteur bị buộc tội đạo văn các ý tưởng microzyma của Béchamp, thì ông chỉ cần chối bằng cách chỉ ra rằng nguyên nhân kích khởi của sự lên men rượu vang đến từ bên ngoài quả nho; dù rằng ở đây nữa ông cũng chỉ đang theo Béchamp. Các báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học cho chúng ta thấy nhà ngoại giao khôn khéo ấy đã dùng những lá chắn ấy khéo léo biết bao.
Ông Fremy nhanh chóng trở lại tranh luận. Trong một Thông báo về Sự sinh ra các chất lên men, ông nói: Tôi thấy trong Thông báo của ông Pasteur một sự kiện mà tôi cho là một xác nhận đáng chú ý cho lý thuyết mà tôi bảo vệ và hoàn toàn lật đổ lý thuyết của vị đồng nghiệp học thức của tôi. Ông Pasteur, muốn chứng minh rằng những sinh vật nhất định, chẳng hạn chất lên men rượu, có thể phát triển và sống không có oxy, khẳng định rằng quả nho, đặt trong khí cacbonic nguyên chất, sau một thời gian có thể lên men và sinh ra cồn và khí cacbonic. Quan sát này làm sao phù hợp được với lý thuyết của ông Pasteur, theo đó các chất lên men chỉ do các mầm bệnh có trong không khí sinh ra? Chẳng lẽ không rõ rằng, nếu một trái cây lên men trong khí cacbonic, do đó trong điều kiện không thể nhận được gì từ không khí, thì tất phải là do các chất lên men được sinh ra trực tiếp dưới ảnh hưởng của bộ máy tổ chức bên trong chính các tế bào, và sự sinh ra của chúng không do các mầm bệnh có trong không khí? Vậy thì hơn bao giờ hết, tôi bác bỏ lý thuyết của ông Pasteur là dẫn mọi sự lên men từ các mầm bệnh, mà dù chưa từng được chứng minh, ông vẫn nói là có trong không khí; và tôi khẳng định rằng các hiện tượng do bào tử trong không khí gây ra không được nhầm lẫn với các hiện tượng do chính các chất lên men sinh ra từ bộ máy tổ chức gây ra.
Ông Pasteur trả lời: Ông Fremy dường như đã không hiểu tôi. Tôi đã nghiên cứu cẩn thận bên trong của trái cây dùng trong thí nghiệm, và tôi khẳng định rằng ở đó không phát triển hoặc tế bào men hoặc bất cứ chất lên men có tổ chức nào.
Cuộc tranh luận giữa hai người tiếp diễn và nóng lên: cho đến khi Pasteur, mất bình tĩnh, buộc ông Fremy tội làm mình thành kẻ bênh vực khoa học Đức; dù cùng lúc ấy ông cũng bày tỏ hối tiếc vì đã vượt quá giới hạn của phép lịch sự.
Sau một hồi tranh luận thêm, ông Fremy chấp nhận lời xin lỗi của Pasteur; dù ông hy vọng ông sẽ không lặp lại một lời nhận xét xúc phạm như lời ấy về người Đức, vì lúc đó, cũng như sau này vào thời các cuộc Thế chiến, dĩ nhiên có một thành kiến sâu đến mức chống mọi thứ Germanic, đến nỗi ngay cả khoa học Đức cũng không được ngoại lệ.
Ông Fremy sau đó tiếp tục chỉ trích các luận điểm của Pasteur: Ông bạn đồng nghiệp của chúng ta tưởng rằng ông ta sẽ ra khỏi cuộc tranh luận mà tôi duy trì chống lại ông ta với tư thế kẻ thắng, nếu tính chính xác của các dữ kiện ông ta trình bày không bị bác bẻ. Ông Pasteur tự lừa dối mình một cách lạ lùng về bản chất thực của cuộc tranh luận. Nó không chỉ liên quan đến việc xác định một số dữ kiện thực nghiệm, mà còn đến cách diễn giải chúng.
Pasteur, đang thận trọng thử đưa ra các quan điểm microzyma của Béchamp, nay bị ông Fremy đối diện với chính những lý thuyết của ông trong suốt thập niên vừa qua. Ông Fremy cố gắng bắt ông vướng vào chúng, và đồng thời vạch trần sự nông cạn của lý thuyết về vi sinh vật trong không khí như là lời giải thích cho mọi hiện tượng sống. Để bảo vệ nó, Pasteur buộc phải, như ông Fremy đã chỉ ra, giải thích từng loại lên men là công trình của một sinh vật đặc thù. Hơn nữa, nếu các sự lên men chỉ do các mầm bệnh trong không khí sinh ra, thì chúng không thể xảy ra khi không khí đã được mưa tẩy sạch, hoặc trên các đỉnh núi cao, mà chính Pasteur đã mô tả là không có những sinh vật ấy. Thế nhưng, không thể chối cãi rằng sự lên men xảy ra ở khắp nơi, ngay cả sau mưa và trên những ngọn núi cao nhất.
Nếu không khí, ông Fremy nói, chứa như ông Pasteur khẳng định, mọi mầm bệnh của các chất lên men, thì một chất lỏng có đường có khả năng phát triển các chất lên men lẽ ra phải lên men và trình bày mọi biến đổi liên tiếp mà sữa hay bột lúa mạch đã trải qua — điều chẳng bao giờ xảy ra.
Ông Fremy một mực cho rằng điều được xác lập là những cơ thể có tổ chức, chẳng hạn nấm mốc, tạo ra các chất lên men; và rằng dù Pasteur luôn tuyên bố sự lên men là kết quả của tác động của các hạt trong không khí, thì ông, ông Fremy, đã từ lâu chứng minh rằng khi để hạt lúa mạch trong nước có đường thì một sự lên men xuất hiện ở bên trong — một sự lên men trong tế bào, khí cacbonic bị thải ra khỏi các tế bào. Fremy cho rằng sự lên men trong tế bào này giáng đòn cuối cùng vào lý thuyết của Pasteur, và ông chế giễu Pasteur vì đã tuyên bố rằng sự sinh ra cồn bên trong các tế bào không phải là sự lên men, với lý do là trong dịch trái cây không có men bia đặc hiệu. Ông chỉ ra rằng các chất lên men thực sự được tiết ra bên trong các sinh vật, như pepsin do bộ máy tiêu hóa tiết ra, và diastase sinh ra trong quá trình nảy mầm của lúa mạch. Ông chỉ ra rằng trong các trường hợp ấy, chính các chất lên men không nhìn thấy được, mà chỉ thấy các cơ quan tiết ra chúng; và rằng dù những chất lên men đã biết, chẳng hạn men, không tìm thấy trong các sự lên men trong tế bào, thì đó cũng không phải là bằng chứng cho rằng sự lên men không xảy ra.
Ông đấu tranh cho rằng một sự lên men được định nghĩa không bởi chất lên men gây ra nó, mà bởi các sản phẩm đặc trưng cho nó. Tôi lấy tên sự lên men rượu cho mọi sự biến đổi hữu cơ mà khi phân giải đường sinh ra chủ yếu là khí cacbonic và cồn. Sự lên men lactic được đặc trưng bởi sự biến đổi đường hay dextrin thành acid lactic. Chất lên men diastase là chất biến đổi tinh bột trước thành dextrin rồi thành glucose. Như vậy, theo tôi, sự lên men phải được định nghĩa. Nếu, như ông Pasteur mong muốn, người ta đặt nền cho định nghĩa các chất lên men trên mô tả hình dạng mà chúng có thể mang, thì những sai lầm nghiêm trọng có khả năng nảy sinh.
Cuối cùng ông kết thúc: Kết lại, tôi muốn bác bỏ một thứ lời buộc tội thường được lặp lại trong các Thông báo của ông Pasteur. Ông bạn đồng nghiệp của chúng ta buộc tội tôi gần như đơn độc bảo vệ những quan điểm tôi vừa trình bày trên đây. Tôi không rõ ông Pasteur có cơ sở nào để nói rằng mọi nhà khoa học đều chia sẻ quan điểm của ông ta về sự sinh ra và cách tác động của các chất lên men. Tôi biết một số nhà khoa học đầy đủ năng lực trong các vấn đề này, thành viên của Viện và những người khác, không đồng ý với ông Pasteur.
Trong cuộc tranh luận, ông Fremy đã cho thấy rất rõ rằng ông không đặt sự phản đối của mình đối với ông Pasteur trên tính chính xác hay không chính xác của các thí nghiệm, mà trên những kết luận rút ra từ chúng, mà ông cho là đúng. Pasteur khéo léo từ chối xem xét chủ đề từ góc nhìn này, và kêu gọi một Uỷ ban gồm các thành viên của Viện xét xét tính chính xác của các thí nghiệm của ông, bất chấp cách ông diễn giải kết quả! Ông Fremy chỉ ra rằng làm như thế là khuất lấp chính câu hỏi đang được tranh luận, và việc cứ thế kết thúc bằng hai người tiếp tục đấm vào nhau, Pasteur cố tình lợi dụng việc Fremy thấy chẳng có tác dụng gì ở Uỷ ban được đề xuất.
Pasteur cũng va chạm với nhà thực vật học, ông Trecul, về một Thông báo đã không được đọc lớn tại Phiên họp của Viện ngày 11 tháng 11. Tại Phiên họp ngày 18 tháng 11, Trecul bày tỏ tiếc rằng Pasteur thấy cần phải thêm Thông báo này, vốn có tầm quan trọng đáng kể, vì nó tương đương với một lời thú nhận hoàn toàn rằng khoảng bốn tháng trước đó ông đã bắt đầu nghi ngờ về sự biến đổi các tế bào của sinh vật mà ông gọi là mycoderma vini thành tế bào men, và giờ đã sẵn sàng phủ nhận niềm tin của ông Trecul vào một sự biến đổi tế bào.
Ông hạ cố cảnh báo đối phương: Mong ông Trecul đánh giá được sự khó khăn của những kết luận nghiêm ngặt trong các công trình tinh vi này.
Ông Trecul đáp lại: Không cần phải cảnh báo tôi về những nguyên nhân sai lầm có thể xuất hiện trong các thí nghiệm như vậy. Tôi đã chỉ ra chúng vào năm 1868 và 1871 trong bốn Thông báo khác nhau và từ đó đã viết dài về chúng. Ông nói thêm: Ông Pasteur đã nói trong Thông báo ngày 7 tháng 10 và trong lời trả lời ông Fremy ngày 28 cùng tháng, thứ nhất, rằng các tế bào của nho và của các loại trái cây khác khi đặt trong khí cacbonic lập tức hình thành cồn; thứ hai, rằng không có sự xuất hiện của men trong bên trong chúng; thứ ba, rằng chỉ trong các trường hợp hiếm hoi và ngoại lệ mà tế bào men mới có thể lọt từ bên ngoài vào bên trong.
Ông Trecul thấy những tuyên bố này khó hiểu khi đặt cạnh một tuyên bố khác của Pasteur: Trong quả lý chua, trái cây có bản chất hoàn toàn khác nho và táo, đã nhiều lời tôi quan sát thấy sự hiện diện của men nhỏ của các trái cây chua.
Làm thế nào, ông Trecul nói, mà sự lọt vào của men bia này có thể xảy ra vào bên trong những trái cây có bề mặt nguyên vẹn?
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên lắm khi những tuyên bố trái ngược nhau như vậy, về đề tài này và đề tài khác, đã khiến Trecul phàn nàn về lối lập luận của Pasteur, mà theo ông gồm việc tự mâu thuẫn với chính mình, thay đổi nghĩa của từ ngữ, rồi buộc tội đối phương đã thay đổi. Bản thân Trecul đã trải nghiệm nhiều thí dụ về những mâu thuẫn của vị bạn đồng nghiệp, kẻ gần như luôn có hai quan điểm trái ngược trên mọi vấn đề, mà ông ta viện dẫu tuỳ theo hoàn cảnh.
Nhưng trong khi nhiều người nhận ra rằng Pasteur không thể ủng hộ lý thuyết mới của mình mà không bác bỏ lý thuyết cũ của chính mình, thì không ai hiểu rõ bằng những người làm việc ở Montpellier cố gắng thận trọng của ông nhằm chiếm lấy giáo huấn của Béchamp và đưa nó ra, khoác lời mới, như con đẻ khoa học của chính mình. Điều đó quá sức chịu đựng của vị giáo sư, và ngày 18 tháng 11 năm 1872, chúng ta thấy một Thông báo do ông trình với Viện, tựa đề Những nhận xét liên quan đến một số Thông báo gần đây của ông Pasteur, và đặc biệt về chủ đề Mầm men tạo ra rượu vang đến từ bên ngoài quả nho.
Trong bản ghi nhớ này, Béchamp nói lại các thí nghiệm đầu đời của ông về sự lên men rượu vang đã công bố năm 1864. Ông nói thêm: Ông Pasteur đã phát hiện ra điều vốn đã được biết; ông chỉ đơn thuần xác nhận công trình của tôi; năm 1872 ông đi đến kết luận mà tôi đã đi đến từ tám năm trước, nghĩa là rằng chất lên men làm cho nước nho lên men là một loại nấm mốc đến từ bên ngoài quả nho; tôi còn đi xa hơn: năm 1864 tôi đã xác lập rằng cuống nho và lá cây nho mang những chất lên men có khả năng làm cho cả đường lẫn nước nho lên men, và hơn nữa, rằng những chất lên men ở trên lá và cuống đôi khi thuộc loại có hại cho mùa thu hoạch.
Béchamp cũng nhân dịp này đưa ra trước Viện những kết luận của một thông báo do ông trình trước đó, ngày 15 tháng 2 năm 1872. Thông báo này đã bị bỏ đi, bề ngoài là vì chiều dài của nó, nhưng sự cần thiết phải công bố nó nay đã rõ, và việc nó bị bỏ đi trước đó cho thấy, ở mức độ nhỏ, sự khó chịu mà ông liên tục phải chịu đựng.
Nhưng mãi đến Phiên họp của Viện ngày 2 tháng 12 năm 1872, vị giáo sư mới đề cập đến ý nghĩa sâu sắc hơn của những quan điểm mới được Pasteur bày tỏ. Trong bản ghi nhớ tựa đề Nhận xét thứ hai về một số Thông báo gần đây của ông Pasteur, đặc biệt về Lý thuyết sự lên men rượu, Béchamp mở đầu bằng một lời phản kháng kìm nén và đứng đắn:
Dưới tựa đề Những dữ kiện mới góp phần hiểu biết về lý thuyết các sự lên men, đúng nghĩa, ông Pasteur đã công bố một Thông báo, mà việc đọc nó càng làm tôi quan tâm hơn ở chỗ tôi thấy trong đó nhiều ý tưởng đã quen thuộc với tôi từ lâu. Lòng kính trọng sâu sắc của tôi đối với Viện và sự cân nhắc cho phẩm giá của chính tôi buộc tôi phải trình bày một số nhận xét về Thông báo này, nếu không thì những người không theo sát vấn đề có thể tin rằng tôi đã lừa dối công chúng bằng cách qui cho mình những dữ kiện và ý tưởng không phải của tôi.
Ông đi trên con đường chỉ ra bằng các ngày tháng và bằng cách trích dẫn từ vô số tác phẩm rằng chính ông là người đầu tiên xác lập hai điểm căn bản: Thứ nhất — rằng các chất lên men có tổ chức và sống có thể được sinh ra trong các môi trường không có chất albuminoid; Thứ hai — rằng các hiện tượng lên men bằng các chất lên men có tổ chức hay có hình, thực chất là những hành vi dinh dưỡng.
Một sự kiện duy nhất hẳn đã giáng đòn chí mạng vào lời tuyên bố rằng Pasteur mở ra sự hiểu biết thực sự về sự lên men, và đó là trong các thí nghiệm đầu của ông — chẳng hạn những thí nghiệm năm 1857, và lại năm 1860 — ông đã dùng các chất protein và bởi thế cho thấy ông đã bỏ lỡ toàn bộ điểm then chốt của phát hiện vĩ đại của Béchamp rằng các chất lên men sống có tổ chức có thể nảy sinh trong môi trường hoàn toàn không có bất cứ thứ gì thuộc dạng albuminoid. Sự sống trong khí quyển chỉ có thể được chứng minh bằng sự xâm nhập của nó vào một môi trường hoá chất thuần tuý, hoàn toàn không thể bị nghi ngờ chứa bất cứ yếu tố sống có tổ chức nào. Chính sự kiện đơn độc này cho thấy Pasteur khi ấy chưa hiểu được ý nghĩa thực sự của chứng minh của Béchamp.
Người sau bây giờ đi tiếp để mô tả lý thuyết sinh lý học về sự lên men như đã được các thí nghiệm quá khứ của ông chứng minh: Đối với tôi, sự lên men rượu và các sự lên men khác bằng các chất lên men có tổ chức không phải là sự lên men đúng nghĩa của thuật ngữ; chúng là những hành vi dinh dưỡng, nghĩa là của tiêu hóa, của đồng hóa và của bài tiết.
Men trước hết biến đổi, bên ngoài nó, đường mía thành glucose nhờ một chất mà nó chứa sẵn nguyên vẹn trong cơ thể mình và mà tôi đã đặt tên là zymase: rồi nó hấp thụ glucose này và nuôi mình bằng nó: nó đồng hóa, nhân lên, lớn lên và bài tiết. Nó đồng hóa, nghĩa là một phần của chất lên men đã biến đổi trở thành nhất thời hoặc nhất định một bộ phận của con người nó và phục vụ cho sự lớn lên và sự sống của nó. Nó bài tiết, nghĩa là nó đẩy ra ngoài những phần mà mô nó đã dùng, dưới dạng các hợp chất là sản phẩm của sự lên men.
Ông Pasteur phản đối rằng acid acetic, sự hình thành liên tục của nó mà tôi đã chứng minh trong sự lên men rượu, có nguồn không ở đường, mà ở men. Về câu hỏi về nguồn gốc của các sản phẩm lên men này, mà đã chiếm nhiều tâm trí của ông Pasteur và các môn đệ ông, tôi đã trả lời: Theo lý thuyết, chúng lẽ ra phải đến từ men, theo cùng cách mà urea đến từ chúng ta, nghĩa là từ những chất từng cấu thành cơ thể chúng ta. Cũng như đường mà ông Claude Bernard thấy hình thành trong gan đến từ gan chứ không trực tiếp từ thức ăn, thì cồn đến từ men. Đây là cái mà tôi gọi là lý thuyết sinh lý học về sự lên men. Từ năm 1864, mọi nỗ lực của tôi đều nhằm phát triển lý thuyết này: tôi đã phát triển nó tại một Hội nghị ở Montpellier và tại một hội nghị khác ở Lyon. Càng nhấn mạnh nó, nó càng bị tấn công. Bị ai tấn công? Chúng ta sẽ thấy.
Béchamp sau đó đi tiếp để chỉ ra rằng chính ông Pasteur và môn đệ ông là ông Duclaux đã là những đối thủ chính của giáo huấn này. Ông trích lời ông Duclaux: Ông Béchamp đã không nhận thấy rằng có thể có hai nguồn hoàn toàn khác biệt từ đó các acid bay hơi của sự lên men (theo cách gọi của ông) có thể phát sinh, nghĩa là đường và men. Ông cũng lại trích ngay sự hiểu lầm lạ thường của ông Duclaux về tiêu hóa, như được bộc lộ trong lời ông: Khi người ta thấy trong một sự lên men rượu một khối lượng đường cho trước được men có khối lượng nhỏ hơn trăm hay nghìn lần biến đổi thành cồn, thì rất khó tin rằng đường này từng là một phần của vật chất của men và rằng nó (cồn) là một thứ tựa như sản phẩm bài tiết.
Sự hiểu lầm này, Béchamp chỉ ra rằng nay được ông Pasteur nhắc lại trong bản ghi nhớ đang bàn, trong đó ông này tuyên bố: Điều tách các hiện tượng hóa học của sự lên men khỏi một loạt các hiện tượng khác, và đặc biệt khỏi các hành vi của đời sống thông thường, là thực tế về sự phân giải một khối lượng chất lên men lớn hơn khối lượng chất lên men đang hoạt động.
Vị giáo sư nhắc lại lời giải thích ông đã đưa ra năm 1867 để đáp lại những phản đối thô thiển như vậy. Khi ấy ông đã chỉ ra rằng chúng chỉ có thể do những kẻ không biết gì về các quá trình sinh lý học đưa ra, và ông đã đưa ra hình ảnh một cụ già trăm tuổi, nặng 60 kilogam, mà ngoài các thức ăn khác, có thể đã tiêu thụ một lượng tương đương khoảng 20.000 kilogam urea. Như vậy, Béchamp kết luận, thì không thể thừa nhận rằng ông Pasteur đã sáng lập ra lý thuyết sinh lý học về sự lên men, xem nó như một hiện tượng của dinh dưỡng. Vị học giả ấy và các môn đệ ông đã theo quan điểm trái lại, tôi xin phép Viện cho tôi ghi nhận sự cải đạo này của ông Pasteur.
Cho đến đây, giáo sư Béchamp đã phớt lờ nỗ lực cuối cùng của Pasteur nhằm đạo văn; nhưng nay, tại cùng Phiên họp của Viện, vào cuối tháng 12, cùng với giáo sư Estor, ông trình một Thông báo chung tựa đề Những nhận xét về Thông báo mà ông Pasteur đã đọc ngày 7 tháng 10 năm 1872.
Không gì có thể vượt được sự đứng đắn mà hai nhà lao động vĩ đại đã đối xử với chủ đề.
Ông Pasteur, hai vị nói, tại Viện ngày 7 tháng 10 vừa rồi, đã thông báo những thí nghiệm mới về vai trò của tế bào nói chung, xem như tác nhân của sự lên men trong một số hoàn cảnh nhất định. Các kết luận chính của Thông báo của ông như sau:
Mọi sinh vật đều là chất lên men trong những điều kiện nào đó của đời sống chúng, vì không có sinh vật nào mà ở đó tác động của oxy tự do không thể bị đình chỉ trong chốc lát.
Tế bào không chết cùng lúc với sinh vật hay cơ quan mà nó tạo thành một bộ phận.
Ông Pasteur tiên đoán, từ các kết quả đã thu được, rằng một con đường mới sẽ mở ra cho sinh lý học và bệnh lý học y khoa.
Béchamp và Estor chỉ ra rằng, từ lâu, chính họ đã dạy rằng mọi sinh vật, hay đúng hơn mọi cơ quan trong một sinh vật như vậy và mỗi tập hợp tế bào trong một cơ quan như vậy, đều có thể đóng vai trò của chất lên men, và chính họ đã chỉ ra những hạt tế bào nhỏ bé là tác nhân của hoạt động lên men. Chính Béchamp đã chứng minh rằng quả trứng không chứa gì có tổ chức ngoài microzyma; mọi thứ trong quả trứng, về mặt hóa học, sẽ cần cho công việc của microzyma; nếu trong quả trứng này, tiến trình trật tự của nó bị làm rối loạn bởi một cú lắc mạnh, thì chuyện gì xảy ra? Các chất albuminoid và các chất béo giữ nguyên, đường và glucogen biến mất, và thay vào chỗ chúng, người ta thấy cồn, acid acetic và acid butyric; một sự lên men được đặc trưng hoàn toàn đã diễn ra ở đó. Đó là công trình của microzyma, những chất lên men tí hon, là tác nhân và nguyên nhân của mọi hiện tượng được quan sát. Và khi quả trứng chim đã hoàn thành chức năng của nó, tức là sinh ra một con chim, thì microzyma đã biến mất chưa? Chưa; người ta có thể lần ra chúng trong mọi yếu tố mô học; chúng có trước — người ta lại tìm thấy chúng trong suốt quá trình hoạt động và đời sống của các yếu tố; người ta sẽ tìm thấy chúng một lần nữa sau khi chết; chính nhờ chúng mà các mô được làm sống. Phần của các sinh vật có tổ chức thực sự hoạt động và sống, theo các nhà sinh lý học, là protoplasm mang hạt. Chúng ta còn đi một bước xa hơn và nói rằng đó là các hạt của protoplasm, và dù để nhận thức chúng đòi hỏi một thứ tuệ giác, chúng ta đã dựa những kết luận của mình trên các bằng chứng thực nghiệm đa dạng và dương tính nhất. Bichat coi các mô là những yếu tố cấu thành cơ thể của động vật bậc cao. Với sự trợ giúp của kính hiển vi, những hạt rất rõ rệt, các tế bào, đã được phát hiện, và lần lượt được xem là những phần sơ cấp, như là kỳ hạn cuối cùng của sự phân tích, như một thứ phân tử sống. Chúng ta đã nói lần lượt của mình: Tế bào là một tập hợp của nhiều sinh vật tí hon, có một đời sống độc lập, một lịch sử tự nhiên riêng biệt. Về lịch sử tự nhiên ấy, chúng ta đã làm một mô tả hoàn chỉnh. Chúng ta đã thấy microzyma của tế bào động vật liên kết hai hai, hoặc nhiều hơn, và kéo dài thành vi khuẩn.
Chúng ta đã nghiên cứu chức năng của những chất lên men vi thực vật này trong sinh lý học, trong bệnh lý học và sau khi chết. Trước hết chúng ta đã xác định tầm quan trọng của chúng trong chức năng tiết dịch và chỉ ra rằng chức năng ấy, rốt cuộc, chỉ là một cách thức đặc biệt của dinh dưỡng. Chúng ta đã coi chúng là những người xây dựng tế bào. . . . Chúng ta cũng đã thông báo tầm quan trọng của microzyma trong bệnh lý học: Trong bệnh thương hàn, chúng ta đã nói năm 1869, trong hoại thư, trong bệnh than, sự hiện diện của vi khuẩn đã được xác lập trong mô và trong máu, và người ta đã có khuynh hướng mạnh coi đây là một sự kiện ký sinh thông thường. Rõ ràng, sau những gì chúng ta đã nói, thì thay vì cho rằng chứng bệnh có nguồn và nguyên nhân là sự đưa vào cơ thể các mầm bệnh ngoại lai cùng tác động tiếp theo của chúng, thì nên khẳng định rằng đó chỉ là vấn đề một sự lệch lạc khỏi sự hoạt động bình thường của microzyma, được biểu hiện bởi sự thay đổi tác động lên hình dạng của chúng. . . . Mọi tác phẩm hiện đại về sự lây lan và virus đều không có cơ sở ngoài học thuyết microzyma. Sau khi chết, chúng ta lại nói tại Đại hội Y học Montpellier năm 1869, thì vật chất cần phải trở về trạng thái nguyên sơ của nó, vì nó chỉ được cho các sinh vật sống có tổ chức mượn trong một thời gian. Trong những ngày gần đây, một vai trò quá mức đã được qui cho các mầm bệnh do không khí mang tới; không khí có thể mang chúng đến, điều ấy đúng thật, nhưng chúng không phải là căn bản. Microzyma trong giai đoạn vi khuẩn của chúng cũng đủ để bảo đảm, bằng sự thối rữa, sự tuần hoàn của vật chất. Chúng ta bởi vậy đã chứng minh từ lâu không những rằng tế bào có thể cư xử như chất lên men, mà còn chỉ ra những bộ phận nào trong chúng đảm nhận vai trò này. Tế bào, người ta nói, không chết cùng lúc với sinh vật hay cơ quan mà nó tạo thành một bộ phận. Điều này được phát biểu tồi. Tế bào chết cũng đủ nhanh, nếu người ta coi là tế bào cái vỏ bên ngoài hoặc cả nhân. Người ta biết rằng không thể nào nghiên cứu mô học trên một thây ma, nó có khả năng lên men đa dạng đến mức chỉ vài giờ sau khi chết, đôi khi không thể tìm thấy một tế bào biểu mô còn nguyên. Điều nên nói là toàn bộ tế bào không chết; điều này chúng ta đã chứng minh từ lâu bằng cách nuôi dưỡng những bộ phận trong chúng còn sống sót. Ông Pasteur tiên đoán rằng một con đường mới sẽ mở ra trong sinh lý học. Năm 1869 chúng ta đã viết như một bản tóm lược mọi công trình trước đó của mình: Sinh vật sống, nhộn nhịp microzyma, mang trong mình, cùng những chất lên men vi thực vật này, những yếu tố căn bản của sự sống, của bệnh tật, của cái chết và của sự phá huỷ hoàn toàn. Con đường mới này chúng ta không những đã tiên đoán, mà còn thực sự mở ra từ nhiều năm trước và kiên trì đi theo nó.
Trước lời phản kháng kìm nén nhưng tất sát này, Pasteur không thể im lặng. Vì vậy chúng ta thấy rằng ngày 9 tháng 12, ông trình với Viện bài Những nhận xét về chủ đề ba Thông báo đã truyền đạt tại Phiên họp trước bởi các giáo sư Béchamp và Estor.
Tôi đã đọc một cách chú ý, ông nói, những Thông báo hay những đòi hỏi quyền ưu tiên này. Tôi chỉ thấy trong chúng những đánh giá, mà tính đúng đắn của chúng tôi cho rằng tôi được quyền bác bẻ, và một số lý thuyết, mà trách nhiệm về chúng tôi để lại cho các tác giả. Về sau, và khi rảnh rỗi, tôi sẽ biện minh cho phán quyết này.
Nhưng rõ ràng là sự rảnh rỗi chưa bao giờ được ban cho ông, Pasteur rơi vào im lặng.
Không có lời biện minh cho phán quyết của ông được đưa ra, giáo sư Béchamp và giáo sư Estor đã gửi lên Thông báo sau, ngày 30 tháng 12 năm 1872: Chúng tôi xin phép Viện cho chúng tôi ghi nhận rằng các nhận xét đăng dưới tên ông Béchamp và của chúng tôi, ở các trang 1284, 1419 và 1523 của tập này của Comptes Rendus, vẫn chưa được trả lời.
Các sự kiện quả thực dường như không thể trả lời được. Nhà hóa học lừng danh đã chinh phục được tai của công chúng — cơ quan ấy hết sức dễ tin — và đã đưa ra như của mình biết bao nhiêu là giáo huấn của Béchamp, nay đã bị chặn đứng hoàn toàn trong cuộc đột nhập thử nghiệm của ông vào học thuyết microzyma. ở đây ông phải hô dừng lại và tự bằng lòng với lời khẳng định của chính mình rằng sự lên men là sự sống không có không khí, không có oxy. Đối với lời ấy, áp dụng chính tiêu chuẩn thời gian của ông, chúng ta thấy những người hâm mộ ông đầy tiếc nuối thừa nhận những bất toàn của lời giải thích ấy.
Sẽ không đúng chỗ ở đây, các nhà viết tiểu sử của ông, giáo sư và bà Frankland, nói, để bàn về những chỉ trích mà ngày nay đang được tiến hành tích cực; một trong những phản đối chính đối với việc chấp nhận các quan điểm của Pasteur là sự bỏ qua mọi cân nhắc về yếu tố thời gian khi đánh giá năng lực lên men của men. . . . Trong năm nay (1897), phát hiện đã được E. Buchner thực hiện rằng một nguyên lý hoà tan gây ra sự lên men rượu của đường có thể được chiết ra từ tế bào men, và người ta đề xuất tên zymase cho nó. Phát hiện quan trọng này nên ném một ánh sáng mới lên lý thuyết về sự lên men, vì sẽ sớm có thể tấn công vấn đề theo một cách mới và quyết định hơn nhiều. Như vậy, thì hầu như rất khó có khả năng rằng tác động của zymase hoà tan này chịu ảnh hưởng của sự có mặt hay vắng mặt của không khí.
Như vậy, tiêu chuẩn thời gian đã trả lời những phát biểu của Pasteur! Và nếu những người giải thích cho ông chịu khó nghiên cứu những biên bản cũ của Viện hàn lâm Khoa học Pháp, cũng như những lời tán tụng của một người con rể đầy nhiệm vụ, thì không những quan điểm của họ có thể thay đổi, mà họ còn tránh khỏi cái lỗi của việc qui cho Büchner, vào cuối thế kỷ XIX, một phát hiện mà giáo sư Antoine Béchamp đã làm được chỉ hơn nửa đường trong Thế kỷ diệu kỳ ấy!
| Béchamp | Pasteur |
|---|---|
| 1864 | |
| Thông báo với Viện hàn lâm Khoa học bài Nguồn gốc của sự lên men rượu vang, mô tả các thí nghiệm chứng minh rằng sự lên men rượu vang do các sinh vật trên vỏ nho quyết định, và do các sinh vật cũng có trên lá cùng các bộ phận khác của cây nho, đến mức những cây nho bị bệnh có thể ảnh hưởng đến chất lượng của sự lên men và của rượu vang thu được. (Comptes Rendus 49, tr. 684.) | |
| 1872 | |
| Ngày 2 tháng 12 — Thông báo với Viện hàn lâm Khoa học bài Nhận xét về Thông báo của ông Pasteur ngày 7 tháng 10, trong đó hai vị giáo sư chỉ ra rằng chính họ, trong nhiều năm, đã dạy rằng mọi sinh vật, hay đúng hơn mọi cơ quan trong một sinh vật và mỗi tập hợp tế bào trong một cơ quan như vậy, đều có thể đóng vai trò của chất lên men nhờ những hạt tế bào nhỏ bé, là tác nhân lên men. Con đường mới dẫn đến sinh lý học, họ không những đã tiên đoán, mà còn mở ra và kiên trì đi theo nhiều năm. (Comptes Rendus 75, tr. 1523.) Ngày 30 tháng 12 — Một Thông báo gửi Viện hàn lâm Khoa học, yêu cầu ghi nhận rằng các nhận xét của họ về Thông báo của ông Pasteur đến nay vẫn chưa được trả lời. | Ngày 7 tháng 10 — Thông báo với Viện hàn lâm Khoa học bài Những thí nghiệm mới chứng minh rằng mầm men tạo ra rượu vang đến từ bên ngoài quả nho. (Comptes Rendus 75, tr. 857–899.) Ngày 28 tháng 10 — Thông báo với Viện hàn lâm Khoa học rằng mọi sinh vật, mọi cơ quan, mọi tế bào sống hoặc tiếp tục sống không nhờ đến oxy của không khí đều phải mang tính chất của một chất lên men; và sự tiên đoán về việc mở ra một con đường mới cho sinh lý học và bệnh lý học y khoa. Ngày 9 tháng 12 — Bày tỏ với Viện hàn lâm Khoa học hy vọng về sau, khi rảnh rỗi, sẽ bác bẻ được Thông báo của các giáo sư Béchamp và Estor. |
| Hệ quả | |
| Phát hiện của Béchamp trước phát hiện của Pasteur tám năm, và lời giải thích của ông đầy đủ hơn nhiều. | |
| Câu hỏi để lại | |
| Pasteur có đi đến thừa nhận luận điểm của Béchamp rằng có sự lên men tồn tại độc lập với tác động của các sinh vật trong không khí không, nhưng lại không chứng minh được bất cứ quyền phát hiện nào đối với điều đó? | |
Nhiều thành công trần thế đã rơi vào phần Pasteur đến mức ông ít quen với việc bị những người cùng thời chặn lại. Có vẻ như không còn nghi ngờ gì nữa rằng mối hận của ông đối với Béchamp tăng lên rất nhiều vì ý chí của người sau trong việc tự bảo vệ mình khỏi mọi hành vi đạo văn các lý thuyết của ông về tế bào và các yếu tố hình thành của nó. Nếu học thuyết microzyma, được cải trang cho vừa, không thể được đưa ra như của Pasteur, thì càng tệ cho microzyma và cho mọi thứ liên quan đến chúng. Uy thế mà nhà hóa học lừng danh đã giành được khiến ông dễ dàng giày xéo lên mọi cấu trúc khoa học nào có khả năng che lấp những thành tựu của chính ông; và, với vận may phi thường của mình, hoàn cảnh lại tiếp tay giúp ông.
Đã đến lúc giáo sư Béchamp từ bỏ chức vụ quan trọng của mình ở Montpellier với hy vọng mang lợi cho đất nước. Người con trai trẻ đầy tài năng của ông, Joseph, đang tỏ ra một trợ thủ xứng đáng trong các nghiên cứu của cha, đã noi gương cha. Cả gia đình, trừ người con gái lớn, đã kết hôn với ông Gasser năm 1872, chuyển đến Lille, và những trang u ám bắt đầu được mở ra trong tiểu sử của nhà lao động vĩ đại ấy. Ông không còn giữ được món quà quý giá là sự độc lập, mà ông đã hy vọng sẽ tăng thêm nhờ chuyển lên miền bắc nước Pháp. Ông liên tục bị các vị linh mục điều hành ngôi trường mới can thiệp, và giữa lo lắng và công việc, tay ông chẳng mấy chốc đã đầy đến mức đã đến lúc ảnh hưởng của ông bị làm suy yếu tại Viện hàn lâm Khoa học ở Paris, nơi mà, nhờ Pasteur, chính cái tên microzyma gần như bị coi là một điều nguyền rủa.
Số phận của ông hẳn đã tưởng chừng trái ngược biết bao trong mắt giáo sư Béchamp! Vào thời kỳ ông đang hoàn thiện lời giải thích chu đáo và tận cùng của mình về các quá trình của sự sống, của bệnh tật và của sự tan rã, thì những đối thủ bất ngờ đã xuất hiện dưới hình thức các giáo sĩ, không học thức về khoa học, những kẻ có tâm trí hẹp hòi chỉ tìm thấy được trong các quan điểm ấy sự vô thần và chủ nghĩa duy vật — trong khi giá như họ có chút phân biệt nào, họ sẽ nhận ra rằng các quan điểm ấy có thể chống lại chủ nghĩa vô thần, thứ lúc bấy giờ có khuynh hướng gắn mình với khoa học, tốt hơn nhiều so với bất cứ giáo điều nào của Rome. Cái học thức nông cạn ấy, với những hiểm họa của nó, lẽ ra đã được hồi sinh bởi những ngụm sâu hơn của giáo huấn sâu sắc hơn của Béchamp. Nhưng điều đó, các Giám mục và Hiệu trưởng Lille chẳng nắm được chút nào trong sự ngu dốt tự mãn của họ; và về mặt ngoại giao, Béchamp hẳn đã kém xa Pasteur. Không thể dùng quanh co với ông. Ông không thể giả vờ rằng những kẻ ngu dốt hiểu biết về công trình của Đấng Sáng Tạo hơn ông, và ông chẳng thử làm vừa lòng những kẻ giáo điều hẹp hòi, vì làm thế sẽ chẳng khác gì quỳ gối trước Baal. Ông không phải kẻ cơ hội, và Đấng Sáng Tạo mà ông tưởng tượng, như được miêu tả qua những công trình diệu kỳ của Ngài, đã bỏ xa những ý niệm nhân hình hóa của các giáo sĩ, như Thiên Chúa của dân Israel vượt qua những thần tượng thô sơ do tay người Philistine tạo ra.
Mặc dù bị lo lắng ở mỗi bước đi, vị giáo sư vẫn tiếp tục hoàn thiện những kết luận rút ra từ những thí nghiệm không ngừng nghỉ mà ông đã tiến hành ở Montpellier và vẫn theo đuổi ở Lille, bất chấp mọi sự gián đoạn. Ông càng đào sâu vào học thuyết microzyma, càng thấy nó trả lời tốt hơn cho các bí ẩn của khoa học đương thời.
Một trong những thành tựu đầu của Béchamp là một phân tích tinh vi các chất albuminoid và kéo theo đó là phát hiện ra sự biến đổi của chúng. Thay vì tìm thấy chúng giống nhau ở mỗi một trong vô số loài sinh vật, vị giáo sư và các cộng sự đã tìm thấy chúng khác nhau ở khắp nơi, đến mức họ không thể đặt giới hạn nào cho chúng. Sự đa dạng này, họ chứng minh bằng những phép thử hóa học chính xác — thứ mà trong việc thực hiện, Béchamp dường như đã vượt xa mọi người cùng thời đến mức hoàn toàn. Họ thấy rằng không những các chất albuminoid biến đổi ở các loài khác nhau, mà còn ở các cơ quan khác nhau của chính một cơ thể. Bởi vậy họ thấy sự phân biệt giữa các loài, và giữa các cơ quan của cơ thể, là do cả cái riêng của microzyma vốn có và cả sự khác biệt của các chất albuminoid. Chẳng hạn, trong trứng gà, họ cho thấy sự phức tạp của các chất albumen cấu thành lòng trắng và giải thích một phương pháp tách riêng chúng, còn từ lòng đỏ họ tách riêng các microzyma đặc hiệu. Bác sĩ Joseph Béchamp, người con trai xuất sắc của giáo sư, đảm nhận vai trò nổi bật trong việc tiến hành những nghiên cứu riêng này. Ông cho thấy, bằng một phân tích tinh vi trứng mọi loại, rằng không có chất albumen nào trong lòng trắng hay lòng đỏ là đồng nhất với chất albumen tìm thấy trong trứng của bất kỳ loài nào khác. Ông làm rõ hơn trước sai lầm của thuyết đồng nhất căn bản. Một sự kiện mà công trình của ông làm rõ là, ngay cả về mặt hóa học, một sinh vật là cái nó là ngay trong quả trứng mà nó chui ra, cả vì các yếu tố tế bào học lẫn vì các chất albumen. Người ta từng nghĩ rằng chất albumen của dịch tiết và chất albumen của máu là một; không những bác sĩ Joseph Béchamp phát hiện ra điều điều đó không đúng, mà còn rằng trong số những chất ông tách riêng, không chất nào có thành phần sơ cấp giống chất huyết thanh. Ông chỉ ra rằng có một quan hệ nhân quả nào đó giữa các mô mà dịch tiết đi qua và bản chất của các chất albumen của dịch ứ. Ông bởi vậy đã khử bỏ các quan điểm trước đó của Mohl và Huxley cũng như niềm tin của Claude Bernard vào một protoplasm duy nhất. Với cha mình, ông đưa ra vô số thí dụ về sự khác biệt căn bản giữa các loài. Chẳng hạn, họ thấy rằng dù các sinh vật trong miệng, tức là microzyma, vi khuẩn, tế bào biểu mô, v.v., hao hao nhau về hình dạng ở người, ở chó, ở bò đực, ở lợn, thì các chức năng hóa học của chúng lại rất khác nhau. Bác sĩ Joseph Béchamp chỉ ra rằng microzyma ngay của cùng một tuyến ở cùng một con vật cũng biến đổi tuỳ theo tuổi và trạng thái. Cha ông chứng minh sự hao hao ông tìm thấy trong cấu trúc của tuyến tụy với cấu trúc của tuyến mang tai, và sự khác biệt trong sản phẩm của chúng; còn các tiết tố của tuyến mang tai, ông thấy khác nhau ở người, ngựa và chó. Vị thầy thuốc vĩ đại giải thích rằng chính vì microzyma của các loài động vật gần gũi nhau thường khác nhau về chức năng ở một số trung tâm sinh lý nhất định, mà mỗi loài vật có những bệnh riêng của nó, và một số bệnh không lây được từ loài này sang loài khác, và thường không lây từ cá thể này sang cá thể khác ngay cả cùng một loài. Tuổi ấu thơ, tuổi trưởng thành, tuổi già, giới tính, đều có phần ảnh hưởng đến tính nhạy cảm trước các trạng thái bệnh lý.
Những nghiên cứu của Trường Montpellier hẳn nhiên có vẻ ném ánh sáng lên bản chất của sự lây nhiễm và lên sự miễn nhiễm thường gặp, bất chấp sự phơi nhiễm bị cáo buộc, trước đủ loại bệnh lây nhiễm. Thế giới đáng lẽ đã được miễn cho việc nhân giống và cấy các mầm bệnh, giá như những lý thuyết sâu sắc của Béchamp được theo, thay vì lý thuyết mầm bệnh của thời thượng thô sơ, lý thuyết hình như chỉ gồm những nửa sự thật bị bóp méo của giáo huấn Béchamp.
Một công trình đặc biệt khác của Béchamp trẻ là lần theo microzyma trong phôi thai và trong các cơ quan của cơ thể sau khi sinh, nhờ đó ông đã chứng minh, bằng những thực nghiệm đầy nhọc nhằn, sự đa dạng thay đổi của chúng ở các giai đoạn khác nhau. Ông cũng chỉ ra sự thay đổi tác động của chúng ở các cơ quan khác nhau — nhau thai, gan, v.v. — và ở các tuổi khác nhau, so sánh, chẳng hạn, các microzyma của phôi thai với của người trưởng thành, và chứng minh rằng không có sinh vật ngoại lai nào có thể tạo ra những thay đổi ấy. Ông cũng phụ giúp cha mình trong các nghiên cứu về thây ma, trong đó hai cha con Béchamp khẳng định rằng microzyma vốn có, không nhờ sự giúp sức của các mầm bệnh ngoại lai, mang lại sự phân giải. Họ dạy rằng khi đời sống cơ thể của một sinh vật đã kết thúc, thì những sinh vật cực nhỏ đã từng xây dựng các tế bào của nó vẫn tiếp tục hưng thịnh, và bằng các quá trình sống của mình, chúng phá huỷ cái nơi ở mà chính chúng đã xây nên. Năm 1910, Joseph Béchamp, một người làm việc không kém siêng năng cha mình, chứng minh sự hiện diện của cồn trong các mô chỉ ít lâu sau khi chết, và sự biến mất của nó trong quá trình thối rữa tiến triển, khi ông cho rằng cồn bị tiêu diệt bởi sự tiếp diễn của sự lên men do chính những microzyma đã sinh ra cồn ấy từ đầu. Như vậy ông giải thích sự sống sót tiếp diễn của những sinh vật đã mãi gần đây còn làm sống cái xác chết trơ ấy, và chỉ ra rằng không có gì là mồi của cái chết; mọi thứ đều là mồi của sự sống, để trích định nghĩa súc tích của Antoine Béchamp.
Tương lai của học thuyết microzyma đã có thể khác biết bao, giá như mạng sống được gia hạn cho giáo sư Estor và cho Joseph Béchamp, thay vì cả hai đều bị cắt đứt giữa tuổi thanh xuân. Nhưng những mệnh lệnh không dò được của Thượng Đế đã đối xử nghiệt ngã với bậc thầy vĩ đại. Công trình yêu nước bị chặn đứng bởi mù quáng, các phát hiện khoa học bị bóp nghẹt bởi ghen tức, các cộng sự bị đánh gục bởi tử thần, kẻ chẳng tha cả người vợ lẫn cô con gái trẻ mà các giáo sĩ đã cướp mất khỏi ông, cuối cùng ông đơn độc lên đường đến Paris để thấy kẻ phỉ báng mình chính được tôn lên như lý tưởng của công chúng, còn chính tài năng của ông thì gần như không được nhận ra. Đó là một viễn cảh ảm đạm, và lẽ ra đã dễ dàng làm nản lòng ngay cả một tinh thần dũng cảm, nhưng ý chí của Béchamp đã vươn lên bất khuất để đón nhận tương lai, và, được sức khoẻ và sinh lực tuyệt vời của ông tiếp thêm, đã thúc ông tiến tới những điều tra mới. Với những năm tháng ngày càng nhiều, công việc không ngừng của ông không hề giảm, và ông kiên trì tìm kiếm những huyền bí của các quá trình sống. Đến tận năm 1896 ông vẫn tiếp tục công bố các bài báo về sữa, về thành phần hóa học của nó, về những thay đổi tự phát của nó và những thay đổi do việc nấu nướng gây ra. Ông không những giữ ý tưởng ban đầu của mình về microzyma tự chủ vốn có trong sữa, mà còn chỉ ra tính chất đặc thù của các loại sữa khác nhau, sữa người, sữa bò, v.v. Ông phủ nhận niềm tin phổ biến rằng sữa là một hỗn hợp dầu trong nước, nhưng lại cho rằng, trong ý kiến này ông Dumas tán thành, rằng các hạt sữa là những túi kiểu tế bào, nghĩa là có lớp vỏ ngăn không cho chúng tan dễ trong ether khi còn ở giai đoạn sữa, và khi ở kem là nguyên nhân của sự đông cục.
Thành tựu đỉnh cao trong sự nghiệp lao động và bị truy đuổi của Béchamp là việc công bố, khi đã tám mươi lăm tuổi, một tác phẩm về Máu, trong đó ông áp dụng các quan điểm microzyma của mình cho các vấn đề của nó, đặc biệt là vấn đề sự đông máu. Chúng ta không thể làm gì hơn là trích lời tóm lược của bác sĩ Herbert Snow trên tờ New Age ngày 1 tháng 5 năm 1915:
Nó trình bày máu, trong thực tế, là một mô đang chảy, không phải một chất lỏng. Các huyết cầu, đỏ và không màu, không nổi trong một chất lỏng, như người ta thường nghĩ, và như các giác quan của chúng ta cho thấy, mà hoà lẫn với một khối lượng lớn microzyma không nhìn thấy — hỗn hợp này cư xử đúng như một chất lỏng sẽ cư xử trong điều kiện bình thường. Mỗi cái được bọc trong một lớp vỏ albuminous, và gần như trong toàn bộ các mạch máu, nhưng không phải hoàn toàn. Giữa chúng là một lượng rất nhỏ dịch trong tế bào. Các microzyma ấy, trong những vỏ albuminous của chúng, cấu thành nên các hạt microzyma phân tử — yếu tố giải phẫu thứ ba — của máu.
Ngay khi các điều kiện tự nhiên của đời sống máu chấm dứt, và máu được rút ra bằng một đường rạch vào mạch máu, thì các hạt microzyma phân tử này bắt đầu dính vào nhau rất chặt. Nhờ sự dính này, cục máu được hình thành, và quá trình đông máu diễn ra nhanh đến mức các huyết cầu bị bắt trong lưới của nó trước khi kịp chìm xuống đáy, như chúng sẽ làm theo trọng lượng của chúng nếu không. Rồi chúng ta có giai đoạn thứ hai. Lớp vỏ albuminous của hạt bị ngưng và co lại. Nhờ vậy cục máu chìm cả khối, và đẩy ra dịch trong tế bào. Cuối cùng, ở giai đoạn thứ ba, các huyết cầu bị cục máu co bóp nghiền nát, và hồng cầu nhả màu của chúng cho huyết thanh bên ngoài. Không có cái gọi là fibrin tự thân. Fibrin không phải là một nguyên lý trực tiếp, mà là một màng giả của microzyma.
Có nhiều điều, bác sĩ Snow nói thêm, trong lời giải thích khéo léo này về một vấn đề khó và cho đến nay tuyệt nhiên không được giải quyết thỏa đáng, điều mà dường như cho thấy, ít ra là với người viết sau này, rằng nó đáng được xem xét và cân nhắc sát hơn nhiều so với mức nó dường như đã nhận được.
Nhưng hẳn nhiên đó chỉ là điều có thể nói về toàn bộ giáo huấn microzyma của Béchamp, giáo huấn mà trong mối quan hệ bệnh lý của nó, từ các tác phẩm của ông, chúng ta có thể tóm lược như sau:
Đó, nói đại khái, là những luận điểm tạo thành cơ sở bệnh lý học của Béchamp. Không cần phải nói, ông không đưa ra điều nào như một lý thuyết chưa được thử: mỗi điều đều dựa trên thực nghiệm và quan sát chính xác.
Bất chấp sự thống trị của giáo điều Pasteur lên Giảng đường Y học, ở đây đó có những tâm trí khoa học xác nhận những mảnh của giáo huấn Béchamp mà không hề biết gì về nó, qua các công trình độc lập của chính họ. Trong mối liên hệ này, có thể trích lời chứng cứ trước Uỷ ban Hoàng gia về Động vật sống thực nghiệm của bác sĩ Granville Bantock, danh tiếng lớn của người chẳng cần bình luận.
Các nhà vi khuẩn học, ông nói, đã phát hiện rằng để biến phân hay các chất hữu cơ chết thành những thành phần vô hại, Tự nhiên dùng các vi sinh vật (hay microbe) làm tác nhân không thể thiếu được. . . . Trong bể tự hoại hiện đại, chính tác động của các vi sinh vật, hiếu khí hay yếm khí, làm tan phân rác, và chính tác động liên tục của các microbe này biến mọi chất phân thành những thành phần muối cần cho dinh dưỡng của đời sống thực vật. Sau một số thí dụ, bác sĩ Bantock nói tiếp: Vi sinh vật trong quan hệ của nó với bệnh tật chỉ có thể được coi là một kết quả hay kèm theo; và sau khi trích nhiều trường hợp sai chẩn đoán vì tin vào các diện mạo vi khuẩn, ông trích: Vậy thì không lẽ hợp lý khi kết luận rằng các vi sinh vật này . . . chắc chắn không phải là nguyên nhân của bệnh tật? Ông cũng nói: Tôi buộc phải chấp nhận như một sự kiện các tuyên bố đã đưa ra về sự gắn bó của trực khuẩn Loeffler với bệnh bạch hầu; nhưng nói rằng sự hiện diện của chúng là kết quả của bệnh, theo tôi mới là lý luận đúng hơn.
Rồi nữa, chúng ta có thể trích những quan sát thực tiễn của nhà tiền phong vĩ đại của nghề điều dưỡng, Florence Nightingale.
Tôi không đang sống trong một sai lầm liên tục, bà nói, khi nhìn các bệnh tật, như chúng ta nay vẫn nhìn, như những thực thể riêng biệt, mà chúng nhất thiết phải tồn tại, như mèo và chó, thay vì nhìn chúng như những trạng thái, như trạng thái bẩn và sạch, và cũng nằm trong tầm kiểm soát của chính chúng ta đến vậy; hay đúng hơn như những phản ứng của Tự nhiên nhân từ chống lại những điều kiện mà chúng ta đã đặt mình vào đó? Tôi được những người đàn ông khoa học và những người đàn bà ngu dốt nuôi dạy để tin một cách dứt khoát rằng bệnh đậu mùa là một thứ mà đã từng có một mẫu vật trên thế gian, mẫu vật ấy cứ tự nhân giống trong một dòng nối dõi vĩnh cửu, đúng như là có một con chó đầu tiên (hay một cặp chó đầu tiên), và rằng bệnh đậu mùa sẽ không tự bắt đầu, cũng như một con chó mới sẽ không bắt đầu nếu không có chó cha mẹ.
Từ đó, tôi đã thấy bằng mắt và ngửi bằng mũi bệnh đậu mùa mọc lên trong những mẫu vật đầu tiên, hoặc trong những phòng kín mít hoặc trong những khoa chật chội, nơi nó không thể nào bị bắt, mà nhất thiết phải tự bắt đầu. Hơn nữa, tôi đã thấy các bệnh bắt đầu, lớn lên và chuyển dần vào nhau. Giờ thì chó không chuyển thành mèo. Chẳng hạn, tôi đã thấy, chỉ cần chật chội một chút, bệnh sốt rét liên tục lớn lên, chật chội thêm một chút thì bệnh thương hàn, thêm một chút nữa thì bệnh sốt phát ban, và tất cả trong cùng một khoa hay một túp lều. Vì các bệnh, như mọi kinh nghiệm cho thấy, là những tính từ, không phải danh từ riêng.
Chính bà là người cũng đã nói: Học thuyết bệnh đặc hiệu là nơi trú ngụ cao quý của những tâm trí yếu, dốt nát, bất ổn, như những kẻ nay đang cai trị ngành y. Không có bệnh đặc hiệu: chỉ có những trạng thái bệnh lý đặc hiệu.
Đó là giáo huấn của bà, dựa trên kinh nghiệm cá nhân sâu rộng, trên những ý kiến có thể hiểu được dưới ánh sáng học thuyết microzyma của Béchamp, học thuyết nhờ vậy lại được xác nhận từ những bài học hằng ngày của Tự nhiên. Có vẻ như các thực thể gây bệnh phải nhường chỗ cho các trạng thái bệnh lý, nảy sinh từ di truyền xấu, không khí xấu, thức ăn xấu, lối sống tệ bạc, v.v., và, miễn là dòng dõi chúng ta tốt, môi trường chúng ta hợp vệ sinh, tập quán chúng ta hợp vệ sinh, thì tình trạng cơ thể của chúng ta chủ yếu do chính chúng ta giữ lấy, theo chiều hướng tốt hay xấu, tuỳ ý chí chúng ta quyết định. Thay vì là nạn nhân của những kẻ địch ngoại lai, thì điều đó chủ yếu ở chỗ chúng ta có muốn hay không rằng các yếu tố giải phẫu của chúng ta, microzyma, cứ tiếp tục đi trên nhịp điều đều đặn của chúng — khi đó điều kiện của chúng ta sẽ là điều kiện của sức khoẻ — hay, do một sự thay đổi môi trường trong vùng lân cận trực tiếp của chúng, phát triển một cách bệnh lý, sinh ra những tác động lên men xấu và những tai ương cơ thể khác. Như vậy, trong khi những thiếu sót của chính chúng ta trước hết phản chiếu lên chúng, thì sự đồi bại tiếp đó của chúng sau này lại trả thù lên chúng ta.
Người ta đã lập luận để đáp lại lý lẽ đúng đắn của cô Nightingale rằng bà chỉ là một y tá và vì thế không đủ tư cách để bày tỏ ý kiến y học. Phản đối ấy đến lạ lùng từ những người sùng mộ trung thành của những người như Jenner, kẻ đã mua bằng y học của mình giá 15 bảng Anh, và Pasteur, kẻ đã xoay xở để có được, với đa số chỉ một phiếu, một chỗ trong hàng ngũ Cộng tác viên Tự do của Viện Hàn lâm Y học! Tuy nhiên, chúng ta hãy quay sang ý kiến của hai nhà y học chân chính và xem chúng xác nhận quan điểm của nữ y tá vĩ đại đến đúng đắn mức nào. Trong chương thứ mười tám của tác phẩm Thế kỷ diệu kỳ của nhà bác học vĩ đại giáo sư Alfred Russel Wallace, chúng ta thấy ông trích lời nhà thống kê y học, bác sĩ Farr, và bác sĩ Charles Creighton, bậc vĩ đại nhất trong số các nhà dịch tễ học.
Trong Báo cáo Thường niên gửi Tổng cục Thống kê năm 1872 (tr. 224) của mình, ông nói: Các bệnh lên men thay thế lẫn nhau, và khi một bệnh bị nhổ tận gốc, nó dễ bị thay thế bởi các bệnh khác, chúng tàn phá loài người một cách vô phân biệt mỗi khi các điều kiện của đời sống lành mạnh bị thiếu. Chúng có tính chất này chung với cỏ dại và các hình thức sống khác: bệnh này lùi thì bệnh kia tiến. Lý thuyết thay thế này được tiến sĩ Creighton chấp nhận, ông trong Lịch sử Dịch bệnh ở Anh của mình gợi ý rằng bệnh dịch hạch đã được thay thế bởi bệnh sốt phát ban và bệnh đậu mùa; và về sau, bệnh sởi, chẳng có gì đáng kể trước giữa thế kỷ XVII, bắt đầu thay thế bệnh sau.
Thật thú vị là việc thay thế các trạng thái bệnh lý mà cô Nightingale nhận thấy trong những túp lều hay khoa bệnh không lành mạnh, tuỳ theo mức độ không lành mạnh thay đổi của chúng, lại xác nhận đúng đắn điều mà tiến sĩ Charles Creighton cho thấy là lời chứng của các biên bản lịch sử. Và sự tiến hoá hay thụt lùi này của các trạng thái bệnh lý, tuỳ trường hợp, hẳn nhiên được giải thích bởi học thuyết microzyma của Béchamp, học thuyết dạy rằng trên các yếu tố giải phẫu, dù gọi là microsome hay microzyma, là những người thực sự xây dựng các tế bào cơ thể, thì phụ thuộc vào tình trạng khỏe mạnh hay không của chúng ta, và rằng một sự thay đổi chức năng bệnh lý ở các yếu tố này có thể dẫn đến các trạng thái bệnh lý trong chúng ta, những trạng thái sau biến đổi khi trước biến đổi, và cái trước chịu ảnh hưởng của các điều kiện xung quanh, dù hợp vệ sinh hay không hợp vệ sinh.
Nếu giáo huấn microzyma bởi vậy ném ánh sáng lên những huyền bí của bệnh lên men, thì nó ném ánh sáng nhiều biết bao lên những khuynh hướng di truyền, thứ bị y học chính thống hiện đại xem nhẹ quá mức. Vì microzyma duy trì sự sống từ cha mẹ sang con cái, nên chúng mang theo những đặc điểm của cha mẹ theo chiều hướng tốt hay xấu, những đặc điểm có thể nằm im suốt nhiều thế hệ hoặc được biểu lộ, tuỳ theo microzyma nào mang ảnh hưởng chiếm ưu thế, nhờ vậy giải thích được các Định luật của Mendel. Thế mà nữa, các trạng thái bệnh lý do sinh trưởng bất thường gây ra, mà ung thư là một ví dụ hiển nhiên, dường như cũng xác nhận học thuyết của Béchamp rằng trên tình trạng của microzyma phụ thuộc tình trạng của toàn bộ hay bất cứ bộ phận nào của cơ thể.
Thay vì hệ thống hiện đại điều trị cái bóng ma ấy, một thực thể bệnh, và cố dập tắt nó bằng mọi hình thức chích ngừa, thì thủ tục khoa học theo đường Béchamp sẽ là điều trị cho bệnh nhân, nghiên cứu các đặc tính riêng của anh ta. Vì những đặc tính ấy phụ thuộc vào các yếu tố giải phẫu của anh ta, microzyma, mà, theo Béchamp, xây dựng bộ khung cơ thể anh ta, giữ gìn nó trong sức khoẻ, phá rối nó trong bệnh tật, và cuối cùng khi sự liên kết cơ thể chấm dứt bởi cái chết, thì chúng, có hoặc không có sự giúp sức từ ngoài, phá bỏ nơi ở cũ của chúng, tự chúng được giải phóng để tiếp tục một sự tồn tại độc lập trong đất, trong không khí, hoặc trong nước mà chúng tình cờ rơi vào. Mọi mức bệnh lý nào có thể có trong chúng hay trong các hình thái vi khuẩn tiến hóa của chúng đều nhanh chóng bị xua tan bởi không khí trong lành. Và vì microzyma của các động vật khác nhau, các thực vật khác nhau và các cơ quan khác nhau — phổi, thận, đại tràng, tuỳ trường hợp — vốn đều khác nhau, nên sẽ có sự biến đổi trong sự phát triển vi khuẩn của chúng, và nhờ vậy vô số hình thái vi khuẩn được nhận thấy khắp nơi được giải thích dễ dàng. Như Đế chế Anh, hay Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, hay Cộng hoà Pháp được cấu thành từ vô số cá thể biến đổi, thì cơ thể của thực vật hay động vật là một liên minh của các thực thể sống; và như công việc của vô số cá thể tạo nên các quá trình sống của quốc gia, thì tác động của microzyma cấu thành các quá trình sống của mọi sinh vật có cơ thể.
Thế thì triển vọng mới về sự sống và bệnh tật đã có thể là gì, giá như niềm tin của Béchamp được phát triển thay vì bị bóp nghẹt dưới ghen tức của một đối thủ! Và giờ chúng ta sẽ quay sang vài quan điểm hiện đại dường như xác nhận giáo huấn của người.
Vì chúng ta đã khẳng định rằng Béchamp đặt nền móng cho tế bào học, hay khoa học về đời sống tế bào, nên có lẽ cũng nên cho một số thí dụ về các quan điểm hiện đại xác nhận những kết luận ban đầu của ông. Với mục đích này, chúng ta không thể làm gì hơn là trích Diễn từ Chủ tịch trước Phân ban Động vật học của Hiệp hội Anh vì Sự tiến bộ Khoa học tại Manchester năm 1915 của giáo sư E. A. Minchin.
Như chúng ta đã thấy, Béchamp đã chống lại quan điểm của Virchow coi tế bào là đơn vị giải phẫu, và ông làm điều đó ngay trong những năm 60 của thế kỷ XIX.
Ý kiến của giáo sư Minchin vào năm 1915 là thế nào?
Nhiều nhà tế bào học xem ra quả thực coi tế bào, như họ biết nó ở sinh vật đa bào và thực vật cao, là khởi thuỷ của mọi sự, là đơn vị nguyên thuỷ trong tiến hóa của các sinh vật sống. Về phần tôi, tôi sẽ sẵn sàng qui cho sự sáng tạo đặc biệt của con người cũng nhanh như tin rằng tế bào của sinh vật đa bào, với tổ chức tinh vi và phương pháp phân chia nhân được hoàn thiện một cách phi thường của nó bằng karyokinesis, là điểm khởi đầu của tiến hóa của sự sống.
Vậy là sau hơn nửa thế kỷ trôi qua, chúng ta thấy một xác nhận chuyên môn cho giáo huấn của Béchamp.
Khi giáo sư Béchamp và giáo sư Estor còn làm việc cùng nhau, họ đã thực sự ngạc nhiên khi thấy các hạt, microzyma, trong tế bào liên kết với nhau và những dạng sợi phát triển. Dường như chẳng còn nghi ngờ gì rằng, cách đây bao nhiêu năm, họ đã quan sát thấy các giai đoạn khác nhau của chuỗi biến đổi phức tạp ấy, chuỗi được gọi là karyokinesis hay gián phân, chuỗi xảy ra trong quá trình phân chia nhân tế bào, và nhờ đó sự phân chia đồng đều chất của nhân tế bào mẹ vào hai nhân mới kết quả được thực hiện.
Quá trình này, hiện tượng chính trong sự phân chia một tế bào, là cách thức sinh sản của tế bào để xây dựng nên những cấu trúc được gọi là cơ thể của mọi loài sinh vật. Theo quan điểm hiện đại được ưa chuộng nhất, nó được thực hiện bởi các hạt, mà khi liên kết với nhau được gọi là các sợi chromatin, cái tên chromatin được dùng cho chất của chúng vì sắc đậm hơn nó lấy khi được nhuộm để quan sát dưới kính hiển vi. Các phương pháp nhuộm làm cho công việc của những người quan sát ngày nay dễ dàng hơn biết bao, dù đôi khi nó cũng làm sai công việc ấy; song những phương pháp ấy mới chỉ ít được biết vào giữa thế kỷ trước, nên Béchamp hẳn đã đi trước thế hệ của mình rất xa trong cách thức điều tra vi mô những điều phức tạp của đời sống tế bào, và trong việc nhìn thấy những hiện tượng mà các người cùng thời của ông chưa hề nhận thấy. Tiên đề ban đầu của ông rằng những hạt sống tí hon xây dựng nên tế bào vẫn đúng cho đến ngày nay, hơn nửa thế kỷ về sau, bất chấp mọi danh pháp. Quả thực, khi đến chuyện danh pháp, số lượng và sự đa dạng đang dùng đủ để làm mờ đi mọi sự rõ ràng trong vấn đề, và thật đáng tiếc là người ta không dùng rộng rãi thuật ngữ toàn diện của Béchamp: microzyma. Về quyền ưu tiên của Béchamp trong việc chứng minh vai trò của các hạt cấu thành phân tử và sự lộn xộn của danh pháp sau đó, chúng ta có thể trích lời ông Nencki, giáo sư Hóa học Y học người Thuỵ Sĩ ở Berne:
Theo hiểu biết của tôi, chính A. Béchamp là người đầu tiên coi một số hạt cấu thành phân tử nhất định, mà ông đặt tên là microzyma, là những chất lên men có tổ chức, và ông đã bảo vệ quan điểm của mình một cách kiên quyết trước nhiều cuộc tấn công.
Khi tự mình thừa nhận về các hạt cấu thành phân tử của tuyến tụy, ông Nencki nói tiếp: Đây hiển nhiên là microzyma của Béchamp, là coccus của Billroth, là cùng một thứ với monas crepitulum của Ehrenberg.
Những cái tên nổi bật cho những chấm tí hon có trong chất của tế bào và phân biệt được dưới kính hiển vi, khi xếp theo thứ tự thời gian, là: các hạt cấu thành phân tử, microzyma, microsomes, hay các hạt chromatin.
Gọi chúng bằng tên nào tuỳ ý, thì chính những thứ này mà Béchamp muốn nói đến khi ông viết: Tế bào là một tập hợp của những sinh vật nhỏ bé có một đời sống độc lập, một lịch sử tự nhiên riêng biệt.
Giáo sư Minchin, trong Diễn từ Chủ tịch của mình, mà không hề thừa nhận gì đối với Béchamp, lặp lại ý kiến ấy: Với mỗi hạt như vậy, phải qui cho nó những tính chất cơ bản của các sinh vật sống nói chung; thứ nhất, sự trao đổi chất, biểu hiện trong sự thay đổi phân tử liên tục, trong sự đồng hóa và trong sự lớn lên, kéo theo sự sinh sản; thứ hai, cái riêng đặc hiệu.
Đó đúng là giáo huấn của Béchamp, và hơn nữa, ông còn chỉ ra rằng microzyma là những kẻ truyền mang di truyền. Theo ông, một cây cỏ hay một con vật là cái nó là nhờ đức tính của microzyma của nó. Chúng là mắt xích giữa giới động vật và giới thực vật. Dù trông tự thân chúng hao hao nhau, song chính chúng phân biệt chất của sinh vật này với chất của sinh vật khác. Chính nhờ microzyma của nó mà một trái sồi phát triển thành một cây sồi, một quả trứng gà thành một con gà; ảnh hưởng microzyma quyết định đứa trẻ hao hao cha hay hao hao mẹ. Và ở đây nữa chúng ta lại thấy quan điểm hiện đại xác nhận rằng trong chromatin nằm bí mật của di truyền.
Giáo sư MacBride bởi vậy xác nhận ý kiến của Béchamp: Dường như không có lối thoát nào khỏi lập luận rằng chromatin, xem như một chỉnh thể, là kẻ mang các khuynh hướng di truyền, vì ảnh hưởng của người cha trong việc quyết định tính cách của con cái cũng mạnh bằng ảnh hưởng của người mẹ. Giờ thì, đầu của tinh trùng là bộ phận duy nhất của người cha lọt vào cấu thành của dòng dõi, và bộ phận này xem ra chỉ gồm gần như hoàn toàn là chromatin. Chẳng lẽ các nhiễm sắc thể không phải chỉ đơn giản là những nhóm của những yếu tố quyết định này (các đặc điểm, các tính chất, v.v.) dính vào nhau bởi ái lực hóa học lẫn nhau, trong những điều kiện hóa học đặc biệt có trong tế bào trong thời kỳ trước gián phân? Nếu đúng như vậy, thì sự biến mất toàn bộ xem ra của nhiễm sắc thể trong thời kỳ nghỉ sẽ được giải thích.
Có thể, vì thiếu các thiết bị hiện đại, Béchamp đã bỏ sót tầm quan trọng lớn của nhân tế bào trong học thuyết tế bào của mình; nhưng, dù sao, giáo sư Minchin vẫn xác nhận tính đúng đắn của quan điểm ông khi qui ảnh hưởng tối thượng cho cái mà chúng ta có thể gọi tuỳ ý là các thực thể microzymian, hạt hay chromatin.
Đã rồi, giáo sư Minchin nói, một khái quát của các nhà tế bào học đã bị giết chết bởi việc nghiên cứu Protista (một hình thức cực nguyên thuỷ của vi sinh vật). Khẩu hiệu mọi nhân đều từ nhân là hoàn toàn có giá trị chừng nào nó bị giới hạn ở các tế bào của sinh vật đa bào và thực vật cao, tức là giới hạn ở cái mà nhà tế bào học chuyên nghiệp thường giới hạn quan sát của mình. Nhưng ở Protista, người ta nay đã xác lập rất rõ rằng các nhân có thể nảy sinh de novo, không phải từ các nhân có trước, mà từ chromatin ngoài nhân, chất mà Hertwig là người đầu tiên đặt tên là chromidia.
Bây giờ chúng ta hãy chạy qua các quan điểm ban đầu của Béchamp như chúng ta thấy được bày tỏ trong tác phẩm Théorie du Microzyma của ông:
Microzyma là những người xây dựng tế bào, và nhờ tiến hóa trở thành vi khuẩn cong; chúng hoạt động tích cực về mặt mô học; chúng là những kẻ sản sinh ra các zymase (các chất lên men); chúng hoạt động tích cực về mặt sinh lý; và khi ghi nhận rằng các zymase là những tác nhân được ban cho một hoạt động biến đổi hay phân giải nào đấy, thì có thể nói rằng microzyma có thể sinh ra năng lượng hóa học; chính nhờ microzyma mà chúng ta tiêu hóa và mà chúng ta có thể biến đổi và đồng hóa những chất phục vụ nuôi dưỡng chúng ta. Bởi vậy chúng hoạt động tích cực về mặt hóa học; đặt trong một số hoàn cảnh nhân tạo nào đó, gọi là dễ thối rữa, trong điều kiện thuận lợi, chúng mang lại sự phân giải (nghĩa là sự lên men); nói khác, chúng nuôi mình trong khi chúng nhân lên, dù chúng có tiến hóa thành vi khuẩn cong hay không. Bởi vậy, xét từng cái, chúng là những sinh vật có thể so sánh với những kẻ chúng ta gọi là chất lên men sống và có tổ chức, v.v., v.v. Cuối cùng, chúng thách thức sự thối rữa, và nếu tôi thêm rằng chúng không bị tiêu hóa trong điều kiện chất động vật mà chúng đang ở, thì có thể nói rằng chúng không thể bị phá huỷ về mặt sinh lý.
Giờ chúng ta hãy so sánh với các quan điểm hiện đại của giáo sư Minchin: Tôi coi các yếu tố chromatin là những thành phần có tầm quan trọng hàng đầu trong đời sống và tiến hóa của các sinh vật sống, chủ yếu vì các lý do sau: bằng chứng thực nghiệm về vai trò sinh lý chiếm ưu thế của nhân trong đời sống của tế bào; sự cá thể hóa phi thường của các hạt chromatin được thấy một cách phổ quát ở các sinh vật sống và biểu hiện đến mức nâng các đơn vị chromatin lên hàng những cá thể sống biểu hiện hành vi đặc hiệu, hơn là hàng những chất chỉ chịu trách nhiệm về một số phản ứng hóa vật lý nào đó trong đời sống của sinh vật; và cuối cùng, nhưng tuyệt nhiên không kém phần quan trọng, tính vĩnh cửu và, nếu tôi được dùng thuật ngữ này, tính bất tử của các hạt chromatin trong vòng đời của các sinh vật nói chung.
ở đây người ta có thể phản đối rằng dù giáo sư Minchin xác nhận các quan điểm của giáo sư Béchamp về cái riêng và tính bất tử của các hạt tế bào tí hon, thì chẳng có xác nhận nào được đưa ra về sự tiến hóa vibrio, hay nói một cách quen thuộc hơn, về sự tiến hóa vi khuẩn.
Thế nhưng vị giáo sư hiện đại chẳng ngần ngại gì trong việc tuyên bố một niềm tin như vậy, miễn là nó bị đẩy về các thời đại nguyên thuỷ và về lãnh địa của giả thuyết và thuở sơ khai, khi ông tưởng tượng sự phát triển của các hình thức sống từ những sinh vật sống ban đầu, những hạt bản chất chromatin, có thể là cực vi mô. Những sinh vật sống ban đầu này, ông nói, là những đơn vị hay những cá thể sinh học, tổ tiên, trong một dòng truyền giống liên tục, của các mầm và hạt chromatin mà ngày nay chúng ta biết là thành phần phổ quát của các sinh vật sống. Hơn nữa, ông cho chúng ta biết: Sự tiến hóa của các sinh vật sống hẳn phải phân nhánh theo ít nhất hai hướng chính. Hai kiểu sinh vật mới xuất hiện, một trong hai kiểu tiếp tục chuyên môn hóa trong cách thức sống sinh dưỡng, với mọi biến đổi vô số kể của nó, trong khi kiểu kia phát triển một thói sống hoàn toàn mới, nghĩa là một sự tồn tại săn mồi. ở kiểu sinh dưỡng, bước đầu tiên là cơ thể được bao quanh bởi một lớp vỏ cứng. Như vậy đã xuất hiện kiểu sinh vật vi khuẩn. ở đây là xác nhận của niềm tin vào sự tiến hóa vi khuẩn từ các hạt chromatin, hay nói cách khác microzymian, được ủng hộ thêm bởi những tuyên bố như: Tôi đồng ý với những người dẫn nguồn gốc vi khuẩn từ những sinh vật chân chính không có tế bào, trực tiếp từ biococcus (thuật ngữ của Mereschkowsky), qua một dạng tổ tiên.
Thật lạ lùng khi so sánh sự sẵn sàng tin của chuyên gia ấy vào một sự tiến hóa nguyên thuỷ, một vấn thuần tuý phỏng đoán, với sự thờ ơ trưng ra đối với các chứng minh thực nghiệm của Béchamp về sự phát triển vi khuẩn. Về điều này, chúng ta có thể trích ý kiến của ông như sau: Nhưng các bạn chớ tưởng rằng microzyma biến đổi thành vi khuẩn mà không có quá độ nào: trái lại, có nhiều dạng trung gian giữa microzyma và vi khuẩn. Điều các bạn phải ghi nhớ là môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện của các dạng khác nhau trong sự tiến hóa của chúng từ microzyma, và rằng có vô số loài thay đổi chức năng của chúng; cuối cùng, rằng tuỳ theo bản chất của môi trường, microzyma có thể sinh ra tế bào thay vì sinh ra vi khuẩn, những vi thực vật có tế bào chân thực, và những loại tương tự.
Người ta đã lập luận rằng nghiên cứu hiện đại chưa xác nhận tuyên bố của Béchamp: Chúng ta đã thấy microzyma của tế bào động vật liên kết hai hai, hoặc nhiều hơn, và kéo dài thành vi khuẩn. Nhưng phải nhớ rằng những tuyên bố khác của Béchamp, bị phản đối hết sức quyết liệt, đã gặp sự xác nhận từ đó. Chẳng hạn, lấy lời khẳng định của ông rằng vi khuẩn có thể thay đổi hình dạng của chúng, dạng que chuyển sang dạng cầu, v.v. Pasteur đã phủ nhận điều này. Tuy nhiên, sau nhiều năm trôi qua, một người công tác tại chính Viện Pasteur đã xác nhận tuyên bố của Béchamp.
Chúng ta có thể nhớ sự chú ý mà các báo Luân Đôn dành cho cái được gọi là Một phát hiện quan trọng của một nữ nhà khoa học Pháp. Tờ Daily News ngày 8 tháng 4 năm 1914 cung cấp một bản tóm lắt đơn giản:
Paris, thứ Ba, ngày 31 tháng 3. Bà Victor Henri, nhà vi khuẩn học, đã làm được một trong những phát hiện quan trọng nhất trong ngành nghiên cứu ấy trong nhiều năm. Bà đã, bằng cách cho vi khuẩn chịu tác động của tia cực tím, tạo ra được một loài vi khuẩn mới từ một loài đã biết. Thí nghiệm được làm với trực khuẩn than, kẻ vốn dạng que đã biến đổi thành một dạng cầu.
Như vậy lại thêm một luận điểm của giáo sư Béchamp gặp sự chứng minh hiện đại. Và hơn thế nữa, tuyên bố rằng ông đã thấy sự tiến hóa microzymian mang lại sự hình thành của các sinh vật nguyên thuỷ hiện nay đang được xác nhận bởi một học trả được thừa nhận của ông, một người Pháp tên Galippe. Bản tường thuật sau đây về công trình của ông đã được ông E. J. Sheppard, một nhà tế bào học trước đây từng tiến hành một số nghiên cứu liên quan đến cố giáo sư Minchin, và tự mình am hiểu cũng như tán thành nhiều điều trong giáo huấn của Béchamp, tóm lược cho chúng ta một cách ân cần:
Galippe mô tả các thí nghiệm với trái cây và mô động vật, những thí nghiệm xác nhận giả định về sự tồn tại của nhiều loại ký sinh trùng trong mô bình thường của giới thực vật và giới động vật.
Nhưng ngoài sự ký sinh bình thường phần nào cũng tình cờ ấy ra, ông nói, còn có một bậc sự kiện khác, phổ biến hơn, ổn định hơn, và chi phối ở một mức nào đó đời sống của các mô, nghĩa là sự hiện diện, trong chính tế bào, của các yếu tố sống, các yếu tố không thể thiếu được cho hoạt động chức năng của nó.
Ông nhận thuật ngữ microzyma của Béchamp cho các yếu tố này, và gọi các biểu hiện của hoạt động sinh học của các yếu tố trong tế bào này là microbiosis.
Những yếu tố cực nhỏ này có thể sống sót qua sự tiêu diệt của tế bào, và chúng có thể đạt được những dạng và những tính chất sinh học mà trước đó chúng không có. Chúng có thể hoạt động theo một cách thức tự trị nào đó và có thể tự thích nghi với những điều kiện mới mà chúng rơi vào, và tiếp tục sự tiến hóa của chúng.
Sự ký sinh bình thường và microbiosis có thể tiếp tục tiến hóa song song với hoặc độc lập với nhau.
Trong các thí nghiệm của mình với táo, v.v., Galippe kể rằng ông đã có thể làm xuất hiện vi sinh vật từ microbiosis trong khi loại trừ những vi sinh vật từ sự ký sinh bình thường. Các phương pháp mà nhờ đó ông đạt được điều này gồm chấn thương cơ học, dập nát, v.v., và nhờ vậy ông đã có thể lần ra một số biểu hiện nào đó của đời sống trong tế bào, quan sát sự xuất hiện và tiến hóa của một số yếu tố sống nào đó, và nuôi cấy chúng tiếp.
Những sự kiện sinh học chung này, ông nói, áp dụng được cho mọi mô, mọi tế bào, dù nguồn gốc của chúng là gì. Thí dụ đáng chú ý nhất là ở các vết thương chiến tranh. Các mô bị dập nát trong các vết thương thuận lợi cho sự phát triển của các hiện tượng do microbiosis gây ra. Sự nguy hiểm của việc để lại các mô dập nát ấy trong vết thương nay đã được mọi nhà phẫu thuật thừa nhận, và việc làm sạch phẫu thuật mọi vết thương nay đã là thực hành thường lệ.
Điều họ không biết, và điều mà Galippe dành năm mươi trang của bản chuyên luận của mình để chứng minh, là vì sự ký sinh bình thường và microbiosis, vai trò của các mô bị dập nát và của máu tụ lại nhiều hơn ấy lại vừa quan trọng hơn vừa quyết định hơn. Chúng có thể sinh ra trực tiếp, không cần sự cộng tác của ngoại lai, các yếu tố lây nhiễm, đến mức một vật bay hoàn toàn vô trùng có khả năng làm nhiễm một vết thương chỉ nhờ tác động cơ học của nó trong việc khởi động sự tiến hóa bất thường của các yếu tố sống trong tế bào vốn đã có ở đó.
Nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm của Landouzy, và các số liệu trình bày củng cố những bài học đã rút ra được từ quan sát lâm sàng.
Trong số ra tháng 12 của tờ Vaccination Inquiry, ông Alexander Paul tóm lược từ các báo cáo của Viện hàn lâm Khoa học Pháp kết quả của các quan sát khác của ông Galippe về microzyma sống và sự biến đổi của chúng thành trực khuẩn. Ông Paul trích lời người sau như sau: Giờ đây, microzyma tạo thành một bộ phận không thể tách khỏi của tế bào và không thể trao cho các mô một tính chất nhiễm trùng mà bản thân chúng không có khi chúng thuộc về một cơ thể lành mạnh. Bất chấp một số thất bại, chắc hẳn do những nguyên nhân tình cờ, những kết quả rực rỡ đạt được trong phẫu thuật nhờ phương pháp ghép vết thương là một bằng chứng không thể bác bỏ được của điều này. Các mô ghép không chết theo nghĩa tuyệt đối của từ ấy, vì chúng chứa những yếu tố sống có khả năng tiến hóa in situ, hoặc giữa những môi trường nuôi cấy thích hợp, như các thí nghiệm của chúng tôi đã chứng minh. Chất glycerine không, cồn không, lửa không phá huỷ được microzyma của các mô. Các tác nhân khác nhau ấy chỉ có thể giảm bớt hay đình chỉ hoạt động của chúng. Chúng được ban cho một đời sống lâu bền.
Ông Paul đề cập đến một Thông báo khác của ông Galippe gửi Viện hàn lâm Khoa học, về Vi sinh vật sống trong giấy: sức chịu đựng của chúng đối với tác động của nhiệt và của thời gian. Trong đó, người công tác hiện đại bàn về các yếu tố nuôi cấy được tìm thấy trong mọi loại giấy, ngay cả trong các bản thảo cổ của Trung Quốc và giấy cói của Ai Cập, giấy mà người ta đã thu được vi sinh vật có khả năng cử động.
Sau đó ông Paul trích bản tóm lược của Galippe về nghiên cứu hoa của mình: Đi lại toàn bộ chuỗi dài các thí nghiệm này, những sự kiện chúng tôi đã trình bày cho thấy rằng phần sống của protoplasm được cấu thành từ microzyma.
Cuối cùng, ông Paul đề cập đến phát hiện của Galippe về microzyma trong hổ phách, và tự mình bình luận: Thật buồn khi nghĩ rằng ông Béchamp, sau những cuộc đấu tranh dũng cảm của mình tới tuổi cao của ông với Pasteur và trường phái của ông, những kẻ ông buộc tội đã bóp méo các phát hiện của mình và xây dựng trên đó một giả thuyết vi khuẩn giả mạo, đã xuống mồi mà không được hưởng niềm thoả mãn là nghe thấy rằng nghiên cứu sau này đã củng cố vị trí của ông, và thấy cái tên microzyma bị cấm đoán quá lâu được phục hồi trong biên bản của Viện hàn lâm Khoa học!
Những phát hiện của Béchamp chắc chắn đã được bác sĩ J. A. Goodfellow xác nhận, người viết ở trang 27 của quyển sách nhỏ của mình: Gần đây tôi đang điều tra các vi khuẩn tìm thấy trong các lớp đất sét dưới các vỉ than. Cứ nói về Rip Van Winkle với giấc ngủ một thế kỷ của ông ta đi! Những mầm bệnh này đã ngủ, theo các phép tính của các nhà địa chất học của chúng ta, không dưới 240 triệu năm, nhưng khi tôi chuyển một số trong chúng sang một môi trường lỏng thích hợp, chúng thức dậy và bắt tay vào việc với sức mạnh chẳng kém gì như thể chúng chỉ vừa chợp mắt một cái!
Nhiều người dường như chưa bao giờ nghe nói đến Béchamp lại đang chậm rãi và nhọc nhằn tiến dần đến quan điểm của ông. Chúng ta có thể trích, chẳng hạn, một đoạn ở trang 64 của tác phẩm Sức khoẻ, Bệnh tật và Hội nhập, một quyển sách thú vị và tiên tiến của tiến sĩ Newsholme, M.A., M.D., F.R.C.P., D.P.H., Sĩ quan Y tế trưởng của thành phố Birmingham. Như vậy, tiến sĩ Newsholme viết, chúng ta lại đến một lập trường trong đó, trong khi không phủ nhận vai trò do một virus ngoại lai đóng trong việc gây ra viêm não ngủ, chúng ta vẫn tìm thấy lý do để không loại trừ khả năng rằng một enzyme hay virus hoàn toàn tự nhiên, do bản thân cá nhân sinh ra chứ không do bất cứ vi khuẩn nào do anh ta mang hoặc do bên ngoài đưa vào, đôi khi có thể là nguyên nhân của những trường hợp riêng lẻ của một hội chứng không thể phân biệt được với hội chứng nảy sinh từ sự nhiễm khuẩn ngoại lai.
Kết lại, chúng ta có thể nói rằng không những chúng ta có bằng chứng về sự xác nhận hiện đại đối với các quan điểm của Béchamp, mà còn có nhiều dấu hiệu cho thấy lời giải thích của ông về đời sống tế bào và vi sinh vật sẽ được những người điều tra vô tư, không thành kiến đón nhận nhiệt liệt. Chẳng hạn, chúng ta có thể trích một tác phẩm xuất bản năm 1918, tựa đề Triết học Trị liệu Tự nhiên, của Henry Lindlahr, M.D.
Cho đến vài tuần trước, Lindlahr viết, tôi không hay biết sự thật rằng một nhà khoa học Pháp, Antoine Béchamp, đã từ giữa thế kỷ trước, đưa ra một lời giải thích khoa học hợp lý về nguồn gốc, sự lớn lên và các hoạt động sống của các mầm bệnh cũng như của các tế bào sống bình thường của cơ thể thực vật, động vật và con người. Tin này đến với tôi lần đầu trong một quyển sách nhỏ tựa đề Kiến trúc sư trước hết của sự sống, của E. Douglas Hume. . . . Theo giáo huấn của Béchamp, tế bào và mầm bệnh là những hiệp hội của microzyma. Các đặc điểm vật lý và các hoạt động sống của tế bào và mầm bệnh phụ thuộc vào lớp đất mà microzyma của chúng được nuôi, lớn và nhân lên trong đó. Như vậy, microzyma, lớn trong lớp đất của mầm sinh sản, phát triển thành các tế bào chuyên biệt hoá, thường trực, bình thường của cơ thể sống thực vật, động vật hay con người. Còn chính những microzyma ấy, lớn trong các chất bệnh và các chất độc hệ thống trong những cơ thể sống ấy, lại phát triển thành vi khuẩn và ký sinh trùng. . . . Phát hiện về microzyma xác nhận điều kỳ diệu đến thế nào những lời tuyên bố của triết học Chữa bệnh Tự nhiên, theo đó vi khuẩn và ký sinh trùng không thể gây ra và khơi dậy các quá trình viêm và bệnh lý khác trừ phi chúng tìm thấy lớp đất bệnh lý đặc thù của riêng mình để được nuôi, lớn và nhân lên trong đó! Biết đến các nghiên cứu và giáo huấn của Béchamp chỉ mới đến với tôi gần đây, sau khi bản thảo của quyển sách này đã thực tế hoàn thành. Thật là mãn nguyện biết bao khi phát hiện ở phút cuối mắt xích còn thiếu này, mắt xích xác nhận kỳ diệu đến thế kinh nghiệm và giáo huấn của chính tôi. . . . Sự tương ứng kỳ diệu biết bao mà lý thuyết này về nguồn gốc đời sống tế bào mang so với những ý kiến khoa học mới nhất về cấu tạo của nguyên tử! Như mọi yếu tố của vật chất và nguyên tử của chúng đều được cấu thành từ những electron rung động trong ether nguyên thuỷ, thì mọi tế bào và mầm bệnh đều được cấu thành từ microzyma. Như các electron, tuỳ theo số lượng của chúng trong nguyên tử và các cách rung của chúng, sinh ra trên các cơ quan cảm giác của chúng ta tác động của các yếu tố vật chất khác nhau, thì microzyma, tuỳ theo môi trường hay lớp đất mà chúng sống trong đó, phát triển thành các tế bào và mầm bệnh khác nhau, biểu hiện cấu trúc và các hoạt động sống đặc thù. Sinh học hiện đại dạy chúng ta rằng mọi tế bào chuyên biệt hóa, thường trực, có trong cơ thể trưởng thành phức tạp, thực ra đều đã có trong tế bào sinh sản nguyên thuỷ, tế bào là kết quả của sự hợp nhất giữa tinh trùng đực và noãn cái. Song khoa học đã không giải thích được phép màu tưởng chừng này — làm sao có thể mà mọi tế bào thường trực của cơ thể trưởng thành lại có thể có từ đầu trong tế bào sinh sản tí hon ấy và trong thai nhi sơ khai. Lý thuyết microzyma của Béchamp mang đến lời giải thích hợp lý và khoa học. Nếu microzyma này nhỏ so với tế bào chẳng khác gì electron nhỏ so với nguyên tử, và nguyên tử nhỏ so với những hạt vật chất nhìn thấy được, thì huyền bí của sự sinh thành cơ thể con người phức tạp từ tế bào sinh sản, cũng như các huyền bí của di truyền trong các giai đoạn khác nhau của nó, đều có thể được giải thích. Nếu microzyma là bào tử, hay hạt giống, của tế bào, thì có thể hình dung rằng những sinh vật sống cực nhỏ này có thể mang dấu ấn của loài và của các đặc tính và khuynh hướng chủng tộc và gia đình, cuối cùng tái hiện lại trong các tế bào, cơ quan và hệ thần kinh của cơ thể trưởng thành.
Cũng như tiến sĩ Lindlahr đã nhận học thuyết microzyma của Béchamp như lời giải thích cho các huyền bí bệnh nguyên và huyền bí khác, chúng ta không thể không chờ đợi một sự nhận tương tự từ phía những người công tác khác, và một bước tiến đáng kể, khi một vòng tròn ngày càng rộng tuyên bố quen biết với những phát hiện mở ra thời đại của Béchamp.
Một sự cống hiến hết sức thú vị của Lord Geddes cho giáo huấn của ông có thể tìm thấy trong bản in lại các bài diễn thuyết tại Thượng nghị viện Anh vào tháng 2 năm 1944, về một kiến nghị đứng tên Lord Teviot, hỏi liệu Uỷ ban Hoàng gia được bổ nhiệm để điều tra tỷ lệ sinh và xu hướng dân số có bao gồm, trong phạm vi của mình, tình trạng của đất đai trong quan hệ với sức khoẻ của con người, động vật và thực vật hay không.
Lord Portsmouth đọc kiến nghị này trong lúc Lord Teviot vắng mặt vì bệnh. Lord Glentanar và Lord Hankey ủng hộ kiến nghị, cũng như Lord Geddes. Lord Geddes nói đến cuộc tranh luận về thức ăn cần thiết và việc dùng phân bón hoá học. Ông nói rằng nó bắt đầu từ gần một thế kỷ trước và đã trở thành một cuộc tranh luận rất khó theo dõi, do sự thống trị trong nhiều năm của trường phái Đức trong sinh học. Trường phái Đức — Virchow, Schwann, Liebig — đặt trọng tâm vào tế bào, thứ mà, trong hàng triệu triệu bản sao của chúng, cơ thể chúng ta được tạo ra, và họ coi thức ăn cho tế bào là tất cả những gì cần thiết. Ngoài trường phái ấy, và thực ra bị xoá nhòa và che lấp bởi nó, rất có thể là hậu quả của chiến tranh Pháp-Phổ và sự uy tín mà người Đức giành được qua chiến tranh ấy, đã có một trường phái Pháp, mà giáo sư Béchamp là người lãnh đạo, làm việc ở Montpellier trong những năm 50 của thế kỷ trước. Trường phái này có một ý niệm hoàn toàn khác về cấu trúc cơ thể và về sức sống và sức mạnh của cơ thể, và tôi nghĩ thật là một điều đáng tiếc lớn rằng, do hậu quả của chiến tranh Pháp-Phổ và nhiều chuyện khác xảy ra sau đó trong những năm 70, một phần lớn công trình của giáo sư Béchamp đã hoàn toàn bị xem nhẹ và bỏ qua.
Sau đó Lord Geddes mô tả đóng góp lớn lao mà giáo sư Béchamp đã mang lại, đóng góp mà ngài đã quen thuộc hơn ba mươi năm, cho toàn bộ ý niệm về sự sống, nghĩa là rằng tế bào không phải là đơn vị của sự sống, mà có một đơn vị sự sống nhỏ hơn nhiều, tí hon hơn nhiều, mà trong các báo cáo sau của mình với Viện hàn lâm Khoa học, ngài gọi là microzyma, nhưng trong các báo cáo trước của mình, ngài luôn gọi là những cơ thể nhỏ bé. Lord Geddes chỉ ra rằng những cơ thể sống nhỏ bé này có khả năng tổ chức, và gợi ý rằng vì chúng không có mặt trong phân bón hoá học nhân tạo, nên trường phái Đức — mà ở nước chúng ta đã được theo rất nhiều trong sinh học trong nhiều năm — đã bỏ sót một thứ hết sức quan trọng, thứ có thể cần thiết cho cơ thể con người chúng ta, nếu các cơ thể ấy muốn giữ trọn sức sống của mình bằng cách nhận trong thức ăn một nguồn cung cấp liên tục các cơ thể sống nhỏ bé ấy.
Lord Geddes nhấn mạnh rằng có một sự phân kỳ quan điểm thực sự giữa hai trường phái đã tồn tại từ lâu, trường phái này đã trở thành thống trị và từ trong các thực hành và niềm tin của nó, toàn bộ ngành công nghiệp hoá chất đã nảy sinh và đã có thể cho thấy những kết quả đáng kinh ngạc nhất trong việc đẩy mạnh sản xuất sinh trưởng của cây và những phần của thức ăn được cần như nhiên liệu. Nhưng ngài gợi ý rằng những người làm phân compost nắm được nguồn sức sống thực sự. Những cơ thể nhỏ bé ấy có thể được thấy trong những giọt máu dưới kính hiển vi, và trong tuần ấy, ngài đã khảo sát rất nhiều và thấy những khác biệt hết sức phi thường giữa những người được nuôi bằng cách khác nhau và trong các trạng thái sức khoẻ khác nhau. Ngài nghĩ rằng việc nghiên cứu cần làm là điều tra điểm này: nguồn cung cấp các cơ thể sống nhỏ bé ấy trong thức ăn có căn bản cho sự sống sót không ngừng của con người hay không. Ngài tin rằng không điều gì ngài nói nên được hiểu là muốn nói rằng điều này là đúng, nhưng ngài nghĩ rằng có khả năng, nhiều người nghĩ là khả năng cực cao, rằng sự hiện diện của các cơ thể sống nhỏ bé này trong thức ăn là căn bản cho sức khoẻ.
Ngài đi tiếp để mô tả những cơ thể sống nhỏ bé này được tìm thấy ở đâu trong những tàn tích cổ xưa nhất của sự sống, và chúng khởi động tổ chức như thế nào trong một dung dịch đường vô trùng và chết; và ngài kết luận bằng cách nói rằng vấn đề sẽ được trả lời tốt nhất nhờ sự kết hợp giữa nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp, và quan sát được tiến hành cẩn thận và kiểm tra cẩn thận trên những người dân của đất nước được nuôi bằng các thức ăn khác nhau.
Chúng tôi xin lặp lại lời tiên đoán của tờ Moniteur Scientifique rằng thời gian sẽ làm công lý cho công trình của Béchamp và làm cho nó được biết đến trọn vẹn. Và với mục đích này, chúng tôi khuyên mọi người học hãy đi thẳng đến các tác phẩm của nhà Pháp rực rỡ này, người, ngay cả trong cái thời của những trí tuệ khổng lồ, nhìn trong triển vọng vẫn là một thiên tài xuất chúng của thế kỷ XIX!
Từ đây sách chuyển sang tố cáo: y học dự phòng, bệnh dại, và cái Hume gọi là giáo phái vi trùng.
Vào đầu năm 1879, Pasteur được bầu, với đa số một phiếu, vào hàng ngũ Cộng tác viên Tự do của Viện Hàn lâm Y học. Tham vọng của ông quả thực đã thúc ông mở ra một kỷ nguyên mới trong sinh lý học và bệnh lý học y khoa, nhưng người ta sẽ thấy rằng thật không may cho thế giới khi, thay vì đưa ra giáo huấn đầy đủ hơn của Béchamp, ông lại rút về những ý tưởng thô sơ hơn mà ngày nay được gọi phổ biến là lý thuyết mầm bệnh. Thật đáng kinh ngạc khi thấy rằng ổng đã dùng cả ảnh hưởng lớn của mình với Viện hàn lâm Khoa học để tẩy chai cái tên microzyma, đến mức ông Fremy, bạn của Béchamp, tuyên bố rằng ông không dám thốt ra từ ấy trước toàn thể những vị đáng kính ấy! Tuy nhiên, vì cần một cái tên cho các vi sinh vật bay trong không khí, Pasteur đã chấp nhận danh pháp microbe do nhà phẫu thuật Sédillot, cựu Giám đốc Trường Y học Quân độo ở Strasbourg, đề nghị. Người ta có thể chỉ trích rằng thuật ngữ này là một sự sai về mặt từ nguyên. Người Hy Lạp dùng từ macrobiotus để chỉ các giống người sống lâu, và nay một cái tên ghép từ những từ Hy Lạp chỉ sự sống ngắn ngủi lại được trao cho các vi sinh vật mà cái thân cây mẹ của chúng, microzyma, Béchamp đã mô tả là không thể bị phá huỷ về mặt sinh lý. Con người, kẻ hiếm khi sống qua một thế kỷ, có lẽ đáng được gọi là microbe hơn, và microzyma đáng được gọi là macrobe!
Không phải cho đến năm 1878 Sédillot mới đưa ra đề nghị của mình; nhưng trước đó, Pasteur đã bận rộn chỉ định các vi sinh vật làm tác nhân trực tiếp của đủ thứ rắc rối, và năm 1874 ông được mừng vui bởi một bức thư đánh giá cao của Lister. Người sau viết rằng lý thuyết mầm bệnh thối rữa của Pasteur đã cung cấp cho ông nguyên tắc duy nhất trên đó hệ thống sát trùng có thể được tiến hành.
Tuy nhiên, chúng ta hãy quay sang phán quyết của thời gian, phán quyết mà, theo khẩu ngữ của chính Pasteur, phải phán xét một nhà khoa học. Trước Uỷ ban Hoàng gia về Động vật sống thực nghiệm lần cuối, Uỷ ban họp từ 1906 đến 1908, ngài Henry Morris, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Hoàng gia, muốn dựng lên trường hợp tốt nhất có thể cho Pasteur, vẫn phải thừa nhận: Do hậu quả của các nghiên cứu và kinh nghiệm tiếp sau, một sự sửa đổi nào đó của kỹ thuật do Lister lần đầu giới thiệu đã xảy đến, và sự tiến hóa của phương pháp vô trùng đã nảy sinh.
Tiến sĩ Wilson chỉ ra trong Bản ghi nhớ Phản đối của mình với Uỷ ban Hoàng gia rằng: cơ sở của phẫu thuật vô trùng, vốn bản chất là phẫu thuật sạch, đã được đặt ra, như đã nêu trong Báo cáo và trong lời trả lời một câu hỏi của ngài William Collins, bởi Semmelweiss trước năm 1850, người đã qui cho sự ngộ độc máu tàn phá các khoa đẻ của ông trong một bệnh viện Viên do nhiễm trùng thối rửa, và đã hối thúc mạnh mẽ sự sạch sẽ như một phương tiện ngăn ngừa nó. Tiến sĩ Wilson chỉ ra Lister đã mang lời khuyên về sự sạch sẽ này vào thực hành từ lâu, đáng kể trước khi các ý tưởng của ông được Pasteur đúc khuôn. Thứ ảnh hưởng sau này ấy — lý thuyết của Pasteur rằng nguyên nhân căn nguyên của bệnh nhiễm trùng trong các vết thương nằm trên các vi sinh vật trong không khí, là một lý thuyết hoàn toàn sai lầm. Chính trên lý thuyết sai lầm này, chính trên nguyên tắc này mà Pasteur cung cấp cho ông, Lister đã dựa việc dùng bình phun acid carbonic, mà trước Đại hội Y học ở Berlin năm 1891, ông đã thú nhận một cách trung thực: Tôi thấy xấu hổ vì đã từng khuyên dùng nó với mục đích tiêu diệt các vi sinh vật trong không khí. Như vậy tiếng nói của thời gian phán xét chống lại các lý thuyết của Pasteur; còn đối với giáo huấn của Béchamp, chúng ta thấy gì? Tiến sĩ Wilson viết tiếp: Nguồn thực của mọi tai họa là chất không sạch hay thối rữa có thể được mang tay, băng gạc, hoặc phương tiện khác, mang tới những vết thương mới làm. Sự nhiễm bẩn như vậy được học thuyết microzyma giải thích chính xác, học thuyết dạy rằng chất thối rữa ấy, với các microzyma bệnh lý của nó, có thể ảnh hưởng đến các điều kiện bình thường của microzyma vốn có trong cơ thể mà nó tiếp xúc. Như vậy phán quyết của thời gian xác nhận Béchamp.
Pasteur tuyên bố sự nguy hiểm nảy sinh từ các microbe trong khí quyển. Ông nói về những bệnh nhân bị xâm lăng, và hết sức đắc thắng vẽ lên bảng đen sinh vật hình chuỗi mà ông gọi là mầm bệnh của sốt đẻ.
Béchamp cho rằng trong không khí tự do, ngay cả microzyma và vi khuẩn bệnh lý cũng chóng mất tính bệnh lý của chúng, và rằng các sinh vật vốn có là những điểm khởi đầu của các chứng nhiễm trùng và các rắc rối khác.
Phán quyết cuối cùng của Lister, sau khi đã từ bỏ phương pháp mà ông bị Pasteur dẫn dắt sai lầm, là gì?
Chúng ta xin cho nó bằng lời chính ông, như tiến sĩ George Wilson trích: Các hạt bay trong không khí có thể được phớt lờ trong công việc phẫu thuật của chúng ta, và, nếu vậy, chúng ta có thể bỏ việc rửa và tưới sát trùng, miễn là bao giờ chúng ta cũng có thể tin mình và các trợ tá của mình tránh đưa vào vết thương sự nhiễm uế nhiễm trùng từ những nguồn khác hơn là nguồn trong không khí.
Nhưng trong những năm 70 của thế kỷ XIX, lý thuyết mầm bệnh đặc hiệu trong không khí có cái duyên của mới mẻ, và sự giản dị thô sơ của nó thu hút những kẻ không khoa học, dù nhiều nhà khoa học phản đối nó một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, Pasteur vẫn tiếp tục sự nghiệp thuận buồm xuôi gió của mình trong việc tuyên bố về các mầm bệnh, và ông được giúp sức nhiều bởi các kết luận của tiến sĩ Koch cùng những người công tác khác. Bệnh than, mà chúng ta đã nói đến, mang lại cho ông một đất thuận lợi cho cuộc truy tìm microbe, và ít lâu sau, sự chú ý của ông chuyển sang một sinh vật lần đầu được một nhà phẫu thuật người Alsace tên Moritz nhận thấy, và sau đó bị Toussaint buộc tội là nguyên nhân gây bệnh dịch gà. Cái microbe được gọi là thế này Pasteur nuôi cấy một cách siêng năng, như ông đã nuôi cấy trực khuẩn than. Ông cũng khai sinh ra thời thượng cho cái mà có thể gọi là việc nghiên cứu các trạng thái bệnh lý nhân tạo; nghĩa là, thay vì chú ý đến các thí nghiệm của Tự nhiên trên những đối tượng bệnh lý tự nhiên, người và vật, thì cơn cuồng nảy sinh vì việc gây bệnh bằng cách chích các chất độc, một thực hành mà Pasteur bắt đầu vào khoảng thời gian này và mà những người theo ông đã bắt chước một cách khăng khăng đến mức một số người thậm chí đã cố ý tiến hành những thí nghiệm tội lỗi trên đàn ông, đàn bà và trẻ em. Không còn nghi ngờ gì rằng, từ thời ông, hàng triệu nạn nhân của đủ loài thú, cả hai loại, đã héo hon trên khắp thế giới trong các phòng thí nghiệm bệnh lý, và giá như Pasteur chưa bao giờ sống, thì những anh chị em nhỏ của chúng ta, để trích lời Thánh François d'Assise, đã được miễn cho những đau đớn không kể xiết.
Những người hâm mộ ông, tất nhiên, sẽ cãi rằng các thí nghiệm của ông được tiến hành với mục đích trực tiếp là giảm nhẹ đau khổ và, trước hết, các bệnh của động vật, đặc biệt là bệnh sốt lách. Nhưng việc bắt đầu chữa những bệnh tự nhiên bằng cách sinh ra những bệnh nhân tạo hẳn sẽ khiến bất kỳ ai thấy là một phương pháp lộn ngược trời, và nguyên tắc chịu khổ thay người khác chắc chắn chỉ có thể giữ đạo đức bằng sự hy sinh tự nguyện. Nhưng chúng ta ở đây không phải lo lắng nhiều về đạo đức của thủ tục Pasteur bằng về kết quả thực tiễn của nó, vậy chúng ta hãy chuyển sự chú ý đến những con gà xấu số đã nằm trong số các nạn nhân đầu của ông.
Pasteur thử các môi trường nuôi cấy của cái microbe gọi là bệnh dịch gà trên gia cầm và giết một số chim với một sự đều đặn có hệ thống. Tuy nhiên, chuyện xảy ra là, tình cờ, một vài con được cấy nhờm một môi trường nuôi cấy cũ, rồi chỉ đau yếu rồi khoẻ lại. Điều đó không, tuy nhiên, cứu chúng khỏi các thí nghiệm tiếp, và những con gà đã dùng rồi này nay được cho một liều mới của môi trường nuôi cấy mới. Lại nữa chúng tỏ ra kháng cự lại cái chết đã được dành cho chúng. Sự miễn nhiễm này lập tức được qui cho liều trước của môi trường nuôi cấy cũ. Pasteur bèn bắt đầu chích các liều giảm độc lực vào gà, và tuyên bố rằng nhờ vậy ông bảo vệ chúng khỏi chết khi sau đó được cấy virus mới.
Không lẽ sự kiện này, người viết tiểu sử của ông hỏi, không đáng được đặt bên cạnh sự kiện lớn ấy về vắc-xin mà Pasteur đã từng trầm ngâm và suy tưởng biết bao?
Song những sự trầm ngâm của ông chẳng cho thấy gì của sự thận trọng mà người viết tiểu sử của ông hết sức lo lắng qui cho ông.
Những nghiên cứu gốc, ông nói, những ý tưởng mới và táo bạo, đã hấp dẫn Pasteur. Nhưng tâm trí thận trọng của ông đã ngăn sự táo bạo của ông dẫn ông vào những sai lầm, bất ngờ hay những kết luận vội vã. Điều đó có thể đúng, ông sẽ nói, nhưng chúng ta phải nhìn sâu hơn vào đề tài.
Tuy nhiên, những ý tưởng táo bạo dường như chỉ cần được thời gian làm cho quen thuộc là sự thận trọng bỏ rơi Pasteur. Một thiên hướng thực sự của lòng nghi khoa học đã thúc ông xác lập tính đúng hay sai của tiêm chủng Jenner trước khi điều chỉnh những tai nạn hay lý thuyết để giải thích nó. Thực tế là, Koch, năm 1889, đã không thừa nhận rằng sự dự phòng bệnh dịch gà có giá trị như người ta tuyên bố cho nó; còn Kitt, năm 1886, tuyên bố rằng những biện pháp phòng ngừa thông thường (sự sạch sẽ, cách ly chim bị nhiễm, v.v.) là hơn. Về tai nạn riêng của môi trường nuôi cấy cũ, tai nạn đã được làm nên đá móng cho toàn bộ hệ thống cấy nhờm, thì rõ ràng Pasteur, như hầu hết mọi người, đã tiếp nhận tiêm chủng mà không điều tra cá nhân, và vì vậy, như nhiều người khác, ông đã tỏ ra có một niềm tin đơn giản là điệp ngược của sự thận trọng khoa học. Lời chỉ trích này càng được biện minh hơn vì vào thời điểm này, ở Pháp cũng như ở Anh, vấn đề tiêm chủng đã bước vào đấu trường tranh luận. Năm 1869, Ricord, một thầy thuốc Pháp lừng danh, đã đưa ra lời cảnh báo về sự truyền bệnh giang mai qua thực hành ấy. Đến năm 1867, Viện đã nhận được chứng cứ về sự đúng của luận điểm này; và năm 1870, tiến sĩ A. H. Caron ở Paris tuyên bố rằng từ lâu ông đã dứt khoát từ chối tiêm chủng dù trả giá bao nhiêu.
Có lẽ cũng nên nhắc lại chuyện xảy ra khi tiến sĩ Charles Creighton được yêu cầu viết một bài về tiêm chủng cho Bộ Bách khoa toàn thư Britannica. Ông nhận lời, nhưng vì ông là nhà khoa học về thực chất cũng như về danh nghĩa, ông thấy cần phải nghiên cứu đề tài trước. Hệ quả là bài ấy buộc phải lên án, vì sự điều tra đã chứng minh tiêm chủng là một mê tín dị đoan, theo ý kiến của nhà dịch tễ học vĩ đại nhất thời hiện đại.
Pasteur, ngược lại, nhận quan điểm phổ biến một cách không thận trọng, đã có một niềm tin dễ dãi vào thành công của tiêm chủng, và đã bắt hành vi của những con gà của mình giải thích về lý thuyết cho một thực hành mà ông dường như chưa bao giờ điều tra về mặt lịch sử. Đúng là ông đã dừng lại để nhận thấy một sự sai khác giữa tiêm chủng của Jenner và lý thuyết được xây dựng trên nó. Theo Pasteur, một liều chích trước của môi trường nuôi cấy cũ bảo vệ chống lại một liều chích sau của virus mới; nhưng làm sao hai trạng thái bệnh lý khác biệt đến thế như bệnh đậu bò và bệnh đậu mùa lại có thể bảo vệ lẫn nhau? Về phương diện thí nghiệm sinh lý học, ông nói, sự đồng nhất của virus đậu mùa với virus vắc-xin chưa bao giờ được chứng minh.
Chúng ta không theo đuổi một bộ luận chống tiêm chủng, nhưng vì tiêm chủng Jenner, dù dưới hình thức gốc của bệnh đậu bò hay hình thức hiện đại hóa của chất bệnh đậu mùa, thường được dẫn qua một con bò cái tơ, là nền của sự cấy nhờm Pasteur, nên hai đề tài được buộc với nhau, và với sự sụp đổ của cái thứ nhất theo sau một cách logic là sự sụp đổ của cái thứ hai. Toàn bộ lý thuyết bắt rễ trong niềm tin về sự miễn nhiễm do một cơn bệnh không gây chết mang lại. Ý tưởng nảy sinh từ thói quen coi một bệnh là một thực thể, một vật xác định, thay vì một trạng thái rối loạn do những nguyên nhân phức tạp gây ra; lý thuyết mầm bệnh, cụ thể, là con đẻ vô thức của niềm tin cổ xưa phương Đông vào những con quỷ đặc hiệu, mỗi con có vũ khí độc dữ riêng của nó. Vì vậy, sự cấy nhờm đậu mùa đưa vào Anh từ Thổ Nhĩ Kỳ bởi phu nhân Mary Wortley Montague trong thế kỷ XVIII, và cái thay thế Jenner của nó là cấy nhờm đậu bò, đều dựa trên nghi lễ cổ xưa của Ấn Độ, nghi lễ bắt người ta chịu một cơn đậu mùa cố tình gây ra để làm nguôi cơn thịnh nộ của Sheetula-Mata, nữ thần của nỗi đau ấy.
Những người tin vào học thuyết miễn nhiễm có thể cãi đúng rằng những mê tín tưởng chừng như vậy thường được xây trên những quan sát của kinh nghiệm. Dù sao, điều còn lại cho người yêu sự chính xác là khảo sát từng niềm tin mê tín theo giá trị của chính nó, và thử các sự kiện của đời sống đối với nó. Lời khẳng định rằng vì nhiều người đã có một và chỉ một cơn của một chứng bệnh đặc hiệu nào đó, nên một sự tự bảo vệ đã do đó được ban cho họ, hẳn chẳng khoa học hơn gì niềm tin cổ xưa của người Ấn Độ về việc làm nguôi cơn thịnh nộ của một nữ thần hiểm ác. Như giáo sư Alfred Russel Wallace nói: Rất ít người chịu một tai nạn đặc biệt lần hai — một vụ đắm tàu, hay một tai nạn xe lửa hay xe ngựa, hay một căn nhà cháy; thế nhưng một trong những tai nạn ấy không ban sự miễn nhiễm chống lại việc nó xảy ra lần hai. Việc coi là hiển nhiên rằng những cơn đậu mùa thứ hai, hay của bất kỳ bệnh lên men nào khác, có mức hiếm đến mức chứng minh một sự miễn nhiễm hay một sự bảo vệ nào đó, cho thấy sự bất lực trong việc đương đầu với một vấn đề thuần tuý thống kê.
Thế mà y học chính thống đầy ắp lý thuyết miễn nhiễm đến mức chúng ta còn nhớ một vị bác sĩ đã đặt luật lệ về đề tài này, dù chính cô con gái của ông ta mới đây đã chết vì cơn sốt ban lần thứ ba!
Như Herbert Spencer đã chỉ ra trong Các Nguyên lý Tâm lý học của mình, trong sự sinh thành của các dây thần kinh có một khả năng lớn của sự phát triển thói quen. Kinh nghiệm chung nói cho ta biết rằng có một thói quen bị cảm, và rằng những chứng bệnh như cúm có khuynh hướng tái phát. Một rắc rối nhỏ như nhiệt miệng thường có thể được thấy xuất hiện lại lần này qua lần khác ở cùng một chỗ. Nếu chúng ta muốn lý thuyết hóa, thì có lẽ sẽ có vẻ hợp lý rằng khi hệ thống chịu một sự chấn động sâu đến mức như sự chấn động do những rối loạn nghiêm trọng như bệnh đậu mùa mang lại, thì khả năng tái phát lại kém đáng kể hơn trong những rối loạn nhỏ nhặt hơn, như cảm và cúm. Chúng ta phải nhớ rằng cái chúng ta gọi là bệnh thường là phương pháp của Tự nhiên để tống khứ các chất độc ra khỏi chúng ta; và, lấy một thí dụ gia đình giản dị, khi nhà được dọn sạch thì thường một năm một lần, còn việc phủi bụi các buồng thường xuyên hơn. Lý thuyết như vậy, tuy nhiên, rõ ràng trái với niềm tin vào sự miễn nhiễm qua các rối loạn do nhân tạo gây ra, và hơn nữa, dù có vẻ hợp lý, nó xem ra bị bác bỏ bởi bằng chứng thống kê. Lời chứng của giáo sư Adolf Vogt, người từ 1877 đến 1894 là giáo sư Vệ sinh và Thống kê Y tế của Đại học Berne, Thuỵ Sĩ, được giáo sư Alfred Russel Wallace trích trong chương mười tám của Thế kỷ diệu kỳ. Theo các số liệu thống kê thu được trong thời kỳ của ông, Vogt đã cung cấp một chứng minh toán học rằng một người đã từng chịu bệnh đậu mùa một lần thì dễ chịu nó lại trong một dịch bệnh sau hơn một người chưa từng là nạn nhân của nó tới 63 phần trăm. Vogt kết luận: Mọi điều đó biện minh cho việc chúng ta khẳng định rằng lý thuyết về sự miễn nhiễm nhờ một cơn bệnh đậu mùa trước, dù là bệnh tự nhiên hay bệnh do nhân tạo sinh ra, phải bị đưa vào lãnh vực của hư cấu.
Chắc chắn, nếu không có sự tự dự phòng nào do các rối loạn tự nhiên gây ra, thì không thể đòi hỏi sự tự dự phòng từ những rối loạn do cố tình khơi dậy được. Về tiêm chủng chống bệnh đậu mùa, kinh nghiệm có thể làm người dẫn đường cho chúng ta, vì chúng ta có cả một thế kỷ lịch sử để quyết định cho hay chống hiệu lực của nó. Chúng ta đương đầu với những sự kiện nổi bật, trong số đó chúng ta có thể trích một thí dụ minh họa do giáo sư Wallace cung cấp trong chương mười tám ấy của Thế kỷ diệu kỳ, chương mà ở nơi khác ông cho chúng ta biết là về sau có thể giành được phán quyết là chương khoa học nhất trong mọi tác phẩm của ông. Trong đó, ông chỉ ra việc tiêm chủng miễn phí được qui định năm 1840, việc cắt chích được bắt buộc năm 1853, và năm 1867 các Quản thủ được lệnh truy tố những kẻ tránh né, và các qui định chặt chẽ đến mức ít có đứa trẻ nào trốn khỏi việc tiêm chủng. Trong khi dân số chỉ lên 7 phần trăm và 9 phần trăm, thì tỷ lệ tử vong vì đậu mùa tăng ở mức 40,6 phần trăm và 129 phần trăm, và điều đó trước một số lượng tiêm chủng ngày càng nhân lên!
Bây giờ chúng ta hãy quay sang một số chứng từ quân sự, vì ở mọi nước, những người trong lục quân và hải quân là những thành viên được tiêm chủng kỹ lưỡng nhất của cộng đồng.
Vào tháng 1 năm 1899, Chánh y sĩ Lippincott của Lục quân Hoa Kỳ, viết từ Manila, cho biết toàn thể lực lượng đã được tiêm chủng ít nhất bốn lần kể từ khi bệnh đậu mùa xuất hiện. Vào tháng 3 sau đó, ông lại viết để cho biết mọi sự nguy hiểm đã qua. Tuy nhiên, trong các Báo cáo của Tổng y sĩ Lục quân Hoa Kỳ, người ta tìm thấy các con số sau về các ca và tử vong vì đậu mùa: năm 1899 có 267 ca và 76 tử vong; năm 1900 có 245 ca và 113 tử vong; và tới năm 1902 tỷ lệ tử vong trong các ca đã lên 19,05 phần trăm. Trong cùng thời kỳ ấy, tỷ lệ tử vong vì đậu mùa trong dân chúng Hoa Kỳ — vốn được tiêm chủng ít hơn nhiều — không vượt quá ba phần trăm!
Quay lại Thế kỷ diệu kỳ, giáo sư Wallace cung cấp một phép so sánh giữa Lục quân và Hải quân Anh và cư dân chưa tiêm chủng của Leicester trong một thời kỳ mà các lực lượng chiến đấu trên đất liền và trên biển, ở trong nước và ở nước ngoài, đều được thừa nhận là đã được tiêm chủng lại hoàn toàn. Leicester được lấy làm ví dụ vì tình trạng không tiêm chủng của gần như toàn thể cư dân của nó từ đợt bệnh đậu mùa năm 1871 và 1872. Trước đó, 95 phần trăm số trẻ sinh ra được tiêm chủng, và các mức tấn công và tử vong lớn trong đợt dịch đã đủ để chứng minh sự vô hiệu của tiêm chủng. Vì vậy, các nhà chức trách đã được dẫn dắt thử sự cải thiện vệ sinh và cách ly làm biện pháp phòng ngừa, và đã được đền đáp không những bằng sự tự do tương đối khỏi bệnh đậu mùa, mà còn bằng tỷ lệ sức khoẻ tốt nhất trong mọi thị trấn công nghiệp của nước Anh. Giáo sư Wallace viết như sau: Tỷ lệ tử vong vì đậu mùa trung bình mỗi năm của thị trấn này [Leicester] trong hai mươi hai năm 1879–94 là mười ba người trên một triệu dân (xem Báo cáo thứ tư, tr. 440); nhưng để so sánh với Lục quân và Hải quân của chúng ta, chúng ta phải cộng thêm một phần chín cho tử vong ở các tuổi 15–45 so với tử vong toàn bộ, theo bảng ở trang 155 của Báo cáo Cuối, điều đó nâng nó lên 14,4 người trên một triệu, khi đó phép so sánh sẽ đứng như sau: Lục quân (1879–94) tỷ lệ tử vong vì đậu mùa 37,1; Leicester các tuổi 15–45 là 14,4.
Như vậy đã được chứng minh hoàn toàn rằng mọi tuyên bố mà nhờ đó công chúng đã bị lừa trong bao nhiêu năm về sự miễn nhiễm gần như tuyệt đối của Lục quân và Hải quân được tiêm chủng lại là tuyệt đối giả dối. Tất cả chỉ là cái mà người Mỹ gọi là hù doạ. Không có sự miễn nhiễm. Họ không có sự bảo vệ. Khi phơi nhiễm với sự lây nhiễm, họ đau khổ chẳng kém gì các dân số khác, hoặc thậm chí hơn. Trong toàn bộ mười chín năm 1876–1895, Leicester chưa tiêm chủng có ít ca tử vong vì đậu mùa đến mức Tổng cục Thống kê biểu thị mức trung bình bằng con số thập phân 9,01 trên một nghìn dân, tương đương mười người trên một triệu, còn trong mười hai năm 1879–1889 thì ít hơn một ca tử vong mỗi năm! ở đây chúng ta có sự miễn nhiễm thực, sự bảo vệ thực; và nó đạt được nhờ chú ý đến vệ sinh và cách ly, cùng với sự bỏ qua gần như hoàn toàn việc tiêm chủng. Không Lục quân cũng không Hải quân có thể chỉ ra một kết quả nào như vậy.
Như vậy, chúng ta thấy hiệu lực của sự kiện lớn ấy về tiêm chủng, hiệu lực mà Pasteur đã lấy làm nền cho các lý thuyết y học và thực hành của mình, lại được nhà bác học vĩ đại đứng ngang hàng với Darwin về lý thuyết tiến hóa, dù đúng hay sai, miêu tả là hù doạ. Không phải vì danh tiếng của ông là thứ gây ấn tượng với chúng ta, mà vì chứng từ ông đưa ra, vì phán quyết của thời gian, vì sự phán xét của lịch sử. Và những bài học của quá khứ vẫn tiếp diễn cho đến hiện tại ở Leicester, nơi trong hai mươi sáu năm kết thúc năm 1901 chỉ có hai ca tử vong vì đậu mùa.
Cũng theo cách ấy, kinh nghiệm của Đức và của Nhật Bản cho chúng ta thấy rằng với nhiều tiêm chủng thì cũng có nhiều bệnh đậu mùa, trong khi có lẽ các đảo Philippine cung cấp cho chúng ta bài học thực tế đáng chú ý nhất trong ghi chép.
Từ khi Hoa Kỳ tiếp quản các đảo, mọi sự chú ý đã được trả cho việc hoàn thiện hóa. Nhưng không bằng lòng với điều đó, Sở Y tế Công cộng của họ đã lo việc tiêm chủng có hệ thống kỹ lưỡng cho dân chúng, thêm vào đó một lượng đáng kể cấy huyết thanh. Về kết quả, chúng ta hãy xem tờ báo Mỹ ở Minneapolis, Mason Observer của ngày 14 tháng 1 năm 1922:
Các đảo Philippine đã trải qua ba đợt dịch đậu mùa kể từ khi Hoa Kỳ lần đầu tiếp quản các đảo, đợt đầu năm 1905–1906, đợt thứ hai năm 1907–1908, và đợt thứ ba, tồi tệ nhất, đợt dịch gần đây năm 1918–1919. Trước năm 1905 (không có tiêm chủng chung có hệ thống), tỷ lệ tử vong trong các ca khoảng 10 phần trăm. Trong đợt dịch 1905–1906, với việc tiêm chủng đã được bắt đầu tốt, tỷ lệ tử vong trong các ca dao động từ 25 đến 50 phần trăm ở các vùng khác nhau của các đảo. Trong đợt dịch kinh hoàng 1918–1919, với Philippines được cho là đã được miễn nhiễm gần như phổ quát chống bệnh đậu mùa bằng tiêm chủng, tỷ lệ tử vong trong các ca trung bình trên 65 phần trăm. Các con số này có thể được kiểm chứng bằng cách xem Báo cáo của Sở Y tế Philippine năm 1919, tr. 75. Các con số này đi kèm với tuyên bố Tỷ lệ tử vong khó giải thích. Đối với bất kỳ ai, trừ một Uỷ viên Y tế Philippine, thì đó đơn giản là kết quả của việc tiêm chủng.
Không những bệnh đậu mùa đã trở nên chết người hơn ở Philippines, mà thêm nữa, Thống kê của Sở Y tế Philippine cho thấy trong mấy năm gần đây có sự gia tăng đều trong số các bệnh có thể ngăn được được, đặc biệt là thương hàn, sốt rét và lao. (Trích Báo cáo năm 1921 của Phái bộ Đặc biệt Điều tra các đảo Philippine, Uỷ ban này do thiếu tướng Leonard Wood đứng đầu.)
Trong một số trước đi sâu hơn (ngày 10 tháng 12), tờ Masonic Observer viết:
Tỷ lệ tử vong cao nhất, 65,4 phần trăm, là ở Manila, nơi được tiêm chủng kỹ lưỡng nhất trong các đảo; tỷ lệ tử vong thấp nhất, 11,4 phần trăm, là ở Mindanao, nơi, do thành kiến tôn giáo của cư dân, việc tiêm chủng đã không được thực hành nhiều như ở phần lớn các vùng khác của các đảo. Vì điều xấu hổ muôn thuở của cái Sở Y tế bị đặt tên sai ấy, việc tiêm chủng đã được áp đặt rất nhiều ở Mindanao từ năm 1918, bất chấp bằng chứng trực tiếp này là người dân họ an toàn hơn khi không có nó, và với kết quả là tỷ lệ tử vong vì đậu mùa tăng lên trên 25 phần trăm năm 1920. Vì sự thực là vệ sinh đã có lẽ làm được nhiều hơn ở Manila để làm sạch thành phố và làm cho nó lành mạnh hơn ở bất cứ vùng nào khác của các đảo, nên có mọi lý do để tin rằng sự tiêm chủng quá mức thực sự đã đem lại đợt dịch đậu mùa, bất chấp các biện pháp vệ sinh đã được thực hiện để nâng cao sức khoẻ.
Lại nữa, từ số ra ngày 17 tháng 12 năm 1921, chúng ta có thể trích: Hãy nghĩ mà xem — dân số chưa tới 11.000.000 ở Philippines mà có 107.961 ca đậu mùa với cái giá phải trả kinh hoàng là 60.744 ca tử vong trong năm 1918 và 1919, và hãy ghi nhớ rằng, theo mọi khả năng của con người, cư dân của Philippines được tiêm chủng và tiêm chủng lại kỹ lưỡng chẳng kém bất kỳ dân tộc nào trên thế giới.
Tiêm chủng có hệ thống bắt đầu ở Philippines năm 1905 và đã tiếp tục từ đó đến nay. Chắc chắn là trên mười triệu liều tiêm chủng đậu mùa đã được thực hiện ở Philippines từ 1905 đến 1917, và rất có thể số liều tiêm chủng còn nhiều tới mức con số mười lăm triệu trong thời gian ấy. Điều này có thể được kiểm chứng bằng các báo cáo của Sở Y tế Philippine.
Chuyển sang các báo cáo ấy, chúng ta thấy bằng chứng rằng các sự kiện hẳn còn tệ hơn. Trong thư gửi Bộ trưởng Giáo dục Công cộng, tiến sĩ V. de Jesus, Giám đốc Y tế, cho biết rằng trong năm 1918 và 1919, ở Philippines có 112.549 ca đậu mùa với 60.855 ca tử vong. Chánh phân khu Vệ sinh trong các tỉnh đưa ra các con số còn cao hơn cho năm 1919, nâng tổng số cho hai năm thực sự lên 145.917 ca và 63.434 ca tử vong.
Vậy thì phán quyết của Thời gian tuyên án chống Jenner và Pasteur.
Thế mà, dựa các lý thuyết của mình trên một thực hành đã bị những người đã dành cho nó sự nghiên cứu khoa học gần gũi và vô tư phỉ nhổ, Pasteur đã quyết định khai sinh một hệ thống y học dự phòng để bảo vệ chống lại những cái mà ông tuyên bố là sự tàn phá của các microbe trong không khí. Những liều giảm độc lực mà, theo lý thuyết của ông, có tác dụng dự phòng các bệnh tự nhiên, đã làm vinh dự cho Edward Jenner bằng cách được gọi là vắc-xin.
Người con rể của Pasteur cho chúng ta biết: Giữa các nghiên cứu của mình về một vắc-xin cho bệnh dịch gà, bệnh nguyên học của bệnh sốt lách vẫn không ngừng choáng chiếm Pasteur.
Dù một vắc-xin cho chứng bệnh trước là vắc-xin đầu tiên ông tuyên bố đã phát hiện, thì chính về chứng bệnh sau mà một sự xôn xao lớn đã được dịp nảy ra, vì Pasteur đã được gọi đến trong nhiều trường hợp để thử phương pháp tiêm chủng của mình. Vì vậy, chúng ta sẽ để cho chương sau việc nghiên cứu các phương pháp của ông chống bệnh than, các phương pháp tạo nên điểm khởi đầu của cái thời thượng cấy nhờm sau này — thứ đã chứng minh sự lợi lộc tài chính lớn cho các nhà sản xuất vắc-xin và huyết thanh đến mức đã làm tắc nghẽn một cách thảm hại bước tiến điềm tĩnh, không thành kiến của khoa học bằng những cân nhắc kiếm tiền của lợi ích thương mại.
Các giáo sư giải thích rằng họ đã coi lời đề nghị của Pasteur như một cái bẫy, và rằng, không phải là những kẻ ngốc mà ông đã tưởng, họ đã quyết định rằng họ phải biết ông hiểu thuật ngữ "nhiễm khuẩn máu" nghĩa là gì, và rằng các thí nghiệm phải được tiến hành đầy đủ, theo những điều kiện và theo cách mà chính họ đã làm trong thí nghiệm của họ vào tháng 3 năm 1882. Với giọng mỉa mai cay độc, Ủy ban chúc mừng đối thủ lỗi lạc của họ vì cuối cùng đã thừa nhận rằng việc cấy máu vừa nhiễm không khuẩn than vừa nhiễm khuẩn máu có thể, tùy theo tỷ lệ giữa hai thứ nhiễm khuẩn trong máu bị nhiễm kép, gây ra đôi khi bệnh than thuần tuý, đôi khi nhiễm khuẩn máu thuần tuý, và đôi khi cả hai bệnh kết hợp. Bằng sự thừa nhận ấy, ông đã phá hủy chính giáo điều của mình cho rằng trực khuẩn than không thể phát triển khi nó liên kết với các sinh vật khác, hiếu khí hay yếm khí. Ủy ban lại còn tự chúc mừng mình vì đã thuyết phục được Pasteur rằng ông không thể, từ Pari, chẩn đoán căn bệnh của một con vật đã chết ở Turin, và họ mừng vì họ đã buộc ông phải xem lại các giáo điều của mình qua các nghiên cứu của trợ thủ ông là Roux, và thừa nhận là sai nguyên tắc sau đây mà ông đã đặt ra trong bản Thông báo tháng 7 năm 1878: "Trực khuẩn than có thể được đưa vào một con vật với số lượng rất lớn mà không gây ra bệnh than cho nó. Chỉ cần các trực khuẩn đó, lơ lửng trong dung dịch, đồng thời có các vi khuẩn thông thường kết hợp cùng là đủ."
Ủy ban chỉ ra rằng khẳng định của Pasteur cho rằng máu của một xác nhiễm than sẽ bị nhiễm khuẩn máu sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ chẳng khác nào mô tả nhiễm khuẩn máu như một hậu quả tất yếu của quá trình thối rửa, một lập luận mà họ cho là hẹp và mâu thuẫn với các sự kiện. Họ so sánh nhiều tuyên bố của Pasteur trích từ bản Thông báo tháng 7 năm 1877 và từ bản Biên bản năm 1876 của ông về "Lý thuyết vi trùng và ứng dụng của nó trong y học và phẫu thuật".
Ông đã tuyên bố: "Máu của một con vật nhiễm than không chứa sinh vật nào khác ngoài các trực khuẩn than, nhưng các trực khuẩn ấy lại hoạt động hoàn toàn trong môi trường hiếu khí. Vì thế chúng không tham gia vào quá trình thối rửa; do đó, máu nhiễm than tự nó không có khả năng thối rửa. Nhưng trong xác chết thì mọi việc xảy ra khác đi. Máu nhiễm than nhanh chóng bị thối rửa, vì mọi xác chết đều cho các sinh vật dạng xoắn từ bên ngoài một chỗ trú, nghĩa là, trong trường hợp này, từ đường ruột, vốn luôn chật kín đủ loại sinh vật dạng xoắn."
"Con xoắn khuẩn gây nhiễm khuẩn máu chẳng qua là một trong những con xoắn khuẩn của sự thối rửa."
Sau khi tự hỏi mình liệu nhiễm khuẩn máu hay sự thối rửa ở một chủ thể còn sống có phải là một bệnh đặc biệt hay không, ông trả lời: "Không! Bao nhiêu xoắn khuẩn thì bấy nhiêu nhiễm khuẩn máu khác nhau, lành hay ác."
Thế nhưng trong bản Biên bản về lý thuyết vi trùng, ông lại khẳng định: "Chúng tôi chỉ gặp có một con xoắn khuẩn duy nhất trong nhiễm khuẩn máu thực sự, và chính những môi trường nuôi cấy nó làm nó thay đổi hình dạng, về khả năng sinh sản và về độc lực."
Sau nhiều trích dẫn khác, Ủy ban kết luận rằng rõ ràng phải suy ra rằng, theo quan điểm của Pasteur lỗi lạc, máu của các xác nhiễm than nhất định và tất yếu phải nhiễm khuẩn máu trong vòng hai mươi bốn tiếng hoặc ít hơn, vì nó chứa các xoắn khuẩn của sự thối rửa. Họ mỉa mai nhắc đến lời thừa nhận của ông về những nhiễm khuẩn máu lành và ác, "nhưng xem ra", họ nói, "các xoắn khuẩn của những nhiễm khuẩn máu lành chỉ cư ngụ ở Pari thôi, còn ở Ý thì chúng không tồn tại, bởi vì ông đã tuyên bố dứt khoát rằng những con vật bất hạnh đã chết do thí nghiệm trước đây của chúng tôi vào ngày 23 tháng 3 là bị nhiễm khuẩn máu giết chết, mà nhiễm khuẩn máu đã giết được thì chắc hẳn phải thuộc loại ác. Dù cho ông lỗi lạc có uy tín đến đâu trong một cuộc tranh luận như vậy, chúng tôi vẫn đánh liều khác ý với ông, và để chứng minh rằng quan điểm của chúng tôi là đúng, chúng tôi xin nói đôi lời rằng một số thí nghiệm của chúng tôi đã chứng minh rằng ngay cả ở Turin cũng có những xoắn khuẩn của nhiễm khuẩn máu lành, tức là nhiễm khuẩn máu không gây chết; và chúng đã chứng minh thêm rằng máu của cừu và của gia súc bò sừng mắc bệnh than, máu của con sau không nhiễm than, nước thịt đang bị thối rửa, có chứa các xoắn khuẩn nhiễm khuẩn máu theo đúng nghĩa mà Pasteur lỗi lạc hiểu, đôi khi có thể không gây ra bệnh than thuần tuý, cũng không gây ra nhiễm khuẩn máu thuần tuý, cũng không gây ra cả hai bệnh kết hợp. . . . Và kết quả phủ định ấy có thể đạt được ngay cả khi máu chứa hàng triệu con xoắn khuẩn mà Pasteur lỗi lạc coi là gây nhiễm khuẩn máu, và khi chúng đang cử động rất mạnh."
Sau đó, cuốn sách nhỏ mô tả thí nghiệm của Ủy ban một cách đầy đủ nhất, cho thấy những điều kiện nhiệt độ thấp hơn v.v. hẳn đã làm chậm quá trình thối rửa, và rằng, theo chính các giáo điều của Pasteur, "chắc chắn là trong máu đã cấy vào các con vật của chúng tôi, dù đã tiêm vắc-xin hay chưa tiêm vắc-xin, không hề có xoắn khuẩn thối rửa cũng không hề có dấu hiệu nào của nhiễm khuẩn máu. Nhưng giả sử rằng đã có những xoắn khuẩn nhiễm khuẩn máu, và rằng cả chúng tôi lẫn những người có thẩm quyền khác đều không nhận ra chúng, thì theo các giáo điều mà Pasteur lỗi lạc tuyên bố năm 1876–72, điều gì lẽ ra phải xảy ra? Hoặc là một hay hai giọt nhỏ, đã trải thành lớp mỏng trên vết thương của mỗi con vật và phơi trong không khí, sẽ trở nên vô hại như một tác nhân gây nhiễm khuẩn, vì những con xoắn khuẩn, đông đặc trong dung dịch nhiễm khuẩn dưới dạng những con nòng nọc đang bơi, đã bị phá hủy và biến mất khi tiếp xúc với không khí, vì người ta nói rằng không khí dường như đốt cháy các xoắn khuẩn. Nhưng trong trường hợp này thì trực khuẩn than lẽ ra có thể phát triển dễ dàng, bởi vì, vốn hiếu khí, nó sẽ không phải vật lộn, khi tiếp xúc với không khí, với các xoắn khuẩn yếm khí. Hoặc là các xoắn khuẩn không bị phá hủy khi tiếp xúc với không khí . . . và trong trường hợp thứ hai này thì ở các con vật đã cấy chắc chắn sẽ phát triển một bệnh mà diễn trình, thời gian, các triệu chứng và các tổn thương của nó sẽ bộc lộ những đặc tính riêng của nhiễm khuẩn máu, và chỉ của nhiễm khuẩn máu. Nhưng trong trường hợp ấy thì trong xác chết phải tìm thấy các tổn thương của nhiễm khuẩn máu chứ không phải của bệnh than. . . . Ngay cả khi thừa nhận như một giả thuyết rằng máu của con cừu nhiễm than mà chúng tôi đã dùng ngày 23 tháng 3 cũng đã bị nhiễm khuẩn máu, nhưng rằng chúng tôi, vốn ngu dốt và bất tài, đã không nhận ra nó, thì nó cũng không thể gây ra, ở con vật được cấy theo cách mà chúng tôi đã mô tả, điều gì khác ngoài bệnh than thuần tuý. Kết quả này — trước các thí nghiệm mới của Roux — đã bị đối thủ lỗi lạc của chúng tôi phản đối mãnh liệt vì ông cho rằng nó không thể xảy ra, ngày nay đã được thừa nhận là có thể, bởi vì nó không còn mâu thuẫn với giáo điều mới, được cải cách cho phù hợp với kết quả của các thí nghiệm trong tháng 5 năm 1883, mà ông đã thông báo cho Viện hàn lâm Khoa học Pari."
Cuốn sách nhỏ kết thúc bằng cách chứng minh rằng các trích dẫn của Ủy ban đã được đưa ra chính xác, và rằng chính Pasteur đã cắt bỏ một số từ để sửa đổi tuyên bố ban đầu của mình. Hơn nữa, mặc dù ông đã yêu cầu Ủy ban sửa lại những lỗi trong bản dịch tiếng Pháp của Bản báo cáo tiếng Ý của họ, ông thực ra lại công bố bản dịch ấy trên tạp chí Revue Scientifique mà không hề để ý đến những sửa chữa quá nhiều của các lỗi sai, dù những sửa chữa ấy làm thay đổi hoàn toàn nghĩa của bản gốc.
Có lẽ cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi, trong lúc cuộc tranh luận Turin đang dữ dội, người con rể của Pasteur lại ghi lại rằng ông "đã mệt mỏi vì những cuộc đấu tranh liên miên và vô ích". Tuy nhiên, các giáo sư Ý lại không cho rằng thời gian của họ đã bị phí phạm. Ngược lại, họ tự tuyên bố hài lòng, "vì chúng tôi đã đạt được mục đích đề ra, là nghiên cứu và chứng minh chân lý, và bác bỏ sai lầm."
Chỉ đáng tiếc một điều: thái độ hoài nghi khoa học ấy đã phải nhường chỗ cho lòng tin đơn giản, một đức tin không hề chất vấn của nền chính thống y học hiện đại đối với gần như mọi giáo điều do những người theo Pasteur phát biểu.
Không cần óc nhìn xa mấy cũng thấy rằng, nếu cách chữa theo trường phái Pasteur có thể giành được dù chỉ là thành công hình thức, thì lợi lộc về tiền bạc sẽ rất lớn. Như vậy, Pasteur đã khai mở một thời đại sẽ chứng kiến tai hại là sự mại dâm của khoa học cho chủ nghĩa thương mại. Các viện vi trùng học để thí nghiệm trên động vật sống và để sản xuất cùng bán các loại vắc-xin và huyết thanh đã mọc lên khắp nơi trên thế giới, theo mẫu của viện được mở ở Pari năm 1888.
Odessa là một trong những nơi sớm được trang bị một viện như vậy; nhưng lịch sử việc buôn bán đầu tiên ở đây vắc-xin phòng bệnh than là một thảm họa.
Thuốc bách bệnh ấy được gửi đến Kachowka (Kakhovka), miền Nam nước Nga, nơi nó được dùng cho 4.554 con cừu, trong đó 3.696 con đã chết rất nhanh sau đó. Đợt tiêm đầu tiên được tiến hành vào tháng 8 năm 1888 bởi bác sĩ Bardach, bắt đầu từ ngày 8. Một nghìn năm trăm tám mươi hai con cừu cái được chia làm hai đàn. Đàn thứ nhất được tiêm vắc-xin trước 11 giờ sáng; trong đó một con chết trong vòng hai mươi bốn tiếng và bảy con khác chết trong vòng ba mươi sáu tiếng sau ca tiêm. Đàn thứ hai được tiêm vào buổi tối ngày 14 tháng 8. Con đầu tiên chết đã tắt thở trong đêm từ 9 sang 10 tháng 8. Tỷ lệ chết cao nhất rơi vào ngày 12 và 13. Trong số 1.582 con cừu được tiêm, 1.075 con chết vì tác động của thuốc — tức 68 phần trăm.
Một đợt thử nghiệm khác diễn ra tại một nông trại thuộc về một người tên là Spendrianow. Đàn thứ nhất gồm 1.478 con cừu một, hai và ba tuổi. Đàn còn lại gồm 1.055 con cừu, một số con lớn tuổi hơn đàn thứ nhất và một số con nhỏ tuổi hơn. Các con cừu được tiêm vắc-xin vào ngày 10 tháng 8, từ 7 đến 11 giờ sáng. Hôm sau, vào 1 giờ chiều, con đầu tiên chết; ngày tiếp theo là lúc tỷ lệ chết cao nhất, và sau đó tử vong giảm dần từ ngày 13 tháng 8. Tính chung, trong số 4.564 con vật được tiêm vắc-xin, có tới 3.696 con chết — tức 81 phần trăm.
Như vậy, thảm họa Turin đã chứng minh rằng nó không phải là một sự kiện riêng lẻ. Và để đáp lại những lợi ích mà người ta cho rằng Pasteur đã mang lại, thì những con vật bất hạnh ấy, giá như chúng có tiếng nói trong việc này, chắc chắn đã cầu nguyện xin được giải thoát khỏi một Người Bạn như thế. Hơn nữa, trong tiểu sử của mình, Vallery-Radot không nói gì về những chủ trang trại tư nhân ở Pháp và ở nơi khác mà Pasteur đã phải bồi thường vì động vật của họ bị thuốc chủng ngừa của ông giết chết. Một Ủy ban đặc biệt ở Hungary đã khuyến nghị chính phủ nước này cấm dùng thuốc; Koch và Müller ở Đức đã tuyên bố phản đối; Ban Nông nghiệp Anh đã từ chối khuyến nghị dùng nó; còn trước Ủy ban Hoàng gia về Sự sống lần cuối, những người bênh vực nó cũng chẳng làm được hơn là kết tội phiên bản "sửa đổi" hiện đại bằng những lời khen cho có.
Than ôi! Thật đáng buồn cho Pasteur và cho lời phát biểu của ông rằng "vị quan tòa duy nhất phải là lịch sử!"
Với người đàn ông hay người phụ nữ bình thường ngày nay, chỉ cần nhắc đến tên Pasteur là họ liền nghĩ ngay đến một căn bệnh ghê sợ: bệnh dại, còn gọi là nỗi sợ nước. Vì đối với rất nhiều người, dù chỉ có quan niệm mơ hồ nhất về mối liên hệ của ông với quá trình lên men, với nạn sâu tơ và với tiêm chủng phòng bệnh than, thì danh tiếng của ông vẫn được viết trên bia danh vọng như của vị cứu nhân loại khỏi tai họa do chó dại gây ra!
Đáng tiếc là từ thời Pasteur đến nay, chủ đề này lại gây ra quá nhiều hốt hoảng, bởi vì bệnh dại là một chứng bệnh của thần kinh, và vì thế, yếu tố hàng đầu của nó chính là nỗi sợ. Người ta đã ghi nhận nhiều trường hợp bị bệnh rõ ràng do ám thị gây ra. Chẳng hạn, hai thanh niên người Pháp bị cùng một con chó cắn tại Le Havre vào tháng 1 năm 1853. Một người chết vì hậu quả trong vòng một tháng, nhưng trước đó, người thanh niên kia đã vượt biển sang châu Mỹ, nơi anh ta sống suốt mười lăm năm hoàn toàn không biết số phận của người bạn cũ. Đến tháng 9 năm 1866, anh ta trở về Pháp, nghe biết chuyện bi thảm ấy, và quả nhiên bản thân anh ta lúc bấy giờ đã phát bệnh, rồi chết vì bệnh dại trong vòng ba tuần lễ! Lại có một bệnh nhân, sau khi được báo cho biết rằng triệu chứng đúng của bệnh dại ở người là đánh đấm bằng nắm tay, đã dọa sẽ cắn người chăm sóc y tế của mình, rồi đấm loạn xạ xung quanh như một võ sĩ quyền Anh, và cứ thế cho đến lúc chết trong những cơn phát bệnh hoàn toàn mới lạ này.
Vì vậy, tránh khỏi nỗi sợ là điều cốt yếu hàng đầu để an toàn sau khi bị chó cắn, và mức độ rủi ro thấp đến mức nào thì có thể thấy qua hàng nghìn vết cắn vô hại mà các bác sĩ thú y và những người vốn thường xuyên tiếp xúc với động vật đã nhận lấy. Đôi khi cũng có thể có một nạn nhân bị một vết cắn, cũng như người ta đã biết có trường hợp chết sau những vết kim đâm hay những vết ong kiến đốt, trong khi những vết xước và vết thương đôi khi gây ra uốn ván, một chứng bệnh mà bệnh dại dường như chỉ là một dạng của nó.
Theo lời làm chứng của Sir Victor Horsley trước Ủy ban của Thượng viện về Bệnh dại, khả năng mắc bệnh dại sau khi bị chó cắn mà không được điều trị gì đã được tính toán khác nhau, từ 5 đến 15 phần trăm. Một nhà chuyên môn người Pháp tên là Bouley cho rằng trong 100 người bị động vật dại cắn và hoàn toàn không được điều trị cách nào, thì không quá 5 người sẽ có các triệu chứng bệnh dại.
Như vậy, may mắn thay, nạn nhân của một con chó bị cho là dại có cơ hội rất tốt để thoát khỏi mọi rắc rối. Trước hết, cần nhớ rằng người ta còn hoài nghi nhiều về việc có một bệnh đặc hiệu nào gọi là bệnh dại hay không, và một "con chó dại", theo nghĩa thông thường, có lẽ phải được xếp vào cùng một loại với "mụ phù thủy" thời Trung cổ! Đời sống bỏ bê của những con chó lang thang phương Đông cũng đủ để giải thích tại sao nhiều con cuối cùng cùng kiệt vì những cơn phát bệnh và các triệu chứng khác mang tên bệnh dại; mà khi ta nghĩ đến cảnh sống bị xích của biết bao con chó ở châu Âu, điều đáng lạ duy nhất là không có nhiều con hơn phát điên. Có thể nói chắc chắn rằng một đời sống lành mạnh, vui vẻ là biện pháp bảo vệ tốt nhất chống lại chứng bệnh này. Một con vật ở trong trạng thái man rợ hay sùi bọt mép không hề là dấu hiệu thực sự của bệnh dại. Chẳng hạn, trong cuốn "Hệ thống Phẫu thuật" của T. Holmes và J. W. Hulke, ta đọc thấy: "Có thể đánh giá mức độ hay mắc lỗi trong chẩn đoán bệnh dại ở chó qua lời khai của Faber, người cho rằng trong số 892 con chó được đưa vào Viện Thú y Vienna vì bị nghi mắc bệnh dại, chỉ có một số rất ít trong đó thực sự mắc bệnh." Trong một đợt hoảng loạn ở nước Anh, theo tờ Field ngày 10 tháng 4 năm 1919, ông Robert Vicary, một chủ trại chó nổi tiếng, tin rằng "nhiều trong số các chuyên gia được mời đến chẩn đoán những trường hợp bị cho là bệnh dại đã báo cáo hoàn toàn sai". Có vẻ như nhiều con vật chỉ đang chịu đựng nạn thiếu thức ăn do điều kiện thời chiến: vì người ta đã biết rằng cho ăn sai cách có thể gây ra những triệu chứng giống như bệnh dại, như đã thấy trong đợt hoảng loạn xảy ra ở Klendyke, mà Arnold F. George đã kể lại trên tạp chí Journal of Zoophily.
Rõ ràng là người ta tỏ ra sợ hãi nhiều hơn là thông minh trong vấn đề bệnh dại, nhất là khi các con vật bị nghi mắc bệnh gần như luôn luôn bị giết chết ngay lập tức, thay vì được giữ sống để quan sát kỹ lưỡng. Hơn nữa, một khi chúng đã chết thì chứng bệnh không còn thể truy ra được bằng khám nghiệm tử thi. Phép thử được áp dụng là phép do Pasteur đưa ra, và đây cũng là lúc ông bắt đầu công việc của mình về chủ đề này.
Năm 1860, hai con chó dại được đưa đến cho ông nghiên cứu bởi M. Bourrel, một bác sĩ thú y quân đội. Bắt đầu từ đó là loạt quan sát, phần lớn rất tàn nhẫn, đã dẫn đến lời tuyên bố đầy tự hào trước Viện hàn lâm Khoa học Pari về một phương pháp mà, theo Pasteur, sẽ vô cùng chắc chắn ngăn không cho bệnh dại phát triển ở những người đã lỡ bị động vật dại cắn.
Ngày của bản Thông báo ấy, 26 tháng 10 năm 1885, được chủ tọa M. Bouley ca ngợi là đã làm cho ngày ấy "trở thành đáng nhớ trong lịch sử y học và vẻ vang cho nền khoa học Pháp". Ngày ấy cũng đáng nhớ vì sự khai sinh của một chế độ bất dung, trái ngược hoàn toàn với mọi thứ vốn là khoa học, và chế độ ấy không may vẫn tiếp tục cho đến tận sự sùng bái các giáo điều Pasteur. Vào ngày sự kiện trọng đại ấy, nó đã tiến đến mức từ chối không nghe một lời nào từ M. Jules Guérin, bác sĩ Colin và những người khác, là những kẻ dám đánh liều chỉ trích các kết luận của M. Pasteur. Người vĩ đại đã phát biểu. Ông đã dám tuyên bố rằng mình không thể sai: "Tôi tuyên bố phương pháp của tôi là hoàn hảo." Kẻ khác hoặc phải ca ngợi, hoặc phải im lặng.
Thế mà có biết bao điều đáng chỉ trích! Bản thân phép thử cấy để chứng minh sự điên rồ là hoàn toàn không chắc chắn. Phép thử mà Pasteur đưa ra là lấy một ít chất — nước bọt, máu, một phần não hoặc tuỷ sống, thường là dịch não tuỷ — từ con vật bị nghi, rồi tiêm vào một con thỏ sống. Chẳng cần đến lời giải thích sáng ngời của Béchamp, chỉ bằng lương tri thông thường cũng thấy rằng chất lấy từ sinh vật này đưa vào sinh vật khác rất dễ gây hại; mà Vulpian, một bác sĩ và nhà sinh lý học người Pháp, vốn là người ủng hộ Pasteur, bản thân đã thấy rằng nước bọt của những người khỏe mạnh giết thỏ nhanh chẳng kém nước bọt của một đứa trẻ chết vì bệnh dại. Tình trạng của một con thỏ sau khi bị cấy chẳng chứng minh điều gì ngoài sức đề kháng mạnh hay yếu của nó; thế nhưng chỗ tê liệt hai chân sau của một con thỏ lại được coi là phép thử bệnh dại ở con chó mà nó đã nhận chất tiêm từ đó. Đúng là ngày nay người ta nói chó dại có các thể Negri trong các tế bào thần kinh hoặc trong các nhánh của chúng, và các thể này được coi không phải là tác nhân gây bệnh mà chỉ là tác nhân chẩn đoán; nhưng xét đến những mâu thuẫn và sai lầm trong nhận thức về vi khuẩn và bệnh tật, ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi về một chẩn đoán dựa trên các thể Negri ấy, nhất là vì dường như vẫn chưa ai chứng minh được rằng chúng luôn vắng mặt trong các bệnh khác.
Thế là hết phần phép thử. Giờ đến phần phòng bệnh — Pasteur đã thay đổi thuốc của mình từ đầu như thế nào! Năm 1884, tại một Đại hội Y học ở Copenhagen, ông tuyên bố rằng bằng cách làm yếu virus lấy từ những con chó (bị cho là dại) qua đường truyền qua khỉ, rồi lại làm cho nó mạnh trở lại qua thỏ, ông đã thu được một thứ phòng hộ cho chó, và nó sẽ xoá sạch bệnh dại khỏi thế giới. Xét rằng lúc bấy giờ cũng như bây giờ, người ta không hề biết nguyên nhân của bệnh dại, nếu coi nó là một chứng bệnh đặc hiệu như Pasteur cho là vậy, thì một lời khoe khoang như thế quả thực sặc mùi "thuốc bách bệnh" của bọn lang băm. Bản thân Pasteur đã phải thừa nhận rằng ông đã không thành công trong việc làm cho "miễn dịch" được hơn mười lăm hay mười sáu con trong hai mươi con chó. Sau đó, ông bỏ con khỉ làm vật trung gian truyền bệnh, dù ban đầu ông chọn nó, như ông nói, vì nó giống người về hình thể. Trong một cuốn sách nhỏ "Bệnh dại và Pasteur" của Vincent Richards, F.R.C.S., tác giả đã đặt một câu hỏi rất đúng chỗ: "Kết quả là trong hai mươi con chó được Pasteur cấy, mười lăm hay mười sáu con không hề bị sao — điều đó có phần nào chứng minh được rằng phương pháp ông ta áp dụng là có tác dụng phòng hộ không?"
Ngày 26 tháng 10 năm 1885, Pasteur mô tả phương pháp điều trị sau này của mình, là lấy tuỷ sống của những con thỏ đã được tiêm virus, giữ chúng trong các khoảng thời gian khác nhau, rồi giã nát mỗi cái với gấp đôi trọng lượng nó nước hầm vô trùng; cuối cùng, bắt đầu từ mẻ yếu nhất, tiêm cho bệnh nhân liên tiếp mười ngày. Hơn nữa, ông đắc thù chỉ vào một ca thành công, ca của Joseph Meister, một cậu bé người Alsace chín tuổi, bị một con chó cắn rất nặng vào ngày 4 tháng 7 năm 1885, và được đưa đến Pasteur hai ngày sau đó.
Đây là ca then chốt mà nhà người Pháp lừng danh đã dùng để đặt nền cho tuyên bố thành công của mình, nên ta hãy xem xét nó.
Trong những vết cắn nặng nhất mà cậu bé nhận được, đã có những vết được đốt cùng ngày bằng a-xít cacbolic. Đúng 8 giờ tối ngày 6 tháng 7, Pasteur, bằng một ống tiêm Pravaz, đã cấy vào cậu bé vài giọt nước hầm tuỷ sống của ông, lấy từ những con thỏ chết vì chứng liệt do tiêm chất ấy vào não của những con vật nhỏ bé ấy. Ca tiêm thực tế có lẽ do bác sĩ Grancher tiến hành, ông có mặt trong dịp này. Trong mười ngày liên tiếp sau đó, Joseph Meister được tiêm đều đặn, nhận tất cả khoảng mười hai lần liều tuỷ sống.
Giờ thì, khi xét ca này, ta phải hỏi Pasteur có bằng chứng gì về chứng điên của con chó và về khả năng bệnh dại sẽ phát ra ở nạn nhân?
Tình trạng dại của con vật chỉ được suy ra từ sự man rợ của nó và từ việc khám nghiệm tử thi phát hiện "cỏ khô, rơm và những mảnh gỗ" trong dạ dày! Sự hiện diện của những thứ sau cùng có vẻ cho thấy con chó đã đói cồn cào, có lẽ đang chết dói, một tình trạng tự nó đã đủ giải thích hành vi man rợ của nó. Còn về cậu bé, số lượng và mức độ nghiêm trọng của khoảng bảy mươi vết cắn mà cậu nhận được đã khiến các bác sĩ Vulpian và Grancher, được mời đến, quyết định rằng cậu hầu như chắc chắn sẽ mắc bệnh dại. Tại sao? Như ta đã thấy, không hề có bằng chứng thực sự nào về bệnh dại ở con chó đã tấn công cậu. Nhưng, giả sử để cho có luận cứ, rằng con vật đúng là dại, thì cũng phải nhớ rằng các vết thương đã được đốt. Dù ý kiến khác nhau về cách đốt vết thương, nhiều nhà chuyên môn dường như rất ủng hộ, và có thể kể đến việc Youatt đốt vết thương cho trên bốn trăm người, trong đó có cả việc áp dụng cách này năm lần cho chính bản thân mình, mà không một trường hợp nào phát bệnh dại. Bác sĩ Cunningham ở Chicago, được ghi nhận là hàng năm đốt vết thương cho 120 người, cho tỷ lệ tử vong trung bình khoảng ba người. Bản thân Pasteur đã từng viết cho một bác sĩ gần Pari như sau: "Thưa ông, — Những lần đốt vết thương mà ông đã tiến hành đáng lẽ phải làm ông hoàn toàn yên tâm về hậu quả của vết cắn. Đừng thử cách điều trị nào khác: nó vô ích — L. Pasteur."
Ngoài việc đốt vết thương, khả năng phát bệnh dại ở một người bị một con chó được cho là dại thật cắn thì, như ta đã thấy, là rất nhỏ; và hơn nữa, vì thời gian ủ bệnh đã được biết có thể kéo dài đến mười hai tháng, thường đến hai năm hoặc hơn, thì rõ ràng mối nguy hiểm đối với Joseph Meister chưa chấm dứt khi, chỉ sau hơn ba tháng, Pasteur đã dám tuyên bố cậu là một cái giương được vớt ra khỏi đám cháy, theo nghĩa của nó, nhờ liều tuỷ sống của mình. Cuối cùng, những người khác, trong đó có cả chủ của con chó, Max Vone, bị cùng một con chó cắn trong cùng một ngày như Meister, mà không hề bị đốt vết thương cũng không được Pasteur điều trị, vẫn tiếp tục sống khoẻ. Như vậy, ca thành công đầu tiên vốn được tán tụng hết lời ấy, nếu xem xét cẩn thận, chẳng có gì đáng nói hơn là: Joseph Meister, theo những gì biết được về cuộc đời cậu, dường như không khá hơn cũng không dở hơn nhờ cách điều trị của Pasteur so với vài người khác đã không chữa.
Nhưng không phải tất cả đều may mắn như cậu bé người Alsace. Một đứa trẻ khác, Mathieu Vidau, được Pasteur cấy và được cho là đã chữa khỏi, thì chết bảy tháng sau khi điều trị. Để biện minh cho cái chết của một đứa trẻ nữa tên là Louise Pelletier, người ta quy lỗi cho việc các vết cắn ở đầu và cho việc quá nhiều thời gian đã trôi qua giữa lúc bị cắn và lúc tiêm; thế nhưng Pasteur đã tuyên bố rằng cách điều trị của ông sẽ thành công nếu bắt đầu vào bất cứ lúc nào trước khi bệnh dại phát, dù sau một năm hoặc hơn. Những mâu thuẫn dường như được coi là chẳng đáng kể khi cần dùng làm cớ, đến mức một người Mỹ, bác sĩ Dulles ở Philadelphia, phải nói rằng nếu đặt các tuyên bố của Pasteur cạnh nhau thì việc chấp nhận gần như một tuyên bố bất kỳ đòi phải xoá bỏ tất cả các tuyên bố kia!
Cố bác sĩ Charles Bell Taylor, trên tạp chí National Review số tháng 7 năm 1890, đã đưa ra một danh sách các trường hợp bệnh nhân của Pasteur chết, trong khi những con chó đã cắn họ thì vẫn sống khoẻ.
Một thất bại đáng chú ý là của một người phát thư người Pháp tên Pierre Rascol, người cùng một lúc với một người khác bị một con chó được cho là dại tấn công, nhưng lại không bị cắn, vì răng con chó không xuyên qua được quần áo của anh ta; còn người bạn đồng hành thì nhận những vết cắn nặng. Người sau từ chối đến Viện Pasteur, và vẫn sống hoàn toàn khoẻ mạnh; nhưng anh Rascol đáng thương thì bị giới chức bưu điện buộc phải điều trị, và anh đã điều trị từ ngày 9 đến ngày 19 tháng 3. Đến ngày 14 tháng 4 sau đó, các triệu chứng nặng bắt đầu, với cơn đau ở những chỗ đã tiêm — chứ không phải ở vết cắn, vì lẽ anh chưa từng bị cắn. Ngày 18 tháng 4, anh chết vì bệnh dại liệt, căn bệnh mới do Pasteur đem vào đời. Chẳng lạ gì mà giáo sư Michel Peter đã than phiền: "Ông Pasteur không chữa bệnh dại: ông ta gây ra bệnh dại!"
Quả thực có thể thừa nhận rằng Pasteur chưa từng tuyên bố mình có thuốc chữa. Cái ông đảm nhận là ngăn không cho một thứ độc tố phát triển, thứ mà ông so sánh với một chuyến tàu chậm, nếu trong cơ thể người bị chuyến tàu nhanh phòng vệ của ông đuổi kịp, tức là virus đã được cấy.
Ngay trong thời ông, đã có nhiều kẻ không tin vào phương pháp của ông. Với những người ấy, trên tờ Lancet Luân Đôn số ra ngày 14 tháng 5 năm 1886, bác sĩ G. H. Brandt — rõ ràng là một tín đồ thành tâm của lời nói và việc làm của nhà hoá học danh tiếng người Pháp — đã truyền đạt lời khuyên sau: "Với những kẻ không tin, ông Pasteur nói: Hãy đợi! Thời gian sẽ phơi bày nhiều điều liên quan đến vấn đề này, và chỉ bằng kinh nghiệm liên tục cùng quan sát thường xuyên, tiến hành trong một thời gian đáng kể trên hàng trăm ca bệnh, chúng ta mới có thể đi đến những kết quả chắc chắn và dứt khoát."
Nhiều năm đã trôi qua kể từ khi những lời ấy được viết ra, và nay ta thấy mình đang ở vị thế có thể nghiên cứu kinh nghiệm và các quan sát mà những người chỉ trích ban đầu đã được bảo là hãy kiên nhẫn.
Lời tuyên bố thành công của Pasteur dựa trên khẳng định rằng ông đã làm giảm tỷ lệ tử vong vì bệnh dại từ 16 phần trăm xuống 1 phần trăm. Nhưng cố Thiếu tá Tillard đã chỉ ra, trong một cuốn sách nhỏ tên "Pasteur và Bệnh dại", rằng lý thuyết 16 phần trăm tỷ lệ tử vong trước khi Pasteur đưa vào cái phòng ngừa được cho là của mình hẳn phải sai lầm đến mức buồn cười. Vì số người chết trung bình hằng năm ở Pháp trước đó không quá 30, thì số người bị cắn, theo cách tính 16 phần trăm, nói theo Tillard, lẽ ra phải ít hơn 200; nhưng ngược lại, Pasteur đã có 1.978 bệnh nhân trong năm 1887, nghĩa là, theo cách tính này, thì trên 240 người trong số họ lẽ ra đã chết nếu họ không đến với ông. Điều này chẳng qua là một sự vô lý, xét các sự kiện, vì tổng số tử vong cao nhất từng được ghi nhận trong bất cứ năm nào cũng chỉ là 66!
Hơn nữa, nếu ta rời Pháp sang các nước khác, ta thấy chẳng hạn ở Zurich, trong số 293 người bị động vật dại cắn trong một khoảng 42 năm, "chỉ có bốn người chết, hai trong số đó bị cắn ở những chỗ không thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa". Lại nữa, "Wendt ở Breslau đã điều trị 700 người bị động vật dại cắn. Trong số đó, hai người chết." Một lần nữa, trong một đợt dịch bệnh dại ở Stockholm, 196 người bị cắn đã đến Bệnh viện Hoàng gia Stockholm, và chỉ một người trong số đó mắc bệnh dại. Còn có thể kể thêm nhiều trường hợp khác, chẳng hạn như cách chữa bằng thuốc súng từng được dùng ở đảo Hayti, nơi tuy vết cắn chó rất phổ biến nhưng bệnh dại hầu như không ai biết.
Những kết quả của các cách điều trị tiền Pasteur ấy vượt xa những lời tuyên bố hay nhất của Pasteur, và làm sụp đổ lời nói về mức giảm từ 16 phần trăm xuống 1 phần trăm. Dù cho lời tuyên bố sau có đúng đi nữa, thì nó cũng chỉ đạt được bằng cách nhân lên số ca bệnh lên gấp nhiều lần — một trò khéo tay trong thống kê, và như bác sĩ Boucher ở Pari đã chỉ ra, nó không ngăn được việc số người chết vì bệnh dại tăng lên dù tỷ lệ phần trăm giảm xuống! Về sự tăng lên đó, các sự kiện nói lên một cách quá đau đớn. Trước cách điều trị của Pasteur, số người chết trung bình hằng năm vì bệnh dại ở Pháp là 30; sau cách điều trị của ông, con số trung bình hằng năm tăng lên thành 45. Cố giáo sư Carlo Ruata cho biết tỷ lệ tử vong trung bình hằng năm vì bệnh dại ở Ý trước cách Pasteur là 65, và than phiền về việc nó tăng lên thành 85 sau khi lắp đặt chín viện phòng bệnh dại. Vì vậy ta chẳng lạ gì về lời phê phán mà ông đăng trên tờ Carriere della Sera: "Những 'ca chữa khỏi' nhiều đến thế được khoe khoang tại chín cơ sở phòng bệnh dại của chúng tôi [ở Ý] là những ca chữa khỏi của những người bị cắn mà bệnh dại sẽ không bao giờ phát ra ở họ, dù họ có chịu các lần tiêm phòng bệnh dại hay không; còn số ít các thất bại thì đúng bằng số những người đã bị bệnh dại chiếm lấy, và vì thế chết sau lần tiêm, như họ vốn sẽ chết nếu không tiêm. Đây là nhận xét nhẹ nhất có thể đưa ra về công trình của chín cơ sở phòng bệnh dại của chúng tôi, dù ta không phải là vô lý khi hỏi liệu một số người đã tiêm không bị chính các lần tiêm giết chết."
Như một bình luận về điều này, ta có thể thêm rằng Hội Quốc gia chống Thí nghiệm trên Động vật đã thu thập được một danh sách 1.220 ca chết sau cách điều trị Pasteur trong khoảng từ 1885 đến 1901, và rằng Liên hiệp Anh vì Xoá bỏ Thí nghiệm trên Động vật đang lập một danh sách khác, đã lên đến gần 2.000, và rằng mỗi ca chết sau điều trị trong các danh sách ấy đều được lấy từ các báo cáo chính thức của các Viện Pasteur.
Về những báo cáo thống kê của các viện ấy, xin trích lời tóm tắt của bác sĩ George Wilson trong Bản ghi nhớ Bảo lưu của Uỷ ban Hoàng gia về Thí nghiệm trên Sự sống: "Pasteur đã sàng lọc các số liệu thống kê của mình, sau một vài ca chết đáng tiếc xảy ra trong hoặc ngay sau quá trình điều trị, bằng cách quy định rằng mọi ca chết xảy ra trong thời gian điều trị hoặc trong vòng mười lăm ngày sau lần tiêm cuối cùng đều phải loại khỏi báo cáo thống kê. . . . Chính theo quy tắc phi thường nhất này mà tỷ lệ phần trăm tử vong ở tất cả các Viện Pasteur được tính ra một con số rất thấp. Như vậy, trong Báo cáo về Viện Kasauli năm 1910, Đại tá Harvey bắt đầu nhận xét về số liệu thống kê của năm như sau: 'Năm nay, 2.073 người, bị cắn hoặc bị liếm bởi động vật dại hoặc bị nghi dại, đã được điều trị' — cho một tỷ lệ thất bại là 0,19 phần trăm. Tỷ lệ phần trăm này, Đại tá Harvey giải thích bằng những lời sau: 'Có hai mươi sáu ca chết vì bệnh dại. Trong số đó, mười bốn người chết trong thời gian điều trị, tám người trong vòng mười lăm ngày sau khi kết thúc điều trị, và bốn người sau mười lăm ngày kể từ khi kết thúc điều trị. Chỉ bốn ca cuối cùng được tính là thất bại của cách điều trị, theo định nghĩa thông thường của một Thất bại, và chính con số này là căn cứ để tính tỷ lệ thất bại.'"
Sự sàng lọc thống kê này ngăn không cho cái chết của cố Quốc vương Alexander xứ Hy Lạp được đưa vào danh sách các thất bại của trường phái Pasteur. Thông báo được đưa ra, sau khi một con khỉ cắn Quốc vương, là đã cho mời lời khuyên chuyên môn từ Pari. Nếu Quốc vương sống, chắc chắn một khúc ca chiến thắng đã được tung ra để công bố rằng ông được cứu nhờ các phương pháp Pasteur. Nhưng vì Quốc vương, không may, lại càng ngày càng nặng, nên ít nhiều người ta giữ một sự im lặng khôn ngoan về cách điều trị của ông, mà sự thật về nó ta được biết qua một bức điện gửi đến Đại sứ quán Hy Lạp ở Luân Đôn và được tờ Daily Mail đăng lại: "Athens, thứ Bảy. Quốc vương qua một đêm hiểm nghèo. Sốt lên tới 105,6 độ Fahrenheit, có cơn rét run dữ dội đi trước và cơn mê sảng kéo dài một tiếng rưỡi đi kèm. Sáng nay Người lại được tiêm một lần nữa. Tim đã yếu đi. Hơi thở bất đều." Vì Quốc vương đã chết trong quá trình điều trị, nên ta không những phải đổ lỗi cho con khỉ chứ không phải cho lần tiêm chủng, mà còn không được tính lần tiêm ấy là một thất bại của cách điều trị Pasteur.
Một trường hợp khác, gần đây hơn, không thể bị loại khỏi loại này. Tờ Daily Mail ngày 19 tháng 1 năm 1921 đưa tin: "Một trường hợp bệnh dại hiếm thấy đã được phơi bày ở Pari hôm qua, khi bà Gisseler, một phụ nữ Hà Lan, chết vì đã bị một con chó dại cắn cách đây tám tháng. Sau khi bị cắn, bà Gisseler lập tức được điều trị tại Viện Pasteur, và nhận tất cả hai mươi lăm mũi tiêm huyết thanh." Rồi lời biện minh theo sau rằng "những trường hợp chết sau điều trị như thế là cực kỳ hiếm"; lời thông báo này mất hết giá trị khi ta xét đến bao nhiêu ca chết, như ca của cố Quốc vương Hy Lạp, bị loại khỏi bảng thất bại chỉ vì một giới hạn thời gian tuỳ tiện.
Ngoài những "sự cố" được gọi như thế của cách điều trị, và ngoài những ca chết sau điều trị, dù vì nguyên nhân gì, một lập luận nữa chống lại phương pháp của Pasteur là việc nó đưa vào một căn bệnh mới: bệnh dại liệt, hoàn toàn khác với nhiều dạng bệnh dại giả. Rằng chứng bệnh này thường bị quy cho các nguyên nhân khác một cách sai lầm — "giang mai, nghiện rượu, hay cả cúm" — và trong những trường hợp khác bị cho qua một cách lờ mờ, điều đó được tiết lộ trong một bản báo cáo tên "Liệt do Điều trị Phòng Bệnh dại", của bác sĩ P. Remlinger, Giám đốc Viện Pasteur Ma-rốc, trình tại Hội nghị Quốc tế về Bệnh dại họp tại Viện Pasteur, Pari, từ ngày 24 đến 28 tháng 4 năm 1929.
"Chúng tôi đã chú ý", ông viết (tr. 70), "đến sự chênh lệch giữa số các quan sát được công bố bởi các giám đốc viện và số các trường hợp mà chính họ thừa nhận bằng lời nói là đã xảy ra. Những sự việc như thế thường được giữ kín, như thể chúng là một vết nhơ trên phương pháp Pasteur hay trên vị bác sĩ đã áp dụng nó. Chính sách như thế đối với chúng tôi có vẻ vụng về và trái ngược với khoa học." Và một lần nữa (tr. 85): "Chúng tôi đã đi đến kết luận là một số viện che giấu các trường hợp của họ. Trong nhiều dịp, chúng tôi đã tìm thấy trong y văn các quan sát về liệt do điều trị, và sau đó chúng tôi không tìm thấy trong báo cáo và thống kê của các viện liên quan bất cứ một đề cập nào đến những trường hợp bất hạnh ấy."
Ngay từ ngày 1 tháng 1 năm 1920, các số liệu thống kê của trường phái Pasteur đã bị phê phán trên tờ The Times bởi một nhà thống kê học có uy tín không kém ai là giáo sư Karl Pearson, mà mọi người biết đến với tư cách Giáo sư di truyền học Galton và Giám đốc Phòng thí nghiệm Di truyền học Quốc gia tại Đại học Luân Đôn. Đặt câu hỏi về lời khoe khoang rằng Pasteur đã "chinh phục bệnh dại", ông viết:
"Các dữ liệu thống kê đầy đủ về cách điều trị Pasteur, cả ở châu Âu lẫn ở châu Á, hiện không có. Những dữ liệu được công bố không cho phép đưa ra bất cứ nhận xét thống kê thận trọng nào. Nếu Chính phủ Ấn Độ có thông tin về điểm này, thì tại sao lại giữ lại? Nếu không có, thì tại sao không thu thập và công bố nó? Có nguyên nhân gì để bất mãn về kết quả thu được không, và đã có thay đổi nào được đưa ra trong cách điều trị dựa trên sự bất mãn ấy, hay vì bất cứ lý do nào khác không? Đó là những câu hỏi mà nên đòi hỏi trả lời tại Hạ viện. Không chính phủ nào đáng trách vì theo một con đường do các cố vấn khoa học của mình khuyến nghị. Nhưng nếu nó không cung cấp những tài liệu chắc chắn nó phải có để phán xét thành công hay thất bại của các cố gắng của mình, thì nó không chỉ phạm tội với khoa học và với loài người, mà còn với cả thế giới động vật. Trong tình trạng hiểu biết hiện nay của chúng tôi, tôi đánh liều khẳng định rằng không phải là khôn ngoan khi nói về 'sự chinh phục bệnh dại.' Xin kính chào. KARL PEARSON. University College, W.C.1."
Đó là lời bình chuyên môn về thống kê mà, sau bao năm tháng dài, đã trả lời lời Pasteur đòi hỏi phải chờ xét xử của thời gian và của kinh nghiệm.
Ngay cả những thông tin có thể thu thập được từ các Viện Pasteur cũng khó lòng khích lệ những kẻ tin vào cách điều trị của Pasteur. Chẳng hạn, nếu ta xem các báo cáo của Viện Pasteur ở Kasauli thuộc Ấn Độ, ta thấy con số tử vong vì bệnh dại tăng vọt từ mười người năm 1900 lên bảy mươi hai người năm 1915. Để đối lại với điều đó, ta khó lòng có thể chỉ ra sự tăng tương ứng của số ca bệnh, bởi vì quá nhiều trong số các ca ấy không thể coi là thật; điều đó được Báo cáo Hằng năm lần thứ Mười sáu thú nhận thẳng thắn là nhiều người châu Âu đã hoàn toàn không chịu bất cứ rủi ro nào. Ta hoàn toàn có thể tin điều này nếu nhớ lại ví dụ về Lãnh chúa và Phu nhân Minto, những người đã chịu cả một đợt tiêm chủng chỉ vì con chó cưng của họ bị một con chó khác, được cho là dại, cắn! Một tỷ lệ lớn người Ấn Độ cũng không thể gặp rủi ro nào, ngoài rủi ro từ cách điều trị, vì các bệnh nhân, theo cách chính báo cáo tự trình bày, không phải tất cả đều bị cắn, mà nhiều người chỉ bị "cào", hoặc bị "liếm", và không phải tất cả đều bị động vật dại, mà nhiều người chỉ bị những con vật "bị nghi". Hơn nữa, những con vật ấy lại gồm cả người, bò, bê, lợn, hươu, lừa, voi, và gần như mọi loài đã biết! Giữa các năm 1912 và 1916, có 114 bệnh nhân bị ngựa cắn và tám mươi người là nạn nhân của những vết cắn của con người: Như vậy, ta thấy rằng trong một số đáng kể các "ca chữa khỏi" gọi như thế, thì không hề có chuyện các bệnh nhân đã từng chịu bất cứ rủi ro nào thực sự từ những vết cắn của chó dại.
Trong một đoạn ghi chú đáng chú ý, chính Báo cáo Hằng năm lần thứ Mười sáu ấy khuyến nghị "dùng atropine trong những trường hợp đã phát các triệu chứng bệnh dại". Nó còn viết: "Việc dùng thuốc này được đề nghị với chúng tôi bởi Đại tá F. Norman White, I.M.S., mà chúng tôi xin ghi lòng cảm ơn. Tác dụng của nó là làm dịch co thắt họng, và nếu được dùng đều đặn theo những khoảng thời gian thích hợp, thì triệu chứng đau đớn này có thể được xoá bỏ hoàn toàn, kết quả là bệnh nhân có thể ăn và uống. Ngoài tác dụng nhân từ ấy, thì bao giờ cũng có ở đằng sau niềm hy vọng rằng trong một số trường hợp, co thắt họng — vốn là nguyên nhân trực tiếp gây chết — có thể bị kiềm chế cho đến khi giai đoạn hồi phụ bắt đầu. . . . Rõ ràng những trường hợp đầy hy vọng nhất sẽ là những trường hợp không điều trị, trong đó thời gian ủ bệnh tự nhiên là một thời gian dài. . . ."
Vậy là chính những người theo trường phái Pasteur cũng thừa nhận một cách chữa trị có thể không dính dáng gì đến Pasteur, và theo chính lời thừa nhận của họ, cách ấy có khả năng lớn là sẽ có lợi hơn nếu không thêm cách điều trị của ông vào.
Nói đến chuyện ấy thì bệnh dại chưa bao giờ là một chứng bệnh không có thuốc chữa, kể cả sau khi các cơn phát bệnh đã bắt đầu. Pilocarpine, một thuốc gây ra mồ hôi nhiều, đã được biết là chữa khỏi các ca bệnh; còn theo một nguyên lý tương tự, bác sĩ Buisson ở Paris, tác giả cuốn "Bệnh dại: các biện pháp phòng ngừa và chữa trị", đã tự chữa khỏi cho mình một cơn phát bệnh bằng cách tắm hơi, và đã khai sinh một hệ thống điều trị lấy tên ông, và hệ thống ấy đã thành công đến mức cao nhất. (Người ta thấy rằng 1/1000 gam muối sunfat, tiêm dưới da bốn tiếng một lần, thường là đủ để xoá bỏ co thắt.)
Ít nhất thì cũng thật đáng chú ý là những biện pháp chữa trị chắc chắn lại bị bỏ qua và gạt sang một bên, để nhường chỗ cho một thứ phòng ngừa không thể đưa ra được một bằng chứng hữu hình nào về việc nó đã từng cứu sống một ai, trong khi, ngược lại, như ta đã thấy, lại có bằng chứng không thể chối cãi là nó đã gây ra một chứng bệnh mới: bệnh dại liệt. Và với một hành vi như thế, ắt phải có một lời giải thích, và có lẽ tờ báo Ấn Độ The Pioneer, số ngày 17 tháng 3 năm 1919, đã vô tình cung cấp nó:
"Viện Nghiên cứu Trung ương ở Kasauli đã đưa sản xuất vắc-xin của mình lên một mức độ gần như không thể tin được. Con số trung bình hằng năm trước chiến tranh là 15.500 phân khối centimet; trong chiến tranh, con số ấy tăng lên tới trên 94 triệu phân khối centimet, và bao gồm vắc-xin phòng thương hàn, tả, viêm phổi và cúm. Chỉ riêng về mặt tiền bạc, giá trị các vắc-xin Kasauli trong thời kỳ chiến tranh là khoảng nửa triệu bảng Anh." Các lần tiêm phòng bệnh dại của Pasteur là một bộ phận của một hệ thống kiếm tiền khổng lồ, trong đó những kẻ hưởng lợi không hề muốn một khoản mục nào bị mất giá. Các con số báo cáo của Kasauli chỉ là một phần của lợi nhuận tiền tệ thu về ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ; cách đây ít năm, giáo sư Ray Lankester đã cho chúng tôi biết rằng Viện Lister ở Luân Đôn kiếm được 15.800 bảng Anh một năm nhờ bán vắc-xin và huyết thanh — một con số mà có lẽ đã tăng lên rất nhiều. Như vậy, ta thấy khoa học bị chủ nghĩa thương mại chi phối. Nếu không vì lợi lộc về tiền bạc, thì hầu như không còn nghi ngờ gì rằng những hỗn hợp nước tuỷ sống ấy đã bị đày đi từ lâu — [bản quét mất một đoạn ở đây] — của con chó đã cắn bạn"! Ngay từ những ghi chép xa xưa nhất của lịch sử, cơn cuồng phổ biến dường như luôn là cơn cuồng về "tính ghê rợn" trong các phương thuốc; nhưng ngay cả cái nồi của các mụ phù thủy cũng chưa từng vượt qua được những bài thuốc độc hại mà Pasteur đã khai sinh, trong cái mà quả thực đã chứng minh là "một kỷ nguyên mới của y học". Đó là kỷ nguyên của việc tiêm vào máu chất của các mức độ độc hại khác nhau, kỷ nguyên trong đó thí nghiệm trên động vật, tăng lên vượt bậc, đã tìm thấy sự nối tiếp của nó trong các thí nghiệm trên con người, và những kẻ cả tin và dốt nát thì khắp nơi nằm trong tay cái ống tiêm dưới da, và nhờ đó làm phình lên lợi nhuận của các nhà sản xuất vắc-xin và huyết thanh!
Thật là một sự tương phản đáng chú ý giữa Louis Pasteur, người đàn ông tiều tuỵ, liệt trước tuổi, và sự tráng lệ của Viện được dựng lên để tôn vinh ông và mang tên ông, khai mạc ngày 14 tháng 11 năm 1888 tại Pari! Nhà hoá học đầy tham vọng đã đạt được mục đích — danh tiếng và của cải. Giờ đây ông thấy mình được đặt vào vị trí thần tượng của nền chính thống y học, và qua những năm sau đó, các tín đồ sùng bái ông sẽ đem các giáo điều của ông bay đi khắp nơi như khói hương cho ký ức của ông.
Lý do của sự hoan hô mà công chúng dành cho quan điểm của ông đã được Béchamp giải thích cô đọng trong lời tựa cuốn "Thuyết Microzyma" của ông. Ở đó ông viết: "Công chúng, dù có thông minh đến đâu, cũng chỉ bị ấn tượng bởi cái mà họ chỉ tốn rất ít công để hiểu. Người ta đã nói với họ rằng bên trong cơ thể chẳng khác nào nội dung một cái bình đựng đầy rượu, rằng bên trong ấy không bị tổn thương — rằng ta chỉ trở nên bệnh khi các vi trùng, vốn được sinh ra đã mang bệnh, xâm nhập vào nó từ bên ngoài, và rồi trở thành vi sinh vật. Công chúng không biết điều đó có đúng không; họ thậm chí không biết vi sinh vật là gì, nhưng họ tin theo lời vị thầy; họ tin vì nó đơn giản và dễ hiểu; họ tin và họ nhắc lại rằng vi sinh vật làm ta bệnh mà không hỏi thêm, vì họ không có thì giờ, và có lẽ cũng thường không có khả năng, để dò xuống tận đáy cái mà họ được yêu cầu tin."
Mặt khác, các chuyên gia đã được đào tạo ngay từ đầu để nhìn đời sống vi sinh từ quan điểm trường phái Pasteur và chấp nhận các lý thuyết ấy như những định đề. Vì vậy, có lẽ cũng dễ hiểu tại sao chỉ từ một vị trí quan sát không thiên kiến mới thấy rõ những mâu thuẫn của lý thuyết vi trùng gây bệnh đến mức làm nó trở thành trò cười. Các định luật của nó, các tiền đề của bác sĩ Robert Koch, tuyên bố, trong chừng mực nào, rằng một vi trùng gây bệnh phải có mặt trong mọi ca bệnh và không bao giờ được tìm thấy ở ngoài bệnh ấy. Sự thật là gì? Một trong những trụ cột ban đầu của nền chính thống Pasteur, trực khuẩn Klebs-Loeffler, bị cáo buộc là tác nhân ghê gớm của bệnh bạch hầu, thì chính Loeffler đã thấy nó thiếu vắng trong hai mươi lăm phần trăm các ca bệnh; trong khi, ngược lại, nó liên tục được phát hiện trong họng những người khoẻ mạnh, bởi vì, như Béchamp đã giải thích từ lâu, sự tiến hoá khuẩn của các microzyma không nhất thiết là có hại.
Những người theo Pasteur, tuy nhiên, có cách riêng của họ để vượt khó về lý thuyết, đó là lý thuyết người mang mầm, theo đó người khoẻ mạnh bị buộc tội là đang phát tán những vi trùng nhất định mà họ bị cho là rải ra ngoài. Lời buộc tội này đã được đưa ra chống lại những người suốt đời chưa từng mắc phải những chứng bệnh mà họ bị buộc tội đang phát tán; còn trong một ca nổi tiếng, ca của một người đầu bếp nào đó, bà Roberts ở Wrexham, mà những cư dân vi sinh của bà được cho là đã gieo rắc chứng rối loạn ruột, thì người ta thấy rằng bà chưa từng thấy, nói chi đến chuyện đã đụng vào, những chiếc bánh kem nhân thịt lợn được mô tả là phương tiện chuyển giao những vi trùng sát nhân của bà. (Khoảng hai mươi ca bệnh mà người ta gọi là viêm ruột song song, với bốn ca tử vong, đã được quy cho việc ăn những chiếc bánh kem mà bà Roberts bị buộc tội đã làm nhiễm độc.)
Trong cuốn "Sổ tay các Bệnh Nhiễm trùng" của mình, Goodall và Washbourn viết: "Sốt thương hàn khác với các bệnh nhiễm trùng khác ở chỗ không lây trực tiếp từ người này sang người khác. Vì vậy, chẳng có mấy nguy hiểm khi đến thăm bệnh nhân mắc bệnh này."
Ấy thế mà, trong khi những nạn nhân thực sự của bệnh sốt này được tuyên bố là vô hại, thì lại không hề do dự trong việc buộc tội những người khoẻ mạnh, một số trong đó chưa từng mắc bệnh, là những kẻ xúi giục và phát tán bệnh.
Lý thuyết người mang mầm cũng liên tục được viện dẫn trong trường hợp bệnh bạch hầu. Cách đây nhiều năm, chúng tôi từng đọc rằng họng của 700 học sinh ở Alperton, Middlesex, được khám xét, và kết quả là 200 em bị buộc tội là người mang mầm bạch hầu và bị cách ly. Một điểm yếu nổi bật của lý thuyết là dường như không bao giờ ta nghe nói đến việc cách ly các nhà vi khuẩn học lỗi lạc, những người hiển nhiên phải nêu gương trong việc chịu các xét nghiệm vi sinh và hoá học cùng sự kiểm dịch sau đó — những thứ cho đến nay rõ ràng chỉ được khuyến khích cho người khác! Nhưng, như Tổng biên tập tờ Lancet đã thú nhận, không có lý thuyết người mang mầm thì các tiền đề của Koch thậm chí không thể giả vờ được thoả mãn.
Hãy lấy chẳng hạn tiền đề thứ tư, mô tả vi trùng gây bệnh là thứ gây ra bệnh ở một con vật cùng loại bệnh như bệnh mà nó vốn gắn liền ban đầu. Trong cùng một bài báo trên tờ Lancet, ta được cho biết khuẩn cầu phổi, khi đưa vào cả phổi một con thỏ, gây ra không phải bệnh viêm phổi mà là nhiễm khuẩn máu toàn thân. Theo lý thuyết của Béchamp về sự khác biệt giữa các microzyma của các loài khác nhau, kết quả này hoàn toàn hiểu được và chẳng có gì bí ẩn; nhưng nó có nghĩa là sự sụp đổ của tính đúng đắn của tiền đề thứ tư của Koch.
Trong cuốn "Giáo trình Vi khuẩn học" của Sternberg, ta đọc thấy: "Sự chứng minh của Ogston, Rosenbach, Passet và những người khác, rằng các khuẩn cầu luôn có mặt trong mủ của các bệnh cấp tính, đã dẫn đến suy luận rằng không thể có sự hình thành mủ khi vắng mặt các vi sinh vật của lớp này. Nhưng giờ đây, qua các thí nghiệm của Crawitz, de Bary, Stembhaus, Scheurlen, Kaufmann và những người khác, người ta đã xác lập vững chắc rằng suy luận ấy là sai lầm và rằng một số chất hoá học nhất định, khi đưa vào dưới da, gây ra sự hình thành mủ hoàn toàn độc lập với vi khuẩn."
Ngược lại, bác sĩ Robb đã chỉ ra rằng, dù điều trị sát khuẩn nghiêm ngặt đến đâu, các vi sinh vật vẫn luôn được tìm thấy dính vào các đường chỉ khâu khi lấy ra từ vết thương do phẫu thuật tạo ra, và rằng một áp xe da thường kèm theo sự hiện diện của vi sinh vật phổ biến nhất trong số đó, tức là tụ cầu trắng.
Như vậy, một mặt, người ta cho chúng ta bằng chứng rằng sự hình thành mủ có thể độc lập với vi khuẩn, còn mặt khác, dù đã phòng ngừa hết mức, các vi sinh vật vẫn có thể có mặt. Từ quan điểm của Pasteur, đây là một mâu thuẫn không dễ gì giải thích được bằng thuyết xâm lăng của ông. Người con rể của ông cho chúng tôi biết rằng ông vẫn có thói quen nói về một bệnh nhân bị "xâm lăng". Thế mà chúng ta vừa được biết, một mặt, về mủ không có bất cứ vi sinh vật nào, và mặt khác, về vi sinh vật khi mọi biện pháp phòng ngừa chống chúng đã được áp dụng. Theo giáo huấn của Pasteur, điều này thật bối rối. Ngược lại, chúng ta tìm thấy lời giải thích ngay khi quay sang Béchamp. Theo giáo điều của ông — vốn, với sự thận trọng của một nhà khoa học thực thụ, được ông đưa ra như một giả thuyết có thể có thay vì tuyên bố nó là sự thật đã được chứng minh, "không thể bàn cãi", theo gương Pasteur — thì dường như có thể hiểu được ảnh hưởng độc hại của một số chất hoá học đối với các microzyma bình thường của cơ thể, và sự hình thành mủ có thể là hệ quả của nó. Trong thí dụ kia, khi các vi sinh vật được thấy hiện diện bất chấp các biện pháp sát khuẩn chống sự xâm nhập từ ngoài, thì chúng ta được chỉ cho thấy vẻ đúng đắn của quan điểm Béchamp: môi trường đã trở nên không thích hợp với các microzyma bình thường, nên chính chúng phát triển thành vi khuẩn, chứng minh rằng các vi khuẩn là kết quả chứ không phải nguồn gốc của tình trạng bệnh lý.
Một lý thuyết đáng chú ý khác phải được viện dẫn để đỡ cho lý thuyết vi trùng nói chung là thuyết thực bào của Metchnikoff, hay giả định rằng các bạch cầu, tức là các huyết cầu trắng của máu, thực chất là những kểnh quét rác của nó, kết liễu những kẻ xâm nhập không mong muốn. Một cách gọi thông dụng cho chúng là "cảnh sát của cơ thể", bất chấp sự thật rành rành là chúng càng nhiều thì cơ thể càng dường như kém được bảo vệ, trong khi nó lại được bảo vệ khi lực lượng cảnh sát giả định này giảm đi. Béchamp dạy rằng các bạch cầu là những sinh vật sống, nhưng ông đối xử với lý thuyết của Metchnikoff bằng sự chế giễu. "Các bạch cầu", ông viết trong "Những Vấn đề Y học Lớn", "thậm chí còn được coi là sống đến mức chúng được miêu tả là đuổi theo các vi trùng để nuốt và ăn chúng. Điều buồn cười là họ tin điều đó!" Nhưng nếu không có thực bào thì cả giáo điều xâm lăng và đề kháng, cùng mọi lý thuyết thông dụng khác, sẽ ra sao?
Một yếu tố có thể đã mang lại sự hài lòng cho lý thuyết vi trùng gây bệnh là lời giải thích mà nó được cho là đã cung cấp cho vấn đề lây nhiễm. Thật dễ dàng để tưởng tượng ra những dãy vi trùng độc hại đi từ chủ thể này sang chủ thể khác. Y niệm ấy dường như ngay cả với những nhà khoa học cũng phổ biến. Chẳng hạn, ta thấy rằng trước Ủy ban Hoàng gia về Thí nghiệm trên Sự sống, bác sĩ C. J. Martin của Viện Lister được ghi nhận đã tuyên bố: "Kinh nghiệm của ông ấy [Pasteur] về vấn đề này [lên men] đã dẫn ông đến khái quát hoá lớn lao rằng các bệnh truyền nhiễm bản thân chúng có thể được hiểu là những quá trình lên men đặc thù và do các vi sinh vật đặc hiệu gây ra. Nhờ một loạt các thí nghiệm xuất sắc trên động vật, ông đã xác lập tính đúng đắn của giả thuyết mình trong các trường hợp bệnh than, dịch tả gà và phù ban lợn. Các kết quả ấy của Pasteur có thể được coi là nền móng của toàn bộ việc nghiên cứu hiện đại về bệnh lây truyền, cả ở người và ở động vật: và sự mở rộng của nó bởi Pasteur và các học trò, cùng bởi các nhà vi khuẩn học và bệnh sinh học trên khắp thế giới văn minh, đã dẫn đến việc phát hiện nguyên nhân của phần lớn các bệnh truyền nhiễm mà con người có thể mắc."
Chúng tôi đã so sánh công trình của Béchamp và Pasteur về lên men, còn về những "thí nghiệm xuất sắc trên động vật" của Pasteur thì chúng tôi đã thấy đôi chút về "tính đúng đắn của giả thuyết" trong trường hợp, chẳng hạn, bệnh than. Cuối cùng, đối với những bệnh truyền nhiễm nhất, như sốt ban đỏ, sởi và đậu mùa, thì không có vi sinh vật đặc hiệu nào được tìm thấy gắn liền với chúng, dù điều đó chẳng ngăn cản các tín đồ Pasteur tuyên bố rằng chúng ở đó, nhưng là siêu vi trùng, dù điều này khó mà phù hợp với sự "thận trọng" mà chính Pasteur đề xướng. Như giáo sư Béchamp đã từng nói: "Nếu các vi trùng độc hại là điều bình thường của bầu khí quyển, thì sẽ có biết bao dịp để chúng xâm nhập, ngoài những dịp qua phổi và niêm mạc ruột! Sẽ không có một vết thương nào, dù nhỏ đến mấy — dù chỉ là vết kim châm — mà lại không phải là dịp để chúng chủng ngừa vào ta bệnh đậu mùa, thương hàn, giang mai, lậu."
Về điều này, xin trích một đoạn trong bản tóm tắt của ông Alexander Paul về lời tựa cuốn "Thuyết Microzyma": "Ông Béchamp lập luận rằng, nếu các microzyma đơn hay tiến hoá, vốn có thể tìm thấy trong một số chất lỏng của cơ thể, đến từ không khí và xâm nhập dễ dàng như vậy vào các tế bào, thì có một chất lỏng, liên tục tiếp xúc với không khí ta thở, trong đó lẽ ra ta phải luôn tìm thấy chúng giống nhau ở mọi động vật. Đó là nước bọt trong miệng. Thế nhưng người ta thấy rằng tính chất của nước bọt người và của nước bọt các động vật khác thì khác nhau. Ông Béchamp nói rằng các tế bào biểu mô, các microzyma và các vi khuẩn của lưỡi người có thể có một tác động hoá học riêng của chúng, và hoàn toàn khác với tác động của lưỡi bò hay lợn, ngựa hay chó. Vậy thì, nếu các vi trùng của không khí không tác động để sửa đổi chức năng của một chất lỏng tiếp xúc liên tục, rộng khắp và trực tiếp với không khí thông thường đến thế, thì khó hiểu làm sao chúng lại tác động để sửa đổi chức năng của các mô và chất lỏng bên trong, vốn được những bức tường không thể vượt qua che chở."
Giá như nghệ thuật tư duy không được thực hành hiếm hoi đến thế, thì những suy ngẫm như thế này hẳn đã chứng minh từ lâu rằng có điều gì đó không ổn trong quan điểm của trường phái Pasteur về lý thuyết vi trùng. Và, ngay cả trong những trường hợp kẻ săn vi trùng tưởng như chắc ăn nhất về con vi trùng của mình, thì chỉ ít lâu sau, sự bối rối sắp xảy đến với niềm chắc chắn ấy là ghê gớm đến đâu. Chẳng hạn, chưa bao giờ có vụ kiện nào vững chắc hơn vụ Sir David Bruce buộc tội khuẩn cầu Malta trong sữa dê là nguyên nhân của bệnh sốt Malta. Thế nhưng khi bác sĩ Walter R. Hadwen ở Gloucester đứng ra bênh vực, thì kẻ bị buộc tội ấy sau cùng đã tỏ ra trong sạch biết bao. Sự suy giảm của bệnh sốt trong Hải quân được thấy chẳng liên quan gì đến việc kiêng sữa dê, mà là một quá trình dần dần, và trùng khớp với việc nạo vét cảng Malta. Sự sụt giảm đột ngột trong tỷ lệ bệnh ở Lục quân cũng không giải thích được bằng việc tránh sữa, vì nó đã diễn ra từ trước khi thức uống ấy bị cấm, vào lúc quân đội phần lớn được chuyển khỏi doanh trại St. Elma mất vệ sinh sang khu nhà mới ở độ cao lớn hơn. Sự cải thiện sức khoẻ của thuỷ thủ và lính chúng ta rõ ràng do các biện pháp ấy gây ra, theo điều tra của bác sĩ Hadwen, còn tác động chính của khuẩn cầu Malta là mang lại một danh hiệu hiệp sĩ cho kẻ buộc tội sai, và tiện thể gây ra nhiều bất mãn trong giới Maltese gắn với ngành sữa. Bác sĩ Agius ở Malta, người lúc bấy giờ đã đi sâu vào việc này rất kỹ, thấy rằng tồi vệ sinh luôn luôn là nguyên nhân của các ổ dịch sốt trong những nhà tư, đôi đó là nơi đóng quân của các sĩ quan Anh. Một lần, chỉ sau khi một sàn nhà được dỡ lên, người ta mới phát hiện ra ổ thật của bệnh.
Ấy vậy mà trên một lý thuyết sai lầm triền miên đến thế khi bị sàng lọc kỹ, người ta đã dựng lên cả một hệ thống tiêm chủng. Hay có lẽ, các sự thật nên được nói ngược lại. Giá không có việc bán huyết thanh và vắc-xin, nay đã phình to đến những tỷ lệ khổng lồ, thì lý thuyết vi trùng gây bệnh của Pasteur có lẽ đã từ lâu sụp đổ trong im lặng. Như vậy, khó lòng phủ nhận rằng ông đã phạm một tội lỗi khi kéo khoa học y học xuống một mức độ thương mại. Hơn nữa, ông đã làm hoen ố danh hiệu đẹp đẽ của nó bằng cách liên kết nó với sự tàn nhẫn. Đúng là trong chuyện này ông cũng chỉ là kẻ bắt chước. Ông là bạn của những người như Claude Bernard, những người, theo lời giáo sư Metchnikoff, "không mảy may áy náy khi mổ xẻ thân xác và bắt động vật chịu những đau đớn tàn nhẫn nhất. Nhưng, dù sự giày vò của họ thường tàn nhẫn đến đâu, thì các nạn nhân của con dao mổ trước đây và nay vẫn ít người, nếu so với hàng triệu nạn nhân trong các phòng thí nghiệm bệnh lý, đôi khi chịu những thử nghiệm vừa kỳ dị vừa sai lầm đến mức chúng chẳng bao giờ có thể cung cấp bằng chứng thật về bệnh trong điều kiện tự nhiên."
Có thể kể ra những thí dụ như chim và chuột bị nhốt trong những cái lồng tí hon, từ từ bị bọ chét gặm nhấm, để chứng minh xem bọ chét có thể truyền bệnh ngủ hay không, mà bỏ qua sự thật là tình trạng sức khoẻ tồi tệ không tránh khỏi của những sinh vật bị giày vò như thế không thể bảo đảm cho ta điều gì chắc chắn nào ngoài sự chai sạn của những kẻ giày vò chúng. Hay nữa, phép thử sữa bằng cách cấy vào chuột lang, những con vật mà, bị nhốt trong những hộp đậy kín, chỉ vì chính việc bị giam cầm không lành mạnh ấy cũng đã có thể bị lao. Thế mà chính người đóng thuế phải móc tiền túi ra cho việc này, trong khi, theo những gì ông ta biết được, cốc sữa ông ta uống có thể đến từ một con bò lao lội qua một cái sân chuồng bẩn thỉu, được một người mắc bệnh vắt vào một cái dụng cụ dơ bẩn. Các nhà vệ sinh ở đôi nơi ngăn ngừa được những điều kiện như thế, để mặc các tín đồ Pasteur lo lắng với những con chuột lang. Mức độ tác hại do việc chuyển sự chú ý khỏi các yếu tố thật sang các yếu tố giả trong nguyên nhân của bệnh tật thì có lẽ không thể tính được. Một thí dụ về điều này, đối với bệnh dịch hạch ở Ấn Độ, là bao nhiêu thời gian và tiền bạc bỏ ra cho bọ chét và chuột — thứ vốn có thể chi cho những túp lều mất vệ sinh đứng trên đất bị phân của người và của vật giày đạp — mà bác sĩ Charles Creighton, trong một chuyên luận về đề tài này, đã chỉ rõ rành rành là ổ sinh sản của bệnh dịch.
Trở lại chuyện sữa, những người ái mộ Pasteur có thể tự hào chỉ ra các phương pháp bảo quản mang tên ông, những thứ làm cho ký ức ông bất tử; nhưng ngay cả ở đây, lời khen cũng mờ nhạt đến mức tự nó đã là sự lên án. Nếu ta mở tờ Journal of the Society of Arts ngày 17 tháng 9 năm 1919, ta thấy một bài báo về "Các Vấn đề của Lương thực và Chính sách Kinh tế của chúng ta", của giáo sư Henry E. Armstrong, Ph.D., LL.D., D.Sc., F.R.S. Ở đây người ta nói với ta rằng "nhà cải cách lớn của thời hiện đại chính là nhà hoá học Pasteur — mức độ mà ông đã ảnh hưởng đến việc làm của chúng ta thật đáng kinh ngạc." Giáo sư Armstrong rồi cho thấy, theo ông, "rượu vang được khử trùng và thứ Grand Fin, kết quả của một sự tụ hợp ngẫu nhiên của các sinh vật, đã trở thành một của hiếm; chất lượng rượu vang vì thế bị hạ xuống một mức trung bình thấp chung, dù đương nhiên cũng cứu được nhiều thứ khỏi cống ngầm. Bia chịu số phận tương tự, dù nhìn chung các thay đổi có lợi cho công chúng nhiều hơn. Nhưng thiệt hại thật sự đã xảy ra khi sữa bị can thiệp, . . . Việc pha loãng trở thành một thông lệ chung; công chúng ít chịu khổ vì những kẻ buôn bán bất lương thỉnh thoảng hơn, nhưng bị tước mất những lợi ích mà từ trước đến nay họ hưởng nhờ giao dịch với số đông những người bán hàng thật thà của sản phẩm tự nhiên. Cú đánh lại càng nặng hơn vì sự xuất hiện của những thiết bị kỹ thuật khéo léo để tách kem. Rồi giáo huấn của Pasteur lại có hiệu lực một lần nữa, lần này có Koch tiếp tay; sữa không những bị pha loãng, mà còn bị khử trùng. Có thể có một số sinh mệnh được cứu, nhưng bước đi này không còn nghi ngờ gì nữa là đã sinh ra biết bao đau khổ không kể xiết." Không ít người trong chúng tôi từ lâu đã cho rằng, vì những lý do chung, rằng một sản phẩm như sữa không thể bị đun nóng quá thân nhiệt mà không giảm giá trị dinh dưỡng của nó. Các quan sát gần đây cho thấy vitamin chống scorbut, một thành phần vốn chẳng dồi dào mấy, chịu tác động, dù rõ ràng các yếu tố tan trong chất béo chống còi xương và tan trong nước chống thần kinh thì không bị phá huỷ; nhưng người ta đã gặp khó khăn ở những địa phương nguồn cung sữa bị khử trùng có hệ thống, và rất có thể là nó kém chất theo những cách chưa được làm sáng tỏ. Các cuộc điều tra cho đến nay về tác động của việc khử trùng chẳng có gài là thỏa đáng và đáng bị phê phán vì chưa đầy đủ và thiếu tính khoa học. Các nguy cơ từ thương hàn và những bệnh lây nhiễm tương tự nay đã nhỏ, và mục đích chính của việc khử trùng sữa là để đảm bảo tiêu diệt sinh vật gây ra bệnh lao. Nhưng rất có thể là, khi phá huỷ một thành phần bí ẩn này hay thành phần bí ẩn khác thuộc lớp vitamin, thì giá trị dinh dưỡng hạ xuống đến mức sinh ra những tác động khiến cơ thể đặc biệt nhạy cảm với bệnh nhiễm lao; mà nhiễm lao dường như luôn ở với chúng ta, ngoài sữa ra. Hơn nữa, khi sữa bị khử trùng thì sinh vật sinh a-xít lactic bị phá huỷ, và sữa trở thành một ổ đặc biệt thuận lợi cho sự sinh trưởng của các sinh vật thối rửa: vì thế nó là một nguyên nhân mạnh của bệnh tiêu chảy trẻ em."
Như vậy là phán quyết của thời gian và của sự phê phán không thiên kiến tiếp tục được đưa ra trên các công trình của Pasteur. Nhưng nếu ngay cả việc tiêu thụ thức ăn bị làm nghèo còn có thể tin là có hại đến thế đối với người tiêu thụ nó, thì hậu quả của trận lụt huyết thanh và vắc-xin đổ thẳng vào dòng máu sẽ là gì?
Bất chấp cơn cuồng tiêm chủng của người làm y học hiện đại, thì một sự dốt nát đáng chú ý về đề tài này vẫn thịnh hành trong những người sẵn sàng nhất để tự đưa mình vào thời trang thí nghiệm trên con người này. Nhiều người khó lòng phân biệt được một huyết thanh với một vắc-xin.
Huyết thanh, phần không màu của máu, thường được lấy, nhằm mục đích miễn dịch, từ máu của một con ngựa mà các chất bệnh đã được tiêm vào từ trước. Sức mạnh của huyết thanh này thường được thử trên chuột lang, tức là bằng việc chúng hồi phục hay chết vì căn bệnh do các lần tiêm huyết thanh gây ra trong điều kiện tiêu chuẩn. Đau khổ của động vật đóng vai trò trong chuyện này ngay từ đầu đến cuối, còn đối với loài người, xét đến nguy cơ của việc đưa huyết thanh của loài này vào loài khác, thì may ra là liệu pháp huyết thanh, dù ban đầu được hoan hô như thang thuốc chữa mọi bệnh, đã nhường chỗ về phổ biến cho liệu pháp vắc-xin.
Liệu pháp sau, không cần phải nói, chẳng dính dáng gì đến bò. Dưới sự dạy dỗ của Pasteur, sự chính xác trong danh pháp bị đánh mất nhiều bằng sự chính xác trong các lý thuyết. Tên "vắc-xin" nay được áp dụng cho những vi sinh vật và môi trường xung quanh chúng, lấy ra từ một cơ thể bệnh, các sinh vật được để nhân lên trong một chất dinh dưỡng thích hợp, gọi là "môi trường nuôi cấy", sau đó thường bị giết bằng nhiệt và được chế biến theo nhiều cách, tuỳ theo thời thượng đương thời. Bài thuốc cuối cùng được bán như một cách chữa, hay, thường hơn, như một cách phòng bệnh chống lại căn bệnh mà các vi sinh vật vốn gắn liền ban đầu.
Ở đây chúng tôi nhớ lại định luật chữa trị của Đồng căn: "Đồng dạng trị đồng dạng", dù sự tương phản với sự chính xác khoa học của Hahnemann trong việc chiếu cố các dị ứng cá nhân là lớn đến đâu. Ông đệ trình các thuốc của mình cho phòng thí nghiệm của Tự nhiên, tức là dạ dày, trong khi, theo hệ thống của trường phái Pasteur, ngược lại, người ta đưa chất vào thẳng máu, bất chấp sự phòng ngừa của Tự nhiên — những lớp vỏ bảo vệ hữu hiệu mà Tự nhiên đã trang bị cho dòng suối của sự sống này chống lại những kẻ xâm nhập từ ngoài. Quả thực loài người yếu đuối đã trở nên coi mình khôn hơn — tên gọi tuỳ ý chọn — Tự nhiên hay Thiên mệnh.
Chúng tôi biết rõ dãy số liệu thống kê mà các tín đồ Pasteur đem ra để đối đầu với những người chỉ trích hệ thống tiêm chủng, và để trả lời, chúng tôi xin nói rằng các số liệu thống kê chẳng có giá trị gì để chứng minh kết quả nếu thiếu điều tra đầy đủ và sự chiếu cố kỹ càng cho các điều kiện của cách trình bày chúng. Chẳng hạn, thật dễ để phô ra một sự sụt giảm trong tỷ lệ tử vong vì bạch hầu từ khi có giải độc tố. Thế nhưng sự sụt giảm ấy không chứng minh gì cho công dụng của huyết thanh nếu nhận thấy nó chỉ là kết quả của một tỷ lệ ca bệnh được thổi phồng bởi chẩn đoán vi khuẩn thay vì chẩn đoán lâm sàng, và của việc gộp vào bệnh bạch hầu những thứ ngày xưa vốn chỉ được coi là viêm họng đơn thuần, viêm amidan, viêm thanh quản v.v. Bản thân sự thay đổi chẩn đoán đã ngăn không cho so sánh đúng đắn giữa tỷ lệ ca bệnh ngày xưa và ngày nay. Nhưng nếu, với một tỷ lệ ca bệnh đã được thổi phồng, mà tỷ lệ tử vong lại tăng thay vì giảm, thì sự tăng ấy quả là hết sức đáng chú ý. Chẳng hạn, ta thấy rằng, trong mười lăm năm sau khi có giải độc tố, số người chết vì bạch hầu ở Anh và xứ Wales đã lớn hơn hai mươi phần trăm so với mười lăm năm trước thời kỳ dùng huyết thanh. Báo cáo của Ban Nhà nuôi Bệnh nhân địa phương (Metropolitan Asylums Board) về các ca bệnh, nhìn thoáng qua, dường như cho thấy một tỷ lệ tử vong giảm chứng minh lợi ích của việc dùng giải độc tố, nhưng các chi tiết của báo cáo lại xác nhận một ý kiến trái ngược. Trong các năm 1895 đến 1907, có 69.249 ca bạch hầu được điều trị bằng giải độc tố, trong đó 6.917 người chết, cho tỷ lệ tử vong 14,09 phần trăm; cùng các năm ấy, có 11.716 ca không được điều trị bằng giải độc tố, trong đó chỉ 709 người chết, cho tỷ lệ tử vong 8 phần trăm. Các chú thích dưới bảng cho thấy trong các ca sau, 55 người đã hấp hối khi nhập viện và 12 người chết vì các bệnh khác không phải bạch hầu, nên tỷ lệ tử vong chính xác trong thực tế lẽ ra phải dưới sáu phần trăm. Đáng tiếc là báo cáo của Ban nay không còn phân biệt các ca có điều trị và không điều trị bằng giải độc tố, và từ năm 1910 thì chính Hội cũng không còn tồn tại. Xét những ca được ghi chi tiết thì dường như không thể chối cãi rằng các phương pháp chăm sóc và điều trị y khoa được cải thiện — vốn phải làm giảm tử vong — chỉ làm được điều đó với mức độ nhỏ hơn khi có giải độc tố vào cuộc. Bảng sau đây chứng minh cho quan điểm này đối với các bệnh trẻ em. Ta thấy ở đây sự giảm đáng chú ý ở sởi, sốt ban đỏ và ho gà — những bệnh không thuộc diện được điều trị bằng tiêm chủng; trong khi bạch hầu, với một giải độc tố đặc hiệu, lại cho thấy mức tăng 102 trường hợp trên mỗi triệu dân.
| Bệnh | 1911–14 | 1915 | Thay đổi (trên mỗi triệu dân sống ở tuổi 1–5) |
|---|---|---|---|
| Sởi | 2.643 | 1.228 | giảm |
| Sốt ban đỏ | 269 | 224 | giảm |
| Ho gà | 13.202 | 1.053 | giảm 92% |
| Bạch hầu | 789 | 891 | tăng 102 |
Lời tuyên bố về lợi thế của việc tiêm ngay lập tức, và của việc tiêm ngày thứ nhất so với ngày thứ hai, v.v., có lẽ nên bị gạt bỏ vì các lý do sau. Trước khi các triệu chứng lâm sàng biểu hiện, thì không thể biết được chứng bệnh có bao giờ trở nên nghiêm trọng không, nếu đúng là bệnh bạch hầu thật; và nếu, một mặt, người ta khẳng định rằng việc cho giải độc tố kịp thời đã ngăn được bệnh nguy hiểm, thì cũng dễ dàng mà khẳng định, mặt khác, rằng nhờ giải độc tố mà một cơn viêm họng nhẹ đã bị làm nặng thành bệnh nặng, đôi khi có biến chứng bệnh tim và liệt. Cách lập luận này cũng chẳng chính xác và khoa học hơn cách kia là bao.
Người ta cũng có thể hỏi rằng, nếu giải độc tố bạch hầu là một bài thuốc không bao giờ thất bại, thì tại sao lại phải đưa ra hệ thống Schick để thử trước và miễn dịch sau. Những đứa trẻ bị cho là dễ mắc bệnh lẽ ra chỉ chịu ít rủi ro nếu được cung cấp một thuốc chữa không bao giờ thất bại. Nếu, để trả lời, người ta lập luận rằng việc miễn dịch là để phòng bệnh bạch hầu vĩnh viễn, thì có thể bắt bẻ rằng các số liệu thống kê chẳng cho thấy cải thiện nào so với miễn dịch tự nhiên; còn hơn nữa, trong nhiều trường hợp, thuốc phòng đã tỏ ra nguy hiểm hơn bệnh rất nhiều.
| Năm | Nơi | Bị thương | Chết |
|---|---|---|---|
| 1919 | Texas, Hoa Kỳ | 63 | 10 |
| 1924 | Bridgewater, Hoa Kỳ | 25 | — |
| 1924 | Concord, Hoa Kỳ | 20 | — |
| 1924 | Baden, Áo | — | 6 |
| 1927 | Nga | 2 | — |
| 1927 | Trung Quốc | 37 | 5 |
| 1928 | Bundaberg, Australia | 5 | — |
| 1930 | Colombia, Nam Mỹ | 42 | 16 |
| 1932 | Charolles, Pháp | 171 | 1 |
| 1933 | Chiavari, Ý | 20 | 1 |
| 1933 | Verona và Rovigo, Ý | — | 1 |
| 1935 | San Francisco, Hoa Kỳ | — | — |
| 1936 | Pháp | 75 | 1 |
| 1937 | Waterford, Ireland | 24 | 1 |
| 1938 | Waterside, Canada | 11 | 1 |
| 1939 | Freiburg, Thuỵ Sĩ | 4 | 1 |
| Tổng cộng (1919–1941) | 497 | 46 | |
Cả hai bảng trên được dựng lại từ bản quét năm 1947; các ô không đọc được trong bản quét được để trống thay vì đoán.
Bên cạnh những thảm hoạ tập thể ấy, còn quá nhiều ca riêng lẻ bị thương và chết sau những lần tiêm chủng được cho là phòng bệnh, đến mức cuốn sách này không có chỗ để dành cho chúng.
Có John Gordon Baker, bảy tuổi, ở Saxholm Way, Bassett, chết năm ngày sau lần tiêm thứ hai chống bệnh bạch hầu. Có Dennis Hillier, mười một tuổi, một cậu bé khoẻ mạnh giỏi các môn thể thao, ở 220 Canterbury Road, Leyton, Luân Đôn E.10, chết hai tháng sau lần tiêm thứ hai. Có William Martin Graham, bốn tuổi, ở Bowness Farm, Bowness, Wigton, chết tại Bệnh viện Nhi đồng Birmingham hai ngày sau khi được tiêm độc tố kết túc a-lum. Rosemary Jane Webb, Ernest Eales, Joan Hudgeon và nhiều em nữa nối dài danh sách những nạn nhân trẻ có thể đã còn sống nếu không có các phương pháp y học của trường phái Pasteur.
Tự do khỏi bệnh bạch hầu cũng chẳng đến như một phần thưởng cho những rủi ro nặng nề đã chấp nhận. Trong bốn năm 1941–44, Bộ Y tế và Sở Y tế Scotland đã thừa nhận gần 23.000 ca bạch hầu ở trẻ em đã được miễn dịch, và hơn 180 ca trong số đó đã chết.
Về sự suy giảm của bệnh bạch hầu ở Vương quốc Anh trong năm 1943 và 1944, chúng ta được nhắc rằng năm mươi tám y sĩ Anh, những người đã ký một bản kiến nghị năm 1938 chống việc miễn dịch bắt buộc ở đảo Guernsey, đã có thể chỉ ra sự biến mất gần như hoàn toàn của bệnh bạch hầu ở Thuỵ Điển mà không có bất cứ sự miễn dịch nào. Ngược lại, nếu ta sang Đức, ta thấy rằng, sau lệnh của bác sĩ Frick vào tháng 4 năm 1940 về miễn dịch hàng loạt bắt buộc cho trẻ em, thì nước này đến năm 1945 đã trở thành tâm bệnh bạch hầu ở châu Âu. Từ khoảng 40.000 ca, con số đã tăng lên 250.000 ca.
Một bài báo trên tờ Pour la Famille, số tháng 3 năm 1944, chỉ ra sự gia tăng các ca bạch hầu sau khi miễn dịch bắt buộc. Chẳng hạn, sự gia tăng ở Pari lên tới ba mươi phần trăm; còn ở Lyon, các ca bạch hầu tăng từ 162 năm 1942 lên 299 năm 1943. Ở Hungary, nơi miễn dịch đã bắt buộc từ năm 1934, mức gia tăng các ca là ba mươi lăm phần trăm trong hai năm. Ở bang Geneva, nơi miễn dịch được thi hành từ năm 1933, số ca đã tăng gấp ba từ năm 1941 đến 1944.
Một bi kịch gây chấn động của các phương pháp phòng bệnh theo trường phái Pasteur là cái chết của những đứa trẻ vô tội ở Lübeck, vào đầu mùa hè năm 1930, do BCG, tức là Vắc-xin Lao Calmette, một môi trường nuôi cấy được cho uống vào trẻ sơ sinh. Sở Y tế thành phố đã kêu gọi các bậc cha mẹ một cách xúc động hãy cho phép miễn dịch cho con mình, dù con có lớn lên trong môi trường có lao hay không. Trong số 259 em bé bị cho chịu phương pháp Calmette, sáu mươi chín em chết vì nó và 130 em bị làm cho bệnh nặng. Trước một tai họa như thế, chẳng lạ gì mà Cơ quan Y tế Đế chế đã quyết định rằng những thuốc phòng bệnh như thế không được khuyến nghị, còn Hội đồng Y tế Đế chế thì "cho rằng nên mở rộng và làm nhẹ các quy định hiện hành về sản xuất, cấp phát và sử dụng vắc-xin của mọi loại".
Cuối cùng, chúng ta phải nhớ rằng những lời khoe khoan thống kê tuyệt diệu đến mấy cũng bị phá sản khi các đợt dịch thật sự xuất hiện. Trong một thời gian khá lâu, một trong những quân bài chủ chốt, có thể nói, của Hội Nghiên cứu (về Thí nghiệm trên Động vật) là huyết thanh phòng viêm màng não của bác sĩ Flexner và bác sĩ Jobling thuộc Viện Rockefeller, New York. Những số liệu thống kê đáng chú ý đã được đưa ra, mà không giải thích rằng chính những sự bỏ sót tiện lợi đã tạo ra những kết quả tưởng như phép màu ấy. Huyết thanh, lần đầu được thử vào mùa xuân năm 1907, được hoan hô là đã mang đến "một cuộc cách mạng hoàn toàn". Thế nhưng liệu thuốc chữa tuyệt diệu này ra sao khi một đợt dịch viêm màng não khủng khiếp bùng ra ở New York, với số người chết lên tới 745 trong riêng tháng 7 năm 1916, biến thủ đô nước Mỹ thành một thành phố tang tóc? Huyết thanh kỳ diệu của Flexner tệ đến mức người ta thấy nó chỉ đáng được nhắc đến một chút, và chính kẻ phát minh ra nó đã thú nhận rằng "cho đến nay vẫn không có cách điều trị đặc hiệu hay chữa khỏi nào cả".
Người ta còn biết thêm rằng chứng bệnh này, còn gọi là sốt đốm, đang nhanh chóng mất đi sự hạn chế của nó ở trẻ em, nếu xét theo chẩn đoán vi khuẩn. Người ta nói rằng các ổ dịch của nó từng hay xảy ra ở những thanh niên trong các trại huấn luyện quân sự. Nó đã theo sau các lần tiêm phòng thương hàn và các lần tiêm khác một cách đáng ngờ đến mức, thay vì các biện pháp ấy đã mang lại sự bảo vệ cho sức khoẻ, thì có vẻ có khả năng lớn hơn nhiều rằng đôi khi chính chúng đã trực tiếp gây ra bệnh. Và giờ đây điều này đưa chúng ta đến vài bài học mà ta có thể rút ra từ các thí nghiệm tiêm chủng đã được thực hành trên quân lính của chúng ta trong hai cuộc Thế chiến.
Người ta luôn luôn khẳng định rằng sự miễn dịch tương đối khỏi các bệnh dịch trong hàng quân các nước đánh nhau ở mặt trận phía tây trong cuộc chiến tranh thứ nhất là một bằng chứng đầy đủ về giá trị của "các lần tiêm chủng phòng bệnh". Chúng tôi, ngược lại, tin rằng nghiên cứu đề tài này chứng minh ý kiến ấy dựa trên một sự quan sát hời hợt. Phải nhớ rằng mọi biện pháp phòng vệ sinh và vệ sinh có thể đưa ra đều đã được áp dụng ở mặt trận phía tây.
Và ở đây chúng ta có thể dừng lại để nhận rằng Thế chiến I đâu phải là cuộc chiến không kèm theo dịch bệnh, và nó cho một thí dụ đáng chú ý về lý thuyết thay thế của các tình trạng bệnh lý, mà chúng ta đã có lần nhắc đến. Xuyên suốt lịch sử, ta thấy các đại dịch theo chân chiến tranh, với sự giảm dần có hệ thống về cường độ tuỳ theo điều kiện vệ sinh và phòng bệnh của dân chúng. Như vậy, cái chết đen thời Trung cổ về sau được thay thế bằng bệnh đậu mùa, mà ngày nay đã tìm được người thay thế của nó trong những đợt bệnh cúm bí ẩn. Nói về Thế chiến I, người ta đọc thấy như sau: "Cuộc chiến đã kết thúc với sự kèm theo của dịch cúm năm 1918–19 (như cuộc chiến năm 1870–71 kết thúc với sự kèm theo của dịch đậu mùa đại hồng) — một đợi dịch mà, nếu không tính Nam Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và những vùng rộng lớn của châu Á và châu Phi, người ta tính là đã cướp đi tám triệu sinh mệnh." Vì vậy, không ai có thể phủ nhận rằng cuộc chiến đã kéo theo hậu quả tất yếu của bệnh tật, mà những tàn phá xa rộng của nó có lẽ giải thích được bởi sự phân bố các mặt trận ở những vùng vô cùng khác nhau.
Trở lại chuyện tiêm chủng, thì thành công của nó như một cách phòng bệnh chỉ có thể kiểm tra được trong những điều kiện mà các biện pháp vệ sinh và phòng bệnh thất bại; và vì, ở khắp nơi các biện pháp ấy thiếu vắng — dù ở Đông Phi, Gallipoli, Palestine hay Lưỡng Hà — thì bệnh tật hoành hành, và chúng tôi xin thú là hoàn toàn không thấy thành công của tiêm chủng nằm ở đâu.
Tuy nhiên, báo chí vẫn đầy các lập luận y học như lời tuyên bố sau của Trung tá S. A. M. Copeman, người phụ trách Trường Quân y Hoàng gia, đăng trên tờ The Times ngày 14 tháng 2 năm 1917: về bệnh sốt thương hàn, nếu đối chiếu số người nhập viện và số người chết trong chiến dịch Nam Phi và ở Pháp trong hai năm đầu của cuộc chiến, thì đã có một tác dụng kỳ diệu của tiêm chủng phòng bệnh trong việc ngăn ngừa cơn bệnh, và một mức độ lớn hơn nữa trong việc cứu sinh mệnh. Một kết quả tương tự đã theo sau việc đưa tiêm chủng vào Quân đội Pháp sau này, vì quân đội này đã chịu nhiều tổn thất vì bệnh sốt thương hàn trong những tháng đầu của cuộc chiến.
Một lời phê bình hay hơn về đoạn trên chẳng thể tìm đâu được ngoài lời của ông E. B. McCormick trên tờ Vaccination Inquirer số tháng 3 năm 1917. Ông viết: "Điều ngụ ý ở đây là, giữa chiến tranh Nam Phi và chiến tranh châu Âu, thì các điều kiện cốt yếu vẫn giống nhau, ngoài tiêm chủng trong chiến dịch hiện nay. Thì không ai phủ nhận rằng điều kiện vệ sinh là một nhân tố chi phối, hay ít nhất là một nhân tố quan trọng, trong sự phổ biến của bệnh thương hàn. Ai cũng biết rằng điều kiện vệ sinh ở Nam Phi thì thảm hại, trong khi ở Pháp thì, theo lời Sir Frederick Treves, chưa từng có đẳng cấp nào trong lịch sử chiến tranh. Ta phải nghĩ thế nào về một logic y học cứ (trong lời biện hộ đặc biệt cho tiêm chủng) tiếp tục bỏ qua nhân tố sống còn này? Khi ta còn nhớ thêm rằng hai chiến dịch thậm chí không được phân biệt đầy đủ về mặt tiêm chủng, mà một trăm nghìn liều thuốc độc của Sir Almroth Wright đã được gửi sang Nam Phi cho Quân đội, và rằng trong giai đoạn đầu của chiến dịch ở Pháp thì tiêm chủng gần như không được thực hành chút nào trong hàng quân Anh, thì sự không đầy đủ đến mức khó coi trong lập luận của Trung tá Copeman đã hiện rõ. Rằng sự chính xác của ông về các sự kiện cũng ngang tài với logic của ông thì thấy qua lời ông ám chỉ rằng việc đưa tiêm chủng vào Quân đội Pháp muộn hơn quân đội ta, trong khi sự thật là nó không những sớm hơn, mà còn được bắt buộc bằng luật từ năm 1913, còn của ta thì đến nay vẫn chỉ là tuỳ ý trên danh nghĩa. Vì vậy, lời thừa nhận rằng Quân đội Pháp đã chịu nặng vì bệnh thương hàn trong những tháng đầu của cuộc chiến là điều đáng lưu ý."
Nơi chúng ta có thể so sánh được phần nào là ở các đơn vị Nhật Bản, những người, trong cuộc chiến Nga-Nhật, đã khai sáng các biện pháp vệ sinh và phòng bệnh về sau được theo ở chiến tranh châu Âu và được tiến hành nghiêm ngặt ở mặt trận phía tây. Còn về tiêm chủng, thì các điều kiện hoàn toàn trái ngược. Vào thời chiến tranh Nga-Nhật, người ta đã tuyên bố dứt khoát rằng "không có lần tiêm chủng phòng bệnh nào đang được thực hành trong Quân đội đối với bệnh sốt thương hàn. Giáo sư Kitasato đã khuyên họ, nhưng các nhà chức trách y tế quân đội từ chối không cho làm cho đến khi họ thoả mãn hơn về kết quả của cách phòng bệnh của Wright". Ấy thế mà trong hàng quân không tiêm chủng ấy, số ca sốt phát ban chỉ bằng một phần sáu so với số ca xảy ra trong hàng quân Anh đã tiêm chủng một phần trong chiến tranh Boer. Các ca của Nhật Bản hầu như hoàn toàn ở Quân đội thứ nhất, quân đội mà các quy định vệ sinh và phòng bệnh ít được tuân thủ hơn; còn ở Quân đội thứ hai và thứ ba thì bệnh sốt thương hàn gần như bị loại trừ, dù các quân đội này không tiêm chủng. Kinh nghiệm Nhật Bản này chắc chắn bảo vệ cho lập luận rằng chính các biện pháp phòng vệ sinh và vệ sinh, chứ không phải tiêm chủng, xứng đáng được ghi công về tình trạng sức khoẻ tốt ở mặt trận phía tây.
Hàng đầu trong các biện pháp bảo vệ sức khoẻ quân đội thì không còn nghi ngờ gì là sự chăm lo về nguồn cung nước. Trong vài căn nhà ở ngoại vi Lille và dọc theo Menin Road, vẫn còn các thông báo của Đức cho thấy nơi có thể lấy nước uống tốt, để chứng minh sự tỉ mỉ của người Đức. Lịch sử làm sạch nước cho quân đội ta đã được Đại úy J. Stanley Arthur, R.A.M.C.(T.F.) mô tả trong một bản tham luận đọc trước Viện Kỹ sư Cơ khí ngày 19 tháng 11 năm 1920, và đăng trên tờ The Engineer các ngày 26 tháng 11 và 3 tháng 12 năm 1920. Ở đây người ta nói với ta rằng "bột tẩy, hay vôi clorua, lần đầu đã được dùng để khử trùng nguồn nước uống năm 1897 ở Maidstone, nơi bệnh thương hàn đang hoành hành. Việc dùng nó đã có kết quả rất thành công, bệnh thương hàn nhanh chóng bị dập tắt". Hơn nữa, ta đọc rằng "clorin ở thể khí, dù được dùng ở Mỹ ở mức độ nhỏ từ một thời gian, chỉ mới được dùng phổ biến trong vài năm gần đây. Lượng clorin, hoặc ở thể khí hoặc lấy từ bột tẩy, cần để khử trùng nước là rất nhỏ. . . . Khi chiến tranh bùng nổ, thì cách duy nhất để làm sạch nước, ngoài cách dùng viên natri sunfat a-xít, có thể tiến hành ngoài chiến trường là dùng xe nước.
Người ta đã cố bịa ra một cách đơn giản để xác định ngoài chiến trường lượng bột tẩy cần để khử trùng bất cứ nước nào. Đề nghị đầu tiên do giáo sư Sims Woodhead đưa ra, và các chi tiết thực tế, dẫn đến việc đóng một thùng chứa các dụng cụ và hoá chất cần thiết cùng hướng dẫn để tiến hành phép thử, đã được hoàn thành tại Trường Quân y Hoàng gia dưới sự chỉ đạo của Sir William Horrocks. Với thùng thử ấy, mà trong Quân đội gọi là "Thùng thử và khử trùng Nước", và với xe nước làm điểm khởi đầu, thì toàn bộ kế hoạch làm sạch nước lớn lao của Quân đội đã được dựng lên. Rằng các cách áp dụng đã thành công thì thấy qua sự thật là suốt thời chiến tranh không hề có một đợt dịch bệnh lây qua đường nước nào." Đại úy Arthur còn nói về các cải tiến hơn xe nước, và về công trình làm ở Mỹ trong việc cho clorin thể khí vào nước để khử trùng. Hai loại máy clo hoá của hãng Wallace và Tiernan ở New York đã tỏ ra hết sức đạt, và loại cho ăn trực tiếp của họ được "áp dụng tại tất cả các xưởng làm sạch nước đang dùng trong Quân đội Anh". Bài báo xử lý thêm các xưởng cố định và xưởng di động cùng toàn bộ quá trình làm sạch. Đại úy Arthur cũng nói đến khó khăn trong việc cung cấp nước khử trùng cho quân đội ở miền Đông trong những ngày đầu của chiến tranh; nhưng cho thấy rằng nay "một nguồn nước khử trùng có thể được duy trì trong gần như mọi điều kiện có thể, bằng cách dùng loại xưởng này hay xưởng khác trong các loại xưởng làm sạch nước đã nhắc đến", và ông kể các xưởng mới được đặt mua để dùng ở miền Đông. Chính hệ thống làm sạch nước này được ông quy cho tất cả công giáo về tình trạng sức khoẻ tốt của Quân đội. Rằng điều này đúng thì hiển nhiên qua tương phản với tình trạng bệnh tật ở tất cả các mặt trận bị tước mất những lợi thế tương tự. Với một nguồn nước bị nhiễm bẩn, thì tiêm chủng chẳng phòng được bệnh gì. Và nếu tiêm chủng, không cần thiết trong điều kiện được bảo vệ, là vô dụng khi các điều kiện ấy thất bại, thì nó có ích gì nào?
Sự vô dụng, tuy nhiên, không phải là lời phê phán duy nhất, cũng không phải là lời phê phán nghiêm trọng nhất, đối với thực hành này: những bài học của Thế chiến I vẽ ra nó như một thứ trực tiếp có hại.
Trong một cuốn sách nhỏ "Microbe và Chiến tranh" của bác sĩ Walter R. Hadwen, ta thấy một trích dẫn của giáo sư Ernest Glyn như sau: "Bệnh tật (trong chiến dịch Nam Phi) đã chịu trách nhiệm về việc mất 46.000 quân nhân vì chết và vì tàn tật (trong gần ba năm); thế mà tổng số sĩ quan và quân nhân, kể cả quân Ấn bản địa, rời khỏi bán đảo Gallipoli vì bệnh tật từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 20 tháng 10 có thể nói là 3.200 sĩ quan và 75.000 quân nhân khác! Tổng số từ đó đã tăng lên 94.000."
"Nói ngắn gọn", bác sĩ Hadwen nhận xét, "thì cái giá của bệnh tật và cái chết trong thời hiện đại của các huyết thanh và vắc-xin này, với mọi ảnh hưởng 'bảo vệ' của chúng chống lại các vi trùng, là, theo tỷ lệ với thời gian và số quân nhân tương ứng được sử dụng, gần gấp sáu lần trong sáu tháng cuối của thảm hoạ Gallipoli so với cả ba năm của chiến tranh Boer."
Các con số chính thức sau đây về tổn thất của Cuộc thám hiểm Gallipoli tự chúng đã nói lên tất cả: [bảng trong bản quét năm 1947 bị hỏng; con số cuối đọc được là 96.684 người chết vì bệnh tật]. Nếu nghĩ đến loạt đạn và mảnh bom từ đó không có lối thoát trong cái địa ngục giao chiến ấy, thì con số khổng lồ ấy — 96.684 nạn nhân của bệnh tật — chẳng qua là một điều đáng kinh ngạc; nhất là khi trong đó có rất nhiều quân nhân Australasia, tinh hoa của những thân thể cường tráng. Số người bệnh vượt xa số người chết, và cả số người bị thương; và ta phải nhớ rằng trong đạo quân người tàn tật lớn lao ấy, hầu như người nào cũng đã bị tiêm chủng một cách nghiêm ngặt. Cách gọi tên các chứng bệnh của họ chỉ là chuyện nhỏ trước sự khái quát hoá bao trùm là việc áp dụng các phương pháp của trường phái Pasteur trên quy mô lớn đã gặp lại một sự đền đáp lớn lao dưới hình thức bệnh tật. Quả thực, tình trạng người bệnh ở những người khoẻ mạnh Gallipoli cao đến mức người ta có thể suy ra rằng tiêm chủng đã góp phần vào nó bằng cách đầu độc cơ thể và hạ sức sống của các chiến sĩ.
Bất chấp những bằng chứng đại khái nặng nề này, chẩn đoán vi khuẩn đã làm hết sức để tạo thành công cho tiêm chủng bằng số liệu thống kê, bằng cách gọi mọi tên trừ thương hàn cho những chứng rối loạn ruột, mà theo chẩn đoán lâm sàng, trong các chiến tranh trước, vốn sẽ được xếp vào loại ấy. Quá trình chẩn đoán vi khuẩn đã được Trung tá C. J. Martin và Trung úy W. G. D. Upjohn, hai nhà bệnh lý học của Bệnh viện Đa khoa số 3, giải thích một cách sáng ngời. Phản ứng kết dính — vốn hết sức đáng ngờ — là cách được áp dụng, và với một sự thẳng thắn cũng đáng quý như chính sự vô ý thức của họ, các ông ấy đã thú nhận rằng ở những bệnh nhân "đã tiêm chủng trước đây" thì sự xuất hiện các chất kết dính thương hàn được coi là "đáng ngờ". Họ còn nói rằng họ "chỉ chẩn đoán bệnh thương hàn khi trực khuẩn thương hàn được phân lập, hoặc khi, bệnh lý là bệnh thương hàn, mà không phát hiện được các vi khuẩn phó thương hàn".
Tờ Vaccination Inquirer của ông E. B. McCormick, khi phê phán bản báo cáo, nhận xét: "Như vậy, sự hiện diện của các vi khuẩn phó thương hàn bên cạnh bệnh thương hàn thật là đủ để đưa bệnh ra khỏi loại thương hàn, trừ khi bệnh nhân không được tiêm chủng, trong trường hợp đó, tất nhiên, bệnh thương hàn là thật như có thể. Chúng tôi vẫn luôn cho rằng bệnh thương hàn ở người đã tiêm chủng sẽ bị các thầy thuốc coi là 'đáng ngờ', và ở đây, với một sự ngây thơ đáng quý, ta có quá trình bị phơi bày, nhờ đó người đã tiêm chủng thoát chính thức, còn người không tiêm chủng thì 'ăn nguyên đòn'."
Cách chẩn đoán này giải thích rất rõ lời than rằng của biết bao "chàng lính" bị thương tật: "Trước họ bảo tôi bị thương hàn, rồi họ bảo tôi bị phó thương hàn, rồi họ bảo tôi bị lỵ (hoặc ngược lại); nhưng cảm giác vẫn như nhau suốt thời gian ấy!" Đối với tín đồ Pasteur nhiệt thành, một bệnh tật có rất ít dính dáng gì với triệu chứng hay cảm giác: thực tại của nó nằm ở hình dáng một vi sinh vật nhìn qua kính hiển vi. Như cố ông Stephen Paget, Thư ký Danh dự của Hội Nghiên cứu (về Thí nghiệm trên Động vật), đã viết trên tờ Daily Mail ngày 16 tháng 4 năm 1920: "Các triệu chứng của bệnh phó thương hàn có nét giống chung với bệnh thương hàn, nhưng các vi trùng thì khác nhau." Cách nhìn bệnh lý này dẫn đến cái ám ảnh lạ thường rằng, miễn là tránh được cách gọi tên đặc hiệu, thì tiêm chủng đã giành một chiến thắng, dù tình trạng người bệnh — và cả tử vong — có lớn đến đâu. Rằng lời phê phán này có căn cứ thì thấy từ chính bài báo ấy của ông Paget trên Daily Mail, khi ông viết: "Hãy xem, dưới ánh sáng của các sự kiện này, sự đê tiện của lời ám chỉ rằng cách phòng ngừa đã thất bại ở Gallipoli. Tôi lấy làm hài lòng khi đóng đinh lời nói dối ấy vào quầy hàng." Các "sự kiện" để cung cấp "ánh sáng" được đưa ra trong một trích dẫn của bác sĩ Charles Searle, ở Cambridge, người đã tuyên bố: "Trước Gallipoli, chúng tôi chỉ tiêm chủng phòng bệnh thương hàn, và kết quả là trong 100.000 ca bệnh tật chỉ có 495 ca thương hàn, và 504 ca phó thương hàn. Chúng tôi ở trong những điều kiện hết sức khủng khiếp: chúng tôi chỉ có nửa lít nước một ngày; chúng tôi uống bất cứ vũng nước đục nào, bất cứ thứ dơ bẩn nào miễn là nó ẩm. Không có gì khủng khiếp hơn cơn khát; chúng tôi không có cứu trợ: chúng tôi sống trong những chiến hào. Người nào cũng bệnh, và chúng tôi có khoảng 50.000 ca lỵ; nhưng chúng tôi chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ bệnh thương hàn." Bác sĩ Searle còn đưa ra vài con số về Ai Cập và Palestine đối với bệnh thương hàn và phó thương hàn, tiện thể chen vào rằng "có bao nhiêu là lỵ ở Palestine". Tất cả những gì chúng ta có thể nói là các con số chính thức cho các nước này đã được đòi hỏi nhiều lần trong Quốc hội, và rằng cho đến nay chúng vẫn chưa được cung cấp. Nhưng trở lại Gallipoli, Trung tá Martin và Trung úy Upjohn đã mô tả cái kiểu chẩn đoán vi khuẩn tạo ra cách gọi tên bệnh, trong khi chính bác sĩ Searle làm chứng rằng "người nào cũng bệnh", và đưa ra các con số cho thấy gần 60.000 người bị các chứng rối loạn ruột trực tiếp. Thú thực rằng các điều kiện thật là "khủng khiếp"; chúng tôi không phủ nhận điều đó, dù chúng có lẽ đã có thể bớt tệ nếu không có những đảm bảo quá mức về giá trị của tiêm chủng phòng bệnh, khiến những người chỉ huy kém chú ý đến việc giữ nguồn nước sạch. Cái chúng tôi đang tranh luận là liệu quân đội ta, nhất là những chiến sĩ Anzac cường tráng, có thể chịu đựng những điều kiện ấy theo một cách rất khác nếu họ được tự do khỏi sự ô nhiễm của sự can thiệc theo trường phái Pasteur. Cái ám ảnh này — nhìn bệnh từ quan điểm vi sinh vật, bất chấp cả khả năng biến đổi của chúng — dường như làm mù lý trí trước sự thật hiển nhiên là trong bệnh nặng thì cách gọi tên không thể là an ủi gì cho bệnh nhân; cũng như nó chẳng an ủi được người thân khi được báo cho rằng chính bệnh lỵ chứ không phải bệnh thương hàn đã gây ra cái chết của bạn hay người thân họ. Một sự miễn dịch nhân tạo khỏi một chứng bệnh nhất định có giá trị gì nếu một chứng bệnh tương tự thay thế nó? Phải xét xét vấn đề trên sức khoẻ chung và trên tình trạng bệnh tật chung, mà khi ta lại được Tướng Smuts nói về chiến dịch Đông Phi rằng "bệnh tật đã tàn phá", thì một lần nữa ta lại được cung cấp bằng chứng về sự thất bại của các phương pháp theo trường phái Pasteur trong Thế chiến I.
Một khúc ca chiến thắng y học khác đã được hát lên, và hát từ một nơi chẳng khác xứng đáng nào hơn là bệnh giảng của nhà thờ St Paul, là khúc ca về thành công của tiêm chủng đối với bệnh uốn ván. Người ta tuyên bố rằng cách dùng giải độc tố phòng bệnh đã làm thay đổi chứng bệnh.
Thế nhưng, các bằng chứng của lời tuyên bố ấy là gì?
Khi xét buổi đầu của cuộc chiến, ta thấy Sir David Bruce đã tuyên bố rằng tỷ lệ uốn ván trong tháng 9 năm 1914 là 16 trên 1.000, trong tháng 10 là 32 trên 1.000; còn trong tháng 11 chỉ còn 2 trên 1.000. Sir David thừa nhận "có vài nhân tố tác động trong tháng 9 và tháng 10 năm 1914 làm tăng tỷ lệ", nhưng sự sụt giảm thì ông ca ngợi là "nhân tố quan trọng nhất — việc tiêm giải độc tố phòng uốn ván". "Việc này không được tiến hành trong hai tháng đầu của chiến tranh", ông nói, dù lời khẳng định ấy bị sửa đổi bởi chính sự phơi bày của ông về lượng huyết thanh gửi sang Pháp trong năm tháng đầu: tháng 8 năm 1914, 600 liều; tháng 9, 12.000; tháng 10, 44.000; tháng 11, 112.000; tháng 12, 120.000. Ông nói đến một bức thư của Sir William Leishman, người "tin chắc rằng sự sụt giảm trong tỷ lệ mắc uốn ván tháng 11 năm 1914 là do việc dùng liều phòng bệnh, và không cho rằng có nhân tố phức tạp lớn nào xen vào". Với những ai còn nhớ sự thiếu thốn xe cứu thương và dụng cụ y tế trong những ngày đầu của Đại chiến, thì một nhân tố phức tạp lớn là điều tự nó đã hiển nhiên, và chính Sir David Bruce cũng thừa nhận điều đó khi ông mô tả "sự khó khăn trong việc thu nhặt người bị thương vì quá đông và vì sự di chuyển của quân đội, và cuối cùng là sự khó khăn trong việc cho họ cách phẫu thuật triệt để vết thương, điều rất cần thiết trong cuộc đấu tranh chống uốn ván".
Khi xét xét mọi cách phòng bệnh thì tự nhiên bao giờ cũng có một khó khăn ban đầu là liệu một chứng bệnh nhất định đã thật sự được ngăn ngừa hay không, hay là nó vốn đã không xuất hiện trong bất cứ trường hợp nào. Trong bệnh uốn ván, khó khăn này càng tăng thêm vì chính lần tiêm giải độc tố chống uốn ván, theo thủ tục Pasteur thông lệ như trong bệnh dại, đã gây ra sự tạo ra một bệnh mới. Tờ Lancet ngày 30 tháng 10 năm 1915 nói đến các quan sát của bác sĩ Montais, như trình bày trong Annales de l'Institut Pasteur: "Bác sĩ Montais đã thu thập chỉ riêng từ các nguồn Pháp tới hai mươi mốt ca uốn ván hoàn toàn tại chỗ, không có cứng hàm, cùng một số trường hợp tương tự mà sau đó cứng hàm và các triệu chứng toàn thân khác xen vào. Tất cả đều ở những người đã được tiêm một liều huyết thanh phòng bệnh. Dù hình thái uốn ván bắt đầu tại chỗ rồi tiếp theo cứng hàm đã được biết từ lâu, thì uốn ván hoàn toàn tại chỗ là một điều mới lạ về bệnh lý học ở người. Theo bác sĩ Montais, tình trạng này chính là sự sáng tạo của liệu pháp huyết thanh phòng bệnh." Rồi tờ Lancet ngày 27 tháng 1 năm 1917 đăng một bài báo của Đại úy H. Burrows về "Uốn ván biến đổi", bài bắt đầu như sau: "Có hai lý do khiến chủ đề uốn ván phải đáng chú ý vào lúc này. Thứ nhất, bệnh vẫn xảy ra trong hàng người bị thương. Trong các tháng 7, 8 và 9 năm 1916, tại Bệnh viện Đa khoa, chúng tôi có một ca uốn ván trong mỗi 600 ca vết thương do súng bắn. Và điều này, tất nhiên, không biểu thị toàn bộ khả năng mắc bệnh, vì đã có ca xảy ra ở những bệnh nhân được sơ tán về Anh, và có thể cả ở các trạm chữa thương nữa. Thứ hai, một tỷ lệ lớn các ca được thấy gần đây có tính chất khác thường, ở chỗ các cơn co cứng cơ không trở thành toàn thân. Chúng chỉ khu trú ở các cơ lân cận vết thương ban đầu. . . . Trong uốn ván tại chỗ hay biến đổi, ta có một hình thái bệnh mới. Bệnh là mới vì nguyên nhân của nó là mới, vì uốn ván tại chỗ là uốn ván bị làm biến đổi bởi cách dùng huyết thanh chống uốn ván phòng bệnh."
Ta thấy lời suy ra ở đây là giải độc tố chống uốn ván đã làm dịệt cái mà, nếu không có nó, vốn sẽ là các ca uốn ván thông thường đích thực. Vậy nhưng trong một trong các Sổ tay Y học Quân sự, có tựa "Các Hình thái Bất thường của Uốn ván", của Courtois-Suffit và R. Giroux, do Tổng bác sĩ Quân đội Sir David Bruce và Frederick Golla biên tập và xuất bản năm 1918, ta thấy ý kiến cho rằng: "Chỉ một sự kiện có vẻ nổi lên, và đó là tác dụng không còn nghi ngờ gì mà giải độc tố, khi cho phòng bệnh, có trong việc làm biến đổi bệnh."
Nhưng chúng tôi muốn biết tại sao và như thế nào. Vì "bệnh mới" này — uốn ván tại chỗ — nói chung là kèm với cách điều trị bằng huyết thanh, thì có căn cứ thật nào để cho rằng nó là một hình thái nhẹ và an toàn hơn của một cơn uốn ván vốn độc hại và chí mạng? Một người lính xuất ngũ với một chi bị co rút suốt đời có thể an ủi được rằng, nếu không có các biện pháp tiêm chủng, thì hắn đã là một người chết? Liệu hắn không cũng có thể than rằng, nếu không có cách điều trị bằng huyết thanh, thì hắn có thể đã giữ được toàn quyền sử dụng các bộ phận của mình?
Điểm yếu của liệu pháp huyết thanh nổi ra, theo quan điểm của chúng tôi, khi xét đến nhân tố thời gian trong các biện pháp phòng bệnh. Sir William Leishman và Trung úy A. B. Smallman đã tuyên bố rằng "tất nhiên, ai cũng biết rằng liều phòng bệnh càng sớm sau khi nhận vết thương thì càng có ích"; dù với lời nói quanh co thông lệ vẫn luôn bảo vệ mọi tuyên bố của trường phái Pasteur, thì chính họ trong cùng một hơi thở lại khẳng định: "Đồng thời, không có nhiều thông tin chắc chắn về tác động của sự chậm trễ." Dù sao, họ còn miêu tả các điều kiện làm cho sự chậm trễ là tất yếu: "Phải nhớ rằng sự chậm trễ trong việc cho tiêm chủng phòng bệnh hầu như luôn do không thể đưa người bị thương ra khỏi nơi anh ta bị trúng đạn cho đến khi điều kiện quân sự cho phép. Vì vậy, các ca như thế đặc biệt dễ mắc hoại thư và các dạng nhiễm khuẩn nặng hơn." Lời thú nhận này soi đèn lương tri vào vấn đề. Những người nhận liều huyết thanh sớm chính là những người được cứu ngay lập tức và những người có vết thương được rửa sạch kịp thời khỏi bùn đất cùng ảnh hưởng tai hại của nó lên hệ cơ và hệ thần kinh của họ. Còn những người không được huyết thanh hoặc được điều trị muộn chính là những người có vết thương để mưng mủ hàng tiếng đồng hồ, hay hàng ngày, những kẻ bất hạnh bị bỏ mặc trong các hố bom, hoặc bị để phơi giữa vùng Đất chết dưới lửa đạn và lửa trái phá. Chẳng lẽ không tự nó đã hiển nhiên rằng chính họ, hơn những người khác, phải trở thành nạn nhân của uốn ván, và hoàn toàn tách khỏi mọi vấn đề tiêm chủng?
Cái mà tiêm chủng, tuy nhiên, dường như đã làm, là đã đưa vào một hình thái mới của uốn ván, và nó làm sai lệch phán xét thống kê về tỷ lệ tử vong. Chúng ta đọc, chẳng hạn, trong chính Sổ tay Y học Quân sự "Các Hình thái Bất thường của Uốn ván": "Vì uốn ván tại chỗ thật hầu như không có tử vong, thì dễ thấy rằng việc đưa các ca như thế vào các số liệu thống kê về uốn ván đã làm giảm tử vong biểu kiến của bệnh, và tiện thể khuyến khích nhiều quan sát viên coi sự giảm tử vong ấy là một chứng minh về hiệu lực của một hình thức điều trị nào đó."
Bỏ phần phòng bệnh, quay sang khía cạnh chữa trị của huyết thanh chống uốn ván, thì ngay cả những nhà phê phán chính thống như Sir William Leishman và Trung úy Smallman cũng đã phải thừa nhận rằng "có sự khác biệt rộng trong quan điểm, cả về công dụng của giải độc tố nói chung, và — nếu thừa nhận giá trị của nó — về hệ thống sử dụng nó"; trong khi thông báo một tỷ lệ tử vong do uốn ván là 7,2 phần trăm ở các bệnh viện ở Pháp, thì họ đã phải thừa nhận: "Chừng ấy, nếu xét đến mức cùng cỡ, không cho thấy một mức độ cải thiện nào đáng kể trong cách điều trị đã dùng."
Những mâu thuẫn về các đường đưa thuốc khác nhau soi sáng bản chất thực nghiệm của cách điều trị. "Xét trước đường tiêm tĩnh mạch", Leishman và Smallman "hoàn toàn đồng ý với khuyến nghị của Ủy ban Uốn ván trong Bản ghi nhớ sửa đổi của họ rằng không nên dùng đường này; đường này không những đưa vào một nguy cơ sốc phản vệ — điều mà các cách khác hầu như tránh được — mà từ các hồ sơ của chúng tôi, nó dường như cũng chẳng làm được gì, nếu có, trong điều trị." "Còn đường tiêm dưới nhện — việc nghiên cứu các ca của chúng tôi không khiến chúng tôi có ấn tượng thuận lợi . . . các bằng chứng thì khá mạnh chống lại việc dùng nó . . . cách này đối với chúng tôi có vẻ có một số bất lợi và nguy hiểm hết sức rõ ràng. . . . Ít nhất trong một trường hợp, cái chết xảy đến nhanh chóng sau một liều tiêm dưới nhện, trong khi bệnh nhân được cho là đang tiến triển thuận lợi."
Ở đây, ta có một thí dụ cụ thể về những nguy hiểm mà binh lính và thuỷ thủ của chúng ta phải đối mặt do các phương pháp của trường phái Pasteur, như một hệ quả của những rủi ro họ đã chạy từ quân Đức; vì, bất chấp việc bị gọi là "nguy hiểm", thì đường tiêm dưới nhện lại chính là đường được Ủy ban Văn phòng Chiến tranh nhấn mạnh khuyên dùng. Quyết định của nó rõ ràng dựa trên việc Giáo sư Sherrington khai thác các con khỉ, và như vậy lại có một thí dụ nữa về kết quả sai lầm của thí nghiệm trên động vật sống. Còn về quan sát lâm sàng cách điều trị, thì Sir David Bruce đã cung cấp một thí dụ buồn cười. Khi lần lượt các ca tử vong của các đường tiêm, với mục đích là xem "đường tiêm dưới nhện có ưu thế gì so với các cách tiêm khác không", thì ông đã cho thấy tỷ lệ tử vong cao nhất của mình, 49,1 phần trăm, là ở 59 ca được điều trị bằng huyết thanh chống uốn ván tiêm dưới nhện vào chính ngày mà các triệu chứng uốn ván biểu hiện, và tỷ lệ cao thứ nhì, 44,7 phần trăm, là ở 96 ca được điều trị bằng huyết thanh cũng vào chính ngày bệnh khởi phát. Tỷ lệ tử vong thấp nhất, 26 phần trăm, là ở 29 ca được điều trị bằng huyết thanh nhưng không tiêm dưới nhện, vào ngày sau khi bệnh khởi phát; còn tỷ lệ thấp thứ nhì, 26,9 phần trăm, là ở 26 ca nhận giải độc tố vào bất cứ lúc nào từ ba đến mười hai ngày sau khi uốn ván xuất hiện. Như vậy, Sir David Bruce buộc phải than rằng: "Năm ngoái (1915–1916) thì sự khác biệt có lợi cho đường tiêm dưới nhện. Nay thì điều ngược lại mới đúng. Từ các con số này thì có vẻ rằng nên hoãn điều trị cho đến khi các triệu chứng đã biểu hiện được một ngày hay hơn. Thật là điều phi lý đến tột điểm."
Trong khi đó, hãy để mặc các bác sĩ lý thuyết, ta hãy lấy các con số về uốn ván chỉ xét những người lính bị thương đã về đến các bệnh viện trong Vương quốc Anh. [Bảng trong bản quét năm 1947 bị hỏng; các cặp con số đọc được là 134 ca và 75 người chết, rồi 354 ca và 66 người chết.] Các con số này chắc hẳn chỉ là một phần nhỏ so với con số tương ứng ở các bệnh viện trong vùng chiến sự và các nơi khác. Vì vậy, dường như chẳng có gì là thật trong lời khoe khoan rằng uốn ván đã bị dập tắt khỏi Quân đội Anh bằng các biện pháp tiêm chủng. Quả thực, sự việc dường như ngược lại, như ta thấy rõ hơn khi so sánh với hai cuộc chiến trước.
Nếu ta mở tờ Lancet ngày 29 tháng 12 năm 1917, ta thấy một bài "Phân tích các Số liệu Thống kê Gần đây về Uốn ván" của F. Golla, M.B., B.Ch.Oxon. Trong bài ấy, dù đang cố ca ngợi cách phòng bệnh vì đã kéo dài thời gian ủ bệnh, thì Đại úy Golla vẫn phải đưa ra những lời thừa nhận đáng chú ý sau về chiến tranh Pháp-Phổ — cuộc chiến mà tiêm chủng chưa ai biết — và Thế chiến I với giáo phái tiêm chủng của nó. Ở trang 963, nói về các ca uốn ván, ta đọc: "Tuy nhiên, nếu so sánh ba tuần đầu thì sẽ thấy rằng trong hai tuần đầu, tỷ lệ tử vong ở các ca năm 1916 thấp hơn một chút so với năm 1870 — tức là 55,5 phần trăm và 70 phần trăm, so với 96,5 phần trăm và 85,5 phần trăm — còn trong tuần thứ ba thì tỷ lệ tử vong năm 1916 cao hơn một chút so với năm 1870. Đây đúng là điều ta nên mong đợi nếu giả thuyết rằng sự giảm nhẹ về tỷ lệ tử vong là do các cách cải thiện của chúng ta trong việc sơ cứu người bị thương và trong việc kiêng các phẫu thuật triệt để. Sau hai tuần đầu, khi các ca kiệt sức và sốc hậu phẫu trở nên ít hơn, thì tỷ lệ tử vong trong cả hai bộ số liệu trở nên thực tế như nhau trong tuần thứ ba. Nếu giả thuyết rằng sự giảm nhẹ ban đầu ấy là do một mình liệu pháp huyết thanh, thì sẽ chẳng có lý do gì để giải thích tại sao liệu pháp huyết thanh lại kém hiệu lực hơn trong tuần thứ ba so với hai tuần trước. Dù sao cũng phải thừa nhận rằng, nếu tất cả những gì có thể quy cho liệu pháp huyết thanh chỉ là sự giảm nhẹ ban đầu ấy, thì kết quả chẳng được khích lệ lắm."
Như vậy là một lời biện minh duyên dáng cho một tỷ lệ tử vong mà, trong tuần thứ ba, thực sự còn vượt con số của một cuộc chiến diễn ra cách đây nửa thế kỷ.
Để sang thời hiện đại hơn, xin trích thông tin do ông Churchill cung cấp tại Hạ viện ngày 6 tháng 7 năm 1920. Khi trả lời câu hỏi, ông tuyên bố rằng chỉ có sáu ca uốn ván trong số những người lính bị thương trong giao chiến trong chiến tranh Nam Phi; nghĩa là một tỷ lệ mắc bệnh 0,28 trên nghìn. Hơn nữa, ông tuyên bố rằng có ba người chết, tức là tỷ lệ tử vong 0,14 trên nghìn. Không có ca uốn ván nào ở các sĩ quan.
Khi được yêu cầu cung cấp thông tin tương tự về cuộc chiến vừa qua, thì ông Churchill, hai ngày sau, chẳng thể đưa ra được con số nào ngoài con số về mặt trận phía tây, nơi ông lại quên không nói số ca và số người chết. Tỷ lệ mắc bệnh ông cho là xấp xỉ 1,22 trên nghìn, còn tỷ lệ tử vong xấp xỉ 0,4 trên nghìn. Chúng ta đã thấy rằng tỷ lệ tử vong được giảm đi vì sự gộp vào của uốn ván tại chỗ, một hình thái dường như không có tử vong; nhưng, dù không kể đến nhân tố thống kê tiện lợi ấy, thì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong vẫn lớn hơn so với quân nhân ở Nam Phi, nơi "tiêm chủng" phòng uốn ván hoàn toàn chưa từng được biết đến!
Tóm lại, kết quả y học suốt Thế chiến I không bằng một phần nào so với kết quả ngoại khoa. Điều này càng đáng chú ý vì các phương pháp vệ sinh hiện đại được cải thiện, hệ thống chăm sóc y tế tuyệt vời và tinh thần tự hy sinh cao quý của phần lớn các bác sĩ và y tá quân đội. Dường như chỉ riêng các phương pháp của trường phái Pasteur giải thích được việc thành công y học kém xa thành công ngoại khoa.
Về điều này, ta có thể lấy thí dụ là sự phổ biến của nhiễm khuẩn máu. Ngay cả một tín đồ Pasteur chính thống như bác sĩ Saleeby cũng đã thừa nhận rằng cuộc chiến đã "đặt ra những vấn đề mới, không phải ít nhất là về các vết thương nhiễm khuẩn máu, về số lượng và loại đạt đến tầm quan trọng quân sự nghiêm trọng, mà kinh nghiệm trước đây của các phẫu thuật viên chúng ta hầu như chưa từng gặp".
Vấn đề, tất nhiên, đã được quy cho một sinh vật độc hại cư ngụ trong đất bón phân một cách tiện lợi; nhưng, với sự ngang ngạnh đến mệt mỏi của Tự nhiên trong việc lật đổ những cái cớ có vẻ hợp lý như thế, các vết thương nhận ngoài biển — nơi chẳng có đất nào cả — lại tỏ ra nhiễm khuẩn máu chẳng kém các vết thương nhận trên đất liền. Giá mà các thầy thuốc của chúng ta theo giáo huấn của Béchamp như người Pháp Galippe đã làm, thì họ cũng như ông đã hiểu được các hiện tượng do khuẩn sinh, vai trò của các mô bị dập nát và máu tụ ngoài mạch, những thứ, qua chính các microzyma vốn có của chúng, có thể sinh ra, trong chính chúng, theo Galippe, các yếu tố lây nhiễm. Có lẽ hợp lý nếu nghĩ rằng chứng bệnh như thế dễ khởi phát hơn nhiều ở máu bị nhiễm bẩn bởi các bài thuốc của trường phái Pasteur hơn là ở máu không bị ô nhiễm của những người khoẻ mạnh.
Tờ Vaccination Inquirer tóm tắt vấn đề cô đọng: "Có vẻ rất có thể rằng các bác sĩ vẫn luôn ở trong thực hành xưa của họ, là gieo một bên bệnh mà họ giả vẻ chữa một bên khác, tất nhiên trong hoàn toàn ngu dại và thành tâm."
Thật là một sự thật không vui khi, bỏ các khái quát hoá sang một bên, cuộc chiến đã cung cấp những trường hợp cụ thể về sự thật của ý kiến này. Chúng tôi chỉ xin nói đến một thí dụ chứng minh, việc tiêm chủng cưỡng bức trung đoàn Bedford trên tàu Empress of Britain trong chuyến đi từ Nam Phi sang Ấn Độ vào tháng 4 năm 1917. Dù con tàu đầy rệp và nguồn cung nước, cả để uống lẫn để rửa, hoàn toàn không đủ, thì việc tiêm chủng quân nhân của trung đoàn Bedford vẫn được đòi hỏi, bất chấp lời khuyên ngược lại. Kết quả là mười người chết trên tàu, năm người nữa chết sau khi lên bờ ở Bombay; còn thêm nữa, năm mươi quân nhân bị ngã bệnh nặng. Và thực tế, chưa từng có một cuộc điều tra chính thức nào được tiến hành về sự cố hết sức đáng tiếc này — đến mức ấy thì tấm màn khói che chở ngay cả những hành vi trắng trợn nhất của trường phái Pasteur là dày.
Còn về Thế chiến II, thì các thông tin thu thập được còn quá ít để xem xét kết quả của các phương pháp y học. Chúng ta chỉ được vài tia sáng thỉnh thoảng. Chẳng hạn, ta thấy Đại úy Walpole Lewin, M.B., F.R.C.S., đã đưa ra trên tờ British Medical Journal ngày 1 tháng 7 năm 1944 chi tiết một trường hợp mà một phi công Không quân Hoàng gia đã bị uốn ván và chết năm ngày sau một vết thương đầu xuyên thấu, dù anh đã được miễn dịch chủ động và đã nhận 3.000 đơn vị tiêu chuẩn của huyết thanh chống uốn ván một giờ sau tai nạn máy bay. Đại úy Lewin giải thích sự thất bại này bằng việc rửa vết thương không đủ do tính chất và vị trí của nó, rồi tiếp tục ca ngợi việc miễn dịch kết hợp với huyết thanh phòng bệnh cho ngay lúc bị thương. Ông đưa các thí dụ để ủng hộ lời tán dương, nhưng không phải bao giờ cũng cung cấp đầy đủ chi tiết, và phải thừa nhận các kết quả mâu thuẫn trong một số trường hợp. Dù sao, ông cũng tự làm mất phần đẹp của lời tán tụng mình bằng lời phát biểu cuối cùng: "Cách phẫu thuật và chăm sóc đúng đắn, bất cứ khi nào có thể, là một nhân tố cần thiết trong việc phòng bệnh uốn ván."
Việc đó chắc chắn có vẻ dễ chịu hơn nhiều so với "Các Biến chứng Thần kinh của Liệu pháp Huyết thanh và Vắc-xin" — bài mà Thiếu tá R. R. Hughes, M.D.(Liverpool), M.R.C.P., R.A.M.C., Chuyên gia Y học, viết trên tờ Lancet ngày 4 tháng 10 năm 1944: "Dù viêm thần kinh có thể do nhiều loại huyết thanh gây ra, thì thường nhất nó do huyết thanh chống uốn ván gây ra. Young (1932) cho rằng trong 50 ca, 21 ca sau khi cho huyết thanh chống uốn ván, 12 huyết thanh chống khuẩn cầu phổi, 4 huyết thanh chống khuẩn cầu màng não, 2 vắc-xin T.A.B., 1 vắc-xin tụ cầu vàng, và 1 huyết thanh chống lao." Và cứ tiếp tục thế. Ông còn có nhiều ca nữa để thêm vào loại đáng chán nản này. Thật là một điều may mắn cho quân nhân của chúng ta khi biết bao người trong họ đã được bay nhanh về căn cứ để nhận "cách phẫu thuật và chăm sóc" mà Đại úy Lewin tuyên bố là "một nhân tố cần thiết trong việc phòng bệnh uốn ván".
Một biện pháp bảo vệ khác mà ta có thể chắc rằng đã được cung cấp trong Thế chiến II là hệ thống làm sạch nước, mà lời cảm ơn đầu tiên phải kính tặng ký ức giáo sư Sims Woodhead. Người ta đã kể chi tiết thành công của nó trong trường hợp quân đội Ý trong cuộc tấn công đáng sợ của họ vào người Abyssinia. Không được phép đẩy các biện pháp giản dị ra khỏi tầm mắt chỉ vì những lợi nhuận phụ thuộc vào thời trang tiêm chủng.
Việc này không phải không có những bi kịch không cần thiết. Chẳng hạn, tại một trung tâm huấn luyện ở Neepawa, Manitoba, hạ sĩ Reuben W. Carlier, một không binh người Essex ở Anh, đã chết ngày 15 tháng 5 năm 1943 vì một bệnh nhiễm khuẩn liên cầu, "được đưa vào dòng máu ngay lúc tiêm chủng", theo phán quyết của bồi thẩm đoàn như tờ Victoria Daily Times ngày 19 tháng 6 năm 1943 đã đưa tin. Những không binh khác bị làm cho bệnh bởi mũi tiêm, ngoài mười người mà bệnh do huyết thanh buộc họ phải vào bệnh viện. Các thuật ngữ "bệnh do huyết thanh" và "sốc phản vệ" chỉ ra những nguy hiểm mà nhát kim tiêm đòi hỏi. May rằng phần lớn các thể trạng có thể chịu được liều thuốc độc khá nặng. Sự khó chịu và đau đớn tức thì được bỏ qua hết lần này đến lần khác, trong khi những hậu quả độc hại, dễ mắc hơn ở những người không có phản ứng ngay lúc tiêm, thì thường quá xa để nhận ra mối liên hệ nào.
Ta có thể chắc rằng Thế chiến II đã được đánh không chỉ chống lại quân Đức và quân Nhật, mà còn chống lại những kẻ phi nhân tính quấy nhiễu. Trong trường hợp một tạo vật khó chịu như con rận, thì sẽ thừa khi đóng vai luật sư bào chữa và ngụ ý rằng phần của nó trong các ổ dịch thương hàn có thể là điều đã được phóng đại. Ta hoàn toàn có thể vui mừng trước sự phát minh ra một thuốc diệt côn trùng hiệu quả như D.D.T., và trước các cách kiểm soát rận trước đó, vốn được cho là tương đối hiệu quả trong hàng quân ta trước khi đưa miễn dịch hàng loạt vào thời các dịch thương hàn dân sự năm 1942 và 1943 ở Ai Cập và Bắc Phi. Và việc kiểm soát dịch Naples, sau khi quân Đồng minh đổ bộ vào Ý, rõ ràng được quy công cho D.D.T. Hai người lính Anh đã mắc bệnh, và một người chết. Như vậy, người chết chắc chắn đã chẳng được giúp gì bởi vắc-xin phòng thương hàn mà anh đã được "miễn dịch" chín tháng trước đó.
Không ai đặc biệt muốn đóng vai luật sư biện hộ cho con muỗi ồn ào và háu ăn; tuy nhiên, có nguy hiểm trong việc chuyển trách nhiệm từ con người sang côn trùng. "Diệt muỗi thì bạn sẽ diệt bệnh sốt rét", Sir Ronald Ross đã cất tiếng khoe. Lời trả lời đến từ Báo cáo của Ủy ban Sốt rét của Tổ chức Y tế Hội Quốc liệp, trong đó, ở trang 13, người ta cho rằng niềm tin rằng bệnh sốt rét do muỗi anopheles gây ra đã là một trở ngại lớn cho việc kiểm soát bệnh sốt rét. Theo Báo cáo thường niên của Hội đồng Y học năm 1938, "tổng số người mắc bệnh sốt rét thì đã tăng hơn là giảm".
Bất chấp bằng chứng không thể chối cãi từ khắp các phía rằng những bí ẩn của bệnh sốt rét thì sâu xa, rất phức tạp và phần lớn vẫn chưa khám phá, thì lời buộc tội trẻ con vẫn tiếp tục chống một con côn trùng mà, vốn kén cá chọn canh trong bữa ăn, phần lớn chỉ ăn no máu khoẻ mạnh của những người không bao giờ mắc bệnh sốt rét! Vì chứng bệnh này khó chịu đến mức ấy, nên phải chào đón mepacrine nếu nó thật sự đã làm những điều kỳ diệu được kể cho nó trong chiến dịch Miến Điện. Nhưng vì dường như nó là một thuốc ức chế, thì những hậu quả của nó, dù lành hay dữ, dường như vẫn còn phải ghi lại.
Ở Hoa Kỳ, các nhà chức trách rõ ràng thấy được quyền được hát lên thành công của Cục Y tế Quân đội Mỹ. Ở trang 26 của tờ Lancet ngày 7 tháng 7 năm 1945, ta thấy một đoạn nói về một buổi họp báo ngày 24 tháng 5, trong đó Quyền Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ tuyên bố rằng trong mỗi 100 người đến bệnh viện thì có 97 người được cứu sống, so với 2 trong cuộc chiến trước. Trong ba năm qua, Quân đội Hoa Kỳ có chưa đến một người chết vì bệnh trên 1.000 quân nhân mỗi năm, so với 13 trong cuộc chiến trước. Bệnh sốt rét đã giảm từ hàng trăm ca trên 1.000 quân nhân mỗi năm xuống dưới 50; và "tình trạng bệnh lỵ, mà từng đưa cả trung đoàn và cả quân đội ra khỏi chiến đấu, đã dưới chín phần trăm một năm".
Nghe thì hay cả, cho đến khi ta đọc rằng "Bộ Y tế Quân đội trong năm 1944 đã chăm sóc 4.435.000 bệnh nhân tại các bệnh viện — 2.915.000 ở Hoa Kỳ và 2.120.000 ở ngoài nước". Chẳng lẽ bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn bệnh nhân bệnh viện — hơn một nửa số quân nhân — lại điển hình cho một sức khoẻ rạng rỡ của các lực lượng chiến đấu Mỹ? Chúng tôi chỉ đặt câu hỏi thế.
Câu trả lời rất có thể là phần lớn bệnh tật ấy đã được gây ra cố ý bằng những thủ tục chí mạng, và Louis Pasteur phải chịu trách nhiệm chính. Chẳng hạn, trong tờ Newsweek ngày 3 tháng 8 năm 1942, có đoạn nói về lời tuyên bố của Bộ trưởng Stimson tuần trước về 29.000 ca vàng da trong các trại lính Mỹ, với sáu mươi tám ca tử vong. Người ta thừa nhận rằng một huyết thanh được cho là để chống bệnh vàng da có lẽ chịu trách nhiệm về sự hãm hại và tàn sát này. Tờ Newsweek, cố tẩy trắch Virus 17D, nhận xét: "Vàng da thường xảy ra khi gan bị hỏng và thải quá nhiều mật vào dòng máu. Chẳng lẽ các lần tiêm chủng được cho binh lính để bảo vệ họ khỏi các bệnh khác nhau đã làm gan họ quá tải?"
Nhân chứng bào chữa ở đây dường như còn đáng lo hơn bên buộc tội. Và phán quyết dường như là điều không thể can thiệp vào cơ thể mà không có nguy cơ tai họa. Phải, cụ Louis Pasteur ạ, những điều mà Thời gian phơi bày, mà cụ đã chỉ đến, đã chứng minh cụ vĩ đại đến phi thường như một thương gia, nhưng là kẻ hay can thiệp tồi tệ nhất trong các phương pháp y học. Vì có một bằng chứng mà không lợi nhuận tiền tệ nào có thể làm mờ, không lời nói quanh co và thành kiến nào có thể xoá được — bằng chứng của các sự kiện của sự sống, của các tín hiệu nguy của kinh nghiệm. Dù kẻ bất cẩn có thể đi qua chúng, thì với kẻ quan sát chúng vẫn hiện lên trong cảnh báo, như bàn tay báo điềm gở đã làm cho những kẻ chè chén thâu đêm ở Babylon cổ đại giật mình; và, may thay, giữa chúng ta vẫn còn những Daniel với tài giải mộng. Tuy nhiên, ta phải để "chữ viết trên tường" cho chương sau xét.
Toàn bộ chủ đề việc tiêm vào cơ thể các chất ngoại lai gắn liền với các tình trạng bệnh lý phải được xét rộng rãi từ mọi khía cạnh. Có lẽ không có ý kiến nào hay hơn để trích dẫn ngoài ý kiến của nhà tư tưởng vĩ đại Herbert Spencer, vì cái áp dụng cho một lần tiêm thì cũng phải có phần áp dụng nào đó cho mọi lần tiêm khác.
Trong chương về tiêm chủng trong cuốn "Sự thật và Nhận xét" của mình, nhà triết học trích lời nhận xét sau của một nhà sinh vật học lỗi lạc: "Một khi đã can dự vào trật tự của Tự nhiên thì không còn biết kết quả sẽ dừng lại ở đâu." Ông Spencer tiếp: "Jenner và các môn đệ của ông đã giả định rằng, một khi virus vắc-xin đã đi qua cơ thể bệnh nhân, thì hắn được bảo vệ, hay tương đối được bảo vệ, khỏi bệnh đậu mùa, và rằng chuyện dừng lại ở đó. Tôi sẽ không nói gì ủng hộ hay chống lại giả định này." Chúng tôi xin thêm rằng ông, trong một chú thích, thì rõ ràng là chống. Rồi ông tiếp: "Tôi chỉ xin chứng minh rằng chuyện không dừng lại ở đó. Việc can dự vào trật tự của Tự nhiên có nhiều diễn tiếp khác ngoài diễn tiếp được tính đến. Một số đã được biết đến."
"Một Bản khai của Nghị viện ban hành năm 1880 (số 992) cho thấy rằng, nếu so sánh các giai đoạn năm năm 1857–1861 và 1874–1878, thì trong giai đoạn sau, số trẻ sơ sinh dưới một tuổi chết vì mọi nguyên nhân giảm 6.600 trên mỗi triệu ca sinh mỗi năm; trong khi tỷ lệ tử vong do tám chứng bệnh nhất định gây ra — hoặc lây trực tiếp, hoặc bị làm cho nặng thêm bởi tác động của tiêm chủng — tăng từ 20.424 lên 41.353 trên mỗi triệu ca sinh mỗi năm, tức hơn gấp đôi. Rõ ràng là do các bệnh khác này giết nhiều người hơn số người được cứu khỏi bệnh đậu mùa rất nhiều."
"Đó là vào thời kỳ tiêm chủng từ cánh tay này sang cánh tay khác, khi các thầy thuốc tin chắc rằng các bệnh khác (giang mai, chẳng hạn) không thể lây qua virus vắc-xin. Ai xem các Biên bản của Hội Dịch tễ học cách đây khoảng ba mươi năm sẽ thấy rằng họ đã bị thuyết phục điều ngược lại một cách đột ngột bởi một trường hợp lây giang mai hàng loạt hãi hùng. Trong thời kỳ tiêm bạch huyết từ bò như ngày nay, thì những nguy hiểm như thế được loại trừ; nhưng nguy cơ lao bò thì không. Nhưng tôi nêu sự thật ấy để cho thấy mức độ đức tin cần đặt vào ý kiến y học."
Lại một lần nữa ông tiếp: "Vào việc truyền các bệnh vừa được chứng minh như thế phải thêm các tác động đi kèm. Người ta cho rằng sự miễn dịch do tiêm chủng tạo ra kéo theo một sự thay đổi nào đó trong các thành phần của cơ thể; một giả định cần thiết. Nhưng giờ đây, nếu các chất cấu thành cơ thể, rắn hay lỏng hay cả hai, đã bị sửa đổi đến mức không còn dễ mắc bệnh đậu mùa nữa, thì sự sửa đổi ấy có phải là không có tác động gì khác không? Ai dám nói rằng nó chỉ tạo ra tác động che chở bệnh nhân khỏi một chứng bệnh nhất định? Không thể thay đổi thể trạng của một người trong quan hệ với một tác nhân xâm nhập này mà để nguyên nó trong quan hệ với mọi tác nhân xâm nhập khác."
Chúng ta có thể chèn vào đây rằng chuyện đó còn đúng hơn biết bao nếu các tình trạng bệnh lý lại phụ thuộc vào các sinh vật vốn có trong cơ thể.
"Sự thay đổi ấy phải là gì?", ông Spencer hỏi.
"Chúng ta không có cách nào", ông nói, "để đo các thay đổi trong sức đề kháng, và vì thế chúng thường trôi qua không được chú ý. Tuy nhiên, có những bằng chứng về một sự suy nhược tương đối mang tính chung. Sởi là một bệnh nặng hơn ngày xưa, và số người chết vì nó rất nhiều. Bệnh cúm cho bằng chứng. Sáu mươi năm trước, khi thỉnh thoảng một đợt dịch xảy ra sau những khoảng thời gian dài, nó chỉ tấn công ít người, không nặng, và không để lại hậu quả nghiêm trọng nào; nay nó đã định cư vĩnh viễn, tấn công quần chúng trong những dạng cực nặng, và thường để lại những thể trạng bị tổn hại. Bệnh vẫn là bệnh ấy, nhưng khả năng chịu đựng nó đã giảm."
"Có những sự thật đáng chú ý khác. Đó là một chân lý sinh vật học quen thuộc rằng các cơ quan cảm giác và các cái răng mọc ra từ lớp da của phôi thai. Vì vậy, các dị thường tác động đến tất cả chúng: mèo mắt xanh bị điếc và chó không có lông thì răng không tốt (Nguồn gốc các loài, Chương 1). Điều tương tự đúng với các dị thường về thể trạng do bệnh gây ra. Giang mai trong các giai đoạn đầu là một bệnh da. Khi nó được di truyền, các tác động là méo răng và về sau là viêm mống mắt. Những quan hệ gần gũi cũng có với các bệnh da khác: chẳng hạn sự thật là sốt ban đỏ thường kèm theo răng lung lay, và sự thật là với sởi thường đi cùng các rối loạn, đôi khi tạm thời, đôi khi vĩnh viễn, của cả mắt và tai. Chẳng lẽ điều ấy lại không đúng với một bệnh da khác — bệnh mà tiêm chủng gây ra? Nếu đúng thế, thì ta có một lời giải thích cho sự thoái hoá đáng sợ của răng trong giới trẻ thời gần đây; và ta khỏi phải lạ gì về sự phổ biến của mắt yếu và hỏng ở chúng. Dù các gợi ý này đúng hay không, thì một điều là chắc chắn: giả định rằng tiêm chủng làm thay đổi thể trạng trong quan hệ với bệnh đậu mùa mà không làm thay đổi nó theo cách nào khác là một sự ngu xuẩn trắng trợn."
"Vậy nó có thay đổi theo chiều hướng tốt không?", cuối cùng ông Spencer đặt câu hỏi. "Nếu không, thì nó phải thay đổi theo chiều hướng xấu đi."
Nhà tư tưởng và quan sát viên vĩ đại đã đưa ra lời cảnh báo này chỉ chống lại một hình thái tiêm. Nguy hiểm còn lớn hơn biết bao trong thời đại mà tiêm chủng muôn hình vạn trạng và liên tục hiện đang là thời thượng! Chúng tôi được nhắc đến một người lính Australia bị thương tàn tật tại khoa y tế một bệnh viện Luân Đôn, khi được hỏi có tin vào tiêm chủng không, đã trả lời: "Thưa, khó mà tin lắm! Tôi đã được tiêm chủng chống cả tá chứng bệnh, và tôi đã mắc tất cả mọi thứ tôi được tiêm chủng chống, trừ bệnh tả, và tôi dám chắc rằng tôi sẽ mắc cả nó nữa!"
"Tất cả đều là nguy hiểm", Béchamp đã viết từ lâu, "trong loại thí nghiệm này, vì lẽ cái bị tác động không phải là một vật trơ, mà là một sự biến đổi, ít hay nhiều có hại, của các microzyma của người được tiêm."
Nhiều năm dài sau khi ông phát biểu ý kiến này, một sự xác nhận đáng chú ý đã được đưa ra bởi các ổ dịch của một bệnh về hệ thần kinh trung ương, thường gọi là viêm não, bệnh đã đi sau tiêm chủng đến mức tiêm chủng bắt buộc bị đình chỉ ở Hà Lan, và bị một đại hội y học ở Thuỵ Điển đề nghị xoá bỏ; còn ngay ở Đức, những khả năng nguy hiểm của nó cũng đã được chính thức thừa nhận.
Các ca viêm não sau tiêm chủng ở Anh đã dẫn đến việc bổ nhiệm hai Ủy ban Điều tra, các Báo cáo của họ, công bố tháng 7 năm 1928, xử lý chín mươi ca, trong đó bốn mươi hai ca kết thúc bằng cái chết. Khi trả lời câu hỏi trong Nghị viện, vào ngày 26 tháng 2 năm 1929, Bộ trưởng Bộ Y tế cho các con số mới nhất là 197 ca, với 102 ca tử vong.
Do hệ quả của diễn biến nghiêm trọng này, Bộ Y tế, vào tháng 8 năm 1929, đã ban hành một Lệnh Tiêm chủng mới, giảm các dấu tiêm chủng từ bốn xuống một, và, trong bảo sao gửi kèm, nói đến nguy hiểm này, đã gợi ý rằng không nên tiêm chủng lần đầu cho con người ở tuổi vị thành niên hay tuổi đến trường. Tranh luận vẫn tiếp tục về nguyên nhân của chứng bệnh, với giáo sư James McIntosh, thuộc Đại học Luân Đôn và Bệnh viện Middlesex, quy nó cho chính vắc-xin, còn các nhà điều tra khác cho rằng nó chỉ đánh thức một chứng rối loạn vốn có nhưng từ trước đến nay vẫn tiềm ẩn.
Trong chính giai đoạn mà vệ sinh và phòng bệnh đã đóng một vai trò chưa từng thấy trong lịch sử được ghi chép, thì một sự thoái hoá đáng thất vọng của thể chất con người dường như đã nhận ra được. Thời đám đông dồn về các thành phố, sự căng thẳng của hao mòn trong đời sống hiện đại, và sự sinh sản của những kẻ không đủ tiêu chuẩn, tất nhiên, được xếp vào các nguyên nhân góp phần, nhưng chúng không thể loại trừ thí nghiệm trên con người, vì không gì dưới mức ấy lại là việc đưa vào các cơ thể những chất độc, mà những tác động xa rộng của chúng hoàn toàn ngoài tầm hiểu biết và kiểm soát.
Nhìn thẳng vào vấn đề, thì việc tìm cách bảo vệ cá nhân chống một bệnh như bệnh đậu mùa là vô ích biết bao — bệnh chỉ có thể bị loại trừ trong quần chúng bằng sự sạch sẽ chung — trong khi những nguy hiểm ghê rợn, như ung thư, đưa ra một lời cảnh báo hãi hùng chống lại trò chơi với những đại lượng chưa biết. Chúng tôi không tìm cách lý thuyết về nguyên nhân của các khối u ác tính, nhưng chúng tôi chắc chắn sẽ chỉ ra sự gia tăng đáng lo của chúng. Theo lời tuyên bố được đưa ra dựa trên uy quyền của Quỹ Nghiên cứu Ung thư, thì trong những người trên bốn mươi tuổi, cứ mười hai người đàn ông thì một người, và cứ tám người phụ nữ thì một người, dễ mắc nỗi giày vò kinh khủng này. Về những cố gắng vô ích, lệch hướng đã làm để chống nó, F. E. R. McDonagh, F.R.C.S., viết trên tạp chí The Nature of Disease (1932): "Trên 44.000.000 đã bị phí phạm cho việc nghiên cứu ung thư." Trong mười năm 1922–31, người ta đã làm trên 60.000 thí nghiệm trên động vật. Trong một số trường hợp, một thí nghiệm đơn lẻ trong số đó có thể đòi sự hy sinh của bốn mươi đến năm mươi con vật. Sự thất bại hoàn toàn của những tàn nhẫn mổ xẻ sinh vật này được chứng minh rõ bởi sự gia tăng đều đặn mà các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy.
| Số người chết vì ung thư mỗi năm ở Anh và xứ Wales | Số ca |
|---|---|
| 1891–1900 (trung bình hằng năm) | 24.218 |
| 1901–1910 (trung bình hằng năm) | 40.914 |
| 1930 | 57.483 |
| 1931 | 59.946 |
| 1932 | 60.716 |
| 1933 | 61.672 |
| 1934 | 69.269 |
| 1935 | 74.570 |
| 1936 | 66.954 |
| 1937 | 66.991 |
| 1938 | 65.605 |
| 1939 | 68.941 |
Bảng trên chỉ có các con số đọc được trong bản quét năm 1947; các năm 1911–1929 trong bảng gốc bị nhòe và không được dựng lại. Về tỷ lệ trên mỗi triệu dân, con số đọc được là 758 cho trung bình hằng năm 1891–1900, 900 cho 1901–1910, và lên tới khoảng 1.570 vào cuối những năm 1930.
Khi những tín hiệu nguy hiểm ghê gớm đến thế bốc lửa vào tầm mắt sau một thế kỷ tiêm chủng, thì kẻ biết suy nghĩ hoàn toàn có thể đắm mình trong lo sợ trước nguy cơ của thời trang tiêm chủng hàng loạt hiện đại. Rằng nền chính thông y học phải mù quáng trước những nguy hiểm của chủ nghĩa Pasteur thì chẳng làm người nghiên cứu lịch sử y học ngạc nhiên. Chẳng hạn, anh ta chỉ cần tự nhắc mình rằng, vào năm [không đọc được trong bản quét], Viện Y học Hoàng gia, trong một Biên bản chính thức, đã tuyên bố rằng tiêm chủng đậu mùa là "hết sức có lợi", và rằng vào năm 1807, chính thể chế ấy, khi trả lời câu hỏi của Hạ viện, lại tuyên bố nó là "có hại". Thời trang trong y học, cũng như thời trang trong quần áo, đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác, và một người làm y học cũng khó thoát khỏi thời trang y học như một quý cô trong xã hội khó thoát khỏi xiềng xích của thời trang áo quần. Sự độc lập về thu nhập, cũng như sự độc lập về trí tuệ, là thứ cần có để một người gác sang một bên lời dạy nhận được không như một lý thuyết, mà như một giáo điều, và ở một tuổi dễ cảm thục nhất; vì, nếu mục đích mong muốn là đạt được tham vọng ở đời, thì việc không hề chất vấn chính thống là cái giá phải trả. Vì vậy, chừng nào việc phát hiện ra "một vi trùng" còn có thể giúp đến một danh hiệu hiệp sĩ y học, và việc phát hiện ra "một vắc-xin" còn giúp đến một thu nhập yên ổn, thì không ai cần phải ngạc nhiên về sự phổ biến của lý thuyết vi trùng gây bệnh, cùng hệ thống tiêm chủng hệ quả của nó. Hơn nữa, những nguy hiểm của chủ nghĩa Pasteur chưa bao giờ được phơi bày dưới ánh sáng của giáo điều Béchamp rằng "microzyma là điểm khởi đầu của mọi tổ chức", và rằng "mọi sinh vật đều có thể được qui về microzyma". Như vậy, nếu ông đúng, thì đời sống chung của cơ thể chúng ta được cấu thành từ một tập hợp thống nhất những yếu tố tế bào học và mô học vô cùng nhỏ bé, mà mỗi yếu tố đều có một sinh thể độc lập của riêng nó. Theo Béchamp, chính vì mọi sinh vật đều qui về được microzyma mà sự sống tồn tại trong phôi trước khi nó phát triển các cơ quan. Chính vì trong microzyma có những nguyên lý phản ứng vĩnh cửu mà cuối cùng chúng ta đã có một ý niệm nào đó về sự sống. Chính vì các microzyma được ban cho một đời sống cá nhân độc lập mà ở các trung tâm khác nhau của cơ thể có các microzyma khác nhau, với các chức năng khác nhau. Bài giảng sinh vật học này soi sáng sức mạnh của liều lượng đồng căn nhỏ bé đến mức tinh tế; nó giải thích những thay đổi chắc chắn khởi phát do cái mà Herbert Spencer gọi là "các tác nhân xâm nhập" — một nguy hiểm mà thiên tài của ông đã cảm nhận ngay, hoàn toàn tách khỏi bài giảng mà Béchamp cung cấp, vì trong tác phẩm lớn "Các Microzyma" của ông, ta thấy đoạn sau:
"Rối loạn nghiêm trọng nhất, thậm chí chí mạng, có thể bị khơi ra bằng cách tiêm các sinh vật sống vào máu; những sinh vật mà, vốn tồn tại trong các cơ quan thích hợp với chúng, làm trọn những chức năng cần thiết và có lợi — hoá học và sinh lý — nhưng khi tiêm vào máu, vào một môi trường không dành cho chúng, thì chúng gây ra những biểu hiện đáng sợ của các hiện tượng bệnh lý nặng nhất, . . . Các microzyma giống nhau về hình thái có thể khác nhau về chức năng, và những microzyma thích hợp với loài này hay với một trung tâm hoạt động nào đó thì không thể đưa vào một động vật của loài khác, mà ngay cả vào một trung tâm hoạt động khác của cùng con vật ấy, mà không có nguy hiểm nghiêm trọng."
Như vậy, nguy hiểm còn lớn hơn thế nữa khi mà các microzyma được tiêm chủng nhân tạo không những thuộc loài ngoại lai mà còn ở trong tình trạng bệnh lý, ngay cả trong loài mà chúng được lấy ra.
Béchamp tiếp sau đoạn vừa trích bằng một miêu tả, dựa trên các thí nghiệm, về khả năng thay đổi chức năng của microzyma. Dường như các tín đồ Pasteur, trong nỗi sợ ký sinh trùng, đã bỏ qua tác động của các yếu tố vốn có, và đã qui hệ thống tiêm chủng của họ về một thứ thí nghiệm thô thiển. Họ dường như đã bắt đầu rút lui khỏi vị trí cao mà họ từng tuyên bố. Chúng tôi nói đến, chẳng hạn, quan điểm của bác sĩ Besredka thuộc Viện Pasteur, quan điểm mà tờ British Medical Journal đã mô tả là "lật đổ các ý niệm mà cho đến nay các nhà vi khuẩn học vẫn giữ". Tờ The Times ngày 8 tháng 8 năm 1920 tóm tắt giáo huấn của Besredka như sau: "Vậy thì, đây là ý niệm rằng sự miễn dịch hay sự phòng vệ chống bệnh lỵ chẳng phải là chuyện của máu chút nào, mà là chuyện của những phần đặc biệt của cơ thể, nơi các vi trùng lỵ sống và tác động. Nói tắt, cứu rỗi không phải bằng giải độc, mà bằng một tác động tại chỗ nào đó; 'hàng rào ruột trở nên không thể phá vỡ được', dù bản chất của hàng rào ấy là gì. Rõ ràng đây là một quan niệm thuộc một loại hoàn toàn khác với quan niệm chúng ta vốn quen. Một kết quả của công trình này — nó cũng áp dụng cho bệnh thương hàn — là tiêm chủng, như hiện đang được thực hành, là không cần thiết." Như vậy là cả tòa bo lý thuyết của trường phái Pasteur, cùng với nó là cả hệ thống tiêm chủng, đã bị đẩy qua mạn tàu, vì, theo bác sĩ Besredka, "tiêm chủng chỉ có hiệu lực khi vắc-xin cuối cùng đến được ruột hoặc nhất định vùng của nó. . . . Cách tiêm chủng nên dùng là đường uống."
Tờ The Times ngày 31 tháng 8 năm 1920 còn nhận xét: "Các kết quả này chuyển sự chú ý một cách rõ rệt khỏi hạt giống sang đất đai, khỏi các vi trùng sang những người và những con vật có thể chứa chúng." Và khi làm thế, người ta theo đúng lời khuyên đã được đưa ra từ lâu bởi vị bác sĩ vĩ đại, giáo sư Antoine Béchamp.
Cứ thế cho những sự lựa lời quanh co của những kẻ đã đặt công trình của họ trên những giáo huấn của Louis Pasteur; và ta không thể không thông cảm những người vô tội trong công chúng đã đưa thân mình một cách mù quáng cho những thời trang thay đổi của cách điều trị theo trường phái Pasteur. Sự hãm hại động vật đã đem lại hệ quả logic của nó — sự hãm hại con người! Vì điều này, ta phải cảm ơn kẻ bắt chước Edward Jenner, nhà hoá học Louis Pasteur, kẻ đã, với chỉ một phiếu đa số, giành chỗ của mình trong số các Viện sự tự do của Viện Y học. Như vậy, nghiệp đoàn ganh đua nhất thế giới, tức nghiệp đoàn của giới Y học chính thông, đã hoàn toàn bị đưa dưới quyền của một kẻ ngoại lai, mà chẳng có vẻ gì là một thầy thuốc!
Vào một ngày thu năm 1895, đời sống bình thường của Pari đã nhường chỗ cho sự trọng thể của một đám tang linh đình. Tổng thống nước Cộng hoà Pháp, các nghị sĩ, các quan chức chính phủ, các hội viên các Hội Khoa học đã kéo đến dự lễ an táng người đồng hương Pasteur, mà danh tiếng khắp thế giới dường như làm vẻ vang cho cả nước Pháp. Trong đời cũng như trong chết, chưa bao giờ một nhà khoa học nào gặt hái được nhiều vinh quang đến thế.
Biểu tượng của sự sung túc trần thế, ở trung tâm Viện Pasteur, là ngôi nguyện đường tốn kém, rực rỡ bằng đá cẩm thạch, đá porphyry và đá lapis lazuli, nơi thân xác tội nghiệp bị liệt ấy đã tan thành tro bụi bên dưới những lời khoe khoang được ghi lại, và những lời ấy đọc lên thật lạ lùng với những ai đã đào sâu vào các văn kiện khoa học cũ của thời kỳ. Ở đây, chẳng hạn, trên các bức tường của nguyện đường, ta thấy ghi:
| Năm | Thành tựu được ghi trên tường |
|---|---|
| 1847 | "Lên men" |
| 1862 | "Cái gọi là Sự sinh ra tự phát" |
| 1863 | "Các nghiên cứu về Rượu vang" |
| 1865 | "Các bệnh của Sâu tơ" |
| 1871 | "Các nghiên cứu về Bia" |
| 1877 | "Các bệnh Do vi trùng Độc" |
| 1880 | "Các virus Tiêm chủng" |
| 1885 | "Sự phòng bệnh Bệnh dại" |
Giờ thì, các chiến thắng được tán tụng ấy ra sao rồi?
"1847. — Lên men." Bộ Bách khoa toàn thư Britannica nói với ta rằng "lý thuyết về lên men của Pasteur đã được sửa đổi đáng kể..." Và điều này, như ta đã thấy, là tất yếu do việc ông tách hiện tượng hoá học này "khỏi các hành động của đời sống thông thường", và nhờ đó chứng minh rằng ông đã không hiểu lời giải thích của Béchamp về lên men như kết quả của các hành động đồng hoá và bài tiết.
"1862. — Cái gọi là Sự sinh ra tự phát." Ta đã thấy rằng Pasteur chưa bao giờ thuyết phục được những người theo thuyết sinh ra tự phát, và rằng chính các thí nghiệm của ông đôi khi lại mâu thuẫn với những kết luận của chính mình.
"1863. — Các nghiên cứu về Rượu vang." Khi tác phẩm của mình được kính tặng Napoléon III, Pasteur viết: "Thưa Hoàng thượng, — Nếu, như tôi hy vọng, thời gian công nhận sự chính xác của công việc..." Bác sĩ Lutaud bình luận: "Hy vọng ấy đã đặt sai chỗ. Thời gian đã không công nhận sự chính xác của công việc này. Tất cả những ai đã đặt niềm tin vào cách làm này đều chịu tổn thất nặng nề. Chỉ có Nhà nước vẫn tiếp tục làm nóng các thùng rượu vang định dùng cho quân đội trên bộ và trên biển. Việc này làm rượu tệ đến mức quân lính thà uống nước. Đã đến lúc phải bỏ vào lò nung những thiết bị làm nóng rượu vang theo kiểu Pasteur."
"1865. — Các bệnh của Sâu tơ." Ta đã thấy rằng, đối với những chứng bệnh này, Béchamp đã cung cấp cho Pasteur chẩn đoán đúng, và rằng sau khi người sau khởi xướng hệ thống lấy giống của mình, thì "sự cứu rỗi của nghề nuôi tơ" là một sự sụt giảm trong sản lượng, theo M. de Masquard, từ 15.000.000 xuống 8.000.000, rồi sau đó xuống 2.000.000 ki-lô-gam.
"1871. — Các nghiên cứu về Bia." Bác sĩ Lutaud cho ta biết rằng lời khoe rằng các xưởng bia Pháp mang nợ Pasteur một món nợ không tính được thì được trả lời hay nhất bằng các sự thật rằng cách làm của sau này đã bị bỏ vì không thi hành được, và rằng việc nấu bia ở Pháp gần như bằng không, phần lớn lượng bia có ở đây được nhập từ Đức.
"1877. — Các bệnh Do vi trùng Độc." Ta đã thấy rằng Pasteur đã chống lại giáo điều microzyma sau khi thất bại trong một cố gắng kín đáo rõ ràng nhằm đạo văn nó, và mà đi theo các ý niệm của Linné, Kircher và Raspail.
"1880. — Các virus Tiêm chủng." Ủy ban Vệ sinh của Chính phủ Hungary đã báo cáo như sau về việc tiêm chủng phòng bệnh than: "Các bệnh nặng nhất, viêm phổi, sốt viêm long, v.v., đã đánh gục một cách tuyệt đối các con vật chịu tiêm. Từ đó suy ra rằng sự tiêm chủng theo kiểu Pasteur có xu hướng làm nhanh hoạt động của một số bệnh tiềm ẩn và làm cho kết cục chí mạng của các chứng bệnh nặng khác đến sớm hơn." Như ta đã nói, Chính phủ Hungary đã cấm dùng các lần tiêm chủng.
"1885. — Sự phòng bệnh Bệnh dại." Bác sĩ Lutaud nhắc ta rằng giáo sư Peter đã đặt những câu hỏi rất đúng chỗ trước Viện Hàn lâm Y học vào ngày 18 tháng 1 năm 1886, trong những ngày đầu của cái gọi là cách phòng bệnh của Pasteur: "Số người chết hằng năm vì bệnh dại ở Pháp có bị giảm đi nhờ các cách chữa chống bệnh dại không?" "Số tử vong này có xu hướng tăng lên cùng với các phương pháp chống bệnh dại điên cuồng không?" "Vậy thì lợi ích ở đâu?" Như ta đã thấy, lợi ích nằm ở những lợi nhuận do các nhà làm các bài thuốc ấy thu được. Chủ nghĩa Pasteur đã trở thành một lợi ích được bảo đảm, và, không may, được một nghiệp đoàn quyền lực ủng hộ — nghiệp đoàn Y học.
Chúng tôi chẳng dám phủ nhận rằng vị trí của Pasteur trong giới khoa học đạt được nhờ thiên tài — thiên tài về làm ăn — và ông quả thực không thuộc loại những trí thức coi khinh sức hấp dẫn của đồng bảng Anh. Dù ông tỏ ra kính trọng tôn giáo, thì, theo lời bác sĩ Lutaud, ta thấy ông đã lo việc bầu nhà sinh lý học Paul Bert vào Viện, vốn bị phản đối với lý do là người vô thần. Bác sĩ Lutaud cho rằng ông đã chẳng ngần ngại, hơn nữa, hoàn thành việc bầu ấy bằng cách hy sinh người bạn cũ và ân nhân Davaine, và đặt điều kiện cho nó là Bert, thành viên Ủy ban Ngân sách và có uy thế tuyệt đối với Chính phủ, phải lo cho ông một khoản lương hưu 25.000 franc.
Chúng tôi, kẻ có phận trong một thời đại quảng cáo, có thể đánh giá được quyền lực của Pasteur về mặt này. Chưa từng có ai sống mà là bậc thầy hơn ông trong việc đưa bản thân và các lý thuyết của mình tiến lên phía trước. Tham vọng là động lực của ông, và nó được giữ chặt bằng một ý chí sắt. Trước khi bất cứ chiến thắng nào đến với ông, tâm trí ông đã đặt vào danh dự và vinh quang. Lúc đầu đời sống vợ chồng, khi, theo lời người viết tiểu sử ông, "thành công chưa đến", bà Pasteur viết cho cha chồng: "Louis hơi quá bận bịu với các thí nghiệm của anh ấy; chắc cha biết rằng những việc anh ấy đang làm năm nay sẽ cho chúng ta, nếu thành công, một Newton hay một Galileo." Người vợ ái mộ đã không biết rằng lời mình làm chứng cho tính ích kỷ của chồng. Chẳng có một lời nào ám chỉ sự hồi hộp trước những điều bí mật mà Tự nhiên có thể hé mở. Sự tôn vinh cá nhân được làm thành trục của hy vọng. Hơn nữa, khi nghiên cứu đời ông, ta thấy suốt dọc sự khôn khéo của ông trong việc để người khác củng cố lời tán dương cho mình, trong khi bản thân ông lại thổ lộ sự tự khiêm nhường; nhờ đó, ông như tự khoác lên mình một vẻ khiêm nhường dường như chẳng mấy thành thật, khi ta chú ý đến sự phẫn nộ của ông chống những người như Béchamp, là những người, khi khẳng định những quyền lợi chính đáng của mình, đã lấy đi phần nào danh dự của ông.
Dù vì bất cứ lý do gì, chúng tôi cũng không phủ nhận quyền lực của ông trong việc giành được tình cảm. Cha mẹ, chị em, vợ con dường như đều đã dành cho ông tình yêu; ông cũng dường như giữ được lòng tận tụy của những người làm việc cho ông và với ông, và về phía mình, ông là bạn tốt với họ cũng như là đối thủ cay độc với mọi kẻ khác ý với mình.
Lời tuyên bố về một trái tim nhân hậu đã được những người ái mộ ông đưa ra. Trong tiểu sử ông, ta đọc: "Ông có thể giúp đỡ mà không mấy khó khăn, M. Roux viết, trong một thao tác đơn giản như tiêm chủng dưới da, và ngay cả lúc ấy, nếu con vật kêu lên dù chỉ một tiếng, thì Pasteur lập tức đầy lòng thương xót, và tìm cách an ủi, khuyến khích nạn nhân theo một cách sẽ có vẻ lố bịch nếu nó không đáng cảm động." Nhận xét như thế chắc chắn cho thấy chính M. Roux quá thiếu tính cảm xúc để xứng làm quan toà của nó.
Ông tiếp tục miêu tả ca mổ khoan sọ đầu tiên trên một con chó vì lợi ích của Pasteur, và kết thúc: "Pasteur hết sức biết ơn con chó này vì đã chịu khoan sọ tốt đến thế, nhờ đó làm nhẹ bớt mặc cảm của ông cho những lần khoan sọ sau."
Thế là quá trình dạn dần đi cứ tiếp tục, cho đến khi mọi mặc cảm ban đầu đều cùn mòn, để lại Pasteur, trong cách tưởng tượng nghèo nàn nhất, chai lỳ trước những đau đớn ông gây ra. Có thể lấy một thí dụ từ tờ L'Illustration:
"Các con chó đã bị tiêm bị nhốt trong những cái lồng tròn, có lưới sắt kín và chắc. Đó là một trong những con chó ấy, trong cơn dại, mà ông Pasteur cho chúng tôi xem, vừa xem vừa nhận xét: 'Nó sẽ chết ngày mai.' Con vật nhìn ông, sẵn sàng cắn. Ông Pasteur đá vào các dây lồng, con vật vụt lao vào ông. Nó cắn các thanh sắt, chúng đỏ lên vì nước bọt lẫn máu. Rồi, với hai hàm đang chảy máu, nó quay lại, cào xé đám rơm của ổ nó, rúc vào cũi, cái cũi mà đêm trước nó đã gặm. Thi thoảng nó kêu lên những tiếng the thé, ai oán."
Cái cú đá trêu chọc, day dứt vào các song lồng của nạn nhân đáng thương ấy — một con chó, người bạn chân thành của loài người, sẵn sàng đặt cả đời mình phục vụ ông — là lời bình hay nhất về trái tim của Louis Pasteur. Sự dịu dàng đối với ông có lẽ cũng ổn ở chỗ của nó, nhưng nó hoàn toàn lệch chỗ khi nó cản đường tham vọng. Thành công cá nhân thống trị mọi cân nhắc khác, và việc đạt được nó được làm dễ bởi một sự mạnh mẽ và một sự bền bỉ chẳng kém gì phi thường. Những đức tính như thế, ở đâu cũng vậy, là những nhân tố thuyết phục thành công trần thế nhiều hơn khả năng trí tuệ cao. Về khả năng sau, tuổi thơ của ông chẳng cho bằng chứng mấy. Người em rể của ông nói thật với ta: "Những ai muốn tô vẽ những năm đầu của Louis Pasteur bằng những truyền kỳ tuyệt diệu sẽ phải thất vọng: khi cậu theo học các lớp hằng ngày tại Trường Arbois, cậu chỉ thuộc loại học sinh khá trung bình."
Lực mạnh nhất của ông là ý chí, mà ông đã viết về gia đình mình: "Muốn là một điều lớn lao, các em thân mến, vì hành động và công việc thường theo sau, và hầu như bao giờ công việc cũng kèm theo thành công."
Một lần nữa, như luôn luôn, ta thấy thành công vẫn là động lực dẫn đường của đời ông. Giá ông không đặt tham vọng cá nhân lên trước tình yêu khoa học, thì dường như không thể nào ông lại chống lại người cùng làm việc, mà ý niệm của họ, trong biết bao trường hợp, ông đã không còn nghi ngờ gì nữa là đã đạo văn. Giá cái mạnh mẽ và khả năng làm ăn lớn ấy được gộp vào trí tuệ lý tưởng và hiểu biết toàn diện của Béchamp, thì những đóng góp lớn đã có thể được dâng hiến cho khoa học, khoa học mà nay, ngược lại, những người nghiên cứu lịch sử của nó cảm thấy rằng Pasteur đã nhiều lần dẫn đến những kết quả sai lệch, đến mức nhiều năm bị phí phạm cho những lý thuyết không thoả đáng, với cái giá là sự đau khổ vô cùng lớn của động vật và một hình thức thí nghiệm nguy hiểm trên con người. Thời gian quả thực đã mang đến cho ông chiến thắng dưới hình thức tiếng hoan hô của thế giới. Điều này chẳng lạ gì, vì đường dẫn tới sự nổi tiếng đi qua cái cổng rộng, dễ vào. Pasteur, trong đời bị vài người quan sát tinh mắt, đã nhìn ra những giả vờ của ông, khinh miệt và căm ghét, thì nhìn chung là một người được quần chúng ưa thích, và giáo phái vi trùng của ông là một lý thuyết được quần chúng ưa thích, mà kẻ ít khoa học nhất cũng dễ hiểu: của cải và sung túc đi theo nó, như vinh quang và danh tiếng đã đi theo ông. Tại sao kẻ tham vọng lại bắt chước sự hy sinh bản thân của người tìm chân lý Béchamp, kẻ đã qua đời gần như không ai biết đến trong căn nhà cô đơn của riêng mình?
Chân lý, chứ không phải cái tôi, là ngôi sao bắc đạo của Béchamp. Cũng như Galileo, thì chính quan sát đơn giản nhất đã dẫn ông đến những khám phá thật của mình, và, cũng như Galileo, những cuộc bách hại liên miên, của giới tu học và của giới khoa học, đã đuổi theo ông với ác tâm không nguôi. Chính vì nỗi căm thù của những kẻ chống ông chưa đủ mạnh mà ông thoát khỏi số phận của Servetus, và tác phẩm lớn của ông, "Các Microzyma", thoát khỏi chỗ đứng trong Danh mục của Giáo hoàng.
Chân lý chưa bao giờ có một tín đồ mộ đạo hơn người đàn ông, kẻ cùng giáo sư Estor đã đứng run run vì kinh ngạc trước điều bí mật của Tự nhiên hé lộ từng lớp, cái tôi hoàn toàn bị xoá mờ, mỗi tế bào não đều tập trung vào những điều được hé mở một cách đáng kinh ngạc. Với năng lực làm việc phi thường, ông đã minh chứng đầy đủ cho định nghĩa thiên tài của Carlyle — "khả năng chịu đựng đau đớn vô tận"; đồng thời, ông cũng là thí dụ hoàn hảo cho mặt trái của các năng lực bất thường, mặt có thể mô tả là khả năng làm với sự dễ dàng vô tận đi mà người khác phải chịu đau đớn vô tận để làm. Từ thuở nhỏ, các môn học thông thường đối với ông là thứ lao động nhẹ nhất, còn vì những nghiên cứu liên miên của mình, không có việc khó nào quá đòi hỏi, không có sự hy sinh nào quá lớn.
Nói chung, ông đứng trên một mặt đẳng đạo đức cao hơn những người cùng thời. Ông sống cùng thời với Pasteur, giữa những kẻ thí nghiệm chai lỳ như nhau, những người như Claude Bernard, mà chính các con gái đã cảm thấy buộc phải bỏ ông và làm công việc cứu động vật như một cách chuộc lỗi cho những tội ác mổ xẻ của cha họ. Thế mà giáo sư Béchamp, một tín đồ nhiệt thành của ngôi đền tri thức như chưa từng có, lại nổi lên tương phản rõ rệt, không dính dáng gì đến tàn nhẫn, mà bị kết tội vì lòng trắc ẩn. Trong các thí nghiệm muôn màu muôn vẻ của mình, ta không gặp một ghi chép nào về sự tàn bạo, và, khi nói đến công trình của Magendie, ông không quên bày tỏ lòng thương xót "con vật nghèo khổ", nạn nhân đáng thương của Magendie. Việc Béchamp đào sâu vào hiểu biết rộng hơn nhiều những người cùng thời chai lỳ của mình có lẽ chính là một thí dụ về lợi thế của việc không làm cùn trí óc khoa học bằng sự quen thuộc với tàn nhẫn. Trí tưởng tượng của ông đến cuối đời vẫn giữ được sự nhạy cảm nguyên sơ, cần thiết cho người khám phá, và, được thúc đẩy và kích thích bằng sức khoẻ và sức sống tuyệt diệu của mình, thì ngay cả tuổi già cũng không có quyền lực làm mờ trí tuệ của ông.
Không có tham vọng cá nhân, mà tràn đầy khao khát mãnh liệt Chân lý vì chính Chân lý, thì chẳng có gì đáng lạ khi trong sự sắc sảo ông không thể so được với Pasteur; cũng như chẳng có gì lạ khi lý thuyết thô thiển của người sau đã đẩy lùi bài giảng sâu hơn, phức tạp hơn, bài giảng không thể trở thành tài sản tức thì của "người qua đường" theo cùng một cách. Kẻ đáng lẽ đã có thể làm việc với Béchamp, thì ngược lại đã đạo văn và bóp méo ý niệm của ông. Nhưng nếu ta nhờ đó tìm cách phế truất Thần tượng của Chính thống, kẻ mà nước Pháp và thế giới thích vinh danh, thì chỉ để đặt một người Pháp khác lên ngôi, người đáng được xếp vào hàng những vì sáng lớn của trái đất. Cũng như nhiều người khác trong các vì sáng ấy, số phận của ông là gặp sự bỏ qua và sự chê bai. Bị đuổi theo, một bên, vì lòng ganh ghét của đối thủ kém tài hơn nhưng thành công hơn mình, và, bên khác, vì những kẻ hẹp hòi, không hiểu được rằng Nhà Sáng tạo có thể được hiểu rõ nhất qua Sáng tạo của Người, thì bách hại và sự cay đắng tinh thần là phần thưởng trần gian cho cả đời dài của ông.
Chân lý là một đỉnh núi khó leo, đỉnh cao mù mịt của nó xa xôi khó với tới, trong khi những kẻ leo phải đối đầu với những khó khăn không ngừng tái hiện. Để leo lên dù chỉ một lần, thì phải bỏ lại gánh nặng của lợi lộc và sự nổi tiếng, và những kẻ táo bạo dễ đi, như Béchamp, ra khỏi tầm mắt của những người cùng thời mình. Chẳng lạ gì mà phần lớn, như Pasteur, chọn ở lại bên dưới cho thoải mái, trong tầm mắt! Thế mà, như ta biết ơn mà nhận ra, thỉnh thoảng những Béchamp vẫn nổi lên, bị đỉnh núi vời vợi dụ dỗ, vì, nếu không thế, loài người sẽ đứng im mãi ở cùng một mức. Và dù người dẫn đầu có thể không bao giờ được công nhận, thì bước tiến của các thế kỷ sau có thể làm chứng, mà chính họ cũng không biết, cho vai trò dẫn đầu của họ.
Pasteur đã khôn ngoan khi ông kêu gọi phán quyết của thời gian phán xét một nhà khoa học. Thực ra, Béchamp, với sự chắc chắn của thiên tài, chưa bao giờ mất hy vọng vào bản án cuối cùng ấy. Tờ Moniteur Scientifique nói với ta: "Những người quen biến ông, những người yêu mến ông và ở quanh ông, biết rằng ông chưa bao giờ nghi ngờ rằng một ngày kia công lý sẽ được thực thi cho ông."
Chính trong niềm tin ấy, và với hy vọng ấy, mà chúng tôi đã đưa ra câu chuyện của một kẻ đạo văn vĩ đại, và đã tìm cách chỉ ra sự tương phản giữa một thần tượng thế giới thành đạt và một thiên tài bị bỏ qua, kẻ mà các nhà khoa học, tất cả đều không biết, đã mang nợ nhiều điều trong tri thức của họ. Tồn tại, dù thường vẫn tiềm ẩn, ở phần lớn chúng ta là cảm giác về lối chơi công bằng và công lý. Trong niềm tin ấy, chúng tôi được khuyến khích để đệ trình trước Toà án Dư luận Công chúng những yêu sách của Pierre Jacques Antoine Béchamp, yêu sách được hiện thân trong Chương bị Mất này của Lịch sử Sinh học.
Về bản PDF: bản số hóa là bản quét 1947, 274 trang. Bản PDF ở đây đã được nén lại để phù hợp giới hạn tải xuống của GitHub (52 MB), nhưng vẫn giữ đủ độ phân giải để đọc chữ tiếng Việt transliterate và các trang bảng. Nếu cần đối chiếu chi tiết, hãy mở bản gốc trên archive.org.
Nguồn: Hume, E. D. Béchamp or Pasteur? A Lost Chapter in the History of Biology. C.W. Daniel Company, London, 1923; ấn bản sửa đổi lần thứ ba, 1947 (274 trang). Bản số hóa: archive.org.
Về trang này: toàn văn 21 chương trong ba phần được dịch từ ấn bản 1947; phần bình luận là chú giải của TaichiNOW, không thuộc về Hume. Các chương chưa hoàn tất được đánh dấu tường minh.
Miễn trừ y khoa: nội dung mang tính lịch sử khoa học và triết học y học. Các lý thuyết về microzyma trong cuốn sách đã bị bác bỏ bởi vi sinh học hiện đại và không nên được dùng làm cơ sở điều trị.